1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiềm năng du lịch và phương hướng, biện pháp phát triển du lịch tỉnh Hải Dương

54 434 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiềm năng du lịch và phương hướng, biện pháp phát triển du lịch tỉnh Hải Dương
Tác giả Nhóm tác giả
Người hướng dẫn P.T.S. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Đại học Thương mại
Chuyên ngành Quản trị Du lịch
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hải Dương
Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 4,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiềm năng du lịch và phương hướng, biện pháp phát triển du lịch tỉnh Hải Dương Từ xa xưa, du lịch được coi là hoạt động giải trí và tiêu khiển của tầng lớp quý tộc thượng lưu...

Trang 2

Lời mở đầu

Du lịch từ lâu vẫn được hiểu là nghỉ ngơi, tham quan giải trí Nhưng trên thực tế, du lịch có một hình ảnh năng động hơn, hình ảnh một ngành kinh doanh mới, có hiệu quả và ngày càng phát triển trên mỗi quốc gia

Bước sang thế kỷ 21, thế kỷ của dịch vụ, tin học và nền kinh tế tri thức, thì du lịch ngày càng trở nên quan trọng và góp phần vào sự phát triển của nền kinh tế thế giới Du lịch được coi là một ngành “ công nghiệp không khói”, “ xuất khẩu tại chỗ, xuất khẩu vô hình” để thu

về nguồn ngoại tệ Hoạt động du lịch đã trở thành hiện tượng phổ biến trong nền kinh tế và đang phát triển nhanh với xu hướng khu vực hoá, toàn cầu hoá Hoà chung với sự phát triển của du lịch thế giới Ngành Du lịch Việt Nam cũng đã có những bước chuyển biến rõ rệt nhờ vào chính sách “ mở cửa ” của Đảng và Nhà nước, ngành du lịch đã có sự tăng trưởng

và phát triển đáng khích lệ góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước

Ngành du lịch Việt Nam trước những thách thức và cơ hội mới còn nhiều việc phải làm để đẩy mạnh hoạt động kinh doanh trên cơ sở giữ gìn và phát huy truyền thống, bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ trật tự an toàn xã hội và an ninh, quốc phòng của đất nước

Trong bối cảnh chung của du lịch cả nước, Du lịch Hải Dương cũng bắt đầu có những bước chuyển biến nhưng vẫn chưa thực sự phát triển với tiềm năng sẵn có của mình

Là một tỉnh nằm trong vùng Đồng bằng Bắc Bộ Hải Dương không có những tài nguyên, di sản Văn hoá ở tầm quốc tế như nhiều tỉnh khác Ngành du lịch chưa thực sự có những đóng góp đáng klể vào thu nhập của người dân, nhưng như vậy không có nghĩa là Du lịch Hải Dương không thể phát triển Nằm trong tam giác phát triển của phía Bắc là Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh cùng với nhiều di tích và danh thắng cũng như các công trình văn hoá còn được lưu giữ Hải Dương có nhiều thuận lợi để phát triển thương mại và du lịch

Với mong muốn có cái nhìn toàn diện và hiểu rõ hơn về tiềm năng du lịch của Hải Dương, trong thời gian thực tập tại Sở Thương mại – Du lịch Hải Dương em đã chọn đề tài

“ Tiềm năng du lịch và phương hướng , biện pháp phát triển du lịch tỉnh Hải Dương ” làm

chuyên đề tốt nghiệp đại học của mình

Kết cấu báo cáo chuyên đề, ngoài lời mở đầu và kết luận, gồm 3 chương

Trang 3

Chương I: Tiềm năng du lịch Khái niệm, nội dung và điều kiện phát triển du lịch

Chương II: Thực trạng tiềm năng du lịch và kết quả hoạt động du lịch ở Hải Dương trong những năm qua

Chương III: Phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và các biện pháp chủ yếu nhằm phát triển du lịch Hải Dương

Trang 4

chương I: tiềm năng du lịch Khái niệm, nội dung và điều kiện phát triển du lịch:

I/ Khái niệm chung về du lịch và tiềm năng du lịch

1 khái niệm chung về du lịch

1.1 Khái niệm về du lịch

Ngày nay, du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến không chỉ ở các nước phát triển mà còn ở cả các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam Tuy nhiên, không chỉ ở nước ta mà cả nhiều nước trên thế giới cũng chưa thống nhất Về khái niệm và nội dung đó có rất nhiều định nghĩa khác nhau về du lịch

Theo Tổ chức du lịch thế giới (WTO): "Du lịch bao gồm tất cả những hoạt động của một cá nhân đi đến và lưu lại không quá 12 tháng với mục đích kiếm tiền thường xuyên"

Theo Michel Coltmant: " Du lịch là mối quan hệ tương tác giữa bốn nhóm nhân tố: khách du lịch, các tổ chức cung ứng du lịch, chính quyền nơi đến du lịch, dân cư tại nơi du lịch để thống nhất hoạt động du lịch nhằm mục đích nâng cao chất lượng cuộc sống của con người"

Tuyên bố LaHay về du lịch viết: " Du lịch là hoạt động tất yếu của con người và của

xã hội hiện đại Bởi lẽ du lịch đã trở thành một hình thức quan trọng trong việc sử dụng thời gian nhàn rỗi của con người, đồng thời là phương tiện giao lưu trong mối quan hệ giữa con người với con người"

Qua các định nghĩa về du lịch nêu trên ta nhận thấy nổi lên một số điểm chủ yếu:

- Hoạt động du lịch của con người ở ngoài nơi làm việc thường xuyên của họ

- Hoạt động vận chuyển hầu như trong tất cả mọi trường hợp đi du lịch đều có sự tham gia của một phương tiện giao thông nào đó

1.2 Khái niệm về tài nguyên du lịch

Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình lao đông sáng tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch tạo ra sức hấp dẫn du lịch

Trang 5

Về thực tế, tài nguyên du lịch là các điều kiện tự nhiên các đối tượng văn hoá, lịch sử

đã bị biến đổi ở mức độ nhất định dưới ảnh hưởng của nhu cầu xã hội và khả năng sử dụng trực tiếp vào mục đích du lịch Những điều kiện hiện nay luôn tồn tại và gắn liền với môi trường xã hội đặc thù của mỗi địa phương, mỗi quốc gia nhằm tạo nên điểm đặc sắc cho mỗi địa phương, mỗi quốc gia đó Khi các yếu tố này được phát hiện, được khai thác và sử dụng cho mục đích phát triển du lịch thì chúng sẽ trở thành tài nguyên du lịch Như vậy có thể nói rằng, tài nguyên du lịch được xem như tiền đề phát triển du lịch, trên thực tế cho thấy tài nguyên du lịch càng phong phú, càng đặc sắc bao nhiêu thì sức hấp dẫn và hậu quả hoạt động du lịch càng cao bấy nhiêu

- Mức độ khai thác của tài nguyên du lịch phụ thuộc vào:

+ Khả năng nghiên cứu phát hiện và đánh giá tiềm năng tài nguyên vốn còn tiềm ẩn + Yêu cầu phát triển các sản phẩm du lịch nhằm thoả mãn nhu cầu của khách du lịch, các nhu cầu của khách ngày càng lớn, đa dạng và phụ thuộc rất nhiều vào trình độ dân trí

+ Trình độ phát triển khoa học công nghệ đã tạo ra các phương tiện để khai thác tiềm năng mọi cách để đạt hiệu quả tốt nhất, nhằm đáp ứng mọi nhu cầu thoả mãn của khách du lịch khi có nhu cầu khám phá những điều kỳ diệu của tài nguyên du lịch

Như vậy, giống như các tài nguyên khác, tài nguyên du lịch là một phạm trù lịch sử,

vì những thay đổi cơ cấu và nhu cầu đã lôi cuốn vào hoạt động du lịch những thành phần mang tính chất kinh tế cũng như tính văn hoá - lịch sử Nó là một phạm trù động, vì khái niệm tài nguyên du lịch thay đổi tuỳ thuộc vào sự tiến bộ kỹ thuật, sự cần thiết về kinh tế, tính hợp lý và mức độ nghiên cứu, khi đánh giá tài nguyên và xác định định hướng khai thác chúng cần phải tính đến những thay đổi trong tương lai về nhu cầu cũng như khả năng kinh

tế - kỹ thuật khai thác các tài nguyên du lịch mới

Bên cạnh những tài nguyên đã và đang được khai thác thì còn nhiều tài nguyên du lịch vẫn tồn tại dưới dạng tiềm năng đó

+ Chưa được nghiên cứu, đánh giá và điều tra đầy đủ

+ Chưa được khai thác do " cầu" còn quá thấp

+ Tính tài nguyên thấp, chưa đủ tiêu chuẩn cần thiết để khai thác và hình thành nên các sản phẩm du lịch

Trang 6

+ Các điều kiện để tiếp cận các phương tiện khai thác còn hạn chế, do đó còn gặp nhiều khó khăn trong khai thác

1.3 Khái niệm khách du lịch

Nói đến khách du lịch, chúng ta có thể hiểu đó là những người đi từ nơi này đến nơi khác để nghỉ ngơi, giả trí, cũng có thể hiểu đó là người đi du lịch hoặc kết hợp du lịch, trừ trường hợp đi làm hay đi học…

Định nghĩa của nhóm tác giả trường kinh tế quốc dân có thể nói là tương đối hoàn chỉnh." Khách du lịch là người đi đến một quốc gia khác, một vùng khác và lưu lại ở đó với thời gian lớn hơn một ngày nhằm các mục đích khác nhưng không nhằm mục đích kiếm tiền"

- Định nghĩa khách du lịch quốc tế

Theo tổ chức du lịch thế giới ( WTO): " Khách du lịch quốc tế là một người lưu trú ít nhất một đêm nhưng không quá một năm tại một quốc gia khác với quốc gia thường trú với nhiều mục địch khác nhau ngoài hoạt động để được trả lương ở nơi đến

+ Khách du lịch quốc tế chủ động: là những người ở nước ngoài vào nước đó

+ Khách du lịch quốc tế bị động: là những người ở trong nước đi ra nước ngoài

- Định nghĩa khách du lịch nội địa

Theo tổ chức du lịch thế giới (WTO) " Khách du lịch nội địa là người đang sống trong một quốc gia, không kể quốc tịch nào, đi đến một nơi khác không phải là nơi cư trú thường xuyên trong quốc gia đó, trong thời gian ít nhất là 24 giờ và không quá một năm với các mục đích có thể là giải trí, công vụ, hội họp, thăm gia đình ngoài hoạt động làm việc để lĩnh lương ở nơi đến

- Theo Điều 4 Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 thì

“ Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập từ nơi đến ”

“ Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, là người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch, công dân Việt Nam, người nướcngoài thường trú tại Việt Nam

ra nước ngoài du lịch ”

Trang 7

“ Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ tại Việt Nam ”

1.4 Khái niệm về thị trường du lịch

Xuất phát từ đặc điểm sản phẩm du lịch có thể thấy thị trường du lịch được coi là một bộ phận tương đối đặc biệt của thị trường hàng hoá nói chung, bao gồm toàn bộ các mối quan hệ và cơ chế kinh tế có liên quan đến địa điểm, thơì gian, điều kiện và phạm vi thực hiện hàng hoá nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội về du lịch

Nét đặc thù riêng của thị trường du lịch là ở chỗ:

+ Thị trường du lịch thực hiện dịch vụ hàng hoá nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hôị về

du lịch

+ Toàn bộ các mối quan hệ của các mối quan hệ toàn bộ trên thị trường kinh tế du lịch phải gắn liền với vị trí, thời gian, điều kiện và phạm vi thực hiện của thị trường hàng hoá

+ Thị trường du lịch là tổng hợp nhu cầu hay tập hợp nhu cầu về sản phẩm du lịch, là nơi diễn ra các hoạt động mua bán hàng hoá dịch vụ

+ ở góc độ một đơn vị kinh doanh có thể hiểu thị trường du lịch là một tập hợp khách hàng hay nhóm khách hàng đang có nhu cầu, mong muốn và có khả năng thanh toán sẽ được thoả mãn

+ Thị trường du lịch, mối quan hệ mua bán được hình thành giữa các tổ chức kinh tế phục vụ lưu thông phân phối trong du lịch, đó chính là các đại lý du lịch

+ Người mua thông qua những đại lý du lịch này xẽ biết được những thông tin vế sản phẩm mà mình sẽ mua và sau khi đồng ý thực hiện mua ở đây Như vậy, sản phẩm đang bán trực tiếp ở thị trường hàng hoá này đã chuyển sang bán ở thị trường du lịch

+ Chỉ khi nền kinh tế ngày càng phát triển thì nhu cầu du lịch mới xuất hiện và ngày càng cao, chính vì thế thị trưồng du lịch xuất hiện muộn hơn thị trường hàng hoá

+ Trên thị trường du lịch không có sự dịch chuyển của khối lượng hàng hoá, do tính chất đặc biệt của sản phẩm du lịch, khách hàng chỉ có thể tiêu dùng tại nơi bán sản phẩm,nên thị trường du lịch là dòng một chiều của khách đến với sản phẩm

- Cầu du lịch

Trang 8

Cầu du lịch là loại nhu cầu đặc biệt và tổng hợp của con người Nhu cầu này được hình thành và phát triển trên nền tảng của nhu cầu sinh lý ( đi lại ) và nhu cầu tâm lý ( giao tiếp ) trong hệ thống các nhu cầu của con người, để làm cho cuộc sống thay đổi về môi trường sống, muốn có thêm hiểu biết cũng như muốn nghỉ ngơi, giải trí thoát khỏi sự căng thẳng và môi trường ô nhiễm

Nhu cầu du lịch có được thực hiện hay không phụ thuộc vào khả năng thanh toán của khách du lịch, có thời gian rỗi dành cho tiêu dùng du lịch và phải sẵn sàng mua sản phẩm

du lịch

Khi thoả mãn 3 điều kiện này thì nhu cầu du lịch của cá nhân biểu hiện ở cấp độ ý định Nhu cầu du lịch ở cấp độ quyết định của tất cả cá nhân ở một không gian và thời gian nhất định tạo ra thị trường khách du lịch hiện tại ở không gian và thời gian đó Nếu nhu cầu

du lịch của các cá nhân chưa thoả mãn 1 trong 3 điều kiện nói trên thì tập hợp lại tạo ra thị trường khách du lịch tiềm năng , khi mà trình độ sản xuất xã hội ngày càng phát triển, các mối quan hệ xã hội càng hoàn thiện, mức độ toàn cầu hoá càng cao thì nhu cầu về du lịch càng lớn về số lượng, chất lượng và cơ cấu của nó

- Cung du lịch

Cung trong du lịch là khả năng cung cấp toàn bộ hàng hoá về dịch vụ du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu của du khách, cung du lịch là toàn bộ hệ thống của cải và dịch vụ mà hệ thống của cải và dịch vụ mà bộ máy du lịch đưa ra phục vụ khách bao hàm một chuỗi các nhiệm vụ, trách nhiệm về hoạt động hợp thành các đơn vị tổ chức năng hoạt động trên thị trường du lịch

- Mối quan hệ giữa cung và cầu trên thị trường du lịch

Cung và cầu du lịch có mối quan hệ ràng buộc và tác động qua lại lẫn nhau, cung tác động lên cầu qua khối lượng và cơ cấu của nó, còn cầu ảnh hưởng đến sự phát triển của cung qua việc tiêu thụ và sự phân hoá của cầu Trong du lịch chỉ có dòng chuyển động một chiều cầu đến cung Xu hướng đặc trưng của thị trường du lịch là sự cân bằng giữa cung và cầu Các doanh nghiệp kinh doanh du lịch muốn phát triển hoạt động kinh doanh của mình thì phải biết liên kết, tập hợp cầu, phải biết phối hợp cung - cầu để đem lại hiệu quả

Trang 9

kinh doanh cao ( vì cung trong du lịch là cố định, còn cầu thì phân tán, cung du lịch mang tính bộ phận trong khi cầu di lịch mang tính tổng hợp)

1.5 Các khái niệm khác:

- Khái niệm kinh doanh lữ hành

Kinh doanh lữ hành là việc đầu tư để thực hiện một, một số hoặc tất cả các công việc trong quá trình chuyển giao sản phẩm thực hiện giá trị sử dụng hoặc làm gia tăng giá trị của nó để chuyển sang lĩnh vực tiêu dùng du lịch với mục đích lợi nhuận

- Khái niệm kinh doanh khách sạn

Kinh doanh khách sạn là hoạt động kinh doanh trên cơ sở cung cấp các dịch

vụ lưu trú, ăn uống và các dịch vụ bổ sung cho khách nhằm đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi và giải trí của họ tại các điểm du lịch nhằm mục đích có lãi

- Khái niệm kinh doanh vận chuyển

Có 2 loại theo tính đặc thù, kinh doanh vận chuyển khách du lịch từ nơi cư trú của khách du lịch và kinh doanh vận chuyển tại điểm du lịch

Tiềm năng du lịch bao hàm: vị trí địa lý, tài nguyờn du lịch, con người, thị

trường, các điều kiện về kinh tế - xó hội…

II/ Các đặc điểm chủ yếu để phát triển tài nguyên du lịch

1 Đặc điểm tài nguyên du lịch

Để có thể khai thác và sử dụng một cách tốt nhất các tài nguyên du lịch, cần phải nghiên cứu các đặc điểm tài nguyên du lịch Tài nguyên du lịch có các đặc điểm sau đây

1.1 Tài nguyên du lịch rất đa dạng và phong phú, trong đó có nhiều tài nguyên đặc sắc

và độc đáo tạo ra sức hấp dẫn rất lớn đối với du khách

Trang 10

Khác với nhiều loại tài nguyên khác, tài nguyên du lịch rất phong phú càng đa dạng, đặc điểm này tạo nên sự phong phú về sản phẩm du lịch, nếu chỉ tính toán đơn thuần từ mặt kinh tế thì hiệu quả của tài nguyên du lịch đem lại là rất lớn có khi vượt trội hơn so với các tài nguyên khác

1.2 Tài nguyên du lịch có thời gian khai thác

Trong tài nguyên du lịch có tài nguyên có thể khai thác quanh năm, nhưng cũng có tài nguyên khai thác lệ thuộc vào thời vụ Sự lệ thuộc này chủ yếu dựa theo diễn biến của khí hâu, như ở nước ta các tài nguyên được khai thác theo mùa rất rõ rệt: vào mùa Xuân ở đồng bằng Bắc bộ là mùa của những lễ hội như hội Chùa Hương, hội Lim, hội Đền Hùng , vào mùa Hè thường diễn ra các hoạt động biển, đặc biệt là du lịch biển diễn ra quanh năm ở các tỉnh có biển, nhất là ở miền Trung từ Đà Nẵng trở vào có thể tắm biển quanh năm (cả 4 mùa )vì ở đó rất ít bị ảnh hưởng của không khí lạnh

1.3 Tài nguyên du lịch là tài nguyên không chỉ có giá trị hữu hình mà còn có giá trị vô hình

Đây được xem là đặc điểm quan trọng của tài nguyên du lịch khác với tài nguyên khác, tài nguyên du lịch là phương tiện vật chất tham gia vào việc hình thành nên các sản phẩm du lịch, đó chính là giá trị hữu hình của tài nguyên du lịch Giá trị vô hình của tài nguyên du lịch được khách du lịch cảm nhận thông qua những cảm xúc tâm lý, làm thoả mãn nhu cầu của khách du lịch

1.4 Tài nguyên du lịch thường dễ khai thác

Các tài nguyên du lịch thường được khai thác để phục vụ du lịch là các tài nguyên vốn đã có sẵn trong tự nhiên do tạo hoá sinh ra hoặc con người tạo dựng lên và thường dễ khai thác Con người khó có thể tạo nên tài nguyên du lịch bởi vì nó sẽ giảm đi rất nhiều về giá trị và sự hấp dẫn, chỉ cần đầu tư không lớn nhằm tôn tạo thêm vẻ đẹp và giá trị của tài nguyên

1.5 Tài nguyên du lịch được khai thác tại chỗ tạo ra sản phẩm du lịch

Khách du lịch thường đến tận những nơi có sản phẩm du lịch để thưởng thức, đây là đặc điểm rất khác nhau giữa tài nguyên du lịch và các tài nguyên khác Khác là những tài nguyên sau khi khai thác có thể vận chuyển đến tận nơi để chế biến thành sản phẩm rồi lại

Trang 11

đưa đến tận nơi tiêu thụ, chính vì khách du lịch phải đi đến tận các điểm du lịch nơi có các tài nguyên du lịch để thưởng thức sản phẩm du lịch Nên muốn khai thác tốt tài nguyên này phải chuẩn bị tốt các cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch và vận chuyển khách du lịch Những điểm du lịch có vị trí thuận lợi sẽ thu hút được nhiều khách du lịch và các hoạt động du lịch ở đó sẽ đạt hiệu qủa cao

1.6 Tài nguyên du lịch có thể sử dụng nhiều lần

Các tài nguyên du lịch được xếp vào loại tài nguyên có khả năng tái tạo và sử được dụng lâu dài, vấn đề cơ bản là phải nắm được quy luật tự nhiên, lường trước được những thử thách của tự nhiên, cũng như những tác động do con người tạo ra Từ đó có định hướng lâu dài và có biện pháp cụ thể để khai thác tài nguyên du lịch, bảo vệ và tôn tạo phát triển một cách bền vững mới đáp ứng được yêu cầu phát triển của du lịch trong tương lai

2 Phân loại tài nguyên du lịch

Các tài nguyên du lịch rất đa dạng và phong phú, có thể chia làm hai loại: Tài nguyên

du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn

2.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên

Thiên nhiên là môi trường sống của con người và của mọi sinh vật trên trái đất, thiên nhiên bao gồm các yếu tố và các thành phần tự nhiên, các hiện tượng tự nhiên, các quá trình biến đổi của chúng tạo nên các điều kiện tự nhiên thường xuyên tác động đến sự sống, hoạt động của con người Các thành phần tự nhiên tạo nên tài nguyên du lịch bao gồm:

- Địa hình: là các vùng núi có phong cảnh đẹp, hệ thống hang động, bãi biển, di tích

tự nhiên

- Khí hậu: gồm tài nguyên khí hậu thích hợp với sức khoẻ con người, tài nguyên khí hậu phục vụ cho việc chữa bệnh, an dưỡng, du lịch, thể thao, giải trí

-Thuỷ văn: gồm mặt nước và các bãi nông ven bờ, các điểm nước khoáng

- Sinh vật: gồm các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, các cơ sở hệ sinh thái đặc thù

2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn

Là nhóm tài nguyên có nguồn gốc nhân tạo, nghĩa là do con người sáng tạo ra Đó là toàn bộ những sản phẩm có giá trị về vật chất cũng như tinh thần do con người sáng tạo ra,

Trang 12

đều được coi là những sản phẩm văn hoá Tài nguyên du lịch nhân văn được phân chia thành những nhóm cụ thể sau:

- Các di tích lịch sử văn hoá gồm: các di sản văn hoá thế giới, di tích lịch sử, thắng cảnh cấp quốc gia và địa phương

- Các lễ hội: làng nghề thủ công truyền thống gồm: nghề gốm sứ, trạm khắc đá, nghề mộc, nghề kim hoàn

- Các đối tương du lịch gắn với dân tộc học

- Các đối tượng văn hoá - thể thao và hoạt động nhận thức khác

III/ Những nội dung cơ bản về hoạt động du lịch ở Hải Dương

1 Những tiềm năng cần được đánh thức

Thuộc đồng bằng Bắc Bộ với địa hình bao gồm cả đồng bằng và đồi núi, cùng với lịch sử hình thành và phát triển lâu đời, Hải Dương có nhiều lợi thế để phát triển toàn diện

cả du lịch văn hoá, tín ngưỡng tâm linh và du lịch sinh thái ở phía đông Bắc có 2 huyện miền núi là Chí Linh và Kinh Môn, tuy không rộng lớn nhưng cảnh quan đa dạng, trong đó Vùng Chí Linh núi đồi trùng điệp, rừng cây xanh tốt là thiên đường của du lịch sinh thái, xây dựng sân golf, biệt thự, hình thành cắm trại, picnic, vùng núi hồ Côn Sơn - Kiếp Bạc - Thanh Mai, vào thế kỷ 14 nơi đây đã biến thành chốn " Phật tổ" của Thiền Phái Trúc Lâm

và gắn liền với tên tuổi danh nhân Nguyễn Trãi, danh tướng Trần Hưng Đạo Vùng Kinh Môn có “ tập đoàn ” đá vôi với những hang động kỳ thú, nơi lưu giữ di tích của con người

từ thời đại đồ đá mới Kinh Môn tự hào là nơi có động Kính Chủ, động Tâm Long từ thời Trần được tôn tạo thành Chùa Đến thế kỷ 17 Kính Chủ trở thành động nổi tiếng của đất nước, nơi đây để lại bút tích của nhiều thời đại khác nhau Huyện Thanh Miện nổi tiếng với Đảo Cò Chi Lăng Nam, nơi du khách được hoà mình với thiên nhiên, ngắm những đàn cò sinh động trong mọi trường đặc trưng vùng Đồng bằng Bắc Bộ Vùng Thanh Hà với cây vải thiều đặc sản là lợi thế hứa hẹn một vùng du lịch miệt vườn độc đáo

Hải Dương có 1.098 di tích các loại, bao gồm 133 di tích được xếp hạng quốc gia, được bố khá đồng đều khắp thôn, làng của 11 huyện và thành phố Hải Dương chứa đựng chiều sâu văn hoá, lịch sử vùng đất tỉnh Đông Mỗi di tích gắn với một truyền thống, một nhân vật lịch sử hay một phong cách kiến trúc của một thời đại nào đó Chẳng hạn như Văn

Trang 13

Miếu Mao Điền ( thuộc địa phận huyện Cẩm Giàng) có bia khắc tên các cử nhân, tiến sỹ thời phong kiến, di tích khảo cổ học gốm Chu Đậu ( xã Thái Tân, huyện Nam Sách) lưu giữu dấu ấn của một trung tâm sản xuất gốm mỹ nghệ xuất khẩu từ thế kỷ 15, 16, hay đền thờ nhà nho yêu nước Chu Văn An trên núi Phượng Hoàng ( xã Văn An, huyện Chí Linh )

Không chỉ có vậy, Hải Dương còn có nhiều làng nghề truyền thống như: làng Đồng Giao ( xã Lương Điền, huyện Cẩm Giàng) chuyên nghề chạm, khắc gỗ, làng Tam Lâm ( Hoàng Diệu, huyện Gia Lộc) có nghề đóng giầy, làng Cúc bồ ( Kiến Quốc, huyện Gia Lộc)

có nghề mộc nổi tiếng , mỗi làng nghề đều mang bản sắc riêng, gắn với hệ thống di sản và truyền thuyết Tìm hiểu văn hoá và truyền thống làng nghề sẽ khiến du khách cả trong và ngoài nước nhận biết được nhiều điều thú vị Thực tế đó là tiền đề thuận lợi cho làng nghề Hải Dương được " trình làng " với vị thế mới làng nghề Văn hoá - Du lịch độc đáo và hấp dẫn

2 Những chuyển động đầu tiên

Không phải chỉ từ năm 2003 lại đây, Hải Dương mới nhận rõ tiềm năng du lịch của mình Song, do khả năng đầu tư cho ngành du lịch còn hạn chế, nhỏ giọt, chưa đủ sức đem lại những thay đổi to lớn Chẳng hạn, để dần bắt nhịp với du lịch toàn quốc, một số khách sạn, nhà nghỉ, nhà khách được nâng cấp thành khách sạn đạt tiêu chuẩn “ sao ” Nhiều thành phần kinh tế được tham gia, đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh khách sạn đã tạo nên những chuyển biến nhất định Nếu như năm 1997, Hải Dương chỉ có 13 khách sạn, nhà nghỉ với

400 phòng, 900 giường, trong đó chỉ có 7 khách sạn đạt tiêu chuẩn thì đến năm 2003 toàn tỉnh có 60 khách sạn, nhà nghỉ với 54 khách sạn đạt tiêu chuẩn, gồm 975 phòng, có 1500 giường, phần lớn thuộc về các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh Trong đó, có 4 khách sạn 2 sao, 3 khách sạn 1 sao Tuy nhiên, phần lớn các khách sạn, nhà nghỉ đều tập trung tại thành phố Hải Dương, hầu hết các điểm du lịch chưa có các cơ sở du lịch thực hiện kinh doanh dịch vụ lưu trú chuyên nghiệp So với các tỉnh có tiềm năng du lịch, các dịch vụ vui chơi giải trí, phương tiện đi lại, đường giao thông du lịch và cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành du lịch Dải Dương còn quá thiếu và yếu Ngoài một số điểm như An Phụ - Kính Chủ, Côn Sơn - Kiếp Bạc được đầu tư xây dựng hệ thống giao thông phục vụ khu du lịch, những điểm du lịch khác vẫn đang ở nguyên trạng hoang sơ hoặc " ăn nhờ" hệ thống giao thông

Trang 14

dân dụng, nối vào di tích vẫn là đường nhỏ Vì thế, phần lớn trong hơn 1.000 di tích chủ yếu thu hút khách trong phạm vi gần, vào vài tháng nhất định trong năm( chủ yếu là mùa lễ hội, mùa xuân ) 100% làng nghề đều chưa khai thác du lịch Bản thân các khu di tích, thắng cảnh chưa được tôn tạo, sửa chữa, nâng cấp đầy đủ, thường xuyên

Để khắc phục tình trạng trên, năm 2001, Hải Dương đã đầu tư gần 50 tỷ nhằm đồng tôn tạo khu du lịch Côn Sơn - Kiếp Bạc và sắp tới sẽ triển khai dự án xây dựng khu hồ Mật Sơn ( Chí Linh ) với tổng số vốn đầu tư gần 41 tỷ đồng Ngoài ra, khu núi An Phụ - Kính Chủ, cũng được đầu tư xây dựng tượng đài Hưng Đạo Vương và tôn tạo đường lên đỉnh và chùa Tường Vân với số tiền hàng chục tỷ đồng Đó là những khoản tiền vốn đầu tư cho du lịch lớn nhất trong thời gian vừa qua Trong giai đoạn đầu mỗi năm cần đến 150 tỷ đồng để tạo ra diện mạo mới cho ngành du lịch.Thiếu vốn đầu tư, đó là mấu chốt của bài toán khai thác tiềm năng du lịch Hải Dương hiện nay Tuy nhiên, tiềm năng du lịch Hải Dương đang thu hút sự chú ý của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế ở trong và nước ngoài tỉnh, các nhà đầu tư trong nước và từ nước ngoài

3 Tạo tương lai mới bằng những chiến lược mới

Quy hoạch phát triển du lịch Hải Dương xác định gồm 4 chiến lược trọng tâm là: chiến lược đầu tư, chiến lược phát triển nguồn nhân lực, chiến lược nâng cấp chất lượng sản phẩm và tuyên truyền quảng bá Trong đó chiến lược quan trọng nhất là đầu tư kết cấu hạ tầng, vật chất kỹ thuât tạo môi trường đầu tư thuận lợi cho các doanh nghiệp, song nguồn vốn hiện có chỉ cho phép đầu tư vào một vài điểm nhất định Vì vậy, để đạt được mục tiêu phát triển nền kinh tế của tỉnh, trong đó có vấn đề đầu tư cho du lịch, Hải Dương đang mời gọi mọi đối tác đầu tư, mọi nguồn vốn ở trong và ngoài nước đầu tư mạnh vào lĩnh vực này trên cơ sở quy hoạch du lịch đã được phê duyệt Để phát triển tương xứng với tiềm năng và yêu cầu, Sở Thương mại - Du lịch Hải Dương đang kết hợp với Tổng cục Du lịch tổ chức đào tạo nhân viên khách sạn, hướng dẫn viên du lịch, bởi lẽ một khi hạ tầng du lịch được đổi mới, chiến lược nhân lực sẽ càng được đẩy mạnh tạo nên hình ảnh mới cho nhành du lịch Hải Dương Với hàng chục làng nghề và lực lượng lao động dồi dào, chiến lược nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch của Hải Dương hướng tới khuyến khích đầu tư sản xuất

Trang 15

những mặt hàng lưu niệm đặc trưng, giúp Hải Dương được nhìn nhận như một vùng đất mang bản sắc văn hoá độc đáo và riêng biệt

Với mục tiêu tận dụng lợi thế vị trí địa lý, Hải Dương bắt đầu thực hiện cơ chế phối hơp với ngành du lịch của Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh để biến Hải Dương thành một" mắt xích" trong tuyến du lịch liên tỉnh.Sắp tới Công Ty Du lịch Hải Dương sẽ trở thành công ty thành viên của Tổng công ty du lịch Hà Nội là bước khởi sắc đầu cho chính sách tạo mối quan hệ hợp tác liên kết trong du lịch của Hải Dương Mục tiêu của ngành đến năm

2006 sẽ đạt tốc độ tăng trưởng 25%/ năm, với doanh thu 300 tỷ đồng và du lịch của tỉnh sẽ đón 300 nghìn lượt khách Cùng với tốc độ tăng trưởng, ngành đặc biệt coi trọng việc phát triển du lịch bền vững, phát triển du lịch nhưng vẫn đảm bảo an ninh, gắn du lịch với phát huy, bảo tồn và phát triển bản sắc dân tộc, truyền thống văn hoá địa phương

Trong bối cảnh cạnh tranh quyết liệt của du lịch hiện nay, con đường phát triển đúng đắn cho du lịch Hải Dương là: Chinh phục khách hàng bằng chất lượng bền vững, theo tiêu chuẩn quốc tế để thực sự là điểm đến tốt nhất đối với mỗi khách hàng

IV/ Những điều kiện nhằm phát triển du lịch Hải Dương:

1 Điều kiện chung

Du lịch chỉ có thể phát sinh, phát triển trong nhữngđiều kiện và hoàn cảnh thuận lợi nhất định Trong số những điều kiện đó có những điều kiện tác động trực tiếp đến việc hình thành nhu cầu du lịch và việc tổ chức các hoạt động kinh doanh du lịch, bên cạnh đó có những điều kiện mang tính phổ biến nằm trong các mặt của đời sống xã hội và có những điều kiện gắn liền với từng khu vực địa lý Tuy nhiên, tất cả các điều kiện này có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại với nhau tạo thành mội trường cho sự phát sinh, phát triển du lịch

1.2 Về mặt xã hội

Theo địa giới hành chính, tỉnh Hải Dương có 11 huyện, 1 thành phố loại III , với dân

số năm 2002 là 1.683.138 người, mật độ dân số trung bình 1.022 người/km Dân cư thường tập trung ở đô thị và các thôn xóm dọc theo các trục giao thông đường bộ, đường thuỷ quan trọng…Dân cư sinh sống ở Hải Dương chủ yếu là dân tộc Kinh theo hai tôn giáo chính là:

Trang 16

Phật giáo và Thiên Chúa giáo Tính cách của người dân Hải Dương mang đậm nét đặc trưng của vùng văn minh lúa nước Châu thổ sông Hồng: cần cù, hiền lành, phóng khoáng, cởi mở

và giàu lòng mến khách

Do kinh tế tăng trưởng ổn định nên đời sống dân cư ở thành thị và nông thôn đều được cải thiện Đến năm 2002 tỷ lệ hộ đói nghèo chỉ còn 7%, toàn tỉnh đã đạt tiêu chuẩn quốc gia về xoá mù chữ Đến nay, tất cả các xã, phường trên địa bàn tỉnh đều có hệ thống điện, đường, trường, trạm tương đối hoàn chỉnh, thêm vào đó là chính sách phát triển du lịch cùng với sự ổn địnhvề mặt chính trị và an ninh đã làm cho du lịch của

Hải Dương có điều thuận lợi hơn để phát triển

1.2 Về mặt kinh tế

Trong quá trình cùng cả nước thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội, tỉnh Hải Dương đã tạo sự chuyển biến tích cực trong toàn bộ nền kinh tế cũng như quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp, dịch vụ trong tổng sản phẩm xã hội của tỉnh, đặc biệt là lĩnh vực du lịch, trong thời kỳ 1998 - 2003 đạt mức tăng trưởng bình quân rất cao ( 30% ) và chiếm tỷ trọng 1,14 % GDP của tỉnh Hải Dương năm 2003 Kết quả mà ngành du lịch đạt được là nhờ có nhiều hoạt động tuyên truyền quảng bá du lịch được Sở Thương mại - Du lịch tiến hành như phát hành phim, sách

về du lịch, tổ chức triển lãm và xây dựng các tour du lịch làng nghề, tổ chức gian hàng du lịch Hải Dương tại Liên hoan du lịch Hà Nội đã góp phần tạo ra hình ảnh mới cho hoạt động du lịch của tỉnh Hải Dương

2 Điều kiện đặc trưng

Trong quá trình cả nước thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội, tỉnh Hải Dương đã tạo sự chuyển biến tích cực trong toàn bộ nền kinh tế cũng như quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tỷ trọng các ngành công nghiệp, dịch vụ trong Tổng sản phẩm xã hội của tỉnh, đặc biệt là lĩnh vực dịch vụ du lịch, trong thời kỳ 1998 – 2003 đạt mức tăng trưởng bình quân rất cao ( 30% ) và chiếm tỷ trọng 1,14% GDP của tỉnh Hải Dương năm 2003 Kết quả mà ngành du lịch đạt được là nhốc nhiều hoạt động tuyên truyền quảng bá du lịch được Sở Thương mại - Du lịch tiến hành như phát hành

Trang 17

phim, sách về du lịch, tổ chức triển lãm và xây dung các tour du lịch làng nghề, tổ chức gian hàng du lịch Hải Dương tại Liên hoan du lịch Hà Nội…đã góp phần tạo ra hình ảnh mới cho hoạt động du lịch của tỉnh Hải Dương

2.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên

Tài nguyên du lịch của Hải Dương được phân bố đều trên phạm vi toàn tỉnh và tập trung nhiều tại hai huyện miền núi Chí Linh và Kinh Môn

Chí Linh núi đồi trùng điệp có độ cao trung bình không quá 700m, rừng cây xanh tốt, cảnh quan đẹp, có nhiều hồ nước tự nhiên, có nhiều di tích, di chỉ văn hoá như: khu danh thắng Phượng Hoàng - Kỳ Lân là địa danh thích hợp cho du lịch dã ngoại, vãn cảnh, leo núi; Khu du lịch danh thắng Côn Sơn là nơi cảnh đẹp thiên nhiên, tâm linh gắn liền với cuộc đời của anh hùng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới Nguyễn Trãi, cùng với tên tuổi của danh nhân đất Việt khác như Trần Nguyên Đán, Huyền Quang, đồng thời là một trong ba Trung tâm của phái Trúc Lâm ( Côn Sơn - Yên Tử - Trúc Lâm )

Kinh Môn thuộc vùng núi đá vôi với nhiều hang động kỳ thú, nơi còn lưu lại di tích của con người thời đại đồ đá mới Núi An Phụ với đền thờ An Sinh Vương Trần Liễu trên đỉnh và tượng đài người anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo ở chân núi là nơi thích hợp cho

du lịch tâm linh Hang động Kính Chủ và vùng núi đá vôi Dương Nham thích hợp cho du lịch vãn cảnh gắn với những trang sử hào hùng chống quân Nguyên của nhân dân ta

Ngoài ra, các huyện thuộc vùng đồng bằng cũng có tiềm năng du lịch phong phú nhờ

có cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn, làng quê trù phú mang đậm nét đặc trưng của văn hoá Bắc Bộ: khu miệt vườn vải thiều Thanh Hà, nổi tiếng với cây vải tổ, làng Cò ( Chi Lăng Nam ) Thanh Niệm, Văn Miếu Mao Điền (huyện Cẩm Giàng ), gốm chu Đậu (huyện Nam Sách ) rất thuận tiện cho phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, du lịch đồng quê và tham quan nghiên cứu khoa học

2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn

Trên địa bàn tỉnh hiện nay có trên 1.098 di tích lịch sử văn hoá, trong đó có 133 di tích đã được Nhà nước xếp hạng, bao gồm các đình, đền, chùa, phủ với nét kiến trúc độc đáo, có sự giao thoa của kiến trúc cổ và kiến trúc hiện đại, giữa kiến trúc Phương Đông và

Trang 18

Phương Tây Đặc biệt, các di tích lịch sử văn hoá đều gắn với các lễ hội truyền thống văn hoá dân gian, đây là tài nguyên du lịch nhân văn lớn, là động lực và thế mạnh cho du lịch Hải Dương phát triển

Ngoài các di tích lịch sử văn hoá, các lễ hội truyền thống văn hoá dân gian, tài nguyên du lịch Hải Dương còn được thể hiện qua các làng nghề truyền thống trong tỉnh, các giá trị văn hoá phi vật thể cùng truyền thống canh tác lâu đời của người dân vùng đồng bằng Châu thổ sông Hồng, tất cả làm cho nguồn tài nguyên du lịch của Hải Dương thêm phong phú và là điều kiện thuận lợi cho phát triển các loại hình du lịch

Hiện nay, tài nguyên du lịch của Hải Dương đã được cải thiện một cách căn bản về

hạ tầng giao thông, điện nước, vệ sinh môi trường và an ninh trật tự Một số dự án lớn đã được triển khai thực hiện và hoàn chỉnh như dự án mạng lưới giao thông khu Côn Sơn – Kiếp Bạc, Đền thờ Chu Văn An, đường lên núi An Phụ, đường giao thông dẫn đến Đảo cò ở Chi Lăng Nam- Thanh Miện, Dự án kè hồ Côn Sơn đã ngày càng tạo cho Hải Dương những sản phẩm du lịch có tính háp dẫn du khách ngày càng cao hơn

2.3 Điều kiện sẵn sàng đón tiếp khách

* Cơ sở lưu trú du lịch

Các cơ sở lưu trú du lịch phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng Năm 2000

cả tỉnh có 26 cơ sở lưu trú du lịch, trong đó, chỉ có 1 khách sạn 2 sao, 1 khách sạn 1 sao; đến năm 2004 cả tỉnh có 60 cơ sở lưu trú du lịch được phân loại, xếp hạng, với tổng số 1.500 phòng, trong đó, có 1050 phòng đạt tiêu chuẩn Có 6 khách sạn xếp hạng

2 sao, 6 khách sạn xếp hạng 1 sao Năm 2005 trên địa bàn của tỉnh đã có một khách sạn đạt tiêu chuẩn 4 sao đi vào hoạt động

* Kinh doanh lữ hành

Các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành trên địa bàn tỉnh đã trú trọng đẩy mạnh công tác thị trường, xây dựng các chương trình du lịch hấp dẫn nâng cao chất lượng hiệu quả kinh doanh Đến hết năm 2004 toàn tỉnh có 7 doanh nghiệp kinh doanh lữ hành nội địa, 15 doanh nghiệp vận chuyển hành khách Hoạt động vận chuyển khách

du lịch không chỉ chuyển biến về số lượng mà còn cả về chất lượng phương tiện phục

vụ được nâng cao hơn Năm 2000 toàn tỉnh có gần 200 xe kinh doanh vận chuyển

Trang 19

khách du lịch; đến năm 2004 đã có trên 500 xe đảm bảo chất lượng, tiện lợi và an toàn cho khách tham gia kinh doanh trong lĩnh vực này

CHương II: Thực trạng tiềm năng và kết quả hoạt động du lịch ở hải dương trong

những năm vừa qua

I/ thực trạng tiềm năng du lịch và quá trình khai thác sử dụng tiềm năng du lịch ở Hải Dương

1.thực trạng tiềm năng du lịch ở Hải Dương

Trang 20

văn hoá, khoa học kỹ thuật của tỉnh, nằm trên trục đường quốc lộ số 5, cách Hải Phòng 45

km về phía Đông và cách thủ đô Hà Nội 57 km về phía Tây Phía Bắc của tỉnh có 20 km quốc lộ 18 chạy qua, nối sân bay quốc tế Nội Bài ra biển ( qua cảng Cái Lân - Quảng Ninh ) Đường sắt Hà Nội – Hải Phòng chạy qua Hải Dương là cầu nối giữa thủ đô Hà Nội và các tỉnh phía Bắc ra các cảng biển Hơn nữa, Hải Dương nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc

Bộ ( Hà Nội – Hải Phòng - Quảng Ninh ), sẽ là thuận lợi cho Hải Dương tham gia mạnh mẽ vào phân công lao động trên phạm vi toàn vùng Bắc Bộ, đặc biệt là trao đổi hàng hoá với các tỉnh bạn, các thành phố lớn và xuất khẩu

Trong quy hoạch phát triển du lịch quốc gia, Hải Dương nằm trong không gian trung tâm du lịch Hà Nội và các vùng phụ cận thuộc vùng du lịch Bắc Bộ, với tiềm năng du lịch nổi trội như du lịch sinh thái, du lịch văn hoá, du lịch làng nghề độc đáo Mặt khác, Hải Dương gần vị trí trung tâm du lịch biển Hải Phòng, Hạ Long, có hệ thống đường bộ và hệ thống sông ngòi thuận lợi cho giao lưu phát triển kinh tế nói chung và phát triển du lịch nói riêng

1.2 Đặc điểm địa hình

Là tỉnh vừa có vùng đồng bằng vừa có đồi núi tạo cho Hải Dương có khả năng phát triển mạnh và đa dạng các sản phẩm nông, lâm nghiệp Vùng đồi núi của tỉnh chiếm khoảng 10% diện tích đất tự nhiên, còn lại là vùng đồng bằng chiếm 90% diện tích đất Địa hình của Hải Dương nghiêng và thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam Phía Đông của tỉnh có một

số vùng trũng, thường bị ảnh hưởng úng ngập vào mùa mưa Hệ thống sông ngòi của tỉnh khá dầy đặc, bao gồm hệ thống sông Thái Bình, sông Luộc và các trục Bắc Hưng Hải, có khả năng bù đắp phù sa cho đồng ruộng, đồng thời cũng là tuyến giao thông thuỷ, tạo điều kiện tốt cho việc giao lưu hàng hoá nội tỉnh cũng như với các tỉnh khác trong vùng Tuy nhiên, sông ngòi có nhiều cũng gây khó khăn trong việc đầu tư đắp đê phòng chống lụt bão

và ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất

Trang 21

không đồng đều, tập trung vào tháng 7 và tháng 8, dễ gây ảnh hưởng không tốt đến sản xuất

và dân sinh Độ ẩm không khí trung bình là từ 75 – 80%, các tháng có độ ẩm cao là tháng 7

và tháng 8, với độ ẩm trung bình là 80 – 86% Hải Dương mang đầy đủ những đặc thù của khí hậu nhiệt đới gió mùa: nóng ẩm, mưa nhiều và có 4 mùa rõ rệt: mùa xuân, mùa hạ, mùa thu, mùa đông Nhìn chung, khí hậu của Hải Dương thuận lợi cho môi trường sống của con người, sự phát triển của hệ sinh thái động, thực vật và thích hợp cho các hoạt động du lịch Đặc biệt điều kiện khí hậu vào mùa đông rất thuận lợi cho việc phát triển cây rau mầu thực phẩm, đặc biệt là khả năng trồng rau xuất khẩu

1.4 Đặc điểm đất đai, thổ nhưỡng, rừng và hệ sinh thái

1.4.1.Đặc điểm đất đai, thổ nhưỡng

- Đất đai

Đất ở Hải Dương chia làm 2 vùng rõ rệt: vùng đồng bằng chiếm 89% diện tịch tự nhiên, chủ yếu là đất phù sa sông Thái Bình, thuận tiện cho việc sản xuất nhiều loại cây trồng cho năng xuất cao Vùng đất đồi núi chiếm 11%diện tích tự nhiên nằm gọn ở phía Đông Bắc thuộc 2 huyện Chí Linh và Kinh Môn, vùng đất này nhìn chung nghèo chất dinh dưỡng, chủ yếu dành cho phát triển cây lấy gỗ, cây ăn quả như vải thiều, dứa, cây công nghiệp như lạc, chè

- khoáng sản

Khoáng sản không nhiều nhưng có một trữ lượng lớn với giá trị kinh tế cao là nguồn nguyên liệu quý giá để phát triển công nghiệp, đó là nguồn đá vôi có trữ lượng khoảng 200 triệu tấn đủ để sản xuất 4-5 triệu tấn xi măng/năm, nguồn cao lanh 40 vạn tấn, đất sét chịu lửa khoảng 80 triệu tấn

1.4.2 Rừng và hệ sinh thái

Trong những năm qua do phát triển kinh tế của tỉnh chưa theo quy hoạch thống nhất, việc khai thác đất, chặt phá rừng bừa bãi ở thượng nguồn đã tác động xấu tới điều kiện sinh thái của Hải Dương, ngoài ra việc sử dụng không hợp lý số lượng không nhỏ thuốc trừ sâu, phân hoá học trong quá trình canh tác, đồng thời mức độ phát triển công nghiệp và quá trình

đô thị hoá tăng nhanh, chất thải ngày một nhiều đã ảnh hưởng rất lớn đến môi trường, môi sinh

Trang 22

Nhìn chung hệ sinh thái của tỉnh Hải Dương ngày một bị xâm phạm, tính cân bằng đang bị phá vỡ Vì vậy, vấn đề trước mắt cần giải quyết ngay là: phải có chính sách hữu hiệu bảo

vệ và chăm sóc diện tích rừng hiện có và nhanh chóng phủ xanh đất trống đồi núi trọc còn lại Thực hiện tốt việc quản lý, bảo vệ môi trường để duy trì và làm giầu tài nguyên đất

1.5 Tài nguyên nước

Nguồn nước tại Hải Dương khá phong phú, hệ thống sông ngòi khá dầy đặc với các sông lớn là sông Hồng, sông Thái Bình, sông Luộc, sông Kinh Thầy Ngoài ra, trên lãnh thổ Hải Dương còn có rất nhiều ao hồ được phân bố rộng khắp trên khắp địa bàn tỉnh

1.6 Tài nguyên du lịch tự nhiên

Phần lớn đất đai của Hải Dương thuộc đồng bằng Bắc Bộ, ở phía Đông Bắc có 2 huyện niềm núi, tuy không rộng lớn nhưng có cảnh quan đa dạng Vùng Chí Linh núi đồi trùng điệp cao không quá 700m, rừng cây xanh tốt, rất thuận lợi cho việc xây dựng những công trình văn hoá Vùng Kinh Môn có nhiều núi đá vôi, có những hang động kỳ thú, nơi còn di tích của con người từ thời đại đồ đá mới Cách đây hàng ngàn năm, dân tộc ta đã quan tâm tới 2 vùng cảnh quan đặc biệt này Côn Sơn, Thanh Mai thế kỷ 14 đã trở thành Trung tâm của thiền phái Trúc Lâm, đến thế kỷ 17, Kính Chủ trở thành động nổi tiếng của đất nước, nơI để lại bút tích của danh nhân thời đại

Hải Dương có địa hình khá bằng phẳng, cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn với những cánh đồng lúa tốt tươi, những dòng sông lớn, môi trường tự nhiên khá trong sạch Nhiều làng quê trù phú mang đậm nét đặc trưng của làng quê vùng đồng bằng Bắc Bộ Du lịch sinh tháI, nghỉ dưỡng, du khảo đồng quê, tham gia nghiên cứu khao học Các tài nguyên du lịch tự nhiên thường gắn với tài nguyên du lịch nhân văn Một số tài nguyên du lịch tự nhiên tiêu biểu xin được dẫn ra sau đây

1.6.1 Khu danh thắng Phượng Hoàng – Kỳ Lân

Khu danh thắng thuộc xã Văn An, huyện Chí Linh Phượng Hoàng là khu danh thắng có rừng thông bát ngát, suối trong róc rách, núi đá lô xô, chùa tháp cổ kính, khu danh thắng có tới 72 ngon núi ngoạn mục, có mộ và đền thờ Chu Văn An một người thầy tiêu

Trang 23

biẻu cho tài coa đức trọng của nền giáo dục Viêt Nam Có chùa Huyền Thiên, cung Tử Cục, điện Lưu Quang, am Lệ Kỳ, miết Trí và giếng Soi

Khu thắng cảnh này rất thích hợp cho du lịch dã ngoại, vãn cảnh, leo núi, thăm di tích lịch sử

1.6.2 Khu di tích danh thắng Côn Sơn

Khu di tích ở xã Cộng Hoà, huyện Chí Linh, nằm giữa 2 dãy núi Phượng Hoàng –

Kỳ Lân, cách Hà Nội khoảng 70km

Khu di tích danh thắng này có nhiều núi, chùa, tháp, rừng thông, khe suối và các di tích gắn liền với cuộc đời của danh nhân lịch sử Ngay từ thời Trần chùa Côn Sơn là 1 trong

3 Trung tâm của thiền phái Trúc Lâm ( Côn Sơn – Yên Tử – Quỳnh Lâm ) Mảnh đất này đã gắn bó với tên tuổi và sự nghiệp của nhiều danh nhân đất Việt như Trần Nguyên Đán, Huyền Quang và đặc biệt là anh hùng dân tộc – danh nhân văn hoá thế giới Nguyễn Trãi Ngày nay, Côn Sơn còn lưu giữ được nhiều dấu tích văn hoá thời Trần và các giai đoạn lịch

sử của dân tộc

* Giếng Ngọc

Giếng ngọc nằm ở núi Kỳ Lân, bên phải lối lên Bàn Cở Tiên, phía dưới chân Đặng Minh Bảo Tháp Tương truyền đây là giếng do Thiền sư Huyền Quang được thần linh báo mộng ban cho chùa nguồn nước quý Nước giếng trong vắt xanh mát quanh năm, uống vào thấy khoan khoái dễ chịu Từ đó có tên gọi là Giếng Ngọc và nước ở đây được các sư dùng làm nước cúng lễ của chùa

* Bàn Cờ tiên

Từ chùa Côn Sơn leo khoảng 600 bậc đá là đến đỉnh núi Côn Sơn Đỉnh Côn Sơn là một khu đất bằng phẳng, tục gọi là Bàn Cờ Tiên có dùng nhà bia theo kiểu Vong Lâu Đình, hai tầng cổ các có 8 mái Đứng từ đây, du khách có hể nhìn bao quát cả một vùng rộng lớn

* Thạch Bàn

Bên suối Côn sơn có một phiến đá gọi là Thạch Bàn, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh dừng chân nghỉ tại đây khi Người đến thăm di tích này Từ chân núi đi theo lối mòn có kê đá xuống phía chân núi có một tảng đá lớn, mặt phẳng và nhẵn nằm kề ven suối gọi là Thạch

Trang 24

Bàn lớn Tương truyền khi xưa Nguyên Trãi lấy làm “chiếu thảm” nghỉ ngơi, ngắm cảnh, làm thơ và suy tư việc nước

1.6.3 Khu vực núi An Phụ

Đây là dãy núi nổi lên như một nón chóp khổng lồ xanh đậm một rừng cây, mờ ảo vài công trình kiến trúc giữa vùng đồng bằng phía bắc Hải Dương Núi còn nhiều những cây rừng thiên nhiên Đỉnh núi cao 246m Từ đỉnh núi người ta có thể nhìn bao quát về đồng bằng Hải Dương, nhìn thấy sông Kinh Thầy uốn khúc, thấy khu vực núi đá vôi Kinh Môn nên thơ Trên đỉnh núi là đền thờ An Sinh Vương Trần Liễu, tục gọi là Đền Cao, còn văn bia của An Phụ Sơn Từ với 2 giếng nước mang đầy cổ tích Mới đây, Bộ Văn hoá đã cho xây dựng một tượng đài Trần Hưng Đạo hoành tráng, những tấm phù điêu bằng gốm nung, bậc lên xuống bằng đá Việc điểm xuyết của con người đã khiến cho khu vực núi An Phụ

có sức hấp dẫn lớn đối với du khách

1.6.4 Khu hang động Kính Chủ và vùng núi đá vôi Dương Nham( Kinh Môn)

Nằm về phía bắc của đỉnh Yêu Phụ, trong dãy Dương Nham như một hòn Non bộ khổng lồ giữa mênh mông sóng lúa của thung lũng Kinh Thầy Phía Bắc Dương Nham dòng sông lượn sát chân núi, sơn thuỷ hữu tình, phía tây Nam Dương Nham là làng quê cổ Kính Chủ – quê hương của những người thợ đá xứ Đông, sườn phía Nam Dương Nham có mộit động lớn gọi là động Kính Chủ ( hay động Dương Nham ), đã được xếp vào hàng Nam Thiên

Khu núi đá vôi Dương Nham và động Kính Chủ còn gắn liền với các trang lịch sử hào hùng của dân tộc chống quân Nguyên, vùng núi đá nơi Dương Nham còn gắn liền với lịch sử hình thành người Việt cổ, cảnh đẹp nơi đây rất hấp dẫn đối với khách du lịch

1.6.5 Khu Lục Đầu Giang – Tam Phủ Nguyệt Bàn

Đây là một khu vực sông trải dài sát với các hệ thống di tích của Kinh Bắc Trên khúc sông này

có khu vực bãi bồi gắn liền với các truyền thuyết đánh quân Nguyên nơi có hội Bình Than

1.6.6 Khu miệt vườn vải thiều Thanh Hà

Là một miệt vườn nổi tiếng với cây Vải Tổ Giống vải ở đây ngọt và rất có giá trị với nhân dân

ta và khách du lịch Sản phẩm từ vải cũng được chế biến một cách sinh động, Rượu vải, vải khô, vải “ tham gia ” làm vị thuốc Vùng vải thiều này hiện thời được trải rất rộng bám dòng sông Hương ( Thanh

Hà kỳ thú, thơ mộng

Trang 25

1.6.7.Làng cò ( Chi Lăng Nam Thanh Miện)

Làng Cò thuộc xã Chi Lăng, huyện Thanh Miện Gọi là làng Cò vì làng có một đảo nhỏ nằm giữa hồ vực rộng mênh mông với hàng vạn con cò về đây trú ngụ, xây tổ Trên đảo có tới 9 loài cò, cò trắng, cò lửa, cò bộ, cò ruồi, cò đen, cò hương, cò nghênh, cò ngang, diệc Ngoài ra trên đó còn có tới

ba, bốn ngàn loài Vạc và các loại chim quý hiếm như Bồ Nông, Mòng Két, Le Le cùng trú ngụ ở nơi đây Đến đây vào lúc hoàng hôn hay sớm mai là lúc

“ giao ca ” thú vị giữa cò và vạc trong cuộc sống mưu sinh hàng ngày

1.6.8 Khu Ngũ Nhạc Linh Từ – Lê Lợi, Chí Linh

Khu vực đền Ngũ Nhạc là nơi thờ Sơn Thần theo tín ngưỡng người Việt cổ Trước đây đã từng có 5 miếu nhỏ trên 5 đỉnh núi, được tôn tạo từ thời Nguyễn Những công trình này đều mang tính cổ xưa và gắn với phong cảnh núi non

1.6.9 Khu rừng Thanh Mai

Một khu vực rừng Thanh Mai gắn liền với những đền chùa, một trong những quê hương của Trúc Lâm Tam Tử

1.6.10 Thiên nhiên của nền văn hoá lúa nước

Dường như mật độ các dòng sông và một hệ thống đình, đền, chùa được bố cục dày đặc trên toàn tỉnh Những đình, đền, chùa này đều gắn liền với cây đa, bến nước hoặc những dòng sông, bến đò luôn luôn tạo nên những cảnh đẹp dễ gây ấn tượng đối với du khách Phải chăng trong mỗi người dân Việt Nam hình ảnh về cây đa, bến nước, sân đình đã gần như trở thành một biểu tượng của Văn hoá Việt

1.6.11 Mỏ nước khoáng ở Thạch Khôi

Đây là một mỏ nước nóng đã từng là nguồ để tạo nên nước khoáng Nhiệt độ nóng đến mức tương đối vừa phải và được sử dụng để chữa bệnh Cần thiết phải có nghiên cứu sâu hơn về nguồn nước ở khu vực này để khai thác vì mỏ nước khoáng này rất gần thành phố Hải Dương

1.7 Tài nguyên du lịch nhân văn

1.7.1 Tài nguyên du lịch văn hoá vật thể

* Các di tích lịch sử văn hoá, cách mạng

Trang 26

Qua nghiên cứu cho thấy các di tích lịch sử văn hoá, lễ hội truyền thống, văn hoá dân gian chính là động lực, thế mạnh để phát triển du lịch của Hải Dương Vùng đất này đã để lại rất nhiều những dấu tích lịch sử, văn hoá từ thời dựng nước đến lịch sử cận hiện đại hết sức sống động

Hải Dương là một vùng đất sớm phát triển và giàu truyền thống lịch sử, văn hoá Trên địa bàn tỉnh có 1.098 di tích lịch sử – văn hoá được kiểm kê đăng ký bảo vệ với 133 di tích được xếp hạng quốc gia Các di tích này được trải rộng trên phạm vi toàn tỉnh Nhiều di tích có giá trị có thể khai thác để phục vụ du lịch, tiêu biểu như, quần thẻ di tích văn hoá - lịch sử Trần Hưng Đạo và di tích Kiếp Bạc, khu di tích danh thắng Côn Sơn Các di tích lịch

sử văn hoá và danh thắng tiêu biểu của Hải Dương đều có những nét kiến trúc độc đáo, có

sự giao thoa của các kiến trúc cổ và hiện đại, kiến trúc phươg Đông và phương Tây Đặc biệt tại Hải Dương các di tích văn hoá lịch sử đều gắn liền với các lễ hội

Hải Dương là vùng đất trù phú, cảnh quan đa dạng, là nơi có nhiều di tích lịch sử, văn hoá và dah thắng Mặc dù Hải Dương hiện so với thừa tuyên Hải Dương thời Lê Sơ hay tỉnh Hải Dương khi mới thành lập, năm Minh Mệnh 12 (1831) diện tích chỉ còn 1.661 km2, bằng 50 % diện tích cũ với 11/18 huyện, đồng thời bị hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ tàn phá nặng nề cộng với những biến động của thiên nhiên và xã hội, số di tích hiện còn cũng không nhỏ so với tổng số di tích của quốc gia đã được đăng ký, trong đó, có những di tích được xếp hạng vào loại đặc biệt quan trọng Hiện nay, ở Hải Dương đã có 1.098 di tích được kiểm kê, đăng ký, bảo vệ theo quy định của Pháp lệnh về bảo vệ, bảo tồn,

133 di tích và cụm di tích được xếp hạng quốc gia, bằng 4 % số di tích được xếp của cả nước Trong số những di tích đã được xếp hạng có 47 đình, 28 chùa, 19 đền, 4 miếu và nghè, 1 nhà thờ họ, 1 cầu đá, 4 di tích về lịch sử cách mạng, 5 danh thắng, 7 lăng mộ, 1 miếu, trong đó có 2 di tích sếp vào hạng đặc biệt quan trọng là Côn Sơn – Kiếp Bạc

Thành phố Hải Dương

Hải Dương thành phố trẻ của thời kỳ đổi mới, trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa - thể thao của tỉnh; có cơ sở hạ tầng đồng bộ, nhà văn hóa trung tâm, nhà thi đấu lớn, đúng quy cách, giao thông thuận tiện, dịch vụ công cộng đầy đủ, hệ thống khách sạn nhà hàng với

Trang 27

đầy đủ tiện nghi và các dịch vụ phụ trợ đáp ứng mọi nhu cầu cao của du khách, là nơi lý tưởng để tổ chức các hội nghị hội thảo, các giải thể thao lớn trong nước và quốc tế Bên cạnh đó, Thành phố Hải Dương còn có nhiều di sản văn hóa lịch sử được xếp hạng quốc gia như khu di tích Đinh Văn Tả, đình- đền- chùa Bảo Sài, đền- đình Sượt, đình- chùa Đồng Niên, đình Ngọc Uyên, đình Tự Đông đặc biệt là Bảo tàng cách mạng, nơi lưu giữ nhiều di sản văn hóa của dân tộc từ thời vua Hùng dựng nước, thời Đinh- Lê- Lý- Trần tới thời đại Hồ Chí Minh với 20.000 cổ vật trong đó có trống đồng Hữu Chung được xếp vào loại số một quốc gia, đến thăm bảo tàng cách mạng Hải Dương du khách sẽ thấy đựơc những tinh hoa văn hóa, những chiến công hiển hách của dân tộc Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử Thành phố Hải Dương còn là nơi dừng chân lý tưởng để du khách thực hiện các tour du lịch đến những điểm di tích lịch sử, văn hóa, thắng cảnh nổi tiếng

- Trần Hưng Đạo và di tích Kiếp Bạc

Kiếp Bạc từ lâu đã trở thành “ điển tích ”của lịch sử và mỗi khi nhắc đến sự kiện này chẳng khác nào như một tiếng chuông cảnh tỉnh và làm xúc động lòng người nhớ về một thời oanh liệt, một anh hùng dân tộc, về những ngày hội truyền thống và như nhắc nhở đến nghĩa vụ của mỗi người dân đất Việt đối với giang sơn, đất nước

Kiếp Bạc thuộc hương Vạn Kiếp, Lạng Giang thời Trần, đến thời Nguyễn thuộc địa phận hai xã Vạn Yên ( làng Kiếp) thuộc Tổng Trạm Điền và xã Dược Sơn ( làng Bạc) Tổng Chi Ngại, nay thuộc xã Hưng Đạo, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương

Kiếp Bạc có dãy núi Rồng hình tay ngai bao lấy một thung lũng trù phú và thơ mộng, bảo lưu nhiều di tích quý báu và truyền thuyết ly kỳ về Trần Hưng Đạo Đông Nam Kiếp Bạc tiếp giáp vùng núi Phả Lại Phượng Hoàng, Côn Sơn là những nơi có di tích lịch sử và danh thắng nổi tiếng từ thời Lý – Trần Nay tại Phả Lại mọc lên nhà máy nhiệt điện khổng

lồ làm cảnh quan thêm hoành tráng Xa hơn một chút là đền thờ Phiêu Kỵ Đại tướng quân Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư, tục còn gọi là đền Gốm, bên bờ vụng Trần Xá - nơi họp hội nghị Vương Hầu Phía Tây sang sông Thương – một nhánh của sông Lục Đầu mà thời Trần còn có tên là sông Bình Than Giữa sông có một dải đất hẹp và dải gọi là Cồn Kiếm Dân gian cho rằng, đó là thanh kiếm của Trần Hưng Đạo sau khi dẹp xong giặc ngoại xâm

để nhắc nhở đời sau luôn cảnh giác trước hoạ xâm lăng Phía bắc, thung lũng Vạn Yên rộng

Ngày đăng: 13/02/2014, 13:59

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w