Trong đó có Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội - Chinhánh Thanh Xuân Chi nhánh Là một chi nhánh cấp một của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội,được thành lập từ những năm 1996, nhậ
Trang 2NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
QUÂN ĐỘI - CHI NHÁNH THANH XUÂN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Hà Nội - 2015
Trang 3NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
QUÂN ĐỘI - CHI NHÁNH THANH XUÂN
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐÀO VĂN HÙNG
Hà Nội - 2015
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả, sốliệu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ tàiliệu nào khác
Tác giả
Trần Thị Tâm
Trang 5MỤC LỤC
151519
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: BẢO ĐẢM TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4
1.1 TỔNG QUAN VỀ BẢO ĐẢM TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNGCỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 41.1.1 Khái niệm và vai trò của bảo đảm tín dụng trong hoạt động của ngânhàng
thương mại 41.1.2 Cá
c hình thức bảo đảm tín dụng của ngân hàng thương mại 61.1.3 Va
i trò của bảo đảm tín dụng trong hoạt động của ngân hàng thương mại 131.2 CƠ SỞ ĐÁNH GIÁ1.3 KINH NGHIỆM ÁP DỤNG BẢO ĐẢM TÍN DỤNG TẠI CÁCNGÂN HÀNG 25
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN QUÂN ĐỘI - CHI NHÁNH THANH XUÂN 29
2.1 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG TMCP QUÂN ĐỘI CHI
-NHÁNH THANH XUÂN 292.1.1 Sự ra đời và phát triển của Ngân hàng TMCP Quân Đội - Chi nhánhThanh Xuân 29
2.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý30
Trang 6222 Thực trạng bảo đảm tín dụng của Ngân hàng TMCP Quân Đội - Chi nhánh
Thanh Xuân, giai đoạn 2012 - 2014 502.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM TÍN DỤNG TẠI NGÂNHÀNG
TMCP QUÂN ĐỘI - CHI NHÁNH THANH XUÂN 582.3.1 Những thành tựu chủ yếu58
2.3.2 Những hạn chế còn tồn tại61
2.3.3 Nguyennhancuanhimghanche61
TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN QUÂN ĐỘI - CHI NHÁNH THANH XUÂN 66
3.1 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỤC TIÊU HOẠT ĐỘNG KINH DOANHCỦA
NGÂN HÀNG TMCP QUÂN ĐỘI - CHI NHÁNH THANH XUÂN 66
3.1.1 Định hướng phát triển của Ngân hàng TMCP Quân Đội - Chinhánh Thanh
Xuân, giai đoạn 2015 - 2016 66
3.1.2 Định hướng phát triển tín dụng của Ngân hàng TMCP QuânĐội - Chi nhánh
Thanh Xuân giai đoạn 2015 - 2016 67
3.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC BẢO ĐẢM TÍN DỤNG TẠINGÂN
HÀNG TMCP QUÂN ĐỘI - CHI NHÁNH THANH XUÂN 69
3.2.1 Xâ
y dựng chiến lược quản trị chất lượng bảo đảm tín dụng tại chi nhánh 693.2.2 Xây dựng bộ chỉ tiêu và quy tắc cho vay dựa trên tài sản đảmbảo là hàng tồn
Trang 7AMC Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản
3.3.2 Kiến nghị với Ngân hàng
Trang 8STT Tên bảng Trang
Bảng 2.1 Tông kêt tài sản nợ của Ngân hàng TMCP Quân Đội - CNThanh Xuân năm 2012 - 2014 31Bảng 2.2 Hoạt động cho vay và thu nợ của Ngân hàng TMCP QuânĐội - Chi nhánh Thanh Xuân năm 2012 - 2014 34Bảng 2.3 Cơ cấu dư nợ theo thời gian tại Ngân hàng TMCP Quân đội -Chi nhánh Thanh Xuân năm 2012-2014 36Bảng 2.4 Ket quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP QuânĐội - Chi nhánh Thanh Xuân năm 2012-2014 38Bảng 2.5 Địa điểm giao dịch của Ngân hàng TMCP Quân đội - Chinhánh Thanh Xuân 48Bảng 2.6 Đội ngũ cán bộ tín dụng Ngân hàng TMCP Quân đội - Chinhánh Thanh Xuân năm 2012-2014 49
Giá trị tài sản thanh lý so với nợ mất vốn khó đòi tại Ngânhàng TMCP Quân Đội - Chi nhánh Thanh Xuân 56
Bảng 2.11 Giá trị tài sản định giá theo AMC so với giá trị thị trường tại
Ngân hàng TMCP Quân Đội - Chi nhánh Thanh Xuân 57Bảng 2.12
Dư nợ quá hạn có tài sản đảm bảo so với tổng dư nợ quá hạntại Ngân hàng TMCP Quân Đội - Chi nhánh Thanh Xuân 57
DANH MỤC BANG
Trang 9STT Tên biểu Trang
56
DANH MỤC BIỂU
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hệ thống ngân hàng được coi là mạch máu của nền kinh tế Trong quá trìnhxây dựng và phát triển đất nước, “cơ thể” kinh tế chỉ có thể “khỏe mạnh” khi cácmạch máu ấy được vận hành một cách hiệu quả, các dòng “vốn” được luân chuyểnmột cách nhịp nhàng đi nuôi từng “tế bào” trong nó
Tín dụng là một trong những kênh quan trọng nhất, là mạch máu xuyên suốt,
có sức sống và sức lan tỏa mạnh mẽ đến từng tế bào, từng bộ phận của nền kinh tế.Đồng thời nó được coi là bộ phận cốt lõi nuôi dưỡng chính bản thân ngân hàng
Tuy nhiên, hoạt động tín dụng của ngân hàng luôn tiềm ẩn rất nhiều rủi ro,đặc biệt là rủi ro tín dụng Do đó các ngân hàng luôn phải thận trọng trong các quyếtđịnh cho vay nhằm giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng Trên thực tế, hoàntrả tín dụng mặc dù không phải là mục đích kinh doanh của ngân hàng, nhưng nó lại
là cơ sở quan trọng nhất để hoàn thành mục tiêu kinh doanh Một hợp đồng tín dụngtốt phải bảo vệ được quyền lợi của ngân hàng bằng các quy định về cách thức thuhồi vốn trong trường hợp khách hàng mất khả năng trả nợ vay Một trong nhữngquy định quan trọng đó là bảo đảm tín dụng Đặc biệt, thời gian qua tình hình tàichính, tiền tệ có nhiều biến động, tái cơ cấu hệ thống ngân hàng được Ngân hàngnhà nước thực hiện quyết liệt, hệ thống ngân hàng phải đối mặt với nhiều thách thức
để vừa đảm bảo mục tiêu tăng trưởng tín dụng và đảm bảo khả năng thu hồi vốn.Như vậy, hơn lúc nào hết các ngân hàng thương mại càng phải đề cao vai trò củabảo đảm tín dụng Trong đó có Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội - Chinhánh Thanh Xuân (Chi nhánh)
Là một chi nhánh cấp một của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội,được thành lập từ những năm 1996, nhận thức được rõ vai trò của tín dụng và bảođảm tín dụng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng đặc biệt trong điều kiện thịtrường tài chính có những chuyển biến lớn như hiện nay, Chi nhánh Thanh Xuân đãluôn xác định phát triển tín dụng phải song song với hoàn thiện công tác bảo đảm tíndụng, đây là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt trong từng giai đoạn phát triển củamình Mặc dù vậy, do những trở ngại từ điều kiện khách quan và những hạn chế
Trang 12trong bản thân ngân hàng mà kết quả thu đuợc không đuợc nhu mong đợi
Việc tìm ra giải pháp nhằm hoàn thiện công tác bảo đảm tín dụng là vấn đềquan tâm, trăn trở của Ban lãnh đạo cũng nhu toàn thể cán bộ công nhân viên trongChi nhánh, tuy nhiên, chua từng đuợc thực hiện duới góc độ một đề tài nghiên cứumột cách có hệ thống các vấn đề lý luận liên quan, từ đó đua ra các phân tích sâusắc về thực tiễn, và tìm ra các giải pháp toàn diện, có tính khả thi cao trên cơ sởnhìn nhận rõ nguyên nhân của những tồn tại, yếu kém Với tu cách là Chuyên viênthẩm định, gắn bó với Chi nhánh trong thời gian tuơng đối dài và là một “mắt xích”trong hoạt động tín dụng, với tinh thần xây dựng vì mục tiêu phát triển chung, tôimạnh dạn lựa chọn nghiên cứu đề tài “Giải pháp hoàn thiện công tác bảo đảm tíndụng tại Ngân hàng TMCP Quân Đội - Chi nhánh Thanh Xuân”
trạng hoạt động bảo đảm tín dụng tại Ngân hàng thuơng mại cổ phần Quân Đội - Chinhánh Thanh Xuân, chỉ ra những mặt tích cực đồng thời cũng nêu lên đuợc các hạnchế, yếu kém, đi sâu phân tích nguyên nhân của những tồn tại, từ đó đua ra các giảipháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác bảo đảm tín dụng tại Chi nhánh
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tuợng nghiên cứu của luận văn: Thực trạng hoạt động bảo đảm tín dụngtại Ngân hàng thuơng mại cổ phần Quân đội - Chi nhánh Thanh Xuân
Phạm vi nghiên cứu của luận văn: Hoạt động bảo đảm tín dụng tại Ngân hàngthuơng mại cổ phần Quân đội - Chi nhánh Thanh Xuân trong giai đoạn từ năm 2012
- 2014 Trong đó, tập trung vào đánh giá công tác bảo đảm tín dụng bằng tài sản
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng kết hợp các phuơng pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch
sử, phuơng pháp tiếp cận hệ thống, phuơng pháp khảo nghiệm tổng kết thực tiễn,phuơng pháp điều tra - thống kê - phân tích - tổng hợp trên cơ sở đó kết hợp với
Trang 135 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được bố cục thành 3 chương nhưsau:
Chương 1: Bảo đảm tín dụng tại ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng bảo đảm tín dụng tại Ngân hàng TMCP Quân đội
-Chi nhánh Thanh Xuân
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác bảo đảm tín dụng tại Ngân hàng
TMCP Quân Đội - Chi nhánh Thanh Xuân
Trang 14CHƯƠNG 1 BẢO ĐẢM TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 TỔNG QUAN VỀ BẢO ĐẢM TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1. Khái niệm và vai trò của bảo đảm tín dụng trong hoạt động của
thương mại
1.1.1.1 Định nghĩa tín dụng của ngân hàng thương mại
Tín dụng là một thuật ngữ quen thuộc trong đời sống kinh tế Đặc biệt, trongnền kinh tế hiện đại, tín dụng được nhắc đến như là một giao dịch phổ biến, có mốiliên quan chặt chẽ tới nhiều chủ thể trong nền kinh tế Tuy nhiên, khó có thể đưa ramột định nghĩa thống nhất tuyệt đối về tín dụng Tùy theo từng góc độ nghiên cứukhác nhau, có thể xác định những nội dung khác nhau của thuật ngữ này
Trên thực tế, khái niệm tín dụng là một khái niệm bao trùm nhiều mối quan
hệ của nhiều chủ thể trong nền kinh tế Đó có thể là mối quan hệ mua bán thươngmại trả chậm giữa người bán và người mua khi người bán chuyển giao hàng hoácho bên mua và sau một thời gian nhất định theo thoả thuận người mua phải trả tiềncho người bán Đó có thể là mối quan hệ ứng tiền trước trong các giao dịch kinh tếkhi người mua thực hiện ứng một số tiền nhất định cho người bán và sau một thờigian nhất định theo quy định trong Hợp đồng người bán phải bàn giao hànghoá/dịch vụ cho người mua Trong hoạt động huy động vốn nhằm các mục đích củanhà nước, tín dụng có thể hoạt động vay vốn từ nhân dân của Chính phủ thông quaviệc phát hành công trái sau một thời gian nhất định theo cam kết khi phát hành sẽhoàn trả số tiền nhất định đã thoả thuận, Tuy nhiên có thể nói giao dịch tín dụngphổ biến nhất, mang tính chủ đạo trong nền kinh tế hiện đại đó là quan hệ tín dụnggiữa ngân hàng và các định chế tài chính khác với các chủ thể trong nền kinh tế
Theo Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010: ii Cap tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho
Trang 15nghiệp vụ cấp tín dụng khác ”
Như vậy, khái niệm tín dụng trong hoạt động của các ngân hàng thương mạibao gồm nhiều hoạt động như cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh Tuy nhiên, dưới góc độ nghiên cứu của luận văn, xem xét tín dụng như một chứcnăng cơ bản của ngân hàng thương mại trên cơ sở tiếp cận theo chức năng hoạtđộng của ngân hàng thì tín dụng có thể được định nghĩa như sau:
Tín dụng của ngân hàng thương mại là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay (ngân hàng thương mại và các định chế tài chính) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên đi vay khi đến hạn thanh toán.
1.1.1.2 Khái niệm bảo đảm tín dụng trong hoạt động của ngân hàng thương mại
Từ định nghĩa về tín dụng của ngân hàng thương mại, có thể nhận thấy rủi rođặc trưng trong hoạt động tín dụng, đó là bên đi vay (khách hàng) không thực hiệnhoàn trả đủ, đúng hẹn vốn gốc và lãi cho ngân hàng, hay còn gọi là rủi ro tín dụng.Nguyên nhân có thể là do hoạt động kinh doanh thua lỗ, tình hình tài chính suygiảm, nên khách hàng không đủ năng lực để trả nợ, thậm chí có một số trường hợpngười đi vay có khả năng tài chính nhưng không trả nợ, hoặc tìm cách lừa đảochiếm đoạt vốn ngân hàng
Vì thế pháp luật của hầu hết các nước đều có quy định cụ thể về an toàntrong hoạt động tín dụng, theo đó các ngân hàng khi cấp tín dụng đều phải tuân thủnhững điều kiện nhất định Thông thường để có thể hạn chế những rủi ro không trảđược nợ của bên đi vay, các ngân hàng quy định các điều kiện vay vốn, trong đóbảo đảm tín dụng được xem là một trong những điều kiện quan trọng Nếu kháchhàng được xếp hạng tín nhiệm cao như có uy tín tốt, có khả năng tài chính lànhmạnh, chấp hành tốt các hợp đồng tín dụng trong quá khứ và có triển vọng kinhdoanh trong tương lai thì ngân hàng có thể cho vay không cần đảm bảo Ngược lạinếu khách hàng không đạt được những tiêu chuẩn cần thiết thì để hạn chế rủi ro
Trang 16buộc ngân hàng cho vay phải có bảo đảm
Một cách khái quát, bảo đảm tín dụng là việc thiết lập các cơ sở kinh tế và
pháp lý tạo điều kiện cho ngân hàng thu hồi tín dụng đã cấp trong trường hợp người vay không thực hiện trả nợ theo quy định.
Cụ thể, bảo đảm tín dụng chính là việc dùng tài sản đảm bảo hay uy tín củamột cá nhân, tổ chức để bảo đảm cho một khoản vay Khi bên đi vay không thựchiện đúng nghĩa vụ trả nợ của mình, ngân hàng sẽ coi bảo đảm tín dụng là nguồnthu hồi khoản nợ đã cho vay
1.1.2. Các hình thức bảo đảm tín dụng của ngân hàng thương mại
Việc nghiên cứu và phân loại các hình thức bảo đảm tín dụng có ý nghĩaquan trọng trong việc thiết lập các quy trình bảo đảm tín dụng thích hợp và nângcao hiệu quả quản trị rủi ro
1.1.2.1 Bảo đảm tín dụng bằng tài sản đảm bảo
Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm (được
sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/2/2012) quy định: “Tài
sản đảm bảo là tài sản mà bên bảo đảm dùng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên nhận bảo đảm Tài sản đảm bảo do các bên tự thỏa thuận và thuộc sở hữu của bên có nghĩa vụ hoặc thuộc sở hữu của người thứ ba mà người này cam kết dùng tài sản đó để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ với bên có quyền Tài sản đảm bảo là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai
mà pháp luật không cấm giao dịch.”
Như vậy việc phân loại các hình thức bảo đảm tín dụng bằng tài sản có thểcăn cứ theo các tiêu chí về tài sản đảm bảo:
- Phương thức nhận tài sản: Ký quỹ, cầm cố, thế chấp và bảo lãnh;
- Trạng thái của tài sản: Tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai;
- Danh mục tài sản: Tiền và giấy tờ có giá, vật, các quyền tài sản;
a Căn cứ theo phương thức nhận tài sản đảm bảo
Ký quỹ là việc bên có nghĩa vụ gửi một khoản tiền hoặc kim khí quí, đá quí
hoặc giấy tờ có giá khác vào tài khoản phong toả tại một ngân hàng để bảo đảm việc
Trang 17thực hiện nghĩa vụ dân sự (theo Khoản 1, Điều 360, Bộ luật dân sự 2005)
Cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản
thuộc sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảmthực hiện nghĩa vụ dân sự (theo Điều 326, Bộ luật dân sự 2005) Cầm cố tài sản cóhiệu lực từ thời điểm chuyển giao tài sản cho bên nhận cầm cố Tài sản cầm cốthuờng phải thỏa mãn các điều kiện: Gọn nhẹ, dễ quản lý, bảo quản; Ít chịu ảnhhuởng của các yếu tố môi truờng tự nhiên, đồng thời không ảnh huởng đến quátrình hoạt động của bên đi vay hoặc bên cầm cố; Có giá trị ổn định, dễ bán trên thịtruờng; Thuộc sở hữu của bên cầm cố
Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản
thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia (sauđây gọi là bên nhận thế chấp) và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế
chấp (theo Điều 342, Luật dân sự 2005) Có nhiều cách thức để phân loại thế chấp,
trong đó có thể phân loại các hình thức thế chấp nhu sau:
- Thế chấp pháp lý và thế chấp công bằng
Thế chấp pháp lý là hình thức thế chấp mà trong đó nguời đi vay thoả thuận
sẽ chuyển quyền sở hữu cho ngân hàng khi không thực hiện đuợc nghĩa vụ trả nợ.Theo hình thức này, khi nguời đi vay không thanh toán đuợc nợ, ngân hàng cóquyền bán tài sản hoặc cho thuê với tu cách là nguời sở hữu mà không cần thựchiện các thủ tục tố tụng để nhờ sự can thiệp của toà án
Thế chấp công bằng là hình thức thế chấp mà ngân hàng chỉ nắm giữ cácgiấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản, hoặc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đểđảm bảo cho khoản vay Khi nguời đi vay không thực hiện đuợc nghĩa vụ theo hợpđồng, việc xử lí tài sản phải dựa trên cơ sở thoả thuận giữa nguời cho vay và nguời
đi vay hoặc nhờ đến sự can thiệp của toà án nếu có sự tranh chấp
- Thế chấp thứ nhất và thế cháp thứ hai
Thế chấp thứ nhất là việc dùng tài sản thế chấp đảm bảo cho món nợ đầutiên Thế chấp thứ nhất không có nghĩa là lần đầu tiên đem tài sản đi đảm bảo chomột khoản vay mà là một tài sản để đảm bảo cho nhiều khoản vay và thế chấp cho
Trang 18kí thế chấp.
Bảo lãnh là việc người thứ ba (bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (bên
nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (bên được bảo lãnh),nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện khôngđúng nghĩa vụ (Điều 361 Bộ luật Dân sự năm 2005) Bảo lãnh thực chất cũng làmột loại hợp đồng cụ thể mà đối tượng trước hết của nó là sự cam kết bằng uy tín
để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ Điều này có nghĩa là khi nhận bảo lãnh, người nhậnbảo lãnh cũng rất quan tâm đến nhân thân người bảo lãnh cũng như khả năng tài sảncủa người bảo lãnh, vì trong trường hợp nghĩa vụ tài sản không được người đượcbảo lãnh thực hiện, thực hiện không đúng, người bảo lãnh sẽ phải thực hiện thaybằng tài sản của mình
Trường hợp đã đến hạn thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh, màbên bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên bảo lãnhphải đưa tài sản thuộc sở hữu của mình để thanh toán cho bên nhận bảo lãnh Việc
xử lý tài sản của bên bảo lãnh được thực hiện như sau (theo nghị định
11/2012/NĐ-CP ngày 2/12/2012):
- Trong trường hợp các bên có thỏa thuận về việc cầm cố, thế chấp tài sản đểbảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh thì tài sản cầm cố, thế chấp được xử lý theoquy định
-Trong trường hợp các bên không có thỏa thuận về việc cầm cố, thế chấp tàisản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh thì bên bảo lãnh phải giao tài sản thuộc
sở hữu của mình cho bên nhận bảo lãnh xử lý theo yêu cầu của bên nhận bảo lãnh,
Trang 19Trên thực tế, ngay tại thời điểm giao kết giao dịch, các ngân hàng đã yêu cầubên bảo lãnh thực hiện ký hợp đồng cầm cố/thế chấp tài sản Tuy nhiên hợp đồngbảo lãnh không được đăng ký giao dịch đảm bảo theo quy định nên thay vì ký hợpđồng bảo lãnh, các ngân hàng thực hiện ký hợp đồng cầm cố/thế chấp tài sản vớibên bảo lãnh Do đó về bản chất, hình thức bảo lãnh đang được áp dụng tại các ngânhàng là cầm cố/thế chấp tài sản của bên thứ 3 tham gia vào giao dịch cấp tín dụng.
b Căn cứ theo trạng thái của tài sản đảm bảo
Tài sản hiện có là tài sản đã hình thành, thuộc sở hữu của bên bảo đảm và
không bị cấm giao dịch theo quy định của pháp luật tại thời điểm xác lập giao dịch
Tài sản hình thành trong tương lai là tài sản thuộc sở hữu của bên bảo đảm
sau thời điểm nghĩa vụ được xác lập hoặc giao dịch bảo đảm được giao kết Tài sảnhình thành trong tương lai gồm: Tài sản được hình thành từ vốn vay; Tài sản đangtrong giai đoạn hình thành hoặc đang được tạo lập hợp pháp tại thời điểm giao kếtgiao dịch đảm bảo; Tài sản đã hình thành và thuộc đối tượng phải đăng ký quyền sởhữu nhưng sau thời điểm giao kết giao dịch đảm bảo thì tài sản đó mới được đăng
ký theo quy định của pháp luật Tài sản hình thành trong tương lai không bao gồmquyền sử dụng đất (theo nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 và nghị định11/2012/NĐ-CP ngày 22/2/2012)
Bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay là việc khách hàng vay dùng tài
sản hình thành từ vốn vay để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho chính khoảnvay đó đối với ngân hàng Như vậy, tài sản hình thành từ vốn vay là tài sản củangười vay mà giá trị tài sản được tạo nên bởi một phần hoặc toàn bộ khoản vay của
Trang 20tổ chức tín dụng Đây được coi là hình thức bảo đảm mang lại rủi ro hơn so với cáchình thức bảo đảm khác bởi tài sản dùng làm bảo đảm vẫn chưa có khi kí hợp đồngbảo đảm và nó được hình thành trong quá trình sử dụng vốn vay Đối với các khoảnvay ngắn hạn phục vụ hoạt động kinh doanh, tài sản hình thành từ vốn vay thườngđồng thời là nguồn thu nợ của phương án, như vậy chức năng của bảo đảm tín dụng
là nguồn thu nợ thứ 2 vô hình chung đã thay đổi Đối với các khoản vay trung dàihạn tài trợ dự án, phương thức đảm bảo cũng thường là nhận tài sản hình thành từvốn vay (nhà xưởng, máy móc thiết bị ) Với những khoản vay trung dài hạn thờigian thực hiện dự án kéo dài lại càng tiềm ẩn nhiều rủi ro hơn: rủi ro trong kinhdoanh của khách hàng, rủi ro xuất phát từ tài sản đảm bảo ( mất giá, hao mòn )
Do đó, các ngân hàng thường rất thận trọng khi áp dụng hình thức bảo đảm bằng tàisản hình thành từ vốn vay
Bảo đảm bằng tài sản đang hình thành hoặc đã hình thành nhưng chưa hoàn thiện thủ tục đăng ký quyền sở hữu tại thời điểm giao kết (không bao gồm tài sản
hình thành từ vốn vay) thường ít được các ngân hàng áp dụng do rủi ro pháp lý cao,trong khi các ngân hàng không quản lý được tài sản sau khi bên bảo lãnh hoànthành việc đăng ký quyền sở hữu tài
c Căn cứ theo danh mục tài sản bảo đảm
Tiền và giấy tờ có giá được dùng trong bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự
(bảo đảm tín dụng) gồm: Tiền; trái phiếu, cổ phiếu, ký phiếu và các giấy tờ có giákhác Cụ thể:
- Tiền Việt nam, ngoại tệ, vàng, bạc, kim khí quý có giao dịch thường xuyên;
- Giấy tờ có giá do Kho bạc, Chính phủ, Bộ tài chính, Ngân hàng nhà nướcphát hành nhằm mục đích huy động vốn của Nhà nước như: tín phiếu, tráiphiếu
kho bạc nhà nước, trái phiếu công trình trung ương, trái phiếu đầu tư, tráiphiếu
được Chính phủ bảo lãnh.;
- Giấy tờ có giá do các TCTD phát hành nhằm mục đích huy động vốn phục
vụ hoạt động kinh doanh thường xuyên như: Thẻ tiết kiệm, các loại tiền gửi,
Trang 21- Giấy tờ có giá là các chứng khoản nợ do các doanh nghiệp phát hành như:trái phiếu doanh nghiệp, hối phiếu, séc và các giấy tờ có giá khá trị giá đượcthành
tiền và được phép giao dịch;
- Giấy tờ có giá là các chứng khoán vốn: Cổ phiếu, chứng chỉ quỹ, chứngquyền, quyền mua cổ phần
Vật gồm động sản và bất động sản
Bất động sản gồm quyền sử dụng đất mà Pháp luật về đất đai quy định được
phép thế chấp; Nhà ở, công trình xây dựng trên đất và các tài sản gắn liền với nhà ở
và công trình xây dựng trên đất;
- Quyền sử dụng đất được phép thế chấp gồm: Quyền sử dụng đất của hộ giađình, cá nhân không phải là đất thuê; Quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế
mà đã trả tiền thuê lại đất hoặc trả trước tiền thuê lại đất cho nhiều năm mà
thuê lại đất đã trả tiền còn lại ít nhất là 5 năm
- Nhà ở, công trình trên đất và các tài sản gắn liền với nhà ở và công trìnhtrên đất gồm: Tài sản gắn liền với đất thuộc danh mục quyền sử dụng đất
Trang 22vụ quá trình sản xuất kinh doanh);
Quyền tài sản gồm Quyền đòi nợ phát sinh từ hợp đồng mua bán, cho thuê
tài sản hoặc cung cấp dịch vụ (khoản phải thu); Quyền tài sản phát sinh từ các giaodịch khác
Cấp tín dụng dựa trên hàng tồn kho và quyền đòi nợ có mức độ rủi ro cao, dođây vừa là tài sản đảm bảo (nguồn thu nợ thứ cấp) đồng thời là nguồn thu nợ chínhcủa phuơng án kinh doanh Thực tế, thời gian vừa qua đã có rất nhiều bài học kinhnghiệm cho các ngân hàng khi cấp tín dụng dựa trên nhận thế chấp các loại tài sảnnày Các ngân hàng cần phải rất thận trọng và xây dựng các biện pháp rào chắn phùhợp để đảm bảo khả năng thu hồi vốn khi cho vay trên hàng tồn kho và quyền đòi
nợ (khoản phải thu
1.1.2.2 Bảo đảm tín dụng không bằng tài sản đảm bảo (tín chấp)
Theo Nghị định 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm thì tín chấp là việc
tổ chức chính trị - xã hội tại cơ sở bằng uy tín của mình bảo đảm cho cá nhân, hộgia đình nghèo vay một khoản tiền tại tổ chức tín dụng để sản xuất, kinh doanh, làmdịch vụ
Mở rộng, tín chấp là hình thức cấp tín dụng đuợc bảo đảm bằng sự tín nhiệm,không cần có tài sản thế chấp Một số đặc điểm của hình thức cấp tín dụng tín chấp:
Một là, thế chủ động trong việc quyết định cho vay tín chấp thuộc về nguời
cho vay Bởi lẽ, khi và chỉ khi nguời cho vay có đuợc độ tin cậy rất cao đối vớinguời vay mới có thể quyết định cho vay tín chấp
Hai là, nguời vay đóng một vai trò to lớn trong quá trình tạo ra sự tín nhiệm
để có thể vay tín chấp Trong nhiều truờng hợp, chính hoạt động kinh doanh có hiệuquả và sự minh bạch của doanh nghiệp lại là nhân tố quyết định để ngân hàng vàcác tổ chức tín dụng quyết định cho vay tín chấp
Ba là, sự tín nhiệm (“tài sản” đảm bảo tiền vay) lại là loại tài sản vô hình,
không thể đem đấu giá để thu hồi vốn cho vay Vì vậy, quyết định cho vay tín chấpcủa các ngân hàng và tổ chức tín dụng cần đặc biệt cẩn trọng và vì vậy, khó khăn là
lẽ đuơng nhiên
Trang 23Căn cứ vào đối tượng tín nhiệm, có thể chia bảo đảm tín dụng không có tàisản đảm bảo thành hai loại: Tín chấp dựa trên uy tín của bên bảo lãnh vay vốn và tínchấp dựa trên uy tín của bên vay vốn
a Tín chấp dựa trên uy tín của bên bảo lãnh
Tại thời điểm đề nghị cấp tín dụng, bên đi có thể chưa chứng minh đượcnăng lực và uy tín để được áp dụng phương án cấp tín dụng không cần tài sản đảmbảo Tuy nhiên nếu bên đi vay được một bên thứ ba là đơn vị có uy tín lớn đứng rabảo lãnh thực hiện nghĩa vụ thay cho bên đi vay, các ngân hàng vẫn có thể xem xétcấp tín dụng tín chấp đối với bên đi vay Để bên đi vay có thể tiếp cận được vớinguồn vốn vay không cần tài sản đảm bảo, bên bảo lãnh thường phải là các tổ chứcchính trị - xã hội; các định chế tài chính được ngân hàng cấp hạn mức giao dịchthường xuyên; các tổ chức kinh tế thuộc tập đoàn kinh tế nhà nước, Tổng công tynhà nước, các tập đoàn kinh tế tư nhân có uy tín lớn
Các ngân hàng thường rất cẩn trọng khi ra quyết định cho vay đối với cáctrường hợp này
b Tín chấp dựa trên uy tín của bên đi vay
Bản chất của hình thức tín chấp này là không áp dụng các biện pháp bảo đảmtín dụng khi cấp tín dụng đối với bên đi vay trên cơ sở ngân hàng đánh giá được uytín của bên đi vay, tính chắc chắn của nguồn trả nợ và khả năng quản lý nguồn trả
Thứ nhất, bảo đảm tín dụng giúp cho các ngân hàng hạn chế được tổn thất
do rủi ro tín dụng, đảm bảo an toàn vốn, tạo cơ sở cho sự phát triển hoạt động kinh doanh của ngân hàng Việc hoàn thiện cũng như áp dụng linh hoạt các hình thức
bảo đảm tín dụng sẽ là một trong những biện pháp rào chắn hữu hiệu nhất, bởi vìbảo đảm tín dụng giúp ngân hàng có nguồn thu nợ thứ hai khi nguồn thu nợ thứnhất không thực hiện được Khi cấp tín dụng thường thì ngân hàng đã xác định
Trang 24được nguồn thu nợ thứ nhất của mình, ví dụ như cho vay vốn cố định thì nguồn trả
nợ chủ yếu là từ khấu hao và lợi nhuận để lại, cho vay vốn lưu động thì nguồn trả
nợ chính là từ doanh thu, cho vay tiêu dùng là phần thu nhập ròng (thu nhập - chiphí) Song trong hoạt động kinh doanh có vô số những nguyên nhân bất khả kháng,những rủi ro dẫn đến nguồn thu nợ thứ nhất không thể thực hiện được, nếu không
có nguồn bổ sung ngân hàng rất dễ gặp phải rủi ro tín dụng Vì vậy để bảo vệ lợi íchcủa mình, ngân hàng thường yêu cầu người vay phải có bảo đảm cần thiết
Thứ hai, bảo đảm tín dụng ràng buộc trách nhiệm vật chất của người đi vay trong quá trình sử dụng vốn vay, tránh trường hợp khách hàng kinh doanh sự dụng vốn vay sai mục đích hoặc thiếu hiệu quả gây nên tổn thất cho ngân hàng Hơn nữa,
bảo đảm tín dụng còn gắn với trách nhiệm của khách hàng phòng khi họ cố tình lơ
là nghĩa vụ trả nợ của mình Vì vậy khách hàng sẽ phải luôn thận trọng trong việc
sử dụng vốn vay, làm sao để bảo đảm tính hiệu quả và hợp pháp, trả nợ cho ngânhàng đúng hạn để thu hồi được tài sản của mình
Thứ ba, bảo đảm tín dụng là một trong những điều kiện để các tổ chức, cá nhân được vay vốn của ngân hàng, là bước khởi đầu trong quan hệ tạo lập tín dụng đối với ngân hàng thương mại: trong nhiều trường hợp khi khách hàng có phương
án sản xuất kinh doanh hiệu quả, khả thi nhưng lại chưa có đủ tiềm lực tài chính và
uy tín đối với các ngân hàng thương mại nếu không có bảo đảm tín dụng thì khôngthể vay vốn của ngân hàng Bảo đảm tín dụng sẽ là một điều kiện thuận lợi chokhách hàng trong việc vay vốn sản xuất kinh doanh hay tiêu dùng, giúp khách hàng
mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, tăng cường sức cạnh tranh, hoặc đáp ứng
và thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của dân cư
Thứ tư, nếu đối với ngân hàng nói riêng bảo đảm tín dụng là nguồn thu nợ thứ hai thì trên phương diện nền kinh tế nói chung, bảo đảm tín dụng góp phần tạo
ra môi trường kinh doanh tiền tệ ổn định, phát triển thị trường trên cơ sở có sự ràng buộc trách nhiệm giữa các bên, chia sẻ rủi ro Một nền kinh tế muốn phát
triển chỉ khi nó có một thị trường tài chính nói chung và một hệ thống ngân hàngnói riêng hoạt động vững mạnh Tuy nhiên trên thực tế rủi ro luôn tồn tại song hành
Trang 25và thường trực trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại, gây tác độngmạnh và ảnh hưởng sâu sắc đến toàn bộ nền kinh tế Vì vậy, bảo đảm tín dụngkhông những giúp các ngân hàng hạn chế được rủi ro mà còn góp phần tạo ra môitrường kinh doanh tiền tệ ổn định, phát triển lành mạnh trên cơ sở có sự ràng buộctrách nhiệm và chia sẻ rủi ro giữa các bên
Như vậy, có thể nói bảo đảm tín dụng đóng vai trò vô cùng quan trọng khôngnhững đối với hoạt động của các ngân hàng thương mại, khách hàng vay vốn màcòn đối với toàn bộ nền kinh tế, đặc biệt trong việc xây dựng mối quan hệ giữakhách hàng và ngân hàng, giúp các tổ chức tín dụng phòng ngừa và hạn chế rủi ro,đảm bảo an toàn vốn trong hoạt động kinh doanh Trong bối cảnh thị trường tàichính Việt Nam hiện tại, bảo đảm tín dụng càng thể hiện vai trò rõ nét hơn khi trởthành một trong những nhân tố quan trọng trong việc ra quyết định cấp tín dụng củacác ngân hàng thương mại
a Danh mục tài sản bảo đảm:
Mỗi loại tài sản đảm bảo đều có đặc tính riêng về pháp lý, khả năng quản lý vàtính khả mại Do đó khả năng xử lý tài sản để thu hồi nợ của mỗi loại tài sản khácnhau là khác nhau Quản trị danh mục tài sản bảo đảm là yêu cầu khách quan trongcông tác quản trị ngân hàng thương mại, nó là một mắt xích quan trọng trong quytrình cho vay thu hồi nợ, xử lý các khoản nợ có vấn đề Cho vay có TSBĐ cùng vớiquản lý tốt danh mục TSBĐ là một trong những yếu tố góp phần nâng cao chấtlượng các khoản vay, hạn chế tổn thất của ngân hàng trong trường hợp các khoản
Trang 26vay quá hạn khách hàng không trả được nợ, buộc phải xử lý tài sản để thu hồi nợ
Ví dụ, nếu ngân hàng nhận TSBĐ là dây chuyền máy móc thiết bị, khi phải phátmại thì tiêu chuẩn công nghệ còn phù hợp hay không so với thị trường sẽ quyết địnhgiá cả của TSBĐ này, nếu lạc hậu thậm trí giá trị chỉ là sắt vụn và phải tốn chi phíthanh lý Do vậy, việc quản lý, đánh giá phân tích danh mục tài sản bảo đảm nhậnlàm bảo đảm tiền vay dưới hình thức như thế chấp, cầm cố, bảo lãnh là khâu tácnghiệp hết sức cần thiết
b Thẩm định tài sản đảm bảo
Ngoài đánh giá khách hàng, phân tích hồ sơ cần thiêt, ngân hàng luôn chútrọng đặc biệt đến công tác đánh giá TSBĐ và định giá chúng Nguồn thông tinthẩm định:
- Hồ sơ tài liệu và thông tin khách hàng cung cấp
- Cán bộ tín dụng khảo sát thực tế, khẳng định lại các thông tin thu thậpđược từ khách hàng và phát hiện những vấn đề mới cần thẩm định tiếp
- Các cơ quan có thẩm quyền cấp các giấy tờ liên quan đến TSBĐ
- Các nguồn khác: chính quyền địa phương, công an, tòa án, cơ quan đảng kígiao dịch đảm bảo, ngân hàng khác
Nội dung thẩm định làm rõ những vấn đề sau:
- Tính pháp lý của tài sản, gồm: Quyền sở hữu TSBĐ của khách hàngvay/bên bảo lãnh, mối quan hệ giữa chủ sở hữu tài sản và Khách hàng vayvốn
- Tính khả mại của tài sản, gồm: Tài sản hiện không có tranh chấp; Tài sảnđược phép giao dịch; Tài sản dễ chuyển nhượng
c Định giá tài sản bảo đảm
Tài sản bảo đảm là yếu tố quan trọng để ngân hàng quyết định mức cho vay.Xác định chính xác giá trị tài sản bảo đảm là yếu tố hết sức quan trọng giúp ngânhàng bảo đảm được quyền lợi cho chính bản thân mình và cho khách hàng Tài sảnbảo đảm phải thoả mãn được một số yêu cầu cần thiết như: tài sản bảo đảm phảikhông có tranh chấp, có khả năng mua bán chuyển nhượng.về nguyên tắc, địnhgiá tài sản bảo đảm phải theo giá trị thị trường, nếu định giá cao hơn giá trị thị
Trang 271.2.1.1 Các chỉ tiêu định lượng
a Chỉ tiêu giá trị khoản vay so với giá trị của tài sản bảo đảm
Giá trị khoăn vayGiá trị của tài sản bão đảmGiá trị khoản vay là số tiền mà ngân hàng cho khách hàng vay ghi trên hợp
17
trường có thể sẽ dẫn đến khi phát mại tài sản trong trường hợp khách hàng không
trả được nợ không thu hồi đủ nợ gốc, lãi và các chi phí khác Nếu định giá thấp giá
trị thị trường sẽ ảnh hưởng đến việc đáp ứng nhu cầu vốn cho khách hàng và làm
suy yếu tính cạnh tranh trong việc thu hút khách hàng
d Quản lý tài sản bảo đảm
Quản lý tài sản bảo đảm được hiểu là quá trình theo dõi, kiểm tra nhằm bảođảm tài sản và các loại giấy tờ vẫn đang trong tình trạng bình thường hoặc kịp thời
phát hiện các sự cố liên quan làm giảm giá trị của tài sản bảo đảm, các loại giấy tờ
có giá so với dự kiến nêu tại hợp đồng bảo đảm Cán bộ tín dụng là người chịu trách
nhiệm chính trong suốt quá trình quản lý tài sản bảo đảm và các loại tài sản liên
quan Quản lý tốt tài sản bảo đảm giúp các ngân hàng theo dõi, kiểm tra, đánh giá
nhằm đảm bảo tài sản vẫn đang trong tình trạng bình thường, đồng thời ngăn chặn
kịp thời các sự cố làm giảm giá trị của tài sản bảo đảm gây thiệt hại cho ngân hàng
Trường hợp tài sản bảo đảm do bên khách hàng vay, bên thứ ba, nắm giữ, bảoquản hay sử dụng cán bộ tín dụng cần chủ động đề xuất và thực hiện kiểm tra tài
sản bảo đảm định kỳ, thu thập các loại giấy tờ khác có liên quan đến tài sản bảo
đảm, chứng minh tình trạng hiện tại của tài sản bảo đảm Trường hợp TSBĐ do
chính ngân hàng nắm giữ và bảo quản, cán bộ tín dụng chịu trách nhiệm tiến hàng
thủ tục bàn giao và bảo quản tài sản theo đúng quy định của ngân hàng
Xử lý tài sản bảo đảm: Khả năng xử lý được tài sản bảo đảm với chi phí thấp,
thủ tục nhanh chóng giúp bảo đảm được quyền lợi cho ngân hàng và khách hàng
cũng là một chỉ tiêu phản ánh chất lượng bảo đảm tín dụng Việc xử lý TSBĐ phải
được thực hiện một cách khách quan, công khai, minh bạch, bảo đảm quyền và lợi
ích hợp pháp của các bên tham gia giao dịch bảo đảm, cá nhân, tổ chức có liên
quan Hiện nay, các ngân hàng đều đã thành lập công ty quản lý nợ và khai thác tài
sản (AMC) để chuyên trách việc xử lý tài sản và thu hồi nợ Hoạt động của các
công ty AMC đã giúp cải thiện đáng kể công tác bảo đảm tín dụng của các ngân
hàng thương mại, nâng cao khả năng thu hồi vốn tín dụng đã cấp ra thị trường
18
Trang 28đồng tín dụng Giá trị của tài sản bảo đảm được thể hiện bằng số tiền mà các cán bộthẩm định định giá, được xác định tại thời điểm ký kết hợp đồng bảo đảm, làm cơ
sở cho việc xác định mức vay của ngân hàng
Chỉ tiêu này được dùng để phản ánh mức độ bù đắp vốn của tài sản bảo đảm,
và để phản ánh chính xác, ngân hàng phải dự đoán được biến động của giá trị tàisản bảo đảm trong thời gian cho vay như hao mòn, mất giá do giá thị trường giảm cũng như phải tính trước được chi phí cho việc bán tài sản bảo đảm Tỷ lệ này càngthấp chứng tỏ khả năng bù đắp vốn của tài sản bảo đảm càng cao Tuy nhiên, nếu tỷ
lệ này thấp quá sẽ gây khó khăn cho việc tiếp cận nguồn vốn ngân hàng của cá nhân
và các doanh nghiệp, nếu tỷ lệ này quá cao sẽ gây ra tình trạng mất an toàn tronghoạt động cho vay của ngân hàng khi khách hàng không có khả năng hoàn trả nợvay Các ngân hàng thường cố gắng duy trì tỷ lệ này trong khoảng từ 0,5 đến 0,8
b Chỉ tiêu về giá trị tài sản định giá theo AMC so với giá trị thị trường của tài sản
Trang 29Giá trị tài sản theo định giá AMC
H = ' " ^
Giá trị thị trường của tài sảnViệc xác định và định giá tài sản đảm bảo là một trong những nội dung quantrọng trong công tác bảo đảm tín dụng tại các ngân hàng Đây là căn cứ để xác địnhkhả năng thu hồi vốn khi Khách hàng mất khả năng trả nợ, do đó Ngân hàng thườngkhá thận trọng trong công tác định giá này Các ngân hàng thường cố gắng duy trì tỷ
lệ này khoảng 0.8-0.9 để đảm bảo an toàn vốn trong hoạt động của mình
a Chỉ tiêu về tỷ lệ giá trị tài sản thanh lý/nợ mất vốn khó đòi
Giá trị tài sản thanh lý
P = r r
Nợ mất vốn khó đòi
Trang 30Số nợ mất vốn khó đòi của ngân hàng ngày càng giảm đi cho thấy hiệu quảcủa hoạt động cho vay, thẩm định dự án của ngân hàng ngày càng đuợc cải thiện vànguợc lại Cùng với đó, tỷ lệ giữa giá trị tài sản thanh lý và nợ mất vôn khó đòingày càng tăng chứng tỏ công tác định giá tài sản cũng nhu xử lý, thanh lý TSBĐngày càng đuợc cải thiện
b Chỉ tiêu về nợ quá hạn của khoản vay có tài sản bảo đảm so với tổng nợ quá hạn
Nợ quả hạn cùa khoăn vay co TSBD
Tong dư nợ quả hạnTrong đó, nợ quá hạn là khoản nợ mà khách hàng sau khi đã vay, đã đến thờihạn trả nợ theo thoả thuận trên hợp đồng tín dụng nhung không có khả năng hoàntrả cho ngân hàng Tỷ lệ này càng thấp chứng tỏ chất luợng bảo đảm tiền vay có tàisản bảo đảm của khách hàng càng tốt và nguợc lại Thông thuờng ở các ngân hànghiện nay, các khoản vay có TSBĐ thuờng có nợ quá hạn ít hơn so với các khoảnvay không có bảo đảm bằng tài sản Nợ quá hạn của khoản vay có tài sản bảo đảmchỉ chiếm khoảng 20% so với tổng du nợ quá hạn
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác bảo đảm tín dụng
1.2.2.1 Các nhân tố thuộc về môi trường
a Sự phát triển của môi trường kinh tế
Là một tế bào của nền kinh tế, các ngân hàng thuơng mại là nhân tố quantrọng góp phần vào sự phát triển chung, nhung nguợc lại sự phát triển của các ngânhàng chịu sự tác động mạnh mẽ từ những biến động của nền kinh tế Đặc biệt, trongđiều kiện quốc tế hoá mạnh mẽ nhu hiện nay, hoạt động của các ngân hàng khôngchỉ chịu ảnh huởng của môi truờng kinh tế trong nuớc và cả môi truờng kinh tếquốc tế
Các tác động nêu trên có thể ảnh huởng trực tiếp tới hoạt động kinh doanhcủa các ngân hàng hoặc tác động gián tiếp thông qua việc việc gây ảnh huởng tớihiệu quả kinh doanh và nguồn thu nhập của các chủ thế khác trong nền kinh tế - cácđối tác có mối quan hệ mật thiết với ngân hàng; các tác động gián tiếp càng trở nên
Trang 31tế trong nuớc và quốc tế đều có ảnh huởng mạnh mẽ đến hoạt động tín dụng.
Ngân hàng cũng là một chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế nên bất kì biếnđộng nào của nền kinh tế nói chung cũng sẽ đều ảnh huởng đến hoạt động của ngânhàng, đặc biệt là hoạt động bảo đảm tín dụng bởi vì nó có liên quan mật thiết với tàisản
của các tổ chức cá nhân tham gia trong nền kinh tế Khi nền kinh tế có những biếnđộng nhu lạm phát, mất cân đối cung cầu thì các tài sản bảo đảm mà ngân hàngnắm
giữ có thể sẽ biến động về giá cả và gây khó khăn cho ngân hàng trong việc xử lý tàisản bảo đảm.’
b Sự ổn định và phát triển của môi trường chính trị, văn hoá, xã hội, tự nhiên.
Chính trị - văn hoá - xã hội là các yếu tố quan trọng tác động đến mọi mặtcủa nền kinh tế, trong đó có hoạt động cả các ngân hàng
Môi truờng chính trị ổn định luôn là điều kiện tiên quyết cho sự ổn định vàphát triển của nền kinh tế nói chung, cho ngân hàng nói riêng Một môi truờngchính trị ổn định sẽ giúp các chủ thể trong nền kinh tế có môi truờng kinh doanh antoàn, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh và tạo tâm lý yên tâm khiquyết định đầu tu mở rộng sản xuất kinh doanh
Văn hoá - xã hội với các vấn đề về trình độ dân trí, thói quen đầu tu, phongtục tập quán, an toàn xã hội cũng là những yếu tố khách quan có ảnh huởng khôngnhỏ đến hoạt động tín dụng ngân hàng nói chung và công tác bảo đảm tín dụng nóiriêng Nó ảnh huởng trực tiếp đến các đối tuợng tham gia quan hệ tín dụng và cáchình thức cấp tín dụng Thực tế cho thấy, một xã hội an ninh, trật tự và có trình độdân trí cao sẽ an toàn cho hoạt động đầu tu và hoạt động tín dụng của các ngânhàng Và nguợc lại một xã hội thiếu ổn định sẽ gây cản trở cho sự phát triển của các
Trang 32cũng có ảnh hưởng lớn đến chất lượng tín dụng và công tác bảo đảm tín dụng.Trong một xã hội mà dân cư có hành vi văn minh, trình độ dân trí cao, có thói quen
và thông thạo trong việc thực hiện các giao dịch tại ngân hàng, hoạt động ngân hàng
sẽ có cơ hội phát triển tốt, vấn đề rủi ro đạo đức cũng được giảm thiểu Ngược lạimột cộng đồng mà có trình độ dân trí thấp, thiếu hiểu biết và không coi trọng uy tínvà/hoặc không có thói quen sử dụng dịch vụ ngân hàng sẽ là sự cản trở lớn đối vớihoạt động của ngân hàng
Môi trường tự nhiên cũng là một nhân tố có ảnh hưởng tới công tác bảo đảmtín dụng của các ngân hàng Các doanh nghiệp, cá nhân đều hoạt động trong cáckhu vực, các ngành nghề cụ thể mà hoạt động sản xuất kinh doanh của họ dù ít haynhiều cũng chịu sự tác động của môi trường tự nhiên Đối với hoạt động cho vayngân hàng, sự biến động tiêu cực và bất khả kháng của điều kiện tự nhiên có thể gây
ra rủi ro tín dụng cho ngân hàng khi nó gây tổn thất nặng nề và làm mất khả năngtrả nợ của các khách hàng vay vốn Vì vậy, điều kiện tự nhiên cũng có ảnh hưởngnhất định đến chất lượng tín dụng và các thức lựa chọn hình thức bảo đảm tín dụngphù hợp của ngân hàng đối với các doanh nghiệp hoạt động trong từng khu vực,từng ngành nghề cụ thể gắn với điều kiện tự nhiên đó
c Tính đồng bộ và thích hợp của Môi trường pháp lý
Bất kỳ một nền kinh tế nào muốn ổn định và phát triển thì cũng cần có mộthành lang pháp lý thích hợp, hành lang pháp lý chính là bàn tay hữu hình của Nhànước tác động vào nền kinh tế nhằm hướng nền kinh tế phát triển theo đúng mụctiêu, chế độ của mình Hoạt động ngân hàng là một trong những hoạt động kinh tếtrong tổng thể nền kinh tế vì vậy nó cũng chịu ảnh hưởng của hệ thống Pháp luậtnhất là Luật các tổ chức tín dụng Nói đến môi trường pháp lý là nói đến tính đồng
bộ của hệ thống pháp luật, tính đầy đủ, tính thống nhất của các văn bản dưới luật,đồng thời gắn liền với quá trình chấp hành pháp luật và trình độ dân trí
Một môi trường pháp lí đồng bộ, thống nhất, phù hợp với thực tế sẽ tạo hànhlang pháp lí vững chắc, giúp cho hoạt động của các chủ thể của nền kinh tế trong dó
có các ngân hàng được diễn ra thuận lợi và có hiệu quả Đó cũng là cơ sở pháp lí để
Trang 33giải quyết các tranh chấp phát sinh giữa ngân hàng và các bên có liên quan Làm cơ
sở để củng cố lòng tin đuợc bảo vệ quyền lợi của các bên khi tham gia hợp đồng tíndụng Vì vậy, việc triển khai công tác bảo đảm tín dụng trở nên dễ dàng hơn
1.2.2.2 Các nhân tố về phía khách hàng
a Tư cách đạo đức khách hàng
Tu cách đạo đức của khách hàng có ảnh huởng không nhỏ đến hoạt động củabảo đảm tín dụng Khi khách hàng đến ngân hàng vay vốn, họ thuờng có xu huớngche giấu những thông tin không tốt về mình để mong đuợc ngân hàng cho vay.Ngay cả khi tài sản bảo đảm của họ có vấn đề họ cũng không muốn để ngân hàngbiết Nếu khách hàng có hành vi cố tình lừa đảo ngân hàng, cung cấp các thông tinsai sự thật mà ngân hàng không thể kiểm tra đuợc thì ngân hàng sẽ gặp rủi ro rấtcao đồng thời việc đảm bảo tiền vay cũng không có tác dụng gì nữa Ngân hàng cóthể lâm vào tình trạng có tài sản bảo đảm mà cũng nhu không khi tài sản thế chấpthực chất đã hết giá trị hay giấy chứng nhận sở hữu giả mạo
Có nhiều truờng hợp khách hàng cố tình lợi dụng các khe hở của pháp luật
để cố tình chây ỳ, gây khó khăn cho ngân hàng trong việc xử lý tài sản bảo đảmkhiến việc thu hồi nợ của ngân hàng bị kéo dài và nhu vậy là mục đích của bảo đảmtín dụng cũng không thực hiện đuợc Do đó việc thẩm định Khách hàng và tài sảnđảm bảo cần phải rất chặt chẽ, đảm bảo hạn chế rủi ro có thể phát sinh do lừa đảo
họ cũng là nguời bị lừa Vì vậy một khách hàng có năng lực kinh doanh, năng lực
Trang 34tài chính, có uy tín và có tư cách đạo đức tốt thì chất lượng của hoạt động tín dụngnói chung và hoạt động bảo đảm tín dụng nói riêng sẽ được nâng cao
1.2.2.3 Các nhân tố thuộc về ngân hàng
a Chất lượng công tác thẩm định và quy trình bảo đảm tín dụng
Khi quyết định cho vay, ngân hàng phải tính toán đảm bảo theo đúng quyđịnh
của chế độ tín dụng hiện hành để thực hiện đầu tư vốn có hiệu quả Trước khi kýduyệt cho vay phải tính đến sự an toàn, khả năng hoàn trả và khả năng sinh lời củakhoản vay Thực hiện tốt quy trình cho vay và khâu bảo đảm tín dụng sẽ hạn chếđược nhiều bất lợi xảy ra và đảm bảo được độ an toàn của vốn Việc thẩm định tàisản
bảo đảm được thực hiện cẩn thận bao nhiêu thì mức độ thiệt hại của ngân hàng sẽcàng được hạn chế trong trường hợp phải xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ
b Chất lượng nguồn nhân lực và khả năng quản lý điều hành
Chất lượng nguồn nhân lực được cho là nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với
sự tồn tại và phát triển của ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng Sở
dĩ như vậy là vì cán bộ tín dụng là người tham gia trực tiếp vào mọi khâu của quytrình tín dụng, từ bước đầu tiên đến bước cuối cùng, là người quyết định tới hiệu quảcủa việc thực thi các chiến lược, chính sách, quy trình và là những người cải tiến nónhằm nâng cao chất lượng dịch vụ và khả năng cạnh tranh của ngân hàng
Chất lượng nguồn nhân lực được đề cấp dưới hai góc độ: Trình độ chuyênmôn nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp của các cán bộ tín dụng Một đội ngũ nhân
sự có chất lượng là một đội ngũ bao gồm những con người có trình độ chuyên mônnghiệp vụ tốt, có khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi của thị trường, nhạybén, sáng tạo, am hiểu sâu rộng về pháp luật, kinh tế xã hội, đồng thời cũng phải lànhững người tôn trọng và tuân thủ đúng các quy tắc về đạo đức nghề nghiệp Thiếumột trong hai điều đó, đều dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng đến hoạt động kinhdoanh của ngân hàng, như Bác Hồ đã nói "Có tài mà không có đức là người vôdụng, có đức mà không có tài làm việc gì cũng khó" Đối với hoạt động kinh doanhngân hàng, việc những người có tài mà không có đức, không những không đónggóp được cho sự phát triển của ngân hàng, mặt khác còn mang lại những hiểm hoạ
Trang 35đề phát sinh, do đó, vấn đề rủi ro đạo đức là vấn đề được các nhà quản trị hết sứcquan tâm Mặt khác, việc "có đức mà không có tài" cũng là nguyên nhân gây cản trởcho sự phát triển tín dụng Trong môi trường cạnh tranh gay gắt, với yêu cầu ngàycàng cao từ phía khách hàng, thì việc thu thập hồ sơ một cách khoa học, phân tíchmột cách khách quan và hiệu quả trên cơ sở am hiểu sâu sắc tình hình hoạt độngkinh doanh của khách hàng và các yếu tố vĩ mô xung quanh, đưa ra phương án cấptín dụng hợp lý phù hợp với nhu cầu của khách hàng và khả năng quản lý của ngânhàng, với thời gian xử lý nhanh là yếu tố then chốt quyết định đến chất lượng sảnphẩm cung ứng Tuy nhiên, những điều đó chỉ có được với những cán bộ tín dụng
có trình độ, có năng lực
Cùng với chất lượng nguồn nhân lực, công tác quản trị nguồn nhân lực và tổchức hoạt động ngân hàng cũng đóng vai trò quan trọng Một đội ngũ cán bộ tíndụng có trình độ, năng lực và đạo đức tốt, và công tác tổ chức tín dụng được sắpxếp một cách linh hoạt trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc tín dụng, cùng với sự kếthợp chặt chẽ, khoa học, nhịp nhàng giữa khâu là nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới
sự thành công của hoạt động phát triển tín dụng Và ngược lại, sự hạn chế về trình
độ, năng lực và đạo đức của cán bộ tín dụng và sự thiếu khoa học của công tác tổchức hoạt động, sẽ ảnh hưởng xấu đến chất lượng tín dụng, hạn chế trong việc nắmbắt các cơ hội phát triển tín dụng và khả năng phục vụ khách hàng, từ đó làm giảmhiệu quả kinh doanh và làm xấu đi hình ảnh, vị trí của ngân hàng trong mắt kháchhàng, gây khó khăn cho việc phát triển tín dụng
c Hệ thống thông tin tín dụng và trang thiết bị công nghệ
Thông tin là yếu tố không thể thiếu được và là yếu tố quan trọng cho việc raquyết định cho vay cũng như lựa chọn hình thức bảo đảm tín dụng Thông tin ở đây
là thông tin cả về khách hàng lẫn về tài sản bảo đảm Trên cơ sở những thông tin đóngười quản lý có thể đưa ra những quyết định đúng đắn về việc cho vay có tài sảnbảo đảm hoặc không có tài sản bảo đảm, biện pháp quản lý cần thiết để theo dõi thuhồi nợ Nguồn cung cấp thông tin có thể từ bên trong hoặc bên ngoài hệ thống.Muốn có thông tin nhanh, chính xác và toàn diện thì đòi hỏi phải có bộ phận tổnghợp, phân tích và xử lý thông tin, loại trừ thông tin nhiễu Chất lượng thông tin ảnh
Trang 36áp dụng công nghệ thông tin vào việc lưu trữ thông tin, xử lý các nghiệp vụ phátsinh, phát triển các sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao đã và đang được sự quantâm đặc biệt của các ngân hàng và trở thành một lực lượng cạnh tranh trực tiếptrong nền kinh tế hiện đại.
d Chiến lược, định hướng cho vay trong từng thời kì và chế độ quản lý,
xử lý tài sản bảo đảm của ngân hàng :
Trong mỗi thời kì khác nhau, do ảnh hưởng của các quy định hay tình hìnhthị trường cạnh tranh giữa các tổ chức tín dụng mà ngân hàng có những mục tiêu,chiến lược cho vay thông thoáng hay chặt chẽ Nếu ngân hàng cần đẩy mạnh hoạtđộng tín dụng của mình thì ngân hàng sẽ mở rộng danh mục tài sản đảm bảo cũngnhư linh hoạt hơn trong các biện pháp bảo đảm tín dụng, tất nhiên là vẫn phải đảmbảo an toàn Bên cạnh đó công tác bảo quản, quản lý cũng như xử lý tài sản đảmbảo cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả bảo đảm tín dụng Nếu quản lýkhông tốt tài sản bị giảm giá trị, gây mất lòng tin đối với khách hàng khi họ đem tàisản cầm cố, thế chấp đồng thời còn làm giảm doanh thu của ngân hàng khi thanh lýtài sản Như vậy sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả bảo đảm tín dụng của ngân hàng
1.3 KINH NGHIỆM ÁP DỤNG BẢO ĐẢM TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG
1.3.1 Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NNo&PTNT)
Hoạt động tín dụng tại Ngân hàng NNo&PTNT cho thấy các vụ việc saiphạm liên quan đến hoạt động bảo đảm tiền vay tại Ngân hàng này đều xuất phát từ:
Thứ nhất, dư nợ tín dụng tăng trưởng quá nóng, trong khi cho vay dựa chủ
yếu vào các yếu tố tài sản bảo đảm, bảo lãnh, danh tiếng - là những nguồn trả nợthứ yếu - mà không đánh giá nguồn trả nợ chính;
Trang 37Thứ hai, nhiều quy trình nghiệp vụ trong khâu thẩm định tài sản đã bị không
ít cán bộ tín dụng xem nhẹ, thậm chí biến đây trở thành cơ hội để trục lợi bất chínhnhu: lợi dụng chức vụ, quyền hạn để đua cả vàng giả vào để thế chấp, tham ô tài sảncủa ngân hàng nhu vụ Nguyễn Ngọc Tiến, cán bộ Ngân hàng Nông nghiệp và Pháttriển Nông thôn, Chi nhánh Vĩnh Long đã lập hồ sơ đứng tên nguời nhà, đua vànggiả vào cầm cố vay, sau đó chiếm đoạt trên 10 tỉ đồng;
Thứ ba, sự quản lý lỏng lẻo của lãnh đạo Ngân hàng dẫn đến cán bộ lợi dụng
trục lợi: nhận tài sản thế chấp của khách hàng là sổ đỏ nhung không nhập kho quỹ
mà đem cầm cố vay vốn bên ngoài, chiếm đoạt Vụ Võ Thị Hồng Điệp, cán bộ tíndụng Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Chi nhánh Tân Lập (Buôn
Hồ, Đắk Lắk) là một điển hình Lợi dụng nhiệm vụ đuợc giao quản lý 119 hồ sơ thếchấp, Điệp đã lấy 7 sổ đỏ là tài sản thế chấp của khách hàng đem ra ngoài cầm cố đểvay 14 cá nhân hơn 26 tỉ đồng;
Thứ tư, quy trình nghiệp vụ bảo đảm tín dụng của Ngân hàng chua thực sự
phù hợp với các văn bản liên quan đến bảo đảm tiền vay hiện hành của các cơ quanban ngành điển hình là vụ thế chấp hy hữu của Ngân hàng NNo&PTNT đã nhận thếchấp ảo (quyền sử dụng 6 thuơng hiệu thời trang mua từ nuớc ngoài) để doanhnghiệp rút ruột nghìn tỷ thật Khoản nợ vay Ngân hàng NNo&PTNT đầu tu dự ánLuxfashion tính đến ngày 12/10/2012 là hơn 3.099 tỷ đồng Luật Sở hữu Trí tuệcũng không có điều khoản công nhận quyền sở hữu thuơng hiệu có đuợc từ việcmua lại tài sản thế chấp là thuơng hiệu bị ngân hàng phát mại Nhu vậy, Ngân hàngNNo&PTNT sẽ khó bán đuợc 6 thuơng hiệu đã nhận thế chấp của Lifepro ViệtNam Nhận thế chấp tài sản là thuơng hiệu với trị giá 1.464 tỷ đồng, nhung lạikhông chắc chắn với quyền sử dụng tài sản ấy, Ngân hàng NNo&PTNT đã tạo ramột vụ thế chấp hy hữu trong lịch sử ngân hàng Việt Nam Đuơng nhiên khi con nợcao chạy xa bay, còn Ngân hàng NNo&PTNT cũng không thể đứng ra phát mãiquyền sở hữu 6 nhãn hiệu thời trang đó
Trang 381.3.2 Ngân hàng Thương mại cổ phần Ả Châu (ACB)
Thực tế hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại Á Châu cho thấy việccho vay không chặt chẽ cùng với chính sách mở rộng quá tham vọng càng đượckích thích thêm do cạnh tranh trên thị trường dẫn đến coi nhẹ các tiêu chuẩn an toàn
trong hoạt động bảo đảm tiền vay: cho vay đảm bảo bằng chính cổ phiếu của ngân
hàng mình, không thẩm định kỹ càng nhóm khách hàng liên quan là kết quả gây
ra vụ việc bầu Kiên làm thất thoát hàng nghìn tỷ đồng cho ACB Bằng thủ đoạn "lấy
mỡ nó rán nó", Bầu Kiên (ông Nguyễn Đức Kiên) đã vay số tiền hơn 2.400 tỷ đồngcủa ngân hàng ACB; sau đó sử dụng tiền vay mua cổ phần, cổ phiếu của một sốngân hàng, rồi dùng số cổ phần, cổ phiếu đó để thế chấp lại các khoản vay ban đầutại ngân hàng ACB, tạo ra vốn ảo, gây ảnh hưởng xấu đến chính sách tài chính, tiền
tệ của Nhà nước
1.3.3 Các ngân hàng khác
Từ vụ việc các ngân hàng nhận thế chấp hàng hóa lưu kho là cá phi lê đônglạnh tại Khu công nghiệp Trà Nóc, TP Cần Thơ, nhìn từ giác độ pháp lý - kinh tế,
để hạn chế rủi ro khi cho vay có bảo đảm bằng kho hàng thì ngoài việc thẩm định
kỹ hồ sơ vay vốn và tài sản bảo đảm, các ngân hàng cần phải thay đổi cách thức tiếpcận vấn đề trong quá trình xem xét, quyết định việc nhận tài sản bảo đảm:
Một là, bắt buộc phải tìm hiểu thông tin về giao dịch bảo đảm trước khi
quyết định cho khách hàng vay vốn;
Hai là, thực hiện một số kỹ năng nhằm quản lý hiệu quả tài sản thế chấp là
kho hàng như : Bên cho vay sẽ kiểm soát hoàn toàn đối với hàng lưu kho (thường làthuê nhà kho của bên thứ ba) Theo cách thức này thì hàng lưu kho được mua vềbằng tiền của bên cho vay và số hàng đó được cất giữ tại nhà kho của bên thứ bađược bên cho vay lựa chọn Bên cho vay chỉ “giải phóng” hàng lưu kho khi tiền bánhàng đã được thanh toán và gửi vào tài khoản của bên cho vay;
Ba là, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thông qua việc đăng ký
giao dịch bảo đảm tại một trong các Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản
Trang 39Ket luận chương 1
Tín dụng ngân hàng có vai trò to lớn đối với nền kinh tế và bản thân ngânhàng Việc phát triển tín dụng an toàn, hiệu quả là hết sức cần thiết, đặc biệt tronggiai đoạn hiện nay khi nhu cầu về vốn cho việc phát triển kinh tế ngày càng cấpthiết Do đó các ngân hàng cần coi việc phát triển tín dụng song song với việc hoànthiện công tác bảo đảm tín dụng Đây là nhiệm vụ trọng tâm trong quá trình pháttriển của mình, cần thiết lập các cơ chế bảo đảm tín dụng cần thiết để đảm bảo việcphát triển tín dụng nằm trong giới hạn an toàn, đảm bảo tính hiệu quả và bền vững
Trang 40CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN QUÂN ĐỘI
CHI NHÁNH THANH XUÂN 2.1 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG TMCP QUÂN ĐỘI - CHI
NHÁNH THANH XUÂN
2.1.1 Sự ra đời và phát triển của Ngan hàng TMCP Quân Đội - Chi nhánh Thanh Xuân
Ngân hàng TMCP Quân Đội được thành lập theo Quyết định số
0054/NH-GP do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp ngày 14/09/1994 và Giấy chứng nhậnđãng ký kinh doanh số 060297 do Sở kế hoạch và đầu tư thành phố Hà Nội cấpngày 30/09/1994, số vốn điều lệ ban đầu là 20 tỷ đồng với định hướng chủ yếutrong giai đoạn đầu và trung gian tài chính phục vụ các doanh nghiệp Quân độitham gia phát triển kinh tế và thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, cổ đông sáng lậpchủ yếu là các Tong Công ty, Công ty và các nhà máy thuộc Bộ Quoc Phòng
Trải qua hơn 20 năm hoạt động, Ngân hàng TMCP Quân Đội từ những con
SO hết sức khiêm ton: Von điều lệ chỉ có 20 tỷ đồng, duy nhất một trụ sở tại 28AĐiện Biên Phủ - Ba Đình - Hà Nội với 25 nhân viên đen nay đã trở thành một trongnhững ngân hàng TMCP hàng đầu Việt Nam với SO vốn điều lệ ~ 11.594 tỷ đồng,
có 224 chi nhánh, diem giao dịch tại 41 tỉnh thành trên cả nước và 02 chi nhánh tạinước ngoài (Lào, Camphuchia) với trên 6000 nhân viên, cung cấp một danh mụccác loại hình dịch vụ đa dạng, dáp ứng yêu cầu của mọi đối tương trong nền kinh tế
Chi nhánh Thanh Xuân tiền thân là Phòng Giao dịch Thanh Xuân trực thuộc
Sở Giao dịch thành lập năm 1996, là một trong những phòng giao dịch đầu tiênđược thành lập của ngân hàng Quân đội Đặt trụ sở tại 475 Nguyễn Trãi, ThanhXuân, Hà Nội, nhiệm vụ ban đầu của Phòng giao dịch Thanh Xuân là chăm sóc,phục vụ đối tượng Khách hàng là các doanh nghiệp Quân đội trên địa bàn, đặc biệt
là Tong Công ty Xây dựng Trường Sơn - một trong những Tong Công ty lớn trựcthuộc Bộ Quoc Phòng hoạt động trong lĩnh vực xây lắp Cùng với quá trình pháttriển của Ngân hàng Quân Đội, quy mô và lĩnh vực tài trợ của Phòng giao dịchThanh Xuân ngày cảng mở rộng; từ một Phòng giao dịch với quy mô nhỏ không có