1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

0394 giải pháp nâng cao hiệu quả thanh toán quốc tế tại NHTM CP đông nam á luận văn thạc sĩ kinh tế

102 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 357,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤCTrang Lời cam đoan Chương 1: Những vấn đề cơ bản về thanh toán quốc tế và hiệu quả hoạt động thanh 3 toán quốc tế tại các Ngân hàng Thương mại 1.2.1 Quan niệm về hiệu quả và hiệu

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

Luận văn thạc sỹ kinh tế

Người hướng dẫn Khoa học: TS NGUYỄN VĂN DƯƠNG

HÀ NỘI - 2010

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan toàn bộ luận văn: “Giải pháp nâng cao hiệu quả

thanh toán quốc tế tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á” là

công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi, các số liệu trích dẫn được nêutrong luận văn có nguồn gốc rõ ràng Kết quả của luận văn là trung thực vàchưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào

Ha nội, ngày 10 tháng 10 năm 2010

Học viên

Nguyễn Thu Hằng

Trang 4

MỤC LỤC

Trang Lời cam đoan

Chương 1: Những vấn đề cơ bản về thanh toán quốc tế và hiệu quả hoạt động thanh 3 toán quốc tế tại các Ngân hàng Thương mại

1.2.1 Quan niệm về hiệu quả và hiệu quả TTQT tại NHTM 16 1.2.2 Hệ thống chỉ tiêu định lượng đánh giá hiệu quả TTQT 17 1.2.3 Hệ thống chỉ tiêu định tính đánh giá hiệu quả TTQT của NHTM 21 1.3 Một số kinh nghiệm nâng cao hiệu quả TTQT tại các NHTM trong nước và 28 nước ngoài

Chương 2: Thực trạng về hiệu quả hoạt động TTQT tại NHTMCP Đông Nam Á 31

2.2 Vài nét khái quát về hoạt động kinh doanh của SeABank 32

Trang 5

2.2.1 Quá trình hình hình và phát triển 33 2.2.2 Kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn 2006 đến 2009 34 2.2.3 Mô hình tổ chức thực hiện thanh toán quốc tế tại SeABank 37 2.3 Thực trạng hiệu quả hoạt động thanh toán quốc tế tại SeABank 38 2.3.1 Kết quả hoạt động thanh toán quốc tế tại SeABank 38 2.3.2 Hệ thống chỉ tiêu định lượng đánh giá hiệu quả hoạt động thanh 39 2.3.3 Hệ thống chỉ tiêu định tính đánh giá hiệu quả hoạt động TTQT tạiSeABank 36 2.3.4 Kết quả đạt được, những mặt còn tồn tại và nguyên nhân tồn tại tronghoạt 51 động thanh toán quốc tế tại SeABank

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động TTQT tại SeABank 66 3.1 Định hướng chiến lược về phát triển thanh toán quốc tế tại SeABank 66 3.1.1 Xu hướng chung về việc phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế tại các ngân 66 hàng thương mại Việt Nam

3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động thanh toán quốc tế tại SeABank 70

Trang 6

MỞ ĐẦU

6. Tính cấp thiết của đề tài

Với xu thế toàn cầu hóa, thanh toán quốc tế càng trở nên quan trọng đốivới các Ngân hàng thương mại Việt Nam, nó là một mắt xích quan trọng thúcđẩy toàn bộ hoạt động kinh doanh của ngân hàng phát triển Tuy nhiên, thanhtoán quốc tế vốn dĩ là phức tạp và nhiều rủi ro hơn nhiều so với thanh toán nộiđịa Bởi vì nó chịu sự chi phối không những luật lệ và tập quán địa phương

mà còn cả những luật lệ và tập quán quốc tế Chính vì vậy, việc các bên liênquan tham gia quá trình thanh toán quốc tế cần am hiểu không những về quytrình kỹ thuật nghiệp vụ mà còn cả các thông lệ, tập quán, luật pháp của địaphương và quốc tế

Nắm bắt được tầm quan trọng của thanh toán quốc tế trong hoạt độngkinh doanh của ngân hàng, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á - SeABank đã cónhững giải pháp nhằm phát triển mảng sản phẩm dịch vụ này Minh chứngcho điều đó là sự thành công trong hoạt động thanh toán quốc tế trong mấynăm trở lại đây, thể hiện không không những ở kết quả kinh doanh và chấtlượng dịch vụ mà còn được khẳng định ở uy tín của SeABank trên thị trườngquốc tế Tuy nhiên nhìn một cách tổng thể cả về mô hình tổ chức và hệ thốngchương trình nghiệp vụ thanh toán quốc tế tại ngân hàng SeABank chưa pháthuy hết tiềm năng nội lực cũng như đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng củakhách hàng

Việc tìm ra các giải pháp kịp thời để tháo gỡ khó khăn từ đó nâng caohiệu quả hoạt động TTQT là một lời giải đáp câu hỏi “Làm thế nào để nângcao hiệu quả thanh toán quốc tế tại ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam

Á” Vì vậy tôi đã chọn đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả thanh toán

quốc tế tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á” làm nội dung

nghiên cứu cho khóa luận của mình

Trang 7

7. Mục đích nghiên cứu

+ về lý luận: Hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về thanh toán quốc tế

và kết quả thanh toán quốc tế tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

+ Về thực tiễn: Đánh giá đúng thực trạng và đề xuất hệ thống giải phápđồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả thanh toán quốc tế tại Ngân hàng SeABank

8. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hiệu quả thanh toán quốc tế

- Phạm vi nghiên cứu của luận văn là hoạt động thanh toán quốc tế tạiSeABank giai đoạn từ 2004 đến 2009

9. Phương pháp nghiên cứu

Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp lý luận, lýthuyết để đánh giá thực tiễn hoạt động

10.Kết cấu của khóa luận

Luận văn ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nộidung được kết cấu làm ba chương:

Chương 1: Những vấn đề cơ bản về thanh toán quốc tế và hiệu quả

thanh toán quốc tế tại các Ngân hàng thương mại

Chương 2: Thực trạng hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng

thương mại cổ phần Đông Nam Á

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả thanh toán quốc tế tại Ngân

Trang 8

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THANH TOÁN QUỐC TẾ

VÀ HIỆU QUẢ THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về thanh toán quốc tế và hiệu quả thanh toán quốc tế tại các ngân hàng thương mại

1.1.1 Khái niệm thanh toán quốc tế

Thanh toán quốc tế (TTQT) là khâu quan trọng trong quá trình mua bánhàng hóa, dịch vụ giữa các tổ chức, cá nhân thuộc các quốc gia khác nhau.Nếu hoạt động TTQT được thực hiện một cách nhanh chóng, an toàn và chínhxác sẽ giải quyết được mối quan hệ lưu thông hàng hóa - tiền tệ giữa ngườimua và người bán một cách trôi chảy và hiệu quả Nếu không tồn tại hoạtđộng TTQT thì hoạt động kinh tế đối ngoại khó tồn tại và phát triển được.Vậy nên hiểu một cách khái quát về TTQT như thế nào?

“Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức hay cá nhân nước này với các tổ chức hay cá nhân nước khác, hoặc giữa một quốc gia với một tổ chức quốc tế, thường được thông qua quan hệ giữa các Ngân hàng của các nước có liên quan ”.

Như vậy, TTQT phục vụ cho hai lĩnh vực hoạt động là kinh tế và phikinh tế Tuy nhiên trong thực tế giữa hai hoạt động này thường giao thoa vớinhau, không có một gianh giới rõ rệt Hơn nữa, do hoạt động TTQT đượchình thành trên cơ sở hoạt động ngoại thương và phục vụ chủ yếu cho hoạtđộng ngoại thương Chính vì vậy, trong các quy chế về thanh toán và thực tếtại các ngân hàng thương mại (NHTM), người ta thường phân hoạt độngTTQT thành hai lĩnh vực rõ ràng là: Thanh toán phi ngoại thương (là việcthực hiện thanh toán không liên quan đến hàng hóa xuất nhập khẩu cũng như

Trang 9

cung ứng lao vụ cho nước ngoài) và thanh toán trong ngoại thương (là việcthực hiện thanh toán trên cơ sở hàng hóa xuất nhập khẩu và cung ứng các dịch

vụ thương mại cho nước ngoài theo giá cả thị trường quốc tế)

Xét về phía ngân hàng, TTQT là một hoạt động kinh doanh không thểthiếu của ngân hàng, trong đó ngân hàng giữ vai trò làm trung gian thanhtoán, cung cấp các dịch vụ cho khách hàng, bảo vệ quyền lợi và lợi ích củakhách hàng đồng thời tìm kiếm thu nhập cho bản thân ngân hàng

1.1.2 Đặc điểm của thanh toán quốc tế

Khác với thanh toán nội địa, TTQT thường có một số đặc điểm sau:

- Người mua và người bán thường ở hai nước khác nhau, có hai quốctịch khác nhau;

- Đồng tiền sử dụng trong thanh toán có thể là nội tệ hoặc ngoại tệ đốivới một hoặc cả hai bên;

- Hàng hóa mua bán thường được dịch chuyển qua biên giới giữa cácnước, đi từ nước người bán sang nước người mua có thể bằng phương thứcvận chuyển như đường biển, đường bộ hoặc đường hàng không tùy thuộc vàođặc điểm của từng thương vụ mà các bên thỏa thuận với nhau;

- Luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng mua bán và thanh toán chứa nhiềuyếu tố quốc tế Ví dụ như URC, UCP, ISBP, eUCP

- TTQT còn liên quan đến chính sách kiểm soát ngoại hối, tỷ giá và cácchính sách hạn chế ngoại thương của chính phủ các nước

1.1.3 Vai trò của thanh toán quốc tế

1.1.3.1 Thanh toán quốc tế với nền kinh tế

Với xu hướng toàn cầu hóa, các nước đang ra sức phát triển kinh tếtheo hướng kinh tế mở cửa, hội nhập cùng hợp tác và phát triển, coi kinh tếđối ngoại là con đường tất yếu trong chiến lược phát triển kinh tế của quốc giamình Trong bối cảnh đó, TTQT được coi như một chiếc cầu nối không thể

Trang 10

thiếu giữa nền kinh tế trong nước với phần kinh tế của thế giới bên ngoài, cótác dụng bôi trơn và thúc đẩy hoạt động XNK hàng hóa và dịch vụ, đầu tưnước ngoài, thu hút kiều hối và các quan hệ tài chính, tín dụng quốc tế khác.

TTQT là khâu quan trọng trong quá trình mua bán trao đổi hàng hóadịch vụ giữa các tổ chức hay cá nhân thuộc các quốc gia khác nhau Hoạtđộng TTQT diễn ra một cách nhanh chóng, an toàn và chính xác sẽ giải quyếtđược mối quan hệ lưu thông hàng hóa - tiền tệ giữa người mua và người bánmột cách trôi chảy, hiệu quả Vì thế mà hoạt động TTQT ngày càng đượckhẳng định trong hoạt động kinh tế quốc dân nói chung và hoạt động kinh tếđối ngoại nói riêng

Tóm lại, hoạt động TTQT có vai trò quan trọng đối với với phát triểnkinh tế của mỗi quốc gia, được thể hiện chủ yếu qua các mặt sau:

- Bôi trơn và thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu của nền kinh thế nhưmột tổng thể;

- Bôi trơn và thúc đẩy hoạt động đầu tư nước ngoài trực tiếp và gián tiếp;

- Thúc đẩy và mở rộng các hoạt động dịch vụ khác như: du lịch, hợp tácquốc tế ;

- Tăng cường thu hút kiều hối và các nguồn lực tài chính khác;

- Thúc đẩy thị trường tài chính quốc gia hội nhập quốc tế

1.1.3.2 Thanh toán quốc tế với ngân hàng thương mại

Các ngân hàng đang phát triển theo xu hướng ngân hàng hiện đại hoạtđộng đa năng, tăng cường mở rộng các nghiệp vụ ngoại bảng Trong cácnghiệp vụ ngoại bảng đó, TTQT được coi là một trong những nghiệp vụ phổbiến nhất và quan trọng nhất trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng.TTQT không đơn thuần là một dịch vụ thanh toán mà quan trọng hơn nó làkhâu trung tâm không thể thiếu trong dây chuyền hoạt động kinh doanh, bổsung hỗ trợ cho các hoạt động kinh doanh khác của ngân, mở rộng hoạt động

Trang 11

tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu, kinh doanh ngoại tệ, tăng cường được nguồnvốn huy động, đặc biệt là nguồn vốn ngoại tệ.

Hoạt động TTQT của một ngân hàng phát triển đáp ứng được đòi hỏicủa khách hàng sẽ là điều kiện tốt để thu hút thêm nhiều khách hàng về giaodịch, trên cơ sở đó ngân hàng có thể tăng quy mô, tăng thu nhập, tăng khảnăng cạnh tranh trong cơ chế thị trường

Hoạt động TTQT giúp cho ngân hàng tăng thêm thu nhập và tăngcường khả năng cạnh tranh của ngân hàng trong cơ chế thị trường, đồng thời

nó giúp cho hoạt động ngân hàng vượt ra khỏi phạm vi quốc gia và hòa nhậpvào với hệ thống ngân hàng thế giới

1.1.4 Nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động thanh toán quốc tế

1.1.4.1 Nhân tố khách quan

Một là, môi trường kinh tế trong nước Bao gồm: trình độ phát triển củanền kinh tế, hay cụ thể hơn là của các chủ thể kinh tế, của nền sản xuất nộiđịa Hoạt động ngân hàng trong một nền kinh tế ổn định và phát triển sẽ antoàn và hiệu quả hơn Ngân hàng yên tâm đầu tư phát triển các sản phẩm dịch

vụ mới hiện đại, đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của các chủ thể trongnền kinh tế Hoạt động TTQT của ngân hàng từ đó có môi trường để hoạtđộng sôi động và hiệu quả hơn

Hai là, môi trường chính trị Bất cứ một quốc gia nào trên thế giới cũngvậy, sự ổn định về chính trị là nền tảng vững chắc để phát triển mọi mặt củanền kinh tế, đặc biệt là mảng kinh tế đối ngoại Bất cứ một cá nhân, tổ chứcnào trước khi quyết định đầu tư vốn với một đối tác nước ngoài, yếu tố quantrọng mà họ không thể không xem xét đến đó là tình hình chính trị của quốcgia đó như thế nào Bởi tính ổn định chính trị của một quốc gia càng cao thìmức độ an toàn trong hoạt động đầu tư càng lớn, thu hút càng nhiều nhà đầu

tư, cơ hội mở rộng thị trường kinh doanh xuất nhập khẩu càng mở rộng Trên

Trang 12

cơ sở đó, nhu cầu thanh toán xuất nhập khẩu cũng như nhu cầu chuyển vốn

ngoại tệ qua ngân hàng ngày càng nhiều

Ba là, môi trường pháp lý mà cụ thể ở đây là hệ thống các văn bản pháp

lý điều chỉnh hoạt động kinh tế nói chung và TTQT nói riêng Một hệ thốngcác văn bản pháp luật đồng bộ, thống nhất, phù hợp với thông lệ quốc tế nóichung sẽ tạo ra một hành lang pháp lý thống nhất cho các hoạt động kinh tếtrong nước trong đó có hoạt động TTQT của các ngân hàng thương mại

Bốn là, mội trường tài chính quốc tế TTQT là một lĩnh vực mang tínhchất toàn cầu Sự tác động của cuộc khủng hoảng tài chính sẽ gây ra một loạt

hệ lụy ảnh ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động TTQT của các ngân hàngthương mại ở mỗi quốc gia

Năm là, sự ổn định của đồng tiền thanh toán Việc thống nhất lựa chọnmột đồng tiền thanh toán là điều kiện không thể thiếu trong mỗi một hợpđồng ngoại thương Chính vì thế mỗi sự biến động của đồng tiền thanh toán

sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp xuấtnhập khẩu Nếu đồng tiền thanh toán bị mất giá sẽ ảnh hưởng tiêu cực đếndoanh nghiệp xuất khẩu, và ngược lại, nếu đồng tiền thanh toán tăng giá sẽlàm tăng chi phí đầu vào từ đó tác động xấu đến kết quả kinh doanh củadoanh nghiệp nhập khẩu Các doanh nghiệp có lúc buộc phải dừng kí kết cáchợp đồng ngoại thương, chịu mất uy tín với bạn hàng nước ngoài

Sáu là, năng lực kinh doanh của khách hàng Khách hàng là ngườimang lại nguồn thu cho ngân hàng Việc ngân hàng có thu hút được nhiềukhách hàng hay không cũng chính là một chỉ tiêu định lượng mà các ngânhàng thường dùng để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của một ngânhàng Trong TTQT, khách hàng có thể là cá nhân hoặc các doanh nghiệp kinhdoanh xuất nhập khẩu có nhu cầu được ngân hàng phục vụ họ các dịch vụ vềthanh toán toán tế như: chuyển tiền, nhờ thu, L/C Nếu như các khách hàng

Trang 13

này có năng lực kinh doanh tốt, hiểu biết về pháp luật hay các thông lệ quốctế sẽ giúp cho ngân hàng phục vụ họ thực hiện nghiệp vụ TTQT một cáchtrôi chảy hơn, an toàn và chính xác hơn từ đó cũng nâng cao uy tín, chấtlượng các dịch vụ mà ngân hàng cung cấp.

1.1.4.2 Nhân tố chủ quan

Một là, chính sách đối ngoại của ngân hàng, chính là định hướng chungcủa ngân hàng trong việc mở rộng quan hệ đối ngoại, quan hệ đại lý với cácngân hàng nước ngoài Một chính sách đối ngoại phù hợp sẽ tạo cho ngânhàng có những lợi thế nhất định, chiếm lĩnh được thị phần phục vụ doanhnghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu, vì thế nó được coi như là chất xúc tác thúcđẩy hoạt động thanh toán của ngân hàng ngày càng mở rộng

Hai là, chính sách khách hàng Đây là một chính sách nằm trong chiếnlược marketing của ngân hàng Với chính sách khách hàng không những chophép ngân hàng giữ được khách hàng truyền thống mà còn cho phép ngânhàng phát triển được mối quan hệ với khách hàng mới Thông thường cácngân hàng đều có chính sách ưu đãi cho khách hàng truyền thống, khách hàng

có doanh số hoạt động thanh toán qua ngân hàng lớn như: ưu đãi về lãi suất,

tỷ lệ kí quỹ, chính sách tỷ giá

Ba là, sự ứng dụng công nghệ thông tin Ngày nay, các ngân hàng đềunhận thức được công nghệ là yếu tố then chốt để thắng thế trong cạnh tranh.Bởi cùng cơ chế như nhau, lợi ích, lãi suất các ngân hàng áp dụng cho kháchhàng cũng ngang nhau thì tất nhiên công nghệ sẽ được nhìn nhận là yếu tốquyết định trong cuộc chạy đua tìm kiếm sự ủng hộ của những người sử dụngdịch vụ Đặc biệt đối với nghiệp vụ TTQT, ngoài việc xử lý các thao tácnghiệp vụ đòi hỏi sự trình độ kỹ thuật nghiệp vụ và kinh nghiệm của cán bộthanh toán thì công nghệ là điều kiện cần và đủ giúp giao dịch được xử lýnhanh chóng và chính xác Hiện nay các ngân hàng thương mại Việt Nam

Trang 14

tham gia vào TTQT đều áp dụng những phần mềm hiện đại nhất nhì trên thếgiới và đã được áp dụng khá thành công tại các ngân hàng lớn của các quốcgia trên thế giới.

Bốn là, nhân tố con người Nghiệp vụ TTQT luôn đòi hỏi đội ngũ cán

bộ nhân viên giỏi về nghiệp vụ, am hiểu về pháp luật và tập quán quốc tế, cóphẩm chất đạo đức tốt, tinh thần nhiệt huyết với công việc

1.1.5 Các phương tiện thanh toán quốc tế

Phương tiện thanh toán là công cụ được sử dụng trong việc chi trả tiềnlẫn cho nhau Hiện nay, các phương tiện thanh toán đang được sử dụng chủyếu bao gồm: Tiền mặt, hối phiếu, kỳ phiếu, séc, thẻ ngân hàng Trong đó,tiền mặt chủ yếu chỉ sử dụng trong thanh toán nội địa, hối phiếu được sử dụngphổ biến trong thanh toán ngoại thương Việc sử dụng công cụ nào là dongười mua và người bán thỏa thuận với nhau tùy vào đặc điểm của từng giaodịch thương mại Dưới đây xin đề cập tới một số phương tiện thanh toán chủyếu trên:

1.1.5.1 Hối phiếu

a Khái niệm

Hối phiếu là một tờ mệnh lệnh yêu cầu trả tiền vô điều kiện, do người

ký phát cho người khác, yêu cầu người này: Hoặc khi nhìn thấy hối phiếu;hoặc tại một ngày cụ thể trong tương lai; hoặc tại một ngày có thể xác địnhđược trong tương lai, phải trả một số tiền nhất định cho một người nào đó,hoặc theo lệnh của người này trả cho người khác hoặc trả cho người cầmphiếu đó

Trang 15

- Tính bắt buộc phải trả tiền của hối phiếu: Người có nghĩa vụ trả tiền hốiphiếu phải trả tiền theo đúng nội dung ghi trên hối phiếu

- Tính lưu thông của hối phiếu: Hối phiếu có thể được chuyển nhượngmột hay nhiều lần trong thời gian hiệu lực của nó Nghĩa là, hối phiếu có thểđược dùng một hay nhiều lần trong thời hạn hiệu lực để:

+ Thanh toán tiền mua hàng hóa hay trả một khoản nợ bất kỳ

+ Chuyển nhượng hối phiếu cho người khác

Kỳ phiếu hay lệnh phiếu là một tờ cam kết vô điều kiện, trong đó người

ký phát cam kết sẽ trả một số tiền nhất định vào một ngày nhất định chongười hưởng lợi, được chỉ định trên lệnh phiếu hoặc theo lệnh của ngườihưởng lợi trả cho người khác

b Đặc điểm

Nhìn chung về quy tắc lưu thông, thì hối phiếu và lệnh phiếu là giốngnhau Ta có thể coi lệnh phiếu như là một hối phiếu đã được chấp nhận bởingười trả tiền Các điều luật dùng để điều chỉnh hối phiếu cũng được áp dụngtương tự cho một lệnh phiếu Để hiểu rõ hơn về lệnh phiếu, ta hãy so sánhnhững điểm giống và khác nhau cơ bản giữa hối phiếu và lệnh phiếu

lời nợ công khai Giống như một hối phiếu nó có thể được lập ra để thanhtoán ngay hoặc ở một ngày trong tương lai, nó có thể được chuyển nhượngbằng việc ký hậu, được đảm bảo bằng sự bảo lãnh, được áp dụng ở nhiềunước, được kháng nghị khi không thanh toán

Trang 16

Giống như hối phiếu, lệnh phiếu là một chứng từ thương mại được đệtrình tuân theo những điều khoản hợp pháp chính thức, chặt chẽ và giữa cácnước thì quy định có thể khác nhau.

- Lệnh phiếu không yêu cầu phải ký chấp nhận

- Lệnh phiếu chỉ có hai đối tượng liên quan đó là người lập và người thụhưởng, trong khi đó hối phiếu có 3 đối tượng liên quan là người ký phát,người bị ký phát và người thụ hưởng

1.1.5.3 Thanh toán bằng séc

Séc là một tờ mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện, do một khách hàng củangân hàng ký phát, ra lệnh cho ngân hàng trích một số tiền nhất định từ tàikhoản của mình để trả cho người được chỉ định trên séc hoặc trả lại cho ngườicầm séc

Từ khái niệm trên cho thấy các thành phần liên quan đến giao dịchthanh toán séc bao gồm:

- Người ký phát (Drawer): Là người có tài khoản phát hành séc ở NH

- Người trả tiền (Drawee): Là ngân hàng thực hiện việc trích tài khoảncủa người ký phát séc trả cho người thụ hưởng

- Người thụ hưởng (Benneficiary): Là người nhận được tiền từ tờ séc dongười ký phát chỉ định đích danh hay thông qua thủ tục chuyển nhượng

1.1.5.4 Thẻ ngân hàng

Thẻ ngân hàng là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, ra đời

và phát triển gắn liền với việc ứng dụng công nghệ tin học trong lĩnh vực tài

Trang 17

chính ngân hàng Đây là công cụ do ngân hàng phát hành cấp cho khách hàng

để thanh toán hàng hóa, dịch vụ hoặc rút tiền mặt trong phạm vi tiền gửi củamình hoặc hạn mức tín dụng được cấp Thẻ ngân hàng còn dùng để thực hiệncác dịch vụ thông qua hệ thống giao dịch tự động hay gọi cách khác là hệthống máy ATM

Trên thế giới có rất nhiều loại thẻ ngân hàng khác nhau Các loại thẻđược sử dụng phổ biến bao gồm: Thẻ tín dụng (Creidit Card); Thẻ thanh toán(Charge Card); Thẻ ATM; Thẻ ghi nợ (Debit Card); Thẻ đảm bảo (CheckGuarantee Card)

1.1.6 Các phương thức thanh toán quốc tế tại ngân hàng thương mại

“Phương thức TTQT là toàn bộ quá trình, điều kiện quy định để ngườimua trả tiền và nhận hàng, còn người bán nhận tiền và giao hàng trong thươngmại quốc tế.”

Có nhiều phương thức TTQT khác nhau Mỗi phương thức đều cónhững ưu điểm và nhược điểm nhất định Vì thế việc lựa chọn phương thứcthanh toán sẽ được hai bên xuất và nhập khẩu thống nhất ghi vào hợp đồngngoại thương cho phù hợp với từng mối quan hệ thương mại trong mỗi điềukiện hoàn cảnh cụ thể Sau đây là một số phương thức thanh toán chủ yếuđang được sử dụng trong thương mại quốc tế:

1.1.6.1 Phương thức thanh toán chuyển tiền (RemittanceZTransfer)

Chuyển tiền là một nghiệp vụ của ngân hàng, trong đó khách hàng(người chuyển tiền) yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền nhấtđịnh cho một người khác (người hưởng lợi) ở một địa điểm nhất định và trongmột thời gian nhất định

Như vậy rõ ràng là, trong thanh toán bằng chuyển tiền, việc có trả tiềnhay không phụ thuộc vào thiện chí của người mua Người mua sau khi nhậnđược hàng có thể không tiến hành chuyển tiền, hoặc cố tình dây dưa kéo dài

Trang 18

thời hạn chuyển tiền nhằm chiếm dụng vốn của người bán, chính vì thế làquyền lợi của người bán không được đảm bảo Chính vì nhược điểm này màtrong ngoại thương chuyển tiền thường chỉ được áp dụng trong các trườnghợp hai bên mua và bán có uy tín và tin cậy lẫn nhau.

1.1.6.2 Phương thức ứng trước (Advance Payment)

Người mua chấp nhận giá hàng của người bán và chuyển tiền thanhtoán cùng với đơn đặt hàng chắc chắn (không hủy ngang), nghĩa là việc thanhtoán xảy ra trước khi hàng hóa được người bán gửi đi

Với phương thức này thường được áp dụng trong trường hợp hàng hóaxuất khẩu thuộc loại khan hiếm, vị thế của người xuất khẩu cao hơn ngườinhập khẩu Vì với phương thức này, người nhập khẩu có thể gặp các rủi ronhư đã chuyển tiền nhưng nhà xuất khẩu chủ tâm không giao hàng hoặc giaohàng thiếu, giao hàng muộn gây tổn thất cho người nhập khẩu cả về thờigian và tài chính Hơn nữa do phải thanh toán trước nên người nhập khẩu phảichịu áp lực về tài chính hơn các phương thức khác

1.1.6.3 Phương thức ghi sổ (Open Account)

Là phương thức thanh toán, trong đó nhà xuất sau khi hoàn thành giaohàng thì ghi Nợ tài khoản cho bên nhập khẩu vào một cuốn sổ theo dõi: Việcthanh toán các khoản nợ này được thực hiện thông thường theo định kỳ như

đã thỏa thuận Như vậy, về thực chất đây là phương thức thanh toán nợ cònkhất lại, ngược với phương thức thanh toán ứng trước

Phương thức này cũng chỉ được áp dụng khi người xuất khẩu và nhậpkhẩu có hợp đồng mua hàng định kì, thường xuyên, hơn nữa phải có một uytín quan hệ làm ăn lâu dài nhất định Bởi phương thức này rủi ro hơn cho nhàxuất khẩu khi mà hàng hóa đã được giao nhưng nhà nhập khẩu chậm trễ thanhtoán hoặc là mất khả năng thanh toán

1.1.6.4 Phương thức thanh toán nhờ thu

Trang 19

a Khái niệm

Nhờ thu là phương thức TTQT, trong đó người xuất khẩu sau khi hoànthành nghĩa vụ chuyển giao hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ cho khách hàng,

ủy thác cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ số tiền ở người nhập khẩu, trên

cơ sở tờ hối phiếu do người xuất khẩu ký phát hành

Để thực hiện nhờ thu, trước tiên người mua và người bán phải thỏathuận chi tiết các điều kiện thanh toán quy định trong hợp đồng ngoại thương.Trên cơ sở các thỏa thuận này, người bán thực hiện nhờ thu qua ngân hàngphục vụ mình

Ở phương thức này, ngân hàng tham gia vào quá trình thanh toán toàndiện hơn và việc này phụ thuộc vào nội dung các chỉ thị và bộ chứng từ màngười bán ủy quyền cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ Ví dụ với nhờ thukèm chứng từ người bán chỉ thị cho ngân hàng chỉ được giao bộ chứng từ chongười mua đi lấy hàng hoặc là khi người đã chấp nhận thanh toán hoặc là khithanh toán toàn bộ giá trị nhờ thu Ngân hàng tham gia hoàn toàn bị độngtrong phương thức này, việc có thanh toán, chấp nhận thanh toán để đi lấyhàng hay không là phụ thuộc hoàn toàn vào nhà nhập khẩu Vì thế phươngthức này cũng thường được áp dụng với những đối tác làm ăn lâu dài, có sựtin tưởng đối với nhau

Khi ngân hàng tham gia vào phương thức này luôn phải tuân theo cácquy tắc chuẩn mực quốc tế, đó là ICC (Uniform Rules For Collection) và theotập quán thực hành ngân hàng quốc tế để quá trình xử lý nhờ thu giữa cácngân hàng được nhất quán với nhau

b Các loại nhờ thu

Có nhiều tiêu chí để phân loại nhờ thu, tuy nhiên người ta thường căn

cứ phải chứng từ trong thanh toán Nhờ thu mà phân chia làm hai loại sau:

Trang 20

Đây là phương thức thanh toán trong đó bên xuất khẩu ủy nhiệm chongân hàng phục vụ mình thu hộ tiền ở nhà nhập khẩu, chỉ căn cứ vào hốiphiếu do nhà xuất khẩu lập ra Các chứng từ thương mại do bên xuất khẩuchuyển giao trực tiếp cho bên nhập khẩu, không qua ngân hàng.

Là phương thức thanh toán, trong đó người xuất khẩu ủy nhiệm chongân hàng phục vụ mình thu hộ số tiền ở người nhập khẩu, không chỉ căn cứvào hối phiếu mà còn căn cứ vào bộ chứng từ gửi kèm theo, yêu cầu ngânhàng chỉ trao bộ chứng từ hàng hóa cho người nhập khẩu sau khi họ đã thanhtoán tiền hoặc ký chấp nhận thanh toán tiền trên tờ hối phiếu có kỳ hạn

1.1.6.5 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ

Trong phương thức thanh toán chuyển tiền ngân hàng chỉ đóng vai tròlàm trung gian giữa hai bên xuất khẩu và nhập khẩu Trong nhờ thu, ngânhàng tham gia xử lý chứng từ do bên bán gửi đến và hành động với vai trò làđại lý của người bán Ngân hàng không có bất kỳ một cam kết, trách nhiệmhay nghĩa vụ nào đối với các bên Đây cũng là một nhược điểm lớn của haiphương thức thanh toán này

Để khắc phục vai trò tham gia bị động đó của ngân hàng, phương thứcthanh toán tín dụng chứng từ ra đời Theo đó, ngân hàng thực hiện trả tiềntheo cam kết của mình, hay nói cách khác, ngân hàng phát hành cam kếtnghĩa vụ căn bản là thực hiện thanh toán cho người thụ hưởng

a Khái niệm

Tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán, trong đó, theo yêu cầucủa khách hàng (Applicant), một ngân hàng (Issuing Bank - NHPH) sẽ pháthành một bức thư gọi là L/C (Letter of Credit), trong đó NHPH cam kết trảtiền hoặc chấp nhận hối phiếu cho một bên thứ ba khi người này xuất trình bộ

Trang 21

chứng từ thanh toán cho NHPH phù hợp với các điều khoản và điều kiện quyđịnh trong thư tín dụng.

Một cách tổng quát, bản chất, L/C là một bức thư do một ngân hàngphát hành theo yêu cầu của nhà nhập khẩu, cam kết trả cho nhà xuất khẩu một

số tiền nhất định, trong một thời gian nhất định với điều kiện là nhà xuất khẩuphải thực hiện đúng và đầy đủ những điều khoản quy định trong L/C

b Các loại L/C

- Thư tín dụng không hủy ngang (Irrevocable L/C)

- Thư tín dụng chuyển nhượng (Transferable L/C)

- Thư tín dụng tuần hoàn (Revolving L/C)

- Thư tín dụng giáp lưng (Back to back L/C)

- Thư tín dụng đối ứng (Reciprocal L/C)

- Thư tín dụng dự phòng (Stand by L/C)

- Thư tín dụng điều khoản đỏ (Red Clause Credit)

1.2 Hiệu quả thanh toán quốc tế tại Ngân hàng thương mại

1.2.1 Quan niệm về “hiệu quả” và “hiệu quả thanh toán quốc tế” tại Ngân hàng thương mại

Trong tiếng Việt, “hiệu quả” được hiểu một cách chung nhất là kết quảnhư yêu cầu của việc mang lại Thường trong các lĩnh vực “hiệu quả” đượcxác định trên hai phương diện là định lượng và định tính

Trong kinh doanh nói chung, hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh

tế, nó phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sẵn có của một doanh nghiệp

để hoạt động sản xuất, kinh doanh sao cho đạt được kết quả cao nhất với mộtmức chi phí thấp nhất Hiệu quả gắn liền với việc thực hiện những mục tiêucủa doanh nghiệp và được thể hiện qua công thức sau:

Mục tiêu hoàn thành

Trang 22

Với quan niệm trên, hiệu quả kinh doanh không chỉ là sự so sánh giữachi phí đầu vào và kết quả nhận được ở đầu ra, mà hiệu quả kinh doanh đượchiểu trước tiên là việc hoàn thành mục tiêu, nếu không hoàn thành mục tiêuthì không thể có hiệu quả, và để hoàn thành mục tiêu ta cần phải sử dụngnguồn lực như thế nào? Đây là một quan niệm mới chỉ ra rằng: không phảikhi nào để đạt được hiệu quả cũng là giảm chi phí, mà là phải sử dụng chi phí

đó như thế nào, những chi phí nào phải cắt giảm đi, chi phí nào doanh nghiệpphải tăng lên để hoàn thành mục tiêu tốt hơn, giữ vững được vị trí của mìnhtrên thương trường

Đối với ngân hàng thương mại, một doanh nghiệp kinh doanh tronglĩnh vực tiền tệ nên có những tính chất đặc thù riêng biệt so với các d oanhnghiệp thuộc các ngành kinh doanh thông thường khác Tuy nhiên, hoạt độngcủa ngân hàng thương mại trước tiên là vì mục tiêu lợi nhuận thông qua kếtquả hoạt động kinh doanh Do đó các nhà quản trị chiến lược của mỗi ngânhàng thương mại luôn luôn phải giải quyết bài toán làm thế nào để nâng caohiệu quả kinh doanh Với xu thế phát triển ngân hàng đa năng, hiện đại thìhoạt động TTQT là một trong những hoạt động kinh doanh không thể thiếu ởmỗi ngân hàng thương mại Hiệu quả hoạt động của nó mang lại góp phầnđáng kể vào hiệu quả hoạt động chung của ngân hàng Cũng tương tự nhưphạm trù hiệu quả kinh doanh tại các doanh nghiệp, hiệu quả TTQT là mộtphạm trù kinh tế nó phản ánh mức độ hoàn thành mục tiêu mà nhà quản trịngân hàng đặt ra cho hoạt động thanh toán tại mỗi thời điểm Và để đánh giámột cách toàn diện về hiệu quả hoạt động TTQT, chúng ta cần phân tích dựatrên hai hệ thống chỉ tiêu là chỉ tiêu định lượng và chỉ tiêu định tính

1.2.2 Hệ thống chỉ tiêu định lượng đánh giá hiệu quả thanh toán quốc tế 1.2.2.1 Doanh số thanh toán quốc tế

Trang 23

Công thức tính

DS TT Q T = Số món giao dịch x Số tiền

Doanh số TTQT phụ thuộc vào: số lượng khách hàng giao dịch TTQTtại ngân hàng đó hay quy mô khách hàng giao dịch; Giá trị của mỗi lần giaodịch; Mạng lưới các chi nhánh thực hiện nghiệp vụ TTQT của ngân hàng

Các NHTM thường sử dụng các chỉ tiêu doanh số TTQT như:

- Tốc độ tăng trưởng doanh số TTQT tương đối và tuyệt đối năm sau sovới năm trước

- Bình quân đầu tư (Cán bộ thực hiện TTQT)

- Doanh số thanh toán hàng nhập khẩu

- Doanh số thanh toán hàng xuất khẩu

- Doanh số thanh toán chuyển tiền

- Doanh số thanh toán L/C

1.2.2.2 Doanh thu từ hoạt động thanh toán quốc tế

Công thức tính:

DT TT Q T = Tổng doanh thu từ dịch vụ thanh toán quốc tế

Doanh thu TTQT là các khoản phí về dịch vụ TTQT mà ngân hàng thuđược từ khách hàng, thu từ phí cung cấp dịch vụ cho các ngân hàng khác (Phíngân hàng đại lý, phí xác nhận.) Doanh thu TTQT phụ thuộc vào nhiều yếu

tố như: biểu phí mà ngân hàng mỗi ngân hàng quy định trong từng giai đoạn;

số lượng món giao dịch; số tiền giao trong mỗi lần giao dịch; mức độ rủi rotrong mỗi giao dịch

Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả TTQT qua doanh thu như sau:

Trang 24

+ “Doanh thu TTQT/Tổng doanh thu dịch vụ ngân hàng”: Cho biết tỷtrọng doanh thu từ hoạt động thanh toán quốc tế trong tổng nguồn thu dịch vụcủa ngân hàng.

+ Tốc độ tăng trưởng doanh thu tương đối và tuyệt đối

+ “Doanh thu TTQT / Tổng cán bộ TTQT”: Cho biết năng suất laođộng của một cán bộ TTQT trên doanh thu từ hoạt động TTQT Một cán bộTTQT có thể tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu TTQT

1.2.2.3 Lợi nhuận từ hoạt động thanh toán quốc tế

Lợi nhuận thanh toán quốc tế được đánh giá qua hai chỉ tiêu tuyệt đối

và tương đối sau:

• Chỉ tiêu tuyệt đối:

Công thức tính:

LN TTQT = DT TTQT - CF TTQT

Trong đó:

+ DT TT Q T là doanh thu thanh toán quốc tế

+ CF TT Q T là chi phí thanh toán quốc tế

Chi phí thanh toán quốc tế bao gồm các khoản chi phí về hoạt độngTTQT mà ngân hàng phải chi trả Khi tham gia vào TTQT, mỗi ngân hàng tạimỗi quốc gia được ví như một mắt xích trong một hệ thống kết nối chặt chẽ,không thể tách rời nhau Khi tham gia vào thị trường thanh toán toàn cầu, cácngân hàng thu được một nguồn lợi nhuận không nhỏ, và đồng thời cũng phải

bỏ ra một khoản chi phí nhất định Nguồn thu của ngân hàng này chính là chiphí của ngân hàng kia và ngược lại Một số các khoản phí mà các ngân hàngphải thanh toán định kỳ như: Phí điện Swift, phí ngân hàng đại lý, phí xácnhận và các phí khác

Trang 25

Chỉ tiêu lợi nhuận TTQT là một chỉ tiêu quan trọng và thường được cácngân hàng xác định hàng tháng, quý, năm Nó cho thấy rằng, để có được lợinhuận từ hoạt động TTQT, các ngân hàng thương mại cần phải thu chi mộtcách hợp lý, vừa đảm bảo mức độ cạnh tranh giữa các ngân hàng, vừa đảmbảo an toàn trong quá trình tác nghiệp nhưng vẫn đem lại một nguồn lợinhuận ngày càng lớn cho ngân hàng.

- Tỷ suất lợi nhuận TTQT

Trong đó:

LN TT Q T là lợi nhuận thanh toán quốc tế

DT TT Q T là doanh thu thanh toán quốc tế

+ Ý nghĩa: Tỷ suất lợi nhuận TTQT cho biết một đồng doanh thu TTQT tathu được bao nhiêu đồng lợi nhuận TTQT Tỷ suất càng cao chứng tỏ hoạtđộng càng hiệu quả

- Tỷ lệ chi phí TTQT so với doanh thu TTQT

Trong đó:

Tỷ lệ CF TT Q T là tỷ lệ chi phí thanh toán quốc tế so với doanh thu

CF TT Q T là chi phí thanh toán quốc tế

DT TT Q T là doanh thu thanh toán quốc tế

+ Ý nghĩa: Cho biết để thu được một đồng doanh thu TTQT ngân hàngphải bỏ ra bao nhiêu đồng chi phí

- Lợi nhuận TTQT/Lãi kinh doanh ngân hàng: Cho biết hiệu quả hoạtđộng TTQT trên tổng doanh thu ngân hàng Tỷ lệ này càng cao càng chứng tỏ

Trang 26

hoạt động TTQT chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng nguồn thu từ hoạt độngkinh doanh của ngân hàng thương mại đó

- LN TT Q T năm sau/ LN TT Q T năm trước

- Lợi nhuận TTQT tăng thêm / Đầu tư công nghệ mới: Cho biết mộtđồng ngân hàng bỏ ra đầu tư công nghệ mới mang lại bao nhiêu đồng lợinhuận tăng thêm từ TTQT

- Lợi nhuận TTQT / Tổng cán bộ TTQT: Cho biết năng suất lao độngcủa một cán bộ TTQT trên hiệu quả mang lại từ hoạt động TTQT, một cán bộTTQT có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận

1.2.2.4 Chi phí cơ hội của hoạt động thanh toán quốc tế

Trong kinh tế học, chi phí cơ hội chính là chi phí của sự lựa chọn Chiphí cơ hội của hoạt động TTQT chính là những cơ hội, lợi ích mà ngân hàng

đó đã bỏ qua khi quyết định đầu tư vào nghiệp vụ TTQT mà không đầu tư vàocác nghiệp vụ truyền thống khác Nhà quản trị ngân hàng thường so sánh cácchỉ tiêu như doanh thu, lợi nhuận hay các giá trị vô hình như uy tín, thươnghiệu mà TTQT mang lại, so sánh với các nghiệp vụ khác, từ đó kết luậnhoạt động TTQT tại ngân hàng này đã thực sự hiệu quả chưa Việc quyết địnhđầu tư trang thiết bị máy móc, công nghệ, con người vào nghiệp vụ thanhtoán quốc tế có giúp cho ngân hàng đạt được mục tiêu của mình hiện tại vàtương lai không

1.2.3 Hệ thống chỉ tiêu định tính đánh giá hiệu quả thanh toán quốc tế của ngân hàng thương mại

Bên cạnh các chỉ tiêu định lượng đã nêu trên, hiệu quả thanh toán quốc

tê còn được đánh giá qua một số chỉ tiêu định tính sau:

1.2.3.1 Thông qua khách hàng

Sản phẩm ngành ngân hàng khác với các sản phẩm của các ngành sảnxuất khác, đó là tính vô hình Dịch vụ của một ngân hàng được đo bằng mức

Trang 27

độ hài lòng của khách hàng khi sử dụng sản phẩm dịch vụ đó Mức độ hàilòng chính là sự thỏa mãn những mong đợi của khách hàng về sản phẩm mà

họ sử dụng Với dịch vụ TTQT cũng vậy, hiện nay hầu hết các ngân hàngthương mại đều cung cấp các dịch vụ thanh toán giống nhau và đều hoạt độngtuân thủ theo những nguyên tắc, điều luật chặt chẽ của tập quán quốc tế vàpháp luật Việt Nam Vì thế, muốn tạo ra sự khác biệt để có được những lợithế cạnh tranh nhất định, ngân hàng thương mại phải cố gắng làm cho dịch vụcủa mình tiến tới sự hoàn hảo trong lòng khách hàng

Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng dịch vụ TTQT thông qua kháchhàng như sau:

+ Độ tin cậy: Phản ánh việc ngân hàng có cung cấp dịch vụ đúng như

đã cam kết với khách hàng hay không Các khách hàng khác nhau có nhậnđược chất lượng dịch vụ tương tự nhau không

+ Sự đảm bảo: Thể hiện ở sự tin tưởng của khách hàng vào ngân hàng,vào uy tín của ngân hàng, vào trình độ xử lý nghiệp vụ của cán bộ ngân hàng

có an toàn, chính xác và nhanh chóng hay không

+ Sự thấu hiểu: Thể hiện ở việc ngân hàng có sẵn sàng cùng kháchhàng chia sẻ những khó khăn, quan tâm đến mong muốn của khách hàngtrong quá trình sử dụng dịch vụ thanh toán của khách hàng hay không?

+ Tinh thần trách nhiệm: Phản ánh tinh thần trách nhiệm của ngân hàngđối với khách hàng Ngân hàng có sẵn sàng làm hết mình, tác nghiệp nhanhchóng, chính xác hoặc khi xảy ra sơ suất có sẵn sàng giải quyết một cáchnhiệt tình, nhanh chóng không

1.2.3.2 Hoạt động thanh toán quốc tế hỗ trợ cho các nghiệp vụ khác

Một ngân hàng hiện đại và đa năng thì tất cả các sản phẩm dịch vụ của

nó phải có mối quan hệ mật thiết tác động hỗ trợ lẫn nhau tạo thành một chutrình khép kín đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng giao dịch Hiệu quả

Trang 28

TTQT được đánh giá ở góc độ nó có hỗ trợ các nghiệp vụ khác như: kinhdoanh ngoại tệ, tài trợ xuất nhập khẩu, hay tín dụng cùng phát triển một cáchđồng bộ không?

Thứ nhất, tăng cường và hỗ trợ cho nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ:

Thể hiện ở mối quan hệ lượng hóa giữa doanh số TTQT và doanh số kinhdoanh ngoại tệ của ngân hàng thương mại qua các thời gian

Khi tham gia vào quan hệ thương mại quốc tế, các bên xuất và nhậpkhẩu phải chọn một đồng tiền thanh toán Nhìn chung người xuất khẩu muốnchọn đồng tiền thanh toán là đồng tiền nước mình hoặc đồng tiền có xu hướnglên giá, và nhà nhập khẩu cũng muốn thanh toán bằng đồng tiền nước mìnhhoặc là bằng đồng tiền đang có xu hướng giảm giá Tuy nhiên, hiện nay hầuhết các hợp đồng ngoại thương đều được tính toán và thanh toán bằng đồngUSD và một số ngoại tệ mạnh khác, có nghĩa là đối với các bên thì đồng tiềntính toán và thanh toán chủ yếu là bằng ngoại tệ Do nhiều nguyên nhân tácđộng, tỷ giá hối đoái giữa các đồng tiền luôn có sự biến động mạnh, vì thếluôn tiềm ẩn rủi ro tỷ giá cho các bên tham gia Để đảm bảo quyền lợi và lợiích của khách hàng giao dịch thanh toán, ngân hàng ngoài việc thực hiện muabán giao ngay còn cung cấp các nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối để hạn chếnhững rủi ro tỷ giá cho khách hàng như: giao dịch mua bán kỳ hạn, hoán đổitiền tệ, hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn, Và nếu thực hiện tốt cácnghiệp vụ ngân hàng hiện đại này, nó sẽ là mang lại cho ngân hàng mộtnguồn lợi đáng kể

Ở một khía cạnh khác, mỗi cá nhân hay tổ chức khi thực hiện TTQTqua ngân hàng tức là một luồng tiền nội tệ và ngoại tệ chảy qua ngân hàng,đây là cơ hội giúp ngân hàng kinh doanh ngoại tệ, tăng khả năng thanh khoảncho ngân hàng Như vậy nhờ vào nghiệp vụ TTQT, ngân hàng đã khai thác

Trang 29

triệt để và hiệu quả nguồn vốn ngoại tệ để phục vụ nhu cầu khác nhau củakhách hàng và mang lại nguồn thu không nhỏ về cho ngân hàng.

Thứ hai, tăng cường và hỗ trợ cho nghiệp vụ tài trợ xuất nhập khẩu:

Thể hiện ở mối quan hệ lượng hóa giữa doanh số TTQT và doanh số tài trợxuất nhập khẩu qua các thời kỳ Một thương vụ thường phải trải qua nhiềugiai đoạn khác nhau Mỗi giai đoạn lại làm phát sinh các nghiệp vụ ngân hàngđối ngoại tương ứng Các nghiệp vụ TTQT cũng chính là một hình thức tài trợthương mại cho nhà xuất nhập khẩu Ví dụ trên cơ sở hợp đồng ngoại được kýkết, ngân hàng tham gia với vai trò ngân hàng phát hành LC, thông báo, hayxác nhận LC Sau khi giao hàng, để đáp ứng vốn ngắn hạn cho nhà xuất khẩuduy trì hoạt động bình thường, ngân hàng tham gia tài trợ cho nhà xuất khẩuthông qua nghiệp vụ chiết khấu bộ chứng từ hàng xuất

Hơn nữa, do đặc thù riêng trong TTQT, các nghiệp vụ tài trợ xuất nhậpkhẩu sẽ không thể thực hiện hoặc thực hiện được nhưng không an toàn vàhiệu quả nếu ngân hàng thực hiện tách rời từng nghiệp vụ, tức là chỉ đơnthuần cung cấp một loại dịch vụ Ví dụ, trường hợp ngân hàng đồng ý tài trợcho nhà xuất khẩu nhưng lại không ràng buộc điều kiện bộ chứng từ bắt buộcphải xuất trình qua ngân hàng mình Trường hợp này ngân hàng rất dễ gặp rủi

ro không thu hồi lại được khoản cho vay Điều này chứng tỏ, hoạt động tài trợxuất nhập khẩu có diễn ra hiệu quả, an toàn không thể không có sự tham giacủa hoạt động TTQT Hiện nay, các ngân hàng đều có xu hướng đa dạng hóacác sản phẩm tài trợ thương mại trên cơ sở thiết lập các bộ phận chuyên trách

để nghiên cứu, tìm hiểu, nắm bắt nhu cầu khách hàng để phát triển các dịch

vụ mới như: Bao thanh toán, tài trợ hàng lưu kho, Chỉ khi nào ngân hàngcung cấp một dịch vụ hoàn hảo thì ngân hàng mới hạn chế được rủi ro, thu hútđược khách hàng và tăng được phí dịch vụ, phí hoa hồng về cho ngân hàng

Trang 30

Thứ ba, tăng cường và hỗ trợ nghiệp vụ tín dụng: Phản ánh qua mối

quan hệ lượng hóa giữa doanh số TTQT và dư nợ tín dụng bình quân qua cácthời kỳ

Theo thống kê tại các ngân hàng thương mại Việt Nam, có 80% - 90%doanh số TTQT đều thực hiện thông qua nghiệp vụ tín dụng Số lượng kháchhàng có đủ 100% vốn tự có để thực hiện TTQT chiếm một tỷ lệ rất nhỏ màchủ yếu sử dụng vốn vay ngân hàng Ngân hàng thường tham gia tài trợ đến70% - 80% tổng giá trị lô hàng

Bởi thế mà một thực tế cho thấy, các doanh nghiệp kinh doanh xuấtnhập khẩu tìm đến một ngân hàng không chỉ với mong muốn được sử dụ ngcác sản phẩm dịch vụ về TTQT mà một thực tế ở Việt Nam cho thấy, hầu hếtcác doanh nghiệp xuất nhập khẩu đều mong muốn được ngân hàng tài trợ vềvốn Dư nợ cho vay bổ sung vốn lưu động tại các ngân hàng thương mại hiệnnay chiếm một tỷ trọng không nhỏ trong tổng số dư nợ tín dụng toàn hàng, vàtrong đó chủ yếu là cho vay mục đích thanh toán các hợp đồng ngoại thương,cho vay tài trợ trực tiếp cho nhà xuất khẩu cung ứng hàng hóa Hình thứccấp tín dụng này giúp ngân hàng kiểm soát chặt hơn mục đích sử dụng vốn,nguồn thu của khách hàng Vì ngân hàng sau khi cấp tín dụng cho khách hàng

sẽ chuyển thẳng số tiền đó sang cho nhà cung cấp nước ngoài, hoặc ngânhàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho nhà xuất khẩu, nguồn thanh toán củangười mua nước ngoài bắt buộc phải chuyển vào tài khoản của người xuấtkhẩu tại ngân hàng

Ở Việt Nam hiện nay, nếu kết hợp tốt sản phẩm TTQT với các sảnphẩm tài trợ thương mại như cho vay chiết khấu bộ chứng từ xuất, bảo lãnh,cho vay ứng trước thì đây vẫn luôn là “mảnh đất màu mỡ” có nhiều tiềmnăng giúp ngân hàng tăng thêm nhiều doanh thu và lợi nhuận

Trang 31

1.2.3.3 Hoạt động thanh toán quốc tế tăng cường và củng cố uy tín, góp phần tạo nên thương hiệu của ngân hàng

Chỉ tiêu này phản ánh qua các thứ bậc xếp hạng, các giải thưởng do các

tổ chức quốc tế có uy tín trao tặng Để thắng thế trong cạnh tranh, các ngânhàng thương mại luôn phải nỗ lực tạo cho mình sự khác biệt về chất lượngsản phẩm dịch vụ từ đó hình thành thương hiệu trên thị trường Thương hiệucủa một ngân hàng không chỉ là logo hay các câu slogan riêng của ngân hàng,

mà nó là nhận thức của khách hàng về ngân hàng đó Ví dụ như nói đến dịch

vụ kinh doanh ngoại hối, TTQT, người ta thường nghĩ ngay đếnVietcombank, hay nói đến sản phẩm thẻ người ta nghĩ ngay đến DongA Bank

Để có một thương hiệu riêng là một bài toán không đơn giản, đòi hỏi sứcmạnh tổng hợp đồng bộ của nhiều yếu tố từ hệ thống sản phẩm dịch vụ, conngười, công nghệ, cơ sở vật chất Về hoạt động TTQT, hàng năm “Hiệp hộiViễn thông tài chính liên ngân hàng thế giới - SWIFT”, các ngân hàng lớnnhư Citibank, HSBC, Bank of New york đều trao các giải thưởng về thanhtoán như “Ngân hàng TTQT xuất sắc nhất năm”, điều đó khẳng định uy tín,thương hiệu của ngân hàng

1.2.3.4 Thanh toán quốc tế tác động đến thị trường xuất nhập khẩu

Ngân hàng thương mại giữ vai trò làm trung gian thanh toán giữa cácchủ thể trong và ngoài nước Hoạt động xuất nhập khẩu có tồn tại và trôi chảyđược hay không phụ thuộc lớn vào vai trò của ngân hàng Bởi hệ thống ngânhàng tại các quốc gia trên thế giới đều có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp vớinhau tạo nên một mạng lưới thanh toán toàn cầu dựa trên nền tảng là sự pháttriển của công nghệ thông tin

Hãy thử tưởng tượng, nếu không có ngân hàng, hai nhà xuất khẩu vànhập khẩu ở hai quốc gia có khoảng cách địa lý cách xa, chưa từng có quan hệthương mại lẫn nhau, thông tin về nhau rất hạn chế, thì chắc chắn rằng khó

Trang 32

thực hiện một giao dịch thành công được Nhà xuất khẩu sợ giao hàng xongnhà nhập khẩu không thanh toán Nhà nhập khẩu sợ nếu thanh toán ứng trước

mà nhà xuất khẩu vì lý do bất lợi cho họ nên không giao hàng nữa Khi đótranh chấp xảy ra giữa hai bên gây tổn thất về thời gian và tiền bạc, ảnhhưởng đến quá trình sản xuất kinh doanh Nhưng nếu trường hợp này, có sựgóp mặt của ngân hàng, nhà nhập khẩu yêu cầu ngân hàng phát hành LC chonhà xuất khẩu Lúc này giao dịch không còn đơn thuần giữa hai bên mua vàbán mà lúc này ngân hàng với tư cách là người bảo lãnh cho người nhập khẩu,ngân hàng bằng uy tín và năng lực của mình cam kết rằng sẽ thanh toán chongười xuất khẩu nếu họ xuất trình được bộ chứng từ hoàn hảo

Thực tế cho thấy hầu hết các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam đềugặp khó khăn nhất định trong việc tìm thị trường đầu ra cho sản phẩm củamình Một nguyên nhân dễ nhận thấy vẫn là khoảng cách địa lý giữa các quốcgia, uy tín của doanh nghiệp xuất khẩu chưa mạnh khiến cho các doanhnghiệp xuất khẩu tại Việt Nam gặp khó khăn trong việc tìm ra đối tác Khi đó,ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu tại Việt Nam có thể liên hệ với các ngânhàng đại lý của mình tại các quốc gia có thị trường tiêu thụ mạnh, đang cónhu cầu nhập khẩu mặt hàng đó để cung cấp danh sách nhà nhập khẩu chonhà xuất khẩu tại Việt Nam Giải quyết được bài toán đầu ra cho các doanhnghiệp xuất khẩu, đó mới thực sự là bước đi lớn, một sự phát triển có tínhchất bước ngoặt trong hoạt động TTQT của các ngân hàng thương mại

Bên cạnh đó, TTQT còn là cơ sở để thị trường hình thành và phát triểncác nghiệp vụ phái sinh và thứ cấp như: Chiết khấu bộ chứng từ, Factoring

1.2.3.5 Thanh toán quốc tế tác động đến chính sách tiền tệ và các mục tiêu vĩ mô như: tỷ giá, lãi suất, cán cân thanh toán, cung cầu ngoại tệ

Khác với thanh toán nội địa, hoạt động TTQT liên quan và chịu ảnhhưởng trực tiếp của chính sách kiểm soát ngoại hối, tỷ giá và các chính sách

Trang 33

ngoại thương của Chính phủ Một chính sách ngân hàng đối ngoại mà chủ yếu

là điều chỉnh hoạt động TTQT phải phù hợp với quan điểm, đường lối pháttriển kinh tế đối ngoại của quốc gia, có tác động tích cực và hỗ trợ cho mụctiêu chính sách tiền tệ mà Chính phủ đặt ra trong từng giai đoạn, từng thời kỳ

từ đó tác động đến mục tiêu cuối cùng là vấn đề kinh tế xã hội Có như vậymới đảm bảo kết hợp hài hòa lợi ích của ngân hàng với lợi ích của xã hội, lợiích quốc gia

1.3 Một số kinh nghiệm nâng cao hiệu quả thanh toán quốc tế tại các ngân hàng thương mại trong nước và nước ngoài

Việc nâng cao hiệu quả hoạt động TTQT luôn được các ngân hàngthương mại trong và ngoài nước quan tâm Dưới đây luận văn xin đề cập đếnmột số kinh nghiệm nâng cao hiệu quả TTQT tại các ngân hàng trong vàngoài nước có uy tín và thương hiệu trên thị trường Việt Nam và trên Thế giới

- Để nâng cao chất lượng hoạt động TTQT, CitiBank đã thành lập cácTrung tâm TTQT ở các châu lục, như:

Trung tâm TAMPA - Phụ trách khu vực Châu Mỹ

Trung tâm LONDON - Phụ trách khu vực Châu Âu

Trung tâm MUMBAI - Phụ trách khu vực Đông á

Trang 34

Trung tâm PEANANG - Phụ trách khu vực Nam á

Với việc thành lập các trung tâm này đã giúp CitiBank có điều kiện tiếpcận với các thị trường khác nhau, các khách hàng đa dạng, trên cơ sở tìmhiểu, nắm bắt được những tập quán, luật pháp của từng nước trong hoạt độngTTQT Thông qua đó, các thông tin về khách hàng sẽ được cập nhật một cáchchính xác tới toàn hệ thống Điều này có tác dụng hỗ trợ lẫn nhau giữa các chinhánh, giúp phòng ngừa rủi ro, nâng cao chất lượng TTQT

- Quan tâm đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực TrongTTQT, chất lượng của hoạt động này phụ thuộc rất lớn vào trình độ và nănglực của đội ngũ cán bộ, nhân viên, vì ở một chừng mực nào đó, thì máy móckhông thể thay thế con người trong rất nhiều công đoạn nghiệp vụ, với độingũ nhân viên tốt, có thể đưa ra những tư vấn cho các nhà XNK, thậm chí cóthể sửa chữa một số điều khoản trong các hợp đồng thương mại nhằm bảođảm quyền lợi cho cả hai bên nếu NH nhận thấy một số điều khoản khônghợp lý Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, Citibank liên tục mở các lớpđào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ của thanh toán viên

- Tiến hành luân chuyển cán bộ từ phòng nghiệp vụ này sang phòngnghiệp vụ khác, nhằm giúp cho mỗi cán bộ nắm bắt được một cách toàn diệncác nghiệp vụ của NH Trên cơ sở đó, khi tiến hành một nghiệp vụ nào trongkhâu thanh toán thì họ sẽ có một cái nhìn bao quát các bước nghiệp vụ vànhững kiến thức liên quan, từ đó có thể hạn chế những rủi ro có thể nảy sinhtrong TTQT

1.3.2 Hongkong Shanghai Bank (HSBC)

HSBC là một trong những ngân hàng lớn nhất ở Châu á, với một hệthống Chi nhánh ở 82 nước (trong đó có Chi nhánh tại Việt nam) Hoạt độngTTQT của ngân hàng này rất phát triển Tại Việt nam, HSBC là ngân hàngnước ngoài đầu tiên mở dịch vụ thanh toán xuất nhập khẩu cho khách hàng

Trang 35

mà khách hàng không cần cử người đến giao dịch với ngân hàng Chứng từgiao dịch giữa khách hàng và ngân hàng sẽ do nhân viên của công ty chuyểnphát giấy tờ TNT đã có hợp đồng với HSBC làm nhiệm vụ giao nhận chuyểnphát Ngoài ra, ngân hàng này còn phục vụ khách hàng trong việc tìm đối tác

và điều tra nghiên cứu đối tác ở 82 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới

Để hoàn thiện hoạt động TTQT, HSBC thực hiện các biện pháp:

- Thường xuyên xuất bản các ấn phẩm với mục đích truyền đạt nhữngkinh nghiệm, phổ biến những văn bản pháp lý mới nhất qui định về TTQT doICC hoặc do bản thân NH này ban hành tới khách hàng (như: các tạp chí củangân hàng, cẩm nang TTQT ) nhằm hướng dẫn các khách hàng trongTTQT, hạn chế những rủi ro có thể nảy sinh

- Tổ chức các chương trình đào tạo ngắn hạn, các cuộc hội thảo với sựtham gia của các chuyên gia có kinh nghiệm về TTQT cho các thanh toánviên tại tất cả các chi nhánh của HSBC trên thế giới

- Kết nối mạng lưới thông tin giữa các Chi nhánh nhằm thu thập nhữngthong tin về khách hàng một cách chính xác nhất

Kết luận chương 1

Tóm lại, các vấn đề nghiên cứu trong chương một đã tập trung làm rõvấn đề tổng quan về TTQT và hiệu quả TTQT trong hoạt động kinh doanhcủa các ngân hàng thương mại Đặc biệt, chương một đã chỉ ra một hệ thốngchỉ tiêu phân tích đánh giá hiệu quả hoạt động TTQT tại ngân hàng thươngmại ở cả hai góc độ là chỉ tiêu định lượng và chỉ tiêu định tính ở cả tầm vi mô

và vĩ mô Đó cũng chính là cơ sở lý luận để luận văn nghiên cứu đánh giáthực trạng hoạt động TTQT tại SeABank trong chương 2

Trang 36

Chương 2 THỰC TRẠNG VỀ HIỆU QUẢ THANH TOÁN QUỐC TẾ

TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐÔNG NAM Á

2.1 Hoạt động thanh toán quốc tế tại các ngân hàng thương mại

Thứ nhất, doanh số XNK qua ngân hàng không ngừng tăng trưởng.

Nhờ vào thắng lợi trong quan hệ ngoại giao mà đặc biệt phải kể đến sựkiện ngay 07/11/2006, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của

tổ chức Thương mại thế giới (WTO), điều này đã đem lại cho Việt Nam nóichung và hệ thống các Ngân hàng thương mại nói riêng nhiều cơ hội phát

triển lớn

Năm 2008, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 143,7 tỷ USD, tăng23,8% so với năm 2007, trong đó xuất khẩu là 62,69 tỷ USD tăng 22,8%,nhập khẩu đạt 80,71 tỷ USD tăng 24,6% Những con số ấn tượng đó đã phảnánh quy mô thương mại quốc tế của Việt Nam ngày càng được mở rộng Vềthị trường nhập khẩu, kim ngạch xuất nhập khẩu từ Châu Á vẫn chiếm tỷ trọnglớn nhất 75,6% và ngày càng tăng (năm 2007 chiếm 72,2%) trong đó chủ yếu lànhập khẩu từ Trung Quốc và ASEAN, trong khi đó nhập khẩu từ thị trườngChâu Âu vẫn ở mức khiêm tốn chiếm 10,3%

Năm 2009, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới mà bắt đầu từ Mỹ đã lanrộng khắp các quốc gia trên thế giới, hoạt động kinh tế của hầu hết các quốc giađều bị thu hẹp lại, đặc biệt là thị trường Châu Á, trong đó có Việt Nam Sự suygiảm này đã tác động nhanh mạnh và trực tiếp đến hoạt động thanh toán quốc tếcủa Việt Nam - đất nước có tổng kim ngạch xuất nhập khẩu chiếm tới 160,7%GDP Đối tượng đầu tiên chịu sự ảnh hưởng từ sự suy giảm này đó là các ngânhàng thương mại, biểu hiện rõ nét ở doanh số thanh toán quốc tế Theo công bốcủa Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) - ngân hàng đầumối thanh toán xuất nhập khẩu lớn nhất, có bề dày kinh nghiệm nhất trong hệ

Trang 37

thống ngân hàng thương mại Việt Nam, thì năm 2009, doanh số thanh toán xuấtnhập khẩu qua ngân hàng này đạt 9,851 tỷ USD; trong đó doanh số xuất khẩuđạt 5,049 tỷ USD, doanh số nhập khẩu là 4,802 tỷ USD So với 5 tháng đầunăm

2008 (13,834 tỷ USD) thì doanh số thanh toán đã giảm tới 29%

Thứ hai, xu hướng chuyển dịch các phương thức thanh toán quốc tế:

- Đối với hàng xuất: Chuyển tiền vẫn là phương thức chiếm tỷ trọng caonhất (80% tổng doanh số thanh toán), trong khi LC chỉ chiếm khoảng hơn10% Đặc biệt đối với các mặt hàng như dệt may, da giầy của Việt Nam xuấtkhẩu vào thị trường EU thì phương thức chuyển tiền chiếm gần như là 100%.Điều này chứng tỏ hàng hóa xuất khẩu của nước ta vào thị trường Châu Âuthì người nhập khẩu vẫn có ưu thế hơn, thêm vào đó, các doanh nghiệp vừa vànhỏ mới bước vào thị trường, muốn kí được các đơn đặt hàng thì phải sẵnsàng chấp nhận những yêu cầu có lợi cho đối tác Mặt khác lựa chọn phươngthức chuyển tiền trả sau cũng là một cách mà các doanh nghiệp Việt Nam lựachọn sử dụng đối với một số bạn hàng có uy tín, đã quan hệ làm ăn lâu nămvới nhau để tăng sức cạnh tranh trên thương trường

Trang 38

2.2.1 Quá trình hình hình và phát triển

Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á (SeABank), thành lập từnăm 1994, là một trong những Ngân hàng thương mại có mặt sớm nhất ViệtNam và hiện tại nằm trong Top 10 ngân hàng TMCP lớn nhất Việt Nam Hiệntại SeABank có vốn điều lệ 5.068 tỷ đồng, thuộc 7 ngân hàng TMCP có vốnđiều lệ lớn nhất tại Việt Nam Trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm, SeABank

đã không ngững nỗ lực hoàn thiện để phát triển cùng nền kinh tế Việt Namtrong giai đoạn hội nhập, với mong muốn trở thành một tập đoàn ngân hàngbán lẻ đa năng hiện đại nhất

Năm 2008, ngân hàng bán lẻ nổi tiếng Châu Âu là Société Générale đãmua 20% vốn cổ phần của SeABank và trở thành đối tác nước ngoài chiếnlược của SeABank Một ngân hàng lớn như Société Générale lựa chọnSeABank là đối tác duy nhất trong lĩnh vực ngân hàng bán lẻ tại Việt Nam đãthể hiện rõ nét uy tín và khẳng định tiềm năng của SeABank trong toàn bộ hệthống ngân hàng thương mại Việt Nam

Năm 2009 đánh dấu bước chuyển mình tất yếu và toàn diện củaSeABank với việc triển khai chiến lược ngân hàng bán lẻ, hướng tới đốitượng khách hàng mục tiêu là cá nhân và các doanh nghiệp vừa và nhỏ.SeABank đã và đang từng bước chuyển mình để đem đến cho khách hàngchất lượng dịch vụ tốt nhất, đồng thời kết nối khách hàng tới một cuộc sốngvật chất đầy đủ hơn, sung túc hơn đó là ý nghĩa của slogan “kết nối giá trịcuộc sống” Hiện tại, SeABank có gần 1.100 cán bộ nhân viên tại gần 100điểm giao dịch trên toàn quốc với hơn 45.000 khách hàng thường xuyên hoạtđộng Với những thành tựu đạt được thời gian qua, SeABank vẫn tiếp tụckhông ngừng hoàn thiện các sản phẩm dịch vụ và ngày một khẳng định sựphát triển ổn định và bền vững hướng tới mục tiêu trở thành ngân hàng bán lẻtiêu biểu của Việt Nam

Trang 39

30,597

0

19,626

16,746

24,009

6

20,249

16,730

24,644

8

408.75

238.19

600.32

2.2.2 Kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn 2006 đến 2009

Trang 40

Biểu đồ 2.3 Tổng huy động và Tổng dư nợ (tỷ đồng)

Cũng giống như các NHTM khác tại Việt Nam, SeABank hoạt động vìmục tiêu lợi nhuận và cung cấp đầy đủ các nghiệp vụ của một ngân hàngthương mại nói chung, kết quả hoạt động kinh doanh là sự tổng hợp kết qủacủa nhiều mảng nghiệp vụ như: huy động vốn, hoạt động tín dụng, thanh toánquốc tế, phát triển mạng lưới, quản trị nhân lực, công nghệ thông tin,marketing ngân hàng, sản phẩm mới, quan hệ tuyên truyền và quan hệ côngchung Tuy nhiên, thời lượng của luận văn có hạn, đối tượng nghiên cứu làhoạt động thanh toán quốc tế, chính vì vậy ở mục này, tôi xin giới thiệu kháiquát về tình hình hoạt động kinh doanh của SeABank qua các mảng nghiệp vụchính đó là: Huy động vốn, hoạt động tín dụng, và các nghiệp vụ ngân hànghiện đại khác

a Về huy động vốn

Vốn là tiền đề để triển khai và phát triển toàn diện các nghiệp vụ kinhdoanh ngân hàng thương mại, tại SeABank qua các năm hoạt động, tình hìnhhuy động vốn đạt được kết quả đáng kể sau:

Năm 2007, công tác huy động vốn tại SeABank có bước phát triểnmang tính đột phá, báo cáo đến ngày 31/12/2007 thể hiện tổng huy động vốn

Ngày đăng: 30/03/2022, 23:56

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w