LÊ VĂN CƯỜNGGIẢI PHÁP MARKETING NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC VẬN CHUYỂN HÀNG HÓA CỦA TỔNG CÔNG TY HÀNG KHÔNG VIỆT NAM Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh Mã số: 60.3
Trang 1LÊ VĂN CƯỜNG
GIẢI PHÁP MARKETING NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC VẬN CHUYỂN HÀNG HÓA CỦA
TỔNG CÔNG TY HÀNG KHÔNG VIỆT NAM
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 60.34.05
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI – NĂM 2012
Trang 2Người hướng dẫn khoa học:
TS NGUYỄN THỊ HOÀNG YẾN
Phản biện 1: ………
………
Phản biện 2: ………
………
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ tại Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông Vào lúc: giờ ngày tháng năm
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Thư viện của Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông
Trang 3MỞ ĐẦU
Trong xu thế hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, Tổng công ty hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines) sẽ phải chịu áp lực cạnh tranh rất mạnh mẽ từ cả các công ty hàng không trong nước và ngoài nước Các Hãng hàng không sẽ có quyền mở rộng tuyến bay, đường bay theo khả năng Sự phát triển mạnh mẽ trong thời gian qua của các loại hình vận chuyển hàng không giá rẻ như Tiger Airways (Singapore), Air Asia (Malaysia), Lion Air (Indonesia), và Jetstar Pacific (Việt Nam) là những nhân tố cạnh tranh mới trên thị trường dịch vụ hàng không tại Việt Nam và họ đang khai thác tích cực phân đoạn thị trường của mình
Nhận thức được điều này, tôi đã chọn đề tài “Giải pháp marketing nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực vận chuyển hàng hóa của Tổng công ty hàng không Việt Nam” cho luận văn tốt
nghiệp chương trình Thạc sỹ Quản trị kinh doanh của mình Tôi cũng hy vọng công trình nghiên cứu này sẽ đáp ứng được nhu cầu cấp thiết của Vietnam Airlines trong giai đoạn hiện nay, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh cho Vietnam Airlines
Mục đích của luận văn nhằm vào các vấn đề sau:
- Hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, những vấn đề chung về marketing và vai trò của marketing trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
- Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh và đánh giá các hoạt động marketing của Vietnam Airlines trong lĩnh vực vận chuyển hàng hóa
- Đề ra các giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Vietnam Airlines trong lĩnh vực vận chuyển hàng hóa
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 3 chương được kết cấu như sau:
Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về năng lực cạnh tranh và Marketing trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh và hoạt động Marketing trong lĩnh vực kinh doanh vận chuyển hàng hóa của Tổng công ty Hàng không Việt Nam
Chương 3: Một số giải pháp Marketing nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh vận chuyển hàng hóa của Tổng công ty Hàng không Việt Nam
Trong quá trình thực hiện tác giả đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô trong khoa Quốc tế và Sau Đại Học - Học Viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông Nhân dịp này tác giả xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô trong Khoa, đặc biệt là cô giáo hướng dẫn – TS Nguyễn Thị Hoàng Yến
đã theo sát, tận tình chỉ bảo và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Trang 4CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ MARKETING TRONG VIỆC
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP
Chương 1 giới thiệu chung về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh; các vấn đề cơ bản về marketing và vai trò của marketing trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.1 CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH
1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh
Khái niệm cạnh tranh có thể hiểu như sau: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản để giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch” Với cách tiếp cận này, mục tiêu cuối cùng của cạnh tranh là lợi nhuận siêu ngạch của nhà
tư bản thông qua việc đấu tranh để tận dụng và khai thác các điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa
1.1.2 Năng lực cạnh tranh
1.1.2.1 Khái niệm
Theo báo cáo về khả năng cạnh tranh toàn cầu của WEF (1997) thì năng lực cạnh tranh được hiểu là khả năng, năng lực mà doanh nghiệp có thể duy trì vị trí của họ một cách lâu dài và có ý chí trên thị trường cạnh tranh, bảo đảm thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận ít nhất bằng tỷ lệ đòi hỏi tài trợ những mục tiêu của doanh nghiệp, đồng thời đạt được những mục tiêu của doanh nghiệp đặt ra Năng lực cạnh tranh có thể chia làm 3 cấp: năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ
Ba cấp độ của năng lực cạnh tranh gồm:
- Năng lực cạnh tranh quốc gia
Năng lực cạnh tranh quốc gia là năng lực của một nền kinh tế đạt được tăng trưởng bền vững, thu hút được đầu tư, bảo đảm ổn định kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống người dân
- Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được đo bằng khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong và ngoài nước Một doanh nghiệp có thể kinh doanh một hay nhiều sản phẩm dịch vụ, vì vậy, người ta còn phân biệt năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp với năng lực cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ
- Năng lực cạnh tranh của sản phẩm
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ được đo bằng thị phần của sản phẩm hay dịch vụ trên thị trường
Trang 51.1.2.2 Phân biệt năng lực cạnh tranh và lợi thế cạnh tranh
Lợi thế cạnh tranh của một doanh nghiệp là lợi thế mà doanh nghiệp đó có được so với các đối thủ cạnh tranh bằng cách cung cấp cho khách hàng giá trị cao hơn, thông qua việc chào giá thấp hơn hay bằng cách cung cấp cho khách hàng các lợi ích cao hơn của đối thủ cạnh tranh
Như vậy, điểm khác biệt cơ bản giữa lợi thế cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp
là lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp là những thế mạnh riêng có của doanh nghiệp đó, còn năng lực cạnh tranh là khả năng doanh nghiệp vận dụng các nguồn lực vào hoàn cảnh và môi trường cụ thể
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng và các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.1.3.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bao gồm:
- Trình độ tổ chức quản lý của doanh nghiệp: Tổ chức quản lý tốt là áp dụng phương pháp quản lý hiện đại đã được doanh nghiệp của nhiều nước áp dụng thành công như phương pháp quản lý theo tình huống, quản lý theo tiếp cận quá trình và tiếp cận hệ thống, quản lý theo chất lượng
- Yếu tố nguồn lực của doanh nghiệp bao gồm nguồn nhân lực, nguồn vốn và trình độ khoa học công nghệ
- Trình độ công nghệ: Sử dụng công nghệ hiện đại giúp doanh nghiệp tăng năng suất lao động, giảm giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm, do đó làm cho năng lực cạnh tranh của sản phẩm tăng
- Năng lực cạnh tranh của sản phẩm: là khả năng sản phẩm đó bán được nhiều và nhanh chóng trên thị trường có sản phẩm tương tự Nó bị ảnh hưởng bởi các yếu tố: chất lượng, giá cả, thời gian cung cấp, dịch
vụ đi kèm, điều kiện mua bán, danh tiếng và uy tín…
- Khả năng liên kết và hợp tác với doanh nghiệp khác và hội nhập kinh tế quốc tế
- Năng suất sản xuất kinh doanh: Năng suất có liên quan đến việc sử dụng toàn bộ tài nguyên không chỉ bao gồm vấn đề chất lượng, chi phí giao hàng mà còn bao gồm cả những vấn đề rộng hơn như là vấn đề môi trường, xã hội…
- Uy tín, thương hiệu của doanh nghiệp được hình thành trong cả một quá trình phấn đấu lâu dài, kiên trì theo đuổi mục tiêu và chiến lược đúng đắn
1.1.3.2 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Dưới đây là một số yếu tố chủ yếu thường được xem xét khi đánh giá về năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp
- Tổ chức của doanh nghiệp và phân công trách nhiệm
- Trình độ của đội ngũ lãnh đạo
- Tỷ lệ nhân viên, công nhân lành nghề
- Sáng kiến, cải tiến, đổi mới được ứng dụng vào sản xuất kinh doanh
- Chất lượng cơ sở vật chất, kỹ thuật
- Chất lượng sản phẩm
- Thị phần của doanh nghiệp
Trang 6- Năng suất lao động của doanh nghiệp
- Giá trị vô hình của doanh nghiệp
1.1.3.3 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của một hãng hàng không
Các tiêu chí dùng để đánh giá năng lực cạnh tranh của một hãng hàng không bao gồm:
- Thị phần
- Sản phẩm vận chuyển hàng hóa
- Giá cước vận chuyển
- Kênh phân phối
- Hoạt động bán và tiếp thị
1.1.4 Các mô hình lý thuyết phân tích năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.1.4.1 Ma trận SWOT
Ma trận SWOT là một công cụ rất hữu dụng cho việc nắm bắt và ra quyết định trong mọi tình huống đối với bất cứ tổ chức nào
Ma trận SWOT phân tích năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp ở những điểm sau:
- Điểm mạnh: Phân tích điểm mạnh của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp khác trên thị trường
- Điểm yếu: Phân tích các điểm yếu, tồn tại, hạn chế của doanh nghiệp
- Cơ hội: Phân tích cơ hội mà doanh nghiệp có thể đạt được xuất phát từ các yếu tố vi mô và vĩ mô
- Thách thức: Phân tích những trở ngại mà doanh nghiệp có thể gặp
1.1.4.2 Mô hình 5 lực lượng cạnh tranh của Michael Porter
Michael Porter đã đưa ra mô hình năm lực lượng cạnh tranh gồm: Cường độ cạnh tranh giữa các đối thủ hiện tại trong ngành, Nguy cơ gia nhập của các đối thủ tiềm năng, Mối đe dọa từ các sản phẩm có khả năng thay thế, Sức mạnh của người mua, và Sức mạnh của nhà cung ứng
Ưu điểm của mô hình 5 lực lượng là nó cho phép phân tích đầy đủ các áp lực tác động đến doanh nghiệp từ các đối thủ cạnh tranh, các nhà cung cấp, các đối thủ tiềm ẩn, đến khách hàng cũng như các sản phẩm thay thế sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ MARKETING VÀ VAI TRÒ ĐỐI VỚI VIỆC NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP
1.2.1 Một số vấn đề chung về marketing
1.2.1.1 Khái niệm
Theo P Kotler, Marketing là một quá trình quản lý mang tính xã hội, nhờ đó mà các cá nhân và tập thể có được những gì họ cần và mong muốn thông qua việc tạo ra, chào bán và trao đổi những sản phẩm có giá trị với những người khác [8] Định nghĩa này của Philip Kotler dựa trên những khái niệm cối lõi như nhu cầu, mong muốn
và yêu cầu, sản phẩm, giá trị, chi phí và sự hài lòng, trao đổi, giao dịch và các mối quan hệ, thị trường, Marketing và những người làm Marketing
1.2.1.2 Các quan điểm quản trị marketing
Hiện có 5 quan điểm định hướng phát triển Marketing mà các tổ chức thường vận dụng trong hoạt động Marketing
Trang 7- Quan điểm tập trung vào sản xuất Quan điểm định hướng sản xuất cho rằng người tiêu dùng sẽ ưa thích
nhiều sản phẩm được bán rộng rãi với giá hạ Vì vậy, những nhà quản trị các doanh nghiệp cần phải tập trung vào việc tăng quy mô sản xuất và mở rộng phạm vi tiêu thụ Như vậy, theo quan điểm này, điểm mấu chốt quyết định thành công của doanh nghiệp là số lượng sản phẩm sản xuất ra nhiều và mức giá bán thấp
- Quan điểm tập trung vào hoàn thiện sản phẩm Quan điểm này cho rằng người tiêu dùng luôn ưa thích
những sản phẩm có chất lượng cao nhất, nhiều công dụng và tính năng mới Các nhà quản trị doanh nghiệp muốn thành công phải luôn tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao và thường xuyên cải tiến chúng Như vậy, theo quan điểm này, yếu tố quyết định sự thành công đối với một doanh nghiệp chính là vai trò dẫn đầu về chất lượng và đặc tính sản phẩm hiện có
- Quan điểm tập trung vào bán hàng Quan điểm này khẳng định, người tiêu dùng thường bảo thủ, có sức
ù với thái độ ngần ngại trong việc mua sắm hàng hóa Vì vậy, để thành công doanh nghiệp cần tập trung mọi nguồn lực và sự cố gắng vào việc thúc đẩy tiêu dùng và khuyến mãi Theo quan điểm này, yếu tố quyết định sự thành công của một doanh nghiệp là tìm mọi cách để tăng tối đa khối lượng sản phẩm tiêu thụ từ những sản phẩm được sản xuất
ra Từ đó, quan điểm này đã khuyến cáo các nhà quản trị doanh nghiệp, phải đầu tư nhiều hơn cho khâu tiêu thụ và khuyến mãi, phải tạo ra các cửa hàng hiện đại, phải huấn luyện được đội ngũ bán hàng biết lôi kéo và thuyết phục
khách hàng
- Quan điểm Marketing Quan điểm Marketing khẳng định, chìa khóa để đạt được những mục tiêu trong
kinh doanh của doanh nghiệp là phải xác định đúng những nhu cầu và mong muốn của thị trường (khách hàng) mục tiêu, từ đó, tìm mọi cách đảm bảo sự thỏa mãn nhu cầu và mong muốn bằng những phương thức có ưu thế hơn so với đối thủ cạnh tranh.Có thể nói quan điểm Marketing là một tư duy kinh doanh mới của doanh nghiệp: tư duy hướng tới khách hàng
- Quan điểm Marketing đạo đức xã hội Đây là quan điểm xuất hiện gần đây nhất, nó được xem là quan
điểm Marketing hiện đại Quan điểm này khẳng định: nhiệm vụ của doanh nghiệp là xác định đúng đắn những nhu cầu, mong muốn và lợi ích của các thị trường mục tiêu trên cơ sở đó đảm bảo thỏa mãn nhu cầu và mong muốn đó một cách hữu hiệu và hiệu quả hơn các đối thủ cạnh tranh, đồng thời bảo toàn hoặc củng cố mức sống sung túc của người tiêu dùng và xã hội Quan điểm này đòi hỏi phải kết hợp hài hòa giữa 3 lợi ích: lợi ích khách hàng, lợi ích doanh nghiệp và lợi ích xã hội
1.2.2 Vai trò của Marketing đối với việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Vai trò của marketing đối với việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện ở các điểm sau:
- Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bằng cách tạo ra các mối quan hệ
- Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bằng cách khuyến khích sự phát triển và đưa ra những cái mới
- Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bằng việc nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh
Trang 81.3 Một số kinh nghiệm về việc ứng dụng marketing nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Tác giả muốn đưa ra một số ví dụ cụ thể về việc áp dụng marketing nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, cụ thể là của một số hãng hàng không trên thế giới
- Kinh nghiệm về nâng cao chất lượng sản phẩm của Singapore Airlines
- Kinh nghiệm về linh hoạt giá bán của Air Asia
- Kinh nghiệm về phát triển kênh phân phối của Cargo Lux
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 nhằm hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, các vấn đề chung về marketing và vai trò của marketing đối với việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Những lý luận đó sẽ là nền tảng để nhìn nhận, đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của Vietnam Airlines trong lĩnh vực vận chuyển hàng hóa và đưa ra các giải pháp tốt nhất sẽ được trình bày trong hai chương tiếp theo
Trang 9CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ HOẠT ĐỘNG MARKETING TRONG LĨNH VỰC VẬN CHUYỂN HÀNG HÓA CỦA TỔNG CÔNG TY HÀNG KHÔNG VIỆT NAM
Chương 2 sẽ phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh, những nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh dịch vụ vận chuyển hàng hóa của Tổng công ty hàng không Việt Nam Tiếp đó, chương 2 sẽ phân tích
và đánh giá thực trạng hoạt động marketing trong lĩnh vực vận chuyển hàng hóa của Tổng công ty hàng không Việt Nam
2.1 TỔNG QUÁT VỀ TỔNG CÔNG TY HÀNG KHÔNG VIỆT NAM
2.1.1 Giới thiệu chung về Tổng công ty hàng không Việt Nam
Tổng công ty Hàng không Việt Nam được thành lập theo Quyết định số 225/CT ngày 22/08/1989 của chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, là một đơn vị kinh tế quốc doanh được tổ chức theo điều lệ liên hiệp xí nghiệp, trực thuộc Tổng cục Hàng không dân dụng Việt Nam
2.1.2 Ngành nghề kinh doanh của Tổng công ty hàng không Việt Nam
Tổng công ty hàng không Việt Nam hoạt động theo mô hình tổ chức mới, lấy kinh doanh vận tải hàng không làm chủ đạo, đồng thời phát triển các lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh đa dạng khác thông qua cấu trúc mẹ con và quan điểm hiệu quả đầu tư Chiến lược của Tổng công ty là tập trung chủ yếu vào kinh doanh vận tải hàng không và các dịch vụ đồng bộ, đồng thời đầu tư vốn vào các hoạt động kinh doanh khác
có cơ hội sinh lời
Các lĩnh vực kinh doanh của Tổng công ty hàng không Việt Nam gồm:
- Vận tải hàng không: Đây là lĩnh vực kinh doanh chính
- Các lĩnh vực kinh doanh ngoài dây chuyền vận tải: Đó là các lĩnh vực như xăng dầu, xuất nhập khẩu, thương mại tổng hợp, nhựa cao cấp, in, khảo sát thiết kế,…
2.1.3 Thực trạng về tài sản và các nguồn lực của Tổng công ty hàng không Việt Nam
2.1.3.1 Mạng đường bay
Mặc dù vô hình, mạng đường bay là tài sản có giá trị nhất của Vietnam Airlines trong tổng giá trị công ty, có thể gấp nhiều lần giá trị của các tài sản hữu hình
Khởi đầu với những chuyến bay nội địa không thường lệ, ngày nay mạng đường bay của Vietnam Airlines đã mở rộng đến 20 tỉnh, thành phố trên cả nước và 40 điểm đến quốc tế tại Mỹ, Châu Âu, Úc và Châu Á
Nói chung, mặc dù còn những hạn chế do năng lực chủ quan của Vietnam Airlines, điều kiện hạ tầng
cơ sở, cơ chế của Nhà nước, trong những năm qua Vietnam Airlines đã phát triển được một mạng đường bay tương đối hoàn trình và có giá trị
2.1.3.2 Đội máy bay và hạ tầng kỹ thuật
Với mục tiêu đẩy mạnh hiện đại hóa công nghệ và kỹ thuật, trọng tâm là hiện đại hóa đội máy bay, đội tàu bay của Tổng công ty đã tăng từ 33 chiếc năm 2003 lên 78 chiếc theo thống kê đến tháng 9/2012, với
Trang 10các loại máy bay tiên tiến, hiện đại, cơ bản đảm bảo lực lượng khai thác, năng lực cạnh tranh và đáp ứng nhu cầu phát triển của thị trường
Vietnam Airlines vẫn có hạn chế ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của dịch vụ vận chuyển hàng
hóa, đó là chưa có máy bay chở hàng
2.2 SƠ LƯỢC VỀ THỊ TRƯỜNG VẬN CHUYỂN HÀNG HÓA BẰNG ĐƯỜNG HÀNG KHÔNG TRÊN THẾ GIỚI
Trong một vài năm gần đây, thị trường vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không trên thế giới đang suy giảm Năm 2011, số tấn hàng hoá vận chuyển trên toàn cầu đã giảm 3% so với cùng kỳ năm 2010 Một số nguyên nhân dẫn đến kết quả này là:
- Hậu quả của thảm họa kép sóng thần và động đất vào tháng 3/2011 tại Nhật Bản, tiếp theo là lũ lụt tại Thái Lan đã ảnh hưởng tới hoạt động vận chuyển hàng hoá năm 2011
- Nền kinh tế thế giới đi xuống làm cho mức đầu tư kinh tế suy giảm, điều này làm cho các mặt hàng thường vận chuyển bằng đường không tồn kho rất nhiều, nhu cầu của người tiêu dùng cũng giảm xuống
- Giá nhiên liệu tăng mạnh trong năm 2011 và những năm tiếp theo, điều này đi kèm với một số khoản phụ phí nhiên liệu dành cho hàng hoá vận chuyển bằng đường hàng không
2.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA TỔNG CÔNG TY HÀNG KHÔNG VIỆT NAM TRONG LĨNH VỰC VẬN CHUYỂN HÀNG HÓA
2.3.1 Phân tích các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của Tổng công ty hàng không Việt Nam trong lĩnh vực vận chuyển hàng hóa
2.3.1.1 Thị phần của Vietnam Airlines đối với dịch vụ vận chuyển hàng hóa
Thị phần vận chuyển hàng hóa của Vietnam Airlines trong những năm gần đây đang có xu hướng suy giảm Trong khi đó, thị phần của các đối thủ cạnh tranh chính có sự tăng trưởng đều đặn Sự suy giảm này có thể được lý giải bởi các nguyên nhân sau:
- Số lượng hãng hàng không mới tham gia vào thị trường Việt Nam đang tăng mạnh
- Tốc độ tăng tải cung ứng của Vietnam Airlines chưa tương ứng với tốc độ tăng của sản lượng hàng hóa vận chuyển bằng đường hàng không ở Việt Nam
2.3.1.2 Dịch vụ vận chuyển hàng hóa
Năng lực cạnh tranh của Vietnam Airlines trước hết được thể hiện qua sản phẩm vận chuyển hàng hóa của Vietnam Airlines so với các hãng hàng không cạnh tranh Chất lượng sản phẩm vận tải hàng hóa được phân tích qua nhóm các yếu tố sau:
- Sự an toàn của hàng hóa trong quá trình vận chuyển
- Thời gian vận chuyển hàng hóa
- Lịch bay của Vietnam Airlines
- Sự đa dạng của các sản phẩm vận chuyển