Kết quả dự kiến đạt được Đánh giá thực trạng công tác quản lý khai thác khoáng sản ở mỏ kết hợp với những số liệu quan trắc môi trường tại mỏ để đề xuất các giải pháp cải tạo, phục hồi
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tác giả Các kết quả nghiên cứu và các kết luận trong luận văn là trung thực, không sao chép từ bất kỳ một nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào Việc tham khảo các nguồn tài liệu đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tai liệu tham khảo theo đúng quy định
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Lưu Xuân Chiến
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CÁM ƠN ii
DANH MỤC BẢNG BIỂU vi
DANH MỤC HÌNH VẼ vii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT viii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TẠI CÁC CƠ SỞ KHAI THÁC KHOÁNG SẢN 5
1.1 Cơ sở lý luận về công tác quản lý môi trường tại các cơ sở khai thác khoáng sản 5
1.1.1 Các khái niệm 5
1.1.2 Vai trò của công tác quản lý môi trường tại các cơ sở khai thác khoáng sản 6
1.1.3 Nội dung công tác quản lý môi trường 6
1.1.4 Các lĩnh vực Quản lý môi trường tại cơ sở khai thác than 10
1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý môi trường trong khai thác khoáng sản 11
1.2 Các văn bản pháp lý quy định đối với quản lý môi trường 15
1.2.1 Các văn bản pháp lý quy định 15
1.2.2 Các Thông tư, văn bản hướng dẫn về công tác Bảo vệ môi trường 16 1.2.3 Các tiêu chuẩn, quy chuẩn Việt Nam trong xử lý chất thải nguy hại 17
1.3 Các công cụ trong quản lý môi trường 21
1.3.1 Thuế và phí môi trường 21
1.3.2 Thuế tài nguyên 22
1.3.3 Một số công cụ khác 23
1.4 Cơ sở thực tiễn về công tác quản lý môi trường trong khai thác khoáng sản 25
Trang 41.4.1 Những bài học kinh nghiệm 25
1.4.2 Các nghiên cứu liên quan tới công tác quản lý môi trường trong khai thác khoáng sản ở Việt Nam 27
Kết luận chương 1 30
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TẠI MỎ THAN ĐÔNG BẮC NGÃ HAI TỈNH QUẢNG NINH 32
2.1 Khái quát về đơn vị khai thác - Công ty Than Quang Hanh 32
2.2 Phân tích thực trạng công tác vận hành, khai thác khoáng sản tại mỏ 33
2.2.1 Vị trí địa lý, ranh giới, địa chất mỏ 33
2.2.2 Biên giới và trữ lượng khai thác: 38
2.2.3 Hiện trạng khai thác 40
2.2.4 Trữ lượng và thời gian khai thác còn lại 45
2.3 Phân tích thực trạng công tác quản lý môi trường tại mỏ 46
2.3.1 Việc thực hiện các quy chuẩn, quy định quản lý môi trường trong khai thác khoáng sản 46
2.3.2 giá công tác bảo vệ môi trường trong quá trình khai thác, vận hành mỏ 55
2.4 Đánh giá chung về công tác quản lý môi trường tại Mỏ than Đông Bắc Ngã Hai 60
2.4.1 Kết quả đạt được 60
2.4.2 Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 61
Kết luận chương 2 67
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP CẢI TẠO, PHỤC HỒI MÔI TRƯỜNG MỎ THAN ĐÔNG BẮC NGÃ HAI 68
3.1 Căn cứ để xây dựng phương án cải tạo phục hồi môi trường 68
3.2 Đánh giá rủi ro, dự báo sự cố, tác động xấu đến môi trường: 69
3.2.1 Đánh giá, dự báo trong giai đoạn đang khai thác: 69
3.2.2 Nội dung cải tạo, phục hồi môi trường (CPM) 70
3.2.3 Tính toán khối lượng các công trình cải tạo, phục hồi môi trường 72 3.2.4 Thiết kế tính toán khối lượng các hạng muc công việc cải tạo, phục hồi môi trường 75
Trang 53.2.5 Công tác duy tu bảo trì công trình cải tạo, phục hồi môi trường 79
3.2.6 Đánh giá sự bền vững và hiệu quả cải thiện môi trường của các công trình 80
3.2.7 Kế hoạch phòng ngừa, ứng phó sự cố trong quá trình thực hiện 80
3.3 Nguyên tắc đề xuất giải pháp 81
3.4 Đề xuất giải pháp nâng cao công tác quản lý môi trường 81
3.4.1 Đề xuất một số mô hình quản lý môi trường trong môi trường khai thác khoáng sản 81
3.4.2 Đề xuất một số giải pháp, áp dụng công nghệ mới trong quá trình khai thác vận hành 83
3.4.3 Tăng cường công tác quản lý, nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường 85
3.5 Các giải pháp hỗ trợ 93
Kết luận chương 3 95
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Bảng chỉ tiêu cơ lý đá 36
Bảng 2.2: Bảng chỉ tiêu kỹ thuật cơ bản của than 38
Bảng 2.3: Tọa độ các mốc giới khai trường 38
Bảng 2.4: Bảng trữ lượng, tài nguyên địa chất phân theo cấp trữ lượng 39
Bảng 2.5: Bảng trữ lượng, tài nguyên địa chất phân theo góc dốc vỉa 39
Bảng 2.6: Bảng trữ lượng, tài nguyên phân theo chiều dày vỉa 39
Bảng 2.7: Bảng trữ lượng, tài nguyên huy động phân theo cấp trữ lượng 39
Bảng 2.8: Bảng trữ lượng, tài nguyên huy động phân theo góc dốc vỉa 40
Bảng 2.9: Bảng trữ lượng, tài nguyên huy động phân theo chiều dày vỉa 40
Bảng 2.10: Bảng tổng hợp trữ lượng, tài nguyên 40
Bảng 2.11 : Bảng tổng hợp kết quả quan trắc môi trường không khí tại các thời điểm 51 Bảng 2.12: Bảng tổng hợp kết quả quan trắc môi trường nước thải tại các thời điểm 54 2.13 Bảng tổng hợp kết quả quan trắc môi trường 55
nước sinh hoạt tại MB văn phòng 55
Bảng 3.1: Bảng so sánh các phương án cải tạo, phục hồi môi trường 71
Bảng 3.2: Bảng các thông số kỹ thuật cơ bản đoạn cửa lò 75
Bảng3.3: Bảng tổng hợp các công trình được tháo dỡ 77
Bảng 3.4: Quy mô các bãi thải và phân bổ khối lượng đổ thải khu mỏ Ngã Hai 85
Trang 7DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 2.1: 48
Mô hình tổ chức quản lý môi trường của Công ty Than Quang Hanh 48Hình 3.1: Sơ đồ khai thác lò chợ phá hỏa toàn phần 73
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
- ĐTM: Đánh giá tác động môi trường
- CPM: Cải tạo, phục hồi môi trường
- TKV: Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam
- VITE: Công ty cổ phần Tin học, Công nghệ, Môi trường-
Vinacomin
- ĐC-TĐ-MT: Địa chất – Trắc địa – Môi trường
- VINACOMIN: Công ty cổ phần Tin học, Công nghệ, Môi trường
- TLĐC: Trữ lượng địa chất
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh toàn cầu nói chung môi trường đang bị ô nhiễm trầm trọng đặc biệt là
ở các nước đang phát triển Việt Nam cũng nằm trong tình trạng này trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế
Do vậy, bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề quan trọng được Đảng và nhà nước ta rất quan tâm trong chiến lược phát triển chung về kinh tế xã hội trong giai đoạn công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước Để có một sự phát triển bền vững cần phải có một chương trình hành động thống nhất và có thể bổ sung hỗ trợ lẫn nhau giữa phát triển sản xuất với công tác bảo vệ và kiểm soát môi trường
Hiện nay, việc quản lý môi trường nói chung và việc quản lý môi trường trong cơ sở khai thác than là vấn đề được quan tâm rất nhiều không chỉ từ các chuyên gia về môi trường mà còn từ người dân khu vực xung quanh mỏ than Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và kinh tế - xã hội, nhu cầu năng lượng ngày càng trở lên cấp thiết
Để đáp ứng được các nhu cầu trên, hoạt động khai thác mỏ than là không thể tránh khỏi
Tỉnh Quảng Ninh là nơi tập trung lớn nhất trữ lượng than toàn quốc, chủ yếu là các loại than antraxít Quảng Ninh có nhiều mỏ than hầm lò và lộ thiên có sản lượng sản xuất chiếm số lượng lớn trong tổng sản lượng khai thác than của ngành than Trong thời điểm những năm gần đây, hoạt động khai thác than của ngành than đang phát triển rất nhanh Đằng sau con số dự kiến khai thác thì việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng để phát triển bền vững đã không được chú trọng Ô nhiễm huỷ hoại môi trường do ngành than phát triển khai thác đã đến hồi báo động
Mỏ than Đông Bắc Ngã Hai - Công ty than Quang Hanh đang thực hiện khai thác hầm
lò là Dự án đã được phê duyệt theo Quyết định số 124/QĐ-HĐQT ngày 17/01/2006 của Hội đồng quản trị Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam Mỏ có trữ lượng 984.024 tấn nguyên khai, công suất khai thác thiết kế hàng năm khoảng 150.000 tấn
Trang 10“Công nghiệp Than” được xác định là một ngành kinh tế rất quan trọng ở tất cả các quốc gia hiện nay trên thế giới Nó cung cấp nguồn nguyên liệu chủ yếu cho các ngành công nghiệp, ứng dụng dân dụng và xuất khẩu Khai thác than đóng góp tới 1/3 GDP
và hơn một nửa ngân sách tỉnh Quảng Ninh Mỏ than Đông Bắc Ngã Hai cũng đóng góp 1/20 tổng sản lượng khai thác than của toàn tỉnh, tạo công ăn việc làm cho gần
500 lao động phổ thông Đây được xác định là một ngành quan trọng của đất nước, đồng thời gắn liền với an ninh năng lượng quốc gia Từ khi bắt đầu hoạt động đến nay,
mỏ than Đông Bắc - Ngã Hai đã có nhiều đóng góp tích cực cho nền kinh tế - xã hội của đất nước; đồng thời, hoạt động của ngành Than còn là động lực thúc đẩy phát triển thương mại, dịch vụ và thu hút đầu tư trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
Dù là một trong số những mỏ than thực hiện khá tốt các công tác bảo vệ môi trường trong hầm mỏ nhưng trong quá trình khai thác, mỏ than Đông Bắc Ngã Hai vẫn để lại một số tác động xấu đến môi trường và con người
Mỗi trận mưa, nước tràn vào bãi thải, hầm lò và khai trường, kéo trôi cả các hóa chất, xăng dầu, các chất thải nguy hại khác được dùng trong quá trình khai mỏ, nhất là bùn than có thể khiến nguồn nước bị nhiễm các chất độc như thạch tín, chì, khí CO; các chất kim loại nặng như arsenic, boron, manganese, selenium và thallium Tất cả nguồn thải độc hại này sẽ làm biến đổi không khí, đất, đặc biệt là nước biển, tác động tới thủy sản và sinh vật thủy sinh khác tại vịnh Hạ Long
Hệ lụy xung quanh công trường khai thác than phải kể đến ô nhiễm không khí, hầu hết những ngày trong năm bụi than làm cho bầu không khí như có sương mù Khu vực khai thác hầm lò bị ô nhiễm nặng khí thải CO và NO2 và trên toàn vùng khai thác than
bị ô nhiễm khí thải CO, NO2, SO2 Tất cả đều vượt ngưỡng cho phép từ 1,5 đến 3 lần Bên cạnh việc hủy hoại môi trường, ô nhiễm do hóa chất cũng ảnh hưởng đến sức khỏe người dân địa phương
Do vậy việc cải tạo và phục hồi môi trường khu vực mỏ là một việc làm cấp thiết
Trước tình hình đó học viên chọn đề tài: “Giải pháp tăng cường công tác quản lý môi
trường trong quản lý khai thác than tại mỏ Đông Bắc Ngã Hai tỉnh Quảng Ninh”
Trang 11Nhằm góp phần giảm thiểu hiện trạng ô nhiễm môi trường và cải thiện an toàn cho dân
cư và các cơ sở sản xuất lân cận xung quanh mỏ
2 Mục đích nghiên cứu của luận văn
Thông qua việc đánh giá công tác quản lý vận hành, khai thác tại mỏ than Đông Bắc Ngã Hai kết hợp với những số liệu quan trắc môi trường tại mỏ để đề xuất các giải
pháp cải tạo, phục hồi môi trường mỏ sau quá trình khai thác
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
a Ý nghĩa khoa học: Nội dung của đề tài sẽ góp phần làm tư liệu tham khảo cho các
hoạt động nghiên cứu, kiểm soát ô nhiễm môi trường của cơ sở khai thác khoáng sản nói chung
b Ý nghĩa thực tiễn: Những kết quả nghiên cứu, phân tích đánh giá, đề xuất giải pháp
của đề tài có giá trị tham khảo đối với các cơ quan quản lý nhà nước cũng như các đơn
vị khai thác khoáng sản để cải thiện và nâng cao hiệu quả trong quá trình khai thác, vận hành, phục hồi, cải tạo của các mỏ khai thác khoáng sản
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện những nội dung nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: Nghiên cứu hệ thống các văn bản pháp quy; phương pháp kế thừa; phương pháp điều tra thu thập số liệu và thực tế; phương pháp tổng hợp; phương pháp phân tích so sánh
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
a Đối tượng nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác quản lý môi trường tại Mỏ than Đông Bắc Ngã Hai tại tỉnh Quảng Ninh
b Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Về nội dung và không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu hệ thống quản lý môi trường tại tại Mỏ than Đông Bắc Ngã Hai tại tỉnh Quảng Ninh
Trang 12- Về thời gian: Nghiên cứu thực trạng của quá trình khai thác, vận hành tại mỏ than Đông Bắc Ngã Hai kết hợp với những số liệu quan trắc môi trường tại mỏ để đề xuất các giải pháp cải tạo, phục hồi môi trường mỏ sau quá trình khai thác
6 Kết quả dự kiến đạt được
Đánh giá thực trạng công tác quản lý khai thác khoáng sản ở mỏ kết hợp với những số liệu quan trắc môi trường tại mỏ để đề xuất các giải pháp cải tạo, phục hồi môi trường
mỏ sau quá trình khai thác
7 Nội dung của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, luận văn gồm có 3 chương như sau:
- Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý môi trường trong quá trình
khai thác các mỏ khoáng sản
- Chương 2 Đánh giá thực trạng công tác quản lý môi trường tại mỏ than Đông Bắc
Ngã Hai tỉnh Quảng Ninh
- Chương 3 Giải pháp tăng cường công tác quản lý môi trường tại mỏ than Đông Bắc
Ngã Hai tỉnh Quảng Ninh
Trang 13CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ
MÔI TRƯỜNG TẠI CÁC CƠ SỞ KHAI THÁC KHOÁNG SẢN
1.1 Cơ sở lý luận về công tác quản lý môi trường tại các cơ sở khai thác khoáng sản
Các khái niệm a
1.1.1
Theo Wikipedia, khoáng sản là từ Hán - Việt, bính âm là Kuàng chăn Trong đó theo Hán Việt Thiều Chửu thì quáng/ khoáng nghĩa là quặng mỏ và phàm vật gì lấy ra ở mỏ đều gọi là quáng, người Việt quen đọc là khoáng Còn sản là nơi sinh ra Khoáng sản
có nghĩa là nơi sinh ra quặng mỏ
Còn theo Luật Khoáng sản năm 2010 quy định: "Khoáng sản là khoáng vật, khoáng chất có ích được tích tụ tự nhiên ở thể rắn, thể lỏng, thể khí tồn tại trong lòng đất, trên mặt bao gồm cả khoáng vật, khoáng chất ở bãi thải của mỏ"
Theo quy định tại Khoản 7 Điều 2 Luật Khoáng sản 2010 thì khai thác khoáng sản là hoạt động nhằm thu hồi khoáng sản, bao gồm xây dựng cơ bản mỏ, khai đào, phân loại, làm giàu và các hoạt động khác có liên quan
Theo Wikipedia, môi trường là một tổ hợp các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh bên ngoài của một hệ thống hoặc một cá thể, sự vật nào đó Chúng tác động lên hệ thống này và xác định xu hướng và tình trạng tồn tại của nó Môi trường có thể coi là một tập hợp, trong đó hệ thống đang xem xét là một tập hợp con
Một định nghĩa rõ ràng hơn như: Môi trường là tập hợp tất cả các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh con người, ảnh hưởng tới con người và tác động đến các hoạt động sống của con người như: không khí, nước, độ ẩm, sinh vật, xã hội loài người và các thể chế Nói chung, môi trường của một khách thể bao gồm các vật chất, điều kiện hoàn cảnh, các đối tượng khác hay các điều kiện nào đó mà chúng bao quanh khách thể này hay các hoạt động của khách thể diễn ra trong chúng
Quản lý môi trường là sử dụng tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế,
kỹ thuật thích hợp để tác động và điều chỉnh các hoạt động của con người nhằm làm hài hòa mối quan hệ giữa phát triển và môi trường, sao cho vừa thỏa mãn nhu cầu của
Trang 14con người, vừa bảo đảm được chất lượng của môi trường và không quá khả năng chịu đựng của hành tinh chúng ta
Quản lý môi trường trong khai thác khoáng sản là việc sử dụng các biện pháp thích hợp để tác động vào quá trình khai thác nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm sự hài hòa giữa môi trường nhân tạo và môi trường tự nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học khu vực khai thác
Vai trò của công tác quản lý môi trường tại các cơ sở khai thác khoáng sản
- Mang lại những lợi ích thiết thực về mặt kinh tế xã hội, tạo công ăn việc làm và nguồn thu nhập ổn định cho cán bộ công nhân viên của công ty cũng như dân cư trong khu vực đồng thời góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế chung của khu vực khai thác khoáng sản
Nội dung công tác quản lý môi trường
1.1.3
1.1.3.1 Nội dung quản lý nhà nước về môi trường
Quản lý Nhà nước về môi trường là sự tác động có tổ chức và bằng quyền lực của Nhà nước lên đối tượng quản lý để phối hợp sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực nhằm thực hiện mục tiêu đất nước đặt ra trong điều kiện môi trường biến đổi Ở Việt Nam, nội dung quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường được quy định ở điều 139, Chương XIV Luật Bảo vệ môi trường số 55/2014 của Quốc Hội cụ thể:
1 Xây dựng, ban hành theo thẩm quyền và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, ban hành hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật môi trường
2 Xây dựng, chỉ đạo thực hiện chiến lược, chính sách, chương trình, đề án, quy hoạch,
kế hoạch về bảo vệ môi trường
Trang 153 Tổ chức, xây dựng, quản lý hệ thống quan trắc; định kỳ đánh giá hiện trạng môi trường, dự báo diễn biến môi trường
4 Xây dựng, thẩm định và phê duyệt quy hoạch bảo vệ môi trường; thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược; thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường và kiểm tra, xác nhận các công trình bảo vệ môi trường; tổ chức xác nhận kế hoạch bảo vệ môi trường
5 Chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức thực hiện các hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học; quản lý chất thải; kiểm soát ô nhiễm; cải thiện và phục hồi môi trường
6 Cấp, gia hạn, thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận về môi trường
7 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường; thanh tra trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường; giải quyết khiếu nại, tố cáo về bảo vệ môi trường; xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường
8 Đào tạo nhân lực khoa học và quản lý môi trường; giáo dục, tuyên truyền, phổ biến kiến thức, pháp luật về bảo vệ môi trường
9 Tổ chức nghiên cứu, áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
10 Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra và đánh giá việc thực hiện ngân sách nhà nước cho các hoạt động bảo vệ môi trường
11 Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Quản lý tài nguyên gắn liền với bảo vệ môi trường là một nội dung quan trọng trong Quản lý nhà nước về môi trường được nêu chi tiết dưới đây
1.1.3.2 Nội dung công tác quản lý tài nguyên gắn liền với bảo vệ môi trường:
Hệ thống quản lý môi trường dựa trên nguyên tắc liên tục hoàn thiện bắt đầu với lập kế hoạch và phát triển một chính sách môi trường, sau đó thông qua thực hiện và vận hành hệ thống quản lý môi trường để kiểm tra tính hiệu quả và sửa chữa sai sót của hệ thống, tiến hành kiểm tra định kỳ công tác quản lý hệ thống trên cơ sở tính ổn định toàn diện và hiệu quả thực hiện quản lý môi trường Khi tiến hành xây dựng một hệ
Trang 16thống quản lý môi trường cần tiến hành đủ các nội dung chính gồm: Chính sách môi trường; Lập kế hoạch; Thực hiện; Đo và đánh giá; Xem xét và cải tiến
- Chính sách môi trường;
+ Chính sách môi trường là nền tảng cho hệ thống quản lý môi trường; nó là cơ sở dựa vào đó để định hướng và hiệu chỉnh tất cả các quyết định và hoạt động của đơn vị khai thác;
+ Một chính sách môi trường phải chuyển tải được thông tin về giá trị và cam kết của đơn vị khai thác khoáng sản liên quan tới hoạt động bảo vệ môi trường;
+ Một chính sách cần rõ ràng, ngắn gọn, thực tế và có tác dụng khuyến khích, phản ánh được nguyên tắc, giá trị và định hướng về môi trường của đơn vị khai thác;
+ Chính sách môi trường cần được bổ sung bên cạnh các chính sách khác của đơn vị khai thác, như chính sách về chất lượng, sức khoẻ và an toàn, và các nguyên tắc kinh doanh cơ bản;
- Công tác quản lý môi trường thể hiện trên một số góc độ, khía cạnh: kinh tế, pháp luật, khoa học công nghệ, ý thức cộng đồng
+ Kinh tế: Quản lý hoạt động khai thác tài nguyên gắn với bảo vệ môi trường được hình thành trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường và thực hiện điều tiết xã hội thông qua các công cụ kinh tế Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, hoạt động phát triển và sản xuất của cải vật chất diễn ra dưới sức ép của sự trao đổi hàng hoá theo qui luật giá trị Loại hàng hoá có chất lượng tốt và giá thành rẻ sẽ được tiêu thụ nhanh Ngược lại, loại hàng hoá kém chất lượng và đắt sẽ không có chỗ đứng Vì vậy, dựa vào qui luật khách quan đó, chúng ta có thể chủ quan dùng các phương pháp và công cụ kinh tế để đánh giá và định hướng hoạt động quản lý khai thác tài nguyên gắn được với bảo vệ môi trường
+ Pháp luật: Cơ sở luật pháp của quản lý hoạt động khai thác tài nguyên gắn với bảo
vệ môi trường là các văn bản của luật quốc tế và luật quốc gia về lĩnh vực khai thác và bảo vệ môi trường Ở Việt Nam, Luật Bảo vệ Môi trường đầu tiên được quốc hội nước
Trang 17Việt Nam thông qua ngày 27/12/1993 là văn bản quan trọng nhất Bên cạnh đó, chính phủ đã ban hành Nghị định 175/CP ngày 18/10/1994 về hướng dẫn thi hành Luật Bảo
vệ Môi trường và Nghị định 26/CP ngày 26/4/1996 về Xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường Ngoài ra, Bộ Luật hình sự, hàng loạt các thông tư, quy định, quyết định của các ngành chức năng về thực hiện luật môi trường cũng đã được ban hành Đến nay, Luật Bảo vệ Môi trường đã nhiều lần được sửa đôi cho phù hợp thực tiễn và gần đây nhất là Luật Bảo vệ Môi trường sửa đổi năm 2010 Cùng với luật là các pháp lệnh và các văn bản hướng dẫn thực hiện Căn cứ các văn bản của luật pháp quốc tế đã được nhà nước Việt Nam phê duyệt và hệ thông pháp luật Việt Nam làm cơ sở quan trọng cho việc thực hiện công tác quản lý môi trường
+ Cộng đồng: Hiện nay, ở Việt Nam việc tăng cường công tác truyền thông nhằm nâng cao ý thức trong việc bảo vệ môi trường được thực hiện qua một số phương thức sau:
Truyền thông tin tới từng nhóm qua hội thảo, tập huấn, huấn luyện, họp nhóm, tham quan, khảo sát
Truyền thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng: báo chí, tivi, radio, pano,
áp phích, tờ rơi, phim ảnh,
Tiếp cận truyền thông qua những buổi biểu diễn lưu động, tham gia hội diễn, các chiến dịch, tham gia các lễ hội, các ngày kỷ niệm
- Lập kế hoạch: là việc xác định, dự tính các hoạt động theo trình tự trong khuôn khổ
nguồn lực, thời gian và địa điểm nhất định để đạt được mong muốn, cụ thể lập kế hoạch trong công tác quản lý tài nguyên gắn liền với bảo vệ môi trường gồm các nội dung sau:
+ Các khía cạnh môi trường;
+ Pháp luật và những yêu cầu khác;
+ Mục tiêu và chỉ tiêu phấn đấu;
+ Các chương trình quản lý môi trường;
Trang 18- Thực hiện và vận hành: tuân thủ và thực hiện theo kế hoạch đã được đưa ra, thống kê
tài liệu theo các biểu mẫu theo quy định
+ Tổ chức và trách nhiệm;
+ Đào tạo, nhận thức và năng lực;
+ Truyền thông;
+ Tài liệu hệ thống quản lý môi trường;
+ Kiểm soát tài liệu;
+ Kiểm soát hoạt động;
+ Đề phòng và đối phó với trường hợp khẩn cấp
- Đo và đánh giá:
+ Quan trắc và đo lường;
+ Phân tích và báo cáo các kết quả;
- Xem xét và cải tiến:
+ Căn cứ trên tài liệu thống kê về quản lý môi trường để tiến hành xem xét, đánh giá,
đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý môi trường
+ Dự báo sự cố môi trường, lên phương án giải quyết sự cố khi xảy ra
Các lĩnh vực Quản lý môi trường tại cơ sở khai thác than
1.1.4
Nội dung của QLMT tại các cơ sở hoạt động khai thác than bao gồm tất cả những vấn
đề về môi trường liên quan đến hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và hoạt động phát triển nói chung, gồm 3 lĩnh vực:
- Lĩnh vực phục hồi môi trường, bảo vệ giữ gìn đa dạng sinh học, cảnh quan thiên nhiên Theo đó, các cơ sở khai thác than phải tuân thủ quyết định số 18/2013/QĐ-TTg ngày 15/05/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản
Trang 19- Lĩnh vực kiểm soát ô nhiễm, quản lý chất thải và ứng phó sự cố môi trường
- Lĩnh vực năng lực gồm các hoạt động tăng cường luật pháp và thể chế, nâng cao nhận thức cộng đồng, xã hội hoá BVMT, tăng cường nguồn lực cho BVMT như nhân lực, tài lực, vật lực, tin lực, hợp tác quốc tế
Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý môi trường trong khai thác
- Thiếu nhân lực hoặc chưa đáp ứng được chuyên môn về công tác quản lý môi trường tại khu vực khai thác Tổ chức nguồn nhân lực là yếu tố có tính chất quyết định đến việc quản lý hoạt động khai thác Đội ngũ người lao động có trình độ phù hợp, tuân thủ kỷ luật lao động tốt, có chính sách đào tạo phù hợp sẽ quyết định chất lượng khai thác
- Thiếu sự chủ động phối hợp với đơn vị quản lý nhà nước về khai thác khoáng sản ở địa phương (Sở Tài nguyên và môi trường quận, huyện, tỉnh, thành phố…)
- Nguồn kinh phí chưa đáp ứng được với nhu cầu thực tế của công tác quản lý, bảo vệ môi trường tại đơn vị khai thác khoáng sản
- Chính sách quản lý đối với hoạt động khai thác là cơ chế quản lý Chính sách quản lý phải đảm bảo làm tốt, thống nhất trong tất cả các khâu từ lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, phối hợp quản lý nhằm theo dõi, phát hiện và kiềm chế những sai phạm, kiểm tra, phân tích, đánh giá và đề xuất giải pháp quản lý tối ưu nhằm đạt hiệu quả cao trong khai thác than và bảo vệ được môi trường
Trang 20- Công nghệ khai thác là yếu tố tác động lớn đến hoạt động khai thác Lựa chọn công nghệ khai thác tức là lựa chọn cách thức khai thác, thiết bị sử dụng, từ đó quyết định đến sản lượng, năng suất lao động và chi phí
- Chế độ chính trị, chính sách pháp luật của nhà nước cũng là yếu tố tác động gián tiếp
Sự tác động này được phản ảnh qua sự ổn định trật tự xã hội, sự điều chỉnh thuế quan, các chính sách vĩ mô của Nhà nước, quy định của các cơ quan cấp trên như Bộ, ngành
về chính sách khai thác và bảo vệ môi trường
- Hệ thống văn bản pháp luật nhà nước về khoáng sản vẫn còn bộc lộ nhiều bất cập,
nhiều điều khoản quy định đã lạc hậu, không còn phù hợp với thực tiễn trong công tác khai thác khoáng sản hiện nay Thực tếm hoạt động khai thác khoáng sản của các tổ chức, cá nhân còn bị điều chỉnh bởi một số văn bản pháp luật khác như: Luật bảo vệ môi trường, Luật đất đai, Luật Tài nguyên nước … Trong khi các văn bản này đã được điều chỉnh, bổ sung, sửa đổi thì hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về Khoáng sản vẫn chưa sửa đổi, bổ sung
- Chưa có chiến lược phát triển ngành công nghiệp khai thác khoáng sản do vậy các doanh nghiệp, đơn vị khai thác chưa có định hướng xây dựng kế hoạch quản lý môi trường trong khai thác khoáng sản
- Lực lượng cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về khoáng sản tại các Sở tài nguyên
và môi trường các tỉnh còn thiếu về số lượng Bên cạnh đó, chất lượng chuyên môn, nghiệp vụ chưa đáp ứng được Điều này làm giảm sự chỉ đạo, phối hợp giữa chính quyền địa phương tới các doanh nghiệp, đơn vị khai thác, giảm hiệu quả của công tác quản lý môi trường khai thác khoáng sản
Trang 21- Công tác thanh, kiểm tra các đơn vị khai thác khoáng sản dù đã được tăng cường nhưng vẫn còn một số bất cập Đến nay, chưa có một hệ thống thanh tra chuyên ngành thống nhất về khai thác khoáng sản từ Trung ương đến địa phương, bên cạnh đó lực lượng thanh tra ở địa phương còn quá mỏng, chưa đáp ứng được nhu cầu chuyên môn cũng như nghiệp vụ thanh tra chuyên ngành dẫn đến chưa kiểm soát được hết những
sơ hở trong quá trình quản lý, khai thác, vận hành ở các mỏ khai thác khoáng sản
Các yếu tố khác:
* Yếu tố Kinh tế:
Quản lý hoạt động khai thác tài nguyên gắn với bảo vệ môi trường được hình thành trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường và thực hiện điều tiết xã hội thông qua các công cụ kinh tế Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động phát triển và sản xuất của cải vật chất diễn ra dưới sức ép của sự trao đổi hàng hoá theo qui luật giá trị Loại hàng hoá có chất lượng tốt và giá thành rẻ sẽ được tiêu thụ nhanh Trong khi đó, loại hàng hoá kém chất lượng và đắt sẽ không có chỗ đứng Vì vậy, dựa vào qui luật khách quan
đó, chúng ta có thể chủ quan dùng các phương pháp và công cụ kinh tế để đánh giá và định hướng hoạt động quản lý khai thác tài nguyên gắn được với bảo vệ môi trường
* Yếu tố Pháp luật:
Cơ sở luật pháp của quản lý hoạt động khai thác tài nguyên gắn với bảo vệ môi trường
là các văn bản của luật quốc tế và luật quốc gia về lĩnh vực khai thác và bảo vệ môi trường Luật quốc tế về môi trường là tổng thể các nguyên tắc, quy phạm quốc tế điều chỉnh mối quan hệ giữa các quốc gia, giữa quốc gia và tổ chức quốc tế trong việc ngăn chặn, loại trừ thiệt hại gây ra cho môi trường của từng quốc gia và môi trường ngoài phạm vi tàn phá quốc gia Các văn bản luật quốc tế về môi trường được hình thành một cách chính thức từ thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, giữa các quốc gia châu Âu, châu
Mỹ, châu Phi Từ hội nghị quốc tế về "Môi trường con người" [13,tr.12] tổ chức năm
1972 tại Thuỵ Ðiển và sau Hội nghị thượng đỉnh Rio de janero 1992 có rất nhiều văn bản về luật quốc tế được soạn thảo và ký kết Cho đến nay đã có hàng nghìn các văn bản luật quốc tế về môi trường, trong đó nhiều văn bản đã được chính phủ Việt Nam tham gia ký kết Trong phạm vi quốc gia, vấn đề khai thác tài nguyên gắn với bảo vệ
Trang 22môi trường được đề cập trong nhiều bộ luật, trong đó Luật Bảo vệ Môi trường đầu tiên được quốc hội nước Việt Nam thông qua ngày 27/12/1993 là văn bản quan trọng nhất Chính phủ đã ban hành Nghị định 175/CP ngày 18/10/1994 về hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ Môi trường và Nghị định 26/CP ngày 26/4/1996 về Xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường Bộ Luật hình sự, hàng loạt các thông tư, quy định, quyết định của các ngành chức năng về thực hiện luật môi trường đã được ban hành Một 18
số tiêu chuẩn môi trường chủ yếu được soạn thảo và thông qua Nhiều khía cạnh bảo
vệ môi trường được đề cập trong các văn bản khác như Luật Khoáng sản, Luật Dầu khí, Luật Hàng hải, Luật Lao động, Luật Ðất đai, Luật Phát triển và Bảo vệ rừng, Luật Bảo vệ sức khoẻ của nhân dân, Pháp lệnh về đê điều, Pháp lệnh về việc bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, Pháp luật bảo vệ các công trình giao thông Trong quá trình thực hiện, cho đến nay Luật Bảo vệ Môi trường đã nhiều lần được sửa đôi cho phù hợp thực tiễn
và gần đây nhất là Luật Bảo vệ Môi trường sửa đổi năm 2010 Cùng với luật là các pháp lệnh và các văn bản hướng dẫn thực hiện Căn cứ các văn bản của luật pháp quốc
tế đã được nhà nước Việt Nam phê duyệt và hệ thông pháp luật Việt Nam làm cơ sở quan trọng cho việc thực hiện công tác quản lý nhà nước về khai thác than và bảo vệ môi trường
*Yếu tố Cộng đồng:
Truyền thông nhằm nâng cao văn hoá và ý thức môi trường được thực hiện chủ yếu qua các phương thức sau: Chuyển thông tin tới từng cá nhân qua việc tiếp xúc tại nhà, tại cơ quan, gọi điện thoại, gửi thư Chuyển thông tin tới từng nhóm qua hội thảo, tập huấn, huấn luyện, họp nhóm, tham quan, khảo sát Chuyển thông tin qua các phương tiện truyền thông đại chúng: báo chí, tivi, radio, pano, áp phích, tờ rơi, phim ảnh, Tiếp cận truyền thông qua những buổi biểu diễn lưu động, tham gia hội diễn, các chiến dịch, tham gia các lễ hội, các ngày kỷ niệm
* Yếu tố Khoa học kỹ thuật:
Quản lý hoạt động khai thác than gắn với bảo vệ môi trường là tổng hợp các phương pháp như sử dụng công cụ luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ 19 thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế - xã hội – môi
Trang 23trường quốc gia Các nguyên tắc quản lý hoạt động khai thác gắn với bảo vệ môi trường, các công cụ thực hiện việc giám sát chất lượng môi trường, các phương pháp
xử lý môi trường bị ô nhiễm được xây dựng trên cơ sở sự hình thành và phát triển ngành khoa học môi trường Bên cạnh đó, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học về môi trường, phát triển và ứng dụng công nghệ cao trong bảo vệ môi trường, phát huy vai trò của khoa học và công nghệ trong việc thúc đẩy, nâng cao chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế, thúc đẩy quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế xanh Phát triển, tiếp nhận chuyển giao công nghệ mới, tiên tiến về phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm, khai thác, sử dụng hiệu quả và bền vững nguồn tài nguyên than đá Bảo tồn thiên nhiên và
đa dạng sinh học, tiết kiệm năng lượng, sản xuất và sử dụng năng lượng sạch, tái tạo Đẩy nhanh tiến độ đổi mới công nghệ sản xuất, công nghệ xây dựng, công nghệ khai thác theo hướng ứng dụng công nghệ sản xuất, xây dựng và công nghệ khai thác tiêu tốn ít nguyên, nhiên liệu, năng lượng, ít chất thải, các-bon thấp
1.2 Các văn bản pháp lý quy định đối với quản lý môi trường
- Nghị định số 21/2008/NĐ-CP Nghị định sửa đổi bổ sung một số điều của nghị định
số 80/2006/NĐ-CP
Trang 24- Nghị định số 80/2006/NĐ-CP Nghị định qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành một
số điều của Luật bảo vệ môi trường
- Luật khoáng sản số 60/2010/QH12 của Quốc Hội
- Nghị định số 158/2016/NĐ-CP về hướng dẫn luật Khoáng sản
Các Thông tư, văn bản hướng dẫn về công tác Bảo vệ môi trường
- Thông tư số 27/2015/TT-BTNMT Thông tư hướng dẫn về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường có hiệu lực từ ngày 15/07/2015 thay thế thông tư số 26/2011/TT-BTNMT
- Thông tư số 26/2015/TT-BTNMT Thông tư quy định về lập, thẩm định, phê duyệt và kiểm tra, xác nhận việc thực hiện đề án bảo vệ môi trường chi tiết; lập và đăng ký đề
án bảo vệ môi trường đơn giản có hiệu lực từ ngày 15/07/2015 thay thế thông tư số 01/2012/TT-BTNMT
- Thông tư số 05/2008/TT-BTNMT Thông tư hướng dẫn về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường
- Thông tư số 12/2006/TT-BTNMT Thông tư hướng dẫn thủ tục, mẫu hồ sơ đăng ký cho chủ nguồn thải chất thải nguy hại
- Thông tư số 13/2006/QĐ-BTNMT Quyết định tổ chức và hoạt động của hội đồng thẩm định Báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) và Báo cáo đánh giá tác động môi trường chiến lược
- Thông tư số 23/2006/QĐ-BTNMT Quyết định ban hành danh mục chất thải nguy hại
Trang 25- Thông tư số 125/2003/TTLT/BTC-BTNMT Thông tư hướng dẫn thủ tục kê khai mức Phí bảo vệ môi trường đối với nước thải
- Thông tư số 106/2007/TTLT/BTC-BTNMT Thông tư sửa đổi bổ sung một số điều về Phí bảo vệ môi trường đối với nước thải
Các tiêu chuẩn, quy chuẩn Việt Nam trong xử lý chất thải nguy hại
1.2.3
Bộ tiêu chuẩn Việt Nam QCVN về nước thải
- QCVN 11-MT:2015/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp chế biến thuỷ sản (thay thế QCVN 11:2008/BTNMT từ ngày 31/12/2015)
- QCVN 01-MT:2015/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải sơ chế cao
su thiên nhiên (thay thế QCVN 01:2008/BTNMT từ ngày 01/06/2015)
- QCVN 12-MT:2015/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp giấy và bột giấy (thay thế QCVN 12:2008/BTNMT từ ngày 01/06/2015)
- QCVN 13-MT:2015/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp dệt nhuộm (thay thế QCVN 13:2008/BTNMT từ ngày 01/06/2015)
- QCVN 40:2011/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp (thay thế TCVN 5945:2005 )
- QCVN 09:2008/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ngầm
- QCVN 14:2008/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải sinh hoạt
- QCVN 38:2011/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt bảo
vệ đời sống thủy sinh
- QCVN 39:2011/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước dùng cho tưới tiêu
- TCVN 5945:2005 Nước thải công nghiệp - Tiêu chuẩn thải
- TCVN 6772:2000 Chất lượng nước - Nước thải sinh hoạt giới hạn ô nhiễm cho phép
Trang 26- TCVN 6980:2001 Chất lượng nước - Tiêu chuẩn nước thải công nghiệp thải vào lưu vực nước sông dùng cho cấp nước sinh hoạt
- TCVN 6981:2001 Chất lượng nước - Tiêu chuẩn nước thải công nghiệp thải vào lưu vực nước hồ dùng cho mục đích cấp nước sinh hoạt
- TCVN 6982:2001 Chất lượng nước - Tiêu chuẩn nước thải công nghiệp thải vào lưu vực nước sông dùng cho mục đích thể thao và giải trí dưới nước
- TCVN 6983:2001 Chất lượng nước - Tiêu chuẩn nước thải công nghiệp thải vào lưu vực nước hồ dùng cho mục đích thể thao và giải trí dưới nước
- TCVN 6987:2001 Chất lượng nước - Tiêu chuẩn nước thải công nghiệp thải vào vùng nước biển ven bờ dùng cho mục đích thể thao và giải trí dưới nước
Bộ tiêu chuẩn Việt Nam TCVN về khí thải & tiếng ồn
- QCVN 19:2009/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải công nghiệp đối với bụi và các chất vô cơ
- QCVN 26:2010/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếng ồn (thay thế TCVN 5949:1998)
- QCVN 02:2008/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải lò đốt chất thải rắn
y tế
- QCVN 05:2009/NTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng không khí xung quanh (thay thế TCVN 5937:2005)
- QCVN 06:2009/NTNMT Chất lượng không khí - Nồng độ tối đa cho phép của một
số chất độc hại trong môi trường không khí xung quanh (thay thế TCVN 5938:2005)
- TCVN 5939:2005 Chất lượng không khí - Tiêu chuẩn khí thải công nghiệp đối với bụi và chất vô cơ
- TCVN 5940:2005 Chất lượng không khí - Tiêu chuẩn khí thải công nghiệp đối với một số chất hữu cơ
Trang 27- TCVN 5949:1998 Âm học - Tiếng ồn khu vực công cộng và dân cư - Mức ồn tối đa cho phép
Bộ quy chuẩn Việt Nam về giới hạn ô nhiễm trong bùn, đất & chất thải nguy hại - QCVN 50:2013/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡng nguy hại đối với bùn thải từ quá trình xử lý nước
- QCVN 30:2012/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về lò đốt chất thải công nghiệp (thay thế QCVN 30:2010)
- QCVN 02:2012/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về lò đốt chất thải rắn y tế (thay thế QCVN 02:2010)
- QCVN 41:2011/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về đồng xử lý chất thải nguy hại trong lò nung xi măng
- QCVN 03:2008/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về giới hạn cho phép của kim loại nặng trong đất
- QCVN 15:2008/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về dư lượng hoá chất bảo vệ thực vật trong đất
Tiêu chuẩn Việt Nam về chất lượng nguồn nước & nước cấp sinh hoạt
- QCVN 08-MT:2015/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt thay thế QCVN 08:2008/BTNMT
- QCVN 09-MT:2015/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ngầm Quy chuẩn này áp dụng để đánh giá và giám sát chất lượng nguồn nước ngầm, làm căn cứ để định hướng cho các mục đích sử dụng nước khác nhau thay thế QCVN 09:2008/BTNMT
- QCVN 10-MT:2015/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước biển thay thế QCVN 10:2008/BTNMT
- QCVN 01:2009/BYT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ăn uống (đối với nước dùng để ăn uống, nước dùng cho các cơ sở chế biến thực phẩm)
Trang 28- QCVN 02:2009/BYT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt (sử dụng cho mục đích sinh hoạt thông thường không sử dụng để ăn uống trực tiếp hoặc dùng cho chế biến thực phẩm tại các cơ sở chế biến thực phẩm)
Bộ Tiêu chuẩn quy định yêu cầu kỹ thuật cho các loại than thương phẩm gồm than cục, than cám, than bùn tuyển, than không phân cấp:
- TCVN 172 (ISO 589), Than đá - Xác định hàm lượng ẩm toàn phần
- TCVN 173 (ISO 1171), Nhiên liệu khoáng rắn - Xác định tro
- TCVN 174 (ISO 562), Than đá và cốc - Xác định hàm lượng chất bốc
- TCVN 175 (ISO 334), Nhiên liệu khoáng rắn - Xác định hàm lượng lưu huỳnh chung – Phương pháp Eschka
- TCVN 200 (ISO 1928), Nhiên liệu khoáng rắn - Xác định giá trị tỏa nhiệt toàn phần bằng phương pháp bom đo nhiệt lượng và tính giá trị tỏa nhiệt thực
- TCVN 251 (ISO 1953) Than đá - Phân tích cỡ hạt bằng sàng
- TCVN 318 (ISO 1170), Than và cốc - Tính kết quả phân tích trên những trạng thái khác nhau
- TCVN 1693 (ISO 18283), Than đá - Lấy mẫu thủ công
- TCVN 4307, Than - Phương pháp xác định tỷ lệ dưới cỡ và trên cỡ
- ISO 13909-2, Hard coal and coke - Mechanical sampling - Part 2: Coal - Sampling from moving streams (Than đá và cốc - Lấy mẫu cơ giới - Phần 2: Than - Lấy mẫu trên dòng chuyển động)
- ISO 13909-3, Hard coal and coke - Mechanical sampling - Part 3: Coal - Sampling from stationary lots (Than đá và cốc - Lấy mẫu cơ giới - Phần 3: Than - Lấy mẫu tại lô tĩnh)
- ISO 13909-4, Hard coal and coke - Mechanical sampling - Part 4: Coal - Preparation
of test samples (Than đá và cốc - Lấy mẫu cơ giới - Phần 4: Than - Chuẩn bị mẫu thử)
Trang 291.3 Các công cụ trong quản lý môi trường
* Công cụ luật pháp chính sách bao gồm các văn bản về luật quốc tế, luật quốc gia, các văn bản khác dưới luật, các kế hoạch và chính sách môi trường quốc gia, các ngành kinh tế, các địa phương
* Các công cụ kỹ thuật quản lý thực hiện vai trò kiểm soát và giám sát nhà nước về chất lượng và thành phần môi trường, về sự hình thành và phân bố chất ô nhiễm trong môi trường Các công cụ kỹ thuật quản lý có thể gồm các đánh giá môi trường, minitoring môi trường, xử lý chất thải, tái chế và tái sử dụng chất thải Các công cụ kỹ thuật quản lý có thể được thực hiện thành công trong bất kỳ nền kinh tế phát triển như thế nào
* Công cụ kinh tế: Ở Việt Nam, quan điểm về áp dụng công cụ kinh tế trong quản lý
môi trường đã được nhấn mạnh trong các văn kiện của Đảng và thể chế hóa trong Luật Bảo vệ môi trường và các văn bản dưới luật Các công cụ kinh tế được đưa vào trong quản lý môi trường với mục đích tác động tới chi phí và lợi ích trong hoạt động của
các cá nhân, tổ chức kinh tế Một số công cụ kinh tế được sử dụng trong quản lý môi
trường được trình bày dưới đây:
Thuế và phí môi trường
Nghị định 67/2003/NĐ-CP ngày 13/6/2003 đã quy định về phí BVMT đối với nước thải Tuy nhiên, sau hơn 6 năm thực hiện, phí BVMT đối với nước thải vẫn còn bộc lộ nhiều bất cập Các cơ quan quản lý còn lúng túng trong cách thu và tính phí Các doanh nghiệp còn tìm cách trốn tránh và nợ phí Kết quả là tỷ lệ thu phí nước thải công nghiệp còn thấp Phí BVMT đối với chất thải rắn thông thường và chất thải rắn nguy
Trang 30hại được quy định trong nghị định 174/2007/NĐ-CP ngày 29/11/2007 Ngoài ra, phí
vệ sinh được áp dụng 2003 theo quy định tại Thông tư số 71/2003/TT-BTC ngày 30/7/2003 của Bộ Tài chính Tuy nhiên, khoản thu từ các khoản phí này không đủ bù đắp chi phí thu gom, xử lý chất thải rắn Ngoài ra, các văn bản hiện tại không quy định
rõ trách nhiệm thu phí của các đơn vị, tổ chức nên việc thu phí ở các địa phương còn gặp nhiều khó khăn
Phí BVMT đối với khai thác khoáng sản được thực hiện theo Nghị định số 63/2008/NĐ-CP ngày 13/5/2008 của Chính phủ Tuy nhiên, việc thu phí còn gặp nhiều khó khăn do đối tượng phải nộp phí chưa tự giác thực hiện nghĩa vụ này Còn tình trạng doanh nghiệp kê khai sản lượng khai thác thấp hơn thực tế để giảm số phí phải nộp
Ngoài ba loại phí thuộc nhóm thuế/phí Pigouvan nêu trên còn có Luật Thuế BVMT mới được thông qua và sẽ có hiệu lực từ tháng 7/2011 Đây là quy định thuế đánh vào nguyên liệu/sản phẩm, bao gồm 8 nhóm sản phẩm: xăng dầu, than, môi chất làm sạch chứa HCFC, túi nhựa xốp (túi nilon) và nhóm hạn chế sử dụng như: thuốc bảo vệ thực vật, thuốc diệt cỏ, thuốc trừ mối và thuốc khử trùng kho Một điểm đáng lưu ý là thuế BVMT được định nghĩa là “loại thuế giãn thu, thu vào một số sản phẩm, hàng hóa gây tác động xấu đến môi trường” Định nghĩa này là định nghĩa hẹp của thuế BVMT vì mới đề cập đến loại thuế nguyên liệu/sản phẩm chứ chưa bao hàm loại thuế đánh vào đơn vị ô nhiễm xả thải ra môi trường Ưu điểm của việc áp dụng thuế BVMT đối với nguyên liệu/sản phẩm là dễ tính toán và dễ áp dụng Nhược điểm, loại thuế này chỉ khuyến khích gây ô nhiễm mà không khuyến khích đầu tư xử lý ô nhiễm trong quá trình sản xuất ra sản phẩm đó Vì vậy, tác động giảm ô nhiễm của loại thuế này chỉ là tác động gián tiếp (thông qua việc sản xuất ít đi) chứ không phải tác động trực tiếp vào quá trình phát thải ô nhiễm Đối với những hàng hóa thuộc loại xa xỉ thì loại thuế này
có tác dụng nhiều trong việc hạn chế ô nhiễm (thông qua hạn chế tiêu dùng/sản xuất) nhưng với hàng hóa thiết yếu thì loại thuế này ít có tác dụng giảm ô nhiễm
Thuế tài nguyên
1.3.2
Ở Việt nam, pháp lệnh về Thuế Tài nguyên ra đời ngày 30/3/1990 và được sửa đổi năm 1998 Ngày 25/11/2009, Quốc hội đã thông qua Luật Thuế tài nguyên Trong
Trang 31Luật thuế Tài nguyên, các nhóm đối tượng chịu thuế có liên quan đến ĐDSH bao gồm: các sản phẩm của rừng tự nhiên (thực vật và các loại sản phẩm khác của rừng tự nhiên trừ động vật); hải sản tự nhiên (gồm các loại động vật và thực vật ở biển) và yến sào thiên nhiên Thống kê cho thấy, số tiền thu thuế tài nguyên theo Pháp lệnh Thuế Tài nguyên bình quân trong giai đoạn 2005 - 2008, mỗi năm trên 23.200 tỷ đồng, chiếm khoảng 15% tổng thu ngân sách nhà nước
Thuế tài nguyên là một khoản thu của Ngân sách Nhà nước đối với các doanh nghiệp
về việc sử dụng các dạng tài nguyên thiên nhiên trong quá trình sản xuất Mục đích của thuế tài nguyên là:
- Hạn chế các nhu cầu không cấp thiết trong sử dụng tài nguyên
- Hạn chế các tổ thất tài nguyên trong quá trình khai thác và sử dụng
- Tạo nguồn thu cho Ngân sách và điều hoà quyền lợi của các tầng lớp dân cư về việc
b, Cơ chế hỗ trợ tài chính cho các các hoạt động BVMT được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 04/2009/NĐ-CP ngày 14/1/2009 Ngoài ra, thuế xuất nhập khẩu, thuế thu nhập doanh nghiệp cũng có những điều khoản ưu đãi về thuế cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ, thiết bị và công nghệ môi trường Mặc dù
đã có cơ chế hỗ trợ tài chính song chưa có nhiều doanh nghiệp tham gia các hoạt động
Trang 32này vì nhu cầu đầu tư cho môi trường chưa cao Nói cách khác, "cầu" cho hoạt động BVMT chưa đủ cao để kích thích các hoạt động "cung"
Một cơ chế khác là Quỹ Môi trường đã được hình thành nhằm hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp đầu tư BVMT như: Quỹ Môi trường cấp quốc gia (Quỹ BVMT Việt Nam, Quỹ Bảo tồn Việt Nam), Quỹ BVMT các tỉnh/TP, Quỹ Môi trường ngành Sau một thời gian hoạt động, các quỹ môi trường đã góp phần đưa nguồn vốn của Nhà nước để thực hiện dự án môi trường hiệu quả; bước đầu huy động được một phần nguồn lực từ trong và ngoài nước cho các hoạt động BVMT Tuy nhiên các quỹ này chưa phát huy hết hiệu quả do nguồn vốn chưa đủ, các doanh nghiệp chưa có nhiều thông tin về các thủ tục vay cũng như chưa có áp lực cần vay vốn đầu tư BVMT
c, Công cụ công khai hóa thông tin hoạt động môi trường của doanh nghiệp nhằm tạo
áp lực từ cộng đồng và người tiêu dùng đến việc doanh nghiệp tuân thủ các qui định môi trường cũng đã được áp dụng nhưng mới chỉ ở quy mô nhỏ trong khuôn khổ một
số dự án thử nghiệm tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Bắc Ninh và Quảng Nam Chương trình cấp Nhãn sinh thái đã được Bộ TN&MT phê duyệt năm 2009 nhằm khuyến khích các mẫu hình sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm thân thiện với môi trường Đặt cọc hoàn trả, mặc dù chưa có quy định của nhà nước nhưng cũng đã được áp dụng có tính
tự phát ở một số lĩnh vực như đặt cọc vỏ chai
d, Đối với lĩnh vực bảo tồn đa dạng sinh học: Phí có thể khuyến khích việc tiêu dùng bền vững và cung cấp nguồn tài chính cho các hoạt động bảo tồn Các loại phí phù hợp phụ thuộc vào bản chất của khu vực cần bảo tồn Đối với các khu bảo tồn, phí có thể dưới hình thức phí vào cửa Để bảo vệ ĐDSH trong nông nghiệp, có thể áp dụng phí tính trên đơn vị thuốc trừ sâu và phân bón
Hỗ trợ tín dụng là những khoản vay ưu đối với mức lãi suất thấp để hỗ trợ các hoạt động bảo tồn của cá nhân và cộng đồng, có thể áp dụng cho du lịch sinh thái, sản xuất nông sản hữu cơ, khai thác bền vững rừng, bảo vệ các giống loài có nguy cơ tuyệt chủng
Quyền phát triển có thể mua bán trao đổi (tradable development rights) là những quyền được trao cho người sở hữu đất nằm trong vùng cần bảo tồn ĐDSH Những
Trang 33quyền này có thể được bán lại cho những nhà đầu tư dự định đầu tư cho các dự án phát triển ở các khu đất khác nhưng theo yêu cầu của pháp luật phải có được một số lượng nhất định các giấy phép bảo tồn thì mới được tiến hành các hoạt động đầu tư Kết quả
là các nhà đầu tư cần tìm mua giấy phép này từ những người thực hiện các hoạt động bảo tồn
Cơ chế phát triển xanh (Green Development Mechanism) là một hình thức đang được các nhà khoa học quốc tế nghiên cứu và đề xuất Cơ chế phát triển xanh sẽ tạo lập thị trường trao đổi các hạn ngạch các hoạt động phát triển kinh tế có ảnh hưởng đến ĐDSH Theo đó, sẽ có một số lượng hạn ngạch các hoạt động phát triển nhất định được đặt ra cho một khu vực hoặc toàn cầu Nếu quốc gia nào muốn phát triển kinh tế quá hạn mức này sẽ phải mua lại quyền của các quốc gia khác Thông qua việc tạo lập thị trường này, ĐDSH sẽ được gắn một “giá cả” như một loại hàng hóa và nhờ vậy sẽ được gìn giữ và bảo tồn tốt hơn Khái niệm này gần giống với Quyền phát triển có thể mua bán trao đổi song khác ở chỗ phạm vi áp dụng ở quy mô rộng hơn: khu vực và toàn cầu
1.4 Cơ sở thực tiễn về công tác quản lý môi trường trong khai thác khoáng sản
Những bài học kinh nghiệm
1.4.1
- Bài học kinh nghiệm trong nước: Từ năm 2000 đến nay sản lượng ngành than đã không ngừng tăng Song vấn đề bức xúc nhất đối với các mỏ khai thác than về góc độ bảo vệ môi trường là đất đá thải Để sản xuất 1 tấn than, cần bóc đi từ 8 – 10 m3 đất phủ, thải từ 1 - 3m3 nước thải mỏ Chỉ tính riêng năm 2006, các mỏ than của Tập đoàn Công nghiệp Than và Khoáng sản Việt nam đã thải vào môi trường tới 182,6 triệu m3 đất đá, khoảng 70 triệu m3 nước thải mỏ, dẫn đến một số vùng của tỉnh Quảng Ninh bị
ô nhiễm đến mức báo động như Mạo Khê, Uông Bí, Cẩm Phả Mặt khác, môi trường không khí các khu vực khai thác khoáng sản bị ô nhiễm do bụi, khí độc, khí nổ và tiếng ồn, đặc biệt tại khu vực Cẩm Phả, Uông Bí, Mạo Khê và các phường Hà Khánh,
Hà Lầm, Hà Trung, Hà Tu, Hà Phong – TP Hạ Long Hàm lượng bụi tại các khu vực khai thác, chế biến than đều vượt tiêu chuẩn cho phép (TCCP) từ 1,2 - 5,2 lần; tại khu dân cư lân cận vượt TCCP 3,3 lần Thực tiễn công tác quản lý môi trường tại mỏ than
Trang 34Mạo Khê: (trích luận văn quản lý môi trường mỏ than Mạo Khê, Quảng Ninh)
- Công tác hoàn thổ, phục hồi môi trường: Mỏ than Mạo Khê đã có nhiều cố gắng trong công tác cải tạo, phục hồi môi trường Năm 1996, công tác trồng cây cải tạo đất
và môi trường mới được triển khai bước đầu ở các khu vực văn phòng, các công trường, phân xưởng Đến nay công tác hoàn thổ, phục hồi môi trường đã có những bước tiến rõ rệt với việc trồng cây chống bụi tại các khu vực mặt bằng sân công nghiệp, nhà sàng, bãi thải, kho than và hai bên đường vận chuyển than
Từ năm 2005 – 2009 mỏ than Mạo Khê đã tổ chức hoàn thổ, phục hồi môi trường với tổng khối lượng là 4.895.225 m3 Trong đó, năm 2008 mỏ đã tổ chức hoàn thổ tại 16 điểm lộ vỉa thuộc đất vườn, đất ở của nhân dân và dự án đầu tư sản xuất của đơn vị với tổng khối lượng 1.765.852m3, trồng hơn 16 ha cây xanh (chủ yếu là Bạch Đàn và Keo) tại các khu vực đã chấm dứt khai thác Năm 2009 mỏ tiếp tục hoàn thổ phục hồi môi trường các điểm lộ vỉa theo dự án đầu tư sản xuất của công ty với tổng khối lượng 1,1 triệu tấn và trồng 48,9 ha cây xanh tại các vị trí đã ngừng khai thác
- Công tác quản lý chất thải, kiểm soát ô nhiễm môi trường và ứng phó sự cố môi trường:
Mỏ than Mạo Khê đã tiến hành đăng ký chủ nguồn thải theo Thông tư BTNMT ngày 26/12/2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường và định kỳ báo cáo với
12/2006/TT-Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh 3 tháng/lần Tại mỗi cửa lò, khu vực bảo dưỡng thiết bị được đặt thùng chứa chất thải nguy hại có thể tích 80l để thu gom toàn bộ các thành phần chất thải nguy hại, mỗi thùng có màu sắc khác nhau để thu gom với từng loại chất thải Chất thải đã thu gom được chứa trong kho có mái che, biển báo sau đó hợp đồng với đơn vị có chức năng để thu gom và xử lý
Rác thải sinh hoạt trong mỏ bao gồm rác thải từ quá trình sinh hoạt của các hộ dân trong khu vực và của các đơn vị trong Công ty với khối lượng 800 kg/ngày được thu gom hàng ngày vào các thùng chứa và phân loại thành chất hữu cơ và vô cơ Chất hữu
cơ được tập trung và đổ vào một hố đào có kích thước 1m x1mx1m, có nắp bằng sắt hoặc bằng gỗ (nắp có thể di chuyển dễ dàng) Khi rác đầy sẽ tiến hành lấp hố bằng đất
và trồng cây lên trên đồng thời tạo một hố khác để tiếp tục chứa rác Chất vô cơ tập
Trang 35trung vào thùng lớn và hợp đồng với đơn vị có chức năng thu gom, vận chuyển đổ vào bãi rác thải theo quy hoạch của UBND huyện Đông Triều
Đất đá thải sinh ra trong quá trình khai thác than có khối lượng ước tính khoảng 620.100 m3/năm từ hai nguồn chính là đất đá thải hầm lò và đất đá thải lộ vỉa Đá từ hầm lò, đất đá lộ vỉa, thải sàng được vận chuyển đổ trên các bãi thải đã được quy hoạch theo quy định Tại các bải thải hiện nay đã dừng việc đổ bãi thải cao và triển khai công tác cải tạo, phục hồi môi trường, tiến hành san gạt cắt tầng hạ độ cao để đảm bảo sự ổn định của bãi thải và trồng cây xanh tại các sườn tầng để hạn chế việc rửa trôi đất đá và mức độ ảnh hưởng của bãi thải
- Bài học kinh nghiệm quốc tế: Ở Trung Quốc, sau ba thế kỷ bùng nổ ngành công nghiệp khai thác than đã gây ra những “thảm họa môi trường”, cụ thể: Người dân sống gần các mỏ than ở Trung Quốc đang phải gánh chịu tình trạng sụt lún đất nghiêm trọng, đòi hỏi chi phí khắc phục hàng chục tỷ USD do các công ty tư nhân muốn kiếm
lợi nhuận nhanh chóng nên chỉ đào bên dưới và xung quanh khu dân cư, khiến nền móng các ngôi làng trở nên mất ổn định Tính đến cuối năm 2014, khai thác than ở Trung Quốc gây ra 26.000 biến động địa chất, khiến 10.000 km2 diện tích đất bị ảnh hưởng Trước tình trạng đó, Trung Quốc đang khuyến khích các nhà đầu tư biến những địa điểm khai thác mỏ bỏ hoang thành nơi thực hiện dự án khai thác điện gió và điện Mặt Trời Lượng điện tạo ra từ năng lượng ánh sáng Mặt Trời hiện nay chỉ chiếm
0,6% tổng lượng điện của Trung Quốc, còn phong năng chiếm 3,6% Bên cạnh đó, Trung Quốc có kế hoạch di dời người dân ra khỏi những khu vực khai thác không an toàn, cụ thể ở tỉnh Sơn Tây đã tiến hành di rời 655.000 người dân vào cuối năm 2017 Chi phí di dời ước tính khoảng 2,37 tỷ USD
Các nghiên cứu liên quan tới công tác quản lý môi trường trong khai thác
1.4.2
khoáng sản ở Việt Nam
Công tác quản lý môi trường tại các mỏ khai thác khoáng sản ở Việt Nam hiện nay là một vấn đề tương đối nóng bỏng, nhận được sự quan tâm của nhiều tác giả thông qua các nghiên cứu, điển hỉnh:
a, Tác giả Nguyễn Duy Thu, Phó Giám đốc Sở TN&MT Nghệ An có nghiên cứu tổng
Trang 36quát về công tác quản lý khoáng sản và bảo vệ môi trường tại Nghệ An, Nghiên cứu đã thể hiện rõ việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, khai thác khoáng sản gắn với BVMT trên địa bản tỉnh Nghệ An: “Trong những năm gần đây, công tác quản lý khoáng sản và BVMT trong lĩnh vực khoáng sản trên địa bàn tỉnh Nghệ An có nhiều chuyển biến tích cực, hệ thống cơ chế chính sách từng bước được xây dựng và hoàn thiện, phục vụ ngày càng có hiệu quả trong công tác BVMT cũng như mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) Tuy nhiên, hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản đang tạo ra nhiều áp lực lên môi trường, như khai thác quặng thiếc, vàng sa khoáng, chế biến khoáng sản ở một số khu tiểu thủ công nghiệp Do vậy, công tác BVMT đối với lĩnh vực khoáng sản trên địa bàn tỉnh đang đứng trước nhiều thách thức cần phải giải quyết, đòi hỏi phải có một cơ chế quản lý chặt chẽ, sự tham gia vào cuộc của các cấp, các ngành và ý thức của người dân”
Tác giả cũng đưa ra một số kiến nghị, đề xuất giải pháp để nâng cao công tác BVMT trong khai thác khoáng sản:
“Về thể chế, chính sách: Xây dựng chế tài đủ mạnh để xử lý các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khai khoáng không đầu tư xây dựng các công trình BVMT, cũng như hệ thống xử lý chất thải, khí thải
Xây dựng thể chế rõ ràng, minh bạch trong công tác quản lý nhà nước về khoáng sản
và môi trường đối với các cơ quan quản lý nhà nước Phân định rõ chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn giữa các cơ quan Trung ương và địa phương; giữa UBND các cấp (tỉnh, huyện, xã); giữa các Sở, ban ngành cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về khoáng sản và môi trường, nhằm tránh tình trạng đùn đẩy trách nhiệm trong quá trình thực thi nhiệm vụ
Xây dựng chính sách đồng bộ đối với các dự án đầu tư xây dựng các công trình xử lý môi trường, đặc biệt là dự án xây dựng công tyxử lý nước thải tập trung
Về tổ chức thực hiện: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về khoáng sản dưới nhiều hình thức và phương pháp phù hợp Tập trung phổ biến, quán triệt nâng cao nhận thức của cán bộ, công chức làm công tác quản lý nhà nước về khoáng sản
Trang 37Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm quy định của pháp luật, nhất là các cơ sở gây ô nhiễm môi trường trong quá trình hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản Tập trung kiểm tra, xử lý dứt điểm tình trạng khai thác khoáng sản trái phép ở một số khu vực trên địa bàn tỉnh
Hạn chế và tiến tới chấm dứt tình trạng đầu tư khai thác khoáng sản manh mún, nhỏ lẻ, kém hiệu quả; chỉ cho phép doanh nghiệp có vốn đầu tư lớn, có năng lực quản lý và công nghệ hiện đại tham gia thăm dò, khai thác, chế biến các loại khoáng sản quan trọng và chiến lược
Xây dựng chiến lược bảo vệ tài nguyên khoáng sản, đặc biệt là khoáng sản quý hiếm, khoáng sản kim loại, phi kim loại, nhằm khai thác, chế biến, sử dụng hợp lý, tiết kiệm,
có hiệu quả, gắn với công tác BVMT
Tăng cường đầu tư cho công tác nghiên cứu, cải tiến kỹ thuật, đổi mới công nghệ khai thác, chế biến khoáng sản nhằm tận thu, nâng cao giá trị, chất lượng sản phẩm từ khoáng sản Xây dựng, phát triển các khu công nghiệp, tiểu công nghiệp chế biến sâu khoáng sản và các làng nghề, để nâng cao sức cạnh tranh, thu hút đầu tư
Trong hoạt động khoáng sản cần phải giảm bớt thủ tục tiền kiểm, tăng cường công tác hậu kiểm và nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chủ đầu tư bằng các giải pháp: Chuyển chức năng tổ chức thẩm định, phê duyệt Báo cáo ĐTM và Cam kết BVMT cho đơn vị tư vấn thực hiện; Cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm cho ý kiến về nội dung của Báo cáo ĐTM và Cam kết BVMT; Cơ quan tư vấn chịu trách nhiệm trước chủ đầu tư về tính thực tiễn của Báo cáo ĐTM và Cam kết BVMT
Về nguồn lực: Đối với cán bộ, công chức thực hiện công tác quản lý nhà nước về khoáng sản ở địa phương: Tiếp tục, tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng kiến thức
về pháp luật, quản lý nhà nước, công nghệ kỹ thuật khai thác chế biến khoáng sản
Đối với các doanh nghiệp khai thác khoáng sản: Bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ về pháp luật, kỹ thuật khai thác mỏ, an toàn lao động, phòng chống cháy nổ, BVMT cho giám đốc các doanh nghiệp, giám đốc điều hành mỏ, đội ngũ công nhân kỹ thuật
Trang 38Quy định về trang bị, phương tiện, phòng thí nghiệm trong công tác quản lý nhà nước
về môi trường đối với hoạt động khoáng sản và nguồn kinh phí để thực hiện”
b, Báo cáo phân tích ảnh hưởng của hoạt động khai thác khoáng sản đến tài nguyên thiên nhiên và môi trường của Trường đại học khoa học tự nhiên - Đại học quốc gia
Hà Nội cũng đã chỉ ra những tác động, ảnh hưởng của công tác khai thác đến môi trường và con người để từ đó đề xuất các giải pháp, khắc phục hậu quả nhằm đảm bảo khai thác hợp lý tài nguyên khoáng sản một cách hợp lý, hiệu quả và hạn chế những ảnh hướng xấu tới môi trường,
Kết luận chương 1
Việc xây dựng một hệ thống công tác quản lý môi trường trong đơn vị khai thác khoáng sản là điều không thể thiếu trong tình hình hiện nay Một hệ thống quản lý môi trường tốt có thể giúp cho đơn vị khai thác gia tăng được các lợi ích trong quá trình khai thác, vận hành cũng như giảm thiểu các tác động tiêu cực cho môi trường cũng như xã hội Khi tiến hành xây dựng một hệ thống quản lý môi trường cần tiến hành đủ các nội dung chính gồm: Chính sách môi trường; Lập kế hoạch; Thực hiện; Đo và đánh giá; Xem xét và cải tiến Để tiến hành xây dựng một hệ thống quản lý môi trường phù hợp với mục tiêu phát triển cũng như đặc điểm hoạt động và quy mô của đơn vị khai thác cần phải nắm vững được các điều kiện cụ thể hiện tại về quy định của nhà nước như các luật, thông tư… liên quan tới xây dựng một hệ thống quản lý môi trường; cũng như về đặc điểm của đơn vị khai thác như quy mô, điều kiện tự nhiên xung quanh và các kinh nghiệm xây dựng hệ thống quản lý môi trường từ các đơn vị khai thác khác Bên cạnh việc thực hiện xây dựng một hệ thống quản lý môi trường phù hợp, các công cụ kinh tế, pháp luật chính sách, kỹ thuật quản lý cũng đóng vai trò rất quan trọng trong quản lý môi trường Các công cụ này bên cạnh việc hỗ trợ xây dựng lên hệ thống quản lý môi trường còn giúp đơn vị khai thác đánh giá được hoạt động của hệ thống quản lý môi trường đó Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác quản lý môi trường hay hoạt động của hệ thống quản lý môi trường của đơn vị khai thác khoáng sản bao gồm cả nhân tố chủ quan và khách quan Trong đó nhân tố chủ quan chủ yếu là do nguồn nhân lực còn nhân tố khách quan gồm các nhân tố như hệ thống
Trang 39chính sách pháp luật, sự phối hợp với các đơn vị quản lý nhà nước về môi trường sở tại, cơ sở hạ tầng, chi phí cho sự tuân thủ các tiêu chuẩn, lợi ích tiềm tàng…
Trang 40THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TẠI MỎ
CHƯƠNG 2
THAN ĐÔNG BẮC NGÃ HAI TỈNH QUẢNG NINH
2.1 Khái quát về đơn vị khai thác - Công ty Than Quang Hanh
Công ty Than Quang Hanh tiền thân là Công ty than Bái Tử Long được thành lập từ ngày 01/05/2003 theo Quyết định số 617/QĐ-HĐQT của Tổng công ty Than Việt Nam Ngày 08/11/2004, Hội đồng Quản trị Tổng công ty than Việt Nam ban hành Quyết định số 2021/QĐ-HĐQT về việc chính thức đổi tên Công ty Than Bái Tử Long thành Công ty than Quang Hanh kể từ ngày 16/11/2004 Ngày 01/07/2013, Tập đoàn TKV ban hành Quyết định số 314QĐ-TTg ngày 07/02/2013 về việc phê duyệt đề án tái cơ cấu tập đoàn TKV và chuyển đổi công ty TNHH MTV Than Quang Hanh thành Công ty Than Quang Hanh - TKV
Giám đốc Công ty qua các thời kỳ:
1 Thời kỳ Than Bái Tử Long: Giám đốc Công ty Kỹ Sư Trần Bảo Ngọc
2 Từ tháng 11/2004 đến tháng 10/2009: Giám đốc Công ty Kỹ Sư Nguyễn Xuân Dung
3 Từ tháng 11/2009 đến tháng 07/2015: Giám đốc Công ty Thạc sỹ Bùi Đình Thanh
4 Từ tháng 07/2015 đến nay: Giám đốc Công ty Kỹ Sư Nguyễn Công Chính
Trong các đơn vị của ngành than đang gây ô nhiễm môi trường có Công ty than Quang Hanh Từ khi thành lập đến nay (năm 2003) Công ty than Quang Hanh đã không ngừng tăng sản lượng từ 200.000 – 250.000 tấn/năm đến 1 – 2 triệu tấn/năm và khai thác bằng hai hình thức là lộ thiên và hầm lò Quy mô khai thác cũng không ngừng mở rộng và xuống sâu (mức -50), đầu tư lắp đặt nhiều hệ thống như chống giữ lò chợ bằng cột thủy lực, giá thủy lực di động, băng tải vận chuyển than liên tục từ mức -110 lên mặt bằng, hệ thống sàng tuyển than công suất 1 triệu tấn/năm ; số lượng công nhân từ 1.800 (năm 2003) đến 3.700 (năm 2014) Tuy nhiên sự phát triển đó cũng gây ra nhiều
hệ lụy về môi trường, theo các báo cáo môi trường của Công ty và của Sở Tài nguyên
và Môi trường Quảng Ninh thì trải qua hơn 10 năm hoạt động, Công ty than Quang Hanh đã phát sinh một lượng chất thải rất lớn Các yếu tố gây ô nhiễm môi trường bao