Trên cơ sở dựa trên các hoạt động chủ yếu, NHTM được hiểu là ‘loại hình doanh nghiệp được thành lập theo các quy định của pháp luật, thực hiện kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay tại các Ngân hàng thương mại, việc phải liên tục hoàn thiện vànâng cao chất lượng kiểm soát rủi ro tín dụng được các Ngân hàng quan tâm hàngđầu Trong các Ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam thì đại bộ phận nguồnthu nhập được thu từ lãi tín dụng, vì vậy tín dụng vẫn là nguồn thu lãi chủ yếu trongcác Ngân hàng, cũng chính vì vậy mà rủi ro mang đến từ hoạt động tín dụng có ảnhhưởng rất lớn tới việc duy trì hoạt động của ngân hàng trong tương lai Một ngânhàng có nhiều rủi ro tín dụng là một ngân hàng yếu về quản lý, có đánh giá rủi rokém hiệu quả và sẽ bị ăn mòn dần vốn dễ dẫn đến mất thanh khoản và không thể tồntại Quản lý rủi ro là một quá trình chấp nhận rủi ro đã được tính toán trước chứkhông phải là trốn tránh rủi ro, hiện nay nền kinh tế Việt Nam đã hội nhập sâu rộng
do đó chúng ta phải chấp nhận một thực tế cạnh tranh lành mạnh với các ngân hàngnước ngoài đang và sẽ có trên thị trường tài chính Việt Nam Do đó chúng ta sẽ cònphải đối mặt với nhiều loại rủi ro đa dạng hơn, phức tạp hơn trong quản trị điềuhành Nếu được thị trường tài chính Thế giới đánh giá cao, các NHTM cần phảiquản trị, điều hành và kiểm soát tốt được rủi ro trong hoạt động nói chung và tíndụng nói riêng của chính ngân hàng mình
Với cơ cấu thu nhập chiếm 85% trong tổng thu nhập của Ngân hàng TMCPĐại Chúng Việt Nam - Chi nhánh Bắc Ninh; hoạt động tín dụng có vai trò đặc biệtquan trọng trong chiến lược kinh doanh đem lại lợi nhuận cao nhất, đồng thời cũng
là hoạt động mang lại rủi ro cao nhất của Chi nhánh Mặc dù trong những năm gầnđây, vấn đề quản lý chất lượng, kiểm soát rủi ro tín dụng đã nhận được sự quan tâmcủa HĐQT, BĐH, Ban Giám đốc Chi nhánh, đội ngũ cán bộ làm công tác tín dụng,nhưng trên thực tế công tác này vẫn còn nhiều thiếu sót, yếu kém, đòi hỏi Ban lãnhđạo Chi nhánh phải đặt ra yêu cầu: nếu không tìm ra được giải pháp nghiên cứu,khắc phục thì sẽ có ảnh hưởng xấu đến hoạt động và kết quả kinh doanh của Chinhánh
Trang 2Chính vì thế, em lựa chọn đề tài: “Giảipháp nâng cao chất lượng kiểm soát rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam - Chi nhánh Bắc Ninh ” làm luận văn tốt nghiệp cho mình.
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận xung quanh việc kiểm soát rủi ro tíndụng của NHTM, thực tiễn chất lượng kiểm soát rủi ro tín dụng của một số ngânhàng trên thế giới và khả năng kiểm soát rủi ro tín dụng của Ngân hàng TMCP ĐạiChúng Việt Nam - Chi nhánh Bắc Ninh Thông qua đó đưa ra hệ thống các giảipháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng kiểm soát rủi ro tín dụng của Ngânhàng TMCP Đại Chúng Việt Nam - Chi nhánh Bắc Ninh
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Chất lượng kiểm soát rủi ro tín dụng của NHTM.Phạm vi nghiên cứu: Thực trạng chất lượng kiểm soát rủi ro tín dụng tạiNgân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam - Chi nhánh Bắc Ninh từ năm 2010 đếnnăm 2013
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài thực hiện trên cơ sở tổng hợp, phân tích kết hợp lý luận với thực tiễntrên cơ sở quan điểm duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lênin
Lấy ý kiến của các chuyên gia, ban lãnh đạo Ngân hàng, nhân viên Ngânhàng để có những phân tích tổng quan, chính xác trong nghiên cứu
Thống kê, tổng hợp, so sánh trên cơ sở số liệu thực tế để đánh giá chất lượngcông tác kiểm soát rủi ro tín dụng
5 Ket cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có kếtcấu 3 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về rủi ro tín dụng và chất lượng kiểm soát
rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng chất lượng kiểm soát rủi ro tín dụng của Ngân hàng
TMCP Đại Chúng Việt Nam - Chi nhánh Bắc Ninh.
Trang 3Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng kiểm soát rủi
ro tín dụng của Ngân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam - Chi nhánh Bắc Ninh.
Trang 4CHƯƠNGI NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ CHẤT LƯỢNG KIỂM SOÁT RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1 Khái quát về Ngân hàng thương mại
về mặt lịch sử, NHTM đã có quá trình hình thành và phát triển lâu dài gắnliền với quá trình phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hóa Từ các hoạt động chovay tư nhân và cầm đồ xuất hiện trong thời kỳ cổ đại, các ngân hàng đã phát triển vềquy mô, mở rộng về chức năng qua thời kỳ trung cổ và đạt tới sự phát triển rực rỡtrong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa Đến thế kỷ thứ 18, với sự can thiệp của Nhànước, ngân hàng phát hành được tách riêng ra để trở thành ngân hàng trung ươngcủa các nước, các ngân hàng còn lại không được phép phát hành tiền, có chức năngchuyên kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng Đây chính là tiền thân của cácNHTM
Ngày nay, nhất là trong các nền kinh tế thị trường phát triển, NHTM đã trởthành các trung tâm tiền tệ, là cầu nối giữa người có vốn nhàn rỗi và người có nhucầu sử dụng vốn, đồng thời là tổ chức cung cấp các dịch vụ ngân hàng như chiếtkhấu thương phiếu, bảo quản tài sản, đồ vật quý, thanh toán cho khách hàng, tưvấn.Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, NHTM đã phát triển thành hệ thốngnhiều chi nhánh, có vai trò rất quan trọng trên thị trường tài chính và ảnh hưởng lớnđến trạng thái kinh tế vĩ mô của quốc gia, quốc tế Từ khi hình thành và phát triểncho đến nay cũng có rất nhiều quan điểm đưa ra những khái niệm về NHTM vàquan điểm phổ biến nhất đều cho rằng: “Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp đặcbiệt kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, một tổ chức cung ứng vốn chủ yếu
và hữu hiệu của nền kinh tế”
Chính vì vậy, ngân hàng là một loại hình tổ chức quan trọng đối với nền kinh
tế, các ngân hàng có thể định nghĩa qua chức năng, các dịch vụ hoặc vai trò màchúng thực hiện trong nền kinh tế vấn đề là ở chỗ các yếu tố trên không ngừng
Trang 5thay đổi Thực tế, rất nhiều tổ chức tài chính - bao gồm cả các công ty kinh doanhchứng khoán, công ty môi giới chứng khoán, quỹ tương hỗ và công ty bảo hiểmhàng đầu đều đang cố gắng cung cấp các dịch vụ của ngân hàng Ngược lại, ngânhàng đang đối phó với các đối thủ cạnh tranh (các tổ chức phi ngân hàng) bằng cách
mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ về bất động sản và môi giới chứng khoán, thamgia hoạt động bảo hiểm, đầu tư vào quỹ tương hỗ và thực hiện dịch vụ khác
Trong xu thế phát triển và hội nhập hiện nay, các ngân hàng thường hướngtới mô hình đa năng để có thể sử dụng được một cách hiệu quả nhất nguồn vốn màngân hàng huy động được Hơn nữa đây cũng là một hình thức phân tán rủi ro bằngcách đa dạng hóa các nghiệp vụ
Cách tiếp cận thận trọng nhất có thể xem xét ngân hàng trên phương diệnnhững loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chínhcung cấp các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụthanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chứckinh
doanh nào khác trong nền kinh tế
Nhưng theo quan điểm của Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam ngày 29tháng
6 năm 2010 của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thì “Ngân hàng thươngmại là một sản phẩm của nền kinh tế thị trường, NHTM được coi là “trái tim lớn”,một doanh nghiệp thực sự - doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ” Cụ thể “NHTM là mộtloại hình tổ chức tín dụng (TCTD) được phép thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng
và các hoạt động khác có liên quan như: nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng cácdịch vụ thanh toán cho toàn bộ nền kinh tế” Trên cơ sở dựa trên các hoạt động chủ
yếu, NHTM được hiểu là ‘loại hình doanh nghiệp được thành lập theo các quy định của pháp luật, thực hiện kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường
xuyên nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán; thực hiện các hoạt động kinh doanh khác có liên quan ”
Có thể nói, NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt bởi vì trước hết nó kinh
Trang 6NHTM có vai trò to lớn trong nền kinh tế hiện đại Hệ thống NHTM được vínhư mạch máu, chất dầu bôi trơn của quá trình tái sản xuất xã hội, là trợ thủ đắc lựccủa Nhà nước và các chủ thể kinh tế.
1.1.2 Rủi ro tín dụng trong hoạt động của Ngân hàng thương mại
1.1.2.1 Khái niệm về rủi ro tín dụng
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về rủi ro Theo Frank Knight: “Rủi ro là
sự bất trắc không thể lường được”; Irving Preffer thì cho rằng “ rủi ro là tổng hợpnhững sự ngẫu nhiên có thể đo lường được bằng xác suất”; còn theo Allan Wilett thì
“rủi ro là sự bất trắc cụ thể liên quan đến việc xuất hiện một biến cố không mong
đợi” Nói chung đối với hầu hết mọi người thì rủi ro ám chỉ một kết cục không chắc chắn về hậu quả của một tình huống nhất định.
Rủi ro là khả năng tổn thất một cách trực tiếp hoặc gián tiếp Tổn thất trựctiếp là những tổn thất về lợi nhuận hoặc về vốn Tổn thất gián tiếp là những áp lựchạn chế khả năng thực hiện các mục tiêu kinh doanh của một ngân hàng Những hạnchế gây ra rủi ro thông việc hạn chế khả năng của ngân hàng trong việc thực hiệnhoạt động kinh doanh hoặc khai thác các cơ hội kinh doanh
Rủi ro tín dụng được rất nhiều học giả nghiên cứu và đưa ra nhiều quan niệm
về rủi ro tín dụng
- Rủi ro tín dụng là những tổn thất do khách hàng không trả được nợ hoặc sựgiảm sút chất lượng tín dụng của những khoản vay
- Rủi ro tín dụng phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu được đầy
đủ nợ gốc và lãi của khoản vay hoặc là việc thanh toán nợ gốc và lãi không đúng kỳhạn
- Rủi ro tín dụng là nguy cơ mà khách hàng vay không thể chi trả tiền lãi,hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời gian đã ấn định trong hợp đồng tín dụng
- Rủi ro tín dụng là rủi ro mất vốn do bên đối tác không có khả năng thựchiện nghĩa vụ trả nợ
- Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là khả năng xảy ra tổn thất tronghoạt động tín dụng của các Ngân hàng do khách hàng không thực hiện hoặc không
Trang 7có khả năng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình theo đúng cam kết Đây là kháiniệm được nêu tại Điều 2 Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 củaNgân hàng Nhà nước Việt Nam được chấp nhận và áp dụng một cách phổ biếntrong hoạt động tín dụng hiện nay.
Vậy, rủi ro tín dụng là những thiệt hại kinh tế mà NH phải gánh chịu dokhách
hàng vay vốn sai hẹn trong thực hiện các điều khoản trong hợp đồng tín dụng đã kýtức là nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi không hoàn trả đầy đủ cho NH do nguyên nhân kháchquan và chủ quan Rủi ro tín dụng gây tổn thất về tài chính cho NH đó là làm giảmthu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của vốn, trong trường hợp nghiêm trọng cóthể dẫn đến thua lỗ và nguy cơ phá sản
Trong lĩnh vực kinh doanh ngân hàng, cung cấp tín dụng là chức năng cơ bảncủa NHTM Đối với hầu hết các NHTM, dư nợ tín dụng thường chiếm một tỷ lệđáng kể trong tổng tài sản Có và thu nhập từ hoạt động tín dụng chiếm khoảng từ1/3 đến 1/2 tổng thu nhập Tuy nhiên, tín dụng cũng là hoạt động mang lại nhiều rủi
ro với những tổn thất nặng nề cho các NHTM Khoản tín dụng có rủi ro mang cácđặc trưng sau:
- Khách hàng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng khi các cam kếtvay vốn đã hết hạn
- Tình hình tài chính của khách hàng có chiều hướng xấu dẫn tới khả năngngân hàng không thu hồi được vốn gốc và lãi
- Giá trị tài sản bảo đảm không đủ trang trải nợ gốc và lãi
- Thông thường, các khoản nợ này quá hạn từ 90 ngày trở lên
Điều này có nghĩa là các khoản thanh toán bao gồm cả phần gốc cũng như lãicam kết sẽ có thể bị trì hoãn hoặc thậm chí không được hoàn trả, và hậu quả là sẽảnh
hưởng nghiêm trọng đến sự luân chuyển tiền tệ và sự bền vững của tính chất trunggian dễ bị tổn thương trong hoạt động của ngân hàng
1.1.2.2 Các loại rủi ro tín dụng
Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro tín dụng được chia thành rủi ro giao
Trang 8- Rủi ro giao dịch: Là một hình thức rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phátsinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giákhách hàng Rủi ro giao dịch có 3 bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm
và rủi ro nghiệp vụ
+ Rủi ro lựa chọn là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tíchtín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để quyếtđịnh cho vay
+ Rủi ro bảo đảm phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoảntrong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, hình thức đảmbảo và mức cho vay trên giá trị TSĐB
+ Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và cáchoạt động cho vay, bao gồm cả hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý cáckhoản vay có vấn đề
- Rủi ro danh mục là hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là donhững hạn chế trong quá trình quản lý danh mục cho vay của ngân hàng Rủi rodanh mục được chia thành rủi ro nội tại và rủi ro tập trung
+ Rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tínhriêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc trong ngành, lĩnh vực kinh tế Nóxuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vayvốn
+ Rủi ro tập trung là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiềuđối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùngmột ngành nghề, lĩnh vực kinh tế hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định hoặccùng một loại hình cho vay có rủi ro cao
Trang 91.1.3 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng
1.1.3.1 Nguyên nhân từ phía ngân hàng
- Trình độ quản trị ngân hàng: được thể hiện ở 3 nội dung:
+ Hoạch định chiến lược và phương án kinh doanh của ngân hàng
+ Tổ chức thực hiện
+ Kiểm tra, giám sát
Bất kỳ một nội dung nào trong ba nội dung trên được thực hiện một cách yếukém cũng sẽ dẫn đến RRTD Chẳng hạn nếu chiến lược khách hàng không đứngđắn thì NHTM sẽ có đối tượng khách hàng xấu Hoặc nếu ngân hàng chấp hànhkhông nghiêm túc chế độ tín dụng và điều kiện cho vay thì không thể ràng buộcchặt chẽ nghĩa vụ trả nợ của khách hàng Hoặc nếu khâu kiểm tra, giám sát khônghiệu quả sẽ dẫn đến không phát hiện, ngăn ngừa được các bộ phận, cá nhân thựchiện không đúng chính sách, mục tiêu kinh doanh đề ra và làm xuất hiện các khoảnvay có vấn đề
Trang 10- Thiếu qui trình kiểm soát rủi ro hữu hiệu: Cho đến nay hầu như chưa có
NHTM nào của nước ta ban hành và thực hiện được chiến lược, chính sách pháttriển và chất lượng kiểm soát rủi ro tín dụng một cách khoa học, với những dự báotheo tháng, quí, năm theo các chỉ tiêu định tính và định lượng Nếu các biện phápgiảm thiểu rủi ro không được thực hiện trong từng nghiệp vụ riêng lẻ, chưa xâydựng được quy trình phòng ngừa RRTD thì tần suất và quy mô tác hại của RRTD
sẽ không được kiểm soát, phòng ngừa, quy mô thiệt hại của ngân hàng sẽ không thểlường được
- Nội dung và quy trình tín dụng: Rủi ro tín dụng trước hết phát sinh do ngân
hàng chưa thiết lập được một quy trình tín dụng chặt chẽ từ khâu lập hồ sơ đề nghịcấp tín dụng, phân tích tín dụng, ra quyết định cấp tín dụng, giải ngân, giám sát, thu
nợ đến khâu thanh lý tín dụng Giữa các giai doạn có mối quan hệ hỗ trợ cho nhau,việc phân đoạn này tạo điều kiện cho việc xác định rõ ràng các thao tác nghiệp vụ ởmỗi giai đoạn và phân định trách nhiệm cho nhân viên thực hiện
- Chiến lược và chính sách tín dụng: Trong môi trường cạnh tranh gay gắt,
các NHTM thực hiện chính sách mở rộng tín dụng để chiếm lĩnh thị phần bằng cáchđơn giản hóa thủ tục cho vay, hạ thấp tiêu chuẩn đánh giá khách hàng sẽ dễ gặpphải rủi ro tín dụng
Cơ chế trích lập dự phòng rủi ro tín dụng không hợp lý: Nguồn dự phòng rủi
ro được trích lập hàng năm của ngân hàng được xác định là một nguồn quan trọng
để bù đắp những mất mát khi không thu hồi được nợ Quỹ này được dùng để xử lýcác khoản nợ theo danh mục cụ thể khi đáp ứng những điều kiện trong quy định củatừng quốc gia
- Nguyên nhân do cán bộ ngân hàng:
+ Trình độ yếu kém của cán bộ ngân hàng chưa được đào tạo đầy đủ, không
am hiểu các lĩnh vực ngân hàng định đầu tư, không am hiểu luật pháp trong nước vàquốc tế Một cán bộ tín dụng trình độ yếu kém không đánh giá được hết khả năngrủi ro liên quan đến khoản vay và dẫn đến quyết định cho vay sai lầm và nguy cơphát sinh nợ xấu cao
Trang 11+ Do đạo đức nghề nghiệp: Có những cán bộ yếu kém về phẩm chất, tưtưởng đạo đức đã lợi dụng vị trí của mình để tham ô, trục lợi nên đã gây tổn thất tíndụng cho ngân hàng.
+ Chấp hành quy trình nghiệp vụ không nghiêm túc, phân tích tín dụngkhông chuẩn xác, thiếu thông tin hoặc thông tin không chính xác về khách hàng, từ
đó dẫn đến những quyết định cấp tín dụng sai đối tượng
- Phân tích khách hàng: Việc phân tích khác hàng một cách phiến diện, quá
quan tâm đến điều kiện đảm bảo tín dụng như: tài sản thế chấp, cầm cố bảo lãnh màcoi nhẹ tính khả thi, khả năng hoàn vốn của dự án cũng là nguyên nhân gây nên rủi
ro tín dụng
1.1.3.2 Nguyên nhân từ phía khách hàng
Đây là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến rủi ro tín dụng của các Ngân hàngthương mại Các nguyên nhân đó bắt nguồn từ:
- Năng lực, trách nhiệm quản lý, đạo đức của người vay vốn: Trong nền kinh
tế thị trường, các doanh nghiệp phải chịu sự cạnh tranh gay gắt và phải nỗ lực hếtmình trong những quan hệ phức tạp của xã hội để tồn tại và phát triển Nhìn chung,
đa phần các doanh nghiệp muốn giữ mối quan hệ tín dụng tốt đẹp với ngân hàng đểđược hưởng những ưu đãi đối một khách hàng được xếp loại tín nhiệm Song khôngtránh khỏi có một số khách hàng cố tình lừa gạt ngân hàng để mưu lợi không chínhđáng Nếu ngân hàng không phát hiện ra thì khả năng gặp nợ khó thu hoặc thukhông được là rất lớn Trên thực tế, các hoạt động đó thường là mạo hiểm, chứađựng quá nhiều rủi ro vượt quá giới hạn cho phép của ngân hàng, và rủi ro của cáckhoản tín dụng đã cho vay được đặt ở mức báo động
Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp do kinh doanh kém hiệu quả hoặc do đạo đứckém đã cố ý chây ỳ, không trả nợ cho ngân hàng, thậm chí còn bỏ trốn để chạy nợ.Trong trường hợp này ngân hàng hoàn toàn bị thua thiệt và chỉ còn trông chờ vàoviệc xử lý tài sản thế chấp và sự can thiệp của pháp luật
- Sự sụp đổ của các đối tác kinh doanh: Trong nền kinh tế, doanh nghiệp có
rất nhiều mối quan hệ với các tổ chức kinh tế khác và cũng giống ngân hàng, doanh
Trang 12nghiệp cũng có thể bị rủi ro từ phía các đối tác của mình làm cho doanh nghiệp bịthua lỗ, không có khả năng trả nợ cho ngân hàng Bản thân doanh nghiệp cũng cóthể gặp rủi ro từ thị trường, từ các quyết định sai lầm trong các dự án không do ngânhàng tài trợ, hoặc từ sự thay đổi chính sách của chính phủ
- Sản phẩm và công nghệ lạc hậu: Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật
nhanh như hiện nay, công nghệ sản xuất của các doanh nghiệp nhanh chóng trở nênlạc hậu, sản phẩm sản xuất ra không có khả năng cạnh tranh cao, dẫn đến nguy cơkhó tiêu thụ sản phẩm và doanh nghiệp không có khả năng trả nợ đúng hạn Đểkhắc phục, ngân hàng có khả năng cấp vốn tín dụng đầu tư chiều sâu để doanhnghiệp cải thiện khả năng tiêu thụ của mình, nhưng quy mô RRTD từ các doanhnghiệp này sẽ lớn hơn nếu doanh nghiệp không có khả năng đổi mới cao Nhìnchung, các doanh nghiệp của nước ta có công nghệ lạc hậu, khả năng đổi mới côngnghệ cũng không cao, nên RRTD của ngân hàng về phương diện này lớn hơn cácnước khác
- Thiếu vốn cho hoạt động kinh doanh: Vốn tự có của các doanh nghiệp ở
nước ta thường rất thấp so với nhu cầu kinh doanh hoặc dự án xin vay Đối với chovay ngắn hạn hiện nay vốn ngân hàng tham gia đến 75% nhu cầu vốn; dự án trung,dài hạn vốn ngân hàng tham gia 60% Do vốn tự có của doanh nghiệp chiếm tỷ lệthấp trong dự án vay vốn, nên khi dự án thất bại, rủi ro mất vốn của ngân hàng sẽ rấtlớn Mặt khác, ở nước ta còn có tình trạng một dự án mới phát sinh không được đápứng đủ nhu cầu về vốn, doanh nghiệp liền sử dụng vốn của các dự án trước cho dự
án này Việc sử dụng các khoản vay không đúng mục đích đã cam kết vừa dẫn tớithâm hụt tài chính của doanh nghiệp, vừa tăng rủi ro từ phía kém hiệu quả của dự
án Những hậu quả đó làm cho xác suất RRTD của ngân hàng tăng cao
1.1.3.3 Nguyên nhân khác
- Môi trường tự nhiên: Nền kinh tế chịu tác động trực tiếp của môi trường tự
nhiên Các diễn biến không dự đoán của thiên nhiên, nhất là thảm họa như lũ lụt hạnhán, dịch bệnh, hỏa hoạn gây tác hại nặng lề đến sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp, các hộ sản xuất hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, thương
Trang 13Ngược lại, khi nền kinh tế lạm phát, suy thoái, mất ổn định, sức mua giảm sút, hànghóa ứ đọng, làm cho các doanh nghiệp khó khăn, thua lỗ và ảnh hưởng tới khả năngtrả nợ cho ngân hàng Thậm chí, khi lãi suất thị trường thay đổi không như NHTMdự
kiến cũng dẫn đến rủi ro tín dụng
Ngoài ra, các chính sách quản lý vĩ mô của Chính phủ cũng ảnh hưởng lớnđến hoạt động của các doanh nghiệp và của ngân hàng Chẳng hạn khi Chính phủgiảm thuế nhập khẩu mặt hàng nào đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp tiêu thụ các sản phẩmtương tự trong nước, làm cho khả năng cạnh tranh của sản phẩm cùng loại sản xuấttrong nước kém sức cạnh tranh
- Môi trường chính trị - văn hóa - xã hội quốc gia:
Môi trường chính trị- xã hội ổn định tạo điều kiện cho các doanh nghiệp pháttriển Ngược lại, doanh nghiệp hoạt động trong tình trạng bất an, tệ hại nhất là chiếntranh, cấm vận, chính trị bất ổn, tệ nạn xã hội lan tràn thì sẽ gặp rủi ro rất lớntrong hoạt động kinh doanh Mọi rủi ro của doanh nghiệp đều dẫn đến trình trạng tàichính sa sút, làm cho doanh nghiệp khó khăn không có khả năng trả nợ
Đối với văn hóa của một nước, của một địa phương liên quan đến sự hiểubiết và thói quen sử dụng các dịch vụ ngân hàng, thói quen sử dụng, cất trữ tiềnmặt, thói quen tiêu dùng theo mùa vụ.đều ít nhiều ảnh hưởng tới hoạt động củangân hàng nói chung và đến RRTD nói riêng
- Môi trường pháp lý: Hoạt động tín dụng của ngân hàng phải dựa trên nền
tảng pháp lý vững vàng, đầy đủ và chặt chẽ Bởi vì, tín dụng ngân hàng dựa trênniềm tin rằng khách hàng sẽ trả cả vốn và lãi cho ngân hàng khi đến hạn Ngày nay,niềm tin đó chỉ có được dựa trên cơ sở dự bảo hộ của luật pháp Nếu nhà nước xây
Trang 14hệ giữa các doanh nghiệp với ngân hàng, do đó RRTD của ngân hàng sẽ giảm.Ngược lại, hệ thống pháp luật lỏng lẻo, kém hiệu lực là cơ hội thuận lợi cho cácdoanh nghiệp xấu lừa đảo, chây ì trong quan hệ tín dụng với ngân hàng, qua đó làmtăng RRTD.
- Môi trường quốc tế: Hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế là một xu thế tất
yếu và chính điều này khiến cho môi trường quốc tế có ảnh hưởng trực tiếp đếnhoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp và ngân hàng Nếu tình hình kinh tế -tài chính của khu vực và thế giới ổn định và phát triển thì sẽ tác động thúc đẩy hoạtđộng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp và ngược lại, nếu quan hệ kinh tếcủa doanh nghiệp ở nước ngoài bị đổ vỡ thì sẽ làm cho ngân hàng phải hứng chịuRRTD cùng khách hàng Quan hệ kinh tế mở rộng ra các nước đã tạo ràng buộc vềkinh tế của doanh nghiệp và ngân hàng vào nước ngoài, nhất là ràng buộc về phápluật, do đó làm tăng quy mô và tăng các nguyên nhân dẫn đến RRTD của ngânhàng
- Chiến lược hoạt động và quy hoạch phát triển của toàn hệ thống ngân hàngđang trong quá trình hình thành, chiến lược kinh doanh của các NHTM chưa rõ ràng
về mặt định tính và định lượng, nguồn lực tài chính, quy mô vốn tự có còn nhỏ bénên không có nguồn bù đắp cho những tổn thất, thất thoát
- Các nguyên nhân bất khả kháng khác như: thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh,
sự biến động của thị trường, thay đổi về lãi suất, tỷ giá, ảnh hưởng của các cuộckhủng hoảng kinh tế, chính trị, xã hội trong khu vực và trên thế giới cũng lànguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng
1.2 NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG KIỂM SOÁT RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.1 Khái niệm
- Kiểm soát rủi ro tín dụng là việc sử dụng các biện pháp, kỹ thuật, công cụ,chiến lược và những quá trình nhằm chủ động điều khiển, biến đổi rủi ro tín dụngtại một ngân hàng bằng cách kiểm soát tần suất, mức độ rủi ro
Có nhiều quan niệm về chất lượng kiểm soát rủi ro như:
Trang 15- Chất lượng kiểm soát rủi ro có thể được định nghĩa như một chuẩn hóanhằm giảm thiểu các tổn thất và tối đa hoá các khoản lợi nhuận bằng các công cụthích hợp thông qua xác định nguyên nhân của rủi ro.
- Chất lượng kiểm soát rủi ro có thể là việc xác định, đánh giá và xử lý cáctình huống xảy ra rủi ro gây thiệt hại về tài sản
- Chất lượng kiểm soát rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học,toàn diện và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểunhững tổn thất, mất mát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro
Hiện nay vẫn chưa có một khái niệm chính thức nào về chất lượng kiểm soátrủi ro tín dụng Tuy nhiên, từ các quan niệm về chất lượng kiểm soát rủi ro nêu trên,
có thể hiểu chất lượng kiểm soát rủi ro tín dụng như sau:
Chất lượng kiểm soát rủi ro tín dụng là việc phòng ngừa, kiểm soát, tìm ra nguyên nhân và xử lý các tình huống xảy ra rủi ro tín dụng nhằm giảm thiểu tối đa các tổn thất do rủi ro tín dụng gây ra.
1.2.2 Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng kiểm soát rủi ro tín dụng
* Duy trì sự hoạt động bền vững cho ngân hàng
Do nguồn vốn của ngân hàng được huy động từ nhiều nguồn khác nhau trong
xã hội, rủi ro tín dụng có thể làm giảm uy tín của ngân hàng, và mức độ sẽ trở nênnghiêm trọng khi những người gửi tiền đồng loạt rút tiền, lúc này một loại rủi rokhác sẽ xảy ra là rủi ro thanh toán Vậy nên ngân hàng cần quan tâm tới việc chấtlượng kiểm soát rủi ro tín dụng để mức độ rủi ro xảy ra hoàn toàn nằm trong tầmkiểm soát của ngân hàng, và không làm ảnh hưởng đến hoạt động bền vững trongtương lai của ngân hàng
* Duy trì sự ổn định của hệ thống NHTM
Việc chất lượng kiểm soát rủi ro tín dụng không chỉ có ý nghĩa đối với mộtngân hàng, vì các ngân hàng luôn hoạt động trong một hệ thống nên khi một ngânhàng gặp rủi ro nghiêm trọng và dẫn tới sụp đổ thì nó gây ra hiệu ứng lan truyềntrong toàn bộ hệ thống ngân hàng Điều này sẽ làm ảnh hưởng không tốt đến hệthống ngân hàng - huyết mạch của nền kinh tế
Trang 16* Tăng cường hiệu quả hoạt động tín dụng
Năng lực kiểm soát rủi ro mà không tốt thì việc mở rộng tín dụng của ngânhàng cũng không thực sự có ý nghĩa, vì càng mở rộng có nghĩa là ngân hàng càngphải đối mặt với thua lỗ nhiều hơn thậm chí là ăn mòn dần vào vốn khiến ngân hàngkhiến ngân hàng khó có thể đứng vững trong nền kinh tế thị trường và cạnh tranh.Điều này đồng nghĩa với việc ngân hàng phải bỏ lỡ những cơ hội mở rộng kháchhàng và giảm thị phần của mình
Như vậy, việc nâng cao chất lượng kiểm soát rủi ro tín dụng đối với mộtngân hàng chính là vấn đề sống còn, khi mà cho đến nay nghiệp vụ tín dụng vẫn lànghiệp vụ truyền thống và chủ yếu của nhiều ngân hàng trên thế giới
1.2.3 Nguyên tắc kiểm soát rủi ro tín dụng
* Nguyên tắc 1: Không có rủi ro thì không có lợi nhuận
Khi kinh doanh tín dụng thì không thể bảo đảm hoàn toàn không có rủi ro,nhưng nếu tất cả các NHTM đều ngại rủi ro mà không cung cấp các sản phẩm tíndụng thì đã bỏ lỡ một thị trường rộng lớn Việc chấp nhận rủi ro có ý thức là việcngân hàng cần có sự tính toán trước về mức độ rủi ro tín dụng để có thể đưa ra cácbiện pháp hạn chế rủi ro và các mức quyết định cấp tín dụng phù hợp cho kháchhàng
để đảm bảo việc kinh doanh mang lại lợi nhuận
* Nguyên tắc 2: Phân tách người chấp nhận rủi ro và người kiểm soát rủi
ro
Nghĩa là các bộ phận kinh doanh tín dụng - nơi phát sinh rủi ro - cần phảiđược tách riêng khỏi các đơn vị mà nhiệm vụ của họ là giám sát và hạn chế rủi ro.Hai bộ phận này có chức năng nhiệm vụ khác hẳn nhau, bộ phận tín dụng luôn tìmcách cho vay để tăng doanh số và lợi nhuận, trong khi đó bộ phận giám sát luôn tìmcách tìm ra các hạn chế trong quá trình cho vay để phòng ngừa rủi ro Nếu như kiêmnhiệm hai bộ phận này thì rất dễ dẫn đến rủi ro tín dụng
* Nguyên tắc 3: Công khai
Theo nguyên tắc này thì những rủi ro cần được công khai thay vì che giấu
nó Ngân hàng nên tạo ra những chính sách khuyến khích nhân viên phát hiện rủi
Trang 17* Nguyên tắc 4: Tuyệt đối tuân thủ
Việc xây dựng một quy trình chất lượng kiểm soát rủi ro tín dụng tốt là chưa
đủ với một ngân hàng Điều quan trọng là ngân hàng cần biết cách làm cho nhânviên của mình hiểu và tuân thủ những quy định đó
1.2.4 Nội dung về chất lượng kiểm soát rủi ro tín dụng
1.2.4.1 Mục đích của kiểm soát rủi ro
RRTD là một trong những vấn đề mà tất cả các NHTM phải đặc biệt quantâm Chúng có thể đem đến tổn thất lớn cho ngân hàng Chính vì vậy, vấn đề đặt ravới các tổ chức tín dụng là làm sao có thể:
- Xác định các rủi ro mà họ phải đương đầu
- Đối phó, giải quyết với các rủi ro trên để bảo toàn vốn và năng lực tàichính
- Tối thiểu hóa bất cứ tổn thất nào có thể xẩy ra do rủi ro
Đây chính là bản chất của kiểm soát rủi ro, đó là việc lập kế hoạch và quyếtđịnh sử dụng công cụ quản trị rủi ro
1.2.4.2 Phương pháp đo lường rủi ro tín dụng
Phân tích đo lường RRTD nhằm hỗ trợ cho NHTM trong việc ra quyết địnhcấp tín dụng Giám sát và đánh giá khách hàng khi khoản tín dụng đang còn dư nợ,cho phép NHTM lường trước những dấu hiệu cho thấy khoản vay đang có chấtlượng xấu đi và có những biện pháp đối phó kịp thời Đồng thời, việc đánh giá, đolường RRTD cũng giúp cho ngân hàng ước lượng mức vốn đã cho vay sẽ không thuhồi được để trích lập dự phòng tổn thất tín dụng
Có hai phương pháp tương đối cơ bản mà các NHTM thường sử dụng đểđánh
giá RRTD là mô hình phản ánh định tính và mô hình phản ánh định lượng Cácphương
pháp này không loại trừ nhau nên các NHTM có thể sử dụng cả hai phương pháp đểphân tích đánh gía mức độ RRTD của khách hàng
Để sử dụng phương pháp định tính trong đánh giá RRTD, ngân hàng phải thuthập các thông tin liên quan đến chất lượng về người vay bằng cách tự thu thập qua
Trang 18tài chính của người vay vốn, uy tín của người vay, chất lượng của dự án đầu tư, tàisản thế chấp, các yếu tố liên quan đến thị trường.
Phương pháp định lượng RRTD cho phép ban lãnh đạo ngân hàng đánh giámức độ rủi ro gặp phải của ngân hàng liệu đã đáp ứng được chiến lược kiểm soátRRTD hay chưa Thực hiện phương pháp này các NHTM đã áp dụng hệ thốngchấp điểm tín dụng và xếp loại khách hàng như một quy trình đánh giá xác suấtmột khách hàng tín dụng không thực hiện được các nghĩa vụ tài chính đối vớingân hàng Mức độ RRTD thay đổi theo từng khách hàng và được xác định thôngqua quá trình đánh giá bằng thang điểm, dựa vào thông tin tài chính và phi tàichính của khách hàng tại thời điểm chấm điểm tín dụng
1.2.4.3 Quy trình kiểm soát rủi ro tín dụng
Ve mặt lý thuyết, quy trình nâng cao chất lượng kiểm soát RRTD nói riêng
và các rủi ro khác nói chung gồm 6 bước:
Bước 1: Xác định mục tiêu kiểm soát rủi ro
Xác định các mục tiêu mà các ngân hàng mong muốn đạt được từ quá trìnhthực hiện nâng cao chất lượng kiểm soát rủi ro Các mục tiêu này bao gồm sự duytrì sau tổn thất có tính thảm họa, các khoản thu nhập ổn định, các chi phí trong dàihạn thấp, ổn định trong ngắn hạn
Bước 2: Xác định các rủi ro
Khi các mục tiêu ban đầu của quá trình kiểm soát rủi ro được xác định, nhàkiểm soát rủi ro phải xác định các rủi ro có thể dẫn đến tổn thất cho ngân hàng đểnâng cao chất lượng kiểm soát hiệu quả Đây là việc khó khăn nhất mà nhà kiểmsoát rủi ro phải thực hiện
Bước 3: Đánh giá rủi ro
Sau khi xác định được các rủi ro tiềm năng, để nâng cao chất lượng kiểmsoát rủi ro thì bước quan trọng tiếp theo của quá trình kiểm soát rủi ro là đánh giámức độ ảnh hưởng của rủi ro theo các tiêu thức như tần số, khả năng và mức độnghiêm trọng của rủi ro Quá trình định lượng này giữ một vai trò quan trọng vì nóchỉ ra các khả năng có thể dẫn đến tổn thất và đòi hỏi sự lưu ý khẩn cấp
Trang 19Bước 4: Lựa chọn các quyết định để ngăn chặn rủi ro hoặc tối thiểu hóa tổn thất
Một khi khả năng dẫn đến rủi ro được xác định và định lượng, nhà kiểm soátrủi ro phải lựa chọn tập hợp các công cụ kiểm soát rủi ro tốt nhất cho việc đối phóvới vấn đề phải đương đầu nhằm đảm bảo chất lượng kiểm soát hiệu quả nhất Cáccông cụ này cơ bản bao gồm:
- Tránh né khả năng rủi ro xảy ra gây tổn thất
- Chấp nhận rủi ro
- Ngăn chặn tổn thất
- Giảm tổn thất
- Chuyển giao rủi ro
Để lựa chọn các công cụ kiểm soát rủi ro hợp lý, nhà quản lý phải xác địnhđược các chi phí của việc sử dụng các công cụ này Nhà kiểm soát rủi ro cũng phảixem xét khả năng tài chính hiện tại và các mục tiêu quản lý rủi ro của ngân hàngmình
cụ thể về việc trích lập dự phòng theo 5 mức 0%, 5%, 20%, 50%, 100% tuỳ theo 5nhóm nợ
Bước 5: Thực hiện quyết định đã lựa chọn
Ví dụ, nếu mua bảo hiểm, việc tạo ra phạm vi bảo hiểm thích hợp, thỏa thuậnđược các tỷ lệ phí hợp lý và việc lựa chon người bảo hiểm là một phần của quá trìnhthực hiện
Bước 6 : Theo dõi kết quả thực hiện các quyết định, điều chỉnh, bổ sung các biện pháp khác khi môi trường thay đổi
Trang 201.2.4.4 Nội dung chất lượng kiểm soát rủi ro tín dụng
Chất lượng kiểm soát rủi ro tín dụng có 2 nội dung cơ bản là phòng ngừa rủi
ro và xử lý rủi ro
Phòng ngừa rủi ro là công việc không thể thiếu trong chất lượng kiểm soát
rủi ro tín dụng Phòng ngừa rủi ro một mặt nhằm giảm thiểu các tình huống có thểdẫn tới rủi ro, mặt khác có thể giúp NHTM chủ động đối phó nếu xảy ra rủi ro gâytổn thất về mặt tài chính cho ngân hàng Việc phòng ngừa rủi ro gồm các khâu sau:
- Lựa chọn khách hàng: Trên cơ sở giấy đề nghị cấp tín dụng và các thông
tin do khách hàng cung cấp, ngân hàng tiến hành thẩm định các thông tin đó và tìmthêm thông tin từ các nguồn khác, từ đó thực hiện việc đánh giá, phân loại kháchhàng theo mức độ rủi ro để quyết định có hay không cho khách hàng vay vốn
- Theo dõi, đánh giá việc sử dụng vốn vay: Để hạn chế việc khách hàng sử
dụng vốn vay sai mục đích và để kiểm soát mức độ rủi ro tín dụng phát sinh trongquá trình sử dụng vốn tín dụng có thể dẫn đến việc khách hàng không có khả năngtrả nợ hoặc không chịu trả nợ, các ngân hàng phải thường xuyên kiểm tra, đánh giácác hoạt động của dự án vay, kịp thời phát hiện những vi phạm để có ứng xử thíchhợp
- Xây dựng mối quan hệ lâu dài với khách hàng: Đây là một trong những
nguyên lý quan trọng trong kiểm soát RRTD, vì mối quan hệ lâu dài với khách hànggiúp cho các TCTD giảm thiểu các chi phí liên quan đến việc thu thập thông tinđánh giá tiềm năng và RRTD của khách hàng và việc phân loại khách hàng theomức độ rủi ro tín dụng cũng dễ dàng, chuẩn xác hơn
- Thực hiện các cam kết trong hợp đồng vay vốn: NH cam kết sẽ cung cấp
vốn cho khách hàng theo thoả thuận trong hợp đồng, còn khách hàng phải định kỳcung cấp các báo cáo tài chính, tình hình thực hiện và kết quả đạt được của các dự
án đầu tư một cách trung thực, chính xác
- Tài sản bảo đảm cho khoản vay: Đây là một trong số các biện pháp hữu
hiệu
nhằm giảm thiểu rủi ro cho các NHTM trong trường hợp khách hàng không trả được
nợ Tài sản bảo đảm cho khoản vay có thể dưới hình thức cầm cố, thế chấp tài sản
Trang 21thuộc sở hữu của người đi vay hay bảo lãnh của bên thứ ba.
- Hạn mức tín dụng: Là giới hạn tối đa số tiền cho vay mà ngân hàng có thể
cung cấp cho một khách hàng trong một thời gian nhất định Hạn mức tín dụng cóthể thể hiện dưới hình thức các NHTM chỉ đáp ứng một phần, chứ không phải toàn
bộ khoản vay, nhằm phòng tránh rủi ro đạo đức bởi vì khi khoản vay càng lớn thìkhách hàng càng có điều kiện sử dụng vốn vay sai mục đích
- Phương pháp quản lý thu nợ: Đây là khâu rất quan trọng, vì nó giúp ngân
hàng bảo toàn được vốn và có lãi Tuỳ theo tính chất của khoản tín dụng mà có cáccách thu nợ khác nhau Trong các trường hợp khách hàng chậm trả hoặc không trảđược nợ thì ngân hàng đã gặp rủi ro tín dụng và tuỳ theo từng mức độ, trường hợp
cụ thể, ngân hàng sẽ đưa ra các giải pháp, cách xử lý thích hợp
- Đánh giá chất lượng tín dụng: thực chất là tiến hành phân tích tín dụng
trong điều kiện khoản tín dụng đã được cấp với mục tiêu là đánh giá chất lượng tíndụng nhằm phát hiện các rủi ro để có hướng xử lý kịp thời, đánh giá năng lực củakhách hàng, nhận định về hiện trạng cấp tín dụng của ngân hàng Sau khi đánh giáchất lượng tín dụng, ngân hàng sẽ xếp loại chúng theo các tiêu chí khác nhau:
+ Theo chất lượng tín dụng ( tốt, xấu, trung bình )
+ Theo uy tín của khách hàng trong quan hệ với ngân hàng
+ Theo khả năng thu hồi nợ
Việc đánh giá và xếp loại tín dụng nhằm thanh tra, kiểm tra nội bộ, đảm bảohoạt động tín dụng được an toàn, đúng hướng và có hiệu quả
- Đa dạng hoá hoạt động: Trong kinh doanh, đa dạng hoá là một phương
pháp phòng ngừa rủi ro hữu hiệu, vì bằng biện pháp này, rủi ro được san sẻ cho cácsản phẩm khác nhau Trong kinh doanh ngân hàng, đa dạng hoá thể hiện dưới hìnhthức đưa ra nhiều loại sản phẩm, dịch vụ khác nhau
- Mua bảo hiểm: Đây là biện pháp thường được các NHTM lớn sử dụng
nhằm giảm thiểu tổn thất trong trường hợp xảy ra rủi ro Tuỳ theo hình thức và cáccam kết trong hợp đồng bảo hiểm mà NH mua bảo hiểm sẽ nhận được mức bồithường tương ứng khi rủi ro xảy ra
Trang 22Xử lý rủi ro: là việc xử lý rủi ro khi nó xảy ra Xử lý rủi ro bao gồm các
công việc sau:
- Xử lý bằng cách trích từ quỹ dự phòng rủi ro: Các NHTM thường phải trích
dự phòng rủi ro theo tỷ lệ nhất định tuỳ vào tổng dư nợ tín dụng và tính chất củakhoản vay Dự phòng này sẽ bù đắp cho những rủi ro mà NH có thể gặp phải tronghoạt động kinh doanh
- Khai thác tài sản bảo đảm tiền vay: Khi đồng ý cho khách hàng vay vốn,NHTM thường đưa ra điều kiện về tài sản bảo đảm tiền vay Trong trường hợpkhách hàng không còn khả năng trả nợ, thì NH được quyền khai thác các tài sản bảođảm này để thu hồi nợ vay, giảm tổn thất cho NH
- Thực hiện mua, bán nợ: Đây là việc các NHTM mua hoặc bán các khoản
nợ với các NH hoặc các tổ chức tài chính khác nhằm lành mạnh hoá tình hình tàichính, giải phóng nguồn vốn
- Xử lý bằng nguồn ngân sách quốc gia: Khi số nợ quá hạn của NHTM quálớn, vượt quá mức xử lý của bản thân ngân hàng và của toàn hệ thống, có nguy cơảnh hưởng xấu đến tình hình kinh tế - xã hội, thì Nhà nước sẽ đứng ra xử lý bằngnguồn ngân sách quốc gia để mua lại toàn bộ hoặc một phần số nợ quá hạn đó
- Các biện pháp khác như: gia hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn bằng cách nhập vào
kỳ sau, hoặc điều chỉnh hợp đồng về kỳ hạn trả nợ, chuyển vốn vay thành cổphần
Tóm lại, kiểm soát rủi ro là một quá trình diễn ra liên tục và nó có thể thayđổi tuỳ thuộc vào điều kiện tài chính, đặc thù và quy mô của hoạt động kinh doanhcủa mỗi NHTM cũng như tùy thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội nhất định
1.2.4.5 Tiêu chí đánh giá chất lượng kiểm soát rủi ro tín dụng
Có rất nhiều tiêu chí để đánh giá chất lượng kiểm soát rủi ro tín dụng, nhưngtrong giới hạn phạm vi nghiên cứu của luận văn chỉ nghiên cứu những chỉ tiêu chủyếu, trong đó thông qua các chỉ tiêu này tác động đến đánh giá chất lượng kiểmsoát rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại
Trang 23a Các chỉ tiêu định tính
Chất lượng kiểm soát rủi ro tín dụng được thể hiện qua kết quả phân tích,nhận dạng, đo lường RRTD đối với ngân hàng Do đó về mặt định tính, chất lượngkiểm soát RRTD được đánh giá ở các mặt sau:
Một là, góp phần thực hiện được các mục tiêu chung của ngân hàng thôngqua nhận dạng phân tích đo lường khả năng xảy ra rủi ro của khoản vay khách hàng
Từ đó góp phần không nhỏ vào quá trình ra quyết định tín dụng, khả năng thu hồiđược gốc và lãi trong khoảng thời gian đã định trong hợp đồng vay vốn, bảo toànđược vốn kinh doanh Thực hiện được tốt nhất các mục tiêu mà chiến lược quản lý
đã đặt ra Những mục tiêu chính là các tiêu chuẩn để đo lường sự thành công haythất bại của chương trình và cũng quyết định triết lý nền tảng cho những hoạt độngkiểm soát rủi ro
Hai là, góp phần tạo ra một danh mục cho vay đa dạng, hiệu quả: Thông quaviệc đánh giá, đo lường RRTD trong từng nhóm khách hàng, từng ngành nghề cụthể
Từ đó tìm ra được những danh mục cho vay có mức độ rủi ro thấp, đem lại hiệu quảcao để đầu tư, đồng thời thông qua đó cũng có thể tìm ra được những nhu cầu mới,những danh mục hoạt động mới cho ngân hàng
Ba là, chất lượng kiểm soát RRTD còn thể hiện ở khả năng nhận dạng, xácđịnh một cách chính xác và đầy đủ những rủi ro có thể xảy ra đối từng món vay,từng nhóm khách hàng và từng ngành nghề hay lĩnh vực hoạt động Để có phương
án đối phó kịp thời với những thay đổi đó
Bốn là, chất lượng kiểm soát RRTD còn thể hiện ở phân tích và đo lườngmột cách chính xác khả năng rủi ro có thể xảy ra, không những thế những nhậnđịnh, đo lường rủi ro còn phải kịp thời góp phần nâng cao khả năng kiểm soátRRTD trong hoạt động của ngân hàng
Năm là, chất lượng kiểm soát RRTD còn thể hiện ở việc lựa chọn các biệnpháp quản lý và kiểm soát rủi ro một cách tối ưu với chi phí thấp góp phần giảmthiểu những tổn thất, mất mát do rủi ro gây ra đối với ngân hàng
Sáu là, góp phần vào sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của địa phương, nó
Trang 24thể hiện thông qua hiệu quả sử dụng nguồn lực về vốn cũng như góp phần đầu tưvào các ngành nghề, lĩnh vực thế mạnh, mũi nhọn của địa phương, thông qua tìmkiếm các danh mục cho vay có hiệu quả rủi ro ít.
Bảy là, chất lượng kiểm soát RRTD biểu hiện ở tính linh hoạt của chiến lượcquản trị RRTD Chiến lược quản trị RRTD giúp cho ngân hàng thấy rõ mục đích vàđịnh hướng kinh doanh của mình, là cơ sở để xác định hình ảnh tương lai của ngânhàng Nhưng điều kiện môi trường kinh doanh luôn biến đổi và tạo ra những tháchthức mới, sự biến đổi nhanh chóng của môi trường có thể tạo ra những cơ hội vànguy cơ bất ngờ Vì vậy tính linh hoạt trong chiến lược quả trị RRTD thông quathông tin liên lạc và giám sát có hiệu quả, khả năng nhận ra và dự đoán những thayđổi trong môi trường và phản ứng đối với chúng một cách tốt nhất, hợp lý nhất,giảm thiểu được những rủi ro có thể xảy ra cũng chính là chỉ tiêu phản ánh chấtlượng kiểm soát RRTD
b Các chỉ tiêu định lượng
Có nhiều các chỉ tiêu định lượng để đánh giá chất lượng kiểm soát RRTD,nhưng thông thường người ta sử dụng một số chỉ tiêu chủ yếu: Chỉ tiêu ước tính tổnthất tín dụng dựa trên hệ thống cơ sở dữ liệu nội bộ, hệ thống chỉ tiêu đánh giá chấtlượng tín dụng, hệ thống các chỉ tiêu tài trợ tín dụng
Một là, xây dựng được mức độ rủi ro chấp nhận đối với các hoạt động tín
dụng một cách chính xác nhằm chủ động lựa chọn các khoản vay, các khách hàng,các lĩnh vực hoạt động đem lại hiệu quả cao với mức rủi ro có thể chấp nhận được (trong tầm kiểm soát )
Việc xây dựng được mức rủi ro chấp nhận có ý nghĩa rất quan trọng trongquá trình cấp tín dụng nó chính là cơ sở quan trọng trong phân tích và lựa chọnkhách hàng Mức độ rủi ro chấp nhận là các điều khoản và điều kiện lựa chọnkhách hàng trên thị trường mục tiêu Một khi ngân hàng đã xây dựng được chiếnlược kinh doanh của ngân hàng và nhận dạng được thị trường mục tiêu cần phải cónhững thước đo để phản ánh là dư nợ của khách hàng đó phù hợp với mục tiêu củangân hàng Chiến lược của ngân hàng có trở thành hiện thực hay không là dựa vào
Trang 25một thị trường mục tiêu được xác định rõ ràng và tiêu chí chấp nhận rủi ro rõ ràng.
Hai là, ước tính được mức tổn thất dự kiến cho từng khoản vay một cách
chính xác Từ đó có những biện pháp kiểm soát rủi ro an toàn, chi phí thấp, lựachọn được các biện pháp tối ưu trong cấp tín dụng
Đối với từng khoản vay, ngoài việc tính toán các khả năng, năng lực củakhách hàng vay vốn, Ngân hàng cũng phải xác định được thu nhập từ khoản vaythông qua phân tích, tính toán lợi nhuận từ phương án sản xuất kinh doanh, dự ánđầu tư Cũng từ đó xác định được giá trị tín dụng chịu rủi ro hay mức tổn thất dựkiến cho khoản vay đó
Ba là, các tiêu chí phản ánh chất lượng tín dụng.
* Nợ quá hạn:
Nợ quá hạn là khoản nợ mà khách hàng không trả được khi đến hạn thanhtoán đã thỏa thuận ghi trên hợp đồng tín dụng Nợ quá hạn là thước đo quan trọngnhất đánh giá sự lành mạnh thể chế, nó tác động tới tất cả các hoạt động chính củangân hàng Theo thông tư 02/2013 của NHNN thì “Nợ quá hạn là khoản nợ mà mộtphần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn ”
Có thể nói đây là một chỉ tiêu rộng rãi nhất để đánh giá chất lượng kiểm soátRRTD của các NHTM Chỉ tiêu này càng cao thì mức độ RRTD của ngân hàngcàng lớn, việc kiểm soát RRTD của ngân hàng càng kém hiệu quả
* Tỷ lệ nợ quá hạn
Nếu chỉ sử dụng chỉ tiêu nợ quá hạn thôi thì chưa đủ để đánh giá một cáchđúng đắn chất lượng kiểm soát RRTD của ngân hàng Ngoài các chỉ tiêu số tuyệtđối, người ta còn sử dụng chỉ tiêu số tương đối là tỷ lệ nợ quá hạn Tỷ lệ nợ quá hạn
là tỷ lệ giữa tổng dư nợ quá hạn và tổng dư nợ hiện có của ngân hàng Tỷ nợ quáhạn được xác định như sau
Tỷ lệ nợ quá hạn = D- ni qu h n x 100%
⅛ngl- nĩChỉ tiêu này phản ánh bao nhiêu phần trăm tổng dư nợ chưa thanh toán bị quáhạn Tỷ lệ này càng cao thì khả năng xảy ra RRTD của ngân hàng càng lớn, phảnánh
Trang 26hoạt động kiểm soát RRTD của ngân hàng chưa tốt Ngược lại, tỷ lệ này thấp phảnánh
việc quản lý chất lượng RRTD của ngân hàng đạt hiệu quả
Tuy nhiên, nếu tỷ lệ này thấp và gần bằng 0 không có nghĩa là việc kiểm soátRRTD của ngân hàng là tốt, mà số tiền rủi ro khi đó chính là tổng dư nợ hiện tại củangân hàng, không phải những khoản cho vay chưa đến hạn thanh toán là không córủi ro Vì thế, ngoài 2 chỉ tiêu định lượng cơ bản, người ta còn sử dụng chỉ tiêu địnhtính
đó, các khoản nợ của các TCTD phân loại theo 5 nhóm nợ có thể dựa trên phươngpháp phân loại nợ định lượng hoặc định tính
+ Phân loại nợ theo phương pháp định lượng:
a) Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm:
- Nợ trong hạn và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ
gốc và lãi đúng hạn;
- Nợ quá hạn dưới 10 ngày và được đánh giá là có khả năng thu hồi
đầy đủ nợ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi còn lạiđúng thời hạn;
- Nợ được phân loại vào nhóm 1 theo quy định tại khoản 2 Điều này
b) Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm:
- Nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày;
- Nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu;
Trang 27- Nợ được phân loại vào nhóm 2 theo quy định tại khoản 2 và khoản 3
Điều này
c) Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:
- Nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày;
- Nợ gia hạn nợ lần đầu;
- Nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi
đầy đủ theo hợp đồng tín dụng;
- Nợ thuộc một trong các trường hợp sau đây:
+ Nợ của khách hàng hoặc bên bảo đảm là tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng mà tổchức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được cấp tín dụng theo quyđịnh của pháp luật;
+ Nợ được bảo đảm bằng cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng hoặc công ty con của
tổ chức tín dụng hoặc tiền vay được sử dụng để góp vốn vào một tổ chức tín dụngkhác trên cơ sở tổ chức tín dụng cho vay nhận tài sản bảo đảm bằng cổ phiếu củachính tổ chức tín dụng nhận vốn góp;
+ Nợ không có bảo đảm hoặc được cấp với điều kiện ưu đãi hoặc giá trị vượt quá5% vốn tự có của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khi cấp chokhách hàng thuộc đối tượng bị hạn chế cấp tín dụng theo quy định của pháp luật;+ Nợ cấp cho các công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng hoặc doanhnghiệp mà tổ chức tín dụng nắm quyền kiểm soát có giá trị vượt các tỷ lệ giới hạntheo quy định của pháp luật;
+ Nợ có giá trị vượt quá các giới hạn cấp tín dụng, trừ trường hợp được phép vượtgiới hạn, theo quy định của pháp luật;
+ Nợ vi phạm các quy định của pháp luật về cấp tín dụng, quản lý ngoại hối và các
tỷ lệ bảo đảm an toàn đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài;+ Nợ vi phạm các quy định nội bộ về cấp tín dụng, quản lý tiền vay, chính sách dựphòng rủi ro của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
- Nợ đang thu hồi theo kết luận thanh tra;
- Nợ được phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại khoản 2 và khoản 3
Trang 28Điều này.
d) Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:
Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày;
Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thờihạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai;
Khoản nợ quy định tại điểm c (iv) khoản 1 Điều này quá hạn từ 30ngày đến 60 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi;
Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồiđến 60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được;
Nợ được phân loại vào nhóm 4 theo quy định tại khoản 2 và khoản 3Điều này
đ) Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:
Nợ quá hạn trên 360 ngày;
Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theothời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợđược cơ cấu lại lần thứ hai;
Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạnhoặc đã quá hạn;
Khoản nợ quy định tại điểm 4 khoản 1 Điều này quá hạn trên 60 ngày
kể từ ngày có quyết định thu hồi;
Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồitrên 60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được;
Nợ của khách hàng là tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nướccông bố đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt, chi nhánh ngân hàngnước ngoài bị phong tỏa vốn và tài sản;
Nợ được phân loại vào nhóm 5 theo quy định tại khoản 3 Điều này.+ Phân loại nợ theo phương pháp định đính:
Trang 29a) Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tíndụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng thu hồi đầy
đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn
Các cam kết ngoại bảng được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nướcngoài đánh giá là khách hàng có khả năng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theocam kết
b) Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng,chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả
nợ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ.Các cam kết ngoại bảng được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nướcngoài đánh giá là khách hàng có khả năng thực hiện nghĩa vụ theo cam kếtnhưng có dấu hiệu suy giảm khả năng thực hiện cam kết
c) Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tíndụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là không có khả năng thuhồi nợ gốc và lãi khi đến hạn Các khoản nợ này được tổ chức tín dụng, chinhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng tổn thất
Các cam kết ngoại bảng được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nướcngoài đánh giá là khách hàng không có khả năng thực hiện đầy đủ nghĩa vụtheo cam kết
d) Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng,chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng tổn thất cao.Các cam kết ngoại bảng mà khả năng khách hàng không thực hiện cam kết
là rất cao
đ) Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chứctín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là không còn khả năngthu hồi, mất vốn
Các cam kết ngoại bảng mà khách hàng không còn khả năng thực hiệnnghĩa vụ cam kết
Trang 30Tỷ lê mất vốn - MÊt vènđ∙ xaachokubiocio
v D-nĩ trτnungbznhchokubiocio
Dư nợ mất vốn đã xóa cho kỳ báo cáo là các khoản nợ đã được xóa ở nội bảngnhưng vẫn được tiếp tục theo dõi ngoại bảng để thu hồi, tuy nhiên khả năng thu hồiđược rất thấp nên coi như là nợ mất vốn Tỷ lệ này phản ánh tỷ trọng nợ đã đượcxóa ở nội bảng trong kỳ báo cáo so với dư nợ trung bình kỳ báo cáo
Trang 31Dư nợ trung bình cho = Dư nợ đầu kỳ báo cáo + Dư nợ cuối kỳ báo cáo
- Tỷ lệ dự phòng /Tổng tài sản
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng bù đắp thiệt hại trên tổng số rủi ro có thể xẩy
ra Chỉ tiêu này rất quan trọng vì nó thể hiện khả năng nhạy bén, phán đoán nghệthuật của nhà quản trị Neu chỉ tiêu này cao phản ánh khả năng bù đắp thiệt hại khi
có rủi ro xảy ra là rất tốt và khả năng tài chính của ngân hàng là mạnh, nhưng nócũng phản ánh một phần nguồn vốn hoạt động không hiệu quả ( bị giữ lại để dựphòng ) Nếu chỉ tiêu này thấp thì khả năng bù đắp rủi ro là yếu, vì vậy tính toán tỷ
+ Hệ số khả năng bù đắp các khoản cho vay bị mất
TTΛ ʌ 11 2 - 1 ' *Ị Dù phβn(RRTD∏σni rotÝndôngni rτnotÝndôngđ-íc trτnÝclÊp
+ Hệ số khả năng bù đắp rủ ro
TTẠ Ấ 1,2 -12 ɪi ,-,,-,,,Λ _ Dùphβn(RRTDng^RTD đ-íc trτnÝclẼp
Hệ số khả năng bù đắp RRTD = p ——
Ní quih1nkhadβn(RRTDi
Hệ số này phản ánh khả năng ngân hàng bù đắp cho những khoản vay có nguy
cơ rủi ro cao
Trên đây là một số các tiêu chí chính nhằm đánh giá chất lượng kiểm soát rủi
ro tín dụng Tuy nhiên có thể nói kết quả của hoạt động quả lý rủi ro tín dụng thực
Trang 32chất là kết quả của việc thực hiện các biện pháp nhằm xác định, đo lường, kiểm soát
và tài trợ cho những rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng Vì thế chấtlượng kiểm soát rủi ro tín dụng chính là giảm thiểu tối da những mất mát đến vớingân hàng
1.3 KINH NGHIỆM KIỂM SOÁT RỦI RO TÍN DỤNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC CHO CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
1.3.1 Kinh nghiệm kiểm soát rủi ro tín dụng của một số nước trên thế giới
1.3.1.1 Tại Mỹ
Cuối những năm 90, các ngân hàng ở Mỹ đã cảm nhận thấy áp lực trong việcgia tăng rủi ro tín dụng Với sự cạnh tranh khốc liệt của những khoản cho vay trongsuốt thời kỳ kinh tế tăng trưởng, các ngân hàng đã phải chấp nhận những khoản tíndụng có chất lượng thấp hơn để tăng thu nhập Chính vì vậy khối lượng các khoảnvay thanh toán không đúng hạn tăng từ 7,5 tỷ USD quý 4 năm 1997 đã tăng lên 17,7
tỷ USD vào quý 3 năm 2000 Từ quý 3 năm 1999 đến quý 3 năm 2000, các khoảnvay không có dự phòng tăng 25,9% các khoản vay quá hạn tăng 43,7%
Sự lo ngại về rủi ro tín dụng đã làm cho các ngân hàng cẩn trọng hơn trongcác khoản tín dụng mới và yêu cầu cao hơn với khách hàng Họ vẫn muốn cho vay
ra nhưng với những điều kiện chặt chẽ hơn Thậm chí FED đã hạ lãi suất cho vayngắn hạn mà lãi suất của các ngân hàng cho vay giảm không đáng kể Thêm vào đócác khoản vay được kiểm soát chặt chẽ hơn
* Khủng hoảng nợ tại Mỹ năm 2007
Khủng hoảng nợ dưới chuẩn tại Mỹ (sub-prime) đã và đang gây thiệt hạinặng nề cho nền kinh tế Mỹ, tạo ra các khoản lỗ lên tới hàng nghìn tỷ USD cho cácngân hàng đầu tư lớn trên thế giới
Kết quả kinh doanh của các ngân hàng đầu tư lớn tại phố Wall được công bốtrong những tháng đầu năm 2008 lần lượt cho thấy các khoản tổn thất khổng lồ(write-down) trong năm 2007 Dự kiến ảnh hưởng của cơn bão tín dụng nợ dướichuẩn sẽ còn tiếp tục
Trang 33Hậu quả của cuộc khủng hoảng tín dụng cho nước Mỹ và thế giới là rất lớn.Thị trường bất động sản và thị trường chứng khoán bị ảnh hưởng nặng nề Thịtrường trái phiếu hình thành từ chứng khoán hóa bị mất khả năng thanh khoản Cổphiếu các ngân hàng đầu tư rớt thảm hại Với tổn thất nặng nề này, các ông chủ phốWall lần lượt phải ra đi, cụ thể là các ông chủ UBS, Citigroup, Merrill Lynch vàBear Stear.
Cuộc khủng hoảng nợ dưới chuẩn 2007 của Mỹ bắt nguồn từ sự quản lý lỏnglẻo trong cho vay tín dụng dưới chuẩn và từ lòng tham của thị trường Chứng khoánhóa là một công cụ tài chính thông minh song đã bị lợi dụng vào việc xấu gây nênhậu quả khôn lường Các nhà đầu tư cần thấu hiểu các rủi ro trước khi mua các sảnphẩm tài chính phức tạp nhằm tránh những tổn thất nặng nề Đây là những bài họckhông thừa cho bất cứ quốc gia nào trong quá trình hội nhập và phát triển
1.3.1.2 Tại Thái Lan
Sau cuộc khủng hoảng Tài chính tiền tệ Châu Á năm 1997, tình hình nợ xấutrong các Ngân hàng Thái Lan trở nên rất nghiêm trọng Giải quyết nợ xấu và ngănngừa chúng tiếp tục phát sinh là vấn đề hàng đầu đặt ra với các ngân hàng Thái Lan
Để xử lý nợ xấu, Thái Lan đã thực hiện các giải pháp như: các NHTM thành lập cáccông ty Quản lý tài sản cấp quốc gia chuyên trách việc mua lại các khoản nợ xấu củacác NHTM thuộc sở hữu của Chính phủ, thành lập “ Uỷ ban cơ cấu lại khu vực tàichính tư nhân” để cơ cấu lại nợ
Rút kinh nghiệm từ vấn đề nợ xấu sau cuộc khủng hoảng, hiện nay, Thái Lan
đã thực hiện nhiều biện pháp để ngăn ngừa và xử lý rủi ro tín dụng như việc phânloại nợ quá hạn để trích lập dự phòng rủi ro; theo đó, nợ quá hạn được chia thành 5loại:
Loại 1: Nợ quá hạn bình thường, quá hạn 1 tháng, tỷ lệ dự phòng rủi ro là 1%giá trị khoản vay
Loại 2: Nợ quá hạn không bình thường, quá hạn từ 1 đến 3 tháng, tỷ lệ dựphòng là 2%
Loại 3: Nợ quá hạn dưới tiêu chuẩn bình thường, quá hạn từ 3 - 6 tháng, tỷ
Trang 34lệ dự phòng là 20%.
Loại 4: Nợ khó đòi, quá hạn từ 6 - 12 tháng, tỷ lệ dự phòng là 50%
Loại 5: Nợ quá hạn mất trắng, quá hạn trên 12 tháng, tỷ lệ dự phòng là100%
Việc trích lập dự phòng rủi ro được thực hiện 6 tháng một lần
1.3.1.3 Tại Singapore
Để kiểm soát RRTD, ngân hàng Singapore dã có nhưng biện pháp sau:
Thứ nhất: Có sự phân định rõ ràng chức năng các ban trong cơ cấu tổ chức
có liên quan đến quy trình tín dụng:
- Ban lãnh đạo: Đây là bộ phận có quyền cao nhất của Ngân hàng Ban lãnhđạo phân bổ nguồn vốn chủ yếu, điều hành hoạt động của cả Ngân hàng trong đó cóhoạt động tín dụng Ban lãnh đạo có trách nhiệm đề ra muacs rủi ro chung của Ngânhàng; đề ra những mục tiêu chiến lược và các quy định chung áp dụng trong toànNgân hàng
- Ban hoạch định chính sách tín dụng: Bao gồm các can bộ cao cấp, đứngđầu là trưởng ban Ban này chịu trách nhiệm với ngân hàng trong việc duy trì mộthình thức chất lượng kiểm soát rủi ro tín dụng hoàn chỉnh, có hiệu quả; tham giavào việc lập kế hoạch đầu tư gián tiếp và dự đoán những tổn thất tín dụng; thiết lậpcác chính sách và tiêu chuẩn tín dụng phù hợp với luật, với quy định chung củaNgân hàng
- Ban quản lý hạn nghạch tín dụng: Có nhiệm vụ điều hành và phát triển các
kế hoạch kinh doanh của mình, xem xét và thông qua các khoản tín dụng, chịu tráchnhiệm về chất lượng của khoản tín dụng đó
- Ban đánh giá rủi ro kinh doanh: Thực hiện việc đánh giá tình hình kinhdoanh của các đơn vị và cung cấp thông tin rủi ro trong đầu tư gián tiếp; đưa ra sựđánh giá độc lập về các hoạt động tín dụng, về các chính sách, sự thi hành và cácthủ tuch trong quản lý tín dụng; phối hợp với giám sát viên và kiểm toán viên độclập
Thứ hai: Thực hiện đánh giá độ tin cậy của người đi vay, việc đánh giá độ tin
Trang 35cậy của người đi vay
Thứ ba: Có sự phân biệt giữa quyền cấp tín dụng và quyền phê duyệt
1.3.2 Bài học đối với các Ngân hàng Thương mại Việt Nam
Việc nâng cao chất lượng kiểm soát rủi ro tín dụng ngày càng trở lên cầnthiết đối với các NHTM Việt nam trong quá trình hội nhập và phát triển Chất lượngkiểm soát rủi ro không chỉ là vấn đề quản lý nợ xấu mà nó còn bao hàm nhiều vấn
đề như việc phòng ngừa, kiểm soát rủi ro, ngăn chặn Kiểm soát rủi ro cũng khôngchỉ là trách nhiệm của một ngân hàng mà phải có sự phối hợp của nhiều tổ chức,của các cấp từ địa phương tới Trung ương
Thông qua kinh nghiệm của Mỹ, Thái Lan, Singapore cũng như kinh nghiệmcủa một số nước khác trên thế giới, có thể rút ra bài học cho các NHTM Việt Namnhư sau:
Thứ nhất, phân quyền phán quyết tín dụng:
Phân tách bộ máy cấp tín dụng theo các bộ phận tiếp thị, bộ phận phân tíchtín dụng và bộ phận phê duyệt tín dụng cũng như trách nhiệm rạch ròi của các bộphận tham gia.Sự rạch ròi trong phân định trách nhiệm sẽ bảo đảm tính công bằngtrong đánh giá chất lượng công việc, là điều kiện để quá trình xử lý các dấu hiệu rủi
ro tín dụng được nhanh chóng, hiệu quả và kịp thời
Thứ hai, xây dựng cơ chế trao đổi thông tin hiệu quả
Đảm bảo sự liên lạc thường xuyên, liên tục và cập nhật kịp thời các thông tintrọng yếu giữa các bộ phận chức năng trong hoạt động cấp tín dụng Đồng thời,Ngân hàng cần xây dựng hệ thống thông tin và phân tích thông tin toàn diện, cungứng nguồn thông tin chính xác, đáng tin cậy cho các bộ phận chuyên môn có liênquan Các ngân hàng cần hỗ trợ, chia sẻ thông tin với nhau, thực hiện các phân tích
về ngành, lĩnh vực trong nền kinh tế để xây dựng kho dữ liệu phân tích tín dụngchung
Thứ ba, Xây dựng hệ thống văn bản, quy định về rủi ro tín dụng.
Ngân hàng cần xây dựng cho mình một hệ thống các văn bản quy định vềchất lượng kiểm soát rủi ro tín dụng, thẩm định cho vay, một cách có hệ thống
Trang 36Tạo ra sự thống nhất trong toàn hệ thống và tạo chuẩn mực trong việc chất lượngkiểm soát rủi ro tín dụng.
Thứ tư, Sử dụng hệ thống chấm điểm,phân tích khách hàng, đặc biệt là đối
với
tài sản bảo đảm.
Ngân hàng cần có một hệ thống chấm điểm, thông tin tín dụng hợp lý để cóđánh giá khách hàng một cách chính xác
Thứ năm, Đào tạo đội ngũ nhân viên lành nghề
Muốn thành công trong công tác chất lượng kiểm soát rủi ro tín dụng thì mộtyếu tố không thể thiếu đó chính là yếu tố con người; chính vì vậy Ngân hàng cầnchú trọng hơn công tác tuyển lựa và đào tạo nhân viên
Thứ sáu, Thường xuyên tiếp xúc với khách hàng
Thông qua việc tiếp xúc và trao đổi với khách hàng, cán bộ tín dụng có thểphát hiện những biểu hiện của khách hàng có thể dẫn đến rủi ro tín dụng Chính vìvậy, tiếp xúc trực tiếp với khách hàng là một công việc yêu cầu những cán bộ tíndụng nhiều kinh nghiệm, nắm bắt được tâm lý của người đang giao tiếp
Thứ bảy, Hoàn thiện hệ thống phân tích rủi ro và chất lượng kiểm soát rủi ro
tín dụng
Có rất nhiều biện pháp khác nhau để phân tích và tìm ra rủi ro của kháchhàng khi thực hiện cấp tín dụng Các NHTM cần không ngừng hoàn thiện nhữngcông cụ phân tích rủi ro tín dụng trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của các NHTMtrên thế giới và tự nghiên cứu những biện pháp phù hợp với thực tế ngân hàng.Đồng thời ngân hàng cũng cần xây dựng một bộ máy kiểm soát rủi ro hoàn thiện vàhiệu quả
Thứ tám, Sử dụng công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro tín dụng
Việc sử dụng công cụ phái sinh là một biện pháp hiệu quả trong việc phòngngừa và phân tán rủi ro Và công cụ phái sinh còn có đặc điểm ưu việt là: giúp giảmthiểu rủi ro nhưng lại không làm thay đổi kết cấu bảng cân đối tài sản của Ngânhàng, giúp Ngân hàng giữ vững mức lợi nhuận cao Các công cụ phái sinh thườngđược sử dụng hiện nay trên thế giới là: kỳ hạn, tương lai, hoán đổi, quyền chọn
Trang 37Trong đó để phòng ngừa rủi ro tín dụng, thì các biện pháp phổ biến là: hoán đổi lãisuất, hoán đổi rủi ro vỡ nợ, chứng khoán hoá khoản vay
Tuy nhiên, các NHTM vẫn cần quản lý chặt chẽ các khoản vay dù đã sửdụng công cụ phái sinh để phân tán rủi ro Tránh hiện tượng vì chạy theo lợi nhuậncao mà mở rộng cho vay ồ ạt, sẽ tiềm ẩn rủi ro đổ vỡ khôn lường
TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Trong lĩnh vực kinh doanh ngân hàng, rủi ro cũng là điều không thể tránhkhỏi Trong các loại rủi ro tín dụng mà ngân hàng phải đối mặt thì rủi ro tín dụngthường xảy ra với tần xuất cao nhất, gây ra hậu quả nặng nề nhất Chính vì thế việcphòng ngừa, hạn chế rủi ro, khắc phục hậu quả sau rủi ro là vấn đề quan tâm hàngđầu của các Ngân hàng thương mại
Trong chương này, chuyên đề đã hệ thống các rủi ro trong kinh doanh ngânhàng, trong đó tập trung và nghiên cứu các vấn đề lý luận về rủi ro và chất lượngkiểm soát rủi ro tín dụng; nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước trong việc chấtlượng kiểm soát rủi ro tín dụng và rút ra bài học để các TCTD của Việt nam họchỏi, vận dụng Đây là cơ sở lý luận để tìm hiểu thực trạng kiểm soát RRTD tại Ngânhàng TMCP Đại Chúng Việt Nam - Chi nhánh Bắc Ninh
Trang 38CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG KIỂM SOÁT RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẠI CHÚNG - CHI NHÁNH BẮC NINH
2.1 TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG TMCP ĐẠI CHÚNG VIỆT NAM - CHI NHÁNH BẮC NINH
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam - Chi nhánh Bắc Ninh
Khi nền kinh tế chuyển mình từ chế độ hành chính tập trung quan liêu baocấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước Các thành phần kinh tế ởphương diện nào đó bình đẳng với nhau tự do cạnh tranh và phát triển theo tinh thầnnghị quyết Trung ương Đảng Thì một yêu cầu cấp bách đòi hỏi Ngân hàng cũngphải nhanh chóng tổ chức lại hoạt động của mình cho phù hợp với yêu cầu mới
Trước đây chưa chuyển đổi hợp nhất thì Ngân hàng TMCP Đại Chúng ViệtNam - Chi nhánh Bắc Ninh có tên gọi là Ngân hàng TMCP Phương Tây Từ năm
2008 đến tháng 5/2011là phòng giao dịch Bắc Ninh trực thuộc Chi nhánh Hà Nội,bước đầu đạt được những kết quả nhất định trong hoạt động kinh doanh đến ngày30/05/2011 được sự chấp thuận của Ngân hàng nhà nước từ PGD trực thuộc pháttriển lên thành Chi nhánh Bắc Ninh, đến 01 tháng 10 năm 2013 Ngân hàng TMCPPhương Tây hợp nhất với Tổng công ty tài chính cổ phần dầu khí Việt Nam trởthành Ngân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam
Ngân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam - Chi nhánh Bắc Ninh là một phápnhân, thực hiện chế độ hạch toán kinh tế phụ thuộc, có con dấu riêng, có bảng tổngkết tài sản, tự chủ về tài chính và tự chủ trong hoạt động kinh doanh
Qua 05 năm hoạt động chi nhánh đã có những đóng góp cho sự nghiệp côngnghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước và của tỉnh Bắc Ninh Cũng như các Ngânhàng thương mại khác, nhiệm vụ của Ngân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam - Chinhánh Bắc Ninh là trực tiếp kinh doanh trên nhiều lĩnh vực như: Tiền tệ - Tín dụng
- Dịch vụ
+ Nhận tiền gửi của các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế và dân cư; phát hành
Trang 39các loại tiền gửi tiết kiệm, kỳ phiếu.
+ Thực hiện các nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn, trung hạn và dài hạn cho tất cảcác thành phần kinh tế trên địa bàn
+ Ngoài ra còn thực hiện các nghiệp vụ như chuyển tiền, bảo lãnh
Ngân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam - Chi nhánh Bắc Ninh đã có nhiềuhình thức huy động vốn phù hợp nhằm huy động các nguồn vốn nhàn rỗi từ dân cư
và các tổ chức kinh tế để đáp ứng tối đa nhu cầu sử dụng vốn của khách hàng Vìvậy mức độ tăng trưởng huy động vốn và sử dụng vốn bình quân năm đều tăng
Được thành lập trong bối cảnh hệ thống Ngân hàng trên địa bàn đã hoạt độngtương đối ổn định, Ngân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam - Chi nhánh Bắc Ninhxác định cần nhanh chóng xác lập vị thế của mình, chiếm lĩnh thị trường, thị phầnthông qua việc đổi mới phong cách giao tiếp, phục vụ, lấy lợi nhuận làm mục tiêukinh doanh, cùng với việc đa dạng hoá các hình thức kinh doanh dịch vụ, khai thác
và mở rộng thị trường, đưa thêm các sản phẩm mới vào kinh doanh Do định hướngđược chiến lược kinh doanh đúng đắn, ngay từ những năm đầu thành lập đi vàohoạt động, Ngân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam - Chi nhánh Bắc Ninh đãđạt được những kết quả nhất định
Kể từ ngày thành lập cho đến nay hoạt động của Ngân hàng TMCP ĐạiChúng
Việt Nam - Chi nhánh Bắc Ninh không ngừng phát triển theo định hướng ổn định,an
toàn, hiệu quả và phát triển cả về quy mô, tốc độ tăng trưởng cũng như địa bàn hoạtđộng
Một trong những yếu tố quyết định sự thành công của Ngân hàng là chiếnlược khách hàng Quán triệt chỉ đạo của Ngân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam -Chi nhánh Bắc Ninh “Lấy hiệu quả kinh doanh của khách hàng là mực tiêu hoạtđộng của Ngân hàng” trên cơ sở hợp tác hiệu quả cùng có lợi, phương châm củaNgân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam - Chi nhánh Bắc Ninh là coi phương án sảnxuất kinh doanh của khách hàng là cơ hội hợp tác kinh doanh, cùng khách hàng tháo
dỡ khó khăn, ách tắc trong kinh doanh Chính vì thế mà Ngân hàng TMCP Đại
Trang 40hàng đến với chi nhánh ngày càng nhiều hơn.
2.1.2 Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Ngân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam - Chi nhánh Bắc Ninh
2.1.2.1 Cơ cấu tổ chứ và chức năng nhiệm vụ của của Ngân hàng TMCP ĐạiChúng Việt Nam - Chi nhánh Bắc Ninh
Về cơ cấu tổ chức Ngân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam - Chi nhánh Bắc Ninh
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam - Chi nhánh Bắc Ninh
Từ mô hình tổ chức cho thấy cơ cấu bộ máy của Ngân hàng TMCP ĐạiChúng Việt Nam - Chi nhánh Bắc Ninh
- Ban giám đốc: gồm Giám đốc, Phó Giám đốc
- Các phòng ban nghiệp vụ: phòng phát triển kinh doanh, Phòng Hành chínhtín dụng, phòng tổng hợp, Phòng dịch vụ khách hàng
Các bộ phận chức năng được chuyên môn hóa theo nghiệp vụ ngân hàngchức năng theo ngành dọc và có mối quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ nhau tạothành mắt xích cùng đóng góp vào công cuộc đổi mới của Ngân hàng TMCP Đại