Khoản 1 trong điều 2 củaQui chế qui định “Bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của TCTD bênbảo lãnh với bên có quyền bên nhận bảo lãnh về việc thực hiện nghĩa vụ tàichính thay cho
Trang 1HỌC VIỆN NGAN HÀNG
TRAN THỊ THU HUYENGIAI PHAP PHAT TRIEN NGHIỆP VU BAO LANH TẠI NGAN HANG DAU Tư VA PHAT TRIEN VIỆT NAM
CHI NHANH QUANG TRUNG
Chuyên ngành : Kinh tế tài chính ngân hàng
Mã số : 60.31.12
LUẬN VẢN THẠC SỸ KINH TENg□oi hũớng dẫn khoa học: TS LÊ HONG PHONG
HA NỘI - 2011
⅛
Trang 2vụ bảo lãnh tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Quang Trung'’” là kết quả quá trình nghiên cứu độc lập của riêng cá nhân tôi
dưới sự hướng dẫn của TS Lê Hồng Phong Các số liệu sử dụng trong Luậnvăn đã được chỉ rõ nguồn trích dẫn trong Danh mục tài liệu tham khảo
Tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của TS Lê HồngPhong, các thầy cô trong Học viện Ngân hàng cùng với sự giúp đỡ của Banlãnh đạo và các cán bộ cơ quan đã giúp tôi hoàn thành Luận văn này
Hà Nội, ngày tháng năm
Tác giả
Trần Thị Thu Huyền
Trang 3DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ BẢO LÃNH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3
1.1 Những vấn đề cơ bản về bảo lãnh ngân hàng 3
1.1.1 Khái niệm hoạt động bảo lãnh ngân hàng 3
1.1.2 Đặc điểm của bảo lãnh ngân hàng 4
1.1.3 Chức năng và vai trò của bảo lãnh ngân hàng 7
1.1.4 Phân loai bảo lãnh 11
12 Phát triển nghiệp vụ bảo lãnh của ngân hàng thương mại 19
1.2.1 Quan niệm về phát triển bảo lãnh ngân hàng 19
1.2.2 Nội dung phát triển nghiệp vụ bảo lãnh 21
1.2.3 Nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nghiệp vụ bảo lãnh 26
1.3 Kinh nghiệm phát triển nghiệp vụ bảo lãnh của một số ngân hàng trên thế giới và bài học kinh nghiệm đối với Ngân hàng Thương mại Việt Nam 31
1.3.1 Kinh nghiệm phát triển nghiệp vụ bảo lãnh của một số ngân hàng trên thế giới 31
1.3.2 Bài học đối với các Ngân hàng Thương mại Việt Nam 33
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 34
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ BẢO LÃNH TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM - CHI NHÁNH QUANG TRUNG 35
2.1 Khái quát về Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Quang Trung 35
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 35
2.1.2 Khái quát về hoạt động của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Quang Trung 43
2.2 Thực trạng phát triển nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Quang Trung 46
2.2.1 Phân tích thực trạng nghiệp vụ bảo lãnh qua một số chỉ tiêu định lượng 46
Trang 42.3 Đánh giá thực trạng phát triển nghiệp vụ bảo lãnh tại Ngân hàng
Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Quang Trung 56
2.3.1 Ket quả đạt được 56
2.3.2 Hạn chế 58
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế trong hoạt động bảo lãnh tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Quang Trung 60
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 63
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ BẢO LÃNH TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM CHI NHÁNH QUANG TRUNG 65 3.1 Định hướng phát triển của chi nhánh 65
3.1.1 Định hướng phát triển chung của chi nhánh 65
3.1.2 Định hướng phát triển nghiệp vụ bảo lãnh 68
3.2 Giải pháp phát triển nghiệp vụ bảo lãnh tại Ngân hàngĐầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Quang Trung 70
3.2.1 Giải pháp về con người 70
3.2.2 Giải pháp về nghiệp vụ 73
3.2.3 Giải pháp về công nghệ 76
3.2.4 Giải pháp về Marketing 77
3.2.5 Một số giải pháp khác 80
3.3 Một số kiến nghị 82
3.3.1 Kiến nghị với chính phủ 82
3.3.2 Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước 84
3.3.3 Kiến nghị với Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam 86
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 90
KẾT LUẬN 91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
Trang 5NHNN : Ngân hàng nhà nước
TSCĐ : Tài sản cố định
VCSH : Vốn chủ sở hữu
NHTMNN : Ngân hàng thương mại nhà nước
NHTMCP : Ngân hàng thương mại cổ phần
NQD : Ngoài quốc doanh
CNTT : Công nghệ thông tin
NHĐT&PT VN : Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt
Nam
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 6Bảng 2.1 Các chỉ tiêu chính của Chi nhánh Quang Trung 43
Bảng 2.2: Số dư bảo lãnh qua các năm 46
Bảng 2.3 : Doanh số bảo lãnh qua các năm 48
Bảng 2.4: Số lượng giao dịch bảo lãnh quacác năm 49
Bảng 2.5: Doanh thu phí bảo lãnh qua các năm 50
Bảng 2.6 : Doanh số các loại hình bảo lãnh qua các năm 52
Bảng 2.7: Tỷ trọng khách hàng (theo doanh số) 54
BIỂU ĐÒ Biểu đồ 2.1: Số dư bảo lãnh qua các năm 47
Biểu đồ 2.2: Doanh số bảo lãnh qua các năm 48
Biểu đồ 2.3: Số lượng giao dịch bảo lãnh qua các năm 49
Biểu đồ 2.4: Doanh thu phí bảo lãnh qua các năm 50
Biểu đồ 2.5: Tỷ trọng doanh thu phí bảo lãnh qua các năm 51
Biểu đồ 2.6: Doanh số các loại hình bảo lãnh qua các năm 52
Biểu đồ 2.7: Tỷ trọng các loại hình bảo lãnh qua các năm 53
Biểu đồ 2.8: Tỷ trọng khách hàng theo doanh số bảolãnh qua các năm 54
SƠ ĐÒ Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa các bên trong bảo lãnh ngân hàng 5
Sơ đồ 1.2: Mối quan hệ bảo lãnh trực tiếp đơn giản nhất 13
Sơ đồ 1.3: Bảo lãnh trực tiếp có sự thamg gia của ngân hàng thông báo 14
Sơ đồ 1.4: Đồng bảo lãnh 15
Sơ đồ 1.5: Bảo lãnh gián tiếp 17
Sơ đồ 2.1: Bộ máy tổ chức của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam -Chi nhánh Quang Trung 41
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong điều kiện nền kinh tế mở cửa và hội nhập như hiện nay, việcquan hệ, giao lưu buôn bán, kí kết hợp đồng giữa các bên đã trở nên quenthuộc với mọi hoạt động của nền kinh tế Tuy nhiên, không phải với bất kìđối tác nào ta cũng có thể giao tài sản và vốn của mình, mà cần có một căn
cứ để bảo đảm cho chúng Vì vậy, bảo lãnh ngân hàng ra đời như một tấtyếu khách quan
Ra đời vào khoảng những năm 70 của thế kỉ XX, bảo lãnh ngân h àng(sau đây gọi tắt là bảo lãnh) ngày càng phát triển và đóng vai trò quan trọngđối với nền kinh tế Tuy nhiên, ở Việt Nam, bảo lãnh mới chỉ xuất hiện vàonhững năm 90 phục vụ chủ yếu cho lĩnh vực tín dụng và thanh toán quốc tế.Bảo lãnh là một trong những nghiệp vụ của ngân hàng thương mại hiệnđại Mặc dù đã có trong danh mục sản phẩm ngân hàng được khá lâu nhưngnghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng vẫn chưa thực sự phát triển, chưa tương xứngvới vai trò và tiềm năng của nó đối với hệ thống ngân hàng cũng như nềnkinh tế
Nhận thức được vấn đề trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Giải pháp pháttriển nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển ViệtNam - Chi nhánh Quang Trung” làm Luận văn thạc sĩ
Trang 8- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển nghiệp vụ bảolãnh tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Quang Trung
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Lý luận và thực tiễn nghiệp vụ bảo lãnhngân hàng
Phạm vi nghiên cứu: Tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Quang Trung, giai đoạn từ 2008-2010
-4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử,phương pháp phân tích - tổng hợp - thống kê, kế thừa một số nghiên cứu đã
có, đồng thời khảo sát thực nghiệm phục vụ cho việc nghiên cứu
5 Kết cấu của Luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungLuận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Những vấn đề cơ bản về phát triển nghiệp vụ bảo lãnh củangân hàng thương mại
- Chương 2: Thực trạng phát triển nghiệp vụ bảo lãnh tại Ngân hàng Đầu
tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Quang Trung
- Chương 3: Giải pháp phát triển nghiệp vụ bảo lãnh tại Ngân hàng Đầu
tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Quang Trung
Trang 9CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIEN NGHIỆP VỤ
BẢO LÃNH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Những vấn đề cơ bản về bảo lãnh ngân hàng [2], [4], [5]
1.1.1 Khái niệm hoạt động bảo lãnh ngân hàng
Trong thương mại quốc tế, bảo lãnh ngân hàng được xem như một loạihình tài trợ ngoại thương, nhằm phòng ngừa tổn thất cho người thụ hưởng bảolãnh do có sự vi phạm nghĩa vụ của bên đối tác liên quan
Theo Luật các TCTD Việt Nam năm 2010, điều 4 khoản 18 có địnhnghĩa về bảo lãnh ngân hàng như sau: “Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tíndụng, theo đó tổ chức tín dụng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc TCTD sẽthực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thựchiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ
và hoàn trả cho TCTD theo thoả thuận [9, tr 2]
Qui chế bảo lãnh ngân hàng ban hành kèm theo Quyết định số26/2006/QĐ-NHNN ngày 26/06/2006 của NHNN qui định việc thực hiệnnghiệp vụ bảo lãnh của các TCTD đối với khách hàng Khoản 1 trong điều 2 củaQui chế qui định “Bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của TCTD (bênbảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tàichính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiệnhoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh Kháchhàng phải nhận nợ và hoàn trả cho TCTD số tiền đã được trả thay” [6, tr 2]
Theo khái niệm trên, tham gia bảo lãnh gồm có ba bên:
- Bên được bảo lãnh: Là bên yêu cầu ngân hàng mở thư bảo lãnh Đây
chính là khách hàng của ngân hàng Trong trường hợp có sự vi phạm hợpđồng, ngân hàng sẽ phải thanh toán thay, và bên được bảo lãnh phải có nghĩa
vụ bồi hoàn cho ngân hàng
Trang 10- Bên nhận bảo lãnh: Là bên được hưởng bồi thường theo các qui định
trong thư bảo lãnh khi có sự vi phạm hợp đồng, với điều kiện bên nhận bảolãnh phải xuất trình đầy đủ các chứng từ phù hợp với các điều khoản được quiđịnh trong hợp đồng bảo lãnh
- Bên bảo lãnh: là bên đứng ra phát hành thư bảo lãnh, và có nghĩa vụ
thanh toán cho bên nhận bảo lãnh khi bên này yêu cầu (đồng thời xuất trìnhđầy đủ các chứng từ phù hợp với những điều đã ký kết trong hợp đồng bảolãnh) Bảo lãnh ngân hàng có nghĩa là bên bảo lãnh là ngân hàng
1.1.2 Đặc điểm của bảo lãnh ngân hàng
1.1.2.1 Bảo lãnh là mối quan hệ nhiều bên phụ thuộc lẫn nhau
Bảo lãnh ngân hàng là tổng thể mối quan hệ của nhiều bên tham gia cáchợp đồng kí kết Các hợp đồng trong nghiệp vụ bảo lãnh có ít nhất 3 loại hợpđồng: Hợp đồng giữa bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh, hợp đồng giữa bênđược bảo lãnh và bên bảo lãnh, hợp đồng giữa bên nhận bảo lãnh và bên đượcbảo lãnh
Trang 11hóa dịch vụ )
Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa các bên trong bảo lãnh ngân hàng
Các hợp đồng này vừa độc lập với nhau lại vừa có mối quan hệ với nhau:
- Quan hệ giữa người được bảo lãnh và người thụ hưởng bảo lãnh: đây
là mối quan hệ gốc, là cơ sở phát sinh yêu cầu bảo lãnh Trong đó ngườiđược bảo lãnh có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện đối với người thụ hưởngbảo lãnh
- Quan hệ giữa ngân hàng bảo lãnh và người được bảo lãnh: là mối quan
hệ ngân hàng cấp tín dụng và khách hàng hưởng tín dụng
- Quan hệ giữa ngân hàng bảo lãnh và người thụ hưởng bảo lãnh: là mốiquan hệ ràng buộc trong cam kết bảo lãnh, thể hiện việc thực hiện nghĩa vụthay cho người được bảo lãnh đã cam kết trong hợp đồng gốc
1.1.2.2 Bảo lãnh ngân hàng có tính độc lập
Bảo lãnh ngân hàng có tính độc lập so với hợp đồng (hợp đồng cơ sở mà
Trang 12bảo lãnh lấy làm căn cứ) Mặc dù mục đích của bảo lãnh ngân hàng là bồihoàn cho người thụ hưởng những thiệt hại từ việc không thực hiện hợp đồngcủa người được bảo lãnh trong quan hệ hợp đồng của người được bảo lãnh,việc thanh toán của một bảo lãnh chỉ hoàn toàn căn cứ vào các điều khoản vàđiều kiện như được qui định trong bảo lãnh.
Tính độc lập của bảo lãnh ngân hàng còn thể hiện ở sự độc lập giữa tráchnhiệm thanh toán của ngân hàng với mối quan hệ khách hàng Ngân hàngkhông thể viện lý do bên được bảo lãnh còn nợ tiền ngân hàng, bên được bảolãnh phá sản để trì hoãn việc thanh toán cho bên nhận bảo lãnh khi bênnhận bảo lãnh đưa ra đầy đủ chứng từ
1.1.2.3 Tính phù hợp của bảo lãnh
Khi người thụ hưởng bảo lãnh đến yêu cầu ngân hàng thanh toán thìngân hàng có trách nhiệm kiểm tra các chứng từ do người thụ hưởng xuấttrình Ngân hàng bảo lãnh có quyền từ chối thanh toán nếu như chứng từ códấu hiệu không hợp lệ hay những điều kiện của bảo lãnh không được đápứng Trường hợp thấy có những điểm không rõ ràng, ngân hàng cần xác minhlại Nếu ngân hàng không thực hiện đúng trách nhiệm kiểm tra chứng từ củamình, tức là thanh toán khi chứng từ bất hợp lệ thì nhiều khả năng sẽ khôngnhận được bồi hoàn từ phía người được bảo lãnh Nguyên tắc trong việc kiểmtra chứng từ là ngân hàng phải kiểm tra một cách trung thực và khách quan.Khi chứng từ hoàn toàn phù hợp với các điều kiện và điều khoản qui địnhtrong bảo lãnh, đồng thời không có dấu hiệu lừa đảo thì ngân hàng phải thanhtoán cho người thụ hưởng bảo lãnh
1.1.2.4 Bảo lãnh ngân hàng là một hoạt động ngoại bảng
Bảo lãnh ngân hàng là hình thức tài trợ thông qua uy tín Ngân hàngkhông phải xuất tiền ngay khi bảo lãnh do đó bảo lãnh được coi là một tàisản ngoại bảng
Trang 13Bảo lãnh ngân hàng chỉ được xếp vào nội bảng khi ngân hàng phải thựchiện nghĩa vụ bảo lãnh cho bên nhận bảo lãnh Lúc này nó được xếp vào loạitài sản xấu cấu thành nợ quá hạn Như vậy bảo lãnh cũng chứa đựng rủi ronhư một khoản cho vay đòi hỏi ngân hàng phải phân tích kỹ khách hàng trướckhi nhận bảo lãnh.
1.1.3 Chức năng và vai trò của bảo lãnh ngân hàng
1.1.3.1 Chức năng của bảo lãnh ngân hàng
- Chức năng hạn chế rủi ro do thông tin không cân xứng
Trong kinh doanh, việc tìm hiểu thông tin về đối tác là rất quan trọng Tuynhiên, vì nhiều lý do khác nhau như: khoảng cách địa lý, sự khác biệt về tậpquán kinh doanh, khó khăn trong việc tìm kiếm thông tin, chi phí về thông tinlớn, nên luôn tồn tại rủi ro do thông tin không cân xứng Do đó, bảo lãnh ngânhàng là công cụ hiệu quả góp phần khắc phục nhược điểm này
- Chức năng là công cụ bảo đảm
Đây là chức năng quan trọng nhất của bảo lãnh ngân hàng Chức năngnày được thể hiện trước hết ở việc bảo đảm sự công bằng về nghĩa vụ vàquyền lợi của bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh trong việc thực hiệncác cam kết Bên cạnh đó, bằng việc cam kết chi trả khi bên được bảo lãnh viphạm nghĩa vụ, ngân hàng phát hành bảo lãnh đã tạo ra sự bảo đảm cho bênnhận bảo lãnh Đây chính là mục đích ra đời của bảo lãnh ngân hàng Chính
sự tin tưởng này tạo điều kiện cho các giao dịch được tiến hành một cáchthuận lợi và dễ dàng Ngoài ra, bảo lãnh ngân hàng còn là công cụ bù đắp chobên nhận bảo lãnh những tổn thất gây ra do phía đối tác không thực hiện cácnghĩa vụ Điều này làm yên lòng người cung cấp vốn, người cho vay, chủcông trình, người mua hoặc bất kỳ ai với tư cách là bên nhận bảo lãnh, tronggiao dịch với đối tác Trên thực tế, do việc thanh toán dựa trên sự vi phạmnghĩa vụ đã cam kết của bên được bảo lãnh, mà các nghĩa vụ này lại có sự
Trang 14giám sát gián tiếp từ phía ngân hàng, nên tỷ trọng các bảo lãnh ngân hàngđược yêu cầu thanh toán thường không cao Rõ ràng, sự có mặt của bảo lãnhngân hàng như nhiên liệu bôi trơn cỗ máy kinh tế, góp phần giải phóng cácách tắc trong các giao dịch kinh tế trong nước lẫn quốc tế.
- Chức năng là công cụ tài trợ
Bảo lãnh ngân hàng còn là công cụ tài trợ về mặt tài chính cho bên đượcbảo lãnh Trong nhiều trường hợp, thông qua bảo lãnh ngân hàng, bên đượcbảo lãnh không phải xuất quỹ, được thu hồi vốn nhanh chóng, được vay nợhoặc được kéo dài thời gian thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ, tiền nộpthuế Vì vậy, không trực tiếp cấp vốn, nhưng với việc phát hành bảo lãnh,ngân hàng bảo lãnh đã giúp cho khách hàng được hưởng những thuận lợi vềngân quỹ như khi thực hiện cho vay Với ý nghĩa này, bảo lãnh ngân hàngđược coi là một trong những dịch vụ ngân hàng có ý nghĩa quan trọng, đápứng kịp thời các yêu cầu phát triển và mở rộng sản xuất kinh doanh, làm giảmbớt căng thẳng về nguồn vốn trong hoạt động của các doanh nghiệp
- Chức năng là công cụ đôn đốc việc thực hiện nghĩa vụ
Chức năng này thể hiện thông qua việc tạo áp lực đối với bên được bảolãnh trong nỗ lực thực thi các cam kết Khi nhận được bảo lãnh, bên nhận bảolãnh có được sự yên tâm, ngược lại, bên được bảo lãnh luôn bị hối thúc bởitrách nhiệm trong việc thực hiện nghĩa vụ, bởi nếu vi phạm thì bên được bảolãnh không chỉ mất quyền lợi từ các cam kết, mà còn phải chịu nghĩa vụ tàichính phát sinh từ bảo lãnh được phát hành theo yêu cầu của họ Trong suốtthời hạn bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh luôn có quyền yêu cầu ngân hàng thanhtoán bảo lãnh khi bên được bảo lãnh vi phạm các cam kết, bất kể mức độ viphạm và thiệt hại Vì thế, bên được bảo lãnh luôn đứng trước áp lực của việcphải bồi hoàn bảo lãnh Như vậy, bảo lãnh ngân hàng có vai trò đốc thúc bênđược bảo lãnh thực hiện các cam kết họ đã đưa ra Tuy nhiên, trên thực tế, khi
ký hợp đồng và nhận cam kết bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh vẫn mong muốn
Trang 15bên được bảo lãnh thực hiện các cam kết hơn là khoản bồi hoàn tài chính từbảo lãnh ngân hàng, bởi việc tìm kiếm một đối tác khác thực hiện công việcđang bị bỏ dở không phải là điều dễ dàng, đòi hỏi mất nhiều thời gian và chiphí Rõ ràng, bảo lãnh ngân hàng mang ý nghĩa đốc thúc thực hiện các camkết hơn là bồi hoàn Ngoài ra, do có trách nhiệm bồi hoàn theo cam kết bảolãnh, nên ngân hàng phát hành bảo lãnh cũng có vai trò gián tiếp tạo áp lựcđối với bên được bảo lãnh trong việc giảm thiểu các vi phạm.
1.1.3.2 Vai trò của bảo lãnh ngân hàng
- Đối với nền kinh tế
Bảo lãnh đóng vai trò là chất xúc tác thương mại Có bảo lãnh, việc thựchiện hợp đồng, vay vốn mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh trở nênthuận lợi hơn
Nhu cầu về vốn luôn luôn là nhu cầu cấp thiết, nhất là trong điều kiệnhiện nay, khi xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, việc vay vốn nước ngoàitrở nên phổ biến và đóng vai trò rất quan trọng Tuy nhiên, khoảng cách địa
lý, bất đồng ngôn ngữ là những trở ngại khiến các đối tác kinh tế không hiểu
rõ nhau Do đó, trong quan hệ hợp tác, nhất thiết phải có hoạt động bảo lãnhđảm bảo cho quyền lợi của các bên
- Đối với ngân hàng bảo lãnh
Thứ nhất, bảo lãnh giúp ngân hàng đa dạng hóa danh mục sản phẩm dịch
vụ của mình Ngày nay, ở các nước có nền kinh tế phát triển, thu nhập cóđược chủ yếu là từ thu phí dịch vụ Còn ở Việt Nam, thu nhập của ngân hàngchủ yếu từ hoạt động tín dụng (cho vay) Đây là điểm yếu của các ngân hàngViệt Nam vì việc cho vay chứa đựng rất nhiều rủi ro Tuy bảo lãnh cũng cónhững rủi ro của riêng nó, nhưng dù sao đó cũng chỉ là hoạt động mang tínhchất dự phòng, vì vậy, rủi ro phần nào cũng ít hơn so với tín dụng
Thứ hai, thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh hỗ trợ cho ngân hàng thực hiện
Trang 16các nghiệp vụ khác Sở dĩ nói vậy là vì khách hàng đến với ngân hàng thường
có nhu cầu phục vụ trọn gói, đi kèm với nhu cầu bảo lãnh là nhu cầu thanhtoán, chuyển tiền, chuyển đổi và mua bán ngoại tệ
Thứ ba, thông qua nghiệp vụ bảo lãnh, ngân hàng thu được phí bảo lãnh,góp phần đa dạng hóa các khoản thu phí dịch vụ từ đó làm tăng doanh thu củangân hàng Để thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh, ngân hàng chủ yếu dùng uy tíncủa mình làm công cụ để hoạt động mà không phải sử dụng vốn hay chưaphải sử dụng vốn Vì vậy chi phí cho nghiệp vụ bảo lãnh là rất nhỏ và khôngảnh hưởng đến các nghiệp vụ khác của ngân hàng nhưng mang lại hiệu quảkinh tế rất cao cho ngân hàng
Thứ tư, bảo lãnh góp phần làm tăng vị thế của ngân hàng, mở rộng quan
hệ đại lý, nhất là trên thị trường quốc tế Việc chấp nhận bảo lãnh của mộtngân hàng cũng đồng nghĩa với việc khẳng định hoặc công nhận mức độ uytín và khả năng thanh toán của ngân hàng đó
- Đối với người được bảo lãnh
Bảo lãnh ra đời đã trở thành công cụ tài trợ, giúp bên được bảo lãnh cóthể vay vốn với chi phí thấp hơn Có thể sử dụng được nguồn vốn một cáchtriệt để và tối ưu nhất
Ngoài ra, bảo lãnh còn giúp bên được bảo lãnh có thể tiếp cận được vớinhững dự án, những hợp đồng ngay cả khi họ chưa có đủ uy tín đối với đốitác, mặc dù họ hoàn toàn có khả năng và phương tiện thực hiện hợp đồng
Nhờ có bảo lãnh, bên được bảo lãnh thường xuyên chịu sự giám sát củangân hàng, do vậy cũng là động lực thúc đẩy doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả,
có trách nhiệm hơn và hoàn thành các nghĩa vụ của mình đối với bên nhận bảolãnh Mặt khác, người được bảo lãnh còn được các chuyên gia của ngân hànggiúp đỡ trong phân tích, đánh giá việc sử dụng vốn vay, điều hành hoạt động sảnxuất kinh doanh để có hiệu quả cao nhất Bởi vì lúc đó quyền lợi của ngân hàng
đã gắn liền với quyền lợi của doanh nghiệp, uy tín của doanh nghiệp, uy tín của
Trang 17doanh nghiệp giảm sút thì uy tín của ngân hàng cũng bị ảnh hưởng.
- Đối với bên nhận bảo lãnh
Bảo lãnh là công cụ bảo đảm quyền lợi cho họ Có bảo lãnh, bên nhậnbảo lãnh sẽ ít có nguy cơ bị thiệt hại hơn bởi tổ chức bảo lãnh phải là tổ chứcđược họ tín nhiệm Nếu có rủi ro xảy ra, khi đối tác của họ (bên được bảolãnh) không thực hiện đúng các cam kết trong hợp đồng và không bồi thườngcho bên nhận bảo lãnh những thiệt hại, bên nhận bảo lãnh sẽ đưa ra các hồ sơliên quan chứng minh cho sự sai phạm đó, và sẽ nhận được bồi thường củangân hàng phát hành bảo lãnh
1.1.4 Phân loai bảo lãnh
1.1.4.1 Phân loại theo mục đích bảo lãnh
- Bảo lãnh vay vốn: Là một bảo lãnh ngân hàng do ngân hàng phát hành
cho bên nhận bảo lãnh, về việc cam kết trả nợ thay cho khách hàng trongtrường hợp khách hàng không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ, đúng hạn
Bảo lãnh vay vốn bao gồm hai loại:
S Bảo lãnh vay vốn trong nước.
S Bảo lãnh vay vốn nước ngoài: Chủ yếu dưới hình thức bảo lãnh mở
L/C trả chậm
- Bảo lãnh thanh toán: Là một bảo lãnh ngân hàng do ngân hàng phát
hành cho bên nhận bảo lãnh cam kết sẽ thanh toán thay cho khách hàng trongtrường hợp khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa
vụ của mình khi đến hạn
- Bảo lãnh dự thầu: Là một bảo lãnh ngân hàng do ngân hàng phát hành
cho bên mời thầu để bảo đảm cho nghĩa vụ tham gia dự thầu của khách hàng.Trường hợp khách hàng bị phạt do vi phạm qui chế dự thầu mà không nộphoặc nộp không đủ tiền phạt cho bên mời thầu thì ngân hàng thực hiện nghĩa
vụ bảo lãnh đã cam kết
- Bảo lãnh thực hiện hợp đồng: Là bảo lãnh do ngân hàng phát hành cho
Trang 18bên nhận bảo lãnh bảo đảm việc thực hiện đúng, đầy đủ các nghĩa vụ củakhách hàng với bên nhận bảo lãnh theo hợp đồng đã ký kết Trường hợpkhách hàng không thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ trong hợp đồng,ngân hàng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đã cam kết.
- Bảo lãnh bảo đảm chất lượng sản phẩm: Là một bảo lãnh ngân hàng do
ngân hàng phát hành cho bên nhận bảo lãnh bảo đảm khách hàng thực hiệnđúng các thỏa thuận về chất lượng của sản phẩm theo hợp đồng đã ký kết vớibên nhận bảo lãnh Trường hợp khách hàng bị phạt tiền do không thực hiệnđúng các thỏa thuận trong hợp đồng về chất lượng sản phẩm với bên nhận bảolãnh mà không nộp hoặc không nộp đủ tiền phạt cho bên nhận bảo lãnh, tổchức tín dụng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đã cam kết
- Bảo lãnh hoàn thanh toán: Là một bảo lãnh ngân hàng do ngân hàng
phát hành cho bên nhận bảo lãnh về việc bảo đảm hợp đồng đã ký kết với bênnhận bảo lãnh Trường hợp khách hàng vi phạm các cam kết với bên nhận bảolãnh, và phải hoàn trả tiền ứng trước nhưng không hoàn trả hoặc hoàn trảkhông đầy đủ số tiền ứng trước cho bên nhận bảo lãnh thì TCTD sẽ hoàn trả
số tiền ứng trước cho bên nhận bảo lãnh
1.1.4.2 Phân loại dựa vào phương thức phát hành bảo lãnh
- Bảo lãnh trực tiếp: Là một bảo lãnh mà trong đó, ngân hàng phát hành
bảo lãnh chịu trách nhiệm trực tiếp cho bên được bảo lãnh, người được bảolãnh chịu trách nhiệm bồi hoàn trực tiếp cho ngân hàng phát hành bảo lãnh
Để thỏa thuận với người thụ hưởng, người được bảo lãnh chỉ dẫn ngânhàng phục vụ mình phát hành thư bảo lãnh với những điều kiện và điều khoản
đã thỏa thuận của thư bảo lãnh Nếu ngân hàng phải thực hiện nghĩa vụ bảolãnh thì sau đó người được bảo lãnh phải có nghĩa vụ bồi hoàn lại cho ngânhàng số tiền ngân hàng đã trả thay Mối quan hệ giữa người được bảo lãnh vàngân hàng được coi là sự ủy nhiệm
Trang 19Sơ đồ 1.2: Mối quan hệ bảo lãnh trực tiếp đơn giản nhất
(1) : Bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh ký kết hợp đồng trong đó
có điều kiện mở một bảo lãnh cho bên nhận bảo lãnh.
(2) : Bên được bảo lãnh đến ngân hàng phục vụ mình đề nghị phát hành thư bảo lãnh kèm những điều khoản đã thỏa thuận Nếu ngân hàng chấp nhận thì bên được bảo lãnh phải ký kết với ngân hàng phát hành bảo lãnh một hợp đồng bảo lãnh.
(3) : Ngân hàng phát hành thư bảo lãnh cho bên nhận bảo lãnh với các điều kiện đã được thỏa thuận.
Khi phát sinh nghĩa vụ bảo lãnh, ngân hàng phải thực hiện và ngườiđược bảo lãnh phải bồi hoàn cho ngân hàng
Tuy nhiên, thực tế không phải lúc nào bảo lãnh cũng chỉ là mối quan hệgiữa 3 bên như trên Nếu người thụ hưởng là nước ngoài, ngân hàng phục vụngười được bảo lãnh sẽ thông qua mối quan hệ đại lý của mình, yêu cầu mộtngân hàng đóng trụ sở tại nước người thụ hưởng chuyển thư bảo lãnh (Ngânhàng phục vụ người được bảo lãnh gọi là ngân hàng phát hành; ngân hàng cótrụ sở tại nước người thụ hưởng là ngân hàng thông báo)
Vai trò của ngân hàng thông báo là thông báo và chuyển nội dung thưbảo lãnh bằng Telex hay SWIFT cũng như chuyển nội dung các giao dịch
Trang 20giữa người thụ hưởng và ngân hàng phát hành Ngân hàng thông báo hầu nhưkhông có nghĩa vụ đối với người thụ hưởng liên quan đến thư bảo lãnh Tuynhiên ngân hàng thông báo có trách nhiệm đảm bảo tính trung thực của cácthông báo nhận được từ ngân hàng phát hành.
Sơ đồ 1.3: Bảo lãnh trực tiếp có sự thamg gia của ngân hàng thông báo
(1) : Bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh ký kết hợp đồng trong đó
có điều kiện mở một bảo lãnh cho người thụ hưởng.
(2) : Bên được bảo lãnh đến ngân hàng phục vụ mình đề nghị phát hành thư bảo lãnh kèm theo những điều khoản đã thỏa thuận Để ngân hàng chấp nhận, bên được bảo lãnh phải ký kết với ngân hàng phát hành bảo lãnh một hợp đồng bảo lãnh và cam kết bồi hoàn.
(3) : Ngân hàng sẽ phát hành bảo lãnh qua ngân hàng thông báo, ngân hàng thông báo có trách nhiệm kiểm tra độ xác thực của bảo lãnh Ngân hàng thông báo chỉ hoạt động như một ngân hàng đại lý và chỉ có quan hệ đại lý với ngân hàng phát hành.
(4) : Ngân hàng thông báo sau khi kiểm tra tính xác thực của bảo lãnh sẽ
Trang 21thông báo lại cho bên nhận bảo lãnh.
(5) : Theo thư bảo lãnh, ngân hàng phát hành sẽ cam kết thanh toán cho bên nhận bảo lãnh trong trường hợp bên được bảo lãnh không hoàn thành trách nhiệm của mình Đồng thời, nếu muốn ngân hàng thanh toán thì trước hết bên nhận bảo lãnh phải thực hiện đúng điều kiện đã được ghi trong bảo lãnh tức là lập chứng từ phù hợp và xuất trình trong thời gian hiệu lực.
- Đồng bảo lãnh: Là việc nhiều TCTD cùng bảo lãnh cho một nghĩa vụ
của khách hàng thông qua một TCTD làm đầu mối
Sơ đồ 1.4: Đồng bảo lãnh
(1) Bên nhận bảo lãnh và bên được bảo lãnh ký kết hợp đồng trong đó
có điều kiện mở một bảo lãnh cho bên nhận bảo lãnh.
(2) Người được nhận bảo lãnh yêu cầu phát hành bảo lãnh
Trang 22(3) Ngân hàng đầu mối dàn xếp đồng bảo lãnh với các ngân hàng đồng minh
(4a, 4b) Ngân hàng đầu mối phát hành bảo lãnh cho bên nhận bảo lãnh, chuyển trực tiếp hoặc qua ngân hàng thông báo (Nếu có).
Chức năng của ngân hàng thông báo cũng giống như trong trường hợptrên, đóng vai trò là người xác minh tính chính xác của bảo lãnh và thông báolại cho người thụ hưởng
- Bảo lãnh gián tiếp: Là loại bảo lãnh mà trong đó, ngân hàng bảo lãnh đã
phát hành bảo lãnh theo chỉ thị của một ngân hàng trung gian (ngân hàng chỉthị) phục vụ cho người được bảo lãnh dựa trên một bảo lãnh khác gọi là bảolãnh đối ứng Người được bảo lãnh không phải bồi hoàn trực tiếp cho ngânhàng phát hành bảo lãnh mà chính ngân hàng chỉ thị chịu trách nhiệm bồi hoàn.Như vậy, trong bảo lãnh gián tiếp có ít nhất 4 thành phần tham gia: ngânhàng phát hành bảo lãnh, ngân hàng chỉ thị, bên được bảo lãnh và bên nhậnbảo lãnh Trong một số trường hợp cũng có thể xuất hiện một ngân hàng giữvai trò thông báo như trong bảo lãnh trực tiếp
Bảo lãnh gián tiếp thường xuất hiện khi bên nhận bảo lãnh là người nướcngoài và ngân hàng phát hành ở ngay trong quốc gia bên nhận bảo lãnh.Người thụ hưởng mong muốn thư bảo lãnh được một ngân hàng có trụ sở tạinước mình phát hành vì điều đó giúp người thụ hưởng có những thuận lợitrong việc giao dịch hoặc đòi tiền sau này Trong trường hợp này, người đượcbảo lãnh yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chỉ dẫn một ngân hàng đóng trụ sởtại nước người thụ hưởng phát hành thư bảo lãnh
Ngân hàng phục vụ người được bảo lãnh chỉ đóng vai trò như một ngânhàng chỉ dẫn và ngân hàng này không có bất kỳ quan hệ hợp đồng nào vớingười thụ hưởng Người thụ hưởng không bao giờ đòi tiền từ ngân hàng chỉ
Trang 23dẫn Ngân hàng chỉ dẫn và ngân hàng phát hành có mối quan hệ gần như giữangười được bảo lãnh và ngân hàng phát hành ở trong trường hợp bảo lãnhtrực tiếp Nghĩa vụ đền bù cho ngân hàng phát hành thường được quy địnhtrong thư bảo lãnh đối ứng mà ngân hàng chỉ thị phát hành cho ngân hàngphát hành bảo lãnh thụ hưởng Theo đó, nếu ngân hàng phát hành trả tiền chongười thụ hưởng đúng theo các điều kiện điều khoản của thư bảo lãnh, ngânhàng chỉ thị sẽ truy đòi người được bảo lãnh Như vậy, đối với người thụhưởng, việc đòi tiền sẽ thuận lợi hơn trong trường hợp bảo lãnh trực tiếp.
Sơ đồ 1.5: Bảo lãnh gián tiếp
(1) : Người được bảo lãnh và người thụ hưởng kí kết hợp đồng trong đó
có điều kiện mở một bảo lãnh cho người thụ hưởng
(2) : Người được bảo lãnh đến ngân hàng phục vụ mình (ngân hàng chỉ dân) đề nghị phát hành thư bảo lãnh kèm theo những điều khoản đã thỏa thuận và ngân hàng chỉ dân sẽ xem xét phát hành bảo lãnh đối ứng và có những yêu cầu như đối với trường hợp bảo lãnh trực tiếp.
(3) : Ngân hàng chỉ dân yêu cầu ngân hàng thứ hai (ngân hàng phát
Trang 24hành bảo lãnh) phát hành bảo lãnh và bồi hoàn cho ngân hàng này nếu phải thanh toán qua thư đối ứng Ngân hàng phát hành sẽ không có quyền yêu cầu người được bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ và người thụ hưởng cũng không có quyền yêu cầu ngân hàng chỉ dân thanh toán.
(4) : Ngân hàng phát hành bảo lãnh qua ngân hàng thông báo (nếu có) (5) : Ngân hàng thông báo sau khi kiểm tra tính xác thực của bảo lãnh thông báo cho người thụ hưởng.
(6) : Ngân hàng phát hành thanh toán nếu người thụ hưởng xuất trình những chứng từ phù hợp với yêu cầu và trong thời gian hiệu lực của bảo lãnh.
Có thể kể đến xác nhận bảo lãnh như một loại điển hình của bảo lãnhgián tiếp
Xác nhận bảo lãnh: là bảo lãnh ngân hàng do ngân hàng (bên xác nhận
bảo lãnh) phát hành cho bên nhận bảo lãnh về việc đảm bảo khả năng thựchiện nghĩa vụ bảo lãnh của ngân hàng được xác nhận bảo lãnh (bên xác nhậnbảo lãnh) đối với khách hàng Trường hợp bên được xác nhận bảo lãnh khôngthực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ của mình đã cam kết với bênnhận bảo lãnh thì bên xác nhận bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bênthực hiện xác nhận bảo lãnh
1.1.4.3 Các hình thức khác
Ngoài các cách phân loại như trên, còn có thể tồn tại nhiều hình thứckhác như:
- Bảo lãnh hải quan: Trong trường hợp hàng hóa được nhập khẩu vào
một nước nào đó nhằm mục đích trưng bày triển lãm hay tham gia hộichợ trong một khoảng thời gian xác định rồi sẽ tái xuất hay trong trườnghợp một công ty thi công cần nhập khẩu máy móc thiết bị để thi công rồi sau
Trang 25đó lại xuất khẩu chúng về bản quốc thì hàng hóa đó không phải nộp thuế nhậpkhẩu Do đó, hải quan nước mà hàng hóa, máy móc đó được tạm nhập hay táixuất yêu cầu chủ hàng phải có một bảo lãnh nhằm đảm bảo rằng nếu trongthời hạn đã đăng ký mà hàng hóa, máy móc đó không tái xuất thì hải quannước đó sẽ rút tiền thanh toán từ bảo lãnh, coi như một khoản thuế nhậpkhẩu hay một món phạt.
Số tiền bảo lãnh do cơ quan hải quan ấn định trong từng trường hợp cụthể và bảo lãnh hết hiệu lực khi hàng hóa đó tái xuất đúng hạn hay đã hoànthành nghĩa vụ nộp thuế
- Bảo lãnh phát hành chứng khoán' Bên cạnh các công ty phát hành
chứng khoán, ngân hàng cũng có thể tham gia hoạt động này
Bảo lãnh phát hành chứng khoán là việc ngân hàng đứng ra bảo lãnh chochứng khoán của các công ty đang muốn huy động vốn đế sản xuất kinhdoanh nhưng chưa đủ uy tín để chứng khoán của họ được chấp nhận trên thịtrường Khi chấp nhận bảo lãnh, ngân hàng sẽ gánh chịu rủi ro của việc mấtgiá chứng khoán trên thị trường Họ sẽ nhận chứng khoán từ công ty, chuyểncho công ty số tiền trong đợt phát hành sau khi đã trừ đi một phần hoa hồng
và phí rồi bán lại cho công chúng Trên cơ sở đó, công ty sẽ huy động đượcmột lượng vốn cần thiết mà không phải mất nhiều thời gian và chi phí choviệc tổ chức phát hành
12 Phát triển nghiệp vụ bảo lãnh của ngân hàng thương mại
1.2.1 Quan niệm về phát triển bảo lãnh ngân hàng
Nghiệp vụ bảo lãnh của một ngân hàng được coi là phát triển khi nókhông ngừng mở rộng và nâng cao chất lượng Điều đó có nghĩa là bảo lãnhngân hàng phải thực hiện tốt và đầy đủ chức năng của nó, phải thỏa mãn lợiích cho tất cả các bên tham gia, góp phần phát triển ngân hàng và nền kinh tế
Trang 26- Xét trên giác độ của ngân hàng thương mại
Cũng như các hoạt động khác, hoạt động bảo lãnh được coi là phát triểnkhi đem lại nhiều lợi ích cho ngân hàng mà lại ít rủi ro Điều đó có nghĩa làngân hàng không phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, không phải cấp khoản tíndụng bắt buộc cho người được bảo lãnh và phí bảo lãnh góp phần làm tăngdoanh thu cho ngân hàng Khách hàng muốn được ngân hàng cấp bảo lãnh thìphải có tài khoản ký quỹ tại ngân hàng Khoản tiền ký quỹ này là một phầntrong nguồn vốn của ngân hàng và được sử dụng với mục đích sinh lời nhưcác nguồn vốn khác Như vậy chất lượng bảo lãnh của ngân hàng này cònđược thể hiện ở việc ngân hàng sử dụng nguồn vốn này như thế nào để làmtăng lợi nhuận qua các hoạt động khác như cho vay, thanh toán đồng thờithực hiện tốt nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng sẽ tạo dựng được lòng tin củakhách hàng và nâng cao uy tín ngân hàng trên thị trường quốc tế
- Xét trên giác độ khách hàng
NHTM luôn phải xây dựng mối quan hệ bền chặt với khách hàng, muốnvậy ngân hàng phải luôn tìm cách để hiểu rõ nhu cầu khách hàng và thoả mãntối ưu nhu cầu của khách hàng Vì vậy ngân hàng cần chú trọng đến chấtlượng dịch vụ, nó quyết định sự thành công của ngân hàng Đứng trên phươngdiện khách hàng , nghiệp vụ bảo lãnh được coi là phát triển khi thủ tục nhanhgọn, thuận tiện, mức phí thấp, đối tượng bảo lãnh mở rộng mà vẫn đảm bảolợi ích của khách hàng
- Xét trên giác độ nền kinh tế
Nghiệp vụ bảo lãnh được coi là phát triển khi nó đáp ứng nhu cầu về vốn
và công nghệ của nền kinh tế, thúc đẩy phát triển hoạt động sản xuất kinhdoanh Nghiệp vụ bảo lãnh phát triển khi không vượt quá các tỷ lệ đảm bảo antoàn trong hoạt động ngân hàng theo qui định của NHNN
Nghiệp vụ bảo lãnh không thể coi là phát triển khi nó chỉ đơn phương
Trang 27mang lại lợi nhuận cho ngân hàng Bởi vì nếu vậy thì đó chỉ là sự tăng trưởnglợi nhuận tức thời, không bền vững Như vậy sự phát triển hoạt động bảo lãnhphải được đánh giá trên nhiều khía cạnh và phát triển phải là phát triển ổnđịnh và bền vững.
1.2.2 Nội dung phát triển nghiệp vụ bảo lãnh
1.2.2.1 Một số chỉ tiêu đánh giá sự phát triển nghiệp vụ bảo lãnh
- Chỉ tiêu định lượng
S Số dư bảo lãnh
Số dư bảo lãnh là tổng giá trị các khoản bảo lãnh của ngân hàng tại mộtthời điểm nhất định Đây là chỉ tiêu mang tính thời điểm, sự gia tăng hoặcgiảm sút của chỉ tiêu này cho thấy sự gia tăng hoặc sụt giảm của hoạt độngbảo lãnh của ngân hàng so với thời điểm so sánh
≠ Doanh số bảo lãnh
Doanh số bảo lãnh là tổng giá trị các khoản bảo lãnh phát sinh trong mộtthời kỳ Đây là chỉ tiêu phản ánh tình hình hoạt động bảo lãnh của ngân hàngtrong một thời kỳ nhất định
S Doanh thu của hoạt động bảo lãnh
Doanh thu của hoạt động bảo lãnh là một trong các chỉ tiêu quan trọngtrong doanh thu hoạt động dịch vụ ngoài lãi vay của ngân hàng Nguồn thunày đến từ phí mà bên được bảo lãnh phải trả cho NHTM khi sử dụng dịch vụnày Bên cạnh việc phản ánh tình hình hoạt động bảo lãnh, chỉ tiêu này cònphản ánh chính sách phí của ngân hàng
Tuy nhiên, để có sự đánh giá toàn diện, người ta thường kết hợp xem xétchỉ tiêu này trong mối quan hệ tương quan với các hoạt động khác thông qua cácchỉ số như: tỷ trọng doanh thu của hoạt động bảo lãnh trong tổng doanh thu dịch
vụ ngoài lãi vay, tỷ trọng doanh thu của hoạt động bảo lãnh trong tổng doanh
Trang 28thu Các chỉ số này phản ánh đóng góp của hoạt động bảo lãnh trong nguồn thu
từ dịch vụ ngoài hoạt động cho vay và trong tổng nguồn thu của ngân hàng
Doanh thu bảo lãnh
Tỷ trọng doanh thu hoạt động bảo lãnh trong = - , 7 λ.1~ zn/x Tổng doanh thu dịch vụtổng doanh thu dịch vụ ngoài lãi vay (%)
-ngoài lãi vay
Tỷ trọng doanh thu hoạt động bảo lãnh Doanh thu bảo lãnh
trong tổng doanh thu (%) Tổng doanh thu
S Dư nợ bảo lãnh quá hạn
Đây là dư nợ bảo lãnh NHTM đã trả thay cho khách hàng nhưng kháchhàng không trả được nợ cho NHTM Chỉ tiêu này phản ánh chất lượng củahoạt động bảo lãnh Các NHTM luôn chú ý kiểm soát chỉ tiêu này bởi khi dư
nợ bảo lãnh quá hạn gia tăng cho thấy công tác thẩm định trong hoạt động bảolãnh không tốt cũng như rủi ro và nguy cơ tổn thất cho NHTM là rất lớn
Tỷ trọng bảo lãnh quá hạn Dư nợ bảo lãnh quá hạn
(%) Dư nợ bảo lãnh
- Chỉ tiêu định tính
S Sự đa dạng của sản phẩm bảo lãnh cung cấp
Căn cứ vào các tiêu chí khác nhau, nghiệp vụ bảo lãnh của ngân hàng cóthể được chia thành nhiều loại, mỗi loại bảo lãnh khác nhau lại có mục đích
sử dụng khác nhau Danh mục bảo lãnh cung cấp cho khách hàng phản ánhmức độ đa dạng về sản phẩm này của một NHTM Điều này cũng thể hiện sựquan tâm trong việc phát triển nghiệp vụ bảo lãnh của NHTM đó Đối với cácngân hàng chủ trương đẩy mạnh nghiệp vụ này, danh mục sản phẩm bảo lãnh
sẽ ngày càng phong phú, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu đa dạng của
Trang 29khách hàng.
S Sự mở rộng về đối tượng khách hàng
Với nhiều loại hình khác nhau, nghiệp vụ bảo lãnh có thể đáp ứng nhucầu của nhiều đối tượng khác nhau Ngày nay các thành phần kinh tế đềutham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh một cách sôi nổi Các hoạtđộng đó đem lại những món lợi lớn, nhưng đồng thời cũng chứa đựng rấtnhiều rủi ro gây tổn thất đáng kể cho họ Mọi đối tượng tham gia vào đó đều
có thể gặp rủi ro từ nhiều phía, một trong các rủi ro đó là do đối tác gây ra
Nghiệp vụ bảo lãnh hoàn toàn có thể thu hút được tất cả các thành phầnkinh tế Vì vậy mà ngân hàng có nghiệp vụ bảo lãnh phát triển phải đáp ứngđược những nhu cầu đó ngày càng tốt Do đó, việc mở rộng đối tượng kháchhàng là một tiêu chí cơ bản phản ánh sự phát triển nghiệp vụ bảo lãnhcủa ngân hàng
S Mạng lưới ngân hàng đại lý
Mạng lưới ngân hàng đại lý vừa là nhân tố tác động đến nghiệp vụ bảolãnh vừa là chỉ tiêu để đánh giá vị thế, năng lực và khả năng hợp tác của mộtNHTM trong giao dịch quốc tế, trong đó có nghiệp vụ bảo lãnh Một NHTMvới mạng lưới ngân hàng đại lý rộng khắp sẽ tạo điều kiện thuận lợi trongnghiệp vụ bảo lãnh, đặc biệt là bảo lãnh nước ngoài nhờ vị thế nhất định vàkhả năng hợp tác rộng rãi với các đối tác quốc tế
1.2.2.2 Rủi ro và các biện pháp hạn chế rủi ro trong nghiệp vụ bảo lãnhngân hàng
- Rủi ro trong nghiệp vụ bảo lãnh
S Cùng với cho vay, chiết khấu và cho thuê tài chính, bảo lãnh là một
trong những nghiệp vụ cấp tín dụng của ngân hàng nên không tránh khỏi rủi
ro tín dụng Sau khi trả thay cho khách hàng trong trường hợp khách hàng vi
Trang 30phạm hợp đồng nhưng ngân hàng lại không truy đòi được từ người được bảolãnh, nguyên nhân có thể do khách hàng mất khả năng thanh toán hoặc cố ýkhông hoàn trả Bên cạnh rủi ro tín dụng, nghiệp vụ bảo lãnh còn có nhữngrủi ro đặc thù riêng, đó là rủi ro do gian lận, lừa đảo và giả mạo.
S Khi cam kết bảo lãnh được phát hành, trong việc đòi tiền, ưu thế
thường nghiêng về bên thụ hưởng bảo lãnh Bên được bảo lãnh thường ở thếthụ động và chịu rủi ro cao nếu đối tác không trung thực Bản chất của bảolãnh là phòng ngừa việc vi phạm cam kết, đương nhiên bên được bảo lãnhhiểu rõ khi nào sẽ bị đòi tiền, thế nhưng, trên thực tế họ lại phải trả tiền bất kỳlúc nào vì ngân hàng không lệ thuộc vào thực tế phát sinh từ hợp đồng cơ sở Do
đó, khi gian lận, lừa đảo và giả mạo xảy ra, rủi ro và tổn thất là điểu không tránhkhỏi đối với bên được bảo lãnh cũng như ngân hàng bảo lãnh
Giao dịch bảo lãnh ngân hàng với đặc trưng là bằng chứng từ và trên cơ
sở chứng từ là điều kiện thuận lợi cho sự lạm dụng, gian lận và lừa đảo xuấthiện Điều này xuất phát từ thực tế là thủ tục đòi tiền của bảo lãnh ngân hàngkhá đơn giản, thường chỉ xuất trình văn bản đòi tiền cùng tuyên bố vi phạm,nên đã vô tình trở thành những ưu đãi đối với bên thụ hưởng Khi chứng từđược xuất trình đầy đủ, ngân hàng bảo lãnh phải thanh toán cho bên thụhưởng theo đúng điều khoản nêu trong cam kết bảo lãnh, dù bên được bảolãnh có thực sự vi phạm hay không Khi rủi ro xảy ra đối với bên được bảolãnh, trong trường hợp họ không có khả năng bồi hoàn cho ngân hàng số tiềnngân hàng đã thanh toán cho bên được bảo lãnh, ngân hàng sẽ gặp rủi ro
• Rủi ro do gian lận: trong giao dịch bảo lãnh ngân hàng, gian lận làhành vi đòi tiền vượt quá mức tổn thất của vi phạm, lập chứng từ khống đểhợp thức hóa việc xuất trình chứng từ hoặc xuất trình chứng từ không đúngthực tế dù rất hoàn thiện, sửa chữa các số liệu của chứng từ cho phù hợp để
Trang 31được thanh toán theo cam kết bảo lãnh.
• Rủi ro do lừa đảo và giả mạo: Đối với bảo lãnh ngân hàng, lừa đảo vàgiả mạo là hai vấn đề thường đi liền với nhau và thường gây ra hậu quả lớn.Một số dạng lừa đảo và giả mạo thường gặp:
Một là, lập công ty giả, ký hợp đồng mua hàng và yêu cầu đối tác phải
có cam kết bảo lãnh tại ngân hàng rồi lợi dụng sự yếu kém nghiệp vụ và thiếucảnh giác của đối tác, lập chứng từ đòi tiền ngân hàng rồi bỏ trốn
Hai là, giả mạo cam kết bảo lãnh thanh toán của một ngân hàng lớn trênthế giới để vay tại một ngân hàng khác hoặc hứa cấp vốn cho đối tác trên cơ
sở tín dụng thư dự phòng của ngân hàng, rồi dùng công cụ bảo đảm nàythương lượng chuyển nhượng cho ngân hàng khác nhưng thực tế không phátsinh khoản tín dụng nào
Ba là, dùng kỹ thuật tinh vi làm giả cam kết bảo lãnh ngân hàng hoặcthay đổi một số chi tiết trên một cam kết bảo lãnh có thật của một ngân hàng.Trong các dạng gian lận, lừa đảo và giả mạo, có dạng có thể phát hiệnnhưng cũng có dạng tinh vi, đòi hỏi nhân viên ngân hàng phải nắm vững chuyênmôn nghiệp vụ và ngân hàng cần có quan hệ đại lý rộng khắp
Cán bộ ngân hàng chưa có nhiều kinh nghiệm, khả năng thu thập thôngtin, văn bản pháp luật còn bất cập làm cho việc phát hành thư bảo lãnh bịthiếu sót gây rủi ro cho ngân hàng
- Những biện pháp hạn chế rủi ro trong nghiệp vụ bảo lãnh
S Tuân thủ qui trình bảo lãnh
Ngân hàng cần tuân thủ đúng trình tự và đầy đủ các bước trong qui trìnhbảo lãnh
S Thẩm định khách hàng
Ngân hàng cần tiến hành thẩm định năng lực pháp lý, khả năng tài chính,
Trang 32hoạt động kinh doanh, khả năng thực hiện hợp đồng.của khách hàng khikhách hàng đề nghị bảo lãnh.
S Qui định đảm bảo bảo lãnh
Khi quyết định bảo lãnh, ngân hàng nên đưa ra các qui định về đảm bảocho bảo lãnh như ký quĩ, tài sản đảm bảo hoặc người bảo lãnh để trongtrường hợp ngân hàng phải trả thay thì ngân hàng có thể truy đòi từ cácnguồn trên
S Kiểm tra cẩn thận các chứng từ trước khi thanh toán
Khi nhận được chứng từ thanh toán thì ngân hàng cần xem xét kỹ cácchứng từ, kiểm tra xem đó có phải là chứng từ giả mạo hay không, việc khônghoàn thành hợp đồng của người được bảo lãnh có phải do nguyên nhân bấtkhả kháng không, người thụ hưởng có ứng trước cho người được bảo lãnhhay không
S Các biện pháp khác
Ngân hàng cần đào tạo nâng cao trình độ của các cán bộ thực hiệnnghiệp vụ bảo lãnh, thường xuyên thu thập thông tin, văn bản pháp luật mớinhất về hoạt động bảo lãnh và các hoạt động khác có liên quan
1.2.3 Nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nghiệp vụ bảo lãnh
Là một hoạt động liên quan đến hoạt động của nhiều chủ thể trong nềnkinh tế, bảo lãnh ngân hàng chịu tác động của nhiều nhân tố khác nhau, trong
đó có thể kể đến một số các nhân tố cơ bản sau đây:
1.2.3.1 Nhân tố khách quan
- Pháp luật và chính sách của nhà nước
Mọi hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế bao giờ cũng chịu sự điềutiết của pháp luật Với tư cách là một trung gian tài chính quan trọng của nềnkinh tế, các ngân hàng càng phải quan tâm đến vấn đề này, bởi hoạt động của
Trang 33ngân hàng liên quan đến hầu hết các hoạt động khác trong nền kinh tế Một hệthống pháp luật đầy đủ, đồng bộ và ổn định sẽ giúp NHTM có điều kiện xâydựng kế hoạch kinh doanh tốt và tiến hành các nghiệp vụ chức năng của mìnhmột cách thuận lợi nhất Nghiệp vụ bảo lãnh cũng vậy, khi mới ra đời, bảolãnh hầu như không có văn bản pháp luật nào điều chỉnh, ngân hàng đã gặpphải không ít khó khăn khi phát sinh những tranh chấp, mà không có nhữngchuẩn mực pháp quy để xử lý, mọi thứ đều phải dựa vào quan hệ hợp đồng.
Từ khi xuất hiện Luật các tổ chức tín dụng và các điều khoản quy định cóliên quan và một loạt các văn bản khác ra đời như: Quyết định 196 ban hànhngày 16/9/1994 của thống đốc NHNN, quyết định 263/QĐ-NHNN ngày19/9/1995, quyết định 283/2000/QĐ-NHNN ngày 25/8/2000 và gần đây nhất làquyết định số 26/2006/QĐ - NHNN ngày 26/06/2006 đã tạo nền tảng pháp lýban đầu cho nghiệp vụ bảo lãnh Tuy nhiên không đơn thuần chỉ chịu sự điềuchỉnh của những văn bản quy phạm điều chỉnh trực tiếp nói trên, nghiệp vụ bảolãnh còn chịu sự tác động của nhiều luật khác, liên quan đến từng nghiệp vụbảo lãnh cụ thể Vì vậy, việc hoàn thiện môi trường pháp lý sẽ góp phần vàoviệc nâng cao chất lượng hoạt động bảo lãnh
- Môi trường chính trị xã hội
Môi trường chính trị xã hội ổn định là nhân tố quan trọng thúc đẩy sựphát triển hoạt động đầu tư, kích thích sự gia tăng của các hoạt động thươngmại trong nước và quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triểncủa bảo lãnh Môi trường chính trị xã hội có tác động rất lớn đến tâm lý nhàđầu tư bởi họ không thể đầu tư vào một đất nước có tình hình chính trị bất ổnđịnh, chiến tranh, bạo động xảy ra liên tiếp, mà không có đầu tư, ngân hàng sẽkhông thể có những hợp đồng bảo lãnh
- Môi trường kinh tế
Trang 34Nghiệp vụ bảo lãnh ra đời xuất phát trước hết từ sự phát triển của nềnkinh tế, vì vậy những biến động trong nền kinh tế cũng có những ảnh hưởngnhất định đối với nghiệp vụ bảo lãnh Môi trường kinh tế phát triển lành mạnh
sẽ tạo điều kiện cho các giao dịch trong nền kinh tế càng gia tăng, khiến chonghiệp vụ bảo lãnh càng có cơ hội phát triển, chất lượng bảo lãnh cũng theo
đó mà tăng lên
Mặt khác, là một hoạt động xuất hiện nhiều trong giao dịch quốc tế nênbảo lãnh chịu ảnh hưởng nhiều bởi các chính sách tỷ giá và lãi suất Nhữngyếu tố này là những yếu tố thuộc về vĩ mô, do đó chịu ảnh hưởng rất nhiềubởi môi trường kinh tế xã hội và các chính sách của cơ quan quản lý nhànước Vấn đề đặt ra cho các ngân hàng là phải tiến hành dự báo được nhữngthay đổi, diễn biến của chúng để đảm bảo khả năng thích nghi với sự thay đổi
đó, tránh bị động, gây ảnh hưởng đến chất lượng bảo lãnh
- Về phía khách hàng
Doanh nghiệp muốn mở rộng sản xuất, cần mở rộng những mối quan hệgiao lưu buôn bán với nhiều chủ thể khác trong nền kinh tế, vì vậy nhu cầubảo lãnh là tất yếu Tuy nhiên, muốn được bảo lãnh, doanh nghiệp cần phảiđáp ứng được những yêu cầu của ngân hàng Khả năng đáp ứng yêu cầu củangân hàng được thể hiện ở các khía cạnh sau:
V Năng lực tài chính của doanh nghiệp
Doanh nghiệp có năng lực tài chính ổn định sẽ khiến ngân hàng ít phảithực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, làm rủi ro mà ngân hàng gặp phải giảm Nănglực tài chính được đánh giá thông qua hệ thống các chỉ tiêu về khả năng sinhlời, khả năng thanh toán, tính lỏng của tài sản Năng lực tài chính càng cao,khả năng đáp ứng các điều kiện bảo lãnh càng lớn càng góp phần nâng caochất lượng nghiệp vụ bảo lãnh
Trang 35S Khả năng đáp ứng các yêu cầu về bảo đảm
Giống như bất kỳ hoạt động tín dụng nào, bảo lãnh cũng cần có tài sảnbảo đảm dưới hình thức cầm cố, thế chấp các loại tài sản thuộc sở hữu củakhách hàng Đây là biện pháp giúp ngân hàng giảm bớt được những rủi ro cóthể xảy ra khi phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh Việc tính toán hạn mức bảolãnh cũng được quyết định dựa vào tỷ lệ % giá trị tài sản (70% giá trị tài sản)
Do đó ngân hàng cần đánh giá tài sản một cách chính xác, khách quan, đảmbảo quyền lợi cho cả hai bên
- Chiến lược kinh doanh của ngân hàng
Đây là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới nghiệp vụ bảo lãnh của ngânhàng, nếu không có chiến lược kinh doanh cụ thể, hoạt động của ngân hàng sẽmang tính bị động, không nhất quán Có được chiến lược kinh doanh hiệuquả, ngân hàng có thể phát huy được tốt nhất khả năng thực có của mình,đồng thời có thể dễ dàng thích ứng với những thay đổi của môi trường bênngoài Trên cơ sở có được chiến lược kinh doanh đúng đắn, ngân hàng mới cóthể có được phương hướng phát triển cụ thể, đúng với mong muốn của mình.Tùy từng giai đoạn, ngân hàng sẽ có chiến lược khác nhau, dựa vào phươnghướng đó, ngân hàng có thể biết được cần phải chú trọng vào hoạt động nào,tăng cường đẩy mạnh hoạt động nào Bảo lãnh cũng vậy, chiến lược kinhdoanh cũng cần phải được cụ thể hóa thành các mục tiêu và nhiệm vụ nhất
Trang 36định, xác định định hướng khách hàng, thị trường mục tiêu, và các loại hìnhbảo lãnh tương ứng.
Chiến lược kinh doanh bao gồm cả chiến lược Marketing, chiến lược cơcấu tổ chức, phát triển nguồn nhân lực Hoạt động bảo lãnh cần phải tiếnhành theo các định hướng đó, trong đó cần chú ý nhất tới chính sách pháttriển nghiệp vụ bảo lãnh của mình Chính sách này là một hệ thống các chỉtiêu mà ngân hàng đặt ra và đưa ra các biện pháp để cụ thể hóa mục tiêu đóthành hiện thực Chính sách này ảnh hưởng trực tiếp tới quy mô, tính chất cáckhoản bảo lãnh cũng như phương thức hoạt động bảo lãnh, đưa ra định hướngphát triển, thị trường mục tiêu, và đưa ra các biện pháp nhằm hoàn thiện nghiệp
vụ, đảm bảo sự phát triển đúng theo định hướng đã đề ra
- Uy tín của NH
Trong điều kiện chất lượng các hoạt động ngân hàng chưa có sự phânhóa rõ rệt, uy tín là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của ngân hàng.Với khách hàng lần đầu tìm đến ngân hàng, họ sẽ tìm đến ngân hàng có uy tíntốt, hoặc chính người thụ hưởng sẽ chỉ định ngân hàng tiến hành bảo lãnh
Ngân hàng thực hiện bảo lãnh nhiều lần sẽ có cơ hội mở rộng hoạt độngcủa mình thông qua việc đúc rút kinh nghiệm từ các hoạt động trước đó
- Chất lượng thẩm định khách hàng
Đây là hoạt động không thể thiếu trước khi ngân hàng đưa ra quyết địnhbảo lãnh cho khách hàng Hoạt động này quyết định rủi ro mà ngân hàng gặpphải khi chấp nhận bảo lãnh cho khách hàng Khi nhận được yêu cầu bảo lãnhcủa khách hàng, ngân hàng phải xem xét khả năng tài chính của khách hàng,khả năng thực hiện hợp đồng giữa khách hàng và bên nhận bảo lãnh, khả năngthanh toán của khách hàng nếu nghĩa vụ bảo lãnh phát sinh Chất lượng thẩmđịnh phụ thuộc vào những nhân tố như :
V Khả năng thu thập thông tin một cách đầy đủ, chính xác về kháchhàng từ những nguồn khác nhau
Trang 37S Thực hiện thẩm định dự án theo đúng trình tự, tuân thủ các bước một
cách đầy đủ, tránh đưa ra các kết luận không đúng với thực tế
S Trình độ cán bộ thẩm định: Nhân tố này sẽ được phân tích cụ thể thêm
ở phần tiếp theo
- Phẩm chất và trình độ cán bộ thực hiện bảo lãnh
Con người luôn là yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại t ronghoạt động kinh doanh của ngân hàng Cùng với sự phát triển của bảo lãnh,chất lượng nguồn nhân lực cũng được đòi hỏi phải ngày càng nâng cao để cóthể đáp ứng kịp thời, hiệu quả, thích ứng được với sự phát triển của môitrường kinh doanh Việc tuyển chọn được nguồn nhân lực có phẩm chất đạođức, trình độ nghiệp vụ cao sẽ giúp ngân hàng có được những quyết địnhđúng đắn khi tiến hành bảo lãnh cho khách hàng, tránh được những sai phạm
có thế xảy ra trong quá trình thực hiện
1.3 Kinh nghiệm phát triển nghiệp vụ bảo lãnh của một số ngân hàng trên thế giới và bài học kinh nghiệm đối với Ngân hàng Thương mại Việt Nam [10]
1.3.1 Kinh nghiệm phát triển nghiệp vụ bảo lãnh của một số ngân hàng trên thế giới
Hiện nay nghiệp vụ bảo lãnh là một trong những dịch vụ được các ngânhàng trong nước cũng như các ngân hàng trên toàn thế giới không ngừng đẩymạnh Tại Việt Nam các ngân hàng nước ngoài và chi nhánh ngân hàng nướcngoài cũng đang tích cực thu hút khách hàng và mở rộng thị trường trongnghiệp vụ bảo lãnh và là các đối thủ đáng gờm của các ngân hàng trong nước.Các đại diện nổi bật là HSBC, Citibank, Bank of Tokyo Có thể nói việc họchỏi và vận dụng những kinh nghiệm từ những “ông lớn” này vào thực tế tìnhhình tại các ngân hàng nội địa để phát triển nghiệp vụ bảo lãnh là rất cần thiết.Dưới đây là một số kinh nghiệm phát triển nghiệp vụ bảo lãnh tại các ngânhàng này:
Trang 38- Các ngân hàng này vận dụng nghiệp vụ bảo lãnh rất thuần thục, dựatrên các tiêu chuẩn, qui tắc quốc tế và có tính chuyên nghiệp rất cao Cùngvới đó, họ có qui trình bảo lãnh khá chặt chẽ và rõ ràng Ngân hàng xem xétrất kỹ về tính khả thi của một dự án bảo lãnh, khả năng và thời hạn hoàn trảvốn, các yếu tố tác động đến quá trình thực thi dự án này và vấn đề bảo đảmcho việc phát hành cam kết bảo lãnh Thêm vào đó, việc giải quyết tranh chấptrong thực hiện bảo lãnh được thỏa thuận thống nhất và ghi cụ thể khi ký kếthợp đồng và các ngân hàng này rất quan tâm đến uy tín của tổ chức đứng raphân xử, thường là trọng tài quốc tế mà cả hai bên thống nhất lựa chọn ở nước
sở tại của ngân hàng, của khách hàng hoặc nước thứ ba
- Trong qui trình bảo lãnh, bên cạnh việc phân cấp nghiệp vụ, việc giámsát luôn được tiến hành, nhằm bảo đảm tính hệ thống chặt chẽ và minh bạch,theo đúng qui trình nghiệp vụ, thể hiện thông qua hệ thống giám sát nội bộđược thiết kế theo hệ thống dọc từ trụ sở đến các chi nhánh, trực tiếp do tổnggiám đốc chỉ đạo và điều hành Bộ phận giám sát nằm tại chi nhánh, làm việcđộc lập với giám đốc chi nhánh, do đó đảm bảo được tính khách quan, hiệulực và hiệu quả của công tác này Cùng với đó các ngân hàng này cũng có bộphận chuyên trách hỗ trợ về luật pháp trong hoạt động bảo lãnh Trong quảntrị điều hành, các ngân hàng này có sự phân cấp rõ ràng giữa ngân hàng mẹ,hội sở chính, chi nhánh khu vực, chi nhánh phụ trong việc thực hiện hoạtđộng bảo lãnh
- Mặt khác, với hệ thống rộng khắp tại nhiều quốc gia nên việc tìm hiểu
và thu thập thông tin từ khách hàng tiềm năng rất được các ngân hàng này chútrọng và có kế hoạch săn đón bằng việc gia tăng lợi ích, ưu đãi từ dịch vụ ngânhàng và thực hiện việc bán cheó sản phẩm Việc phát triển nghiệp vụ bảo lãnhcũng được các ngân hàng nước ngoài thực hiện theo cách này Thông qua việcáp
dụng các chính sách ưu đãi, các ngân hàng này chủ động thu hút khách hàng,
Trang 39đầu tiên là sử dụng các dịch vụ về tiền gửi, kiều hối, thanh toán sau đó đến cácdịch vụ về cho vay, phát hành bảo lãnh ngân hàng
- Ngoài ra, với lợi thế mạng lưới và uy tín quốc tế, các ngân hàng nàycũng có thế mạnh trong việc thực hiện xác nhận bảo lãnh theo yêu cầu Đây làmột dịch vụ được đánh giá là ít rủi ro và đem lại nguồn thu đáng kể từ phí.Trong nghiệp vụ này, các ngân hàng nước ngoài cũng rất chú trọng đến uy tíncủa ngân hàng nhận bảo lãnh cho phía khách hàng và ngược lại Điều này lạimột lần nữa khẳng đinh uy tín quốc tế là vấn đề rất quan trọng của khách hàng
đề nghị bảo lãnh cũng như ngân hàng đối tác bảo lãnh cho khách hàng của họ
1.3.2 Bài học đối với các Ngân hàng Thương mại Việt Nam
- Xây dựng mạng lưới chi nhánh rộng khắp,quan hệ hợp tác với nhiềungân hàng uy tín quốc tế
- Chú trọng đến việc thu thập và xử lý thông tin khách hàng, có cácchính sách chăm sóc khách hàng hợp lý tuỳ theo đối tượng, chủ động tìm hiểunhu cầu của khách hàng
- Ngân hàng cần tuân thủ đúng trình tự và đầy đủ các bước trong quitrình bảo lãnh, tăng cường hệ thống giám sát nội bộ
- Bố trí riêng một bộ phận phụ trách về nghiệp vụ bảo lãnh
- Ngân hàng cần tiến hành thẩm định năng lực pháp lý, khả năng tàichính, hoạt động kinh doanh, khả năng thực hiện hợp đồng.của khách hàngkhi khách hàng đề nghị bảo lãnh,
- Khi nhận được chứng từ thanh toán thì ngân hàng cần xem xét kỹ cácchứng từ, kiểm tra xem có dấu hiệu lừa đảo hay giả mạo không, thường xuyêncập nhật những bài học kinh nghiệm về rủi ro bảo lãnh đã xảy ra trong nước
và quốc tế
- Ngân hàng cần đào tạo nâng cao trình độ của các cán bộ thực hiệnnghiệp vụ bảo lãnh, thường xuyên thu thập thông tin, văn bản pháp luật mớinhất về hoạt động bảo lãnh và các hoạt động khác có liên quan, cần am hiểu
về các qui chuẩn, thông lệ quốc tế
Trang 40KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong chương 1 Luận văn đã trình bày tổng quan về bảo lãnh ngân hàng
và nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng tại NHTM Bên cạnh các khái niệm cơ bản,chương này cũng đề cập đến các nhân tố có ảnh hưởng lớn đến nghiệp vụ bảolãnh ngân hàng tại NHTM, một số chỉ tiêu để đánh giá hoạt động này, nhữngdạng rủi ro đặc thù và một số kinh nghiệm của các ngân hàng và chi nhánhngân hàng nước ngoài lớn tại Việt Nam trong việc phát triển nghiệp vụ bảolãnh Trong đó:
- Các nhân tố có ảnh hưởng lớn đến nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng baogồm nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan Cụ thể một số nhân tố chủ quannổi bật gồm chiến lược kinh doanh, uy tín, chất lượng thẩm định, phẩm chất
và trình độ cán bộ thực hiện bảo lãnh, ngoài ra nhân tố từ phía khác h hàngnhư năng lực tài chính doanh nghiệp, khả năng đáp ứng yêu cầu của bảo đảm,đạo đức của khách hàng Cùng với đó các nhân tố khách quan như pháp luật
và chính sách nhà nước, môi trường chính trị - xã hội, môi trường kinh tếcũng có tác động nhất định đến hoạt động này
- Một số chỉ tiêu để đánh giá nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng gồm chỉ tiêuđịnh lượng liên quan đến số dư bảo lãnh, doanh số bảo lãnh, doanh thu củahoạt động bảo lãnh, dư nợ bảo lãnh quá hạn và các chỉ tiêu định tính như sự
đa dạng của sản phẩm bảo lãnh và mạng lưới ngân hàng đại lý
- Bên cạnh rủi ro tín dụng, nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng còn gặp các rủi
ro đặc thù gồm rủi ro gian lận, rủi ro lừa đảo và giả mạo Nhận diện và quản
lý các rủi ro trên là rất cần thiết trong việc phát triển hoạt động này
Những nội dung đề cập tại Chương 1 là cơ sở nhận thức có tính nền tảng
đề từ đó Luận văn đi sâu phân tích thực trạng phát triển nghiệp vụ bảo lãnh tạimột NHTM cụ thể - NHĐT&PT VN - Chi nhánh Quang Trung ở chương tiếptheo và đề ra các giải pháp phát triển nghiệp vụ bảo lãnh tại chi nhánh này