1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

0035 giải pháp hoàn thiện hoạt động xếp hạng tín dụng tại NHTM CP công thương việt nam chi nhánh quang minh luận văn thạc sĩ kinh tế

114 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 288,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, việc thực hiệnquản trị rủi ro tín dụng nhằm đảm bảo an toàn và nâng cao chất lượng tíndụng là một yêu cầu khách quan, là điều kiện để NHTM tồn tại và phát triển.Hiệu quả sản xuất

Trang 1

HA NỘI - 2010

Trang 2

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liêu đã nêu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, kết quả của luận văn là trung thực và ch a đ ợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

Tác giả luận văn

Phùng Thị Nhung

Trang 3

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

CHƯƠNG I: TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ HOẠT ĐỘNG XẾP HẠNG TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4

1.1 Tín dụng và an toàn trong hoạt động tín dụng tại các ngân hàng thương mại 4

1.1.1 Hoạt động tín dụng tại các ngân hàng thương mại 4

1.1.2 An toàn trong hoạt động tín dụng tại các ngân hàng thương mại 6 1.2 Xếp hạng tín dụng tại hệ thống các ngân hàng thương mại 10

1.2.1 Khái niệm xếp hạng tín dụng 10

1.2.2 Chủ thể và đối tượng trong xếp hạng tín dụng 15

1.2.3 Sự cần thiết của công tác đánh giá xếp hạng tín dụng 16

1.2.4 Vai trò của xếp hạng tín dụng doanh nghiệp 18

1.2.5 Các phương pháp thường sử dụng của hoạt động xếp hạng tín dụng tại các ngân hàng thương mại 19

hàng thương mại 21

1.3 Kinh nghiệm và bài học rút ra từ hoạt động xếp hạng tín dụng .25 1.3.1 Kinh nghiệm của các tổ chức xếp hạng tín dụng trong nước và quốc tế 25

1.3.2 Bài học kinh nghiệm rút ra cho các ngân hàng thương mại Việt Nam 27

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XHTD TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM - CHI NHÁNH QUANG MINH 30

Trang 4

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 30

2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của Chi nhánh Quang Minh 31

2.1.3 Tình hình kết quả hoạt động kinh doanh 32

2.2 Thực trạng hoạt động XHTD tại Chi nhánh Quang Minh 36

2.2.1 Cơ sở pháp lý của hoạt động XHTD tại Chi nhánh Quang Minh 36 2.2.3 Ví dụ minh họa về hoạt động XHTD tại Chi nhánh Quang Minh 54 2.3 Đánh giá chung về hoạt động xếp hạng tín dụng tại Chi nhánh 2.3.1 Những mặt tích cực 70

2.3.2 Những vấn đề còn tồn tại và nguyên nhân 74

CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG XẾP HẠNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM - CHI NHÁNH QUANG MINH 82

3.1 Định hướng hoạt động tín dụng và công tác xếp hạng tín dụng các doanh nghiệp vay vốn tại Chi nhánh Quang Minh 82

3.1.1 Phương hướng hoạt động của Chi nhánh Quang Minh 82

3.1.2 Định hướng hoàn thiện hoạt động xếp hạng tín dụng tại Chi nhánh Quang Minh 85

3.2.1 Hoàn thiện hệ thống thu thập thông tin cho hoạt động xếp hạng tín dụng doanh nghiệp vay vốn 86

3.2.2 Hoàn thiện công tác tổ chức phân tích tín dụng và xếp hạng tín dụng doanh nghiệp vay vốn 88 3.2.3 Cải tiến về nội dung, qui trình xếp hạng tín dụng doanh nghiệp vay

Trang 5

3.3.2 Kiến nghị với NHNN 101

3.3.3 Kiến nghị với NHTM CPCT Việt Nam 102

KẾT LUẬN 104

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 106

Trang 6

NHTM CPCT VN Ngân hàng thương mại cô phân Công

thương Việt Nam

DANH MỤC CHỮ VIET TẮT

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1 Tình hình huy động vốn của Chi nhánh Quang Minh từ

2006-2009 33

Bảng 2 Tình hình sử dụng vốn của Chi nhánh Quang Minh từ 2006 -2009 34

Bảng 3 Kết quả kinh doanh của Chi nhánh Quang Minh 35

Bảng 4 Bảng hướng dẫn phân loại doanh nghiệp 41

Bảng 5 Bảng chấm điểm quy mô doanh nghiệp 43

Bảng 6 Các chỉ số tài chính sử dụng trong bảngtiêu chuẩn 45

Bảng 7 Phân loại doanh nghiệp theo mức độ rủiro 48

Bảng 8 Chấm điểm quy mô Công ty Việt Hoa 55

Bảng 9 Chấm điểm các chỉ số tài chính 57

Bảng 10 Chấm điểm dòng tiền của Công ty cồ phần giấy Việt Hoa 59

Bảng 11 Chấm điểm theo tiêu chí năng lực và kinh nghiệm 60

Bảng 12 Quan hệ tín dụng 62

Bảng 13 Quan hệ phi tín dụng 64

Bảng 14 Kết quả chấm điểm môi trường bên ngoài của Công ty Việt Hoa .65

Bảng 15 Chấm điểm theo tiêu chí các đặc điểm hoạt động khác 67

Bảng 16 Tổng hợp điểm phi tài chính Bảng 17 Tổng hợp điểm 69

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong nền kinh tế thị trường, ngân hàng thương mại có vai trò quan trọngtrong việc tập trung các nguồn vốn, đầu tư vốn và cung cấp các dịch vụ tiệních cho sự phát triển nền kinh tế xã hội và đời sống con người Trong nhữnghoạt động đó, tín dụng là nghiệp vụ cơ bản và quan trọng nhất vì nó vừa làđòn bẩy thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vừa manglại thu nhập chủ yếu cho ngân hàng Song đây cũng là nghiệp vụ tiềm ẩnnhiều rủi ro, có thể gây tổn thất lớn cho ngân hàng Vì vậy, việc thực hiệnquản trị rủi ro tín dụng nhằm đảm bảo an toàn và nâng cao chất lượng tíndụng là một yêu cầu khách quan, là điều kiện để NHTM tồn tại và phát triển.Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp gắn liền với hiệu quả hoạtđộng của NHTM, cho nên hạn chế RRTD mà vẫn mở rộng tín dụng đối vớidoanh nghiệp là vấn đề luôn nhận được sự quan tâm của các ngân hàng

Ở Việt Nam trong những năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh

tế cũng như xu hướng mở cửa thị trường, hội nhập với thế giới, các NHTMkhông chỉ cạnh tranh với nhau mà còn phải đối mặt với yêu cầu đặt ra là phảikhông ngừng nâng cao uy tín, thương hiệu của mình Điều đó, đã thúc đẩy các

NHTM phải luôn không ngừng học hỏi, vận dụng và khai thác các kinh nghiệm

về quản lý Một giải pháp quan trọng trong công tác quản trị rủi ro đã và đang

được các NHTM xây dựng và khai thác là hoạt động xếp hạng tín dụng.Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam, Chi nhánh QuangMinh (gọi là Chi nhánh Quang Minh) được thành lập năm 2004, là Chi

nhánh cấp 1 trực thuộc NHCT VN Hoạt động XHTD tại Chi nhánh Quang

Trang 9

tín dụng tại Chi nhánh Quang Minh ” được lựa chọn để nghiên cứu, với

mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé trong hoạt động đánh giá khách hàng

và hoạt động quản trị tại Chi nhánh Quang Minh

- Đề xuất giải pháp và đưa ra các kiến nghị đối với các chủ thể liên quannhằm hoàn thiện hơn nữa công tác này tại Chi nhánh Quang Minh trongthời gian tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Chi nhánh Quang Minh đóng trên địa bàn Khu công nghiệp Quang Minh, nơitập trung chủ yếu là các Khách hàng DN, các khách hàng cá nhân chiếm tỷtrọng nhỏ, vì vậy luận văn chỉ tập trung phân tích xếp hạng tín dụng khách hàng

Doanh nghiệp, không phân tích XHTD đối với các khách hàng cá nhân.Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề về lý thuyết và thực tiễnXHTD doanh nghiệp vay vốn Đồng thời luận văn nghiên cứu một số giải pháp

nhằm hoàn thiện hơn công tác XHTD doanh nghiệp tại Chi nhánh Quang Minh

Số liệu trong luận văn được tập hợp trong thời gian từ năm 2006-2009

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử trong

Trang 10

Luận văn còn sử dụng các bảng biểu, biểu đồ, sơ đồ để phân tích.

Trang 11

CHƯƠNG I TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ HOẠT ĐỘNG XẾP HẠNG TÍN DỤNG

TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Tín dụng và an toàn trong hoạt động tín dụng tại các ngân hàng thương mại

1.1.1 Hoạt động tín dụng tại các ngân hàng thương mại

1.1.1.1 Khái niệm tín dụng

Tín dụng: nói chung được định nghĩa là quan hệ kinh tế trong đó có

sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thức giá trị hoặchiện vật) từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian nhất địnhthu hồi về một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu

Nếu xem xét ở một góc độ hẹp hơn, “Tín dụng ngân hàng là một giao

dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa ngân hàng và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó, ngân hàng chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán’”.

Từ khái niệm trên có thể rút ra được bản chất của TDNH:

- TDNH phải dựa trên cơ sở sự tin tưởng giữa bên cho vay và bên đivay Chỉ khi nào người cho vay thực sự tin tưởng vào sự sẵn lòng và khảnăng trả nợ của người đi vay, khi đó quan hệ tín dụng mới được thiết lập.Đây chính là điều kiện tiên quyết hình thành quan hệ tín dụng Mặt khác,người vay cũng tin vào hiệu quả của việc sử dụng đồng vốn đi vay của mình

- TDNH là sự chuyển tạm thời một lượng tài sản của người sở hữucho

người đi vay, trong một thời gian nhất định với cam kết hoàn trả cả gốc vàlãi

- Sau một thời gian như đã thoả thuận, người đi vay phải hoàn trả chongười cho vay một lượng giá trị gồm cả gốc và lãi Phần chênh lệch này làcái giá của việc được quyền sử dụng vốn của người khác Do vậy, cái giá này

Trang 12

phải đủ lớn để đem lại sự hấp dẫn cho người chuyển nhượng sử dụng vốn.

- Hoạt động tín dụng luôn chứa đựng những rủi ro Đó là do sự mấtcân xứng về thông tin của khách hàng có quan hệ tín dụng với ngân hàng.Rủi ro đó ngoài những nguyên nhân chủ quan xuất phát từ phía ngân hàng vàkhách hàng, còn có những nguyên nhân khách quan như: sự biến động củathị trường, chu kì kinh tế, sự thay đổi của chính sách, những nguyên nhân bấtkhả kháng như thiên tai, chiến tranh, dịch bệnh

1.1.1.2 Vai trò của hoạt động tín dụng ngân hàng

Nền kinh tế thị trường luôn luôn tồn tại các yếu tố cạnh tranh, các doanhnghiệp muốn chiếm lĩnh thị trường, nâng cao vị thế cạnh tranh của mình thìkhông còn con đường nào khác là phải không ngừng nâng cao quy mô vàchất lượng hoạt động kinh doanh của mình Để làm được điều đó và sử dụnghiệu quả nhất nguồn vốn thì TDNH là sự lựa chọn tối ưu của các doanh

nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa

- TDNH là công cụ tài trợ cho các doanh nghiệp thoả mãn nhu cầu vốn phục

vụ sản xuất kinh doanh.

Để tổ chức sản xuất, kinh doanh nhằm mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận, tất cảcác doanh nghiệp đều phải tạo lập nguồn vốn Nguồn vốn trong doanh

nghiệp bao gồm nhiều loại khác nhau, nếu căn cứ vào quyền sở hữu, thì cóthể chia thành 2 loại:

Thứ nhất, nguồn vốn chủ sở hữu là nguồn vốn do các chủ sở hữu doanh

nghiệp đóng góp ban đầu và tạo lập trong quá trình kinh doanh

Thứ hai, nợ phải trả là các khoản vay, nợ các chủ nợ như: ngân sách,

NHTM, nhà cung cấp

Như vậy, NHTM là một trong những kênh tài trợ vốn nhằm thoả mãn nhucầu vốn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Mặt khác,yêu cầu đổi mới trang thiết bị, mở rộng quy mô sản xuất ngày càng tăng tạidoanh nghiệp, từ đó làm gia tăng nhu cầu vốn dài hạn Tuỳ theo loại hình,doanh nghiệp có thể lựa chọn các giải pháp để huy động vốn như phát hành

Trang 13

thêm cổ phiếu Tuy nhiên, thị trường chứng khoán ở Việt Nam đang tronggiai đoạn đầu thì TDNH vẫn luôn là kênh để huy động vốn quan trọng đốivới doanh nghiệp.

- TDNH là một trong các đòn bẩy kích thích doanh nghiệp và ngân hàng hoạt động kinh doanh có hiệu quả hơn.

Ngân hàng vừa là người “đi vay”, vừa là người “cho vay” nên bản thân ngânhàng trong quá trình kinh doanh phải tính toán đến hiệu quả kinh doanh sao cho

bản thân ngân hàng có lời, đồng thời hoàn trả được gốc và lãi cho người gửitiền Mặt khác, các doanh nghiệp vay vốn ngân hàng cũng phải tính toán đếnhiệu quả kinh tế sao cho bản thân họ có lời và hoàn trả vốn gốc và lãi vay chongân hàng Như vậy TDNH có tác dụng tăng cường chế độ hạch toán kinh tếkhông chỉ đối với các NHTM, mà cả với các doanh nghiệp đi vay

Một nhà Kinh tế đã xác định vị trí của TDNH như sau: “Nếu một ngân hàngngừng cho vay đối với doanh nghiệp đang gặp khó khăn, ngân hàng đã ký án

tử hình đối với doanh nghiệp đó, điều này khó tránh hơn là khi người cungcấp hoặc khách hàng cắt đứt quan hệ kinh doanh với một doanh nghiệp côngnghiệp hoặc doanh nghiệp thương mại”

Ngoài ra, TDNH là một kênh đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển kinh tế, gópphần ổn định tiền tệ, ổn định giá cả, ổn định đời sống dân cư, tạo công ănviệc làm và đảm bảo trật tự an toàn xã hội

NHTM cấp tín dụng cho các doanh nghiệp trên cơ sở nguồn vốn tự có vànguồn vốn huy động, có nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi dưới các hình thứccho vay ứng trước, chiết khấu, bảo lãnh và nó mang lại nguồn thu nhậpđáng kể cho ngân hàng Nhưng rủi ro tín dụng thường xảy ra, luôn đe doạ sựtồn tại của ngân hàng

1.1.2 An toàn trong hoạt động tín dụng tại các ngân hàng thương mại 1.1.2.1 Rủi ro tín dụng và nguyên nhân

Trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình, các ngân hàng luônphải đối đầu với rất nhiều rủi ro, đó là: rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng, rủi

Trang 14

ro hối đoái, rủi ro lãi suất Rủi ro và lợi nhuận là hai mặt đối lập nhau trongmột thể thống nhất của quá trình kinh doanh, chúng luôn tồn tại và mâuthuẫn Rủi ro luôn tiềm ẩn trong mọi hoạt động của ngân hàng Vì vậy, quảntrị rủi ro nhằm phòng ngừa và hạn chế tác động xấu của nó luôn là mối quantâm hàng đầu của mọi ngân hàng.

Ở Việt Nam, loại rủi ro phổ biến nhất và gây ra thiệt hại lớn nhất chocác ngân hàng, chính là rủi ro tín dụng

Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra những tổn thất mà ngân hàng phải gánhchịu do khách hàng không trả đầy đủ cả gốc và lãi của khoản vay, hoặc làviệc thanh toán nợ gốc và lãi không đúng hạn

Rủi ro tín dụng là kết quả của việc ngân hàng cấp tín dụng cho kháchhàng và ngân hàng nhận được các giấy nhận nợ của khách hàng với sự camkết là sẽ thanh toán cả gốc và lãi đúng hạn cho ngân hàng Do đó tại thờiđiểm cấp tín dụng và chấp nhận giấy nhận nợ nghĩa là ngân hàng đã thừanhận khả năng thanh toán đầy đủ và đúng hạn của khách hàng mình với mộtxác suất cao, còn xác suất mất khả năng thanh toán của khách hàng là thấphơn nhiều Trái phiếu coupon có thu nhập cố định và giấy nhận nợ tín dụngđối với ngân hàng là hai ví dụ điển hình về giấy nhận nợ do công ty pháthành Trong cả hai trường hợp, ngân hàng đều đầu tư vào các giấy nhận nợnhằm nhận được trái tức từ trái phiếu và lãi suất từ khoản tín dụng nếu ngườivay tiền không bị phá sản Trường hợp người vay tiền phá sản, ngân hàngthường không thu được lợi tức cũng như lãi suất và có thể bị mất toàn bộhoặc một phần vốn gốc là phụ thuộc vào khả năng ngân hàng tiếp cận đối vớitài sản của con nợ trong khi giải quyết phá sản hoặc giải thể Từ đó làm giảmvốn tự có của ngân hàng và làm giảm sức mạnh tài chính các ngân hàng Rủi

ro tín dụng là hệ quả của rất nhiều yếu tố, được quy về hai nguyên nhânchính, đó là nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan

Nhóm nguyên nhân khách quan

Là tác nhân gây ra rủi ro tín dụng bất khả kháng (thiên tai, chiến tranh,

Trang 15

dịch bệnh ) xảy ra ngoài ý muốn và tầm kiểm soát của con người trong mộtthời điểm nào đó, như:

- Tình hình chính trị và hệ thống pháp luật không ổn định Việc chính

trị bất ổn, hay hệ thống pháp luật chồng chéo, chưa hoàn chỉnh, còn nhiều kẽ

hở sẽ dẫn tới việc các chủ thể kinh tế không an tâm trong kinh doanh, khôngthích nghi được với sự thay đổi, từ đó ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh,đến khả năng trả nợ ngân hàng

- Các yếu tố thuộc môi trường kinh tế thay đổi Đó là sự thay đổi của

chu kì kinh tế, lạm phát, hội nhập kinh tế quốc tế Rủi ro tín dụng thườngxảy ra khi nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái, khi đó lạm phát tăng caokéo theo sự thất nghiệp và sự thắt chặt trong chính sách tiền tệ của ngân hàngtrung ương sẽ ngày càng làm cho chủ thể kinh tế hoạt động kém hiệu quả, lợinhuận suy giảm nên việc thanh toán nợ gặp khó khăn

- Các yếu tố xã hội gắn với môi vùng: dân số, tâm lý, thói quen tiêu

dung, tập quán, trình độ văn hóa nếu không được ngân hàng quan tâmđúng mức, sẽ gây ra không phù hợp giữa sản phẩm tín dụng với thói quencủa khách hàng, từ đó là nguyên nhân của rủi ro đạo đức, rủi ro tín dụng

- Sự lạc hậu về công nghệ thông tin: Việc ngân hàng không theo kịp

đà phát triển của công nghệ, như việc ứng dụng các phần mềm chuyênngành, dịch vụ thẻ cũng sẽ gây ra rủi ro tín dụng cho ngân hàng

Nhóm nguyên nhân chủ quan

Bao gồm nguyên nhân từ phía người vay và bản thân ngân hàng:

về phía khách hàng vay:

- Với khách hàng là cá nhân: Việc trì hoãn, chậm trả hay không trảđược nợ đầy đủ, đúng hạn có thể là do người vay bị thất nghiệp không đảmbảo được mức thu nhập dự kiến, hay gặp những sự cố bất thường trong cuộcsống Một nguyên nhân khác, đó là khách hàng cố tình sử dụng vốn sai mụcđích hoặc không muốn trả nợ vay Đó chính là rủi ro đạo đức.Một lý dokhác, đó là người đi vay hoạch định ngân quỹ không chính xác, không dự

Trang 16

tính hết được các khoản chi tiêu dẫn đến xác định sai thu nhập có thể sửdụng để trả nợ vay ngân hàng.

- Với khách hàng là doanh nghiệp: Nguyên nhân gây ra RRTD xuấtphát từ việc khách hàng sử dụng vốn sai mục đích, như lập hồ sơ giả, dự ángiả để vay vốn ngân hàng RRTD cũng có thể xuất phát từ rủi ro về cạnhtranh, cụ thể là do sự cạnh tranh gay gắt từ phía các đối thủ Những thay đổibất ngờ của các điều kiện sản xuất kinh doanh, thị trường cung cấp cũng sẽdẫn đến rủi ro tín dụng của khách hàng vay vốn Và một nguyên nhân chínhdẫn đến RRTD, đó là việc hoạt động kinh doanh của khách hàng có nhiềubiến

động, ảnh hưởng đến các hệ số tài chính và khả năng trả nợ của khách hàng

về phía ngân hàng, rủi ro phát sinh khi chính sách tín dụng của ngân

hàng không hợp lý, có những sơ hở để khách hàng có thể lợi dụng chiếmđoạt vốn của ngân hàng, mặt khác do chất lượng cán bộ yếu kém, không đủtrình độ đánh giá khách hàng hoặc đánh giá không tốt, cố tình làm sai Làmột trong những nguyên nhân của rủi ro tín dụng Nhân viên ngân hàng phảitiếp cận với nhiều ngành nghề, nhiều vùng, thậm chí nhiều quốc gia Để chovay tốt, họ phải am hiểu khách hàng, lĩnh vực mà khách hàng kinh doanh,môi trường mà khách hàng sống Họ phải có khả năng dự báo các vấn đề liênquan người vay Như vậy họ cần phải được đào tạo và tự đào tạo kĩ lưỡng,liên tục và toàn diện Khi nhân viên tín dụng cho vay đối với khách hàng mà

họ chưa đủ trình độ để hiểu kĩ lưỡng, rủi ro tín dụng luôn rình rập họ Nhưvậy, chất lượng nhân viên ngân hàng bao gồm trình độ và đạo đức nghềnghiệp không tốt là nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng

Tất cả những nguyên nhân trên đều dẫn đến rủi ro tín dụng, mang lạinhững thiệt hại to lớn cho hoạt động ngân hàng và khách hàng

1.1.2.2 Hậu quả của RRTD

- Đối với nền kinh tế: Khi một ngân hàng gặp phải rủi ro tín dụng, sẽ

ảnh hưởng đến nguồn vốn của ngân hàng, gây hoang mang cho các kháchhàng gửi tiền, từ đó có thể xảy ra hiện tượng rút tiền ồ ạt ngân hàng là một

Trang 17

thống đồng bộ, vì vậy rủi ro từ ngân hàng này sẽ lan truyền sang các ngânhàng khác, gây ra rủi ro hệ thống Sự bất ổn trong hệ thống ngân hàng sẽ ảnhhưởng rất lớn đến nền kinh tế Nó sẽ gây ra tình trạng suy thoái, giá cả tăng,sức mua của đồng tiền giảm xuống, gia tăng thất nghiệp, xã hội mất ổnđịnh

- Đối với ngân hàng: Khi gặp rủi ro tín dụng, ngân hàng không thu

được khoản tín dụng đã cấp và lãi vay, nhưng vẫn phải trả vốn và lãi chokhoản tiền huy động đến hạn, điều này làm cho ngân hàng mất cân đối trongviệc thu chi Việc không thu được nợ sẽ làm vòng quay vốn tín dụng giảm,hoạt động kinh doanh không hiệu quả, và tiểm ẩn tình trạng mất khả năngthanh toán, mất lòng tin người gửi tiền, ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tíncủa ngân hàng Điều này còn gây bất đồng nội bộ giữa các cấp, gây nên tìnhtrạng thuyên chuyển nhân viên, tạo ra sự biến động trong cơ cấu nhân sự

Hậu quả của rủi ro tín dụng là rất lớn, vì vậy một trong những mốiquan

tâm hàng đầu của nhà quản trị ngân hàng, đó là an toàn trong hoạt động tíndụng

1.2 xếp hạng tín dụng tại hệ thống các ngân hàng thương mại

1.2.1 Khái niệm xếp hạng tín dụng

Hai khái niệm xếp hạng tín dụng và xếp hạng tín nhiệm đều được dịch

ra từ tiếng Anh “credit rating” Để làm rõ khái niệm xếp hạng tín dụng, ta hãy tìm hiểu về lịch sử ra đời và khái niệm xếp hạng tín nhiệm.

- Lịch sử ra đời của xếp hạng tín nhiệm

+ Tổ chức thông báo tín nhiệm

Vào năm 1841, trên cơ sở khá nhiều những ghi chép về mức độ tínnhiệm các bạn hàng của mình, một thương gia người Mỹ tên Lewis Tappman

đã quyết định thành lập công ty Mercantile Agency làm dịch vụ bán thôngtin về tình hình kinh doanh và mức độ tín nhiệm của rất nhiều doanh nghiệpkhác trên toàn nước Mỹ Công ty này đã nhanh chóng có một mạng lưới rộngkhắp Năm 1859, công ty đã đổi tên thành R.G.Dun and Company Số lượt

Trang 18

khách hàng của công ty đã tăng từ 7.000 vào năm 1870 lên 40.000 vào năm

1880 bao gồm cả các nhà buôn, các nhà xuất nhập khẩu, nhà sản xuất, cácngân hàng và các công ty bảo hiểm, và tới năm 1900 các thông báo tín nhiệmcủa nó đã lên tới con số hơn một triệu

Năm 1849, công ty John Bradstreer cũng được thành lập với chứcnăng tương tự Vào năm 1933, hai công ty trên đã sát nhập lại thành Dun &Bradstreer Đến năm 1962, công ty này đã mua lại Moody’s do John Moodysáng lập năm 1900

+ Thời kỳ hình thành công ty xếp hạng tín nhiệm (1909-1970)

Tại Mỹ các công ty đường sắt lớn đều là các công ty tư nhân, các công

ty tiện ích công cộng phát triển rất nhanh và cũng tìm vốn từ thị trường nợ.Thêm vào đó, sự phát triển của thị trường trái phiếu liên bang và địa phươngcũng rất lớn Hơn nữa, mức thu nhập của người Mỹ tăng nhanh cũng gópphần vào sự phát triển của thị trường nợ Những điều này lý giải cho sự hìnhthành và phát triển của các CRA vào đầu thế kỷ 20

Đầu tiên là Moody’s do John Moody’s sáng lập (năm 1990) đã công

bố cuốn “ Cẩm nang chứng khoán đường sắt” năm 1909, chính thức đánhdấu sự ra đời của CRA đầu tiên trên thế giới Trong đó ông đã tiến hànhphân tích và công bố bảng xếp hạng tín nhiệm cho 1.500 loại trái phiếu của

250 công ty đường sắt theo một hệ thống ký hiệu hết sức đơn giản và dễhiểu, với 3 chữ cái ABC được xếp lần lượt từ Aaa đến C, những ký hiệu saunày đã trở thành chuẩn mực quốc tế Moody’s tiếp tục nghiên cứu và chocông bố bảng xếp hạng tín nhiệm trái phiếu của tất cả các nhà phát hànhkhác như công ty công nghiệp, chính quyền trung ương và địa phương, các

Trang 19

Sau chiến tranh thế giới lần thứ 1, các CRA hoạt động ngày càngmạnh bởi sự phát triển theo cấp số nhân của các loại hàng hóa trên thị trường

nợ Nhưng đến năm 1929, các CRA lại gặp phải rất nhiều khó khăn khi mà78% món nợ được xếp hạng Aa hoặc khá hơn lại mất khả năng chi trả Tuynhiên, sau cuộc khủng hoảng 1929-1933, Chính phủ Mỹ đã phải đưa ra nhiềuquy định chặt chẽ về việc đầu tư chứng khoán, trong đó có quy định cấm một

số định chế đầu tư (các quỹ bảo hiểm, các quỹ hưu trí, các ngân hàng dựtrữ ) mua các loại trái phiếu có độ tin cậy thấp trong bảng xếp hạng tínnhiệm đã làm uy tín của các CRA tăng vọt Trong các năm 1940 đến 1970,các CRA hoạt động tương đối ổn định Đến thời điểm đó, thu nhập chủ yếucủa các CRA là từ việc bán các sản phẩm có kết quả xếp hạng và cung cấpcác tài liệu khác có liên quan

+ Thời kì phát triển mang tính toàn cầu (1970 đến nay)

Từ những năm 1970, dịch vụ xếp hạng tín nhiệm được mở rộng vàphát trển khá mạnh ở nhiều nước, kể cả các nước có thị trường mới nổi ởchâu Á và Mỹ latinh Sự bùng nổ này mang tính chất toàn cầu hóa và đượcgiải thích bằng các lý do cơ bản sau:

* Thứ nhất, sự phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ của thị trường vốnnói chung, TTCK nói riêng không chỉ trong phạm vi quốc gia mà còn mangtính toàn cầu, chính vì vậy cần có một cơ quan độc lập để đánh giá khả năngtrả nợ của tất cả những người đi vay trên thị trường vốn

* Thứ hai, sự phát triển của công nghệ thông tin và cải cách pháp luậtnhằm hòa nhập với thị trường khu vực và quốc tế Nó đã tạo ra rất nhiềuthuận lợi cho cả nhà sản xuất lẫn nhà đầu tư, nhưng nó cũng tạo ra sự nghingại cho các nhà đầu tư khi phải nhanh chóng lựa chọn cơ hội đầu tư sao chovừa an toàn, vừa hiệu quả

* Cuối cùng, tất cả những vấn đề trên dều hội tụ tại điểm: cả cơ hộiđầu tư và rủi ro đều tăng lên Đây là lý do cơ bản dẫn đến sự ra đời và pháttriển của xếp hạng tín nhiệm

Trang 20

Ta có thể thấy sự phát triển của các CRA qua một số thông tin:

Năm 1980, S&P có 30 nhà phân tích trong các ngành công nghiệp,nhưng đến năm 1995 nó đã có 800 nhà phân tích và toàn bộ nhân viên là

1200 Moody’s đến cuối năm 2007 có hơn 1.200 nhà phân tích và tổng sốnhân viên là khoảng 3000

Năm 1975, Moody’s xếp hạng cho 5.500 trái phiếu Tính tới năm

2005, Moody’s đã xếp hạng cho hơn 100 quốc gia chủ quyền, 11.000 công typhát hành, 25.000 tổ chức tài chính công cộng, 70.000 tổ chức tài chính đượcchỉ định Hơn 22.00 thuê bao đăng ký sử dụng dịch vụ của Moody’s vàlượng thuê bao này hiện quản lý khoảng 80% nguồn vốn thu nhập cố địnhtoàn cầu

Từ những năm 70, Moody’s, S&P, Fitch đã tiếp tục mở rộng tầm hoạtđộng của họ sang thị trường sôi động ở các châu lục khác Đến nay, Moody’s

đã có 32 văn phòng tại 25 quốc gia và vùng lãnh thổ, còn Fitch đã mở cáccông ty con và văn phòng tại 11 quốc gia Châu Á- Thái Bình Dương Ngoài

ra, còn rất nhiều quốc gia đã lần lượt cho ra đời các CRA của nước mình,trong đó có thị trường rất phát triển là Nhật Bản (thành lập Mikumi & Conăm 1975, Viện nghiên cứu trái phiếu Nhật Bản JBRI năm 1979, công tyxếp hạng tín nhiệm Nhật Bản JCRA năm 1985 ) Trong xu hướng pháttriển mang tính toàn cầu hóa, lịch sử cũng đã chứng kiến sự phát triển, hợpnhất và thâu tóm lẫn nhau của nhiều công ty hoạt động trong lĩnh vự xếphạng tín nhiệm: Fitch hợp nhất với IBCA - một tập đoàn chuyên về lĩnh vựcxếp hạng tín nhiệm lớn nhất Châu Âu, thành The Fitch IBCA group (1997),

để rồi tiếp tục thâu tóm CRA Duff& Phelps và công ty xếp hạng củaThomson Bank Watch cùng trong năm 2000 Cũng vào năm đó, Moody’s trởthành Công ty đại chúng và được niêm yết trên NYSE Tại Nhật Bản, tổchức dịch vụ cho nhà đầu tư Nippon hợp nhất với JBRI thành công ty xếphạng tín nhiệm và thông tin đầu tư R&I (2003)

Sự phát triển còn có thể thấy qua việc các CRA còn xếp hạng tín

Trang 21

nhiệm cho các quốc gia và các định chế tài chính xuyên quốc gia Thêm vào

đó, chính hiệp ước quốc tế Basel I và Basel II cũng đã góp phần không nhỏnâng cao tầm quan trọng của CRA trong thời kỳ này với tư cách là tổ chứcđộc lập đứng ra đánh giá những rủi ro tối đa của đối tượng được xếp hạng.Theo đó các ngân hàng cũng có thể sử dụng CRA đủ điều kiện để tính toánmức rủi ro tín dụng của một khoản cho vay của ngân hàng

- Khái niệm xếp hạng tín nhiệm

Xếp hạng tín nhiệm hay định mức tín nhiệm (credit rating) là thuậtngữ do John Moody đưa ra đầu tiên và công bố vào năm 1909 trong cuốn

“Cẩm nang chứng khoán đường sắt” Có rất nhiều cách định nghĩa khônggiống nhau về thuật ngữ này:

Theo Bohn John A viết trong cuốn “ Phân tích rủi ro trên các thịtrường đang chuyển đổi” thì xếp hạng tín nhiệm là sự đánh giá về khả năngmột nhà phát hành có thể thanh toán đúng hạn cả gốc và lãi đối với một loạichứng khoán nợ trong suốt thời gian tồn tại của nó

Theo công ty chứng khoán Merrill Lynch, xếp hạng tín nhiệm là đánhgiá hiện thời về chất lượng tín dụng được xem xét trong hoàn cảnh hướng vềtương lai, phản ánh sự sẵn sàng và khả năng nhà phát hành có thể thanh toángốc và lãi đúng hạn Trong kết quả xếp hạng tín nhiệm chứa đựng cả ý kiếnchủ quan của chuyên gia xếp hạng tín nhiệm

Còn theo Moody’s, xếp hạng tín nhiệm là ý kiến về khả năng và sự sẵnsàng của một nhà phát hành trong việc thanh toán đúng hạn cho một khoản

nợ nhất định trong suốt thời gian tồn tại của khoản nợ đó Nói một cách rộnghơn, xếp hạng một đầu tư bởi một CRA là việc thể hiện ý kiến chuyên giacủa bên thứ ba về mức độ rủi ro vỡ nợ gắn liền với thể loại đầu tư đó Xếphạng càng cao thì mức độ vỡ nợ càng thấp Xếp hạng có thể là làm lên hạnghoặc xuống hạng của một nhà phát hành, một công cụ tài chính theo khảnăng của nó có đáp ứng được các nghĩa vụ đối với một nhà đầu tư haykhông Về mặt nào đó, xếp hạng tín nhiệm có thể được xem như là một hình

Trang 22

thức tư vấn đầu tư chứng khoán, nhưng đó chỉ là ý kiến dựa trên các nhân tốrủi ro và không hoàn toàn là một lời khuyên nên mua hay bán bất kỳ một loạichứng khoán nào Một sự xếp hạng cao không đồng nghĩa là một khoản đầu

tư tối ưu

Qua những cách định nghĩa trên, ta có thể hình dung: xếp hạng tín

nhiệm là việc đánh giá khả năng chỉ trả đúng hạn của khách hàng đối với một nghĩa vụ nợ trong hiện tại và tương lai.

- Khái niệm XHTD và sự phân biệt XHTD với xếp hạng tín nhiệm

+ Xếp hạng tín dụng được thực hiện bởi ngân hàng (hoặc các trungtâm thông tin tín dụng ) để đánh giá khả năng trả nợ các khoản vay ngânhàng của doanh nghiệp, trong khi xếp hạng tín nhiệm được thực hiện bởi cáccông ty xếp hạng tín nhiệm (CRA) riêng biệt

+ Hai khái niệm xếp hạng tín dụng và xếp hạng tín nhiệm, tuy cùngđược dịch từ tiếng Anh “ credit rating”, nhưng chúng không đồng nhất xếphạng tín nhiệm là một phạm trù lớn hơn xếp hạng tín dụng, mặc dù ý nghĩađều có thể tương tự là cách đánh giá khả năng trả nợ trong tương lai, nhưngchúng có đối tượng, chức năng, mục đích riêng Do XHTD được thực hiệnbởi ngân hàng (hoặc các trung tâm thông tin tín dụng ) để đánh giá kháchhàng của mình, do vậy kết quả xếp hạng sẽ khó có thể ngang tầm với kết quảđược thực hiện bởi CRA riêng biệt Đồng thời, thông tin XHTD không đượccông bố rộng rãi mà chỉ những đối tượng theo quy định và có đăng kí muamới được biết kết quả xếp hạng đó Trong xếp hạng tín dụng, người trả phídịch vụ không phải là tổ chức được xếp hạng, mà là những người hỏi tin Do

đó, một doanh nghiệp có thể dung kết quả xếp hạng tín nhiệm để làm cơ sởcho việc vay ngân hàng, nhưng tất nhiên không thể sử dụng kết quả xếp hạngtín dụng để làm cơ sở cho việc phát hành chứng khoán

1.2.2 Chủ thể và đối tượng trong xếp hạng tín dụng

1.2.2.1 Chủ thể xếp hạng tín dụng

Hiện nay trên thế giới và các nước trong khu vực thường có 3 loại chủ

Trang 23

thể chính có thể thực hiện đánh giá, xếp hạng doanh nghiệp là: Các công tyxếp hạng tín nhiệm (CRA), các NHTM và các trung tâm thông tin tín dụng

tư nhân, Trung tâm thông tin tín dụng của NHNN (như CIC)

Để thực hiện quản trị RRTD, Hiệp ước Basel II cũng cho phép cácngân hàng lựa chọn giữa “phương pháp dựa trên đánh giá tiêu chuẩn” và

“phương pháp dựa trên đánh giá nội bộ” tức là có thể sử dụng luôn kết quảxếp hạng tín nhiệm của các CRA hoặc tự tiến hành công tác xếp hạng tíndụng Đến nay, do yêu cầu cần phải quản lý khách hàng của mình phục vụcho công tác quản trị RRTD, mà trong nước lại chưa hình thành các CRA,hoạt động của CIC thì còn nhiều bất cập nên các NHTM Việt Nam phải tự tổchức xếp hạng tín dụng đối với các khách hàng của mình, đây chính là nòngcốt của quản trị RRTD

Tuỳ theo mỗi chủ thể đánh giá khác nhau thì chi tiết việc xếp hạng cókhác nhau để phù hợp với từng mục đích và kết quả sử dụng, nhưng do tínhchất, mục đích của đề tài, nên luận văn sẽ chỉ chú trọng đề cập đến chủ thểxếp hạng là các NHTM

1.2.2.2 Đối tượng xếp hạng tín dụng doanh nghiệp vay vốn là những thông số, dữ liệu.

Thực hiện kiểm tra phân tích dữ kiện từ các hồ sơ lưu trữ, các BCTC

và báo cáo khác về doanh nghiệp, với sự tác động của các nhân tố môitrường để nhận xét đánh giá tình hình hiện tại và tương lai của doanh nghiệpnhằm xác định khả năng thu hồi vốn và lãi vay Hay nói một cách rộng hơn,đối tượng XHTD đề cập đến trong luận văn chính là doanh nghiệp vay vốn

1.2.3 Sự cần thiết của công tác đánh giá xếp hạng tín dụng

Ngày nay cùng với quá trình phát triển kinh tế, hệ thống các NHTM ngàycàng mở rộng để đáp ứng các nhu cầu trong thanh toán tín dụng và các dịch

vụ ngân hàng khác Song song với quá trình đó mức độ rủi ro mà ngân hànggặp phải ngày càng lớn do sự ảnh hưởng của biến động kinh tế thế giới, sốlượng khách hàng ngày càng tăng và khó kiểm soát thông tin về họ Đặc biệt

Trang 24

trong hoạt động tín dụng của ngân hàng, nó ngày càng chứa đựng nhiều rủi

ro và nhiệm vụ vủa ngân hàng là hạn chế rủi ro thường gặp phải mà vẫn đảmbảo lợi nhuận cho ngân hàng Khi đưa ra bất kỳ một quyết định cho vay nào,ngân hàng cũng phải xem xét đến tình hình sản xuất kinh doanh và khả năngtrả nợ của doanh nghiệp bởi đây sẽ là nhân tố quyết định đến rủi ro và khảnăng thu hồi vốn của ngân hàng sau này Tuy nhiên, không phải lúc nào, việcđánh giá này cũng chính xác, nhất là khi thông tin về doanh nghiệp lại bénhỏ và không đáng tin cậy Điều này dẫn đến tình trạng: nhiều doanh nghiệptốt không có nguồn vốn để phát triển trong khi rất nhiều khoản tín dụng đãđược cấp cho những doanh nghiệp làm ăn kém, không có khả năng trả nợ,thậm chí có nhiều trường hợp khoản vốn vay còn được sử dụng sai mục đíchban đầu dẫn đến tổn thất rất lớn cho ngân hàng

Công tác XHTD khi được thực hiện bài bản và công khai sẽ tạo điều kiệncho các doanh nghiệp tiếp cận được nguồn vốn vay một cách dễ dàng, gópphần giảm chi phí vốn và thúc đẩy quá trình mở rộng sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp

Khi không có công tác XHTD tức là không có thông tin công khai chính xácđánh giá năng lực của doanh nghiệp, các doanh nghiệp có hiệu quả hoạtđộng cao sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn và hạn chếkhả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Trong khi đó, lại xuất hiện nhữngdoanh nghiệp làm ăn kém hơn song lại có thể nhận được nguồn vốn vay vớilãi suất thấp hơn và dễ dàng hơn do người cho vay không có đầy đủ cácthông tin xác thực về doanh nghiệp Điều này đã tạo ra sự mất bình đẳngtrong hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp, làm giảm đi khả năng cạnhtranh và hạn chế hiệu quả kinh doanh chung của cả nền kinh tế Khi công tácXHTD được thực hiện, hoạt động cấp tín dụng sẽ được tiến hành dựa trêncác kết quả xếp hạng có được, nguồn vốn sẽ được chuyển giao đến doanhnghiệp có hiệu quả kinh doanh cao nhất, những doanh nghiệp tốt sẽ nhậnđược nguồn vốn rẻ và dễ dàng hơn các doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả

Trang 25

Như vậy sẽ khuyến khích các doanh nghiệp tiếp tục phát triển.

1.2.4 Vai trò của xếp hạng tín dụng doanh nghiệp

Xếp hạng doanh nghiệp không những chỉ là công tác rất quan trọng tronghoạt động của ngân hàng mà nó còn có vai trò quan trọng với những chủ thểkhác trong nền kinh tế Tại hầu hết các quốc gia trên thế giới, xếp hạng

doanh nghiệp đã được phổ biến từ giữa thế kỷ 20 vì nó có tác động tích cựcđến nhiều chủ thể trong nền kinh tế như: ngân hàng, các nhà đầu tư, doanhnghiệp, bạn hàng, các nhà quản lý

- Đối với doanh nghiệp

Dựa vào kết quả xếp hạng, doanh nghiệp tự đánh giá được một cách tổngquan tình hình kinh doanh của mình, tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu từ

đó đề ra những biện pháp, phương hướng trong tương lai nhằm khắc phụcnhững thiếu sót, phát huy những điểm mạnh để hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp đạt hiệu quả hơn xếp hạng doanh nghiệp cũng giúp cho doanhnghiệp tiếp xúc được với các nguồn vốn vay một cách dễ dàng hơn vì doanhnghiệp nào có thứ hạng cao sẽ được các TCTD cho vay với những điều kiện

ưu đãi về hạn mức tín dụng, về lãi suất cho vay đồng thời nâng uy tín củamình, củng cố và xây dựng thương hiệu, uy tín của doanh nghiệp Ngược lạidoanh nghiệp có thứ hạng thấp thì uy tín trên thị trường giảm và trở nên khókhăn hơn trong việc tiếp cận các nguồn vốn Do đó xếp hạng doanh nghiệp

sẽ là động lực để các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả hơn

- Đối với nhà đầu tư

Trước khi đưa ra quyết định đầu tư vào một doanh nghiệp, nhà đầu tư phảinghiên cứu, xem xét tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trongquá khứ và hiện tại, dựa trên các tài liệu thu thập được để từ đó dự đoánđược tình hình hoạt động của doanh nghiệp, khả năng thu hồi gốc, lãi trongthời gian tới Đó cũng chính là công việc của công tác xếp hạng doanh

nghiệp, do đó các nhà đầu tư có thể sử dụng kết quả công tác xếp hạng doanhnghiệp mà không phải tốn thời gian đi thu thập, xử lý thông tin để đánh giá

Trang 26

doanh nghiệp, không bỏ lỡ cơ hội đầu tư Như vậy về mặt nào đó, hệ số tínnhiệm được xem là một hình thức tư vấn đầu tư chứng khoán Song đâykhông phải là một lời khuyên mua hay bán bất kỳ một loại chứng khoán nào.

- Đối với các tổ chức tín dụng

Xếp hạng tín dụng DN vay vốn giúp TCTD lường trước được các rủi ro cóthể xảy ra trong hoạt động tín dụng để đưa ra các quyết định hợp lý về lãisuất, hạn mức tín dụng, các quyết định cho vay, không cho vay, hay thu hồinợ Các TCTD không thể ra quyết định cho vay khi không nắm rõ thông tin

về doanh nghiệp đặc biệt là các thông tin liên quan đến khả năng trả nợ củakhách hàng Xếp hạng tín dụng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động củacác TCTD trong việc tránh rủi ro và tăng thu nhập của ngân hàng

- Đối với NHNN và các cơ quan quản lý

+ Xếp hạng tín dụng doanh nghiệp vay vốn là phục vụ công tác điều hànhquản lý của NHNN, giúp NHNN có thêm thông tin hỗ trợ cho việc hoạch định

chính sách tiền tệ hợp lý và phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.+ Mục tiêu của các cơ quan quản lý là đảm bảo tính ổn định của thị trường.Thông qua công tác xếp hạng doanh nghiệp, các cơ quan đảm nhiệm chứcnăng quản lý có thể sử dụng các kết quả xếp hạng doanh nghiệp làm tiêuchuẩn để xem xét tình hình lành mạnh và tình hình kinh doanh của doanhnghiệp dự báo trước xu hướng của thị trường, đồng thời thấy được những saiphạm để kịp thời điều chỉnh và có biện pháp xử lý, giảm thiểu tính bất ổncủa thị trường Điều này giúp ngăn chặn và hạn chế các hậu quả tiêu cực docác doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả gây nên và các quyết định sai lầmcủa các chủ thể liên quan khác

1.2.5 Các phương pháp thường sử dụng của hoạt động xếp hạng tín dụng tại các ngân hàng thương mại

Có một số phương pháp thường dùng trong XHTD doanh nghiệp vayvốn được áp dụng phổ biến như phương pháp chuyên gia, phương pháp đánhgiá xếp hạng, cho điểm phân tích Nhưng tựu trung lại, có 3 cách tiếp cận

Trang 27

xếp hạng: Phân tính định tính, phân tích định lượng và phương pháp kết hợp.

- Phương pháp định lượng: chủ yếu dựa vào các số liệu thống kê và

thông qua các công thức toán học được thiết lập để tổng hợp, đánh giá cácchỉ tiêu Có rất nhiều phương pháp được sử dụng như mô hình kinh tế lượng,phương pháp bình quân giản đơn, phương pháp bình quân gia quyền

- Phương pháp định tính: Các mô hình định tính thường rất khó

xác định, nguồn gốc của nó khó thấy và phần lớn mang tính chủ quan.Thường phương pháp này dựa vào việc lấy ý kiến chuyên gia, có chuyên mônsâu trong lĩnh vực XH, đồng thời có kiến thức liên ngành rất tổng hợp Nộidung chủ yếu như sau:

- Phương pháp lấy ý kiến: Việc thực hiện trải qua các bước như sau:

Thu thập ý kiến của ban quản lý điều hành, lấy ý kiến các đối tác đang

có mối quan hệ kinh doanh với tổ chức được xếp hạng, và các nguồn khác

+ Lấy ý kiến của các chuyên gia về xu hướng tác động của các nhântố

+ Tổng hợp đưa ra kết quả

- Phương pháp Delphi (Phương pháp chuyên gia): là phương pháp

bao gồm một quá trình thực hiện nhằm đảm bảo tính nhất trí trong xếp hạng

Có 3 nhóm chuyên gia trong quá trình xếp hạng là chuyên gia phân tích,chuyên gia trong từng lĩnh vực, chuyên gia kết luận Với các bước thực hiện:

+ Xây dựng các câu hỏi điều tra lần đầu tiên cho các chuyên gia

+ Phân tích các câu trả lời, tổng hợp thành bảng trả lời

+ Soạn thảo các câu hỏi lần thứ hai cho các chuyên gia

+ Thu thập, phân tích lần hai

Các bước trên dừng lại khi kết quả dự báo thoả mãn những yêu cầu đặt

ra Phương pháp này đòi hỏi trình độ tổng hợp rất cao của các nhà phân tích,vừa tổng hợp vừa phát triển các ý kiến đa dạng của các chuyên gia

- Phương pháp kết hợp: Dùng trọng số giản đơn để kết hợp những

đánh giá định tính của các chuyên gia với định lượng hoá một số chỉ tiêu:

Trang 28

+ Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh.+ Cho trọng số từng nhân tố tuỳ theo mức độ quan trọng của nó, hoặc

có thể không có trọng số nếu như số điểm quy định đã bao hàm cả trọng số rồi

+ Cho điểm từng nhân tố theo tính chất tác động của nó đến quátrình hoạt động của doanh nghiệp, có so sánh với chỉ tiêu của các nhómdoanh nghiệp so sánh

+ Tính tổng điểm cho từng chỉ tiêu sau khi nhân số điểm với trọng sốtheo năm Tài chính và trọng số nhân tố

+ Xếp hạng dựa vào công thức tính điểm cho từng chỉ tiêu

1.2.6 Quy trình xếp hạng tín dụng các doanh nghiệp vay vốn tại ngân hàng thương mại

Quy trình XHTD là quá trình thu thập và xử lý thông tin một cách khoa học,khách quan nhằm đưa ra kết quả chính xác nhất Quy trình và các nội dungcủa quy trình XHTD ở các NHTM khác nhau thì thường không giống nhau,nhưng chúng đều có những điểm chung nhất, có tính phổ cập và có thể xemnhư thông lệ quốc tế (theo cách nhìn nhận của ngân hàng thế giới) Có 5Bổ xung *

Thu thập

thông tin

Phân loại DN theo ngành và quy mô

Phân tích các chỉ tiêu

và cho điểm

Đưa ra kết quả XHD doanh nghiệp vay vốn

Phê chuẩn và

sử dụng kết quả xếp hạng

Hình 1 Sơ đồ các bước tiến hành XHTD doanh nghiệp vay vốn Bước 1: Thu thập thông tin.

Đây là bước quan trọng nhất trong quá trình XHTD doanh nghiệp Chất

lượng và kết quả xếp hạng phụ thuộc nhiều vào tính đầy đủ, kịp thời, tin cậycủa nguồn thông tin đầu vào Thông tin thu thập bao gồm các thông tin tàichính và phi tài chính của doanh nghiệp, cụ thể như sau:

Trang 29

- Thông tin tài chính của doanh nghiệp từ: Bảng cân đối kế toán, báo cáo kếtquả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, tình hình quan hệ tín dụng củakhách hàng

- Thông tin phi tài chính bao gồm: Thông tin pháp lý (địa chỉ, số điện thoại,đăng ký kinh doanh, quyết định thành lập doanh nghiệp, ngày cấp, nơi cấp,loại hình doanh nghiệp, ngành nghề kinh doanh, ); trụ sở làm việc (đi thuêhay sở hữu, diện tích, địa thế ), thông tin về ban lãnh đạo (họ tên, tuổi, nămkinh nghiệm, trình độ ), trình độ công nghệ; sản phẩm; mô hình hoạt động;thông tin sở hữu doanh nghiệp; lao động (số lượng, trình độ )

Nguồn thu thập thông tin chủ yếu là từ chính các doanh nghiệp; từ các cơquan thông tin tín dụng công và tư; từ cơ quan đăng ký doanh nghiệp, trungtâm đăng ký tài sản bảo đảm, Tổng cục Thống kê, Bộ Tài chính, Thuế, Tòaán và từ các nguồn thông tin khác

Trang 30

Bước 2: Xác định ngành kinh tế và quy mô của doanh nghiệp

Một là, xác định ngành kinh tế của doanh nghiệp

Đặc trưng của mỗi ngành nghề khác nhau về chu kỳ kinh doanh, về triển vọng

tăng trưởng, về mức vốn đầu tư, cơ cấu chi phí, khả năng cạnh tranh, sảnphẩm thay thế Do đó, việc xây dựng một hệ thống phân loại ngành kinh tế

có ý nghĩa rất quan trọng Hệ thống phân loại ngành kinh tế đó phải phù hợpvới trình độ phát triển nền kinh tế và môi trường pháp lý của từng quốc gia,tuy nhiên cũng phải gần sát với thông lệ chuẩn quốc tế Các NHTM có thể căn

cứ theo cách phân loại của Chính phủ hoặc tự đưa ra một cách phân loại riêng

cho phù hợp với hoàn cảnh và đặc điểm, điều kiện của mình

Hai là, xác định quy mô của doanh nghiệp

Quy mô của doanh nghiệp cũng là một yếu tố cần được xét, bởi doanh

nghiệp sẽ khó có thể tiến hành đa dạng hoá hoạt động để giảm rủi ro kinhdoanh và nâng cao ưu thế cạnh tranh khi quy mô của nó quá nhỏ, bởi chúngkhông có những ưu thế về quy mô sản xuất, tiềm năng nhân sự và tiềm lực

về mặt tài chính Những doanh nghiệp có quy mô nhỏ thường chỉ thiên vềkinh doanh một loại sản phẩm nên vị thế sẽ có thể bị đánh giá thấp hơn Việcxác định quy mô thông thường căn cứ vào các chỉ tiêu như quy mô vốn kinhdoanh, doanh thu, tổng số lao động, nộp thuế

Bước 3: Phân tích các chỉ tiêu và cho điểm

Để thực hiện được bước này cần thiết phải thực hiện các công việc sau:

(1) Phân tích các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính.

(2) Xây dựng bảng tính điểm theo nguyên tắc:

- Xây dựng điểm cho từng chỉ tiêu

- Chỉ tiêu quan trọng sẽ có số điểm cao hơn, việc phân bổ điểm cho các chỉtiêu phải hợp lý, khoa học và công phu, phù hợp với từng ngành kinh tế vàqui mô hoạt động của doanh nghiệp

Trang 31

(3) Đối chiếu với bảng tính điểm để tính điểm cho các chỉ tiêu

Khi đã có bảng tính điểm chuẩn cho từng ngành kinh tế, theo từng quy môthì NHTM tiến hành đối chiếu các chỉ tiêu đã phân tích với bảng tính điểmchuẩn đã xác định của doanh nghiệp đó để xác định điểm (điểm ban đầu)cho từng chỉ tiêu

Thêm vào đó, nếu chỉ tiêu có trọng số thì phải nhân điểm ban đầu của chỉ tiêu

với trọng số để được điểm cuối cùng của chỉ tiêu Tổng cộng điểm của tất cảcác chỉ tiêu đã phân tích sẽ là điểm cuối cùng để so sánh với bảng xếp hạngDN

Bước 4: Đưa ra kết quả phân tích, xếp hạng tín dụng doanh nghiệp

Trên cơ sở phân tích các chỉ tiêu phi tài chính, chỉ tiêu tài chính và mức độảnh hưởng tới doanh nghiệp, người thực hiện có thể đưa ra kết quả phân tíchtừng chỉ tiêu, tính tổng hợp số điểm của các chỉ tiêu Đối chiếu kết quả vớibảng xếp hạng gồm các kí hiệu, người thực hiện đưa ra kết quả XH doanhnghiệp vay vốn đó cùng với nhận xét và khuyến nghị Đây là kết quả của cảquá trình XHTD doanh nghiệp vay vốn vì vậy đòi hỏi người thực hiện phảirất thận trọng, phải dùng thêm phương pháp chuyên gia để xem xét kết quả

đã thực hiện, nếu thấy kết quả chưa thoả đáng thì phải kiểm tra lại việc phântích các chỉ tiêu ở các công đoạn trước

Bước 5: Phê chuẩn và sử dụng kết quả XHTD

Kết quả XHTD doanh nghiệp thường không công bố rộng rãi vì nhiều lý do,NHTM sẽ căn cứ vào kết quả đó để đưa ra các quyết định hợp lý về lãi suất,hạn mức tín dụng, các quyết định cho vay, không cho vay, hay thu hồi nợ Việc sử dụng kết quả XH có ảnh hưởng đến lợi ích của doanh nghiệp vayvốn nên NHTM phải có chiến lược kịp thời đối phó với những phản ứngkhông thuận chiều từ phía các doanh nghiệp đó

Trang 32

1.3 Kinh nghiệm và bài học rút ra từ hoạt động xếp hạng tín dụng

1.3.1 Kinh nghiệm của các tổ chức xếp hạng tín dụng trong nước và quốc

tế

1.3.1.1 Kinh nghiệm của Moody’s

Trong xu thế hội nhập toàn cầu, các CRA đã thực sự có những bước pháttriển vượt bậc, trở thành những định chế tài chính cao cấp nhất của thị

trường tài chính Moody’s, một trong những CRA uy tín và lâu đời nhất trênthế giới, đã và đang được các nước học hỏi mô hình, tiếp cận công nghệ đểxây dựng một CRA nội địa

Đặc trưng cơ bản của XHTN tại Moody’s:

- Ý kiến đánh giá có tính chất chủ quan của các chuyên gia XHTN

- Ý kiến đó chỉ có giá trị trong một khoảng thời gian nhất định;

- XHTN cho một nhà phát hành nhưng phải gắn liền với một khoản vay nợcủa nhà phát hành đó

- Đối với những đợt vay nợ được bảo lãnh thanh toán, XHTN của đợt vay đó

là XHTN của đơn vị bảo lãnh

Các yếu tố để đánh giá một doanh nghiệp thông thường

Để XHTN doanh nghiệp, Moody’s sẽ đánh giá dựa trên các yếu tố sau:

- Xu hướng phát triển của ngành và quốc gia Trong đó sẽ phân tích trên các nội

dung như tính chất có thể tổn thương của ngành do chu kì kinh tế, cạnh tranhtrong nước và quốc tế, khuynh hướng pháp luật, hàng rào thương mại, tính dễ

bị tổn thương do thay đổi công nghệ, tỷ giá hối đoái, các nhân tố chi phí

- Chất lượng quản lý và quan điểm về rủi ro Các nội dung được phân tích gồm:

Định hướng chiến lược, triết lý tài trợ, sự bảo thủ, vấn đề lập báo cáo, quan hệ

công ty mẹ và công ty con, tính liên tục của kế hoạch, hệ thống kiểm soát

- Hoạt động kinh doanh và vị thế cạnh tranh.Trong đó, sẽ tập trung vào việc

Trang 33

nhà, triển vọng đối với vấn đề bảo lãnh của Chính phủ và trợ giúp của Phápluật.

- Vị thế tài chính và nguồn thanh toán

Bao gồm việc giải thích một cách cẩn thận các báo cáo tài chính trong 5 nămqua hoặc lâu hơn Cụ thể sẽ đánh giá các vấn đề: Sự linh hoạt về tài chính,tầm quan trọng của tính thanh khoản, dự trữ thanh toán

- Cơ cấu công ty

Tầm quan trọng của công ty con với công ty mẹ, điều kiện tài chính, môi trường

pháp lý, các bên liên doanhvà các thoả thuận liên kết

- Bảo lãnh và thoả thuận bảo trợ của công ty mẹ

- Rủi ro sự kiện đặc biệt

Theo đó, sẽ có hơn 100 chỉ tiêu được dùng để đánh giá khả năng trả nợ của

tổ chức phát hành này nhằm đưa kết quả xếp hạng tín nhiệm cuối cùng

1.3.1.2 Kinh nghiệm tại CIC

Ở Việt Nam hiện nay chỉ có 2 tổ chức chuyên về xếp hạng tín dụng doanhnghiệp đó là CIC và Việt Nam Solution Ở đây ta chỉ xem kinh nghiệm tại CIC

CIC được thành lập theo Nghị định 88/NĐ-CP và Quyết định số

và đánh giá năng lực của các doanh nghiệp Đây là kết quả sau một quá trình từ

khi thực hiện thí điểm đề án phân tích xếp loại tín dụng doanh nghiệp đến

Trang 34

thành phần kinh tế bao gồm doanh nghiệp Nhà nước, công ty trách nhiệmhữu hạn, công ty cổ phần, công ty có vốn đầu tư nước ngoài, công ty hợpdanh và doanh nghiệp tư nhân.

Phương pháp phân tích: Chủ yếu dựa vào phương pháp chỉ số, phương

pháp so sánh và phương pháp chuyên gia

Quy mô hoạt động doanh nghiệp: chia thành 3 loại: Quy mô lớn, vừa và

Các chỉ tiêu được đưa vào phân tích, xếp hạng bao gồm

(i) Các chỉ tiêu tài chính: Dựa trên bảng tổng kết tài sản và bảng kết quả hoạt

động kinh doanh tính đến thời điểm 31/12 hàng năm của doanh nghiệp.(ii) Các chỉ tiêu phi tài chính: Thời gian hoạt động của doanh nghiệp; loạihàng kinh doanh xuất, nhập khẩu; thị trường tiêu thụ; kinh nghiệm và trình

độ quản lý của người đứng đầu doanh nghiệp

Kết quả XHTD doanh nghiệp: Được thể hiện qua bảng kết quả.

Tuy nhiên, nội dung các chỉ tiêu đánh giá vẫn rất sơ sài do không đủ thôngtin, do đó, kết quả XHTD của CIC chưa đủ uy tín để các NHTM sử dụngthay cho quy trình XHTD của chính ngân hàng mình

1.3.2 Bài học kinh nghiệm rút ra cho các ngân hàng thương mại Việt Nam

Một là: Đặc điểm của việc XHTD doanh nghiệp vay vốn

- Xếp hạng chỉ có giá trị trong 1 khoảng thời gian nhất định, thường là 1năm, vì vậy các NHTM, các CRA phải luôn luôn theo sát các doanh nghiệpđược xếp hạng để có thể có sự điều chỉnh và đưa ra kết quả chính xác tại thời

Trang 35

- XHTD phải gắn liền với một khoản vay của doanh nghiệp đó, tức là việcxếp hạng một doanh nghiệp đồng thời với việc đánh giá khả năng trả nợ gốc

và lãi vay của chính doanh nghiệp đó với ngân hàng

Hai là: Các chỉ tiêu thông tin để đưa vào phân tích phải bao gồm cả chỉ tiêu

tài chính và phi tài chính, cần chi tiết hóa các hạng mục nhỏ trong các chỉ tiêu

Đặc biệt cần chú trọng đến các chỉ tiêu phi tài chính trong điều kiện hệ thốngchính sách pháp luật, kinh tế Việt Nam có nhiều biến động như hiện nay

Ba là: Việc XHTD doanh nghiệp đối với một số chỉ tiêu tài chính phải được

như thương mại dịch vụ, công nghiệp nhẹ, lĩnh vực xây dựng

Bốn là: Sử dụng cả 3 phương pháp trong XHTD: phương pháp so sánh,

phương pháp chỉ số, phương pháp chuyên gia

Năm là: Qui trình xếp hạng thường trải qua 5 giai đoạn chính, cần được thực

hiện tuần tự, đầy đủ, chính xác

Sáu là: Cần chuẩn hóa bảng XHTD doanh nghiệp theo quy ước của một số

CRA trên thế giới: chia thành 10 loại được ký hiệu bằng 4 chữ cái A, B, C, D

và được xếp thứ tự từ cao xuống thấp tùy theo mức độ rủi ro được đánh giá

Do thực hiện mạnh mẽ chính sách mở cửa trong xu thế hội nhập và toàn cầuhoá nền kinh tế, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thông tin và các phươngtiện truyền thông nên việc học hỏi tiếp cận các mặt nghiệp vụ ngân hàng,cũng như học hỏi về việc XHTD doanh nghiệp có nhiều thuận lợi hơn Tuy

Kết luận Chương I

Trang 36

xếp hạng tín dụng là một mô hình hiện đại và rất hiệu quả trong lĩnh vựcquản lý rủi ro đối với các NHTM Ở Việt Nam mô hình này còn mới, để ápdụng tốt mô hình này, các NHTM cần phải đầu tư nhiều mới đạt kết quả.

Trang 37

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XHTD TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM - CHI NHÁNH QUANG MINH

2.1 Khái quát về Chi nhánh Quang Minh

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển

Thực hiện Nghị quyết 3 - Khoá VI của Ban Chấp hành Trung ươngĐảng và Nghị định số 53/HĐBT ngày 26/3/1988 của Hội đồng Bộ trưởng(nay là Chính phủ) về việc chuyển hoạt động ngân hàng sang hạch toán kinhdoanh và hình thành hệ thống ngân hàng 2 cấp Từ ngày 01/7/1988, Ngânhàng Công thương Việt Nam ra đời và đi vào hoạt động, đánh dấu một bướcngoặt lớn trong sự nghiệp đổi mới và phát triển của Hệ thống ngân hàng ViệtNam

Năm 1990 theo Quyết định số 402/CT ngày 14/11/1990 của Chủ tịchHội đồng Bộ trưởng, hệ thống ngân hàng Việt Nam bắt đầu cải cách, chứcnăng quản lý và kinh doanh tiền tệ được tách bạch, theo đó NHNN thực hiệnchức năng quản lý, điều hành chính sách tiền tệ của cả nước; hệ thống ngânhàng cấp 2 thực hiện nhiệm vụ kinh doanh tiền tệ, cung ứng tín dụng phục

vụ nhu cầu phát triển kinh tế đất nước Để đáp ứng yêu cẩu tăng trưởng vàphát triển kinh tế, đòi hỏi hệ thống ngân hàng nước ta phải mở rộng, và đóngvai trò nòng cốt, tích cực trong công cuộc Công nghiệp hóa - hiện đại hóađất nước Ngân hàng Công thương Việt Nam đã trở thành NHTM có chứcnăng kinh doanh tiền tệ Sau quá trình phát triển NHCTVN đã là một trongnhững NHTM có mạng lưới hoạt động và vốn chủ sở hữu lớn nhất tại ViệtNam Nhằm phát huy thế mạnh để trở thành ngân hàng hiện đại, đa năng vớiquy mô rộng khắp, nhận thấy KCN Quang Minh có nhiều tiềm năng, là KCNlớn nhất Miền bắc được Thủ tướng chính phủ phê duyệt Tháng 11/2003,Chủ tịch hội đồng quản trị NHCTVN đã thành lập Ban trù bị khu côngnghiệp Quang Minh làm nhiệm vụ nghiên cứu dự án thành lập thêm Chinhánh Quang Minh tại huyện Mê Linh - tỉnh Vĩnh Phúc (nay thuộc thành

Trang 38

Ngày 09/8/2004, Chi nhánh Quang Minh chính thức đi vào hoạt độngtại địa chỉ km9, đường Cao tốc - Thăng Long - Nội bài - Hà Nội, với số cán

bộ công nhân viên ban đầu là 19 người, độ tuổi trung bình là 28 Trong quátrình hoạt động để tăng trưởng quy mô, Chi nhánh Quang Minh đã tuyểndụng thêm cán bộ mới và có một số cán bộ từ các chi nhánh khác trong cùng

hệ thống chuyển về Hiện nay, số lượng cán bộ nhân viên của Chi nhánhQuang Minh trên 60 người, với 04 phòng giao dịch

2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của Chi nhánh Quang Minh

Chi nhánh Quang Minh là một Chi nhánh NHTM nhà nước, kinhdoanh đa năng, thực hiện đầy đủ các nghiệp vụ của một ngân hàng hiện đạinhư:

- Huy động tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, có kỳ hạn, tiền gửi thanhtoán của các tổ chức cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế trong và ngoàinước, vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn theo qui định của NHCTVN

- Cho vay ngắn, trung và dài hạn bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ: chovay theo món, cho vay tiêu dùng, cho vay theo hạn mức, cho vay theo dự án,cho vay đồng tài trợ, chiết khấu giấy tờ có giá

- Bảo lãnh bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ dưới mọi hình thức khácnhau trong và ngoài nước

- Thanh toán bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ như: thanh toán chuyển

Trang 39

tài sản và các hình thức đầu tư khác với doanh nghiệp và tổ chức tài chính tíndụng.

- Thực hiện mua bán giao ngay, có kỳ hạn và hoán đổi các loại ngoại

tệ mạnh với thủ tục nhanh gọn, tỷ giá phù hợp

- Thực hiện làm đại lý và dịch vụ ủy thác cho các tổ chức tài chính tíndụng và cá nhân trong và ngoài nước như: tiếp nhận và triển khai các dự án

ủy thác vốn, dịch vụ giải ngân cho dự án đầu tư, dự án ủy nhiệm, thanh toánthẻ tín dụng, séc du lịch

- Cung ứng các dịch vụ như: cho thuê két sắt, cất giữ, chi trả lương tạidoanh nghiệp, chi trả kiều hối, chuyển tiền nhanh, thu tiền

2.1.3 Tình hình kết quả hoạt động kinh doanh

- Về hoạt động huy động vốn

Do mới thành lập và đi vào hoạt động từ tháng 8/2004 nên nguồn vốnnăm 2004 của Chi nhánh Quang Minh rất thấp Nhằm không ngừng mở rộngquy mô và tăng trưởng thị phần, Chi nhánh Quang Minh đã nghiên cứu, đề racác mục tiêu, giải pháp huy động vốn, xây dựng tổ Thị trường tiếp cận đếncác

đầu mối tại các xã, thôn để huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư, tăngcường công tác quảng cáo tiếp thị, giới thiệu các sản phẩm, tiện ích của ngânhàng Chính vì vậy nguồn vốn của Chi nhánh Quang Minh đã tăng lên rấtnhanh so cùng kỳ năm trước (năm 2005 tăng 1.328%, năm 2006 tăng 148%,năm 2007 tăng 38 %, năm 2008 tăng 173% và năm 2009 tăng 29% ) Tìnhhình huy động vốn của Chi nhánh Quang Minh trong những năm qua đượcphản ánh cụ thể qua bảng sau:

Trang 40

Nguồn: BCTK Chi nhánh Quang Minh qua các năm

Hình 2 Biểu đồ huy động vốn của Chi nhánh Quang Minh từ 2006 - 2009

Từ bảng trên ta thấy nguồn vốn của Chi nhánh Quang Minh có sự tăngtrưởng mạnh mẽ Về cơ bản, Chi nhánh đã tự cân đối được vốn Nguồn vốntrung và dài hạn thường có tỷ lệ thấp hơn nguồn vốn ngắn hạn Cơ cấunguồn ngắn hạn cao hơn dài hạn, nhưng đang có sự chuyển dịch việc huyđộng từ ngắn hạn sang trung và dài hạn Đó là kết quả của việc khai thác huy

Ngày đăng: 30/03/2022, 22:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Peter S. Rose, “ Quản trị ngân hàng thương mại”, Nhà xuất bản tài chính, Hà Nội 2004.• CÁC KỶ YẾU HỘI THẢO, ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị ngân hàng thương mại
Nhà XB: Nhà xuất bản tàichính
4. A.M Best, “ Analyzing Commercial Banking Operation”, March.2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Analyzing Commercial Banking Operation
5. Moody’s, “ Structured Finance Rating Transitions”, 2003.• CÁC BÀI BÁO, TẠP CHÍ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Structured Finance Rating Transitions
2. Nguyễn Thành Huyên - Luận văn thạc sĩ kinh tết ” Hoàn thiện hệ thống xếp hạn tín dụng của Vietcombank” Khác
6. Đầu tư chứng khoán các số tháng 8,9 năm 2007, 2008 Khác
7. Tạp chí Khoa học & Đào tạo ngân hàng các số năm 2007, 2008, 2009 Khác
8. Tạp chí ngân hàng các số năm 2007, 2008, 2009 Khác
10. Tài liệu nội bộ xếp hạng tín dụng Vietinbank.CÁC TRANG WEB www.imf.org www.saga.vn www.cic.org.vn www.vietinbank.vn Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w