Để đảm bảo vẫn chiếm một vị thế quan trọng và là một trong những Công ty hàng đầu trong việc cung cấp các dịch vụ về xây lắp, lắp đặt các công trình Viễn thông, Công ty Cổ phần Dịch vụ K
Trang 1- 1 -
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TẬP ĐOÀN BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG VIỆT NAM HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
-
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
CÔNG TÁC ĐẤU THẦU TRONG CÁC DỰ ÁN XÂY LẮP, LẮP
ĐẶT TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DỊCH VỤ
KỸ THUẬT VIỄN THÔNG (TST)
NGÀNH : QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ SỐ : 60.34.05
TÊN HỌC VIÊN: HOÀNG LÊ MINH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS.NGƯT BÙI XUÂN PHONG
HÀ NỘI – NĂM 2010
Trang 2- 2 -
MỞ ĐẦU
1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài
Để tham gia đấu thầu các công trình xây lắp, lắp đặt Viễn thông trong điều kiện hiện nay, mỗi nhà thầu không những phải am hiểu các thủ tục đấu thầu và làm tốt các khâu: tính toán giá bỏ thầu, xây dựng phương án thi công, mà còn cần tăng cường hiệu quả công tác đấu thầu của đơn vị mình Từ đó, góp phần tạo ra nhiều công việc cho đơn vị mình, nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của đơn vị
Để đảm bảo vẫn chiếm một vị thế quan trọng và là một trong những Công ty hàng đầu trong việc cung cấp các dịch vụ về xây lắp, lắp đặt các công trình Viễn thông, Công ty Cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Viễn thông (TST) cần phải tăng cường hiệu quả công tác đấu thầu của mình Do vậy, việc nghiên cứu đánh giá và đưa ra những giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả công tác đấu thầu là thực sự cần thiết
Xuất phát từ thực tế trên và qua quá trình làm việc tại Công ty TST, tác giả đã lựa chọn đề
tài: “Công tác đấu thầu trong các dự án xây lắp, lắp đặt tại Công ty Cổ phần Dịch vụ
Kỹ thuật Viễn thông (TST)” làm đề tài luận văn của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu các vấn đề cơ bản về công tác đấu thầu Đánh giá thực trạng công tác đấu thầu
xây lắp, lắp đặt của Công ty TST Từ đó đề xuất các giải pháp tăng cường hiệu quả công tác đấu thầu xây lắp, lắp đặt tại Công ty
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu các vấn đề cơ bản về công tác đấu thầu
- Nghiên cứu các vấn đề về công tác đấu thầu xây lắp, lắp đặt tại Công ty TST
4 Phương pháp nghiên cứu, ứng dụng
- Dựa vào các phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử; các phương pháp phân tích, so sánh, điều tra thống kê
- Kết quả nghiên cứu có thể áp dụng cho Công ty TST và các Công ty khác có điều kiện tương tự
Trang 3- 3 -
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẤU THẦU
1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐẤU THẦU
* Khái niệm đấu thầu
Theo Luật đấu thầu số 61/2005/QH11 được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2006, đấu thầu được hiểu là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của bên mời thầu để thực hiện gói thầu thuộc các dự án trên
cơ sở bảo đảm tính cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế
* Các loại hình đấu thầu
Đấu thầu gồm có bốn loại hình sau: đấu thầu tuyển chọn tư vấn, đấu thầu mua sắm hàng hoá, đấu thầu để lựa chọn đối tác thực hiện dự án và đấu thầu xây lắp
* Các hình thức lựa chọn nhà thầu
Hình thức lựa chọn nhà thầu có bảy hình thức, đó là: đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế, chỉ định thầu, mua sắm trực tiếp, chào hàng cạnh tranh, tự thực hiện, lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt
* Các phương thức đấu thầu
Theo quy định, có ba phương thức đấu thầu, đó là: phương thức đấu thầu một túi hồ sơ, phương thức đấu thầu hai túi hồ sơ, phương thức đấu thầu hai giai đoạn
1.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐẤU THẦU XÂY LẮP, LẮP ĐẶT
* Khái niệm đấu thầu xây lắp, lắp đặt
Đấu thầu xây lắp là đấu thầu các công việc có liên quan đến xây dựng, lắp đặt công trình
và các hạng mục công trình nhằm lựa chọn ra nhà thầu xây lắp có thể đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật của công việc với mức chi phí hợp lý nhất
* Trình tự tổ chức đấu thầu xây lắp, lắp đặt
- Lập kế hoạch đấu thầu: phải lập kế hoạch cụ thể về phân chia dự án thành các gói thầu, thời gian thực hiện từng gói thầu, nhân sự, hồ sơ mời thầu, giá và nguồn tài chính, các tiêu chuẩn và thang điểm đánh giá
- Sơ tuyển nhà thầu (nếu có): chỉ áp dụng cho những dự án lớn, yêu cầu kỹ thuật cao, đề phòng những rủi ro có thể gặp trong quá trình đấu thầu và thực hiện nhiệm vụ đầu tư
- Lập hồ sơ mời thầu: hồ sơ mời thầu theo quy định thường bao gồm thư mời thầu, mẫu đơn dự thầu, chỉ dẫn đối với nhà thầu, các điều kiện ưu đãi (nếu có), các loại thuế theo quy
Trang 4- 4 -
định của pháp luật, hồ sơ thiết kế kỹ thuật kèm theo bản tiên lượng và chỉ dẫn kỹ thuật, tiến
độ thi công, tiêu chuẩn đánh giá, điều kiện chung và điều kiện cụ thể của hợp đồng, mẫu bảo lãnh dự thầu, mẫu thoả thuận hợp đồng, mẫu bảo lãnh thực hiện hợp đồng
- Mời thầu: bên mời thầu có thể mời thầu bằng thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc gửi thư mời thầu cho các nhà thầu Sau khi mời thầu thì các nhà thầu hoàn tất hồ sơ dự thầu nộp cho bên mời thầu Hồ sơ dự thầu của nhà thầu xây lắp gồm: các nội dung về hành chính pháp lý, các nội dung về kỹ thuật, các nội dung về
thương mại, tài chính
- Nộp và nhận hồ sơ dự thầu: khi nhận được thông báo mời thầu hoặc thư mời thầu, các tổ chức xây dựng chuẩn bị hoàn tất hồ sơ dự thầu và gửi đến cho bên mời thầu theo thời gian
và địa điểm quy định
- Mở thầu: việc mở thầu được tiến hành công khai theo ngày giờ, địa điểm ghi trong hồ sơ mời thầu và không được quá 48 giờ kể từ thời điểm đóng thầu
- Đánh giá xếp hạng nhà thầu: được thực hiện theo trình tự gồm: đánh giá sơ bộ, đánh giá chi tiết, đánh giá tổng hợp, xếp hạng nhà thầu theo giá đánh giá và kiến nghị nhà thầu trúng thầu với giá trúng thầu tương ứng
- Trình duyệt kết quả đấu thầu: chủ đầu tư sau khi căn cứ vào kết quả chấm thầu và các quy định của Nhà nước, người quản lý công việc đấu thầu lập bản tường trình chi tiết và đầy đủ tới chủ đầu tư và các cơ quan nhà nước có liên quan để thẩm định và xét duyệt lần cuối cùng
- Công bố trúng thầu, thương thảo hoàn thiện hợp đồng: sau khi lựa chọn được nhà thầu, chủ đầu tư tiến hành công bố trúng thầu và thương thảo hợp đồng Sau đó, chủ đầu tư tiến hành trình duyệt nội dung hợp đồng và ký kết hợp đồng
* Trình tự dự thầu của nhà thầu xây lắp, lắp đặt
- Tìm kiếm thông tin về các dự án đầu tư: thường được tìm kiếm thông qua thông báo mời thầu, thư mời thầu, thông qua giới thiệu của đối tác trung gian hoặc thông tin từ nội bộ
- Tiến hành nghiên cứu hồ sơ mời thầu: phân tích đánh giá sơ bộ thông tin về công trình, sau đó phân tích cụ thể để đưa ra quyết định có hoặc không tham gia dự thầu hoặc tham gia bằng liên danh, liên kết, liên doanh
- Tham gia sơ tuyển (nếu có): để tham gia sơ tuyển nhà thầu phải nộp một ngân phiếu bảo đảm cho việc tham gia dự thầu (có thể lên 20% chi phí đấu thầu) Nếu nhà thầu không trúng thì khoản tiền này được chủ đầu tư trả lại Khi tham gia sơ tuyển, nhà thầu nộp tài
Trang 5- 5 -
liệu sơ tuyển gồm: thông tin chung về nhà thầu, năng lực và kinh nghiệm trong 2-5 năm gần nhất, khả năng về nguồn nhân lực, thực trạng tài chính và khả năng máy móc thiết bị, công nghệ
- Chuẩn bị, lập hồ sơ dự thầu: hồ sơ dự thầu thông thường gồm các phần chủ yếu sau: đơn
dự thầu, bảo lãnh dự thầu, năng lực và kinh nghiệm của nhà thầu (kèm tài liệu chứng minh), biểu giá dự thầu, điều kiện tài chính, thời gian bảo hành, phương án tổ chức thi công, biểu đồ tiến độ thi công, khả năng đáp ứng vật tư, khả năng huy động máy móc thiết
bị thi công, nhân sự thi công
- Nộp hồ sơ dự thầu và tham gia mở thầu: sau khi hoàn thành xong hồ sơ dự thầu, nhà thầu
sẽ nộp hồ sơ dự thầu cho bên mời thầu trong thời hạn quy định Công tác mở thầu sẽ tiến hành mở từng hồ sơ dự thầu, chủ đầu tư sẽ ghi tên các ứng thầu hợp lệ và ứng thầu không hợp lệ Sau khi mở thầu, chủ đầu tư đánh giá xếp hạng các nhà thầu theo những tiêu chuẩn
về năng lực, kinh nghiệm, kỹ thuật, giá bỏ thầu, để chọn ra nhà thầu phù hợp nhất Kết quả đấu thầu sẽ được công bố chính thức sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt
- Đàm phán và ký kết hợp đồng: sau khi mở thầu sẽ chọn được nhà thầu hợp lý nhất và hai bên tiến hành đàm phán các điều khoản để ký hợp đồng Khi cuộc đàm phán đã đi vào kết thúc, nhà thầu được chọn sẽ phải cùng chủ đầu tư soạn thảo và hoàn chỉnh hợp đồng theo mẫu về hợp đồng xây lắp, lắp đặt
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÔNG TÁC ĐẤU THẦU XÂY LẮP, LẮP ĐẶT
* Nhân tố thuộc môi trường bên ngoài
- Chính sách của Đảng và Nhà nước về đấu thầu: khi tham gia đấu thầu trong nước doanh nghiệp phải thực hiện các quy định chung của Nhà nước, còn khi tham gia đấu thầu khu vực, quốc tế doanh nghiệp lại cần sự hỗ trợ của Chính phủ về đường lối, chính sách Như vậy, chính sách của Đảng và Nhà nước đóng vai trò rất quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến công tác đấu thầu của doanh nghiệp
- Thị trường xây lắp, lắp đặt: là nơi diễn ra sự cạnh tranh của các doanh nghiệp, ở đó người
ta xác định được ai có đủ điều kiện thắng thầu và ai sẽ bị loại ra ngoài Mặt khác, thị trường xây lắp, lắp đặt là cơ sở quan trọng để hình thành nên cơ cấu xây lắp, lắp đặt và cơ cấu đấu thầu Hơn nữa, thị trường xây lắp, lắp đặt là nơi đề ra các nhu cầu và mục tiêu phục vụ cho việc tổ chức đấu thầu Do vậy, có thể khẳng định thị trường xây lắp, lắp đặt là
Trang 6- 6 -
nhân tố ảnh hưởng quyết định đến sự thành công hay thất bại của một dự án được đưa ra đấu thầu trong xây lắp, lắp đặt
* Nhân tố nội bộ doanh nghiệp
- Các nhân tố về tổ chức, quản lý: đặc điểm nổi bật trong tổ chức, quản lý của doanh nghiệp xây lắp, lắp đặt là sự thay đổi nhanh chóng qua từng hạng mục công trình cụ thể mà doanh nghiệp trúng thầu Vì thế, sự hợp lý và linh hoạt trong tổ chức của doanh nghiệp xây lắp, lắp đặt là một yêu cầu vô cùng quan trọng
- Các nhân tố về tài chính: quy mô tài chính, khả năng huy động vốn và khả năng đảm bảo vốn lưu động, mức lợi nhuận bình quân hàng năm, tổng số nợ phải trả và nợ phải trả trong
kỳ, năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý tài chính là những nhân tố về tài chính quyết định trực tiếp năng lực tài chính của doanh nghiệp khi tham gia đấu thầu và thi công xây lắp
- Các nhân tố về nguồn nhân lực và chính sách nguồn nhân lực: năng lực và sự nhanh nhạy của lãnh đạo, năng lực, trình độ của cán bộ lập hồ sơ dự thầu, cũng như việc bố trí nhân lực tại hiện trường là những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng công tác đấu thầu (chất lượng
hồ sơ dự thầu, chất lượng thi công công trình,…)
- Các nhân tố về máy móc thiết bị thi công: đó là tính đồng bộ, phù hợp với nhu cầu thi công và đạt hiệu quả cao Một nhân tố nữa là khả năng đáp ứng số lượng và chủng loại máy móc thiết bị thi công của doanh nghiệp hiện có Hai nhân tố này tác động trực tiếp tới khả năng thắng thầu của doanh nghiệp
- Các nhân tố về nguồn vật tư: đó là nguồn cung cấp vật tư và mức giá của nguồn cung cấp vật tư Kết hợp hai nhân tố đó lại với nhau, tức là có đủ nguồn cung cấp vật tư với mức giá phù hợp chắc chắn sẽ tạo cho nhà thầu sức cạnh tranh hơn hẳn nhà thầu khác nhờ tiết kiệm được các chi phí như: vận chuyển, giao dịch, của nhà thầu khi thi công công trình (giảm được giá thành của dự án)
Tóm lại, tất cả các nhân tố trên đều ảnh hưởng tới tình hình thực hiện công tác đấu thầu xây lắp, lắp đặt của doanh nghiệp Tuy nhiên, mỗi nhân tố có sự ảnh hưởng ở từng mức độ
và phương diện khác nhau, nhưng nhân tố nào cũng có tính hai mặt: tích cực và tiêu cực
Do đó, khi tham gia đấu thầu xây lắp, lắp đặt doanh nghiệp cần phải phát huy các thế mạnh của từng nhân tố, tạo mối quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ nhau, nhân tố này làm cơ sở cho nhân tố kia phát triển để đạt được mục đích của doanh nghiệp đề ra
Trang 7- 7 -
1.4 CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÔNG TÁC ĐẤU THẦU XÂY LẮP, LẮP ĐẶT
* Chỉ tiêu giá trị trúng thầu và số công trình trúng thầu
Chỉ tiêu số công trình trúng thầu và giá trị trúng thầu góp phần giúp doanh nghiệp đánh giá khả năng của doanh nghiệp trong đấu thầu
Chỉ tiêu giá trị trúng thầu và số công trình trúng thầu cho thấy một cách khái quát nhất tình hình kết quả đấu thầu của doanh nghiệp Thông qua đó, có thể đánh giá khả năng của doanh nghiệp trong đấu thầu
* Chỉ tiêu xác suất trúng thầu
Chỉ tiêu này được tính theo 2 góc độ cơ bản sau:
- Theo số công trình tham gia đấu thầu và trúng thầu:
Xác suất trúng thầu
theo số công trình =
Số công trình trúng thầu
x 100% Tổng số công trình tham gia đấu thầu
- Theo giá trị công trình:
Xác suất trúng thầu
theo giá trị =
Tổng giá trị các công trình trúng thầu
x 100% Tổng giá trị công trình tham gia đấu thầu
Chỉ tiêu này được tính cho từng thời kỳ nhất định tuỳ vào mục đích của doanh nghiệp trong việc sử dụng chỉ tiêu
* Chỉ tiêu thị phần của doanh nghiệp trên thị trường xây lắp
Chỉ tiêu này có thể được đo bằng thị phần tuyệt đối hoặc tương đối
- Thị phần tuyệt đối:
Thị phần tuyệt đối = Giá trị sản lượng xây lắp hoàn thành của doanh nghiệp
Tổng giá trị sản lượng xây lắp hoàn thành trên thị trường
- Thị phần tương đối được xác định trên cơ sở so sánh thị phần thị trường tuyệt đối của doanh nghiệp với thị phần thị trường tuyệt đối của đối thủ cạnh tranh mạnh nhất
Từ hai chỉ tiêu thị phần, có thể tính toán tốc độ tăng trưởng của thị phần so với thời kỳ trước để nhận biết xu hướng biến đổi vị trí của doanh nghiệp trên thị trường
* Chỉ tiêu về lợi nhuận đạt được
Lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Nó là chỉ tiêu hết sức quan trọng đánh giá tình hình hoạt động của doanh nghiệp, hiệu quả sử dụng
Trang 8- 8 -
vốn của doanh nghiệp dựa vào chỉ tiêu này ta có thể thấy được vị thế của doanh nghiệp trên thị trường xây lắp
* Chỉ tiêu về uy tín của doanh nghiệp
Uy tín là chỉ tiêu mang tính vô hình, rất khó định lượng, chỉ tiêu này mang tính chất bao trùm, nó liên quan đến tất cả các chỉ tiêu trên và nhiều yếu tố khác
Uy tín là chỉ tiêu giữ vai trò quan trọng trong đấu thầu và giành thắng lợi của doanh nghiệp Chính uy tín giúp cho doanh nghiệp giành được lòng tin của chủ đầu tư và tạo lợi thế trong tham gia đấu thầu Vì vậy, mà trong từng thời kỳ doanh nghiệp phải chú trọng đến việc nâng cao uy tín trên thị trường
Trang 9- 9 -
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÔNG TÁC
ĐẤU THẦU XÂY LẮP, LẮP ĐẶT TẠI CÔNG TY TST
2.1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY TST
* Giới thiệu về Công ty TST
Công ty Cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Viễn thông (TST) là thành viên của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) được thành lập theo Quyết định số 232/2000/QĐ-TCCB ngày 10/03/2000 của Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện Hoạt động theo Giấy chứng nhận ĐKKD số 0103000095 ngày 07/08/2000 do Sở Kế hoạch Đầu tư Hà Nội cấp
và đăng ký thay đổi lần thứ 9 ngày 23/5/2008
* Ngành nghề kinh doanh và sản phẩm dịch vụ cung cấp
Ngành nghề kinh doanh và các sản phẩm dịch vụ cung cấp là xây lắp, lắp đặt, bảo dưỡng, sửa chữa, hỗ trợ vận hành và ứng cứu đột xuất cho các công trình viễn thông, điện, điện tử, tin học
* Một số đặc điểm chủ yếu của Công ty TST ảnh hưởng đến tình hình thực hiện công tác đấu thầu xây lắp, lắp đặt
- Đặc điểm về tổ chức quản lý: Mô hình tổ chức toàn Công ty là mô hình thống nhất, theo
tổ chức của Công ty cổ phần bao gồm: 1 Tổng Giám đốc, 2 Phó Tổng Giám đốc, 4 phòng ban chức năng và 8 chí nhánh, xí nghiệp trực thuộc Việc tổ chức quản lý hợp lý và gọn nhẹ đã giúp hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty được thông suốt, xử lý nhanh chóng những sự cố xây dựng đảm bảo chất lượng công trình, tiến độ thi công Yếu tố này
đã góp phần tăng cường hiệu quả công tác đấu thầu của Công ty
- Đặc điểm về tài chính: Có thể nhận thấy, trong ba năm gần đây, hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty tăng trưởng khá tốt Doanh thu, lợi nhuận đều tăng mạnh qua các năm (năm 2009 so với năm 2008 đã tăng 29,5% doanh thu và tăng 35,3% lợi nhuận sau thuế) Trong khi đó, các chỉ tiêu tài chính quan trọng đã thể hiện được đúng đặc trưng của doanh nghiệp xây lắp, lắp đặt, đó là: chỉ tiêu các khoản phải thu lớn và nợ phải trả tăng liên tục qua các năm Nguyên nhân cơ bản là do các công trình tồn đọng đã thi công xong nhưng vẫn chưa được chủ đầu tư thanh toán làm tăng các khoản phải thu Hơn nữa, quá trình xây lắp thường kéo dài, quy mô lớn, nên Công ty cần phải huy động một khối lượng vốn lớn
và liên tục vì vậy đã làm tăng nợ phải trả do vay vốn
Trang 10- 10 -
- Đặc điểm về nguồn nhân lực: Trong những năm qua, lực lượng lao động của Công ty TST có nhiều thay đổi, việc mở rộng thêm các xí nghiệp, chi nhánh khiến lực lượng lao động Công ty tăng lên đáng kể Hiện nay, lao động của Công ty TST có 298 lao động, trong đó chủ yếu là lực lượng cán bộ có trình độ Đại học và trên Đại học (57,1%) và lực lượng công nhân kỹ thuật (31,5%) Có thể thấy, cơ cấu lao động tại Công ty TST được sắp xếp tương đối hợp lý, công tác phân công lao động được thực hiện tương đối tốt Việc bố trí, sử dụng lao động tại Công ty đã đáp ứng được yêu cầu, tiêu chuẩn của chức danh công việc với trình độ người lao động
- Đặc điểm về máy móc thiết bị thi công: Năng lực về máy móc thiết bị thi công, phương tiện vận tải của Công ty hiện nay khá tốt, đảm bảo cho việc thi công các công trình xây lắp, lắp đặt với số lượng lớn Một số máy móc thiết bị lớn, tiêu biểu như máy hàn cáp quang, máy đo OTDR, máy đo vùng phủ sóng, máy trộn bê tông, máy đào, máy cắt, đã được Công ty đưa vào sử dụng và đạt kết quả cao Những máy móc thiết bị thi công với công nghệ hiện đại của Công ty đã đóng góp trong việc hoàn thành nhiều công trình mà Công ty trúng thầu và được những cơ quan chức năng có liên quan công nhận đạt yêu cầu, gây được uy tín với chủ đầu tư
- Đặc điểm về nguyên vật liệu thi công: Là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây lắp, lắp đặt các công trình viễn thông nên các nguyên vật liệu của Công ty TST thường dùng là: cáp quang và phụ kiện, ống nhựa, ống sắt các loại, cột bê tông, sắt, thép, cát, đá dăm, xi măng, Nói chung, nắm bắt được tầm quan trọng của yếu tố nguyên vật liệu, nên Công ty đã thường xuyên mở rộng mối quan hệ với các nguồn cung cấp để có thể thương lượng được giá cả cũng như phương thức thanh toán
- Đặc điểm về Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2008 của Công ty: Công ty TST đã xây dựng và áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000 từ 17/05/2006 theo chứng chỉ BVQI cấp và đã thay đổi sang tiêu chuẩn mới ISO 9001:2008 vào tháng 09/2009 theo chứng chỉ TUV NORD cấp Hiện nay, hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2008 đã được triển khai có hiệu quả tại Công ty, toàn bộ CBCNV đều có nhận thức tốt về việc thực hiện công tác chuyên môn hàng ngày theo ISO 9001:2008, tất cả các quá trình diễn ra tại Công ty đều được kiểm soát theo đúng quy trình