1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về hoạt động chiết khấu hối phiếu của ngân hàng thương mại tại Việt Nam

90 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề (Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về hoạt động chiết khấu hối phiếu của ngân hàng thương mại tại Việt Nam
Tác giả Tạ Hồng Hạnh
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật
Thể loại luận văn thạc sĩ
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 8,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về hoạt động chiết khấu hối phiếu của ngân hàng thương mại tại Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về hoạt động chiết khấu hối phiếu của ngân hàng thương mại tại Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về hoạt động chiết khấu hối phiếu của ngân hàng thương mại tại Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về hoạt động chiết khấu hối phiếu của ngân hàng thương mại tại Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về hoạt động chiết khấu hối phiếu của ngân hàng thương mại tại Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về hoạt động chiết khấu hối phiếu của ngân hàng thương mại tại Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về hoạt động chiết khấu hối phiếu của ngân hàng thương mại tại Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về hoạt động chiết khấu hối phiếu của ngân hàng thương mại tại Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về hoạt động chiết khấu hối phiếu của ngân hàng thương mại tại Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về hoạt động chiết khấu hối phiếu của ngân hàng thương mại tại Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về hoạt động chiết khấu hối phiếu của ngân hàng thương mại tại Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về hoạt động chiết khấu hối phiếu của ngân hàng thương mại tại Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về hoạt động chiết khấu hối phiếu của ngân hàng thương mại tại Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về hoạt động chiết khấu hối phiếu của ngân hàng thương mại tại Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về hoạt động chiết khấu hối phiếu của ngân hàng thương mại tại Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về hoạt động chiết khấu hối phiếu của ngân hàng thương mại tại Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về hoạt động chiết khấu hối phiếu của ngân hàng thương mại tại Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về hoạt động chiết khấu hối phiếu của ngân hàng thương mại tại Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về hoạt động chiết khấu hối phiếu của ngân hàng thương mại tại Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về hoạt động chiết khấu hối phiếu của ngân hàng thương mại tại Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về hoạt động chiết khấu hối phiếu của ngân hàng thương mại tại Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về hoạt động chiết khấu hối phiếu của ngân hàng thương mại tại Việt Nam

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia

Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Tạ Hồng Hạnh

Trang 2

MỤC LỤC

LờI CAM ĐOAN

DANH MụC CÁC CHữ VIếT TắT

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HỐI PHIẾU VÀ CHIẾT KHẤU HỐI PHIẾU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 6

1.1 Sự ra đời và phát triển của hối phiếu và pháp luật về hối phiếu 6

1.1.1 Sự ra đời và phát triển của hối phiếu 6

1.1.2 Sự ra đời và phát triển của pháp luật về Hối phiếu 7

1.2 Khái niệm, đặc điểm, phân loại và vai trò của hối phiếu và chiết khấu hối phiếu của ngân hàng thương mại 10

1.2.1 Khái niệm hối phiếu 10

1.2.2 Các đặc điểm cơ bản của hối phiếu: 14

1.2.3 Phân loại hối phiếu 15

1.2.4 Vai trò của Hối phiếu 18

1.2.5 Khái niệm chiết khấu hối phiếu của ngân hàng thương mại 23

1.2.6 Các đặc trưng cơ bản của hoạt động chiết khấu hối phiếu của ngân hàng thương mại 24

1.2.7 Vai trò của hoạt động chiết khấu hối phiếu của ngân hàng thương mại 27

1.3 Nguyên tắc và phương thức chiết khấu hối phiếu của ngân hàng thương mại 29

1.3.1 Nguyên tắc chiết khấu hối phiếu của ngân hàng thương mại 29

1.3.2 Các phương thức chiết khấu hối phiếu của ngân hàng thương mại 30 1.3.2.1 Phương thức mua có bảo lưu quyền truy đòi 32

1.3.2.2 Phương thức chiết khấu hối phiếu có kỳ hạn 32

1.4 Phân biệt hoạt động chiết khấu hối phiếu và cầm cố hối phiếu của ngân hàng thương mại 34

1.5 Phân biệt giữa hoạt động chiết khấu hối phiếu của ngân hàng thương mại và hoạt động chiết khấu hối phiếu của Ngân hàng nhà nước Việt Nam 37

Kết luận Chương 1 44

Trang 3

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CHIẾT

KHẤU HỐI PHIẾU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 45

2.1 Trình tự, thủ tục thực hiện hoạt động chiết khấu hối phiếu của ngân hàng thương mại 45

2.2 Chủ thể tham gia hoạt động chiết khấu hối phiếu của ngân hàng thương mại 50

2.2.1 Bên nhận chiết khấu: 51

2.2.2 Bên được chiết khấu: 52

2.2.3 Quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hoạt động chiết khấu hối phiếu 53

1.2.3.1 Quyền và nghĩa vụ của bên nhận chiết khấu: 53

2.2.3.2 Quyền và nghĩa vụ của bên được chiết khấu 54

2.3 Hợp đồng chiết khấu hối phiếu 56

2.3.1 Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng chiết khấu hối phiếu 56

2.3.2 Các loại hợp đồng chiết khấu hối phiếu 58

2.3.3 Hình thức và nội dung của hợp đồng chiết khấu hối phiếu 61

2.3.3.1 Hình thức của hợp đồng chiết khấu hối phiếu 61

2.3.3.2 Nội dung của hợp đồng chiết khấu hối phiếu 61

Kết luận Chương 2 71

Chương 3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CHIẾT KHẤU HỐI PHIẾU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM 72

3.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về hoạt động chiết khấu hối phiếu của ngân hàng thương mại tại Việt Nam 72

3.2 Một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về hoạt động chiết khấu hối phiếu của ngân hàng thương mại tại Việt Nam 75

Kết luận Chương 3 82

KẾT LUẬN 83

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 84

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 5

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Kinh tế Việt Nam sau gần ba mươi năm đổi mới đã đạt được rất nhiều thành tựu to lớn Việt nam ngày nay được biết đến như một nền kinh tế đang nổi với tốc độ tăng trưởng cao và ổn định, ngành tài chính - ngân hàng của Việt Nam những năm trở lại đây đã có những bước phát triển rất mạnh mẽ, góp phần làm thay đổi đáng kể diện mạo nền kinh tế đất nước Nhưng không thể chỉ dừng lại ở đó, các ngân hàng thương mại Việt Nam cần phải nâng cao quy mô và năng lực của mình hơn nữa để có thể bắt kịp với sự phát triển của các ngân hàng trên thế giới Chính vì vậy, đa dạng hóa và phát triển các hoạt động, dịch vụ ngân hàng là một đòi hỏi cấp thiết của bất cứ ngân hàng nào trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh hiện nay Một trong các sản phẩm dịch

vụ đó là chiết khấu hối phiếu

Hoạt động chiết khấu hối phiếu là một trong những nghiệp vụ cấp tín dụng cổ điển của các ngân hàng thương mại trên thế giới Nhưng ở nước ta hoạt động chiết khấu hối phiếu tại các ngân hàng thương mại còn diễn ra khá

ít, thậm chí có nhiều ngân hàng chưa triển khai nghiệp vụ cấp tín dụng bằng chiết khấu hối phiếu Việc ghi nhận hoạt động chiết khấu hối phiếu với tư cách là một trong những hình thức cấp tín dụng của ngân hàng thương mại trong Luật các Tổ chức tín dụng năm 1997 đã tạo ra cơ sở pháp lý ban đầu cho việc xác lập và thực hiện giao dịch này trên thực tế, đảm bảo quyền lợi cho các chủ thể khi tham gia giao dịch Để điều chỉnh một cách chi tiết và hiệu quả hơn hoạt động chiết khấu hối phiếu của ngân hàng thương mại đối với khách hàng, các nhà làm luật đã cụ thể hóa hoạt động này không những trong các văn bản luật mà còn thể hiện cả ở văn bản dưới luật Đặc biệt với việc Ngân hàng Nhà nước ban hành Quyết định số 63/2006/QĐ-NHNN quy

Trang 6

2

định về việc chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng của tổ chức tín dụng đối với khách hàng đã tạo một hành lang pháp lý cụ thể và rõ ràng hơn cho nghiệp vụ chiết khấu hối phiếu của các Ngân hàng thương mại Bên cạnh

đó, gần đây Thông tư số 04/2013/TT-NHNN ngày 01/3/2013 Quy định về hoạt động chiết khấu công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng đã thay thế Quyết định số 63 nêu trên Có thể nói, đây là văn bản có nhiều điểm tiến bộ

hơn Quyết định số 63, tuy nhiên, bên cạnh những điểm tích cực còn các điểm

hạn chế nhất định cần khắc phục và hoàn thiện Hiện nay thị trường hối phiếu cũng như hoạt động chiết khấu Hối phiếu diễn ra chưa phổ biến Chế tài đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực sử dụng Hối phiếu và chiết khấu Hối phiếu chưa được qui định cụ thể Hối phiếu chưa phát huy được vai trò là một loại công cụ chuyển nhượng trên thị trường, là cầu nối trong tín dụng thương mại Mặt khác trong thực tiễn có rất nhiều học giả nghiên cứu hoạt động này dưới góc độ kinh tế học, chỉ đơn thuần tìm hiểu nó với tư cách là một nghiệp

vụ kinh doanh ngân hàng với những đặc thù mang tính chất kỹ thuật kinh tế, nhưng lại có rất ít các tài liệu nghiên cứu về bản chất pháp lý cũng như tính

ưu việt của hoạt động này khiến cho các ngân hàng thương mại rất ít lựa chọn hình thức này để cấp tín dụng cho khách hàng Do vậy việc nghiên cứu để làm

rõ thực trạng pháp luật, những điểm bất cập và hạn chế, trên cơ sở đó nêu ra các giải pháp hoàn thiện và vận dụng một cách có hiệu quả những quy định của pháp luật về chiết khấu hối phiếu là rất cần thiết, nhằm tạo điều kiện cho các ngân hàng thương mại phát triển được hoạt động chiết khấu, trên cơ sở đó thúc đẩy hoạt động thương mại của doanh nghiệp

Trên đây là lý do tôi chọn đề tài “Pháp luật về hoạt động chiết khấu hối phiếu của ngân hàng thương mại tại Việt Nam” làm đề tài luận văn tốt

nghiệp của mình

Trang 7

3

2 Tình hình nghiên cứu đề tài:

Cho đến thời điểm hiện nay đã có một số công trình nghiên cứu về hối

phiếu như bài báo của TS Lê Hoàng Nga “Thương phiếu ở Việt nam, đôi

điều cần trao đổi - Tạp chí Thị trường Tài chính tiền tệ 7/2002"; Đỗ Thị

Hồng Hạnh “Một số bất cập của các quy định pháp luật về thương phiếu hiện

nay - Tạp chí Ngân hàng, số 5/2002”; Lê Văn Hải “Tín dụng thương mại góp phần thoả mãn nhu cầu vốn của nền kinh tế - Tạp chí Thị trường tài chính - tiền tệ số 4/1999”; Nguyễn Hải Hà “Thương phiếu với vấn đề lạnh mạnh hoá hoạt động tiền tệ - Tạp chí Thị trường tài chính 7/1999”; TS.Đinh

Dũng Sỹ “Khái niệm thương phiếu và Pháp lệnh thương phiếu – Tạp chí Nhà

nước và pháp luật, 7/2000” Ngoài ra, giáo trình Luật Ngân hàng Việt nam,

Khoa Luật - ĐHQGHN, Nhà xuất bản ĐHQGHN, Hà nội 2005 cũng đã có những phân tích cụ thể về hoạt động tín dụng của tổ chức tín dụng nói chung

và hoạt động chiết khấu Hối phiếu và giấy tờ có giá nói riêng; Bên cạnh đó, cuốn sách của GS Đinh Xuân Trình, Giáo trình thanh toán quốc tế trong ngoại thương, NXB Giáo dục năm 2002; cuốn sách của tác giả Phạm Minh, Luật thương phiếu, Nhà xuất bản thống kê, 2002 cũng thể hiện nghiên cứu sâu

về Hối phiếu Tuy nhiên, phần lớn hoạt động chiết khấu Hối phiếu của ngân hàng thương mại chưa được phân tích rõ trong bất kỳ một công trình nghiên cứu nào Các tác giả mới chỉ dừng lại ở những vấn đề lý luận chung về Hối phiếu và chiết khấu Hối phiếu, chưa nêu bật được thực trạng pháp luật về vấn

đề này ở Việt Nam, những bất cập và các giải pháp hoàn thiện Đặc biệt, chưa

có công trình nào nghiên cứu về hoạt động chiết khấu hối phiếu từ khi ban hành Thông tư 04/2013/TT – NHNN Vì vậy, một công trình nghiên cứu toàn diện các vấn đề về pháp luật chiết khấu Hối phiếu của ngân hàng thương mại tại Việt Nam hiện nay là cần thiết, nhằm tạo cơ sở cho việc phát triển hoạt động thương mại trong nền kinh tế và tạo sự luân chuyển vốn nhịp nhàng giữa những người thừa và thiếu vốn

Trang 8

4

3 Mục đích, đối tƣợng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu

- Trong khuôn khổ của luận văn, mục đích nghiên cứu của đề tài được xác định như sau:

Thứ nhất làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về Hối phiếu và chiết khấu Hối phiếu của ngân hàng thương mại

Thứ hai nghiên cứu, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật hiện hành về hoạt động chiết khấu hối phiếu của ngân hàng thương mại Việt Nam,

so sánh hoạt động chiết khấu hối phiếu với hoạt động cầm cố hối phiếu của Ngân hàng thương mại, so sánh giữa hoạt động chiết khấu hối phiếu của ngân hàng thương mại đối với khách hàng và chiết khấu, tái chiết khấu hối phiếu của ngân hàng Nhà nước đối với các ngân hàng để từ đó hiểu hơn về bản chất của hoạt động chiết khấu hối phiếu của ngân hàng thương mại

Thứ ba phát hiện những điểm bất cập của pháp luật về chiết khấu Hối phiếu để từ đó nêu ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về hoạt động chiết khấu Hối phiếu của ngân hàng thương mại tại Việt Nam hiện nay

- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là các qui định pháp luật về chiết khấu Hối phiếu tại Ngân hàng thương mại Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung làm rõ các vấn đề như lịch sử hình thành, phát triển của Hối phiếu và pháp luật về Hối phiếu, pháp luật về hoạt động chiết khấu Hối phiếu, vai trò của hoạt động chiết khấu hối phiếu đối với ngân hàng và khách hàng; Đánh giá những bất cập trong thực trạng pháp luật về hoạt động chiết khấu hối phiếu của ngân hàng thương mại tại Việt Nam để từ đó nêu lên một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về hoạt động chiết khấu hối phiếu của ngân hàng thương mại Việt Nam

Trang 9

5

4 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở của phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đề tài sử dụng các phương pháp chủ yếu sau để làm rõ các nội dung trong đề tài: phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh Các phương pháp này được sử dụng xuyên suốt luận văn gắn với từng nội dung nghiên cứu của đề tài

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được bố cục thành ba chương cụ thể như sau:

Chương 1: Những vấn đề cơ bản về hối phiếu và chiết khấu hối phiếu của ngân hàng thương mại

Chương 2: Thực trạng pháp luật về hoạt động chiết khấu hối phiếu của ngân hàng thương mại tại Việt Nam

Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về hoạt động chiết khấu hối phiếu của ngân hàng thương mại tại Việt Nam

Trang 10

6

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HỐI PHIẾU VÀ CHIẾT KHẤU

HỐI PHIẾU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 Sự ra đời và phát triển của hối phiếu và pháp luật về hối phiếu

1.1.1 Sự ra đời và phát triển của hối phiếu

Hối phiếu (bao gồm hối phiếu đòi nợ và hối phiếu nhận nợ) Trước đây Hối phiếu được gọi là thương phiếu Hối phiếu ra đời khi nền kinh tế hàng hóa ngày càng phát triển, việc giao lưu buôn bán cả nội địa và quốc tế của các thương nhân diễn ra ngày càng mạnh mẽ Nhưng không phải lúc nào người mua cũng có tiền mặt để thanh toán cho người bán vì vậy mà họ phải tìm ra một giải pháp phù hợp đó là mua bán chịu, tức là thỏa thuận người bán giao hàng trước, còn người mua sẽ thanh toán sau khi nhận hàng với một thời hạn nhất định theo sự thỏa thuận của các bên, từ đó tín dụng thương mại được hình thành và tín dụng thương mại được thể hiện qua việc tạo lập và thanh toán bằng hối phiếu Hối phiếu chính là một phương tiện thanh toán thay cho tiền mặt mà các thương nhân đã sáng tạo ra." Hối phiếu ra đời từ thế kỷ XII khi nền kinh tế hàng hóa đã phát triển phá vỡ kiểu sản xuất tự cung tự cấp đã tồn tại hàng ngàn năm" [30]

Trong nền kinh tế thị trường, tín dụng thương mại nói chung và hối phiếu nói riêng có vai trò rất to lớn Một mặt, nó được sử dụng như phương tiện thanh toán để thực hiện nghĩa vụ thanh toán trong quan hệ mua bán chịu, trả chậm Mặt khác, thông qua việc phát hành và lưu thông hối phiếu, hối phiếu được sử dụng như một công cụ tín dụng giữa người ký phát và người bị

ký phát, giữa người ký phát và người thụ hưởng, giữa người thụ hưởng và ngân hàng chiết khấu Đồng thời, việc thể hiện quan hệ tín dụng thương mại bằng hối phiếu tạo ra cơ sở quan trọng để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia

Trang 11

7

"Trong lịch sử, hối phiếu được biết đến từ rất xa xưa, như là bản ghi nhận khoản nợ khi các thương gia mua bán hàng hóa chịu Các thương gia ở thành phố cảng Italia là những người đầu tiên phát hành, sử dụng thương phiếu ở thế kỷ XII Các chứng chỉ này được ghi nhận là thương phiếu đầu tiên được phát hành và sử dụng" [30]

Việc sử dụng hối phiếu trở thành phổ biến ở thế kỷ XVI, khi hối phiếu

đã được chuyển nhượng Thông qua hình thức chuyển nhượng, hối phiếu đã được sử dụng như một phương tiện thanh toán trong quan hệ thương mại, mua bán hàng hóa Ngày nay, hối phiếu được sử dụng rộng rãi như là phương tiện thanh toán trong quan hệ thương mại quốc tế và trong quan hệ thương mại nội địa của hầu hết các quốc gia trên thế giới Ngoài ra hối phiếu còn được sử dụng rộng rãi trong các giao dịch vay nợ quốc tế như là văn bản cam kết nhận

nợ và cam kết thanh toán đối với các khoản vay [30]

Cùng với sự phát triển kinh tế, thương mại và công nghệ, hối phiếu ngày càng hoàn thiện hơn về hình thức và nội dung, dần thoát ly khỏi cơ sở kinh tế ban đầu của nó là quan hệ thương mại, nghĩa là, sau khi được ký phát hối phiếu trở thành một loại giấy tờ có giá có hiệu lực độc lập hoàn toàn với giao dịch kinh tế “sản sinh” ra nó Vì là chứng từ có giá lại chuyển nhượng được, nên hối phiếu không chỉ dừng lại ở quan hệ tín dụng thương mại mà còn được sử dụng trong quan hệ tín dụng ngân hàng, chiết khấu, cầm cố, thế chấp và là phương tiện thanh toán trong các giao dịch khác Hơn nữa, ngày nay hối phiếu còn trở thành một loại hàng hóa để mua bán trên thị trường tiền

tệ, đặc biệt ở một số nước, việc mua bán hối phiếu đã phát triển mạnh thành một thị trường riêng biệt

1.1.2 Sự ra đời và phát triển của pháp luật về Hối phiếu

Để Hối phiếu trở thành phương tiện thanh toán và nâng cao hiệu quả sử dụng của hối phiếu, ngoài việc phải chứng chỉ hóa hối phiếu thì pháp luật về

Trang 12

8

hối phiếu và các hoạt động thương mại liên quan đến hối phiếu cần phải được ban hành đầy đủ và hoàn thiện hơn Thực tế thì hầu hết các quốc gia trên thế giới đã ban hành luật về hối phiếu Tuy nhiên, ngày nay thương mại quốc tế

đã phát triển rất nhiều, từ đó làm phát sinh nhu cầu sử dụng hối phiếu làm phương tiện thanh toán quốc tế gia tăng, do đó nếu không có sự quy định thống nhất pháp luật về hối phiếu trong khi Người ký phát và Người bị ký phát lại ở hai quốc gia khác nhau thì việc sử dụng và thanh toán hối phiếu sẽ rất khó khăn Vì vậy, yêu cầu đặt ra là phải xây dựng một Luật quốc tế thống nhất về hối phiếu

Hội nghị về Luật hối phiếu được tổ chức tại Den Haag năm 1912 đã ra kiến nghị về việc cần ký kết một hiệp định giữa các nước, trong đó, các nước thành viên cam kết sẽ soạn thảo và thi hành pháp lệnh hối phiếu ở nước mình Tại thời điểm đó, Mỹ và Khối liên hiệp Anh đã tự tách khỏi cam kết thống nhất này Tuy nhiên do xảy ra thế chiến lần thứ nhất nên các nước dự hội nghị không thể đi tới việc ký hiệp định về Luật hối phiếu

Tới năm 1930, hội nghị về Luật hối phiếu được tổ chức tại Geneve, các nước thành viên đã phê chuẩn Công ước về Luật hối phiếu, gọi là Công ước Geneve 1930 về Luật hối phiếu thống nhất (Uniform Law for Bills of Exchange – Geneve Convention 1930, ULB 1930)

Ngày nay, Luật hối phiếu thống nhất ULB 1930 có hiệu lực tại tất cả các nước (ngoại trừ Anh) Nhiều nước khác mặc dù không tham gia công ước Geneve, nhưng vẫn xây dựng Luật hối phiếu của họ tương thích với ULB

1930, chính điều đó càng làm cho tính hiệu lực quốc tế của ULB ngày càng được thừa nhận trong cuộc sống

Ở Việt Nam, thời kỳ phong kiến, nền kinh tế Việt Nam "là nền kinh tế

tự cung, tự cấp, bế quan tỏa cảng" [30], các quy định pháp luật về kinh doanh thương mại còn chưa được chú trọng ban hành, do đó hối phiếu chưa ra đời ở Việt Nam trong thời kỳ này

Trang 33

29

đó có nghĩa là khi thực hiện chiết khấu, số tiền cấp cho khách hàng có thể chuyển sang tài khoản tiền gửi của khách hàng, nếu chưa thực sự cần thì khách hàng sẽ không rút ngay tiền mặt trong tài khoản của mình và như vậy

đã tạo ra nguồn vốn mới cho ngân hàng để cho vay Chính điều này đã hấp dẫn các ngân hàng trong việc thực hiện nghiệp vụ chiết khấu hơn các nghiệp

vụ tín dụng khác

1.3 Nguyên tắc và phương thức chiết khấu hối phiếu của ngân hàng thương mại

1.3.1 Nguyên tắc chiết khấu hối phiếu của ngân hàng thương mại

Việc chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng của tổ chức tín

dụng đối với khách hàng phải đảm bảo các nguyên tắc sau đây:

- Nguyên tắc thỏa thuận giữa ngân hàng thương mại và khách hàng xin chiết khấu: Điều này có nghĩa là hoạt động chiết khấu của NHTM được thực hiện dựa trên cơ sở sự tự do ý chí của các bên – ngân hàng và khách hàng Các bên thỏa thuận các điều khoản về nội dung của hợp đồng chiết khấu NHTM và khách hàng thỏa thuận trong hợp đồng chiết khấu việc thanh toán tiền chiết khấu trước hạn, thu phí hoặc không thu phí khi khách hàng thanh toán tiền chiết khấu trước hạn

Theo Khoản 1 Điều 3 Thông tư 04/2013/TT-NHNN thì “Hợp đồng

chiết khấu công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác là văn bản thỏa thuận giữa tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và khách hàng nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên về việc chiết khấu (sau đây gọi tắt là hợp đồng chiết khấu) [18]” Vậy có thể thấy, hoạt

động chiết khấu hối phiếu là hoạt động tự nguyện của các bên Không bên nào

có quyền áp đặt ý chí, bắt buộc bên kia phải thực hiện Đây là nguyên tắc rất quan trọng, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích tối đa của các chủ thể tham gia quan hệ chiết khấu hối phiếu

Trang 34

30

- Nguyên tắc khách hàng phải sử dụng tiền chiết khấu để thanh toán các giao dịch mà pháp luật không cấm, đảm bảo khả năng tài chính để mua lại công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác hoặc thanh toán đầy đủ số tiền chiết khấu, lãi chiết khấu và các chi phí hợp pháp khác cho ngân hàng thương mại Nguyên tắc này gắn liền với mục đích chiết khấu của khách hàng là huy động được nguồn vốn nhất định để đầu tư, kinh doanh vào các ngành nghề, giao dịch mà pháp luật không cấm Tuy nhiên, trong trường hợp chiết khấu có

kỳ hạn thì khách hàng không những phải thanh toán đầy đủ lãi suất, phí chiết khấu, mà còn phải bảo đảm khả năng tài chính để mua lại hối phiếu khi đến hạn theo thỏa thuận trong hợp đồng chiết khấu Điều này nhằm đảm bảo sự an toàn cho ngân hàng thương mại khi thực hiện chiết khấu hối phiếu của khách hàng

- Nguyên tắc phân định trách nhiệm giữa khâu thẩm định và quyết định thực hiện hoạt động chiết khấu công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của ngân hàng thương mại Nguyên tắc này đòi hỏi khi chiết khấu, NHTM phải thẩm định kỹ hồ sơ chiết khấu, tách biệt giữa khâu thẩm định và khâu quyết định chiết khấu Thẩm định được thực hiện bởi hội đồng thẩm định riêng, còn quyết định chiết khấu được khẳng định bởi văn bản dựa trên kết quả thẩm định Việc thẩm định sai, dẫn đến thất thoát nguồn vốn của ngân hàng khi chiết khấu thì người thẩm định hoàn toàn phải chịu trách nhiệm về vấn đề này

1.3.2 Các phương thức chiết khấu hối phiếu của ngân hàng thương mại

Chiết khấu hối phiếu là một hình thức cấp tín dụng của ngân hàng thương mại, được hình thành trên cơ sở thỏa mãn nhu cầu cần vốn cấp thời của người sở hữu hối phiếu, khi mà họ không thể đòi tiền người mắc nợ vì hối phiếu chưa đến hạn thanh toán Đôi khi khách hàng cần một khoản vốn cấp thời để sản xuất, kinh doanh hoặc để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng nhưng lại

Trang 35

31

không muốn bán hẳn hối phiếu mà mình đang sở hữu cho Ngân hàng hoặc cũng có trường hợp người sở hữu hối phiếu muốn bán hẳn hối phiếu cho Ngân hàng để giải quyết nỗi lo hối phiếu không được thanh toán đủ và đúng thời hạn Trong trường hợp như vậy khách hàng có thể bán hẳn hối phiếu cho ngân hàng hoặc bán hối phiếu cho ngân hàng nhưng cam kết sẽ mua lại chính hối phiếu mà họ đã bán vào một ngày nhất định trong tương lai, theo giá cả do

hai bên thỏa thuận trước

Xuất phát từ nhu cầu thực tế trên, nhà làm luật đã dự liệu hai phương thức chiết khấu hối phiếu, bao gồm phương thức chiết khấu toàn bộ thời hạn còn lại của hối phiếu và phương thức chiết khấu một phần còn lại của hối phiếu Hai phương thức chiết khấu này được quy định cụ thể ở điều 10 TT 04/2013/TT - NHNN như sau:

Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và khách hàng thỏa thuận, lựa chọn các phương thức chiết khấu sau đây:

1 Mua có kỳ hạn công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác là việc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài mua và nhận chuyển nhượng quyền sở hữu công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác chưa đến hạn thanh toán từ khách hàng, đồng thời khách hàng cam kết sẽ mua lại công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác đó sau một khoảng thời gian được xác định tại hợp đồng chiết khấu

2 Mua có bảo lưu quyền truy đòi công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác là việc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài mua và nhận quyền sở hữu công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác chưa đến hạn thanh toán từ khách hàng; khách hàng phải có trách nhiệm hoàn trả đối với

số tiền chiết khấu, lãi chiết khấu và các chi phí hợp pháp khác có liên quan đến hoạt động chiết khấu trong trường hợp tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không nhận được đầy đủ số tiền được thanh toán từ người

có trách nhiệm thanh toán công cụ chuyển nhượng, người phát hành giấy tờ

có giá khác [18]

Trang 36

32

1.3.2.1 Phương thức mua có bảo lưu quyền truy đòi

Theo phương thức này, ngân hàng cam kết mua hẳn hối phiếu của khách hàng theo giá chiết khấu do các bên thỏa thuận dựa trên giá trị thanh toán ghi trên hối phiếu Trên cơ sở hợp đồng chiết khấu, khách hàng có nghĩa

vụ phải chuyển giao ngay quyền sở hữu hối phiếu cho ngân hàng nhận chiết khấu mà không có bất cứ một cam kết nào liên quan đến việc mua lại hối phiếu đó Khi đến hạn thanh toán, ngân hàng thương mại xuất trình hối phiếu

đó với tư cách là người sở hữu để yêu cầu người bị ký phát hoặc người phát hành thanh toán số tiền ghi trên hối phiếu Tuy nhiên, khi NHTM không nhận được đầy đủ số tiền được thanh toán từ người có trách nhiệm thanh toán thì NHTM có quyền truy đòi toàn bộ số tiền đã chiết khấu từ khách hàng xin chiết khấu

Như vậy, bản chất của phương thức chiết khấu này là khách hàng và ngân hàng thương mại thỏa thuận mua bán hẳn hối phiếu với toàn bộ thời hạn thanh toán còn lại của hối phiếu Ngân hàng trở thành chủ sở hữu của hối phiếu sau khi đã thanh toán tiền cho khách hàng và khách hàng làm thủ tục chuyển giao quyền sở hữu hối phiếu đó cho ngâng hàng Ngân hàng sẽ được hưởng toàn bộ quyền lợi phát sinh từ hối phiếu đó với tư cách là người sở hữu mới của hối phiếu mà không bị bất cứ sự hạn chế nào về khả năng định đoạt hối phiếu

1.3.2.2 Phương thức chiết khấu hối phiếu có kỳ hạn

Trong thực tế, đôi khi khách hàng có nhu cầu vốn cấp thời và chỉ muốn bán hối phiếu cho ngân hàng trong một thời hạn nhất định để có thể có một khoản vốn cần thiết và cam kết hết thời hạn đó thì khách hàng sẽ mua lại chính hối phiếu đó từ ngân hàng

Đối với phương thức chiết khấu này các bên đã thỏa thuận hai vấn đề

cơ bản sau:

Trang 37

33

Một là, khách hàng cam kết bán hối phiếu cho ngân hàng trong một thời hạn nhất định với giá cả do hai bên thỏa thuận ngay ở thời điểm ký kết hợp đồng Với cam kết này khách hàng phải có nghĩa vụ chuyển giao hối phiếu cho ngân hàng cầm giữ và quản lý như một chủ sở hữu, nhưng chủ sở hữu này bị hạn chế quyền định đoạt Đồng thời khách hàng có quyền yêu cầu ngân hàng thanh toán ngay cho mình khoản tiền bán hối phiếu theo giá cả đã được hai bên thỏa thuận

Hai là, khách hàng cam kết sẽ mua lại hối phiếu đó từ ngân hàng thương mại khi thời hạn bán kết thúc Với cam kết này khách hàng được quyền ưu tiên mua lại hối phiếu so với người thứ ba, đồng thời ngân hàng có nghĩa vụ phải bán lại hối phiếu đó cho khách hàng trong thời hạn đã cam kết, theo giá cả các bên thỏa thuận trước Nếu kết thúc thời hạn thỏa thuận mua lại

mà khách hàng không thực hiện việc mua lại thì khi đó họ mất quyền ưu tiên mua lại hối phiếu của họ và khi đó ngân hàng cũng không còn bị ràng buộc với nghĩa vụ phải bán lại hối phiếu đó cho khách hàng, đồng thời ngân hàng có toàn quyền định đoạt đối với hối phiếu theo ý chí của chính mình chứ không còn bị chi phối bởi cam kết bán lại với khách hàng được chiết khấu nữa

Như vậy có thể thấy điểm khác nhau cơ bản giữa phương thức chiết khấu có bảo lưu quyền truy đòi và chiết khấu có kỳ hạn của hối phiếu là ở quyền sở hữu hối phiếu của ngân hàng nhận chiết khấu Ở phương thức chiết khấu có bảo lưu quyền truy đòi , ngân hàng sẽ được sở hữu ngay hối phiếu kể

từ khi khách hàng hoàn thành thủ tục chuyển giao quyền sở hữu Còn trong phương thức chiết khấu có kỳ hạn, nếu sau thời hạn chiết khấu mà khách hàng không mua lại hối phiếu theo thỏa thuận thì ngân hàng mới là chủ sở hữu đầy

đủ đối với hối phiếu và được hưởng toàn bộ quyền lợi phát sinh từ hối phiếu

đó Ngoài ra, trong phương thức chiết khấu có bảo lưu quyền truy đòi, ngân hàng luôn được đảm bảo khả năng thanh toán tiền đã chiết khấu kể cả khi

Trang 38

Theo quy định tại Điều 326 của Bộ Luật dân sự 2005 về cầm cố tài sản

thì “Cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản

thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố)

để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự” [22]

Theo quy định của Luật các công cụ chuyển nhượng 2005 thì Người thụ hưởng hối phiếu có quyền cầm cố hối phiếu tại ngân hàng để bảo đảm cho một khoản vay tại Ngân hàng, các quy định về cầm cố hối phiếu được quy định cụ thể như sau:

“Điều 36 Quyền được cầm cố hối phiếu đòi nợ: Người thụ hưởng có quyền cầm cố hối phiếu đòi nợ theo quy định tại Mục này và các quy định khác của pháp luật có liên quan

Điều 37 Chuyển giao hối phiếu đòi nợ để cầm cố:Người cầm cố hối phiếu đòi nợ phải chuyển giao hối phiếu đòi nợ cho người nhận cầm cố Thoả thuận về cầm cố hối phiếu đòi nợ phải được lập thành văn bản

Điều 38 Xử lý hối phiếu đòi nợ được cầm cố: Khi người cầm cố hoàn thành nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố hối phiếu đòi nợ thì người nhận cầm cố phải hoàn trả hối phiếu đòi nợ cho người cầm cố Trong trường hợp người cầm cố không thực hiện đầy đủ, đúng hạn nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm

cố hối phiếu đòi nợ thì người nhận cầm cố trở thành người thụ hưởng hối phiếu đòi

nợ và được thanh toán theo nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố” [21]

Theo quy định của Bộ Luật dân sự 2005 thì Hợp đồng cầm cố tài sản, giấy tờ có giá nói chung và hợp đồng cầm cố hối phiếu nói riêng được xác lập nhằm đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của chủ thể mang nghĩa vụ trong hợp đồng

Trang 39

35

chính Tuy hợp đồng cầm cố là hợp đồng phái sinh từ hợp đồng chính, nhưng không phải trong mọi trường hợp hợp đồng chính vô hiệu thì hợp đồng cầm

cố vô hiệu theo Điều này chỉ đúng khi các bên có thỏa thuận

Hình thức bắt buộc của hợp đồng cầm cố hối phiếu là phải được lập thành văn bản, có thể lập thành một bản hợp đồng riêng, hoặc có thể ghi trong hợp đồng chính

Cầm cố được sử dụng với vai trò là một trong những biện pháp quan trọng nhằm giảm thiểu rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng xảy ra khi người có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Rủi ro tín dụng là nguy cơ Ngân hàng không đòi được tiền gốc

mà Ngân hàng đã cho khách hàng vay cũng như tiền lãi phát sinh từ số tiền gốc Cầm cố là một biện pháp bảo đảm nhằm ngăn ngừa những rủi ro đó

Tài sản cầm cố chỉ được phép xử lý khi rủi ro xảy ra, đó là khi khách hàng không thực hiện hoặc không thực hiện đầy đủ được nghĩa vụ trả nợ của mình đối với Ngân hàng Khi đó Ngân hàng sẽ phát mại tài sản cầm cố của khách hàng chính là việc chuyển nhượng hối phiếu cho người khác, nhận thanh toán giá trị của hối phiếu từ Người bị ký phát hoặc người phát hành hoặc chiết khấu hối phiếu đó tại Ngân hàng thương mại khác hoặc Ngân hàng Nhà nước nếu được chấp thuận Việc xử lý tài sản bảo đảm này nhằm bù đắp vào khoản tiền mà Ngân hàng đã cho khách hàng vay Còn nếu khách hàng thực hiện nghĩa vụ như đã cam kết trong hợp đồng tín dụng của mình thì tài sản bảo đảm đó sẽ được trả lại cho khách hàng vay, khi đó đương nhiên Ngân hàng không có quyền xử lý tài sản bảo đảm của khách hàng

Do việc cầm cố buộc khách hàng phải chuyển giao tài sản cầm cố, cụ thể trong trường hợp này là chuyển giao hối phiếu cho Ngân hàng nên quyền

sử dụng, chiếm hữu và định đoạt đối với hối phiếu của khách hàng cũng bị hạn chế Trong thời gian cầm cố, khách hàng không có quyền chiếm hữu,

Trang 40

36

định đoạt ví dụ như: tặng cho, chuyển nhượng, chiết khấu hay cầm cố cho một nghĩa vụ khác đối với hối phiếu đã cầm cố nếu như không có thỏa thuận hoặc được sự đồng ý của Ngân hàng Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là những quyền đối với hối phiếu của khách hàng bị mất đi hoàn toàn và cũng không phải các quyền đó được chuyển giao cho Ngân hàng Ngân hàng sẽ làm thủ tục hoàn trả lại hối phiếu cho khách hàng khi khách hàng hoàn thành xong nghĩa vụ đối với Ngân hàng

Như vậy biện pháp cầm cố hối phiếu trong hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại có những điểm khác biệt rõ rệt với hoạt động chiết khấu hối phiếu là ở chỗ:

Thứ nhất, Hợp đồng cầm cố có thể lập thành văn bản riêng hoặc có thể ghi trong hợp đồng chính nhưng hợp đồng chiết khấu hối phiếu thì bắt buộc phải lập thành văn bản riêng Hợp đồng cầm cố chỉ là hợp đồng phụ của hợp đồng chính là hợp đồng tín dụng, việc khách hàng chuyển giao tài sản cho Ngân hàng quản lý trong thời gian vay vốn chỉ là một biện pháp bảo đảm cho nghĩa vụ của khách hàng để Ngân hàng tránh được những rủi ro tín dụng có thể xảy ra Trong khi đó, hối phiếu là một loại giấy tờ có giá độc lập hoàn toàn với giao dịch kinh tế sản sinh ra nó, trên hối phiếu không cần phải thể hiện nguyên nhân sinh ra nó mà người ta chỉ quan tâm đến số tiền phải trả ghi trên hối phiếu và những nội dung liên quan đến việc trả tiền, do đó hợp đồng chiết khấu hối phiếu là một hợp đồng độc lập, hết thời hạn thanh toán thì người bị ký phát phải có trách nhiệm thanh toán vô điều kiện số tiền ghi trên hối phiếu cho Ngân hàng đã nhận chiết khấu hối phiếu đó mà Ngân hàng không cần quan tâm đến giao dịch thương mại trước đó phát sinh ra nó

Thứ hai, về vấn đề chuyển giao hối phiếu: Nếu như ở hợp đồng cầm cố hối phiếu thì việc khách hàng chuyển giao hối phiếu cho Ngân hàng chỉ tạm thời làm mất đi quyền sử dụng, chiếm hữu, định đoạt của họ, khách hàng sẽ

Ngày đăng: 30/03/2022, 20:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2005
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2003), Giáo trình kinh tế chính trị, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế chính trị
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2003
4. PGS.TS. Nguyễn Bá Diến (chủ biên) (2005), Giáo trình Luật Thương mại Quốc tế, chương XII – TS Ngô Quốc Kỳ - Thanh toán và tín dụng trong thương mại quốc tế, Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Thương mại Quốc tế, chương XII – TS Ngô Quốc Kỳ - Thanh toán và tín dụng trong thương mại quốc tế
Tác giả: PGS.TS. Nguyễn Bá Diến (chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2005
5. Nguyễn Hải Hà (1999), “Thương phiếu với vấn đề lạnh mạnh hoá hoạt động tiền tệ”, Tạp chí Thị trường tài chính, (7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thương phiếu với vấn đề lạnh mạnh hoá hoạt động tiền tệ"”, Tạp chí Thị trường tài chính
Tác giả: Nguyễn Hải Hà
Năm: 1999
6. Lê Văn Hải (1999), “Tín dụng thương mại góp phần thoả mãn nhu cầu vốn của nền kinh tế”, Tạp chí thị trường Tài chính - Tiền tệ, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín dụng thương mại góp phần thoả mãn nhu cầu vốn của nền kinh tế"”, Tạp chí thị trường Tài chính - Tiền tệ
Tác giả: Lê Văn Hải
Năm: 1999
7. Đỗ Thị Hồng Hạnh (2002), “Một số bất cập của các quy định pháp luật về thương phiếu hiện nay”, Tạp chí Ngân hàng, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số bất cập của các quy định pháp luật về thương phiếu hiện nay"”, Tạp chí Ngân hàng
Tác giả: Đỗ Thị Hồng Hạnh
Năm: 2002
9. Ngô Hồng Lưu Ly (2007), “Pháp luật về hối phiếu ở Việt Nam, thực trạng và phương hướng hoàn thiện”, Luận văn tốt nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về hối phiếu ở Việt Nam, thực trạng và phương hướng hoàn thiện
Tác giả: Ngô Hồng Lưu Ly
Năm: 2007
10. TS. Lê Hoàng Nga (2002), “Thương phiếu ở Việt nam, đôi điều cần trao đổi”, Tạp chí Thị trường Tài chính tiền tệ, (7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thương phiếu ở Việt nam, đôi điều cần trao đổi”," Tạp chí Thị trường Tài chính tiền tệ
Tác giả: TS. Lê Hoàng Nga
Năm: 2002
11. Ngân hàng Nhà nước (2003), Quyết định số 898/2003/QĐ-NHNN ngày 12/8/2003, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 898/2003/QĐ-NHNN ngày 12/8/2003
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước
Năm: 2003
12. Ngân hàng Nhà nước (2004), Quy chế chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá của Tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành kèm theo Quyết định số 1325/2004/QĐ-NHNN ngày 15 tháng 10 năm 2004, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá của Tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành kèm theo Quyết định số 1325/2004/QĐ-NHNN ngày 15 tháng 10 năm 2004
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước
Năm: 2004
13. Ngân hàng Nhà nước (2006), Quyết định số 17/2006/QĐ-NHNN ngày 20 tháng 4 năm 2006, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 17/2006/QĐ-NHNN ngày 20 tháng 4 năm 2006
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước
Năm: 2006
14. Ngân hàng Nhà nước (2006), Quyết định số 63/2006/QĐ-NHNN về việc ban hành quy chế chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng của Tổ chức tín dụng đối với khách hàng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 63/2006/QĐ-NHNN về việc ban hành quy chế chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng của Tổ chức tín dụng đối với khách hàng
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước
Năm: 2006
15. Ngân hàng Nhà nước (2008), Quyết định số 12/2008/QĐ-NHNN sửa đổi Quyết định 898/2003/QĐ-NHNN ngày 12/8/2013, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 12/2008/QĐ-NHNN sửa đổi Quyết định 898/2003/QĐ-NHNN ngày 12/8/2013
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước
Năm: 2008
16. Ngân hàng Nhà nước (2008), Quy trình nghiệp vụ chiết khấu, tái chiết khấu của Ngân hàng Nhà nước đối với các ngân hàng số 7129/QT- NHNN ngày 06 tháng 8 năm 2008, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy trình nghiệp vụ chiết khấu, tái chiết khấu của Ngân hàng Nhà nước đối với các ngân hàng số 7129/QT-NHNN ngày 06 tháng 8 năm 2008
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước
Năm: 2008
17. Ngân hàng Nhà nước (2012), Thông tư số 01/2012/TT-NHNN ngày 16/02/2012 quy định về việc chiết khấu giấy tờ có giá của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với các tổ chức tín dụng, ngân hàng nước ngoài, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 01/2012/TT-NHNN ngày 16/02/2012 quy định về việc chiết khấu giấy tờ có giá của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với các tổ chức tín dụng, ngân hàng nước ngoài
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước
Năm: 2012
18. Ngân hàng Nhà nước (2013), Thông tư số 04/2013/TT-NHNN ngày 01 tháng 3 năm 2013,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 04/2013/TT-NHNN ngày 01 tháng 3 năm 2013
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước
Năm: 2013
19. Nguyễn Thị Nhung (2006), “Điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng ở Việt Nam”, Khóa luận tốt nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Nhung
Năm: 2006
21. Quốc hội (2005), Luật các công cụ chuyển nhượng số 49/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật các công cụ chuyển nhượng số 49/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2005
22. Quốc hội (2005), Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11 ngày 27 tháng 6 năm 2005, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11 ngày 27 tháng 6 năm 2005
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2005
32. Website:http://dangcongsanvietnam.com.vn. II. Tiếng Anh Link

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w