Là huyện miền núi điều kiện kinh tế văn hoá xã hội phát triển còn chậm so với các vùng miền, công nghiệp chưa phát triển, ngành sản xuất chính vẫn là lâm-nông nghiệp, những năm trước đây
Trang 1CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BÁO CÁO THUYẾT MINH TỔNG HỢP
QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐẾN NĂM 2020,
KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT 5 NĂM (2011 - 2015) HUYỆN QUAN SƠN – TỈNH THANH HÓA
Năm 2013
Trang 2MỤC LỤC
CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BÁO CÁO THUYẾT MINH TỔNG HỢP
QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐẾN NĂM 2020,
KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT 5 NĂM (2011 - 2015)
HUYỆN QUAN SƠN – TỈNH THANH HÓA
Ngày tháng 5 năm 2013 Ngày tháng 02 năm 2013
CHỦ ĐẦU TƢ ĐƠN VỊ TƢ VẤN
ỦY BAN NHÂN DÂN ĐOÀN QUY HOẠCH KS&TK
HUYỆN QUAN SƠN NÔNG LÂM NGHIỆP THANH HÓA
Quan Sơn, tháng 05 năm 2013
Trang 3Trang 1
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ
I NHỮNG CĂN CỨ PHÁP LÝ ĐỂ LẬP QUY HOẠCH 4
II PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN LẬP QUY HOẠCH 6
III SẢN PHẨM QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT 6
IV NỘI DUNG CỦA BÁO CÁO THUYẾT MINH TỔNG HỢP 6
PHẦN I ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI I ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN 7
1.1 Điều kiện tự nhiên 7
1.1.1 Vị trí địa lý 7
1.1.2 Địa hình, địa mạo 7
1.1.3 Khí hậu thời tiết 8
1.1.4 Thủy văn 8
1.2 Các nguồn tài nguyên thiên nhiên 9
1.2.1 Tài nguyên đất 9
1.2.2 Tài nguyên nước 9
1.2.3 Tài nguyên rừng 10
1.2.4 Tài nguyên khoáng sản 10
1.2.5 Tài nguyên nhân văn và du lịch 10
1.3 Thực trạng về môi trường 11
II ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ, XÃ HỘI 11
2.1 Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế 11
2.1.1 Tăng trưởng kinh tế 11
2.1.2 Cơ cấu kinh tế 12
2.2 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế 13
2.2.1 Khu vực kinh tế nông nghiệp 13
2.2.1.1 Sản xuất nông nghiệp 13
2.2.1.2 Sản xuất lâm nghiệp 18
2.2.1.3 Nuôi trồng thuỷ sản 20
2.2.1.4 Phát triển kinh tế trạng trại 20
2.2.2 Khu vực kinh tế công nghiệp 21
2.2.2.1 Công nghiệp 21
2.2.2.2 Xây dựng 21
2.2.3 Khu vực kinh tế dịch vụ 22
2.2.3.1 Hoạt động tài chính ngân hàng 22
2.2.3.2 Hoạt động thương mại, dịch vụ 22
2.2.3.3 Hoạt động du lịch 23
2.2.3.4 Dịch vụ vận tải 23
2.3 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập 23
2.3.1 Dân số 23
2.3.2 Lao động và việc làm 24
2.3.3 Đời sống và thu nhập 26
2.4 Thực trạng phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn 26
2.4.1 Phát triển đô thị 26
2.4.2 Phát triển các khu dân cư nông thôn 27
2.5 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng 27
2.5.1 Hạ tầng kinh tế 27
2.5.2 Hạ tầng xã hội 31
III ĐÁNH GIÁ ĐIỀU KIỆN TƯ NHIÊN, KT-XH VÀ MÔI TRƯỜNG 33
3.1 Về thuận lợi 33
3.2 Về khó khăn 34
3.3 Đánh giá nguyên nhân tồn tại: 35
PHẦN II TÌNH HÌNH QUẢN LÝ SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI I TÌNH HÌNH QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI 36
1.1 Công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 36
Trang 4Trang 2
1.2 Công tác lập hố sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: 36
1.3 Công tác quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất 37
1.4 Công tác Thanh tra, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai 37
1.5 Công tác thống kê, kiểm kê đất đai 38
1.6 Tình hình sử dụng, quản lý đất chuyên trồng lúa nước: 38
1.7 Tình hình quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp 38
II HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT VÀ BIẾN ĐỘNG CÁC LOẠI ĐẤT 39
2.1 Phân tích hiện trạng sử dụng các loại đất 39
2.1.1 Hiện trạng sử dụng các loại đất theo mục đích sử dụng 39
2.1.2 Hiện trạng sử dụng đất chia theo đối tượng sử dụng và quản lý 41
2.2 Biến động sử dụng đất giai đoạn 2005 - 2010: 42
2.2.1 Đất nông nghiệp: 43
2.2.2 Đất phi nông nghiệp: 44
2.2.3 Đất chưa sử dụng: 45
2.3 Đánh giá hiệu quả kinh tế-xã hội, môi trường, tính hợp lý của việc sử dụng đất: 46
2.3.1 Cơ cấu sử dụng đất: 46
2.3.2 Mức độ thích hợp của từng loại đất so với yêu cầu phát triển KT-XH 46
2.3.3 Tập quán khai thác sử dụng đất 48
2.3.4 Những tác động đến môi trường trong quá trình sử dụng đất 48
2.3.5 Những tồn tại chủ yếu trong sử dụng đất, nguyên nhân chính, giải pháp khắc phục, những kinh nghiệm về sử dụng đất 49
III ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT KỲ TRƯỚC 50
3.1 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất 50
3.1.1 Đất nông nghiệp 51
3.1.2 Đất phi nông nghiệp 52
3.1.3 Đất chưa sử dụng 52
3.2 Nguyên nhân tồn tại trong việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất 52
PHẦN III ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG ĐẤT ĐAI VÀ ĐỊNH HƯỚNG DÀI HẠN SỬ DỤNG ĐẤT I ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG ĐẤT ĐAI 53
1.1 Xác định và lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá tiềm năng đất đai phù hợp với từng loại đất, mục đích sử dụng đất 53
1.2 Đánh giá tiềm năng đất đai theo từng loại đất, mục đích sử dụng 54
1.2.1 Tiềm năng cho phát triển sản xuất nông – lâm nghiệp 54
1.2.2 Tiềm năng phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp 54
1.2.3 Tiềm năng phát triển thương mại - dịch vụ - du lịch 55
II ĐỊNH HƯỚNG DÀI HẠN SỬ DỤNG ĐẤT 55
2.1 Khát quát phương hướng, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội dài hạn 55
2.1.1 Phương hướng chung 55
2.1.2 Mục tiêu phát triển 56
2.2 Các quan điểm sử dụng đất đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 56
2.3 Định hướng sử dụng đất cho giai đoạn 20 năm tới và giai đoạn tiếp theo 57
2.3.1 Định hướng sử dụng đất sản xuất lâm - nông nghiệp 58
2.3.2 Định hướng sử dụng đất ở đô thị và khu dân cư nông thôn 59
2.3.3 Định hướng sử dụng đất ngành công nghiệp và xây dựng 59
2.3.4 Định hướng sử dụng đất ngành thương mại, dịch vụ và du lịch 60
2.3.5 Định hướng sử dụng đất cho mục đích công cộng 60
PHẦN IV PHƯƠNG ÁN QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT I CÁC CHỈ TIÊU PHÁT TRIỂN KT - XH TRONG KỲ QUY HOẠCH 62
1.1 Chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế 62
1.1.1 Tăng trưởng kinh tế 62
1.1.2 Cơ cấu kinh tế (giá hiện hành) 62
1.2 Chỉ tiêu quy hoạch phát triển các ngành kinh tế 62
1.2.1 Kinh tế ngành nông, lâm, thủy sản 62
1.2.2 Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp 63
1.2.3 Dịch vụ - thương mại 64
1.2.4 Lĩnh vực văn hóa - xã hội: 65
1.2.5 Phát triển đô thị và các khu dân cư 66
1.2.6 Phát triển hạ tầng cơ sở: 66
Trang 5Trang 3
II PHƯƠNG ÁN QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT: 68
2.1 Tổng hợp và dự báo nhu cầu sử dụng đất trong kỳ quy hoạch 68
2.1.1 Nhu cầu sử dụng đất nông nghiệp 68
2.1.2 Nhu cầu sử dụng đất phi nông nghiệp (tính cho tổng số dân): 69
2.2 Khả năng đáp ứng về số lượng, chât lượng đất đai cho nhu cầu sử dụng 71
2.3 Diện tích các loại đất phân bổ cho các mục đích sử dụng 71
2.3.1 Diện tích các loại đất được cấp trên phân bổ (tỉnh chưa phân bổ) 72
2.3.2 Diện tích đất phân bổ cho nhu cầu phát triển KT-XH của địa phương 73
2.3.2.1 Đất nông nghiệp 73
Căn cứ vào Quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội huyện đến năm 2020; 73
2.3.2.2 Đất phi nông nghiệp 75
2.3.2.3 Đất chưa sử dụng 81
2.3.2.4 Đất ở đô thị 82
2.3.2.5 Đất khu du lịch 82
2.3.2.6 Đất khu dân cư nông thôn 82
2.4 Diện tích đất chuyển mục đích sử dụng phải xin phép trong kỳ quy hoạch 84
2.5 Diện tích đất chưa sử dụng đưa vào sử dụng trong kỳ quy hoạch 84
III ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA PHƯƠNG ÁN QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐẾN KINH TẾ - XÃ HỘI 84 3.1 Đánh giá tác động về kinh tế 84
3.2 Đánh giá tác động về xã hội 85
IV PHÂN KỲ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT 85
4.1 Phân kỳ diện tích các loại đất phân bổ cho các mục đích 85
4.1.1 Kỳ đầu 2011- 2015 85
4.1.1.1 Đất nông nghiệp 85
4.1.1.2 Đất phi nông nghiệp 88
4.1.1.3 Đất ở đô thị 90
4.1.1.4 Đất du lịch 91
4.1.1.5 Đất khu dân cư nông thôn 91
4.1.2 Kỳ cuối (2016- 2020) 91
4.1.2.1 Đất nông nghiệp 91
4.1.2.2 Đất phi nông nghiệp 92
4.1.2.3 Đất đô thị 93
4.1.2.3 Đất khu du lịch 93
4.1.2.4 Đất khu dân cư nông thôn 93
4.2 Phân kỳ diện tích đất chuyển mục đích sử dụng 93
4.2.1 Kỳ đầu (2011-2015) 93
4.2.2 Kỳ cuối (2016-2020) 93
4.3 Phân kỳ diện tích đất chưa sử dụng đưa vào sử dụng 93
4.3.1 Kỳ đầu (2011-2015) 93
4.3.2 Kỳ cuối (2016-2020) 94
V LẬP KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT KỲ ĐẦU (2011-2015) 94
5.1 Chỉ tiêu sử dụng đất theo mục đích sử dụng đến từng năm 94
5.2 Diện tích đất chuyển mục đích sử dụng phải xin phép theo từng năm kế hoạch 96
5.3 Diện tích đất chưa sử dụng đưa vào sử dụng theo từng năm kế hoạch 97
VI GIẢI PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUY HOẠCH, KẾ HOẠCH SỬ DỤNGĐẤT 98
6.1 Giải pháp về chính sách 98
6.2 Giải pháp nguồn lực và vốn đầu tư 99
6.3 Giải pháp về khoa học - công nghệ 100
6.4 Giải pháp bảo vệ, cải tạo đất và bảo vệ môi trường 100
6.5 Giải pháp về tổ chức thực hiện 101
PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ I KẾTLUẬN 102
II KIẾNNGHỊ 103
Trang 6Trang 4
ĐẶT VẤN ĐỀ
Quan Sơn là huyện miền núi nằm ở phía Tây tỉnh Thanh Hoá, có 64 km đường biên giới chung với nước CHDCND Lào, là huyện vùng sâu, vùng xa, tỷ
lệ hộ đói nghèo còn cao, cơ sở hạ tầng thấp kém, giao thông đi lại khó khăn nhất
là vào mùa mưa Theo số liệu kiểm kê đất đai năm 2010 huyện Quan Sơn có tổng diện tích tự nhiên là 93.017,03 ha gồm 3 nhóm đất chính như sau:
- Đất nông nghiệp 73.950,70 ha chiếm 79,50%
- Đất phi nông nghiệp 2.688,84 ha chiếm 2,89%
Lập Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có một ý nghĩa đặc biệt qan trọng nhằm định hướng cho các cấp, các ngành quy hoạch sử dụng đất chi tiết, là cơ
sở pháp lý cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai, làm căn cứ cho việc giao đất, cho thuê đất vv Đồng thời việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một biện pháp hữu hiệu của Nhà nước nhằm hạn chế việc sử dụng đất chồng chéo, lãng phí, bất hợp lý, kém hiệu quả, ngăn chặn hiện tượng tranh chấp, lấn chiếm đất, hủy hoại đất, phá vỡ môi trường sinh thái
Thực hiện Quyết định số 3778/QĐ-UBND ngày 22/10/2009 của UBND tỉnh Thanh Hoá về việc phê duyệt kế hoạch triển khai lập quy hoạch sử dụng đất, đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011 -2015) trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa; Ủy ban nhân dân huyện Quan Sơn phối hợp với Đoàn Quy hoạch,
khảo sát và thiết kế Nông lâm nghiệp Thanh Hóa thực hiện lập “Quy hoạch sử
dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất chi tiết 5 năm (2011 – 2015) huyện Quan Sơn” để đảm bảo sự thống nhất quản lý Nhà nước về đất đai từ tỉnh
đến huyện và ngược lại
I NHỮNG CĂN CỨ PHÁP LÝ ĐỂ LẬP QUY HOẠCH
Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003;
Luật Đất đai năm 2003 quy định về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai; Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai hướng dẫn công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (tại Chương III từ Điều 12 đến Điều 19);
Nghị định số 17/2007/NĐ-CP ngày 27/01/2007 của Chính phủ về sửa đổi,
bổ sung một số điều của các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai;
Trang 7Trang 5
Chỉ thị số 09/2007/CT-TTg ngày 06/4/2007 của Thủ Tướng Chính phủ về tăng cường quản lý sử dụng đất của các quy hoạch và dự án đầu tư;
Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính Phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đât, bồi thường, bồi thường hỗ trợ và tái định cư;
Thông tư số 19/2009/TT-BTNMT ngày 02/11/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành về việc hướng dẫn lập và thẩm định quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất;
Thông tư số 13/2011/TT-BTNMT ngày 15/4/2011 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường quy định về Ký hiệu bản đồ hạng trạng sử dụng đất phục vụ quy hoạch sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất;
Quyết định số 3778/QĐ-UBND ngày 22/10/2009 của UBND tỉnh Thanh Hoá về việc phê duyệt kế hoạch triển khai lập quy hoạch sử dụng đất, đến năm
2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011 -2015) các cấp trên địa bàn tỉnh;
Quyết định số 1190/QĐ-UBND ngày 23/4/2007 của UBND tỉnh Thanh Hoá về việc phê duyệt tổng thể phát triển ngành nông nghiệp tỉnh Thanh Hóa đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020;
Quyết định số 880/QĐ-UBND ngày 11/4/2008 của UBND tỉnh Thanh Hoá
về việc phê duyệt quy hoạch thủy lợi vùng trung du và miền núi Thanh Hóa đến năm 2020;
Quyết định số 346/QĐ-UBND ngày 26/01/2011 của UBND tỉnh Thanh Hóa về việc công bố kết quả theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp năm
2010 tỉnh Thanh Hóa;
Quyết định số 380/QĐ-UBND ngày 28/01/2011 của UBND tỉnh Thanh Hóa, về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020;
Quyết định số 2253/QĐ-UBND ngày 13/7/2011 của UBND tỉnh về phê duyệt điều chỉnh, bổ sung quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng miền núi phía tây tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020;
Quyết định 4123/QĐ-UBND ngày 12/12/2011 của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh hóa về việc phê duyệt, điều chỉnh bổ sung quy hoạch tổng thể phát triển GTVT tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2010 đến 2020 và ổn định đến năm 2030;
Quyết định 83/QĐ-UBND ngày 09/01/2012 của ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa phê duyệt và công bố kết quả kiểm kê diện tích đất đai năm 2010;
Quyết định số 656/QĐ-UBND ngày 17/4/2012 của UBND huyện Quan Sơn về việc phê duyệt Đề cương nhiệm vụ và dự toán kinh phí lập Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm giai đoạn 2011-2015 huyện Quan Sơn;
Văn bản số 9231/UBND-NN ngày 17/12/2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa về việc Phân bổ chỉ tiêu quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cho các huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh;
Căn cứ mục tiêu, nhiệm vụ và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của Huyện Quan Sơn đến năm 2020;
Trang 8Trang 6
Kết quả kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm
2010 các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Quan Sơn;
Số liệu thống kê của Cục Thống kê tỉnh Thanh Hoá và của phòng Thống
kê huyện Quan Sơn;
Bản đồ quy hoạch sử dụng đất và xây dựng nông thôn mới các xã đến năm 2020
II PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN LẬP QUY HOẠCH
1 Phương pháp thống kê: Để xác định các yếu tố then chốt tác động đến tình
hình phát triển kinh tế địa phương, trên cơ sở đó tập trung nghiên cứu sâu những vấn đề, nguyên nhân, tác nhân ảnh hưởng đến cơ cấu sử dụng đất hiện tại cũng như trong tương lai
2 Phương pháp điều tra: Để cập nhật và đánh giá tình hình thực trạng kinh tế -
xã hội, hiện trạng sử dụng đất đai và quản lý sử dụng đất đai tại địa phương
3 Phương pháp bản đồ: Thể hiện những yếu tố ít biến động như hệ thống cơ sở
hạ tầng, đất đai, vị trí địa lý Bản đồ hành chính, vị trí, mối quan hệ liên vùng, bản đồ hiện trạng, quy hoạch hệ thống kết cấu hạ tầng, hệ thống đô thị và điểm dân cư, bản đồ tổ chức lãnh thổ các hoạt động kinh tế chủ yếu, bản đồ hiện trạng
và quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội đều được thể hiện trên nền địa hình tỷ
lệ 1/25.000 và được xây dựng dựa trên chồng ghép, số hoá từ các bản đồ đơn tính Dùng các phần mềm của hệ thống GIS và Microtation, để phân tích, tổng hợp cơ sở dữ liệu
4 Phương pháp kế thừa: Kế thừa toàn bộ các kết quả nghiên cứu trước đó, tiết
kiệm các chi phí không cần thiết Phương pháp cung cấp thông tin thứ cấp để có những phân tích, đánh giá nhận định cần thiết cho quá trình nghiên cứu
5 Các phương pháp khác: Đánh giá đất đai, chuyên gia hội thảo, điều tra nhanh
nông thôn
III SẢN PHẨM QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT
- Báo cáo thuyết minh tổng hợp Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch
sử dụng đất 5 năm (2011-2015)
- Bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2010, tỷ lệ 1/25 000 (bản in giấy và bản dạng số)
- Bản đồ Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, tỷ lệ 1/25 000 (bản in giấy và bản dạng số)
- Các văn bản có liên quan trong quá trình lập quy hoạch, thẩm định thông qua HĐND, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt
IV NỘI DUNG CỦA BÁO CÁO THUYẾT MINH TỔNG HỢP
Gồm các phần chính như sau:
Phần I: Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
Phần II: Tình hình quản lý, sử dụng đất đai
Phần III: Tiềm năng đất đai và định hướng dài hạn sử dụng đất
Phần IV: Phương án quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020
Phần V: Kết luận và kiến nghị
Trang 9Trang 7
PHẦN I
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI
I ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
1.1 Điều kiện tự nhiên
Có ranh giới hành chính như sau:
- Phía Bắc giáp huyện Quan Hóa
- Phía Tây và Nam giáp nước CHDCND Lào
- Phía Đông giáp huyện: Lang Chánh, Bá Thước
Tổng diện tích tự nhiên 93.017,03ha, dân số trung bình năm 2010 là 35.739 người, mật độ dân số trung bình 38 người/km2, trên địa bàn huyện có 13 đơn vị hành chính, gồm 12 xã và thị trấn Quan Sơn Trung tâm huyện lỵ đóng tại Km 142 Quốc Lộ 217 (thị trấn huyện Quan Sơn)
Huyện có vị trí địa lý chiến lược về kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh khu vực miền núi tỉnh Thanh Hóa, đồng thời là vùng đầu nguồn của hệ thống sông Mã, có ý nghĩa rất lớn về phòng hộ, tạo nguồn sinh thủy dự trữ nguồn nước, giảm tác động thiên tai và bảo vệ môi trường, tạo cân bằng hệ sinh thái đối với cả tỉnh
Trên địa bàn huyện có tuyến giao thông đường bộ Quốc lộ 217 chạy qua,
là tuyến đường kết nối đường 1A, đường Hồ Chí Minh với nước bạn Lào qua Cửa khẩu quốc tế Na Mèo và cửa khẩu tiểu ngạch Tam Thanh - Sầm Tớ là điều kiện thuận lợi về giao lưu kinh tế và hợp tác phát triển
1.1.2 Địa hình, địa mạo
Là huyện vùng cao, địa hình hiểm trở, diện tích bề mặt bị chia cắt mạnh bởi sông Luồng và sông Lò, có các dãy núi cao kéo dài thành dải theo hướng Tây Bắc - Đông Nam như: đỉnh Pù Mằn - Sơn Hà cao 1247m; đỉnh Pa Panh - Sơn Điện, Sơn Lư cao 1146-1346m; Hướng núi thấp dần từ Tây sang Đông, có trên 91% diện tích là đồi núi, với các cấp độ dốc như sau:
- Đất có độ dốc cấp I (< 3o): 4,48ha; chiếm gần 0,005% diện tích tự nhiên
- Có độ dốc cấp II (4-8o): 214,86 ha; chiếm 0,23%
- Có Độ dốc cấp III (9-15o): 2.285,21 ha; chiếm 2,46%
- Có độ dốc cấp IV, V,VI(> 15o): 90.512,48 ha; chiếm 97,31%
Trang 10Trang 8
1.1.3 Khí hậu thời tiết
Huyện Quan Sơn thuộc vùng khí hậu núi cao phía Tây Bắc của tỉnh Thanh Hóa
Nhiệt độ không khí trung bình năm 23oC, nhiệt độ không khí tối cao tuyệt đối 39- 40oC vào tháng 5, tháng 7; tối thấp tuyệt đối 2,6o
Lượng bốc hơi trung bình năm 628,9 mm/năm, cao nhất vào tháng 7 là 78
Gió mùa Đông Bắc trung bình 18 đợt/năm (từ tháng 10 - tháng 3)
Số ngày rét đậm có sương giá trung bình 5,4 ngày/năm
Số ngày có khả năng sương muối 1,2 ngày/năm (vào tháng 12 và tháng 1)
Số ngày mưa phùn trung bình 48,2 ngày/năm (vào tháng 1-3)
Số ngày hanh heo trung bình 11,4 ngày/năm (vào tháng 11-12)
Thuận lợi của khí hậu thời tiết là tổng nhiệt độ năm cao, số giờ nắng cao, lượng mưa ẩm độ lớn thích hợp cho nền nông nghiệp đa dạng với nhiều loại vật nuôi, cây trồng có nguồn gốc tự nhiên sinh trưởng và phát triển tốt
Bất lợi là luợng mưa phân bố không đều, tập trung vào mùa mưa nên dễ gây ra hiện tượng lũ quét, lũ ống, sạt lở đất, đá lăn Mùa đông ít mưa, khô hanh, rét đậm, có xuất hiện sương giá và dễ gây nên hạn hán, cháy rừng Mùa hè có gió Tây Nam khô nóng, giông tố, mưa đá, bão, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống nhân dân
Trang 11Tổng diện tích tự nhiên là 93.017,03 ha Trong đó:
- Đất nông nghiệp: 73.950,70 ha; chiếm 79,50% diện tích tự nhiên
+ Đất sản xuất nông nghiệp: 2.590,90 ha; chiếm 2,79%
+ Đất cho sản xuất lâm nghiệp: 71.359,80 ha; chiếm 76,71%
- Đất phi nông nghiệp: 2.688,84 ha; chiếm 2,89%
- Nhóm đất mùn Halít trên núi cao (Ha; Hq) phân bố chủ yếu ở các đỉnh núi cao trên 1000 m
- Nhóm đất Feralit biến đổi do trồng lúa (Fl) phân bố chủ yếu ven đồi do khai hoang xây dựng đồng ruộng sản xuất lương thực, hoa màu
- Nhóm đất phù sa bồi tụ ven sông, suối (Py) phân bố ven sông Luồng, sông Lò, suối lớn thuộc đất canh tác trồng lúa, hoa màu
- Nhóm đất dốc tụ chân đồi (D), thường trồng màu và trồng rừng
- Sông Luồng là một nhánh lớn bên hữu ngạn sông Mã có tổng chiều dài
102 km; diện tích lưu vực là 1.590km2, đoạn chảy qua huyện dài 48km
- Sông Lò tổng chiều dài sông là: 74,5 km, diện tích lưu vực 792 km2 Đoạn chảy qua địa bàn huyện dài trên 38 km
Hệ thống sông suối của Quan Sơn có nhiều tiềm năng cho xây dựng các hồ, đập phục vụ tưới thuỷ lợi; có nhiều vị trí có thể xây dựng các công trình thuỷ
Trang 12Trang 10
điện vừa và nhỏ, bổ sung điện năng cho lưới điện Quốc gia và phục vụ phát triển sản xuất như: Na Mèo (trên sông Luồng); Trung Thượng, Tam Lư, Trung Xuân (trên sông Lò)
2755/2007/QĐ-Diện tích đất sử dụng vào mục đích lâm nghiệp của huyện là 71.359,80 ha chiếm 76,71% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện, trong đó: rừng phòng hộ 35.555,34 ha chiếm 38,22%; rừng sản xuất 35.804,46 ha chiếm 38,49%
Trữ lượng rừng ước tính có khoảng 2,3 triệu m3
gỗ; 60 triệu cây luồng;
170 triệu cây tre nứa Rừng giàu và rừng trung bình phân bố ở các dãy núi cao dọc theo đường biên giới giáp Lào, xa đường giao thông và khu dân cư, chủ yếu
là rừng phòng hộ đầu nguồn
Hệ thực vật rừng phong phú, đa dạng; các loài gỗ quý như Sến, Táu mật, Dổi, De, Vàng Tâm đang suy giảm nhanh do khai thác chọn gỗ tốt Họ tre nứa mọc tự nhiên có Nứa, Vầu, Giang Rừng trồng chủ yếu là rừng Luồng, trữ lượng không cao, do khai thác nhiều rừng Luồng đang bị thoái hóa, cần được cải tạo và
tổ chức khai thác sử dụng hợp lý có hiệu quả
Động vất rừng còn có nhiều loài thú hoang dã như: lợn rừng, nai, hoãng,
bò tót, khỉ, gấu, gà lôi Đây là nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá có ý nghĩa lớn về môi trường sinh thái, kinh tế và khoa học Trong nhiều năm qua, nguồn tài nguyên này có xu hướng giảm sút, nhiều loài thú quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng như (gấu, bò tót ) cùng với việc tái tạo vốn rừng, nguồn động vật hoang
dã quý hiếm cũng cần được bảo vệ chặt chẽ vì đây là nguồn tài nguyên có giá trị cao về nhiều mặt và không dễ tái tạo
1.2.4 Tài nguyên khoáng sản
Nguồn tài nguyên khoáng sản chủ yếu của huyện Quan Sơn là đá Vôi, cát sỏi ở ven sông Lò, sông Luồng Ngoài ra theo kết quả điều tra năm 2007 trên địa bàn huyện còn có các loại khoáng sản gồm: Mỏ chì, kẽm ở xã Sơn Thuỷ; Chì, bạc ở xã Sơn Hà; Sắt ở xã Tam Lư; Molipden ở Mường Mìn; Graphit ở xã Na Mèo, đến nay vẫn chưa xác định được trữ lượng
1.2.5 Tài nguyên nhân văn và du lịch
- Về nhân văn: Quan Sơn có 4 dân tộc anh em sinh sống (Thái, Kinh, Mường, Mông), mỗi dân tộc có phong tục, tập quán riêng; thiết chế văn hóa xã hội của
Trang 13- Về du lịch: Quan Sơn có nhiều danh lam thắng cảnh như Động Nang Non ở xã Sơn Lư; núi Pha Dua ở bản Trung Sơn; Thác bản Nhài xã Sơn Điện; Động Bo Cúng ở bản Chanh xã Sơn Thuỷ vv… là những danh lam thắng cảnh vùng sơn cước huyền bí là tiềm năng để khai thác phát triển du lịch sinh thái hang động rất hấp dẫn đối với du khách, nhất là các du khách quốc tế
Với tiềm năng và vị trí địa lý thuận lợi cho phát triển du lịch, Quan Sơn có thể liên kết với các địa phương trong vùng, cả tỉnh, cả nước và với các tỉnh Bắc Lào hình thành các tuor du lịch xuyên quốc gia và quốc tế
1.3 Thực trạng về môi trường
Là huyện miền núi điều kiện kinh tế văn hoá xã hội phát triển còn chậm
so với các vùng miền, công nghiệp chưa phát triển, ngành sản xuất chính vẫn là lâm-nông nghiệp, những năm trước đây do điều kiện kinh tế còn gặp nhiều khó khăn tình trạng khai thác rừng làm nương rẫy diễn ra thường xuyên (đặc biệt là các xã vùng cao) làm cho diện tích rừng giảm, tài nguyên rừng bị cạn dần, đất đai bị bào mòn rửa trôi, nạn hạn hán lũ lụt thường sảy ra; kết hợp với nhiều điểm
ở các khu dân cư, các cơ sở sản xuất chế biến, dịch vụ, nước thải rác thải vv… hầu hết chưa qua xử lý thải trực tiếp vào đất, vào sông suối, việc sử dụng bón hóa học thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp không hợp lý, chăn nuôi giai súc gia cầm còn mang tính truyền thống (thả rông), tỷ lệ hộ gia đình có
hố xí hợp vệ sinh còn thấp, các khu vực dân cư chưa có nơi tập kết chôm lấp rác thải nên tình trạng vứt rác thải bừa bãi thường xảy ra vv…là nguồn gây ô nhiễm cho đất, không khí và nguồn nước làm ảnh hưởng tới đời sống sinh hoạt của nhân dân
Những năm gần đây, song song với việc thức đẩy phát triển kinh tế xã hội, UBND huyện đã chỉ đạo các cấp, các ngành trên địa bàn tăng cường công tác tuyên truyền bảo vệ môi trường, chỉ đạo xử lý ô nhiễm, thu gom và xử lý rác thải, đặc biệt là xử lý môi trường sau mùa mưa bão, công tác bảo vệ phát triển rừng được quan tâm, rừng đang dần phục hồi, môi trường tự nhiên có sự chuyển biến tích cực, tác động của môi trường đến sản xuất và đời sống của người dân từng bước được cải thiện
II ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ, XÃ HỘI
2.1 Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
2.1.1 Tăng trưởng kinh tế
Trang 14Trang 12
Tốc độ tăng trưởng kinh tế và xu thế chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành (công nghiệp; Lâm, nông nghiệp và dịch vụ thương mại) Cơ cấu kinh tế huyện đã có bước chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ; nhưng tốc độ chuyển dịch chậm, tỷ trọng nông - lâm nghiệp - thuỷ sản vẫn chiếm ưu thế
GTSX toàn huyện năm năm 2000 là 71,104 tỷ đồng, năm 2005 đạt 132,07 tỷ đồng, năm 2010 đạt 239,166 tỷ đồng (giá CĐ 94) Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm giai đoạn 2001- 2005, đạt 9,9%, giai đoạn 2006-2010 đạt 10,4% Tốc
độ tăng trưởng kinh tế của huyện có xu hướng tăng dần vào các năm cuối kỳ của
kế hoạch 5 năm, tạo đà tăng trưởng thuận lợi cho thời kỳ tiếp theo
Bảng 01 Tăng trưởng GDP giai đoạn 2000-2010
Giá trị thực hiện (triệu đồng)
Tăng trưởng (%/năm) Năm
1 Nông, lâm, ngư nghiệp 47.227 75.280 126.761 8,1 9,1
2 Công nghiệp - Xây dựng 10.111 18.490 40.657 10,6 14,0
3 Dịch vụ - Thương mại 13.766 38.300 71.748 18,6 11,0
Nguồn: Niên giám thống kê huyện Quan Sơn
2.1.2 Cơ cấu kinh tế
Cùng với tốc độ tăng trưởng, cơ cấu kinh tế của Huyện Quan Sơn từng bước chuyển dịch theo hướng tiến bộ hơn, tỷ trọng công nghiệp - xây dựng trong tổng GTSX có xu hướng tăng, tỷ trọng ngành nông nghiệp có xu hướng giảm Tỷ trọng nông nghiệp năm 2000 chiếm: 66,4%, CN-XD: 14,2%, dịch vụ thương mại: 19,4%; năm 2005, cơ cấu kinh tế của huyện đã có sự chuyển dịch, nhưng còn chậm, các ngành nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ lần lượt chiếm
tỷ trọng là: 57% - 15% - 28% Năm 2010 cơ cấu các ngành nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ lần lượt là: 53% - 17% - 30%
Bảng 02 Cơ cấu giai đoạn 2000-2010
1 Nông, lâm, ngư nghiệp 66,4 57,0 53,0 -9,4 -4
2 Công nghiệp - Xây dựng 14,2 15,0 17,0 0,8 2
3 Dịch vụ - Thương mại 19,4 28,0 30,0 8,6 2
Nguồn: Niên giám thống kê huyện Quan Sơn
Trang 15Trang 13
2.2 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế
2.2.1 Khu vực kinh tế nông nghiệp
Là huyện miền núi nghèo, với hơn 90% dân số sống về nông nghiệp Do vậy khu vực kinh tế nông nghiệp chiếm vị trí rất quan trong toàn bộ quá trình phát triển kinh tế của huyện, ngoài việc giải quyết việc làm, ổn định đời sống dân cư, sản xuất nông nghiệp còn đóng góp lớn cho nền kinh tế chung của huyện, giai đoạn 2000-2010 nhờ thực hiện tốt các chủ trương, chính sách về phát triển sản xuất nông nghiệp của Trung ương, của tỉnh và ứng dụng có hiệu quả các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tăng giá trị sản sản xuất trên đơn
vị diện tích, phá vỡ thế sản xuất độc canh và kinh tế tự cấp tự túc trước kia, chuyển dần từng bước sang sản xuất hàng hoá
Tổng giá trị sản xuất ngành nông lâm thuỷ sản (giá SX 94) năm 2000 đạt 47,23 tỷ đồng; năm 2005 tăng lên 75,28 tỷ, đến năm 2010 đạt 126,76 tỷ đồng Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm giai đoạn 2000 -2005 đạt 8,1%; giai đoạn 2006-2010 đạt 9,1%; bình quân cả giai đoạn 2001-2010 là 8,6% Tỷ trọng ngành nông nghiệp trong cơ cấu chung của ngành kinh tế huyện chiếm 66,42% năm 2000; năm 2005 giảm xuống còn 57%; và năm 2010 giảm còn 53%
2.2.1.1 Sản xuất nông nghiệp
Cùng với những thành tựu chung của ngành nông lâm thủy sản, sản xuất nông nghiệp trong thời gian qua đã đạt được những kết quả tương đối khả quan, tạo cơ sở cho sự chuyển dịch nhanh cơ cấu sản xuất của ngành GTSX nông nghiệp năm 2000 đạt 28,14 tỷ đồng tăng lên 38,15 tỷ đồng vào năm 2005, năm
2010 đạt 67,64 tỷ đồng Tốc độ phát triển GTSX bình quân hàng năm, giai đoạn 2000- 2005 là 5,2%; giai đoạn 2005-2010 là 9,3%; cả giai đoạn 2001-2010 đạt 7,6% Tỷ trọng ngành nông nghiệp trong cơ cấu ngành nông lâm thủy sản năm
2000 chiếm 59,6% giảm xuống còn 50,7% năm 2005, năm 2010 là 53,4% Sản xuất lương thực đạt khá, tổng đàn gia súc, gia cầm tăng theo xu thế chung của cả tỉnh Chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành theo hướng tích cực tăng tỷ trọng chăn
nuôi, giảm tỷ trọng trồng trọt
2.2.1.1.1 Trồng trọt
Sản xuất lâm nông nghiệp nói chung và ngành trồng trọt nói riêng của huyện vẫn là ngành sản xuất quan trọng và là ngành kinh tế chính của huyện trong những năm qua, sản xuất của ngành trồng trọt tương đối ổn định, năng suất cây trồng được cải thiện rõ rệt nhờ việc áp dụng tốt khoa học, kỹ thuật trong sản xuất, đưa các giống cây trồng có năng suất chất lượng cao và áp dụng các biện pháp thâm canh tăng vụ… cơ cấu mùa vụ, cơ cấu cây trồng đang được chuyển đổi một cách phù hợp, nhiều mô hình sản xuất áp dụng kỹ thuật canh tác
Trang 16Trang 14
tiên tiến đang được mở rộng về quy mô, bên cạnh đó, hệ thống khuyến nông huyện hoạt động rất tích cực trong triển khai các mô hình trình diễn, phổ biến kiến thức kỹ thuật canh tác, hỗ trợ giống mới Vì vậy sản xuất nông nghiệp đã
có nhiều chuyển biến tích cực và đạt được những kết quả khả quan
GTSX ngành trồng trọt năm 2000 đạt 22,45 tỷ đồng tăng lên 30,32 tỷ đồng năm 2005, năm 2010 đạt 46,14 tỷ đồng Tốc độ phát triển GTSX bình quân hàng năm cả giai đoạn 2001-2010 đạt 6,2% Tỷ trọng ngành trồng trọt trong cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp năm 2000 là 79,8%; năm 2005 chiếm 79,5%; năm
2010 giảm xuống 68,2% Cụ thể như sau:
a) Cây lương thực
- Cây lúa: Trong giai đoạn từ năm 2000-2010, diện tích trồng lúa trên địa bàn không có nhiều biến động Diện tích gieo trồng lúa năm 2000 là 1.786 ha, năm 2005 tăng lên 2.060 ha, đến năm 2010 giảm xuống 1.986 ha Các giống lúa lai có năng suất cao đang dần thay thế các giống lúa năng suất thấp của địa phương Diện tích lúa lai đưa vào gieo cấy hàng năm tăng từ 15% năm 2000 lên 20% năm 2005 và đạt trên 35% năm 2010
Nhờ áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất và đưa các giống lúa lai năng suất cao vào gieo trồng; nên năng suất lúa hàng năm của huyện đều tăng; năm 2000 năng suất lúa là 25,0 tạ/ha, năm 2005 tăng lên 28,96 tạ/ha, năm
2010 là 34,7 tạ/ha Tổng sản lượng lúa năm 2000 từ 4.363 tấn tăng lên 5.965 tấn vào năm 2005, đến năm 2010 đạt 6.890 tấn
Về cơ cấu giống lúa, chủ yếu là các giống lúa lai có chất lượng, hiệu quả kinh tế cao như: Lúa lai Đ.Ưu 527, Nhị Ưu 63, Nhị Ưu 838, Nhị Ưu 69; TH3-3, TH3-4; các giống lúa thuần Khang dân 18, Q5, Xi21, Xi23 ; các giống lúa chất lượng cao như: Hương thơm, Bắc thơm vv
- Cây ngô: Trong những năm qua, ngô là cây lương thực rất được người dân quan tâm Diện tích ngô năm 2000 đạt 959,0 ha, năm 2005 tăng lên 1.381
ha, năm 2010 tăng diện tích trồng ngô lên 1.627 ha Năng suất ngô ổn định năm sau cao hơn năm trước, năm 2000 đạt 15,1 tạ/ ha, tăng lên 16,37 tạ/ha năm 2005 năm 2010 đạt 22,42 tạ/ha Sản lượng ngô năm 2000 là 1.448 tấn, năm 2005 đạt 2.260 tấn, đến năm 2010 tăng lên 3.648 tấn Đóng góp đáng kể vào tổng sản lượng lương thực toàn huyện, góp phần gia tăng giá trị sản xuất cũng như hiệu quả sử dụng đất
Cơ cấu giống ngô chủ yếu được đưa vào gieo trồng trong thời gian qua như: CP888, CP999, C919, NK4300, NK67, NK6654, NK54, NK66, LVN10, LVN855, VN8960, LCH , chủ yếu là các giống có khả năng chống chịu hạn tốt, phù hợp với điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng của huyện
Trang 171 Lúa cả năm (ha) 1.786,00 2.060,00 1.986,00 274,0 -74,0 Năng suất (tạ/ha) 25,00 28,96 34,70 3,96 5,74 Sản lượng (tấn) 4.465,00 5.966,00 6.890,00 1.501,0 924,0
a Lúa chiêm xuân (ha) 559,00 631,00 668,00 72,0 37,0 Năng suất (tạ/ha) 26,50 35,20 40,00 8,7 4,8 Sản lượng (tấn) 1.481,40 2.221,10 2.672,00 739,7 450,9
b Lúa mùa (ha) 1.227,00 1.429,00 1.318,00 202,0 -111,0 Năng suất (tạ/ha) 24,30 26,20 32,00 1,9 5,8 Sản lượng (tấn) 2.981,60 3.744,00 4.217,60 762,4 473,6
2 Ngô cả năm (ha) 959,00 1.381,00 1.627,00 422,0 246,0 Năng suất (tạ/ha) 15,10 16,37 22,42 1,27 6,05 Sản lượng (tấn) 1.448,00 2.260,00 3.648,00 812,0 1.388,0
Nguồn: Niên giám thống kê huyện Quan Sơn
b) Cây chất bột có củ:
Trên địa bàn toàn huyện cây chất bột có củ chủ yếu là sắn, trong những năm gần đây diện tích trồng có chiều hướng tăng cao, từ 910 ha năm 2000 tăng lên 1.300 ha năm 2010
- Cây sắn: Trong những năm gần đây do nhu cầu phát triển của thị trường, đặc biệt là nhu cầu nguyên liệu của nhà máy chế biến tinh bột sắn, do vậy diện tích trồng sắn của huyện không ngừng tăng cung cấp nguyên liệu sắn cho nhà máy chế biến tinh bột sắn Bá Thước, kết quả thực hiện qua các năm như sau: Năm
2000 trồng được 910 ha, sản lượng đạt 8.191 tấn; năm 2005 trồng được 898 ha, sản lượng đạt 8.702 tấn và đến năm 2010 vùng sắn nguyên liệu đạt 1.300 ha với sản lượng là 14.300 tấn
Tuy nhiên, sắn là cây hàng năm được trồng chủ yếu trên đất dốc, nên đất bị sói mòn và rửa trôi mạnh lại trồng độc canh nên năng suất không cao Thực tế vùng nguyên liệu sắn chưa năm nào cung cấp đủ nguyên liệu cho nhà máy hoạt động hết công suất
Trang 18- Đậu tương: Trong những năm qua diện tích trồng Đậu tương đều tăng Năm
2000 trồng được 66 ha tăng lên 352 ha năm 2005 và đến năm 2010 đạt 560 ha Năng suất nhìn chung còn thấp năm 2000 đạt 11 tạ/ha, tăng lên 17,1 tạ/ha vào năm 2005 và đến năm 2010 đạt 17,54 tạ/ha
- Cây lạc: Tổng diện tích gieo trồng năm 2005 là 77 ha, năm 2010 giảm xuống còn 69 ha, năng suất lạc hàng năm đạt từ 7,2 tạ/ha đến 8 tạ/ha; sản lượng đạt thấp và không ổn định, năm 2005 là 46 tấn và đến năm 2010 tăng lên 50 tấn, chưa có vùng chuyên canh có quy mô lớn để trở thành sản phẩm hàng hóa xuất khẩu với số lượng lớn
Bảng 05: Sản xuất cây công nghiệp hàng năm giai đoạn 2000-2010
2 Cây đậu tương (ha) 66,0 352,0 560,0 286,0 208,0
Sản lượng (tấn) 73,0 602,0 982,0 529,0 380,0
Nguồn: Niên giám thống kê huyện Quan Sơn d) Cây rau đậu các loại
- Diện tích trồng rau các loại toàn huyện năm 2000 là 271,5 ha, tăng lên 525,2
ha vào năm 2005 và đến năm 2010 đạt 749,0 ha; Tổng sản lượng rau các loại
Trang 19Trang 17
tăng dần theo từng năm, năm 2000 là 1.422,66 tấn, tăng lên 2.337,14 tấn vào năm 2005 và đến năm 2010 đạt 3.924,8 tấn
- Diện tích trồng đậu các loại toàn huyện năm 2000 là 40,5 ha, giảm xuống 34,8
ha vào năm 2005 và đến năm 2010 đạt 44,0 ha; Tổng sản lượng đậu các loại theo từng năm, năm 2000 là 213,34 tấn, giảm xuống 154,86 tấn vào năm 2005
1 Rau các loại (ha) 271,5 525,2 749,0 253,7 223,8 Sản lượng (tấn) 1422,7 2337,1 3924,8 914,5 1587,7
2 Đậu các loại (ha) 40,5 34,8 44,0 -5,7 9,2 Sản lượng (tấn) 213,3 154,9 231,9 -58,5 77,0
Nguồn: Niên giám thống kê huyện Quan Sơn
2.2.1.1.2 Chăn nuôi
Thực hiện Quyết định số 3017, ngày 17/10/2005 của Chủ tịch UBND tỉnh
về việc ban hành cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển chăn nuôi trâu, bò trên địa bàn miền núi tỉnh Thanh Hoá đến năm 2010 và Nghị quyết số 02/NQ-BCH ngày 28/6/2005 của Ban chấp hành Đảng bộ huyện về phát triển chăn nuôi Do vậy chăn nuôi của huyện trong những năm qua đã có bước phát triển khá mạnh về số lượng đàn gia súc và gia cầm, từng bước chuyển đổi mô hình chăn nuôi nhỏ lẻ của các hộ gia đình là chủ yếu sang hình thành một số trang trại chăn nuôi đại gia súc (trâu, bò) theo phương thức sản xuất hàng hoá, từng bước đem lại hiệu quả kinh tế, tạo động lực góp phần chuyển đổi cơ cấu ngành nông nghiệp của huyện
Tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng năm 2000 đạt 720 tấn, năm 2005 tăng lên 770 tấn, năm 2006 đạt 848 tấn, năm 2010 đạt 1.077 tấn GTSX ngành chăn nuôi năm 2000 đạt 5,69 tỷ đồng tăng lên 7,83 tỷ đồng năm 2005, năm 2010 đạt 21,5 tỷ đồng Tốc độ phát triển GTSX bình quân hàng năm cả giai đoạn 2000-2010 đạt 10,7% Tỷ trọng ngành chăn nuôi trong cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp chiếm 20,2% năm 2000, năm 2005 chiếm 20,5%, năm 2010 tăng lên 31,8%
- Giai đoạn 2000-2005
Số lượng đàn gia súc, gia cầm của huyện tăng trưởng đều trong giai đoạn Năm 2000 đàn trâu có 5.364 con, đàn bò có 2.956 con, đàn lợn 12.459 con, đàn gia cầm có khoảng 36,7 nghìn con, đến năm 2005 số lượng đàn gia súc, gia cầm
Trang 20Trang 18
đều tăng, đặc biệt đàn bò và đàn gia cầm Đàn trâu có 6263 con, tăng trưởng bình quân 3,1%; Đàn bò có 3.880 con, tăng trưởng bình quân 5,6%; Đàn lợn 14.840 con, tăng trưởng bình quân 3,6%; Đàn gia cầm có khoảng 68,6 nghìn con, tăng trưởng bình quân 3,9%
- Giai đoạn 2006-2010
Số lượng đàn gia súc, gia cầm của huyện tăng trưởng không đều Năm
2006 đàn trâu có 6.602 con, đàn bò có 4.334 con, đàn lợn 13.728 con, đàn gia cầm có khoảng 71 nghìn con Đến năm 2010, đàn trâu có 7.697 con, tăng trưởng bình quân 3,1%; Đàn bò có 6.104 con, tăng trưởng bình quân 7,1%; Đàn lợn 17.067 con, tăng trưởng bình quân 4,5%; Đàn gia cầm có khoảng 97 nghìn con, tăng trưởng bình quân 6,4%
Bảng 07: Diễn biến ngành chăn nuôi qua các năm (2001-2010)
Nguồn: Niên giám thống kê huyện Quan Sơn
2.2.1.2 Sản xuất lâm nghiệp
Ngành lâm nghiệp có vai trò quan trọng trong sự phát triển nền kinh tế của huyện, việc phát triển kinh doanh rừng bền vững không những thúc đẩy kinh
tế của huyện phát triển còn có vai trò rất quan trọng trong phòng hộ bảo vệ đất không bị sói mòn, điều tiết nguồn nước cho các hồ đập công trình thủy lợi phục
vụ sản xuất, nước sinh hoạt của người dân, điều hòa khí hậu, bảo vệ môi trường,
phát triển du lịch sinh thái
Thực hiện Nghị định 02/CP của Chính phủ, toàn huyện đã hoàn thành việc giao đất giao rừng cho các tổ chức hộ gia đình và cá nhân, sản xuất lâm nghiệp mang lại hiệu quả kinh tế ngày càng cao, giá trị sản xuất của ngành lâm nghiệp không ngừng được tăng lên Tổng giá trị sản xuất năm 2000 đạt 18,46 tỷ đồng, chiếm 39,1% tổng GTSX nông - lâm nghiệp và thuỷ sản; năm 2005 đạt 35,93 tỷ đồng chiếm 47,7% và đến năm 2010 đạt 57,72 tỷ đồng chiếm 45,5%
Tỷ lệ che phủ rừng năm 2005 đạt 71,5%; đến năm 2010 tăng lên 79,2%
Trang 21Trang 19
a) Hiện trạng đất đai tài nguyên rừng (Theo quyết định số 346/QĐ-UBND
ngày 26/01/2011 của UBND tỉnh Thanh Hóa V/v công bố kết quả theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp năm 2010 tỉnh Thanh Hóa)
Tổng diện tích đất lâm nghiệp năm 2010 là 79.682,21 ha chiếm 85,66% diện tích tự nhiên Trong đó: đất có rừng 73.291,03ha, chiếm 91,98% diện tích đất lâm nghiệp (rừng tự nhiên 61.960,84 ha, rừng trồng 11.330,19 ha); đất chưa
có rừng 6.391,18 ha, chiếm 8,02% diện tích đất lâm nghiệp
Đất lâm nghiêp phân theo 3 loại rừng: Đất rừng phòng hộ 31.058,22 ha, chiếm 38,98% diện tích đất lâm nghiệp; rừng sản xuất 48.623,99 ha, chiếm 61,02% diện tích đất lâm nghiệp toàn huyện
Bảng 8: Diện tích đất lâm nghiệp huyện Quan Sơn năm 2010
TT Loại đất, loại rừng Diện tích (ha) Cơ cấu (%)
b) Công tác trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng
Trong những năm gần đây công tác tổ chức sản xuất lâm nghiệp đã có nhiều chuyển biến, từ lâm nghiệp truyền thống sang lâm nghiệp xã hội Việc quản lý bảo vệ rừng đã được chú trọng, Thực hiên chương trình dự án 661; 147
đã đạt được nhiều kết quả về kinh tế, xã hội đặc biệt là giải quyết được việc làm
và cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho các gia đình nhận khoán, chức năng phòng hộ của rừng đã được phát huy có hiệu quả Hàng năm diện tích rừng được tăng lên do trồng rừng, rừng phục hồi, khoanh nuôi tái sinh rừng, những diện
Trang 22Trang 20
tích đất lâm nghiệp đã giao khoán cho các cá nhân, tổ chức và hộ gia đình; đồng thời Thông qua sự hỗ trợ đầu tư của nhà nước, bằng hình thức khoán bảo vệ, khoanh nuôi, chăm sóc và trồng rừng mới Diện tích trồng rừng tập trung được phát triển khá mạnh, từ 2005 đến năm 2010 trồng được 5.064,4 ha Rừng trồng được chăm sóc tốt nên tỷ lệ thành rừng cao, rừng tự nhiên cũng được bảo vệ và quản lý tốt hơn
Cùng với việc trồng mới và khoanh nuôi tái sinh, công tác bảo vệ phòng chống cháy rừng cũng được các cấp các ngành trong huyện quan tâm chỉ đạo, tình hình sâu bệnh hại rừng, nạn phá rừng làm rẫy và khai thác gỗ trái phép đã được quản lý tốt hơn
c) Khai thác lâm sản
Thực hiện đúng Quyết định 40 về qui chế khai thác lâm sản và các văn bản hiện hành của Nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng, thời gian qua sản lượng khai thác lâm sản của huyện giảm dần; Trong đó: Khai thác gỗ, năm 2005
là 9.905 m3, giảm xuống 6.100 m3
vào năm 2009 và đến năm 2010 giảm còn 3.200 m3; khai thác củi, năm 2005 đạt 170.000 Ste, giảm xuống 150.000 Ste năm 2009 và đến năm 2010 là 90.000 Ste; khai thác luồng được tăng dần năm
2005 đạt 900 nghìn cây, tăng lên 1.500 nghìn cây năm 2010; khai thác nứa giấy năm 2005 là 80.000 tấn, đến năm 2010 tăng lên 91.000 tấn; khai thác nan thanh năm 2005 là 150 tấn năm 2010 đạt 220 tấn
Gía trị sản xuất ngành thủy sản năm 2000 đạt 0,63 tỷ đồng, đến năm 2005 tăng lên 1,2 tỷ đồng, năm 2010 đạt 1,39 tỷ đồng Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm cả thời kỳ 2000-2010 là 6,9% Tỷ trọng thủy sản trong nội bộ ngành nông lâm thủy sản chiếm 1,6% năm 2005 và giảm còn 1,1% vào năm 2010
2.2.1.4 Phát triển kinh tế trạng trại
Thực hiện Nghị quyết 03/2000/NQ-CP của Chính phủ và Nghị quyết 07/TU của Tỉnh uỷ về phát triển kinh tế trang trại; những năm gần đây, kinh tế trang trại trên địa bàn huyện đã bắt đầu phát triển Năm 2010 toàn huyện có 17 trang trại, gồm: 15 trang trại lâm nghiệp và 2 trang trại nông - lâm kết hợp; Tổng giá trị kinh tế trang trại năm 2010 đạt 702,2 triệu đồng, thu hút trên 100 lao động Kinh tế trang trại tuy chưa lớn nhưng đã làm thay đổi dần tập quán canh tác nhỏ lẻ của đồng bào miền núi
Trang 23Trang 21
2.2.2 Khu vực kinh tế công nghiệp
Công nghiệp và xây dựng trong những năm gần đây có tác động mạnh mẽ trong tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện GTSX năm 2000 đạt 10.111triệu đồng, tăng lên 18.490 triệu đồng vào năm 2005, đến năm 2010 đạt 40.657 triệu đồng, Tốc độ tăng trưởng GDP (giá SS) bình quân thời kỳ 2000 -
2005 đạt 10,6%/năm, thời kỳ 2006-2010 đạt 14,0%/năm
2.2.2.1 Công nghiệp
Trong những năm qua, mặc dù có những khó khăn do biến động giá cả và
sự cạnh tranh gay gắt trong cơ chế thị trường, nhưng sản xuất công nghiệp trên địa bàn vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng cao và ổn định Tổng GTSX (giá SS) năm
2000 đạt 1.704 triệu đồng, năm 2005 tăng lên 3.427 triệu đồng, năm 2006 đạt 6.017 triệu đồng, năm 2007 đạt 6.696 triệu đồng, năm 2008 đạt 6.832 triệu đồng năm 2009 đạt 6.132 triệu đồng, năm 2010 đạt 6.703 triệu đồng, năm 2011 đạt 7.603 triệu đồng Năm 2012 ước đạt 8.000 triệu đồng
a Ngành công nghiệp sản xuất VLXD
Sản xuất vật liêu xây dựng trong những năm gần đây phát triển với tốc độ khá Sản lượng khai thác đá năm 2005 là 24,2 nghìn m3 tăng 3,5 lần so với năm
2000, năm 2010 sản lượng khai thác 42 nghìn m3 tăng 1,7 lần so với năm 2005 Sản lượng khai thác cát sỏi năm 2005 là 9,2 nghìn m3 tăng 3 lần so với năm
2000, năm 2010 là 17 nghìn m3, tăng 1,8 lần so với năm 2005 Sản lượng sản xuất gạch ngói các loại năm 2005 là 550 nghìn viên tăng 1,2 lần so với năm
2000, năm 2010 đạt 1.450 nghìn viên tăng 2,6 lần so với năm 2005 Các cơ sở ngành sản xuất, khai thác VLXD chính như: Doanh nghiệp tư nhân Tiến Loan; Các hộ tư nhân chuyên sản xuất gạch ngói xây dựng, gia công đồ mộc xây dựng, hàng gia dụng, sửa chữa cơ khí, chế biến nông sản thực phẩm trên toàn địa bàn huyện
b Ngành thủ công mỹ nghệ
Nhìn chung ngành thủ công mỹ nghệ còn nhiều hạn chế, chưa phát triển được các ngành nghề mới, nghề truyền thống như dệt thổ cẩm khôi phục còn chậm, sản xuất tự tiêu là chính chưa trở thành hàng hoá Đây là một trong những khó khăn rất lớn ảnh hưởng đến việc phát triển ngành tiểu thủ công nghiệp của huyện, nguyên nhân do việc nhận thức về phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp trong nông thôn chưa đặt vấn đề đúng mức theo tinh thần Nghị quyết của Tỉnh uỷ Thanh Hóa
2.2.2.2 Xây dựng
Trong nhưng năm qua, ngành xây dựng tạo điều kiện cho các ngành kinh
tế khác phát triển, đồng thời góp phần đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá Thời gian qua ngành xây dựng Quan Sơn đã đạt được những thành tựu nhất định Năm 2000 giá trị gia tăng ngành xây dựng đạt 36.790 triệu đồng, năm
Trang 24Trang 22
2005 tăng lên 92.337 triệu đồng, tăng 2,5 lần so với năm 2000; năm 2010 đạt 220.000 triệu đồng; dự kiến đến năm 2012 tăng lên 225.000 triệu đồng Tốc độ tăng trưởng thời kỳ 2000-2005 đạt 20,%; thời kỳ 2006-2010 là 19%
Tổng vốn đầu tư xây dựng toàn xã hội thời kỳ 2000- 2010 đạt 760.283 triệu đồng, bình quân 76.028 triệu đồng/năm Với kết quả đó, ngành xây dựng
đã có vai trò quan trọng trong việc làm tăng đáng kể năng lực sản xuất của các ngành, lĩnh vực Nhiều cơ sở sản xuất mới được xây dựng và đi vào hoạt động,
hệ thống kết cấu hạ tầng được nâng cấp, các công trình văn hoá xã hội được đầu
tư mới và cải thiện đáng kể
2.2.3 Khu vực kinh tế dịch vụ
Khu vực kinh tế dịch vụ trên địa bàn huyện trong những năm gần đây đã
có nhiều thay đổi đáng kể, đáp ứng với nền kinh tế thị trường hiện nay, các mặt hàng chính sách phục vụ cho đồng bào dân tộc thiểu số đã được Chi nhánh thương nghiệp miền núi Quan Sơn cung ứng đầy đủ và kịp thời (Kể cả các mặt hàng trợ giá, trợ cước), nhằm đáp ứng các mặt hàng thiết yếu phục vụ cho sản xuất và đời sống nhân dân trong huyện
2.2.3.1 Hoạt động tài chính ngân hàng
a Tài chính
Việc thu thuế hàng năm đều vượt chỉ tiêu tỉnh giao Thu ngân sách trên địa bàn huyện năm 2006 là 49.469triệu đồng, trong đó thu tại huyện là 6.758triệu đồng, năm 2007 đạt 82.228 triệu đồng, tăng 1,66lần so với năm năm 2006, năm 2008 đạt 130.079 triệu đồng, tăng 1,58 lần so với năm năm
2007, năm 2009 đạt 147.510 triệu đồng, tăng 1,13 lần so với năm 2008, năm
2010 đạt 198.157 triệu đồng, tăng 1,34 lần so với năm 2009 Nhìn chung hoạt động tài chính có bước chuyển biến đáng kể trong quản lý
b Ngân hàng
Hệ thống ngân hàng ở huyện đã phục vụ nhân dân với tổng vốn dư nợ trung và dài hạn năm 2006 là 30.283 triệu đồng, năm 2007 là 61.253 triệu đồng tăng 2,02 lần so với năm 2006, năm 2008 là 92.746 triệu đồng tăng 1,51 lần so với năm 2007, năm 2009 là 130.598 triệu đồng tăng 1,41 lần so với năm 2008, năm 2010 đạt 160.016 triệu đồng tăng gấp 1,23 lần năm 2009
2.2.3.2 Hoạt động thương mại, dịch vụ
Thương mại, dịch vụ - du lịch phát triển đa dạng, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu dịch vụ sản xuất, kinh doanh và phục vụ đời sống nhân dân, nhất là khu trung tâm huyện lỵ và các nơi tập trung đông dân cư, mở các quầy hàng đến các xã vùng đáp ứng các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu
Giá trị xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ trên địa bàn đến năm 2010 đạt 0,95 triệu USD, ước đến năm 2012 đạt 1,2 triệu USD
Trang 25Trang 23
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2010 đạt
132 tỷ đồng tăng lên 146 tỷ đồng năm 2011 Đến năm 2012 tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 168 tỷ đồng, tổng mức bán lẻ tăng bình quân năm giai đoạn 2006 – 2010 đạt 11,5%
Toàn huyện có 589 cơ sở kinh doanh thương mại – khách sạn – nhà hàng với tổng số 1.118 lao động
Trên địa bàn huyện hiện có 2 cây xăng: 1 cây xăng Hải Hiền xây dựng ngay trung tâm TT Quan Sơn và 1 cây ở xã Sơn Điện
Chợ: Toàn huyện có 2 chợ (Chợ thị trấn và chợ Na Mèo) và hệ thống cửa hàng dịch vụ, mặt hàng đa dạng, số lượng nhiều, tư thương vẫn là chủ, còn nhà nước
và doanh nghiệp chưa phát huy được tiềm năng
2.2.3.3 Hoạt động du lịch
Tiềm năng cho du lịch huyện Quan Sơn là lớn nhưng chưa được coi trọng đầu tư phát triển Trong thời gian tới cần đầu tư cơ sở hạ tầng, tổ chức tốt lễ hội Mường Xia gắn với các điểm du lịch sinh thái danh thắng như: Động Bo Cúng tại bản Chanh, động Nang Non ở xã Sơn Lư, thác bản Nhài xã Sơn Điện vv là những danh lam thắng cảnh vùng sơn cước huyền bí; Đây là tiềm năng để phát triển du lịch sinh thái hang động rất hấp dẫn đối với du khách, nhất là các du khách quốc tế
2.2.3.4 Dịch vụ vận tải
Trong những năm vừa qua dịch vụ vận tải đã đáp ứng được nhu cầu vận chuyển hàng hoá và đi lại cho người dân trong huyện Khối lượng vận tải hàng hoá năm 2010 đạt 0,25 triệu tấn, hình thành các tuyến vận tải hành khách đi đến các huyện trong tỉnh và đi các tỉnh bạn trong cả nước, mở các tuyến vận tải hành khách đến các khu du lịch trong huyện và trong tỉnh
2.3 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập
2.3.1 Dân số
Trên địa bàn huyện Quan Sơn có 4 dân tộc anh em cùng chung sống, mỗi dân tộc có những nét văn hoá đặc trưng riêng Theo số liệu thống kê năm 2010, tổng dân số toàn huyên là 35.739 người/8.123hộ, (nữ chiếm 49,6% dân số), trung bình 4-5 nhân khẩu/hộ Đông nhất là dân tộc Thái với 30.635 người chiếm 85,72% dân số; dân tộc Mường 2.781 người chiếm 7,78%; dân tộc Kinh 1.322 người chiếm 3,70%; dân tộc H'Mông 1.001 người chiếm 2,80% dân số Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giai đoạn năm 2000-2005 là 1,35%, giai đoạn năm 2005-
2010 là 1,14%
Dân cư phân bố không đồng đều theo đơn vị hành chính, mật độ dân số trung bình thuộc loại thấp (38 người/km2); mật độ dân số cao nhất là thị trấn Quan Sơn 281 người/km2, thấp nhất là xã Sơn Hà 20 người/km2
và xã Sơn Thủy
24 người/km2
Trang 26
Mật độ dân số (người/ km2
Trang 27Trang 25
63,7% dân số), trong đó: lao động nông, lâm, thủy sản 14.816 người chếm 78,8%; Lao động tham gia trong công nghiệp - xây dựng 740 người chiếm 3,9%; Lao động dịch vụ thương mại 3.248 người chiếm 17,3%
Cơ cấu dân số tương đối trẻ, sức khoẻ tốt, đây là nguồn nhân lực chủ yếu
sẽ được huy động vào công cuộc phát triển kinh tế – xã hội của huyện trong
10-15 năm tới Trình độ học vấn của người dân cũng ngày càng được nâng cao Tỷ
lệ lao động có trình độ qua đào tạo chiếm tăng dần từ 11,2% năm 2006 đến năm
2010 đạt 14%, trong đó đào tạo nghề chiếm 6,5% Đến nay, mặc dù trình độ lực lượng lao động đã có nhiều biến chuyển, song một bộ phận trong dân cư còn giữ tập quán canh tác lạc hậu, trình độ sản xuất thấp, nên năng suất và hiệu quả lao động chưa cao
Quá trình phát triển kinh tế đã tác động đến chuyển dịch cơ cấu lao động và phân công lại lao động xã hội So với năm 2006, tỷ trọng lao động công nghiệp, xây dựng năm 2010 đã tăng từ 3% lên 3,9%; lao động khu vực dịch vụ có xu hướng tăng lên; tỉ trọng lao động nông, lâm nghiệp năm 2010 có xu hướng giảm nhưng chưa mạnh (từ 81,5% năm 2006 xuống còn 78,8% năm 2010)
Bảng 10: Tình hình lao động huyện Quan Sơn trong những năm gần đây
I Số LĐ trong độ tuổi lao động 17,608 18,246 18,316 18,336 18,804
1 Nông, lâm, thủy sản 81,5 80,0 80,0 80,2 78,8
II LĐ được giải quyết việc làm 0,7 0,7 0,7 0,8 0,8 Trong đó: Số việc làm mới 0,7 0,7 0,7 0,8 0,8 III Tỷ lệ lao động qua đào tạo% 11,2 13,0 13,2 13,5 14,0 Trong đó: Qua đào tạo nghề 5,0 5,5 6,0 6,0 6,5
Trang 28661; Chương trình 135; Các chính sách trợ giá, trợ cước, cấp không vật tư sản
xuất, các mặt hàng thiết yếu phục vụ đời sống sinh hoạt hàng ngày của đồng bào vùng sâu, vùng xa đã giúp huyện từng bước xóa bỏ tập tục canh tác lạc hậu, đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất để tăng năng suất cây trồng, vật nuôi; đồng thời nâng cao dân trí Công tác xoá đói, giảm nghèo trên địa bàn huyện thực hiện có kết quả; thời kỳ 2001-2005: số hộ nghèo năm 2000 là 51,0% (theo chuẩn cũ), năm 2005 giảm xuống còn 27,5%; mỗi năm huyện giảm được gần 5% hộ nghèo Thời kỳ 2006-2010 tỷ lệ hộ nghèo năm 2006 là: 63,9% (theo chuẩn mới), năm 2008, giảm còn: 47,74%, năm 2009: 40,08% và năm 2010 là: 51,91% (theo chuẩn mới)
2.4 Thực trạng phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn
Trong những năm gần đây, quá trình tổ chức lại không gian, xây dựng thị trấn đã bắt đầu đi vào nề nếp và đạt được những kết quả bước đầu Khu trung tâm huyện đã được chỉnh trang, nhiều dự án và công trình phúc lợi công cộng đưa vào hoạt động có hiệu quả, xây dựng nhà làm việc của các ban ngành, xây dựng được hệ thống đường giao thông, hệ thống cấp thoát nước Các khu nhà ở
đã được cải tạo, nâng dần chất lượng sống với bảo vệ môi trường Một số chỉ tiêu quy hoạch đã và đang được triển khai
2.4.1 Phát triển đô thị
Thị trấn Quan Sơn cách trung tâm thành phố Thanh Hoá khoảng 140 km
về phía Tây bắc là trung tâm văn hoá - chính trị của huyện Quan Sơn, ở đây tập trung toàn bộ các cơ quan quản lý nhà nước của huyện, trung tâm thương mại,
và một số cơ sở sản xuất của huyện, tổng diện tích tự nhiên 8.444m2
đã quy hoạch đô thị và đang từng bước phát triển Dân số năm 2010 là 2.370 người, mật
độ dân số 281người/km2 Trên địa bàn huyện, tốc độ đô thị hoá còn chậm; kiến
Trang 29Trang 27
trúc đô thị còn chắp vá và xây dựng theo sở thích của người sử dụng; Vấn đề môi trường đô thị cần được quan tâm xử lý các nguồn gây ô nhiễm nhất là chất thải rắn của bệnh viện, của nhân dân và nước thải sinh hoạt
2.4.2 Phát triển các khu dân cư nông thôn
Mạng lưới các khu dân cư nông thôn được phân bố rải rác và manh mún
Do được hình thành từ lâu đời nên mang đậm tính chất làng bản của nông thôn miền núi, kiến trúc nhà ở đại đa phần là nhà sàn, hướng nhà quay theo hướng tuỳ thích hoặc theo phong tục nên về mặt mỹ quan chưa đạt, phần lớn môi trường các khu dân cư chưa đạt Mặt khác hệ thống cơ sở hạ tầng trong các khu dân cư nông thôn phát triển chưa đồng bộ, chưa theo quy hoạch, hệ thống tiêu thoát nước chưa đảm bảo, hệ thống giao thông nông thôn chất lượng còn rất thấp, các công trình phúc lợi công cộng như nhà văn hoá, nhà trẻ, trường mầm non, sân chơi còn thiếu, tỷ lệ tăng dân số cao, nhu cầu san tách hộ và nhu cầu đất ở cũng như đất xây dựng cơ sở hạ tầng và các công trình phúc lợi công cộng ngày một tăng, lâu dài quỹ đất dành cho đất ở là hết sức khó khăn
- Tuyến Quốc lộ 217 đi qua địa bàn huyện dài 76 km, nối các huyện miền xuôi
và nước bạn Lào, đường hiện tại đạt chuẩn cấp V và một số đoạn đạt cấp VI, mặt đường nhựa, công trình thoát nước ngang trên tuyến đã được xây dựng hoàn chỉnh thuận lợi cho việc mở rộng giao lưu kinh tế với nước bạn Lào
- Tuyến đường Tây Thanh Hóa đi qua địa bàn huyện dài 36 km, nối liền huyện Lang Chánh với huyện Quan Hóa, đường đạt chuẩn cấp VI miền núi, mặt đường nhựa, công trình thoát nước ngang trên tuyến đã xây dựng hoàn chỉnh
- Đường huyện, đường liên xã: Có 6 tuyến với tổng chiều dài 50,0 km Các tuyến đường huyện, đường liên xã hiện tại còn là đường cấp thấp (Đường GTNT loại A hoặc B) Mới có 2 tuyến được xây dựng mặt đường nhựa, còn lại là đường đất
- Đường xã quản lý: Bao gồm hệ thống đường xã và đường thôn, bản
+ Đường xã: Tổng số 169,0km hiện tại còn là đường cấp thấp (đường GTNT loại B trở xuống), toàn bộ còn là đường đất
+ Đường thôn, bản: Tổng số có 57,0km và 26km đường từ thôn bản ra đồng ruộng Đường thôn bản và đường ra đồng ruộng là đường GTNT loại B hoặc đường mòn, toàn bộ là đường đất
+ Đường lâm nghiệp: Tổng số có 34,0 Km là đường GTNT loại B trở xuống, toàn bộ là đường đất
Trang 30Bề rộng nền (m)
Bề rộng mặt (m)
Kết cấu mặt đường
Cấp đường Điểm đầu Điểm cuối
1 Đường nối các huyện phía
tây Thanh Hoá Xã Sơn Thuỷ Xã Sơn Hà 36,0 6,0 3,5 Nhựa VI
1 Đường Trung Hạ - Trung
Xuân
Km124+00 (QL 217)
TT xã Trung Xuân 6,0 4,0 3,0 Đất (GTNT) B
Xã Tam Thanh 12,0 5,0 3,5 Nhựa A
(GTNT)
4 Đường Sơn Điện - Nam
Động (Quan Hoá)
Km167+00 (QL 217) Giáp Quan Hoá 10,0 3,0-4,0 3,0 Đất B
(GTNT)
5 Đường Sơn Hà - Tam Lư Sơn Hà Tam Lư 8,0 4,0 3,0 Đất B
(GTNT)
6 Đường Trung Tiến – Nam
Động (Quan Hoá) Quốc lộ 217
Giáp Quan Hoá 10,0 2,5-3,0 Đất vào cấp Chưa
1 Xã Trung Xuân 6,0
a Đường vào bản Phú Nam T.T xã Bản Phú Nam 3,0 4,0 3,0 Đất (GTNT) B
b Đường vào bản Cạn T.T xã Bản Cạn 3,0 2,0 2,0 Đất vào cấp Chưa
a Đường vào Bản Tỉnh T.T xã Bản Tình 5,0 3,0 2,5 Đất vào cấp Chưa
b Đường vào Bản Muống T.T xã Bản Muống 4,0 4,0 3,0 Đất B
(GTNT)
c Đường vào Bản Sại T.T xã Bản Sại 4,0 4,0 3,0 Đất B
(GTNT)
Trang 31Trang 29
TT Tên đường
Địa danh Chiều
dài (Km)
Bề rộng nền (m)
Bề rộng mặt (m)
Kết cấu mặt đường
Cấp đường Điểm đầu Điểm cuối
c Đường vào Bản Ngàm T.T xã Bản Ngàm 3,0 3,0 2,5 Đất vào cấp Chưa
d Đường vào Cò Hương T.T xã Cò Hương 3,0 3,0 2,5 Đất vào cấp Chưa
6 Xã Sơn Điện 20,0
a Đường vào Bản Na Hồ QL 217 Bản NaHồ 6,0 3,0 2,5 Đất vào cấp Chưa
b Đường vào Bản Sủa QL 217 Bản Sủa 3,0 3,0 3,0 Đất vào cấp Chưa
c Đường vào Bản XaMang QL 217 Bản Xa Mang 8,0 3,0 2,5 Đất vào cấp Chưa
d Đường vào Bản Ngàm QL 217 Bản Ngàm 3,0 3,0 2,5 Đất vào cấp Chưa
c Đường vào Bản Xía Nọi Bản Mùa Xuân Bản Xía Nọi 5,0 3,0 2,5 Đất vào cấp Chưa
d Đường vào Bản Thuỷ Thành T.T xã Bản Thuỷ
Chưa vào cấp
b Đường vào bản Đe Pọng QL 217 Bản ĐePọng 6,0 4,0 3,0 Đất B
Trang 32Trang 30
* Đánh giá chất lượng chung kết cấu hạ tầng đường bộ:
- Quy mô cấp đường: Hệ thống giao thông đường bộ tuyến Quốc lộ và mạng lưới đường liên xã đã được đầu tư nâng cấp, mở rộng, có bước phát triển tương đối đồng bộ, đáp ứng cơ bản cho phát triển kinh tế - xã hội của huyện Tuyến giao thông đường xã, đường thôn bản hiện nay còn là đường cấp thấp nên hạn chế năng lực vận tải trên tuyến, an toàn giao thông chưa được đảm bảo
- Về chất lượng:
+ Đường nhựa: 130,0 Km (chiếm 33,50%)
+ Đường đất: 258,0 Km (chiếm 66,50%)
b) Đường thủy:
Trên địa bàn huyện có hai tuyến đường thủy, gồm: Sông Luồng bắt nguồn
từ nước CHDCND Lào chảy qua các xã Na Mèo, Mường Mìn, Sơn Thủy chảy
ra Nam Động huyện Quan Hóa, chiều dài khoảng 60km Sông Lò bắt nguồn từ nước CHDCND Lào chảy qua các xã Tam Thanh, Tam lư, Sơn Lư, Trung Thượng, Trung Hạ, Trung Xuân và đổ về sông Mã, chiều dài khoảng 70km Mùa mưa có thể vận chuyển lân sản bằng bè mảng từ các điểm tập kết lâm sản trên sông Luồng và sông Lò vận chuyển ra sông Mã đi tiêu thụ
c) Bến xe:
Hiện nay trên địa bàn huyện bến xe ô tô khách phục vụ đi lại của nhân
dân chưa hoàn thiện Thực hiện Quyết định 1059/QĐ-UBND ngày 10/4/2009 của Chủ tịch UBND tỉnh về phê duyệt quy hoạch mạng lưới bến xe ô tô khách tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020, năm 2012 huyện xây dựng bến xe tại thị trấn Quan Sơn, năm 2013-2015 xây dựng tiếp bến xe cửa khẩu Na Mèo và bến xe tại Mường Mìn phục vụ tốt cho nhu cầu phát triển kinh tế và dân sinh
2.5.1.2 Hệ thống công trình thuỷ lợi
Trên địa bàn huyện có 133 công trình gồm (Đập dâng 84 cái; hồ 2 cái; bai, mó 45 cái; trạm bơm 2 trạm), chủ yếu là các hồ, đập nước quy mô nhỏ và phục vụ tưới cho cây lúa nước là chính, các cây trồng khác phần lớn là chờ nước mưa; Số công trình tưới tiêu chủ động có 40 đập, tổng năng lực thiết kế tưới là
681 ha, có 8 công trình được xây dựng bằng nguồn vốn thuộc Chương trình 135; chất lượng các công trình không đồng đều; một số công trình xây dựng từ đầu những năm 1980, đã hư hỏng, xuống cấp như: Hồ Trung hạ; Đập Pù Cú - Trung Xuân; đập Lầm; đập Lốc - Trung Thượng; đập Cha Khót - Na Mèo; đập Mìn - Mường Mìn Để đảm bảo nước tưới phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, thực hiện mục tiêu đảm bảo an ninh lương thực và phục vụ nước sinh hoạt cho nhân dân, cần được đầu tư nâng cấp, mới thêm 53 công trình để đáp ứng nhu cầu tưới tiêu
Hệ thống kênh có 127 km kênh các loại, phần lớn là kênh đất do sử dụng lâu ngày nên bị bồi lấp hoặc xói mòn, sạt lở, tỷ lệ cứng hóa kênh mương còn thấp chưa đáp ứng yêu cầu sản xuất Mương tiêu chủ yếu là tiêu ở dạng tiêu tự nhiên chảy vào các khe suối
2.5.1.3 Hệ thống điện
Thực hiện Chương trình điện khí hóa của Thanh Hoá được mở rộng Năm
2008 toàn huyện đã có 34 trạm biến áp, với tổng dung lượng đạt 2375KVA tăng
Trang 33Trang 31
1,5 lần so với năm 2005; 13/13 xã, thị trấn có điện lưới, cung cấp trên 80% số hộ trên địa bàn huyện được sử dụng điện lưới quốc gia Tuy nhiên các công trình điện được đầu tư chủ yếu từ năm 2004 hiện đang bị xuống cấp, một số bản ở cách xa trung tâm xã đang sử dụng nguồn thủy điện nhỏ, đến nay đã có 90% số thôn, bản có điện lưới quốc gia, tỷ lệ hộ dùng điện đạt 90-95%
2.5.2 Hạ tầng xã hội
2.5.2.1 Giáo dục-đào tạo
Song song với phát triển kinh tế, sự nghiệp giáo dục được các cấp uỷ Đảng, Chính quyền toàn huyện luôn chăm lo xây dựng và phát triển cả về cơ sở
hạ tầng và lực lượng giáo viên Cơ sở hạ tầng các cấp học được đầu tư mạnh (trong đó Chương trình 135 đã đóng góp lớn cho phát triển các trường phổ Thông trong huyện), mạng lưới trường lớp đã có đến thôn, bản; tạo điều kiện cho việc huy động các em trong độ tuổi đến lớp Đến 2009, số phòng học các cấp được xây dựng kiên cố đạt 72% và năm 2010 đạt 80%, có 10 trường đạt Chuẩn quốc gia (02 trường mẫu giáo; 06 trường tiểu học và 02 trường THCS); đạt tỷ lệ 25% số trường trên địa bàn huyện
Các chính sách hỗ trợ giáo dục của Nhà nước đối với đồng bào dân tộc miền núi như hỗ trợ vở viết, sách giáo khoa được duy trì đều đặn, tạo điều kiện cho con em đến trường, giảm bớt khó khăn cho các hộ nghèo trong việc học Tỷ
lệ các em học sinh trong độ tuổi đến trường ngày một tăng Đến hết năm 2010, kết quả đạt được như sau:
- Mẫu giáo: Có 12 trường với 131 lớp học; 159 giáo viên; huy động được 2.018
em đến lớp, đạt 97% số cháu trong độ tuổi Riêng số các cháu dưới 5 tuổi, huy động đến lớp đạt 100%
- Tiểu học: 14 trường; 262 lớp; 260 phòng học, trong đó có 63 phòng kiên cố, đạt gần 25%; 51 phòng cấp 4; 115 phòng tạm; 268 giáo viên; thực hiện huy động 2.711 học sinh đến lớp; đạt trên 99% số em trong độ tuổi
- Trung học cơ sở: 12 trường; 90 lớp học; 96 phòng học; có 54 phòng kiên cố;
42 phòng cấp 4; 188 giáo viên; huy động được 2.281 học sinh, đạt 89% số em trong độ tuổi đến lớp, tăng 22% so năm 2000
- Trung học phổ Thông: Có 02 trường; 23 lớp; 17 phòng học; có 15 phòng kiên cố; 2 phòng tạm; 65 giáo viên; huy động được 1.350 học sinh đến lớp, đạt 85%
số em trong độ tuổi, tăng 55% so năm 2000
- Trường nội trú: Trường nội trú được xây dựng kiên cố với 12 phòng học; có 20 thầy, cô giáo Hàng năm thu hút 240 học sinh con em các dân tộc trong huyện
Chất lượng giáo dục ngày càng được nâng lên; số học sinh giỏi cấp huyện, cấp tỉnh không ngừng tăng Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp các cấp học ngày càng cao; toàn huyện đã hoàn thành phổ cập tiểu học đúng độ tuổi; 100% số xã, thị trấn đạt phổ cập THCS Chất lượng đội ngũ giáo viên từng bước được hoàn thiện; năm 2010, 100% số giáo viên tiểu học, THCS đạt chuẩn
Trang 34Trang 32
y tế xã Toàn huyện có 120 giường bệnh, gồm: 44 giường bệnh viện; 6 giường phòng khám khu vực; 70 giường trạm xá Thiết bị khám, chữa bệnh được đầu tư mới, trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ y tế không ngừng được nâng lên; toàn huyện có 76 y, bác sỹ; trong đó có 18 bác sỹ, đạt bình quân gần 5 bác sỹ/vạn dân; 5/12 trạm y tế xã có bác sỹ phụ trách (đạt tỷ lệ: 45,0% số trạm); số giường bệnh bình quân đạt 14,3 giường/1vạn dân (chỉ tính số giường bệnh viện),
có 06 xã, thị trấn đạt 10 chuẩn quốc gia về y tế (đạt 46,0% số xã) Chất lượng khám, chữa bệnh đã được nâng lên
Công tác y tế dự phòng, vệ sinh an toàn thực phẩm và chương trình tiêm chủng mở rộng thực hiện tốt, không có bệnh dịch lớn xảy ra; hiện tượng tử vong
do các bệnh dịch ngày càng giảm; công tác chăm sóc sức khoẻ bà mẹ, trẻ em, người nghèo và các đối tượng chính sách được quan tâm Chính sách hỗ trợ thuốc chữa bệnh không thu tiền đối với các xã đặc biệt khó khăn và các xã thuộc chương trình 135 được thực hiện triệt để, hàng năm thực hiện đạt 100% kế hoạch Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng năm 2010 còn 30%, giảm 11,6%
so năm 2000
2.5.2.3 Văn hóa- thể thao
- Văn hoá: Cùng với việc nâng cao mức sống về vật chất, đời sống tinh thần của
đồng bào được các cấp uỷ Đảng, Chính quyền tập trung chỉ đạo; trọng tâm là xây dựng gia đình văn hoá, làng, bản văn hoá, cơ quan văn hoá Thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang Phát huy bản sắc văn hoá truyền thống, phù hợp với thuần phong, mỹ tục của đồng bào các dân tộc; đẩy lùi các
hủ tục lạc hậu, tệ nạn xã hội Trong 5 năm (2001-2005), toàn huyện đã khai trương, xây dựng được 32 bản làng, cơ quan, đơn vị văn hoá; trong đó có 16 bản, làng, đơn vị được công nhận, có 5 đơn vị văn hoá cấp tỉnh; số gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hoá đạt là: 4.130 gia đình; đạt 62% tổng số hộ trong huyện Đến năm 2009, toàn huyện có 64 làng, bản văn hoá và đến năm 2010 có
70 số làng bản văn hoá tăng gấp hơn 2 lần năm 2005; số gia đình văn hoá chiếm trên 70% số hộ dân trong huyện
Công tác quản lý Nhà nước về các hoạt động văn hoá, dịch vụ văn hoá luôn được đảm bảo theo quy định; huyện luôn tích cực phát động phong trào
“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”;
Các cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ hoạt động văn hoá, Thông tin tuyên truyền được quan tâm đầu tư; đến 2005, huyện có 4 trạm phát lại sóng truyền hình; thời lượng, chất lượng sóng phát ngày càng được nâng lên Năm 2010, toàn huyện có 13/13 xã và thị trấn được phủ sóng truyền hình và sóng phát thanh, 7/13 xã có trạm truyền thanh; 90% số hộ dân được xem truyền hình; 95%
số hộ được nghe đài phát thanh;
Hàng năm, huyện được cấp không thu tiền một số loại báo và tạp chí; thực hiện cấp 14 loại báo chuyên đề dân tộc thiểu số và miền núi; nhìn chung, các báo và tạp chí cấp đầy đủ theo kế hoạch, phục vụ kịp thời và thiết thực đời sống tinh thần đồng bào dân tộc
- Thể dục - thể thao: Phong trào luyện tập thể thao, nhất là thể thao quần chúng
được khơi dậy; một số môn thể thao truyền thống mang bản sắc dân tộc được
Trang 35Trang 33
phục hồi và phát triển, như: ném còn, bắn nỏ, đẩy gậy, kéo co, được phát triển
và duy trì thường xuyên ở cơ sở Số người thường xuyên tham gia luyện tập thể thao ngày càng tăng; năm 2010, toàn huyện có 8,6% số hộ gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình thể thao, 9.600 người thường xuyên tham gia luyện tập thể thao đạt gần 24,3% dân số trong huyện, tăng gấp 2 lần so năm 2005
2.5.2.4 Quốc phòng, an ninh
Là huyện tiếp giáp với nước bạn Lào nên công tác quốc phòng, an ninh được thường xuyên quan tâm lãnh chỉ đạo, mở nhiều lớp tập huấn, huấn luyện quân sự cho cán bộ chủ chốt ở các xã, thị trấn và các ban ngành của huyện về công tác quốc phòng an ninh, xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc, kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với cũng cố quốc phòng Hàng năm tổ chức các cuộc diễn tập quân sự, khu vực phòng thủ đạt kết quả tốt, các lực lượng quân sự, công
an và bộ đội biên phòng luôn duy trì chế độ trực chỉ huy, trực sẵn sàng chiến đấu, sẵn sang tham gia các hoạt động phòng chống thiên tai, cứu trợ, cứu nạn, đồng thời phối hợp với cấp ủy, chính quyền cơ sở các xã tăng cường công tác giáo dục quốc phòng, an ninh biên giới
Tăng cường thực hiện các biện pháp đấu tranh phòng chống các loại tội phạm và tệ nạn xã hội trên địa bàn huyện, nhất là tội phạm ma túy, trộm cắp; Làm tốt công tác quản lý nhân khẩu, hộ khẩu (đặc biệt là các xã vùng biên) Đẩy mạnh phong trào toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc, phong trào xây dựng khu dân
cư an toàn làm chủ, công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật, tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo được quan tâm, những vụ việc phức tạp được tập trung chỉ đạo giải quyết không để phát sinh thành điểm nóng, vì vậy tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội luôn được ổn định
III ĐÁNH GIÁ ĐIỀU KIỆN TƯ NHIÊN, KT-XH VÀ MÔI TRƯỜNG
3.1 Về thuận lợi
- Nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú về đất, nguồn nước, rừng là những thuận lợi về các yếu tố tự nhiên, ẩn chứa nhiều tiềm năng cho phát triển một nền kinh tế đa dạng với cơ cấu kinh tế Lâm nông - công nghiệp - dịch vụ hợp lý + Nguồn thuỷ năng và địa hình thuận lợi cho việc phát triển công nghiệp thuỷ điện quy mô vừa và nhỏ phục vụ cấp điện tại chỗ đáp ứng yêu cầu cho phát triển sản xuất và sinh hoạt của nhân dân;
+ Tài nguyên rừng khá lớn, thuận lợi phát triển các vùng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến lâm sản của tỉnh, là điều kiện thuận lợi để huyện phối hợp với các cơ sở công nghiệp, các khu công nghiêp, trung tâm phát triển kinh tế của tỉnh;
+ Về đất đai, Quan Sơn có lợi thế cho phát triển đa dạng các loại hình kinh tế: kinh tế hộ gia đình, kinh tế trang trại; phát triển các vùng cây chuyên canh cây nguyên liệu công nghiệp, cây dược liệu, trồng rừng sản xuất; phát triển chăn nuôi đại gia súc, gia cầm theo hướng sản xuất hàng hoá cung cấp cho thị trường trong và ngoài tỉnh, thực hiện chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp
- Quan Sơn là một trong 62 huyện nghèo của cả nước được Đảng và Nhà nước quan tâm đầu tư bằng nhiều chương trình, dự án cho hầu kết các lĩnh vực kinh tế
Trang 36Trang 34
- xã hội Đặc biệt là chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đến năm 2020 theo Nghị quyết 30a/NQ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2008 của Thủ thướng Chính phủ, các công trình hạ tầng cơ sở quan trọng như: Mạng lưới giao thông, hệ thống thủy lợi, điện lưới quốc gia đã được đầu tư trong những năm qua là điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội
- Quan Sơn có vị trí chiến lược quan trọng cho phát triển kinh tế và củng cố quốc phòng - an ninh của tỉnh, có cửa khẩu quốc tế Na Mèo cho phát triển giao thương với nước bạn Lào
+ Có nghề truyền thống mang bản sắc dân tộc cho phát triển tiểu thủ công nghiệp chế biến lâm sản, làm hàng mây tre, hàng thổ cẩm và các hàng thủ công
mỹ nghệ phục vụ tiêu dùng, xuất khẩu; cho phát triển công nghiệp vừa và nhỏ gắn vùng nguyên liệu, phát triển các cụm công nghiệp làng nghề;
+ Quan Sơn có các di thắng vùng sơn cước huyền bí với những thiết chế văn hóa, những phong tục tập quán trong sản xuất, sinh hoạt, hội hè mang đậm nét văn hoá các dân tộc, là những tài nguyên cho phát triển các sản phẩm du lịch nhân văn rất hấp dẫn đối với du khách trong nước và khách quốc tế
- Cơ sở hạ tầng thiết yếu như trường học, trạm xá, điện sinh hoạt, bưu chính viễn thông, hệ thống đường giao thông huyện, giao thông liên thôn, bản được đầu tư nâng cấp với tốc độ nhanh, cải thiện một bước trong sinh hoạt và đời sống của nhân dân
3.2 Về khó khăn
- Là huyện vùng cao biên giới, dân cư thưa thớt, trình độ dân trí thấp,… Tình hình an ninh tuyến biên giới vẫn còn diễn biến phức tạp, dân di cư tự do của đồng bào H'Mông và truyền đạo trái phép vẫn còn diễn ra, nạn phá rừng làm nương rẫy chưa được ngăn chăn triệt để, gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và môi trường sinh thái
- Địa hình vùng núi cao bị chia cắt mạnh bởi hệ thống sông suối nên việc thực hiện đầu tư các công trình hạ tầng rất khó khăn, suất đầu tư lớn, hiệu quả đầu tư thấp Khí hậu khắc nghiệt và có nhiều diễn biến phức tạp, ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất và đời sống nhân dân
- Điểm xuất phát kinh tế của huyện còn thấp so với bình quân chung của toàn tỉnh, tốc độ phát triển kinh tế khá nhưng chưa đủ để tạo ra sự bứt phá Cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển sản xuất chưa đáp ứng yêu cầu, lâm nông nghiệp vẫn là ngành có tỷ trọng cao trong cơ cấu kinh tế; CN-TTCN thương mại dịch vụ chưa phát triển Chất lượng nguồn nhân lực chưa cao, lực lượng lao động qua đào tạo chiếm tỷ lệ thấp, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện của các cấp, các ngành từ huyện tới cơ sở và một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội trong tình hình mới
- Kinh tế tăng trưởng khá nhưng nền sản xuất vẫn còn manh mún, nhỏ bé, mang tính tự cấp, tự túc, chưa thật sự chuyển mạnh sang sản xuất hàng hoá, việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, mùa vụ chưa đồng bộ, một số xã còn phó mặc cho nông dân Tập quán canh tác lạc hậu vẫn còn tồn tại kéo dài ở một số nơi, mức độ đầu tư cho thâm canh nhìn chung còn thấp, chất lượng và hiệu quả kinh tế chưa cao;
Trang 37Trang 35
- Chất lượng các công trình hạ tầng kỹ thuật về giao thông, thủy lợi còn nhiều yếu kém Đặc biệt là thủy lợi, nhiều công trình chưa được đầu tư nâng cấp hoặc đầu tư nâng cấp không đồng bộ Các công trình hạ tầng xã hội nhìn chung còn thiếu, chưa đáp ứng được nhu cầu phục vụ đời sống nhân dân
- Bình quân thu nhập đầu người còn rất thấp, tỷ lệ đói nghèo còn cao
- Các lĩnh vực giáo dục, văn hóa - xã hội tuy đã phát triển sâu rộng nhưng vẫn còn ở mức thấp so với yêu cầu và so với cả tỉnh hiện nay Chất lượng dạy và học
ở một số xã xa trung tâm huyện chưa đáp ứng được với yêu cầu Cơ sở vật chất, các điều kiện phục vụ dạy và học còn nhiều thốn thiếu, việc xây dựng làng văn hoá, xã văn hoá, cơ quan văn hoá, gia đình văn hóa ở một số nơi triển khai nhanh nhưng chất lượng chưa cao Những hủ tục trong ma chay, cưới xin vẫn còn xảy ra ở một số nơi Kết quả xoá đói, giảm nghèo chưa thực sự bền vững, xu hướng tái nghèo có nguy cơ diễn ra ở một số nơi
3.3 Đánh giá nguyên nhân tồn tại:
+ Cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng yêu cầu của sự phát triển
Trang 38Trên cơ sở các văn bản của tỉnh, của Sở Tài nguyên và Môi trường UBND huyện đã chỉ đạo phòng Tài nguyên và môi trường, các ngành chức năng
có liên quan; tổ chức tuyên truyền, học tâp, quán triệt mọi người, mọi tổ chức thực hiện nghiêm túc Luật đất đai năm 2003 Trên cơ sở quản lý đất đai theo Luật UBND huyện đã triển khai một số nội dung cụ thể như sau:
1.1 Công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Nhận thức rõ tầm quan trộng của công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, huyện đã tiến hành lập quy hoạch làm cơ sở để quản lý và sử dụng đất như giao đất, thu hồi đất vv… đạt hiệu quả Phòng Tài nguyên và Môi trường tham mưu cho UBND huyện lập quy hoạch sử dụng đất thời kỳ 2003 – 2010 được UBND tỉnh phê duyệt; Kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2003-2008 được khai thác có hiệu quả quỹ đất hiện có Do một số Chương trình, dự án trong quá trình phát triển KT-XH quy hoạch sử dụng đất chưa đề cập, một số chỉ tiêu sử dụng đất bị phá vỡ; UBND huyện Quan Sơn đã tiến hành lập Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và định hướng sử dụng đất đến năm 2020, nhưng Quy hoạch sử dụng đất được lập trước Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội huyện Quan Sơn thời kỳ 2010-2020 nên các quan điểm định hướng không phù hợp với Quy hoạch phát triển KT-XH đã được phê duyệt Thực hiện Quyết định 3778/QĐ-UBND ngày 22/10/2009 của UBND tỉnh Thanh Hóa UBND huyện Quan Sơn tiến hành lập Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011-2015)
1.2 Công tác lập hố sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
* Lập và quản lý hồ sơ địa chính: Về xác định địa giới hành chính được xác định theo Chỉ thị 364/CT của Thủ tướng Chính phủ Bản đồ hành chính các
xã, thị trấn đều đã được thiết lập, đến nay 13/13 đơn vị hành chính trên địa bàn huyên đã hoàn thành công tác đo đạc lập hồ sơ địa chính, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý và sử dụng đất đai
* Tình hình cấp giấy CNQSD đất ở, đất nông, lâm nghiệp, cho hộ gia đình
cá nhân đang sử dụng đến tháng 3/2012 như sau:
- Năm 2011:
Trang 39Trang 37
+ Đất ở: Số giấy CNQSD đất ở đã cấp được 6.529 giấy, đạt tỷ lệ 91,12% + Đất nông nghiệp: Số giấy CNQSD đất sản xuất nông nghiệp đã cấp được 5.764 giấy, đạt tỷ lệ 92,67%
+ Đất lâm nghiệp: Số giấy CNQSD đất sản xuất lâm nghiệp đã cấp được 5.020 giấy, đạt tỷ lệ 78,60%
- Tính đến tháng 3 năm 2012:
+ Đất ở: Số giấy CNQSD đất ở đã cấp được 7.171 giấy, đạt tỷ lệ 89,82% + Đất nông nghiệp: Số giấy CNQSD đất sản xuất nông nghiệp đã cấp được 5.764 giấy, đạt tỷ lệ 92,67%
+ Đất lâm nghiệp: Số giấy CNQSD đất sản xuất lâm nghiệp đã cấp được 5.006 giấy, đạt tỷ lệ 78,39%
* Những tồn tại trong quá trình tổ chức triển khai cấp giấy CNQSD đất:
- Là huyện miền núi, địa hình phức tạp, không cùng chân đất, diện tích phân bố không tập trung, nhiều hộ gia đình có từ 3 đến 5 thửa đất sản xuất lâm nghiệp trở lên Do vậy việc cấp đổi GCNQSD đất đến từng thửa gặp rất nhiều khó khăn cho địa phương cũng như hộ gia đình trong quá trình quản lý sử dụng đất, hơn nữa kinh phí cấp GCNQSD đất khá lớn do cấp nhiều giấy chứng nhận
- Diện tích đất lâm nghiệp hiện nay chủ yếu dựa trên cơ sở khoanh vẽ vào bản
đồ tỷ lệ 1/10.000 là chính Do vậy số liệu diện tích trong giấy chứng nhận được cấp so với bản đồ và thực tế sử dụng đất có sai lệch nhiều Chính điều này đã gây ra khó khăn trong công tác quản lý đất đai, đặc biệt là vấn đề giải quyết khiếu nại, tranh chấp đất đai
1.3 Công tác quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất
Thực hiện tốt công tác giao đất nông nghiệp theo Nghị định 64/CP ngày 24/7/1993 của chính phủ về giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp; Nghị định 85/1999/NĐ-CP ngày 17/12/1999 của Chính phủ quy định việc thi hành pháp lệnh về Quyền và nghĩa vụ của các tổ chức trong nước được nhà nước giao đất, cho thuê đất; Nghị định 163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 của Chính phủ quy định về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp luôn được quan tâm
Công tác giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất đối với hộ gia đình, các tổ chức được thục hiện đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, đúng trình tự thủ tục của Luật đất đai và Nghị định 181/2004/NĐ-CP
1.4 Công tác Thanh tra, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai
Nhận thức được vấn đề phức tạp của đất đai, UBND huyện chỉ đạo phòng Tài nguyên và Môi trường quản lý chặt trẽ diện tích đất của các cơ quan, tổ chức
và hộ gia đình cá nhân quản lý, không để sảy ra tình trạng tranh chấp giữa cơ quan, tổ chức và các hộ GĐ với nhau Tuy nhiên trên địa bàn huyện còn một số điểm sai lệch ranh giới đã và đang giải quyết như:
Trang 40Trang 38
Tranh chấp đất đai giữa xã Trung Hạ huyện Quan Sơn với xã Lâm Phú huyện Lang Chánh; giữa xã Sơn Hà huyện Quan Sơn với xã Yên Khương huyện Lang Chánh; giữa xã Sơn Thủy huyện Quan Sơn với xã Hiền Kiệt huyện Quan Hóa Đề nghị UBND tỉnh Thanh Hoá, Sở Tài nguyên và Môi trường sớm giải quyết để ổn định dân cư phát triển sản xuất nâng cao đời sống cho nhân dân các vùng có tranh chấp
Công tác thanh tra, kiểm tra đã phát hiện nhiều vi phạm, chủ yếu là lấm chiếm đất hành lang an toàn giao thông dọc đường quốc lộ 217 để xây dựng lều quán, ki ốt, nhà tạm vv… được phòng ban chuyên môn thống kê tổng hợp để giải quyết
Công tác giải quyết đơn thư kiếu nại, tố cáo về lĩnh vực đất đai được Huyện Ủy, HĐND; UBND huyện quan tâm, chỉ đạo các ngành, UBND các xã, thị trấn giải quyết ngay từ cơ sở
1.5 Công tác thống kê, kiểm kê đất đai
Hàng năm UBND huyện chỉ đạo Phòng Tài nguyên và Môi trường, UBND các xã, thị trấn thực hiện tốt công tác thống kê, kiểm kê đất đai theo Luật Đất đai quy định Tuy nhiên, do trình độ ngũ cán bộ địa chính ở một số xã còn nhiều hạn chế nên công tác thống kê, kiểm kê và đánh giá biến động đất đai hàng năm chưa được cập nhật đầy đủ, kịp thời giữa số liệu thống kê và thể hiện trên bản đồ địa chính
1.6 Tình hình sử dụng, quản lý đất chuyên trồng lúa nước:
Huyện Quan Sơn là huyện có tổng diện tích tự nhiên theo địa giới hành chính thuộc loại lớn của tỉnh Thanh Hóa Tuy nhiên lại là huyện miền núi, địa hình cao dốc chia cắt mạnh, vì vậy số diện tích đất lúa chiểm tỷ lệ nhỏ so với tổng diện tích tự nhiên của huyện cũng như so với các huyện khác
Toàn huyện có tổng diện tích đất lúa là 1.195,10 ha, chiếm 1,28% diện tích tự nhiên (trong đó: đất 2 vụ lúa có trên 700 ha) Diện tích đất lúa phân bố không đều, nằm xen kẻ đất lâm nghiệp, phần lớn diện tích lúa nước tập trung ở các xã: Trung Hạ, Sơn Thủy, Na Mèo, Mường Mìn, Tam Thanh, Sơn Điện, Tam Lư, Trung Tiến
So với kỳ kiểm kê 2005, diện tích đất lúa của huyện giảm 642,19ha Việc giảm nhiều diện tích như vậy là do nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chính là do thiếu nước chuyển sang đất trồng cây lâu năm, chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp và do sai số đo đạc của bản đồ 299/TTg đo đạc năm 1984
1.7 Tình hình quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp
Tài nguyên đất lâm nghiệp của huyện Quan Sơn chiếm tỷ lệ lớn trong cơ cấu diện tích các loại đất Diện tích đất lâm nghiệp tính đến thời điểm 01/01/2010 có: