1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

0137 giải pháp mở rộng hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại NHTM CP công thương chi nhánh thanh hóa luận văn thạc sĩ kinh tế

101 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 556,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các dịch vụ ngân hàng hiện đại là các hoạt động dịch vụ gắn liền với cácbước tiến về mặt công nghệ ngân hàng như: ngân hàng điện tử, ngân hàng trựctuyến, các dịch vụ ngân hàng bán lẻ, cá

Trang 1

HOÀNG THỊ HÀ

GIẢI PHÁP MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI TỆ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG

CHI NHÁNH THANH HOÁ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Hà nội 2013

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu đã nêu trong luận van có nguồn gốc rõ ràng, kết quả của luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

Tác giả luận văn

Hoàng Thị Hà

Trang 4

DANH MỤC CHỮ VIẾTTẮT

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI TỆ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4

1.1 Những vấn đề cơ bản về hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng thương mại 4

1.1.1 Các khái niệm cơ bản: 4

1.1.2 Vai trò của NHTM và mục đích kinh doanh ngoại tệ của NHTM 8

1.2 Các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ của các Ngân hàng Thương mại 13

1.2.1 Nghiệp vụ giao ngay (Spot market) 13

1.2.2 Nghiệp vụ giao dịch kỳ hạn ( Forward) 15

1.2.3 Nghiệp vụ giao dịch hối đoái hoán đổi ( Swap ) 17

1.2.4 Nghiệp vụ giao dịch hối đoái Futures 18

1.2.5 Nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ theo quyền chọn (Options) 20

1.3 Các điều kiện thực hiện và các nhân tố ảnh hưởng đến việc mở rộng hoạt động kinh doanh ngoại tệ của Ngân hàng thương mại 22

1.3.1 Căn cứ pháp lý 22

1.3.2 M ôi trường kinh doanh, điều kiện về kinh tế xã hội 26

1.3.3 Cơ sở vật chất, chính sách và quy trình kinh doanh ngoại tệ của NHTM 29 1.3.4 Cá c biện pháp phòng ngừa, xử lý rủi ro trong KDNT của NHTM 31

1.4 Kinh nghiệm mở rộng hoạt động kinh doanh ngoại tệ của một số nước trên thế giới và bài học đối với Việt Nam 35

1.4.1 Ki nh nghiệm mở rộng hoạt động KDNT của một số nước trên thế giới 35

Trang 5

NGOẠI TỆ TẠI NHTMCP CÔNG THƯƠNG CHI NHÁNH THANH HOÁ 41

2.1 Giới thiệu chung về NHTMCP Công thương chi nhánh Thanh Hoá 41

2.1.1 Sự ra đời và phát triển của NHTMCP CT Thanh Hoá 41

2.1.2 Các hoạt động kinh doanh chính của NHTMCP CT Thanh Hoá 42

2.2 Thực trạng mở rộng hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại NHTMCP Công thương chi nhánh Thanh Hoá 44

2.2.1 Ảnh hưởng từ bối cảnh nền kinh tế chung tới hoạt động kinh doanh ngoại tệ của NHTMCP CT chi nhánh Thanh Hoá 44

2.2.2 Nhu cầu và điều kiện thực hiện kinh doanh ngoại tệ tai NHCT Thanh Hoá 51

2.2.3 Tình hình mở rộng kinh doanh ngoại tệ của NHCT chi nhánh Thanh Hoá 57

2.3 Đánh giá việc mở rộng hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại NHTMCP Công thương chi nhánh Thanh Hoá 66

2.3.1 Kết quả đạt được trong việc mở rộng hoạt động kinh doanh ngoại tệ 66

2.3.2 Hạn chế trong việc phát triển và mở rộng hoạt động kinh doanh ngoại tệ 69

2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế và tồn tại 72

Tóm tắt chương 2 74

CHƯƠNG 3 : GIẢI PHÁP MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI TỆ TẠI NH TMCP CÔNG THƯƠNG THANH HOÁ 75

3.1 Định hướng cho hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại NHTMCP công thương chi nhánh Thanh Hoá 75

3.2 Giải pháp mở rộng hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại NHTMCP công thương chi nhánh Thanh Hoá 75

3.2.1

Giải pháp về mặt nghiệp vụ 75

3.2.2 Các giải pháp bổ trợ 83

Trang 6

3.3.2 Đối với Ngân hàng Nhà nước 86

3.3.3 Kiến nghị đối với Ngân hàng Công thương 88

Tóm tắt chương 3 90

KẾT LUẬN 91

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

Trang 7

KDNT : Kinh doanh ngoại tệ

V IETINBANK : Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam NHTMCP : Ngân hàng thương mại cổ phần

Trang 8

Bảng 2.1: Kim ngạch xuất khấu 10 nhóm hàng lớn nhất 9 tháng đầu năm 2012 Bảng 2.2: Kim ngạch nhập khấu 10 nhóm hàng lớn nhất 9 tháng đầu năm 2012 Bảng 2.3: Số liệu hoạt động thanh toán xuất nhập khấu 6 tháng đầu năm 2012 Bảng 2.4 : Doanh số chi trả kiều hối 3 năm 2010 -2012

Bảng 2.5: Tình hình kinh doanh ngoại tệ 3 năm 2010- 2012

Bảng 2.6; Tình hình huy động vốn và cho vay 3 năm 2010- 2012

Bảng 2.7: Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh ngoại tệ 3 năm 2010- 2012

Trang 9

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Theo tiến trình phát triển của nền kinh tế, những hoạt động của ngân hàng đã cónhững bước thay đổi đáng kể cả về chiều rộng (sự đa dạng của sản phẩm cũng nhưtính năng của những sản phẩm đó), và chiều sâu ( chất lượng dịch vụ)

Trước kia, ngân hàng tồn tại chủ yếu với các hoạt động dịch vụ truyền thống, tức

là những dịch vụ đã có một quá trình hình thành và phát triển lâu dài như : cho vay,hoạt động huy động vốn thông thường, chiết khấu giấy tờ có giá, bảo quản tài sản,tài trợ các hoạt động của chính phủ và thực hiện các hoạt động dịch vụ uỷ thác.Những dịch vụ này chiếm một tỷ trọng đến 90% lợi nhuận của ngân hàng

Tuy nhiên, hiện nay với mong muốn phát triển bền vững các ngân hàng đã bắt đầudịch chuyển dần sang các hoạt động cung cấp các dịch vụ hiện đại để gia tăng lợinhuận Các dịch vụ ngân hàng hiện đại là các hoạt động dịch vụ gắn liền với cácbước tiến về mặt công nghệ ngân hàng như: ngân hàng điện tử, ngân hàng trựctuyến, các dịch vụ ngân hàng bán lẻ, các hoạt động tư vấn, môi giới tài chính, bảohiểm và các hoạt động kinh doanh ngoại tệ phức tạp hơn như là các công cụ tàichính phái sinh

Phát triển dịch vụ ngân hàng hiện đại là một xu hướng không thể thay đổi tuy rằngđối với Việt nam là một quốc gia đang phát triển nói chung và tỉnh Thanh Hoá nóiriêng thì nhu cầu về những dịch vụ đó chưa phải là nhiều, nhất là các nghiệp vụ pháisinh tiền tệ Tuy nhiên, những diễn biến trong năm 2011 vừa qua với các con sốđáng phải suy nghĩ: tỷ lệ lạm phát trung bình khoảng 11,8%, tỷ giá biến động mạnh

và bất ngờ chưa từng có trong lịch sử ( tỷ giá liên ngân hàng bình quân tăng từ18.932 lên 20.693 vào tháng 2, lên 20.828 vào tháng 12 vừa qua, cùng với việc thuhẹp biên độ tỷ giá từ 3% xuống còn 1%) đã khiến các doanh nghiệp phải đối mặtvới những khoản lỗ tỷ giá không thể dự đoán trước được khi vào quý 3, 4 tỷ giátăng mà nợ ngoại tệ đến hạn vẫn phải trả, hàng vẫn phải nhập khẩu về Nhưng diễn

Trang 10

biến đó khiến cả doanh nghiệp và ngân hàng đặt ra câu hỏi: Liệu có thể phòng ngừanhững rủi ro đó hay không và thực hiện nó như thế nào?

Hiện nay, NHTMCP Công thương chi nhánh Thanh Hoá đã triển khai nhiều dịch

vụ ngân hàng bán lẻ với các nghiệp vụ khác nhau như: Ipay dành cho tài khoảnthanh toán và tài khoản thẻ, Banking at home cho cá nhân và công ty, chuyển tiềnqua Internet cho dịch vụ chuyển tiền, nhiều gói sản phẩm cho tiền vay Tuy nhiên,các nghiệp vụ phái sinh tiền tệ mà cụ thể là các sản phẩm dành cho giao dịch ngoại

tệ như các hợp đồng kỳ hạn( Forward), hợp đồng quyền chọn (Option), vẫn còn quá

ít và chưa có hiệu quả thật sự Như vậy phải chăng là đang có một nhu cầu của cácdoanh nghiệp xuât nhập khẩu mà ngân hàng đã không thành công trong việc nắmbắt cơ hội để mở rộng các sản phẩm dịch vụ về KDNT của mình

Vậy câu hỏi đặt ra là: Làm thế nào để mở rộng một cách thành công và bền vữngcác hoạt động kinh doanh ngoại tệ ? Từ ý nghĩa và thực tiễn đó, tôi xin chọn đề tài “Giải pháp mở rộng hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại NHTMCP Công thương chinhánh Thanh hoá” với nguyện vọng luận văn sẽ đóng góp một phần nào đó trongviệc củng cố xây dựng và phát triển hoạt động kinh doanh ngoại tệ mang lại sứcmạnh mới cho Ngân hàng Công thương chi nhánh Thanh hoá trong thời kỳ cạnhtranh gay gắt như hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Giải pháp mở rộng hoạt động kinh doanh ngoại tệ tạiNHTMCP Công thương chi nhánh Thanh Hoá

Trang 11

- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài giới hạn trong phạm vị hoạt động kinh doanh ngoại tệtại chi nhánh Thanh Hoá

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập thông tin: Thực hiện thu thập thông tin số liệu từ các cơquan ban ngành trên địa bàn, từ các báo cáo tài chính, bảng cân đối kế toán củaNHTMCP Công thương chi nhánh Thanh Hoá qua các năm 2010- 2012

- Phương pháp quan sát: Quan sát và đánh giá tình hình thực tiễn hoạt động kinhdoanh ngoại tệ tại NHCT Thanh Hoá

- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử khi đánh giá các sự kiện và số

liệu

- Phương pháp thống kê, so sánh và phân tích đánh giá trong việc xem xét thực tiễn,chỉ ra các tồn tại và từ đó nêu giải pháp cải thiện tình hình

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Luận văn dựa trên tình hình quản lí ngoại hối ở Việt nam và hoạt động kinh doanhngoại tệ tại hệ thống NHCT Việt nam, chi nhánh Thanh Hoá đưa ra những tồn tại vàhạn chế Từ đó nêu giải pháp khắc phục phù hợp với pháp luật và những quy trìnhtrong hệ thống NHCT và tình hình thực tế tại chi nhánh Thanh Hoá

6 Ket cấu đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục các tài liệu tham khảo, luậnvăn gồm 3 chương:

Trang 12

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI

TỆ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI

TỆ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1.1 Các khái niệm cơ bản

Thị trường ngoại hối (Forex Exchange Market- FOREX)

Thị trường ngoại hối là thị trường diễn ra các hoạt động giao dịch, mua bán ngoại

tệ và các phương tiện thanh toán có giá trị ngoại tệ khác Đây cũng là nơi hình thành

tỷ giá hối đoái theo quan hệ cung cầu, là một bộ phận của thị trường tài chính cótrình độ phát triển cao

Đặc điểm của Thị trường ngoại hối:

+ Thị trường ngoại hối không tồn tại trong một không gian cụ thể nhất định màhoạt động của nó thông qua các phương tiện thông tin hiện đại do vậy còn được gọi

là thị trường không gian ( space market)

+ Có tính quốc tế hoá cao thể hiện ở hai điểm: 1, Đây là thị trường toàn cầu, hoạtđộng 24/24h do sự chênh lệch múi giờ giữa các khu vực trên thế giới, khi thị trườngChâu Mỹ đóng cửa thì thị trường Châu Á sẽ mở cửa và cứ như vậy, nó hoạt độngtheo một chu kỳ khép kín trên toàn cầu 2, Tỷ giá được yết trên các thị trường khácnhau nhưng hầu như là thống nhất với nhau do thị trường hoạt động hiệu quả vàFOREX rất nhạy cảm cũng như bị chi phối bởi các sự kiện kinh tế chính trị xã hội

và chính sách tiền tệ của một số nước có ngoại tệ mạnh

+ Giao dịch mua bán các loại ngoại tệ tự do chuyển đổi

+ Giao dịch với khối lượng lớn (khối lượng tối thiểu và doanh số)

Các thành viên của thị trường ngoại hối:

+ Nhóm khách hàng mua bán lẻ (Retail clients) : bao gồm các công ty nội địa đaquốc gia, những nhà đầu tư quốc tế và tất cả những ai có nhu cầu mua bán ngoại hốinhằm hai mục đích: chuyển đổi tiền tệ và phòng ngừa rủi ro tỷ giá Nhóm khách

Trang 13

hàng này có đặc điểm là họ mua bán không nhằm mục đích kinh doanh mà chỉ phục

vụ cho hoạt động của chính mình do vậy thông thường họ mua bán thông qua cácngân hàng thương mại

+ Nhóm các ngân hàng thương mại ( Commercial bank): nhóm khách hàng này tiếnhàng giao dịch nhằm hai mục đích: cung cấp dịch vụ và kinh doanh cho chính mình.Các ngân hàng thương mại tiến hành giao dịch ngoại hối theo hai phuong thức: trựctiếp với nhau và với khách hàng hoặc là gián tiếp thông qua các nhà môi giới Trênthị trường tiền tệ thế giới ảnh hưởng nhiều nhất của các ngân hàng quốc tế lớn, khốilượng giao dịch hàng ngày đạt tỷ USD cụ thể là: Deutsche Bank, Barclays Bank,Ngân hàng Liên bang Thụy Sĩ, Citibank, Ngân hàng Chase Manhattan, StandardChartered Bank và những thành phần tham gia khác Sự khác biệt chính của họ làkhối lượng lớn các giao dịch có thể dẫn đến những thay đổi đáng kể trong việc biếnđộng của tỷ giá trên thị trường tiền tệ Qua đó thấy được vai trò của NHTM trongthị trường FOREX

+ Nhóm các nhà môi giới (Foreign exchange brokers): Nhóm khách hàng này hànhnghề dựa trên giấy phép và họ chỉ cung cấp dịch vụ cho khách hàng chứ không muabán cho chính mình Các nhà môi giới thu thập hầu hết các lệnh đặt mua và lệnh đặtbán trên cơ sở cung cấp tỷ giá chào mua và tỷ giá chào bán cho khách hàng củamình và nhận một khoản phí dịch vụ từ khách hàng

+ Các ngân hàng trung ương ( Central banks): Ngân hàng trung ương tác động lênthị trường ngoại hối tuỳ theo mục đích của nền kinh tế Họ sẽ mua vào hoặc bán ranội tệ trên thị trường ngoại hối nhằm gầy ảnh hưởng lên tỷ giá theo hướng màNHTW cho là có lợi trong chế độ tỷ giá thả nổi và ngược lại họ sẽ bắt buộc duy trì

tỷ giá theo một biên độ cố định trong chế độ tỷ giá cố định

Tóm lại, các thành viên và mối quan hệ giữa các thành viên trong FOREX có thểđựoc biểu diễn bằng sơ đồ sau:

Trang 14

Vai trò của Thị trường hối đoái

+ Tạo điều kiện để kết nối các nhu cầu giao dịch ngoại tệ trong nền kinh tế

+ Làm cho các giao dịch mua bán trao đổi ngoại tệ đi vào nề nếp, ổn định, góp phần

b) Phương tiện thanh toán bằng ngoại tệ, gồm séc, thẻ thanh toán, hối phiếu đòi nợ,hối phiếu nhận nợ, chứng chỉ tiền gửi và các phương tiện thanh toán khác;

Trang 15

c) Các loại giấy tờ có giá bằng ngoại tệ, gồm trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công

ty, kỳ phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá khác;

d) Vàng thuộc dự trữ ngoại hối nhà nước, trên tài khoản ở nước ngoài của người cưtrú; vàng dưới dạng khối, thỏi, hạt, miếng trong trường hợp mang vào và mang rakhỏi lãnh thổ Việt Nam;

đ) Đồng tiền của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợpchuyển vào và chuyển ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc được sử dụng trong thanhtoán quốc tế

Ngoại tệ :

Theo khái niệm như trên về ngoại hối thì có một sự khác nhau giữa ngoại hối vàngoại tệ Khái niệm ngoại hối rộng hơn và bao gồm cả khái niệm ngoại tệ Ngoạihối là phương tiện thiết yếu trong quan hệ kinh tế, chính trị, văn hoá giữa cácquốc gia trên thế giới, nó bao gồm ngoại tệ, vàng, giấy tờ có giá và các công cụthanh toán nước ngoài Tuy nhiên trên thực tế người ta chỉ giao dịch mua bán ngoại

tệ, còn các giấy tờ có giá ghi bằng ngoại tệ phải thông qua nghiệp vụ chiết khấu mới

có thể tiến hành mua bán ngoại tệ trên thị trường ngoại hối Như vậy có thể thấyngoại tệ có vai trò đặc biệt quan trọng, nó là phương tiện dự trữ của cải, phương tiệnthanh toán và hạch toán quốc tế

Tỷ giá hối đoái:

Khái niệm : Tỷ giá hối đoái là tỷ lệ chuyển đổi từ đơn vị tiền tệ nước này sang đơn

Trang 16

Có rất nhiều khái niệm về tỷ giá hối đoái nhưng khái niệm: “Tỷ giá hối đoái là giá

cả của một đồng tiền được biểu thị thông qua đồng tiền khác” có thể coi là một địnhnghĩa phổ biến nhất về tỷ giá

Ví dụ: 1USD = 20,800 VND nghĩa là giá cả của USD được biểu thị qua VND và 1USD có giá là 20,800 VND

Kinh doanh ngoại tệ:

Kinh doanh ngoại tệ có thể hiểu theo nghĩa chung nhất là toàn bộ hoạt động củaNHTM có liên quan đến các nghiệp vụ và giao dịch ngoại tệ với mục đích tập trung

và chu chuyển vốn ngoại tệ ở thị trường ngoại tệ trong nước và quốc tế nhằm đảmbảo thanh toán hàng hoá và dịch vụ ngoại thương góp phần quan trọng vào việc mởrộng và phát triển kinh tế đất nước và đồng thời đảm bảo lợi nhuận cho bản thânngân hàng

Hoạt động kinh doanh ngoại tệ của NHTM là hoạt động mang tính dịch vụ nhằmthu hút, đáp ứng nhu cầu đa dạng các loại ngoại tệ để thanh toán xuất nhập khẩu,đáp ứng nhu cầu cho sự phát triển kinh tế của quốc gia và vì lợi nhuận của bản thânngân hàng

Khái niệm mở rộng: Là sự gia tăng về số lượng điểm giao dịch thực

hiện hoạt động kinh doanh ngoại tệ, sự đa dạng về loại tiền tệ giao dịch, sản phẩmkinh doanh ngoại tệ và loại hình khách hang giao dịch

Khái niệm này được xác định dựa trên các tiêu chí như: tỷ trọng doanh số phátsinh của mỗi loại hình giao dịch kinh doanh ngoại tệ trên tổng doanh số của chinhánh, cơ cấu loại tiền giao dịch và số lượng các điểm giao dịch thực hiện KDNT

Công cụ tài chính phái sinh.

Công cụ phái sinh là một công cụ tài chính hoạt hợp đồng thoả mãn đồng thời 3 đặcđiểm:

- Có giá trị thay đổi theo sự thay đổi của biến số cơ sở

- Không yêu cầu hoặc yêu cầu đầu tư thuần ban đầu thấp hơn so với các loạihợp đồng khác có phản ứng tương tự đối với sự thay đổi của các yếu tố thịtrường

Trang 17

- Được thanh toán và một ngày trong tương lai

Trong đó Tài sản cơ sở là các khoản mục gốc có thể trao đổi mua bán trong tương

lai được quy định trong hợp đồng phái sinh như: số lượng hang hoá, chứng khoán,ngoại tệ, giá trị các khoản cho vay hoặc đi vay

Giao dịch phái sinh là các giao dịch sử dụng công cụ tài chính phái sinh với mục

đích thương mại hoặc phòng ngừa rủi ro

Trên thị trường ngoại hối có các 5 nghiệp vụ được giao dịch đó là: giao ngay(spot), kỳ hạn (forward), hoán đổi (swap), giao sau (future) và quyền chọn(option) Trong đó giao ngay được xem là nghiệp vụ cơ bản, các nghiệp vụ còn lạiđược xem là phái sinh

1.1.2 Vai trò của NHTM và mục đích kinh doanh ngoại tệ của NHTM

Vai trò của NHTM;

Vai trò tập trung vốn của nền kinh tế

Trong nền kinh tế có những chủ thể có dư tiền và khoản tiền đó chưa được sử dụngmột cách triệt để (ví dụ như vẫn còn cất giấu trong nhà chưa được mang ra lưuthông) nhưng họ cũng muốn tiền này sinh lời cho mình và họ nghĩ là cho vay và cónhững chủ thể cần tiền để hoạt động kinh doanh Nhưng những chủ thể này khôngquen biết nhau và cũng có thể không tin tưởng nhau nên tiền vẫn chưa được lưuthông Ngân hàng thương mại với vai trò trung gian của mình, nhận tiền từ ngườimuốn cho vay, trả lãi cho họ và đem số tiền ấy cho người muốn vay vay

Thực hiện được điều này NHTM huy động và tập trung các nguồn vốn nhàn rỗitrong nền kinh tế; mặt khác với số vốn này NHTM sẽ đáp ứng được nhu cầu vốncủa nền kinh tế để sản xuất kinh doanh Qua đó nó thúc đẩy nền kinh tế phát triển.NHTM vừa là người đi vay vừa là người cho vay và với số lãi suất chênh lệch cóđược nó sẽ duy trì họat động của mình

Vai trò trung gian này trở nên phong phú hơn với việc phát hành thêm cổ phiếu, tráiphiếu, NHTM có thể làm trung gian giữa công ty và các nhà đầu tư; chuyển giaomệnh lệnh trên thị trường chứng khoán; đảm nhận việc mua trái phiếu công ty

Trang 18

Chức năng làm trung gian thanh toán và quản lý các phương tiện thanh toán

Chức năng này có nghĩa là ngân hàng tiến hành nhập tiền vào tài khoản haychi trả tiền theo lệnh của chủ tài khỏan Khi các khách hàng gởi tiền vào ngân hàng,

họ sẽ được đảm bảo an toàn trong việc cất giữ tiền và thực hiện thu chi một cáchnhanh chóng tiện lợi, nhất là đối với các khỏan thanh toán có giá trị lớn, ở mọi địaphương mà nếu khách hàng tự làm sẽ rất tốn kém khó khăn và không an toàn (ví dụ:chi phí lưu thông, vận chuyển, bảo quản )

Khi làm trung gian thanh toán, ngân hàng tạo ra những công cụ lưu thông và độcquyền quản lý các công cụ đó (sec, giấy chuyển ngân, thẻ thanh toán ) đã tiết kiệmcho xã hội rất nhiều vể chi phí lưu thông, đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn, thúcđẩy quá trình lưu thông hàng hóa Ở các nước phát triển phần lớn thanh toán đượcthực hiện qua sec và được thực hiện bằng việc bù trừ thông qua hệ thống ngân hàngthương mại Ngoài ra việc thực hiện chức năng là thủ quỹ của các doanh nghiệp quaviệc thực hiện các nghiệp vụ thanh toán đã tạo cơ sở cho ngân hàng thực hiện cácnghiệp vụ cho vay

Hiện nay ở các nước công nghiệp phát triển việc sử dụng hình thức chuyển tiềnbằng đện tử là chuyện bình thường và chính điều này đưa đến việc không sử dụngsec ngân hàng mà dùng thẻ như thẻ tín dụng Họ thanh toán bằng cách nối mạng cácmáy vi tính của các ngân hàng thương mại trong nước nhằm thực hiện chuyển vốn

từ tài khoản người này sang người khác một cách nhanh chóng

Chức năng tạo ra tiền ngân hàng trong hệ thống ngân hàng hai cấp

Vào cuối thế kỉ 19 hệ thống ngân hàng hai cấp được hình thành, các ngân hàngkhông còn họat động riêng lẽ nữa mà tạo thành hệ thống, trong đó ngân hàng trungương là cơ quan quản lý về tiền tệ, tín dụng là ngân hàng của các ngân hàng Cácngân hàng còn lại kinh doanh tiền tệ, nhờ họat động trong hệ thống các NHTM đãtạo ra bút tệ thay thế cho tiền mặt

Quá trình tạo ra tiền của NHTM được thực hiện thông qua tín dụng và thanh tóantrong hệ thống ngân hàng, trong mối liên hệ chặt chẽ với hệ thống ngân hàng trung

Trang 19

Giả sử ngân hàng A có khoản tiền gửi mới là 1.000.000đ, dự trữ bắt buộc là 10% thì

số tiền nó có thể cho vay là 900.000 Khoản tiền cho vay đó được đưa đến ngườivay, người vay tiền không bao giờ vay tiền về mà cất trong nhà vì như thế họ phảichịu lãi một cách vô ích, họ dùng tiền đó chi trả các khỏan Và số tiền đó đến tayngười được chi trả, người chi trả đem số tiền đó gửi vào ngân hàng B, ngân hàng Blúc này sẽ có một lượng tiền gửi mới là 900.000 Dự trữ bắt buộc là 10%, số tiền cóthể cho vay là 810.000 Số tiền này được cho người cần vay vay, người cho vay chitrả các khỏan đến người được chi trả, người được chi trả đem số tiền được trả gửivào ngân hàng C Lúc này ngân hàng C sẽ có số tiền gửi mới là 810.000 Và cứ nhưthế tiếp tục cho đến khi lượng tiền gửi mới bằng 0 Người ta tính được rằng lượngtiền gửi mới trong tòan hệ thống ngân hàng là 10.000.000, lượng tiền dự trữ bắtbuộc là 1.000.000 và tiền cho vay là 9.000.000 Và với cách thức này mà tiền đãđược tạo ra trong hệ thống ngân hàng 2 cấp

Mục đích của hoạt động kinh doanh ngoại tệ của NHTM

• Hoạt động kinh doanh ngoại tệ của NHTM bao gồm:

Trang 20

- Mua và bán ngoại tệ với đối tác, khách hàng nhằm thoả mãn nhu cầu muốn mua vàbán của khách hàng Huy động ngoại tệ nhàn rỗi trong nền kinh tế để cho vay đảmbảo nhu cầu nguồn vốn ngoại tệ cho các doanh nghiệp cũng như các mục đích kinhdoanh của NHTM.

- Mua và bán ngoại tệ nhằm điều chỉnh trạng thái ngoại tệ của một loại đồng tiềnnào đó để NHTM giảm thiểu rủi ro hoạt các hoạt động đầu tư thuần tuý của bản thânngân hàng

- Mua/bán ngoại tệ giữa hội sở và các chi nhánh để điều hoà vốn trong hệ thống

- Mua /bán ngoại tệ ở thị trường ngoại tệ trong và ngoài nước cho nhu cầu thanhtoán hàng hoá xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp

- Thực hiện các dịch vụ có tính chất trung gian khác ( thanh toán nhờ thu hộ ngoại tệcho các doanh nghiệp, chuyển đối ngoại tệ cho khách hàng để hưởng lượng chênhlệch tỷ giá hoặc phí dịch vụ)

• Mục đích của hoạt động kinh doanh ngoại tệ nằm ở 2 khia cạnh:

a, Trách nhiệm của NHTM đối với nền kinh tế:

- Đáp ứng nhu cầu đa dạng về ngoại tệ cho các doanh nghiệp, góp phần tài trợ tíndụng xuất nhập khẩu Ngoài ra đáp ứng những nhu cầu về thanh toán trong các hoạtđộng ngoại thương, tạo điều kiện cho hoạt động ngoại thương phát triển và diễn ramột cách nhanh chóng và dễ dàng hơn, dẫn đến việc kinh doanh thuận lợi, sản xuấtphát triển làm thúc đẩy phát triển nền kinh tế quốc gia

- Tạo điều kiện cho việc mua bán ngoại tệ của mọi đối tượng, thành phần kinh tếlàm thương mại quốc tế phát triển, mở rộng được các mối quan hệ giữa nội địa vàquốc tế

- Tăng dự trữ ngoại tệ quốc gia, giúp trả nợ nước ngoài của đất nước

b, Lợi ích của hoạt động KDNT với ngân hàng:

Hoạt động kinh doanh ngoại tệ mang lại những lợi ích sau đây cho ngân hàng:

Trang 21

- Giúp hoạt động thanh toán cho khách hàng của ngân hàng giữa các nước thựchiện được hiệu quả hơn, đáp ứng nhu cầu của khách hàng, thúc đẩy hoạt động tíndụng và huy động vốn trên các đồng tiền khác nhau ngoài VND

- Góp phần tăng quy mô các dịch vụ, đa dạng hoá các nghiệp vụ của ngân hàng,tăng khả năng cạnh tranh đồng thời đem lại lợi nhuận lớn cho ngân hàng

- Cung cấp dịch vụ cho khách hàng bằng cách mua hộ, bán hộ cho nhóm kháchhàng mua bán lẻ Vì là mua bán hộ nên ngân hàng không phải bỏ vốn, không chịurủi ro tỷ giá và không làm thay đổi kết cấu bảng cân đối tài sản nội bảng, họ chỉ thumột khoản phí ở dạng chênh lệch tỷ giá mua bán

- Kinh doanh cho chính mình, mua bán ngoại tệ nhằm kiếm lãi khi tỷ giá thay đổi,

do đó ngân hàng phải bỏ vốn, chịu rủi ro tỷ giá và làm thay đổi bảng cân đối nộibảng hoặc ngoại bảng của mình Họ dành phần lớn các giao dịch ngoại tệ tham giathị trường khác thông qua việc mở tài khoản tại ngân hàng thương mại, thực hiệnviệc chuyển đổi cần thiết và kinh doanh tiền gửi, cho vay Ngân hàng là để tích lũy(thông qua các giao dịch với khách hàng), tổng hợp nhu cầu thị trường cho chuyểnđổi tiền tệ, cũng như gây quỹ, đầu tư để thực hiện chúng trong các ngân hàng khác.Ngoài ra để đáp ứng yêu cầu khách hàng, các ngân hàng có thể thực hiện các hoạtđộng độc lập với chi phí riêng của họ

1.2 CÁC NGHIỆP VỤ KINH DOANH NGOẠI TỆ CỦA CÁC NHTM

1.2.1 Nghiệp vụ giao ngay (Spot operation)

> Khái niệm : Giao dịch hối đoái giao ngay là giao dịch mua, bán một số lượng

ngoại tệ giữa hai b ên theo tỷ giá giao ngay tại thời điểm giao dịch và kết thúc thanhtoán trong vòng hai ngày làm việc tiếp theo kể từ ngày cam kết mua bán

> Đặc điểm : Trên thị trường hối đoái giao ngay thường diễn ra quan hệ mua

bán ngoại tệ giữa ngân hàng và khách hàng Các ngân hàng thường không thu phígiao dịch hay hoa hồng mà sử dụng chênh lệch giữa tỷ giá bán và tỷ giá mua đểtrang trải chi phí giao dịch và thu lợi nhuận thỏa đáng Chênh lệch giá mua và giábán của một ngoại tệ cao (spread) hay thấp tùy thuộc vào phạm vi giao dịch hẹp hay

Trang 22

rộng và mức độ biến động giá trị của ngoại tệ đó trên thị trường Để có thể so sánhvới các loại chi phí giao dịch khác, chênh lệch tỷ giá bán và tỷ giá mua thường đượcxác định theo tỷ lệ phần trăm qua công thức sau:

Tỷ giá bán - Tỷ giá muaChênh lệch (%) = -x 100

Tỷ giá bán

Ví dụ chúng ta có tỷ giá GBP/USD = 1,4229 - 1,4246 Chênh lệch giữa tỷgiá mua và tỷ giá bán mà khách hàng phải chịu khi mua bán ngoại tệ với ngân hàng:

1,4246 - 1,4229Chênh lệch (%) = -x 100 = 0,12%

1,4246Các ngoại tệ có thị trường giao dịch tương đối rộng như USD, GBP, EUR,JPY thường có chênh lệch giá mua bán ở mức 0,1% đến 0,5% trong khi các ngoại tệ

mà thị trường giao dịch hẹp hơn có mức chênh lệch giá cao hơn nhiều có thể lênđến 5% hoặc 6% Lý do là ngân hàng sử dụng chênh lệch giữa tỷ giá bán và tỷ giámua vào các mục đích như phòng ngừa rủi ro biến động tỷ giá ngoại tệ mua vàohoặc bán ra, bù đắp chi phí giao dịch và cuối cùng là kiếm lợi nhuận thỏa đáng Dovậy với các ngoại tệ có phạm vi giao dịch hẹp, hoặc vào những thời kỳ tỷ giá củangoại tệ nào đó biến động mạnh thì ngân hàng duy trì chênh lệch giữa giá bán vàgiá mua lớn hơn so với các ngoại tệ khác hoặc so với thời kỳ tỷ giá ổn định

Tỷ giá của nghiệp vụ giao ngay

Tùy theo tập quán kinh doanh và điều kiện thị trường từng nước, có thể niêmyết tỷ giá theo nhiều cách khác nhau Nhưng nhìn chung có hai cách niêm yết giátrên thị trường giao ngay dành cho hai đối tượng khách hàng khác nhau Cách yếtgiá theo kiểu Mỹ và kiểu Âu dành cho khách hàng là ngân hàng khác trên thị trườngliên ngân hàng Cách yết giá trực tiếp và gián tiếp dành cho khách hàng thôngthường, tức khách hàng không phải là ngân hàng

Trang 23

Yết giá theo kiểu Mỹ (American term) là cách niêm yết tỷ giá bằng số USD

trên 1 đơn vị ngoại tệ Yết giá theo kiểu châu Âu (European term) là cách niêm yết

tỷ giá bằng số ngoại tệ trên 1 đơn vị USD

Yết giá trực tiếp (direct quotation) là phương pháp biểu thị giá trị 1 đơn vị

ngoại tệ thông qua một số lượng nội tệ nhất định Yết giá gián tiếp (indirect

quotation) là phương pháp biểu thị giá trị 1 đơn vị nội tệ thông qua một số lượngngoại tệ nhất định Theo thông lệ các đồng tiền thường được yết giá gián tiếp gồm

có bảng Anh, dollar Úc và dollar New Zealand, các đồng tiền thường được yết giátrực tiếp gồm có yên Nhật, france Thụy Sĩ, dollar Singapore, và nhiều đồng tiềnkhác trong đó có đồng Việt Nam Riêng dollar Mỹ và Euro vừa yết giá gián tiếp vừayết giá trực tiếp

Khi nói đến tỷ giá bao giờ cũng liên quan đến một cặp đồng tiền: đồng tiềnyết giá và đồng tiền định giá Đồng tiền yết giá (Commodity currency) là đồng tiềnbiểu thị giá trị của nó qua đồng tiền khác Đồng tiền định giá ( Term curency) làđồng tiền dùng để xác định giá trị đồng tiền khác

Giao dịch hối đoái giao ngay được ngân hàng sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầumua hoặc bán ngoại tệ giao ngay cho khách hàng

> Nhược điểm: Giao dịch hối đoái giao ngay không đáp ứng được nhu cầu

mua hoặc bán ngoại tệ của những khách hàng nào cần mua hoặc cần bán ngoại tệnhưng việc chuyển giao ngoại tệ chưa thực hiện ngay ở hiện tại mà sẽ được thựchiện trong tương lai Để đáp ứng nhu cầu này của khách hàng ngân hàng phải pháttriển thêm một loại giao dịch khác, đó là giao dịch hối đoái có kỳ hạn

1.2.2 Nghiệp vụ giao dịch kỳ hạn ( Forward)

> Khái niệm: Giao dịch hối đoái có kỳ hạn là giao dịch trong đó hai bên cam kết

sẽ mua, bán với nhau một số lượng ngoại tệ theo một mức giá xác định và việcthanh toán sẽ được thực hiện trong tương lai

> Đặc điểm : Tỷ giá có kỳ hạn thường được yết theo hai cách: yết giá theo kiểu

outright và yết giá theo kiểu swap Tỷ giá có kỳ hạn theo kiểu outright đơn giản là

Trang 24

giá cả của một đồng tiền này tính bằng một số đơn vị đồng tiền kia Nó cũng đượcniêm yết tương tự như tỷ giá giao ngay chỉ khác một điều là tỷ giá được hai bên

xác định và thỏa thuận ở hiện tại nhưng sẽ được áp dụng trong tương lai Tỷ giá

theo kiểu swap chỉ yết phần chênh lệch theo số điểm căn bản (basic points) giữa tỷ

giá có kỳ hạn và tỷ giá giao ngay tương ứng Yết giá theo kiểu swap thường được

sử dụng trên thị trường liên ngân hàng, tức là trong giao dịch giữa một ngân hàngnày với một ngân hàng khác

Tỷ giá có kỳ hạn (forward rate) là tỷ giá áp dụng trong tương lai nhưng được

xác định ở hiện tại Tỷ giá này áp dụng cho các giao dịch mua bán ngoại tệ có kỳhạn và được xác định dựa trên cơ sở tỷ giá giao ngay và lãi suất trên thị trường tiềntệ

Gọi: - F: là tỷ giá có kỳ hạn

- S: là tỷ giá giao ngay

- rd: là lãi suất của đồng tiền định giá

- ry: là lãi suất của đồng tiền yết giá

Ta có tỷ giá có kỳ hạn được xác định bởi công thức sau:

1 + rd

F = S - (1)

1 + ryCông thức (1) trên đây dựa trên cở sở lý thuyết cân bằng lãi suất (interest rateparity) - IRP Lý thuyết này nói rằng chênh lệch lãi giữa hai quốc gia phải được bùđắp bởi chênh lệch tỷ giá giữa hai đồng tiền để những người kinh doanh chênh lệchgiá không thể sử dụng hợp đồng có kỳ hạn kiếm lợi nhuận trên cơ sở chênh lệch lãisuất

Ở Việt Nam các ngân hàng thương mại thường áp dụng phổ biến công thứcgần đúng của công thức (1) hơn Ta có thể viết lại công thức (1) như sau:

Trang 25

có 360 ngày thì ta sẽ có công thức:

S(rd - Γy)n

F = S + 100x360

-> Nhược điểm : Giao dịch ngoại tệ có kỳ hạn thỏa mãn được nhu cầu mua

bán ngoại tệ của khách hàng mà việc chuyển giao được thực hiện trong tương lai.Tuy nhiên, do giao dịch kỳ hạn là giao dịch bắt buộc nên khi đến ngày đáo hạn dùbất lợi hai bên vẫn phải thực hiện hợp đồng Một điểm hạn chế nữa là hợp đồng kỳhạn chỉ đáp ứng được nhu cầu khi nào khách hàng chỉ cần mua hoặc bán ngoại tệtrong tương lai còn hiện tại không có nhu cầu mua hoặc bán ngoại tệ Đôi khi trênthực tế khách hàng vừa có nhu cầu mua bán ngoại tệ ở hiện tại đồng thời vừa có nhucầu mua bán ngoại tệ ở trong tương lai Rõ ràng trong tình huống này chỉ với giaodịch hối đoái giao ngay hay chỉ với giao dịch hối đoái kỳ hạn chưa thể đáp ứngđược nhu cầu giao dịch của khách hàng, mà phải kết hợp cả hai loại giao dịch nàylại với nhau mới đáp ứng được nhu cầu của khách hàng Sự kết hợp này hình thànhnên một loại giao dịch mới đó là giao dịch hoán đổi

1.2.3 Nghiệp vụ giao dịch hối đoái hoán đổi ( Swap )

> Khái niệm: Giao dịch hoán đổi là giao dịch hối đoái bao gồm đồng thời cả

hai giao dịch: giao dịch mua và giao dịch bán cùng một số lượng đồng tiền này vớiđồng tiền khác, trong đó ngày giá trị mua và ngày giá trị bán là khác nhau, tỷ giácủa hai giao dịch được xác định tại thời điểm ký hợp đồng

Căn cứ vào đặc điểm ngày giá trị, Swap gồm 2 loại:

Trang 26

- Spot- Forward swap: Bao gồm một vế giao ngay và một vế kỳ hạn

- Forward - Forward swap : bao gồm hai vế kỳ hạn nhưng ngày giá trị khác nhau

Ve cơ bản và thông dụng nhât giao dịch swap gồm: 1 giao dịch spot và 1 giao dịchforward trái chiều với giao dịch spot

> Đặc điểm : Thời hạn giao dịch hoán đổi có thể từ 3 ngày đến 6 tháng Nếu

ngày đáo hạn rơi vào ngày Chủ nhật hoặc ngày lễ thì hai bên sẽ thỏa thuận chọn mộtngày đáo hạn thích hợp và thời hạn hợp đồng sẽ tính trên số ngày thực tế

Trong giao dịch hoán đổi, ngày thanh toán bao gồm hai loại ngày khác nhau:ngày hiệu lực và ngày đáo hạn Ngày hiệu lực là ngày thực hiện thanh toán giaodịch giao ngay trong khi ngày đáo hạn là ngày thực hiện thanh toán giao dịch có kỳhạn

Một hợp đồng hoán đổi liên quan đến hai loại tỷ giá: tỷ giá giao ngay và tỷgiá có kỳ hạn Tỷ giá giao ngay là tỷ giá do ngân hàng niêm yết tại thời điểm giaodịch do hai bên thỏa thuận Tỷ giá có kỳ hạn được tính trên cơ sở tỷ giá giao ngay,chênh lệch lãi suất giữa VND và ngoại tệ, và số ngày thực tế của hợp đồng

> Nhược điểm : Giao dịch hoán đổi chỉ giải quyết được nhược điểm của hợp

đồng giao ngay là có thể thỏa mãn nhu cầu ngoại tệ của khách hàng ở thời điểmtương lai, đồng thời khắc phục được nhược điểm của hợp đồng kỳ hạn ở chỗ có thểthỏa mãn nhu cầu ngoại tệ của khách hàng ở thời điểm hiện tại Tuy nhiên, cũngnhư giao dịch kỳ hạn, giao dịch hoán đổi vẫn còn hạn chế ở hai điểm:

- Nó là hợp đồng bắt buộc yêu cầu các bên phải thực hiện khi đáo hạn bấtchấp tỷ giá trên thị trường giao ngay lúc đó như thế nào Điều này có lợi là tránhđược rủi ro tỷ giá cho khách hàng, nhưng đồng thời đánh mất đi cơ hội kinh doanhnếu như tỷ giá biến động trái với dự đoán của khách hàng

- Nó chỉ quan tâm đến tỷ giá ở hai thời điểm: thời điểm hiệu lực và thờiđiểm đáo hạn, mà không quan tâm đến sự biến động tỷ giá trong suốt quãng thờigian giữa hai thời điểm đó

Chính những hạn chế này khiến cho hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng hoán đổichỉ có thể là công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá và thích hợp với nhu cầu phòng ngừa

Trang 27

rủi ro tỷ giá của khách hàng hơn là nhu cầu kinh doanh hay đầu cơ kiếm lời từ sựbiến động tỷ giá Để bổ sung cho hạn chế này của giao dịch kỳ hạn và giao dịchhoán đổi, ngân hàng phát triển thêm một loại công cụ khác, đó là hợp đồng giao sau.

1.2.4 Nghiệp vụ giao dịch hối đoái Futures

> Khái niệm : Hợp đồng giao sau là một thỏa thuận mua bán một số lượng

ngoại tệ đã biết theo tỷ giá cố định tại thời điểm hợp đồng có hiệu lực và việcchuyển giao ngoại tệ được thực hiện vào một ngày trong tương lai được xác địnhbởi Sở giao dịch

> Đặc điểm : Khác với hợp đồng có kỳ hạn, hợp đồng giao sau chỉ sẵn sàng

cung cấp đối với một vài loại ngoại tệ mà thôi Chẳng hạn, thị trường Chicago chỉcung cấp hợp đồng với sáu loại ngoại tệ mạnh đó là GBP, CAD, EUR, JPY, CHF vàAUD Thị trường giao sau thực chất chính là thị trường có kỳ hạn được tiêu chuẩnhóa về loại ngoại tệ giao dịch, số lượng ngoại tệ giao dịch và ngày chuyển giaongoại tệ

Tất cả các hợp đồng giao sau đều thực hiện giao dịch ở Sở giao dịch có tổchức Sở giao dịch là người đề ra quy chế và kiểm soát hoạt động của các hội viên.Hội viên của Sở giao dịch là các cá nhân, có thể là đại diện của các công ty, ngânhàng thương mại hay cá nhân có tài khoản riêng Điều này có nghĩa là khách hàngkhông tự mua bán với nhau mà là mua bán với Sở giao dịch, người mua và ngườibán ban đầu sẽ là người mua và người bán với Sở giao dịch

Trên thị trường tương lai, tất cả các nhà kinhd oanh Future phải ký quỹ một khoảntiền nhất định trước khi ký kết hợp đồng tương lai Theo quy tắc, tài khoản ký quỹcủa nhà kinh doanh được điều chỉnh hàng ngày bởi nếu khống hệ thống ký quỹ sẽkhông bảo vệ được Sở giao dịch Thông qua cơ chế ký quỹ và gọi ký quỹ bổ sungkhi tài khoản ký quỹ giảm xuống dưới mức 75% so với mức ban đầu, nếu nhà kinhdoanh không thực hiện ký quỹ bổ sung trong vòng 2 ngày làm việc thì Sở giao dịch

sẽ tự động thanh lý hợp đồng với khách hàng

Trang 28

Để dễ hiểu hơn về cách thức thực hiện một hợp đồng giao sau, ta sẽ xem xét

ví dụ: Nhà đầu cơ thị trường giao sau dự báo vài ngày tới CHF sẽ lên giá so vớiUSD Nhằm kiếm tiền từ cơ hội này, một nhà đầu tư trên thị trường giao sauChicago mua một hợp đồng giao sau trị giá 125.000 CHF với tỷ giá 0,75 USD cho 1CHF Hợp đồng này sẽ đến hạn vào 3 ngày sau Để bắt đầu, trước tiên nhà đầu tưphải bỏ 2.565$ vào tài khoản ký quỹ ban đầu Biết rằng mức ký quỹ tối thiểu nhàđầu cơ phải duy trì đối với hợp đồng giao sau CHF là 1.900 USD, nhà đầu cơ phảisẵn sàng thêm tiền vào nếu mức ký quỹ của mình xuống đến dưới mức 1.900 USD.Sau khi mua hợp đồng giao sau, nhà đầu cơ sốt ruột theo dõi diễn biến tình hình thịtrường Bởi vì việc thanh toán diễn ra hằng ngày, có ba điều sẽ xảy ra:

- Thứ nhất: hàng ngày nhà đầu cơ sẽ nhận được tiền hoặc sẽ chi tiền ra tùytheo hợp đồng lời hay lỗ

- Thứ hai: hợp đồng giao sau với giá 0,75 USD/CHF sẽ bị hủy bỏ vào cuốingày giao dịch

- Thứ ba: nhà đầu cơ sẽ nhận được hợp đồng giao sau theo giá mới được thiếtlập vào cuối ngày giao dịch

> Nhược điểm : Hợp đồng giao sau có cả ưu lẫn nhược điểm khi sử dụng Ưu

điểm của nó trước tiên là sẵn sàng cung cấp những hợp đồng có giá trị nhỏ Kế đến

nó cho phép các bên tham gia có thể sang nhượng lại hợp đồng ở bất kỳ thời điểmnào trước khi hợp đồng hết hạn Với hai ưu điểm này hợp đồng giao sau dễ dàng thuhút nhiều người tham gia Ngược lại, hợp đồng giao sau có nhược điểm là chỉ cungcấp giới hạn cho một vài ngoại tệ mạnh và một vài ngày chuyển giao ngoại tệ trongnăm mà thôi ví dụ tại Sở giao dịch Chicago chỉ có 4 ngày giá trị: ngày thứ tư củatuần thứ ba trong các tháng 3.6.9.12 và đối với ngoại tệ các hợp đồng tương lại cómột số lượng nhất định như với GBP là 62,500 GBP, CAD là 100,000 CAD Kếđến, hợp đồng giao sau là hợp đồng bắt buộc phải thực hiện khi đến hạn chứ khôngcho người ta quyền được chọn như trong hợp đồng quyền chọn Nói chung giaodịch giao sau có thể bổ sung cho giao dịch kỳ hạn và hoán đổi ở tính chất thực hiệnthanh toán hằng ngày nhằm bảo đảm cho nhà đầu cơ có thể tận dụng cơ hội nếu thịtrường biến động có lợi cho họ Tuy nhiên, nếu thị trường biến động bất lợi nhà đầu

Trang 29

cơ không có quyền tự ý rút khỏi thị trường Tính chất “có quyền” này chỉ có thể cóđược trong giao dịch quyền chọn.

1.2.5 Nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ theo quyền chọn (Options)

> Khái niệm: Quyền chọn là một hợp đồng giữa hai bên, theo đó người mua

option có quyền, chứ không phải nghĩa vụ, mua hoặc bán một số lượng ngoại tệ cụ

thể với một mức giá thực hiện đã được ấn định trước cho một thời hạn cụ thể trongtương lai, sau khi đã trả phí (premium) cho người bán option ngay từ lúc ký hợpđồng Trong khi đó, người bán option có nghĩa vụ phải thực hiện hợp đồng theo cácđiều khoản đã thỏa thuận trước đó bất luận giá cả thị trường biễn biến như thế nào,nếu như người mua option muốn thực hiện quyền của mình

> Đặc điểm : Trong mỗi giao dịch ngoại hối bao giờ cũng có một đồng tiền mua

vào và một đồng tiền bán ra Kết quả là trong mỗi giao dịch quyền chọn tiền tệ baogồm cả quyền chọn mua và quyền chọn bán Ví dụ công ty A mua hợp đồng quyềnchọn mua USD thì đồng thời cũng có nghĩa là mua luôn quyền chọn bán VND vàngược lại Do vậy, để thống nhất cách hiểu và cách biểu diễn thì người ta quy địnhquyền chọn mua hay bán là việc mua hay bán đồng tiền yết giá

Quyền chọn mua (call): là quyền cho phép người mua option tự quyết định thựchiện mua ngoại tệ hay không mua ngoại tệ

Quyền chọn bán (put): là quyền cho phép người mua option tự quyết định thực hiệnbán ngoại tệ hay không bán ngoại tệ

Các thuật ngữ trong giao dịch option:

Giá giao ngay (spot): giá mua bán ngoại tệ giao ngay hiện hành tại thời điểm Giá thực hiện (strike): mức giá mà người mua option được quyền ấn định trước

với người bán option và được chốt (fixed) trong suốt thời hạn hiệu lực của hợpđồng

ATM : at time money- ngang giá quyền chọn

ITM : in time money - được giá quyền chọn

OTM: out time money - giảm giá quyền chọn

Trang 30

Premium: là khoản phí mà người mua option phải trả cho người bán option

ngay từ lúc ký hợp đồng

Option kiểu Âu (European style): option chỉ được thực hiện vào ngày đáo hạn

hợp đồng

Option kiểu Mỹ (American style): option có thể được thực hiện vào bất cứ

lúc nào trong suốt thời hiệu hợp đồng

Option buyer, option holder: người mua option.

Option seller, option writer: người bán option.

Độ biến động (volatility): độ biến động là mức độ mà theo đó giá ngoại tệ có

thể có khuynh hướng dao động lên xuống trong một khoảng thời gian Độ biến độngđược diễn tả bằng tỷ lệ phần trăm (%)

Ngày ký kết hợp đồng (contract date): là ngày ngân hàng ký kết hợp đồng

option với khách hàng hoặc đối tác

Ngày đáo hạn (expiry date): ngày hiệu lực cuối cùng của hợp đồng option Giờ hạn chót (cut - off time): giờ hiệu lực cuối cùng của ngày đáo hạn hợp

đồng option kiểu Âu hoặc kiểu Mỹ

Thời hiệu hợp đồng (tenor): khoảng thời gian có hiệu lực của hợp đồng tính

từ ngày ký kết hợp đồng cho đến giờ hạn chót của ngày đáo hạn hợp đồng

Việc định giá option (tính phí premium) phụ thuộc vào 6 biến số sau:

- Giá giao ngay hiện hành (spot)

- Giá thực hiện option (strike)

- Thời hạn (tenor)

- Chênh lệch lãi suất (interest rate)

- Kiểu Âu hay kiểu Mỹ (style)

- Độ biến động (volatility)

Trong 6 biến số nói trên, độ biến động là quan trọng và phức tạp nhất, vì đó

là biến số định giá duy nhất không biết trước một cách chắc chắn

Nếu một option có giá strike ITM hoặc “deep ITM”, premium của option đóđắt nhất, vì giá strike có lợi hơn hoặc rất có lợi hơn giá spot thời điểm hiện hành

Trang 31

Nếu một option có giá strike ATM, thì premium của option đó ít đắt hơn so vớioption ITM, vì giá strike xấp xỉ giá spot thời điểm hiện hành Nếu một option có giástrike OTM, thì premium của option đó rẻ nhất, vì giá strike bất lợi hơn giá spotthời điểm hiện hành.

Premium của option kiểu Mỹ đắt hơn option kiểu Âu, vì kiểu Mỹ có thể thựchiện vào bất cứ lúc nào trong suốt thời hiệu hợp đồng còn kiểu Âu chỉ được thựchiện vào ngày đáo hạn hợp đồng

1.3 CÁC ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG KDNT CỦA NHTM

- Pháp lệnh ngoại hối 28.2005/PL-UBTVQH 11 ban hành 13.12.2005 hiệu lực ngày01.06.2006

- Nghị định 160/2006/NĐ-CP Hướng dẫn pháp lệnh ngoại hối ngày 28.12.2006

- Quyết định 2554/QĐ-NHNN ngày 31.12.2006 về một số quy định liên quan đếngiao dịch ngoại tệ của các tổ chức tín dụng được phép hoạt động ngoại hối

Trang 32

- Quyết định 3039/QĐ-NHNN ngày 24.12.2007 về một số quy định liên quan đếngiao dịch ngoại tệ của các tổ chức tín dụng được phép hoạt động ngoại hối

- Quyết định 504/QĐ-NHNN ngày 07.03.2008 về một số quy định liên quan đếngiao dịch ngoại tệ của các tổ chức tín dụng được phép hoạt động ngoại hối

- Thông tự số 03/2008/TT-NHNN ngày 11.04.2008 về hoạt động cung ứng dịch vụngoại hối của các tổ chức tín dụng

- Thông tư số 20/2011/TT-NHNN ngày 29.08.2011 về việc mua bán ngoại tệ tiếnmặt của cá nhân với tổ chức tín dụng được phép

- Công văn 7404/NHNN-KTTC ngày 29.08.2006 của NHNN “v/v hướng dẫn hạchtoán kế toán nghiệp vụ phái sinh tiền tệ”

Môi trường pháp lý :

Ngoài ra, mỗi NHTM đều tồn tại trong phạm vi một quốc gia nhất định nên hoạtđộng của các NHTM đều chịu sự quản lý của một hệ thống văn bản pháp luật củamỗi quốc gia đó cũng như chịu sự chi phối của các văn bản quy trình nghiệp vụtrong hệ thống mỗi ngân hàng Trong đó, hoạt động kinh doanh ngoại tệ chịu sự chiphối bởi các văn bản pháp lý đặc thù sau:

Chính sách ngoại tệ

Chính sách ngoại tệ bao gồm toàn bộ các biện pháp nhằm quản lý một cách có hiệuquả nguồn ngoại tệ của một quốc gia; làm cân bằng cán cân thanh toán trong hoạtđộng kinh tế đối ngoại Nó còn là những định chế pháp lý, những chính sách củaNhà nước trong việc quản lý ngoại tệ, vàng bạc, đá quý và các chứng từ có giá trịnhư ngoại tệ cũng như việc trao đổi, sử dụng, mua bán ngoại tệ trên thị trường nộiđịa và quan hệ thanh toán, tín dụng với nước ngoài

Nội dung của chính sách ngoại tệ là việc quản lý và kiểm soát các luồng vận độngcủa ngoại tệ từ nước ngoài vào trong nước và ngược lại; có liên quan tới hoạt độngngoại thương và các hoạt động kinh tế đối ngoại khác bằng ngoại tệ Đồng thờiquản lý và kiểm soát sự lưu thông của ngoại tệ (đặc biệt là ngoại tệ) trong phạm viquốc gia

Trang 33

Việc thực hiện chính sách ngoại tệ có ảnh hưởng trực tiếp tới thị trường ngoại tệcủa một quốc gia Nó quy định tính pháp lý về mua, bán, chuyển nhượng, đầu tưcho mỗi pháp nhân kinh tế và phạm vi hoạt động của NHTM Bên cạnh đó, nó cònquy định tính biệt lập hay thông suốt của thị trường quốc gia này với thị trườngngoại tệ quốc tế.

Kết quả rõ rệt nhất của một chính sách ngoại tệ đúng đắn là hoạt động ngoạithương phát triển, hợp tác quốc tế được mở rộng, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, ổnđịnh nền tài chính và giá trị tiền tệ quốc gia Ngược lại, nếu NHTW thực thi mộtchính sách quá chặt chẽ sẽ làm cản trở sự phát triển của thị trường ngoại tệ cũngnhư sự tăng trưởng kinh tế của quốc gia đó

Chính sách tỷ giá

Chính sách tỷ giá là những hoạt động của Chính phủ (mà đại diện thường làNHTW) thông qua một chế độ tỉ giá nhất định (hay cơ chế điều hành tỉ giá) và hệthống các công cụ can thiệp nhằm duy trì một mức tỉ giá cố định hay tác động để tỉgiá biến động tới một mức cần thiết phù hợp với mục tiêu chính sách kinh tế quốcgia

Chính sách tỉ giá thường nhằm mục tiêu ổn định kinh tế: kiểm soát lạm phát; thúcđẩy tăng trưởng kinh tế và công ăn việc làm đầy đủ; cân bằng cán cân vãng lai

Các biện pháp của chính sách tỉ giá như việc NHTW điều chỉnh tỉ giá, lãi suất chiếtkhấu, chính sách thương mại quốc tế, đều có tác động trực tiếp lên tình hình xuấtnhập khẩu của quốc gia trong từng thời kì, qua đó tác động lên cung cầu về ngoại tệtrên thị trường ngoại tệ Việc này ảnh hưởng gián tiếp tới hoạt động kinh doanhngoại tệ của NHTM Ngoài ra, NHTW còn có các biện pháp tác động trực tiếp tớihoạt động kinh doanh ngoại tệ như: (i) điều chỉnh tỉ lệ dữ trữ bắt buộc bằng ngoại

tệ đối với các NHTM để làm tăng hoặc giảm chi phí vốn ngoại tệ, ảnh hưởng tới lãisuất huy động ngoại tệ; (ii) quy định mức lãi suất trần kém hấp dẫn đối với tiền gửi

b ằng ngoại tệ; (iii) quy định trạng thái ngoại tệ đối với NHTM ngoài mục đíchphòng ngừa rủi ro tỉ giá, còn có tác dụng hạn chế đầu cơ ngoại tệ, làm giảm áp lựclên tỉ giá khi cung cầu mất cân đối

Trang 34

Chính sách tỉ giá hiệu quả, linh hoạt, phù hợp với điều kiện kinh tế: đảm bảo ổnđịnh tỉ giá dựa trên quan hệ cung cầu, khuyến khích xuất khẩu, kiểm soát nhậpkhẩu,cải thiện cán cân thanh toán quốc tế và tăng dữ trữ quốc gia, sẽ thúc đẩy hoạtđộng kinh doanh ngoại tệ.

Chính sách lãi suất

Chính sách lãi suất là một trong các công cụ của chính sách tài chính tiền tệ Hiệuquả của chính sách tài chính tiền tệ phụ thuộc vào chế độ tỉ giá của từng quốc gia.Nhưng nói chung, khi NHTW thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng bằng cách giảmlãi suất sẽ kích thích đầu tư tăng, đầu tư tăng làm tăng thu nhập quốc dân, thu nhậpquốc dân tăng làm tăng nhập khẩu Như vậy, tăng nhập khẩu sẽ làm cán cân vãnglai trở nên xấu hơn; còn lãi suất giảm sẽ kích thích luồng vốn ròng chảy ra và ảnhhưởng xấu đến cán cân vốn; kết quả là cán cân thanh toán trở nên xấu hơn

Khi NHTW áp dụng chính sách tiền tệ thắt chặt bằng các biện pháp làm tăng lãisuất thì sẽ kìm hãm đầu tư, đầu tư giảm làm thu nhập quốc dân giảm, thu nhập quốcdân giảm làm giảm nhập khẩu Như vậy, giảm nhập khẩu sẽ ảnh hưởng tốt tới cáncân vãng lai, còn lãi suất tăng sẽ thu hút luồng vốn ròng chảy vào và ảnh hưởng tốttới cán cân vốn; kết quả là cán cân thanh toán được cải thiện

Các biện pháp tác động tới cán cân thanh toán của một quốc gia đều có tác độngcung cầu về ngoại tệ và tỉ giá giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ trên thị trườngngoại tệ Qua đó, nó khuyến khích hay hạn chế nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ củacác NHTM ở quốc gia đó

Một chính sách lãi suất linh hoạt, phù hợp với môi trường kinh tế trong và ngoàinước sẽ mở rộng quy mô huy động vốn và cho vay, thúc đẩy sự phát triển kinh tế,

ổn định giá trị đồng nội tệ và đồng thời kích thích sự phát triển của nghiệp vụ kinhdoanh ngoại tệ

Trang 35

1.3.2 Môi trường kinh doanh, điều kiện về kinh tế xã hội

Nhóm nhân tố ảnh hưởng trong nước

Nền kinh tế tăng trưởng ổn định là cở sở để tăng cường hoạt động sản xuất kinhdoanh, tăng khả năng chu chuyển vốn và hàng hóa, dịch vụ Qua đó, NHTM pháttriển các hoạt động của mình với vai trò là một trung gian tài chính hiệu quả; đặcbiệt là hoạt động kinh doanh ngoại tệ nhằm đáp ứng nhu cầu ngoại tệ trong giaodịch thương mại quốc tế cũng như giúp luân chuyển các khoản đầu tư quốc tế, giaodịch tài chính quốc tế và cả cung cấp các công cụ bảo hiểm rủi ro tỷ giá cho cáckhoản thu xuất khẩu, thanh toán nhập khẩu, các khoản đầu tư hay đi vay bằngngoại tệ Ngược lại, nếu nền kinh tế hoạt động không bình thường hoặc rơi vào tìnhtrạng suy thoái thì sẽ hạn chế hoạt động của NHTM: giảm quy mô hoạt động vàhiệu quả kinh doanh do biến động tỉ giá, rủi ro hoạt động

Hoạt động ngoại thương là cơ sở hình thành nghiệp vụ hoạt động kinh doanh quốc

tế của NHTM nên nó cũng có tác động lớn tới hoạt động kinh doanh ngoại tệ củangân hàng Nói đến ngoại thương là nói đến hoạt động xuất nhập khẩu và thanhtoán quốc tế Trong trường hợp, xuất nhập khẩu tăng thì kéo theo tăng nhu cầuthanh toán quốc tế, nhu cầu mua bán ngoại tệ, nhu cầu tài trợ ngoại thương, nhucầu được bảo vệ trước các rủi ro Do đó, ở những nước phát triển, hoạt động kinhdoanh ngoại tệ phát triển được là nhờ gắn liền với ngoại thương Ngoại thương là

cơ sở hình thành của cán cân thanh toán quốc tế, có tác động không nhỏ lên hoạtđộng kinh doanh ngoại tệ tại mỗi quốc gia Cán cân thanh toán quốc tế, về bản chất,

là mối quan hệ cung cầu về một đồng tiền Nếu cán cân cân bằng hoặc thặng dư thìhoạt động kinh doanh ngoại tệ có nhiều thuận lợi vì có nguồn vốn dồi dào Ngượclại, cán cân thâm hụt sẽ làm khan hiếm hàng hóa, ở đây là ngoại tệ, dẫn tới hạn chếhoạt động kinh doanh ngoại tệ

Thị trường ngoại tệ, với chức năng là: (i) giúp chuyển đổi đồng tiền này thành đồngtiền khác, (ii) cung cấp tín dụng cho hoạt động ngoại thương, (iii) tạo rào cản hạnchế rủi ro hối đoái, có tác động lớn tới hoạt động kinh doanh ngoại tệ của cácNHTM thành viên Thị trường ngoại tệ tạo tính thanh khoản cho các loại ngoại tệ,

Trang 36

do đó, làm tăng cường hoạt động kinh doanh trên thị trường ngoại tệ liên ngânhàng Mức độ phát triển của thị trường ngoại tệ tùy thuộc vào sự phát triển kinh tếcủa mỗi quốc gia Ở những quốc gia phát triển như Mỹ, thị trường ngoại tệ đã đạttới trình độ rất cao, có tính chất quốc tế rộng lớn và là một thị trường liên ngân hàng

có mối quan hệ chắt chẽ, thì hoạt động kinh doanh ngoại tệ diễn ra trong các NHTMrất sôi động Hoạt động này đã tạo ra rất nhiều sản phẩm và dịch vụ mới, hiện đạiđáp ứng nhu cầu của thị trường

Nhóm nhân tố ảnh hưởng từ thị trường tài chính quốc tế.

Trong một hệ thống tỷ giá với trên 200 đồng tiền các quốc gia, thì không có mộtquốc gia nào có thể độc lập trong việc xác định tỷ giá đồng tiền nước mình với cácđồng tiền còn lại Biến động tỉ giá trên thị trường hối đoái quốc tế có ảnh hưởngtrực tiếp tới tỉ giá của đồng tiền quốc gia này so với các đồng tiền quốc gia khác vàtới hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại mỗi quốc gia Bởi vì tỉ giá là yếu tố nhạy cảmvới những thay đổi của điều kiện kinh tế - xã hội trong nước và quốc tế; và có rủi rodao động lớn Các NHTM rất quan tâm tới diễn biến về tình hình lạm phát và sựthay đổi lãi suất ở các nước mà ngân hàng đang nắm giữ hoặc muốn đầu tư trongtương lai đồng tiền quốc gia đó, để dự báo tỉ giá và đưa ra kì vọng hợp lí về tỉ giádựa trên lý thuyết Cân bằng sức mua (PPP) và lý thuyết Cân bằng lãi suất (IRP) Từ

đó, NHTM quyết định mua hoặc bán ngoại tệ Do đó, nó ảnh hưởng trực tiếp tới lợinhuận hoặc rủi ro của ngân hàng Trên thực tế, việc FED duy trì đồng đô la yếu đểthúc đẩy xuất khẩu Mỹ bằng việc cắt giảm lãi suất, tránh cho đất nước hùng mạnhnày rơi vào khủng hoảng, đã tác động làm các đồng tiền khác lên giá tương đối.Điều này đồng nghĩa với việc các món hàng nhập khẩu vào các nước khác tínhbằng đô la khi quy đổi ra đồng nội tệ sẽ rẻ hơn, nhập khẩu vào nhiều hơn Còn xuấtkhẩu của nước đó sang Mỹ thì giảm sút vì nhiều doanh nghiệp xuất khẩu thu đượctiền về, khi quy đổi thì bị thiệt hại do tỷ giá NHTM tại các nước này hạn chế mua

đô la Mỹ do lo ngại việc đồng nội tệ trở nên đắt đỏ hơn so với đồng đô la

Trang 37

Lãi suất và tỉ giá có mối quan hệ mật thiết với nhau tại các điểm tỉ giá kì hạn Điểm

kì hạn là chêch lệch giữa tỉ giá kỳ hạn và tỷ giá giao ngay Trong thực tế, người tacho rằng: điểm kì hạn chính là mức chêch lệch lãi suất giữa hai đồng tiền Chêchlệch lãi suất giữa hai đồng tiền càng lớn thì điểm kỳ hạn cũng càng lớn Theo lýthuyết cân bằng lãi suất, chỉ cần lãi suất của một nước thay đổi sẽ dẫn tơi tỉ giá kìhạn giữa đồng tiền nước đó với một ngoại tệ thay đổi theo Ngày nay, các NHTM

sử dụng hợp đồng kì hạn ngày càng rộng rãi và phổ biến trong hoạt động kinhdoanh của mình nhằm phòng ngừa rủi ro, lựa chọn đồng tiền đầu tư, lựa chọn đồngtiền đi vay, đặc biệt là kinh doanh chêch lệch lãi suất và một số ứng dụng khác Do

đó, khi có sự thay đổi lãi suất của IMF hoặc WB hay FED hoặc ECB, ngoài việctác động mạnh mẽ tới lãi suất, tỉ giá các đồng tiền khu vực và quốc gia, thì còn tácđộng tới quyết định kinh doanh ngoại tệ của NHTM các nước

Những diễn biến bất thường trên thị trường tài chính quốc đều có tác động trực tiếptới tỉ giá của ngoại tệ so với nội tệ tại thị trường trong nước Vì vậy, hoạt động kinhdoanh ngoại tệ mang tính chất quốc tế cao nên chịu ảnh hưởng rất lớn từ thị trườngtài chính quốc tế đòi hỏi ngân hàng phải thu thập và xử lý thông tin từ thị trườngnước ngoài một cách nhanh chóng và chính xác Hay như những cuộc khủng hoảngtài chính ở nước ngoài cũng ảnh hưởng lớn tới tình hình tỉ giá trong nước Gần đây,cuộc khủng hoảng nợ ở Hy Lạp lên tới 300 tỉ EUR, đã làm cho đồng EUR, USDliên tục suy yếu trong thời gian đồng thời tạo sức ép tăng giá lên đồng NDT, làmgiảm xuất khẩu của Trung Quốc do EU là thị trường xuất khẩu lớn của Trung Quốc

và ảnh hưởng tới các chính sách cải cách kinh tế của nước này

Tóm lại, các nhân tố trong nước và trên thị trường tài chính nước ngoài tác động tới

chiến lược kinh doanh ngoại tệ của NHTM tại mỗi nước

1.3.3 Cơ sở vật chất, chính sách và quy trình kinh doanh ngoại tệ của NHTM

Ngoài các điều kiện về pháp lý và điều kiện kinh tế xã hội, để thực hiện và pháttriển tốt hoạt động kinh doanh ngoại tệ còn yêu cầu cả về những yếu tố thuộc bảnthân các NHTM, đó là cơ sở vật chất, chính sách và quy trình từng nghiệp vụ tại

Trang 38

mỗi NHTM Có thể kể đến định hướng phát triển hoạt động kinh doanh ngoại tệ;trình độ dự báo tỉ giá và quản trị rủi ro tỉ giá, nguồn nhân lực và điều kiện máymóc, thiết bị của từng NHTM còn quy trình nghiệp vụ sẽ đi chi tiết tại Chương II.

Định hướng phát triển đối với hoạt động kinh doanh ngoại tệ

Đây là nhân tố cực kì quan trọng Việc đề ra định hướng phát triển là hết sức cầnthiết bởi vì mỗi ngân hàng chỉ có thể chuyên môn hóa trong một số lĩnh vực nhấtđịnh Các ngân hàng cần xây dựng định hướng phù hợp với thế mạnh của mình,bao gồm hệ thống mục tiêu, chiến lược, chính sách hoạt động trong từng thời kì.Ngày nay bất cứ ngân hàng nào cũng có chiến lược kinh doanh cụ thể trong mộtgiai đoạn nhất định Do đó, nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ cũng cần có hoạch địnhchiến lược rõ ràng kể cả thị trường trong nước và nước ngoài Sự biến động của tỉgiá thường không theo một chu ki nào nhất định đôi khi doa động chỉ vì một tinđồn hay là lòng tin của dân chúng bị giảm sút về nền kinh tế, về chính phủ Tuyvậy, sự biến động này cũng có lúc lại theo chu kỳ phát triển của nền kinh tế khuvực, các giai đoạn phát triển, khả năng phục hồi, kì vọng Chính vì thế, ngânhàng cần có kế hoạch kinh doanh trong từng giai đoạn tùy theo thời điểm có thểthay đổi sao cho phù hợp

Tuy cùng có nguồn thông tin như nhau, nhưng lợi nhuận do mỗi ngân hàng tạo ralại phụ thuộc chủ yếu vào hiệu quả sử dụng công nghệ và xử lý thông tin như thếnào Việc này còn tùy thuộc vào kế hoạch, chiến lược, phương thức tiếp cận vàmục tiêu kinh doanh riêng của từng ngân hàng như thị trường mục tiêu, đối tượngkhách hàng, phong cách và mức độ chấp nhận rủi ro

Trinh độ dự báo tỉ giá và quản trị rủi ro tỉ giá

Hoạt động kinh doanh ngoại tệ có nhiều loại rủi ro, trong đó rủi ro tỉ giá là một vấn

đề thường trực mà các NHTM phải đối mặt Trình độ dự báo tỉ giá liên quan tớihoạt động kinh doanh ngoại tệ, có ảnh hưởng tới khả năng phòng ngừa rủi ro tỉ giá

Tỉ giá là một vấn đề nhạy cảm chịu sự tác động của nhiều yếu tố: (i) trạng thái Cáncân thanh toán quốc tế, (ii) sức mua của các đơn vị tiền tệ và tốc độ lạm phát ở mỗinước, (iii) mức chênh lệch lãi suất giữa các nước, (iv) một số nhân tố về chính trị -

Trang 39

xã hội Trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ, các ngân hàng phải thường xuyên dựbáo các yếu tố trên, đặc biệt là các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới tỉ giá như: cungcầu về ngoại tệ, điều chỉnh tỉ giá của NHTW, quỹ dự trữ ngoại tệ, tăng giảm tỉ lệ dữtrữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng ngoại tệ, luồng ngoại tệ đầu tư vào hay rút ra khỏithị trường thông qua các kênh thị trường chứng khoán, bất động sản, Việc dự báo

tỉ giá ảnh hưởng tới quyết định mua bán ngoại tệ, trạng thái ngoại tệ và quản trị rủi

ro tỉ giá của mỗi NHTM Nếu việc dự báo tỉ giá tốt sẽ giúp ngân hàng đưa ra giảipháp quản trị rủi ro tỉ giá hiệu quả và đạt được lợi nhuận cao Còn nếu việc dự báo

tỉ giá không tốt thì ngược lại

Việc quản trị rủi ro tỉ giá liên quan trực tiếp tới lợi nhuận trong hoạt động kinhdoanh ngoại tệ của mỗi NHTM Lãi chỉ phát sinh khi ngân hàng tạo trạng thái ngoại

tệ bằng việc mua bán một đồng tiền, chờ tỉ giá biến động, cân bằng trạng thái và thulãi hoặc lỗ Nếu không duy trì trạng thái ngoại tệ mở thì ngân hàng sẽ không chịubiến động tỉ giá hoặc duy trì trạng thái ngoại tệ mở nhưng tỉ giá không biến động thìrủi ro tỉ giá không phát sinh, đồng thời ngân hàng cũng không có lãi Động cơ kiếmlãi chủ yếu thông qua việc tạo trạng thái ngoại tệ và sự thay đổi tỉ giá Tỉ giá biếnđộng càng mạnh, rủi ro càng cao thì cơ hội kiếm lãi càng lớn Vì vậy, nếu một ngânhàng xây dựng được hệ thống kiểm soát rủi ro phù hợp thì sẽ vừa khuyến khíchđược hoạt động kinh doanh ngoại tệ vừa đảm bảo an toàn

Nguồn nhân lực

Đây là yếu tố quyết định tới hoạt động kinh doanh ngoại tệ bởi vì nghiệp vụ này rấtphức tạp, có nhiều yếu tố bất ngờ và xuất hiện rủi ro cao Do đó, nó đòi hỏi đội ngũnhân viên có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm, khả năng tư duy, sức khỏe, tâm lý

và sự tự tin, Để ngân hàng ngày càng vững mạnh đáp ứng được yêu cầu cạnhtranh gay gắt của thị trường nội địa và quốc tế đòi hỏi phải có một đội ngũ nhânviên giỏi nghiệp vụ, năng động, tìm tòi học hỏi, tuân thủ đúng quy định của ngânhàng và có đạo đức nghề nghiệp

Công nghệ

Trang 40

Máy móc, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động kinh doanh ngoại tệ luôn đòi hỏiđược đổi mới thường xuyên để thu thập thông tin từ các thị trường trên toàn thếgiới Hệ thống thông tin phải bảo đảm nhanh nhạy, chính xác Bộ phận kinh doanhngoại tệ luôn cần nắm bắt thông tin một cách kịp thời để xúc tiến hoạt động, thựchiện giao dịch trong nước và nước ngoài Trên thực tê, những ngân hàng lớnthường chấp nhận chi phí cao để có được thiết bị và công nghệ hiện đại nhất, giúpcho việc truyền và xử lí số liệu được nhanh, hiệu quả, tăng khả năng phân tích, luutrữ số liệu đáng tin cậy và có hệ thống Như vậy, tuy chi phí cho công nghệ cócao, nhưng bù lại, hoạt động kinh doanh của ngân hàng trở nên cạnh tranh hơn vàhứa hẹn mang lại lợi nhuận lớn.

Tóm lại , có rất nhiều nhân tố có mối quan hệ đan xen, tác động tổng thể nhiều

chiều và có tính chi phối lẫn nhau tới cục diện kinh doanh ngoại tệ các nhân tố này

sẽ mang lại tác động tích cực nếu được các NHTM quan tâm đúng mức và ngượclại, nó sẽ mang lại rủi ro Việc xem xét các nhân tố trên rất quan trọng đối vớiNHTM trong chiến lược phát triển của hoạt động kinh doanh ngoại tệ nói chung vàphục vụ phát triển kinh tế, hội nhập, phát triển kinh tế quốc tế nói riêng

1.3.4 Các biện pháp phòng ngừa, xử lý rủi ro trong KDNT của NHTM

Hoạt động kinh doanh ngoại tệ trong ngân hàng tiềm ẩn rất nhiều rủi ro Vì vậy cácbiện pháp ngăn ngừa rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ là rất cần thiết

Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống quản lý rủi ro.

- Xây dựng các hạn mức kinh doanh ngoại tệ, khối lượng giao dịch, giới hạn

loại tiền kinh doanh một cách hợp lý và linh hoạt

Một biện pháp hạn chế rủi ro hữu hiệu là sử dụng hạn mức trong hoạt động KDNT.Hạn mức là công cụ để quản lý rủi ro Hạn mức do mỗi ngân hàng đặt ra tùy thuộcvào đặc điểm kinh doanh và khả năng chấp nhận rủi ro của ngân hàng Ngân hàngphải xây dựng và duy trì một hạn mức chi tiết và rõ ràng

- Xây dựng mô hình kiểm soát và quản lý hoạt động KDNT hiệu quả.

Ngày đăng: 30/03/2022, 23:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Xuân Quế(2002), Nghiệp vụ ngân hàng trung ương, NXB Thống kê 2. Nguyễn Văn Tiến (2005), Tài chính quốc tế hiện đại trong nền kinh tế mở, NXB Thống kê, Hà Nội Khác
3. Nguyễn Văn Tiến (2006), Cẩm nang thị trường ngoại hối và các giao dịch kinh doanh ngoại hối, NXB Thống kê Hà nội Khác
4. TS.Lê Xuân Nghĩa, Vụ trưởng Vụ chiến lược- NHNN Việt Nam Khác
5. Nguyễn Văn Tiến (2010), Thị trường ngoại hối và các nghiệp vụ phái sinh, NXB Thống kê, Hà nội Khác
6. Các văn bản pháp quy của NHNN về quản lý ngoại hối 7. Tạp chí ngân hàng tháng 6, 9/2012 Khác
8. Ngân hàng TMCP Công thương Thanh Hoá: Báo cáo tổng kết và cân đối các năm 2009,2010, 2011 Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w