1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN văn THẠC sĩ) thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ từ thực tiễn thành phố hồ chí minh

93 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tiễn tại Thành phố Hồ Chí Minh, công tác phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ còn nhiều hạn chế nhất định: công tác tuyên truyền phòng, chống bạo lực gia đình chưa sát với đ

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực được các

cơ quan cho phép sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Học viên

Huỳnh Thị Duyên

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI PHỤ NỮ 8

1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ 8

1.2 Chủ thể, nội dung, hình thức thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực 16

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ 26

nữ tại thành phố Hồ Chí Minh 57

Kết luận chương 2

CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI PHỤ NỮ TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 66

3.1 Quan điểm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ 66 3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ 69

Kết luận chương 3

KẾT LUẬN 84 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLGĐ Bạo lực gia đình

PCBLGĐ Phòng, chống bạo lực gia đình

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Số vụ bạo lực gia đình giai đoạn từ năm 2015 -2019 39 Bảng 2.2: Tổng hợp các hình thức bạo lực gia đình từ năm 2015 -2019 40 Bảng 2.3: Số liệu phân tích nạn nhân là phụ nữ từ năm 2015 -2019 42 Bảng 2.4: Thống kê tình hình xử lý vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình năm 2015 -2019 56

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của Đề tài

Gia đình là tế bào của xã hội, nơi duy trì nòi giống, là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huy văn hoá truyền thống tốt đẹp, chống lại các tệ nạn xã hội, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Trong thời gian gần đây, tình trạng bạo lực gia đình trở thành vấn nạn của xã hội Bạo lực gia đình là vấn đề mang tính toàn cầu, gây nhức nhối cho nhân loại, để lại nhiều hậu quả cho con người, nhất là đối với phụ nữ; biết bao phụ nữ bị tổn thương nặng nề về thể chất, trí tuệ và tinh thần; biết bao gia đình tan vỡ; biết bao nạn nhân là trẻ em phải sống lang thang không nơi nương tựa Chính vì vậy, phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ là vấn đề cấp bách hiện nay

Mặc dù, Đảng và Nhà nước đã có nhiều quan tâm tới công tác phòng, chống bạo lực gia đình Khẳng định qua hệ thống văn bản pháp luật khá đầy

đủ điều chỉnh về phòng, chống bạo lực gia đình trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân như: Hiến pháp, Bộ Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Bình đẳng giới, Luật phòng, chống bạo lực gia đình, một số luật khác và các văn bản dưới luật có liên quan

Tuy nhiên, thực tiễn pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình cũng còn nhiều hạn chế: bạo lực gia đình vẫn diễn biến phức tạp dưới nhiều hình thức gây ảnh hưởng đến gia đình, việc thực thi pháp luật và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình chưa đầy đủ và thiếu hiệu quả

Trang 7

Thực tiễn tại Thành phố Hồ Chí Minh, công tác phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ còn nhiều hạn chế nhất định: công tác tuyên truyền phòng, chống bạo lực gia đình chưa sát với đối tượng, các nguồn lực xã hội dành cho công tác này còn thiếu; nhiều vụ bạo lực gia đình chưa được thống

kê đầy đủ; nhận thức về pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình của người

dân còn hạn chế, đặc biệt là phụ nữ với tâm lý “không muốn vạch áo cho

người xem lưng” do đó tình trạng bạo lực gia đình còn xảy ra phổ biến Trước

thực trạng trên, đòi hỏi phải có thêm những nghiên cứu để tìm ra giải pháp cụ thể để từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, không ngừng nâng cao hiệu quả của công tác đấu tranh phòng, chống bạo lực gia đình đặc biệt là đối với phụ nữ

Nhằm góp phần thực hiện mục tiêu trên, học viên chọn đề tài “Thực

hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh” Với đề tài này, học viên muốn được góp một phần

công sức của mình vào việc nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Bạo lực gia đình không phải là vấn đề mới mẻ, mà là hiện tượng xã hội

có tính phổ biến trên Thế giới Bạo lực gia đình là vấn đề thu hút được nhiều

sự quan tâm nghiên cứu của nhiều tác giả trong nước và quốc tế Những bài viết, công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài cụ thể như:

- Nguyễn Thị Kim Phụng (2009), Tổng quan về bạo lực và pháp luật phòng, chống bạo lực đối với phụ nữ, trẻ em Tạp chí Luật học Bài viết đã phân tích một cách tổng quan về bạo lực và pháp luật phòng, chống bạo lực đối với phụ nữ, trẻ em Với các quy định hiện hành về bạo lực và biện pháp

Trang 8

phòng chống bạo lực, đặc biệt là đưa vào thực thi Luật phòng chống bạo lực gia đình, hy vọng tình trạng bạo lực đối với phụ nữ, trẻ em sẽ ngày càng giảm trong xã hội.

- Nguyễn Thị Ngọc Bích (2009), Trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc phòng, chống bạo lực gia đình Tạp chí Luật học Bài viết làm

rõ một số vấn đề về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc phòng, chống bạo lực gia đình được pháp luật quy định dưới các góc độ: Trong hoạt động phòng ngừa bạo lực gia đình; bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình; trong việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính với người có hành vi bạo lực gia đình

- Ngô Thị Hường (2006), Bạo lực gia đình - Một hình thức thể hiện sự bất bình đẳng nam nữ Tạp chí Luật học Tìm hiểu về thực trạng, nguyên nhân

và hậu quả của bạo lực gia đình ở Việt Nam Đưa ra giải pháp về pháp luật đối với việc ngăn chặn và hạn chế bạo lực gia đình ở Việt Nam

Ngoài ra, còn một số công trình nghiên cứu khác có liên quan như:

- Trần Thị Hòe (2010), Pháp luật Quốc tế về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ Tạp chí Khoa học chính trị

- Lê Lan Chi (2011), Bàn về ranh giới xử lý hình sự và xử lý hành chính các hành vi bạo lực gia đình Tạp chí Nhà nước và pháp luật

- Võ Tuấn Anh (2012), Phòng, ngừa tội phạm có liên quan đến bạo lực gia đình trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

- Hoàng Thương (2016), Thành phố Hồ Chí Minh: Đẩy mạnh các giải pháp phòng, chống bạo lực gia đình

- Nguyễn Thị Trang (2016), Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình ở Việt Nam

Trang 9

- Nguyễn Thị Ngọc Tú (2017), Quản lý Nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

- Huỳnh Thị Phúc (2018), Thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình từ thực tiễn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng

- Viện nghiên cứu Quyền con người (2008), Phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở nước ta hiện nay, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã phân tích, đánh giá vấn

đề bạo lực gia đình dưới nhiều khía cạnh khác nhau, phân tích được các yếu

tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình ở nước ta, thực tiễn thực hiện pháp luật về PCBLGĐ ở một vài địa phương, xây dựng được các quan điểm, giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật về PCBLGĐ trong thời gian tới Tuy nhiên việc nghiên cứu vấn đề cụ thể về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ tại thực tiễn một địa bàn cụ thể

là thành phố Hồ Chí Minh thì chưa có đề tài nào đề cập tới

Đề tài “Thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với

phụ nữ từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh” là công trình khoa học độc lập,

có tham khảo nhưng không trùng lắp với các công trình nghiên cứu trên, nghiên cứu có hệ thống các vấn đề lý luận và pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ, đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở thành phố Hồ Chí Minh và đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả, hoàn thiện hệ thống pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trang 10

Mục đích tổng quan của Luận văn là phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn về thực hiện pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ

và đề xuất những giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ tại thành phố Hồ Chí Minh

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu và phân tích cơ sở lý luận của pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình theo những quy định hiện hành

- Phân tích tình hình bạo lực gia đình đối với phụ nữ và thực trạng thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở thành phố

Hồ Chí Minh; phân tích những kết quả đã đạt được, những tồn tại, hạn chế của việc thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ

và làm rõ các nguyên nhân của hạn chế đó

- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Tập trung vào việc thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi không gian: lý luận, thực tiễn và những giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ tại thành phố Hồ Chí Minh

Phạm vi thời gian: Từ năm 2015 đến năm 2019

Trang 11

5 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng Việt Nam về Nhà nước và pháp luật trong sự nghiệp đổi mới, những quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước ta về pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp được sử dụng để nghiên cứu đề tài cụ thể như sau: Chương 1 Luận văn sử dụng phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp để làm rõ các khái niệm về bạo lực gia đình đối với phụ nữ, pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ Đồng thời, khát quát về chủ thể, nội dung và hình thức thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ

Chương 2 Luận văn sử dụng phương pháp thống kê, đối chiếu so sánh, phương pháp diễn giải, phương pháp quy nạp để phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ tại Thành phố Hồ Chí Minh

Chương 3 sử dụng phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp để rút ra những quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Trong thời gian qua, đã có một số đề tài, luận văn nghiên cứu về pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình, tuy nhiên những đề tài này chỉ đề cập đến

Trang 12

chưa có đề tài nào nói về phòng, chống bạo lực gia đình riêng đối với đối tượng là phụ nữ từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh Vì vậy đây là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu một cách tương đối toàn diện về thực hiện pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh Luận văn sẽ góp phần làm sáng tỏ những giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Về mặt thực tiễn, luận văn góp phần thay đổi phần nào nhận thức của người dân về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ tại thành phố Hồ Chí Minh Bên cạnh đó, đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới và có thể là kinh nghiệm thực tiễn cho các địa phương khác, đồng thời Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy các vấn đề liên quan đến công tác gia đình, công tác phòng, chống bạo lực gia đình

7 Cơ cấu luận văn gồm

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được chia thành ba chương:

- Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ

- Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ tại Thành phố Hồ Chí Minh

- Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ tại Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 13

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1.1 Khái niệm bạo lực gia đình đối với phụ nữ

“Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình” [33] theo Điều 1 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình

2007 Khái niệm thành viên trong gia đình được hiểu là: “ Thành viên gia đình bao gồm vợ, chồng; cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, cha dượng, mẹ kế, cha mẹ vợ, cha mẹ chồng; con đẻ, con nuôi, con riêng của vợ hoặc chồng, con dâu, con rể; anh, chị, em cùng cha mẹ, anh, chị, em cùng cha khác mẹ, anh, chị, em cùng mẹ khác cha, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; ông bà nội, ông bà ngoại; cháu nội, cháu ngoại; cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột” [31] theo Điều 3

Luật Hôn nhân gia đình năm 2014

Theo tinh thần Luật Bình đẳng giới năm 2006 thì bạo lực gia đình còn

được hiểu là sự phân biệt đối xử về giới “là việc hạn chế, loại trừ, không

công nhận hoặc không coi trọng vai trò, vị trí của nam và nữ, gây bất bình đẳng giữa nam và nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình” [32]

Bạo lực gia đình là một trong những hình thức ngấm ngầm nhất của nạn bạo lực chống lại phụ nữ Nó phổ biến ở tất cả các xã hội Trong những mối quan hệ gia đình, phụ nữ thuộc tất cả các lứa tuổi phải chịu đựng tất cả những

Trang 14

loại bạo lực, kể cả đánh đập, hãm hiếp, bạo lực về tinh thần và những hành động bạo lực khác Thiếu độc lập về kinh tế buộc nhiều phụ nữ phải chịu đựng các quan hệ bạo lực Việc nam giới rũ bỏ một số trách nhiệm của họ trong gia đình cũng có thể là một hình thức bạo lực và ép buộc Các hình thức bạo lực này gây nguy cơ cho sức khỏe của phụ nữ và làm giảm khả năng của phụ nữ tham gia vào đời sống gia đình và đời sống cộng đồng

Theo Tuyên bố về xóa bỏ bạo lực đối với phụ nữ của Liên hiệp quốc

năm 1993 thì “bạo lực đối với phụ nữ có nghĩa là mọi hành vi bạo lực trên cơ

sở giới tính dẫn đến hoặc có thể dẫn đến sự xâm hại về thể chất, tình dục hoặc tâm lý hoặc sự đau khổ cho phụ nữ kể cả việc đe dọa có những hành vi như vậy, việc cưỡng đoạt hoặc tước đoạt vô cớ tự do của phụ nữ, cho dù diễn

ra trong đời sống công cộng hoặc riêng tư” [11]

Theo định nghĩa trên, bạo lực gia đình đối với phụ nữ bao gồm các hành vi bạo lực trên cơ sở giới gây ra hậu quả hoặc có thể gây ra hậu quả, làm tổn hại hoặc gây đau khổ cho phụ nữ về thân thể, tình dục, tâm lý xảy ra trong gia đình Phần lớn bạo lực chống lại phụ nữ xảy ra trong gia đình và người gây ra bạo lực luôn luôn là nam giới, thường là chồng hoặc chồng cũ, người cha, người anh, người em trai, con trai, cháu trai

1.1.1.2 Khái niệm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ

Từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm và đề cao thực hiện công tác xây dựng và phát triển gia đình theo mục tiêu bảo đảm xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, bình đẳng, tiến

bộ Bên cạnh đó, cũng đặc biệt quan tâm, bảo vệ người phụ nữ, cụ thể được

thể hiện qua Hiến pháp năm 1946, đã ghi nhận (Điều 1) “Tất cả quyền bính

trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống,

Trang 15

gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”; (Điều 9) “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện” [12] Hiến pháp năm 1959 (Điều 24), quy định:

“Phụ nữ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyền bình đẳng với nam giới

về các mặt sinh hoạt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình Nhà nước bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em, bảo đảm phát triển các nhà đỡ đẻ, nhà giữ trẻ và vườn trẻ Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình” [13] Hiến

pháp năm 1980, có các quy định về gia đình rõ ràng, đầy đủ hơn: “gia đình là

tế bào của xã hội Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng,… Nhà nước và xã hội không thừa nhận sự phân biệt đối xử giữa các con” [14] Hiến

pháp năm 2013 quy định các vấn đề chung có tính nguyên tắc về gia đình và

quan tâm, bảo vệ hơn đối với phụ nữ tại Điều 26 “công dân nam nữ bình

đẳng về mọi mặt; Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới; Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội” [16]

Để cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản để lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện công tác xây dựng và phát triển gia đình thời kỳ đổi mới như: Chỉ thị số 49/CT-TW ngày 21/2/2005 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về xây dựng gia đình trong thời

kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa; Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, trong đó có pháp luật về dân số, gia đình, trẻ em và chính sách xã hội

Theo các quy định trên, có thể nói “Phòng, chống bạo lực gia đình là việc thực hiện các biện pháp nhằm ngăn chặn và đẩy lùi mọi hành vi bạo lực trong gia đình, nhằm bảo đảm xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, bình

Trang 16

đẳng, tiến bộ và tạo điều kiện cho các thành viên trong gia đình có điều kiện phát triển”

Vậy, “Phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ là việc thực hiện các biện pháp nhằm ngăn chặn và đẩy lùi mọi hành vi bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình, giúp cho người phụ nữ tránh được bạo lực gia đình, đảm bảo các quyền con người và có cuộc sống hạnh phúc”

Qua những phân tích trên, có thể hiểu: “Pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình là hệ thống các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội có liên quan tới hành vi bạo lực giữa các thành viên trong gia đình, nhằm bảo vệ các quyền và nghĩa vụ hợp pháp của họ, tạo điều kiện cần thiết để xây dựng gia đình bình đẳng, hạnh phúc, văn minh, góp phần

ổn định trật tự xã hội, thực hiện các mục tiêu về quyền con người, quyền công dân theo những chủ trương, đường lối chung đã được Đảng và Nhà nước ghi nhận”

Như vậy, “Pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ là

hệ thống các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội có liên quan tới hành vi bạo lực gia đình đối với người phụ nữ trong gia đình, nhằm bảo vệ các quyền và nghĩa vụ hợp pháp của họ, tạo điều kiện cần thiết để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người phụ nữ, góp phần xây dựng gia đình bình đẳng, hạnh phúc, văn minh, góp phần ổn định trật tự xã hội”

Phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ là một việc làm khó khăn

và lâu dài Để bảo vệ người phụ nữ, bảo vệ quyền và vị trí của người phụ nữ trong xã hội, việc phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ cần thiết phải

có sự điều chỉnh của pháp luật Việc PCBLGĐ đối với phụ nữ chỉ đạt được hiệu quả khi nó được đặt dưới sự bảo vệ của pháp luật và phù hợp với pháp

Trang 17

luật, phù hợp với truyền thống tốt đẹp của dân tộc Đây chính là cơ sở pháp lý

để bảo vệ con người trong đó có người phụ nữ trước bạo lực gia đình

1.1.1.3 Khái niệm thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ

Khái niệm “Thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích,

định hướng nhằm thực hiện hóa nội dung các quy định pháp luật bằng hành

vi hợp pháp của các chủ thể”

Như vậy, ngoài việc không ngừng xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, Nhà nước còn phải tổ chức thực hiện pháp luật nhằm thực hiện hóa nội dung các quy định pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình bằng hành

vi hợp pháp của các chủ thể có liên quan

Theo đó, có thể hiểu: thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia

đình là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật” Hay nói cách khác, thực

hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình là hoạt động thực tiễn của các cơ quan, tổ chức, cá nhân được tiến hành theo những hình thức pháp lý nhất định, có mối liên hệ và quy định lẫn nhau trong một cơ chế phù hợp với điều kiện của từng giai đoạn lịch sử, nhằm hiện thực hóa các yêu cầu, nội dung của quy phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, bảo đảm cho phòng, chống bạo lực gia đình được thiết lập và duy trì trong đời sống xã hội

và gia đình

Vậy: thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ

nữ là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật, góp phần bảo đảm

Trang 18

quyền và lợi ích hợp pháp của người phụ nữ trong đời sống xã hội và gia đình

1.1.2 Đặc điểm thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ

Thứ nhất, Chủ thể thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình

đối với phụ nữ là toàn xã hội

Thứ hai, phạm vi thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình

đối với phụ nữ là môi trường và những giới hạn không gian, địa lý để các chủ thể tiến hành các hoạt động thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ Để xác định phạm vi thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ đòi hỏi Nhà nước phải quy định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, gia đình và cá nhân trong việc thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ; chế độ và trách nhiệm pháp lý của các chủ thể trong thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ mang tính chất quản lý hành chính

Thứ ba, nội dung thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình

đối với phụ nữ có nội hàm phong phú và bao trùm toàn bộ đời sống xã hội như: các chiến lược, chính sách, mục tiêu của Nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ Do đó, những nội dung không thể thiếu trong thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ là các biện pháp thúc đẩy phổ biến, chính sách pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ, bồi dưỡng kiến thức, nâng cao nhận thức phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ cho đội ngũ cán bộ, những người có liên quan đến việc thực thi chính sách pháp luật đến công tác phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ

1.1.3 Vai trò của thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ

Trang 19

1.1.3.1 Thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ là phương thức để những chủ trương, chính sách, pháp luật đi vào cuộc sống

Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra chủ trương, đường lối, chính sách về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ, trên cơ sở đó Nhà nước thể chế hóa chủ trương, đường lối, chính sách thành pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ

Đảng ta rất quan tâm đến công tác đấu tranh phòng, chống bạo lực gia đình Ngay từ năm 1982, đã lãnh đạo Chính phủ Việt Nam ký kết gia nhập

“Công ước của Liên hiệp quốc về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ”, đồng thời ban hành các văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao điều chỉnh các vấn đề có liên quan BLGĐ như Hiến pháp, Bộ luật Hình

sự, Bộ luật Dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Bình đẳng giới Đặc biệt, là ngày 21 tháng 11 năm 2007, Quốc hội đã thông qua Luật Phòng, chống BLGĐ, nhằm tạo cơ sở pháp lý thống nhất để bảo vệ quyền và lợi ích của các thành viên trong gia đình, góp phần củng cố và xây dựng gia đình Việt Nam ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc trong điều kiện hội nhập quốc

tế Việc ra đời của Luật Phòng, chống BLGĐ là cơ sở pháp lý để nâng cao vai trò, hiệu quả công tác phòng, chống BLGĐ của Việt Nam Đó là cách thức có hiệu quả nhất để chủ trương, chính sách, đường lối của Đảng về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ được áp dụng thực hiện trong cuộc sống

1.1.3.2 Thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ giúp các cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân nâng cao ý thức pháp luật

Thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ

có vai trò quan trọng trong việc củng cố, nâng cao ý thức pháp luật; giúp các

cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân nắm vững pháp luật, nhận thức sâu sắc,

Trang 20

hiểu biết đầy đủ hơn về chuẩn mực xã hội, những nguyên tắc cơ bản về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ, sẽ nhận thức đầy đủ hơn về vai trò, trách nhiệm trong việc thực hiện phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ

1.1.3.3 Thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ là biện pháp phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật

Các chủ thể khi thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ sẽ nhận thức được giới hạn hành vi và tự giác thực hiện Các chủ thể sẽ bị xử lý hành chính, xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình

sự khi bị phát hiện hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ

1.2 Chủ thể, nội dung, hình thức thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ

1.2.1 Chủ thể thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ

Pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình hiện hành quy định trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, các đơn vị sự nghiệp, các đơn vị vũ trang nhân dân, các gia đình, dòng họ và công dân Việt Nam có liên quan đến việc thực hiện mục tiêu phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ

Bạo lực gia đình là vấn đề mang tính toàn cầu, gây nhức nhối cho nhân loại, để lại nhiều hậu quả cho con ngườim, do đó cần sự chung tay của toàn xã hội Đặc biệt, mỗi cá nhânphải nâng cao trách nhiệm trong việc phòng, chống

bạo lực gia đình Thực hiện nghiêm các “quy định của pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, phòng, chống

Trang 21

ma túy, mại dâm và các tệ nạn xã hội khác Kịp thời ngăn chặn hành vi bạo lực gia đình và thông báo cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền” [33]

Trách nhiệm của gia đình là phải tăng cường “giáo dục, nhắc nhở thành viên gia đình thực hiện quy định của pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, phòng, chống ma túy, mại

dâm và các tệ nạn xã hội khác Hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp giữa các

thành viên gia đình; can ngăn người có hành vi bạo lực gia đình chấm dứt hành vi bạo lực; chăm sóc nạn nhân bạo lực gia đình Phối hợp với cơ quan,

tổ chức và cộng đồng dân cư trong phòng, chống bạo lực gia đình” [33]

Trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên được quy định tại Điều 33 Luật phòng, chống bạo lực gia đình: tuyên truyền, giáo dục, khuyến khích, động viên hội viên và nhân dân chấp hành pháp luật

về phòng, chống bạo lực gia đình, hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, phòng, chống ma túy, mại dâm và các tệ nạn xã hội khác; kiến nghị những

biện pháp cần thiết với cơ quan nhà nước có liên quan để thực hiện pháp luật

về phòng, chống bạo lực gia đình, hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, phòng, chống ma túy, mại dâm và các tệ nạn xã hội khác; tham gia phòng,

chống bạo lực gia đình, chăm sóc, hỗ trợ và bảo vệ nạn nhân bạo lực gia đình; tham gia giám sát việc thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình

Trách nhiệm của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam được giao thực hiện một số nhiệm vụ tại Điều 34 Luật phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007

gồm: “các nhiệm vụ tại Điều 33 Luật phòng, chống bạo lực gia đình và một

số nhiệm vụ như: Tổ chức cơ sở tư vấn về phòng, chống bạo lực gia đình, cơ

sở hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình; tổ chức các hoạt động dạy nghề, tín dụng, tiết kiệm để hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình; phối hợp với cơ quan, tổ chức có liên quan để bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình” [33]

Trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức

Trang 22

trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện công tác quản lý nhà nước, tuyên truyền, vận động và thực hiện phòng, chống bạo lực gia đình tại địa phương, đơn vị theo quy định của pháp luật

1.2.2 Nội dung thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ

1.2.2.1 Thực hiện pháp luật về phòng bạo lực gia đình đối với phụ nữ

Phòng ngừa bạo lực gia đình đối với phụ nữ là một biện pháp rất quan trọng và có tác dụng lớn trong việc ngăn chặn và đẩy lùi bạo lực gia đình đối với phụ nữ Nếu thực hiện phòng ngừa tốt, bạo lực gia đình sẽ ít xảy ra hơn thì bạo lực gia đình đối với phụ nữ cũng ít đi Nội dung về phòng ngừa bạo lực gia đình đối với phụ nữ cần thực hiện:

- Việc thông tin, tuyên truyền những nội dung cơ bản của Luật phòng, chống bạo lực gia đình đến mọi tầng lớp nhân dân nhằm thay đổi nhận thức, hành vi về bạo lực gia đình, góp phần tiến tới xoá bỏ bạo lực gia đình, bình đẳng giới, đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các thành viên trong gia đình, đặc biệt là đối với người phụ nữ và nâng cao nhận thức về truyền thống tốt đẹp của con người, gia đình Việt Nam, vai trò, vị trí của người phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội; tác hại của bạo lực gia đình; kiến thức về hôn nhân và gia đình;

kỹ năng ứng xử, xây dựng gia đình hạnh phúc, xây dựng gia đình văn hoá và các nội dung khác có liên quan đến phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ

nữ

- Hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp trong gia đình cần phát huy vai trò, trách nhiệm của gia đình, dòng họ; hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp cần giải quyết kịp thời, phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đạo đức xã hội và phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc Việt Nam; tôn trọng sự tự nguyện của các bên; khách quan, công minh, có lý,

Trang 23

có tình; giữ bí mật thông tin đời tư của các bên; tôn trọng quyền, lợi ích hợp pháp của người khác; không xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng Tùy theo vụ việc mà xác định hòa giải tại gia đình, dòng họ hay tại cơ quan, tổ chức có thẩm quyền hoặc tổ chức hòa giải cơ sở tiến hành Quy định này rất quan trọng nhằm phát huy vai trò và trách nhiệm của mỗi cá nhân trong cộng đồng, xã hội, phát huy tính dân chủ trong nhân dân, từ đó làm thay đổi nhận thức và nâng cao ý thức pháp luật, trình độ hiểu biết pháp luật, đặc biệt là pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ

- Tư vấn về gia đình ở cơ sở bao gồm các nội dung: cung cấp thông tin, kiến thức, pháp luật về hôn nhân, gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình; hướng dẫn kỹ năng ứng xử trong gia đình; kỹ năng ứng xử khi có mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên gia đình Hoạt động tư vấn về gia đình ở cơ sở được hướng dẫn và tạo điều kiện hoạt động bởi UBND cấp xã và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên

- Góp ý, phê bình trong cộng đồng dân cư được áp dụng đối với người

từ đủ 16 tuổi trở lên có hành vi bạo lực gia đình đã được Tổ hòa giải ở cơ sở hoà giải mà tiếp tục có hành vi bạo lực gia đình Người đứng đầu cộng đồng dân cư (Trưởng thôn, làng, bản, ấp, phum, sóc, tổ trưởng tổ dân phố hoặc người đứng đầu đơn vị tương đương) quyết định và tổ chức việc góp ý, phê bình trong cộng đồng dân cư Thành phần tham gia góp ý, phê bình bao gồm đại diện gia đình, hộ gia đình liền kề và các thành phần khác do người đứng đầu cộng đồng dân cư mời Uỷ ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm giúp đỡ, tạo điều kiện cho người đứng đầu cộng đồng dân cư tổ chức việc góp ý, phê bình trong cộng đồng dân cư đối với người có hành vi bạo lực gia đình

1.2.2.2 Thực hiện pháp luật về chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ

Trang 24

Thực hiện pháp luật về chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ cần tập trung thực hiện có hiệu các nội dung sau:

Bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình được áp dụng kịp thời để bảo vệ nạn nhân bị bạo lực gia đình, chấm dứt hành vi bạo lực gia đình, giảm thiểu hậu quả do hành vi bạo lực gia đình gây ra Vì bạo lực gia đình gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho các thành viên trong gia đình, không những tổn thương về thể xác mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến tinh thần, đặc biệt đối với nạn nhân là phụ nữ Do đó, các biện pháp bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình là nội dung thực hiện pháp luật quan trọng, được quy định chi tiết cụ thể

Các hành vi bạo lực gia đình phải được phát hiện kịp thời và có biện pháp ngăn chặn, bảo vệ phù hợp cho nạn nhân để tránh xảy ra hậu quả đáng tiếc Khoản 1, Điều 19 Luật phòng, chống bạo lực gia đình quy định những

biện pháp bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình cụ thể như: buộc chấm dứt ngay hành vi bạo lực gia đình; cấp cứu nạn nhân bạo lực gia đình; các biện pháp ngăn chặn theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính hoặc pháp luật về tố tụng hình sự đối với người có hành vi bạo lực gia đình; cấm người có hành vi bạo lực gia đình đến gần nạn nhân; sử dụng điện thoại hoặc các phương tiện thông tin khác để có hành vi bạo lực với nạn nhân (sau đây gọi là biện pháp cấm tiếp xúc) [33] Đồng thời, với việc ngăn chặn hành

vi bạo lực gia đình thì việc trợ giúp nạn nhân cũng được thực hiện để tạo điều kiện tốt nhất cho việc hàn gắn những tổn thương, mất mát của họ do hành vi bạo lực gia đình gây ra từ việc trợ giúp, khám chữa bệnh, bảo trợ xã hội cũng như tư vấn tâm lý

Nạn nhân bạo lực gia đình được bảo vệ ở mức cao nhất thông qua các biện pháp như: phát hiện, báo tin về bạo lực gia đình; biện pháp ngăn chặn,

Trang 25

bảo vệ; cấm tiếp xúc theo quyết định của Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp xã, quyết định của Tòa án; biện pháp chăm sóc tại cơ sở khám chữa bệnh; biện pháp tư vấn; hỗ trợ khẩn cấp các nhu cầu thiết yếu cho nạn nhân Những quy định trên thể hiện tính nhân đạo của Nhà nước ta, thể hiện sự quan tâm, bảo

vệ quyền con người, kế thừa truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam

Một trong những biện pháp bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân rất quan trọng là biện pháp cấm tiếp xúc và biện pháp này được thực hiện theo Điều 20 và Điều

21 của Luật phòng, chống bạo lực gia đình Khoản 1, Điều 20 Luật phòng,

chống bạo lực gia đình quy định: “Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xảy

ra bạo lực gia đình quyết định áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc trong thời hạn không quá 3 ngày khi có đủ các điều kiện sau đây: có đơn yêu cầu của nạn nhân bạo lực gia đình, người giám hộ hoặc người đại diện hợp pháp hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền; trường hợp cơ quan, tổ chức có thẩm quyền có đơn yêu cầu thì phải có sự đồng ý của nạn nhân bạo lực gia đình; hành vi bạo lực gia đình gây tổn hại hoặc đe doạ gây tổn hại đến sức khỏe hoặc đe doạ tính mạng của nạn nhân bạo lực gia đình; người có hành vi bạo lực gia đình

và nạn nhân bạo lực gia đình có nơi ở khác nhau trong thời gian cấm tiếp xúc” [33]

Điều 21, Luật phòng, chống bạo lực gia đình quy định: “Tòa án đang thụ lý hoặc giải quyết vụ án dân sự giữa nạn nhân bạo lực gia đình và người

có hành vi bạo lực gia đình quyết định biện pháp cấm tiếp xúc trong thời hạn không quá 4 tháng khi có đủ các điều kiện” [33]

Có thể nói các quy định về biện pháp cấm tiếp xúc rất chặt chẽ, không phải vụ bạo lực gia đình nào cũng áp dụng được biện pháp này mà cần có sự đồng ý của nạn nhân bạo lực gia đình Biện pháp cấm tiếp xúc là một trong

Trang 26

những giải pháp đặc biệt và hữu ích để bảo vệ nạn nhân, giảm thiểu hậu quả bạo lực gia đình, hạn chế tội phạm Tuy nhiên, khi áp dụng biện pháp này, các chủ thể có thẩm quyền phải đảm bảo các điều kiện mà Luật phòng, chống bạo lực gia đình quy định

Việc xây dựng hoạt động các cơ sở trợ giúp nạn nhân bạo lực gia đình góp phần nâng cao hiệu quả của các biện pháp ngăn chặn hành vi bạo lực gia đình Hoạt động của các cơ sở trợ giúp nạn nhân bạo lực gia đình góp phần tạo điều kiện cho việc hàn gắn những tổn thương, mất mát của hành vi bạo lực gia đình gây ra từ các hoạt động như chăm sóc, trợ giúp, tạm lánh, khám chữa bệnh, tư vấn tâm lý,…

Cơ sở trợ giúp nạn nhân bạo lực gia đình bao gồm: Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; cơ sở bảo trợ xã hội; cơ sở hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình; cơ sở

tư vấn về phòng, chống bạo lực gia đình; địa chỉ tin cậy ở cộng đồng

Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thực hiện việc chăm sóc y tế; cơ sở bảo trợ xã hội thực hiện việc chăm sóc, tư vấn tâm lý, bố trí nơi tạm lánh và hỗ trợ các điều kiện cần thiết khác cho nạn nhân bạo lực gia đình; cơ sở hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình, cơ sở tư vấn về phòng, chống bạo lực gia đình được cung cấp các dịch vụ tư vấn về pháp luật, tâm lý, chăm sóc sức khỏe, bố trí nơi tạm lánh và các điều kiện cần thiết khác cho nạn nhân bạo lực gia đình; địa chỉ tin cậy ở cộng đồng là nơi có uy tín, tự nguyện giúp đỡ nạn nhân bạo lực gia đình tại cộng đồng dân cư

1.2.3 Hình thức thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ

Thực hiện pháp luật là hành vi của chủ thể (hành động hoặc không hành động) được tiến hành phù hợp với quy định, với yêu cầu của pháp luật, tức là không trái, không vượt quá khuôn khổ mà pháp luật đã quy định Có bốn hình

Trang 27

thức thực hiện pháp luật: tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật Trên cơ sở lý luận trên, thì hình thức thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình cũng được tiến hành với các hình thức:

Tuân thủ pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ

Tuân thủ pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó yêu cầu các chủ thể pháp luật kiềm chế không tiến hành các quy định, các hoạt động mà pháp luật cấm

Tuân thủ pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ là việc chủ thể thực hiện pháp luật về PCBLGĐ tự kiềm chế không thực hiện những hành vi, hành động mà pháp luật cấm nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các thành viên trong gia đình, đặc biệt là người phụ nữ Những hành

vi bị nghiêm cấm trong Luật phòng, chống bạo lực gia đình như: hành hạ, ngược đãi, đánh đập, lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, cưỡng bức, cưỡng ép, cô lập, xua đuổi, gây áp lực,… xâm hại đến sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm của phụ nữ Như vậy, chủ thể là cá nhân và gia đình là không được thực hiện hoặc ngăn cản, kiềm chế người khác trong gia đình không được thực hiện các hành vi mà Luật phòng, chống bạo lực gia đình cấm như: hành hạ, ngược đãi, đánh đập, lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, cưỡng bức, cưỡng ép, cô lập, xua đuổi, gây áp lực,… xâm hại đến sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm của các thành viên khác hoặc người phụ nữ trong gia đình Đối với chủ thể là cơ quan, tổ chức có liên quan theo quy định phải thực hiện những biện pháp đảm bảo các hành vi mà Luật phòng, chống bạo lực gia đình cấm được ngăn chặn hoặc không được xảy ra đối với phụ nữ và trẻ em thuộc phạm vi mình quản lý Đó là các cơ quan quản

lý nhà nước, Mặt trận tổ quốc, các tổ chức thành viên, Hội Liên hiệp phụ nữ

Trang 28

phải tăng cường vai trò, trách nhiệm của mình trong thực hiện Luật phòng, chống bạo lực gia đình bằng nhiều giải pháp cụ thể để góp phần ngăn chặn được tình trạng bạo lực gia đình trong xã hội, tạo điều kiện cho các chủ thể tuân thủ pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ

Thi hành pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ

Thi hành pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật một cách chủ động Chủ thể pháp luật phải thực hiện hành vi nhất định mới có thể thực hiện pháp luật được Khác với tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật đòi hỏi chủ thể phải thực hiện trách nhiệm pháp lý một cách tích cực Ở đây chủ thể cần phải thực hiện hành động cụ thể, chứ không phải dừng lại ở việc không thực hiện những

gì pháp luật cấm

Trên cơ sở lý luận này, việc thi hành pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ là việc các chủ thể phải thực hiện trách nhiệm pháp lý của mình một cách tích cực theo quy định của pháp luật trong việc phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ Chủ thể thi hành pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ là các cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức (cơ quan quản lý nhà nước, Mặt trận tổ quốc, các tổ chức thành viên, Hội Liên hiệp phụ nữ) phải thực hiện trách nhiệm pháp lý của mình một cách tích cực theo quy định của Luật và các văn bản quy phạm pháp luật trong việc phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ

Sử dụng pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ

Sử dụng pháp luật là khả năng của các chủ thể pháp luật có thể sử dụng hay không sử dụng quyền mà luật đã dành cho mình Nét đặc biệt của hình thức thực hiện pháp luật này so với tuân thủ pháp luật và thi hành pháp luật là chủ thể có thể thực hiện hay không thực hiện quyền mà pháp luật cho phép tùy thuộc vào ý chí của mình chứ không mang tính bắt buộc

Trang 29

Vậy, Sử dụng pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ

là việc các chủ thể pháp luật có thể sử dụng hay không sử dụng quyền mà luật

đã dành cho mình mà không bị ép buộc Chủ thể là nạn nhân của bạo lực gia đình hay người phụ nữ bị bạo lực gia đình có thể sử dụng hay không sử dụng các quyền của mình được quy định tại Luật phòng, chống bạo lực gia đình Nhưng đối với một số trường hợp đặc biệt nạn nhân của bạo lực gia đình bị xâm hại nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng, nhân phẩm, danh dự không yêu cầu sử dụng các quyền này nhưng các cơ quan, tổ chức vẫn phải sử dụng pháp luật cho họ để đảm bảo an toàn sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm của các nạn nhân của bạo lực gia đình

Áp dụng pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ

Áp dụng pháp luật là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền dựa trên các quy định của pháp luật để giải quyết, xử lý những vấn để cụ thể thuộc trách nhiệm của mình

Từ đó, có thể nói Áp dụng pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ là hoạt động của các cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền được pháp luật cho phép để xử lý những hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình Chủ thể áp dụng pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình là cá nhân, tổ chức có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính như: Chiến sĩ Công an nhân dân đang thi hành công vụ, Trưởng Công an cấp xã, cấp huyện, Chủ tịch UBND cấp xã, cấp huyện, Đối với những trường hợp vi phạm nghiêm trọng Luật phòng, chống bạo lực gia đình thì chủ thể áp dụng pháp luật là Công an nhân dân thực hiện công tác điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình trong điều tra, truy tố và xét xử các hành vi phạm tội về phòng, chống bạo lực gia đình

Trang 30

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ

1.3.1 Yếu tố chính trị

Đảng xác định được tầm quan trọng của từng gia đình trong xã hội, vì gia đình là tế bào của xã hội, tế bào khỏe thì xã hội mới khỏe mạnh, đất nước mới phát triển Từ đó, Đảng đã đề ra những chủ trương, đường lối phù hợp trong phòng, chống BLGĐ Nhà nước sẽ cụ thể hóa các chủ trương, đường lối của Đảng thành pháp luật, hoàn thiện hệ thống pháp luật phòng, chống BLGĐ nhằm hạn chế những vi phạm pháp luật trong phòng, chống BLGĐ

Có thể nói, những định hướng của Đảng đã được cụ thể hóa đưa vào cuộc sống thông qua hệ thống pháp luật phòng, chống BLGĐ, các Đề án mang tính chiến lược quốc gia về phát triển gia đình Việt Nam, về tuyên truyền, vận động, giáo dục, hỗ trợ phụ nữ giải quyết các vấn đề xã hội liên quan đến phụ nữ (Quyết định số 938 của Thủ tướng Chính phủ ngày 30/6/2017), từ đó nâng cao nhận thức của người dân trong việc xây dựng gia đình hạnh phúc, ấm no, tiến bộ, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

1.3.2 Yếu tố pháp luật

Yếu tố pháp luật là tổng thể các yếu tố tạo nên đời sống pháp luật của

xã hội ở từng giai đoạn nhất định bao gồm hệ thống pháp luật, các quan hệ pháp luật… Bản thân pháp luật được sinh ra là để điều chỉnh các quan hệ xã hội là cơ sở để các chủ thể thực hiện pháp luật

Pháp luật có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các mối quan hệ

xã hội tạo ra trật tự và ổn định cho xã hội nhất là trong việc ngăn chặn và đẩy lùi các hiện tượng vi phạm pháp luật Một hệ thống pháp luật về phòng, chống BLGĐ hoàn thiện, đầy đủ, thống nhất, cụ thể, tính khả thi cao, dân chủ, tiến

Trang 31

bộ, hướng tới các giá trị nhân văn cùng với hệ thống các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn và xóa bỏ nguyên nhân dẫn đến vi phạm pháp luật phòng, chống BLGĐ ngày càng đầy đủ cùng với các hoạt động có hiệu quả của hệ thống các cơ quan bảo vệ pháp luật sẽ là những đảm bảo pháp lý để ngăn chặn, hạn chế vi phạm pháp luật phòng, chống BLGĐ

Tuy nhiên, để công tác phòng, chống bạo lực trong gia đình đạt hiệu quả thì phải có hệ thống các văn bản pháp luật đồng bộ điều chỉnh các mối quan hệ từ gia đình tới xã hội để người phụ nữ có cơ chế tự bảo vệ mình, tự tránh khỏi các áp lực, các yếu tố và hành vi dẫn đến bạo hành, nhằm xây dựng gia đình hòa thuận, tiến bộ và văn minh

1.3.3 Yếu tố nhân lực

Để thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình thì cần các yếu tố nhân lực gồm: nguồn kinh phí, tài chính đảm bảo hoạt động, bộ máy quản lý triển khai thực hiện, yếu tố con người

Trong các yếu tố nhân lực ảnh hưởng quan trọng đến việc thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình là yếu tố nguồn kinh phí, tài chính Từ nguồn ngân sách nhà nước, huy động đầu tư xã hội hóa, đóng góp của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước, các khoản viện trợ phi chính phủ,…

Bộ máy quản lý việc thực hiện pháp luật về phòng, chống BLGĐ có vị trí, vai trò quan trọng, có tác động, ảnh hưởng rất lớn đến công tác phòng, chống BLGĐ Các cơ quan, tổ chức này là cơ quan tham mưu các chủ trương, chính sách, xây dựng và hoàn thiện pháp luật về phòng, chống BLGĐ Nếu tham mưu, hoạch định chủ trương, chính sách phù hợp với tình hình thực tế, phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam với quốc tế thì các chủ trương,

Trang 32

chính sách về phòng, chống BLGĐ có tính khả thi, có tác dụng tích cực góp

phần thúc đẩy mạnh mẽ công tác phòng, chống BLGĐ

Trong bất kỳ hoạt động nào thì yếu tố con người cũng quyết định đến kết quả, chất lượng của hoạt động đó Công tác phòng, chống BLGĐ là công việc chung của toàn xã hội chứ không phải là việc của riêng một ai hoặc một gia đình nào Vai trò, trách nhiệm trực tiếp của người làm công tác phòng, chống BLGĐ theo quy định của pháp luật bao gồm: đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và cộng tác viên làm công tác gia đình, trách nhiệm của thành viên gia đình dòng họ, người đứng đầu cộng đồng dân cư, Yếu tố con người đòi hỏi không phải đảm bảo về mặt số lượng mà phải đảm bảo về mặt nhận thức, hiểu biết pháp luật về phòng, chống BLGĐ, có kỹ năng quản lý điều hành, khả năng thích ứng với hoàn cảnh và kỹ năng xử lý tình huống trong gia đình để thực hiện công việc ngăn chặn, hạn chế hành vi bạo lực hoặc các tình huống khắc phục hậu quả bạo lực gia đình đã gây ảnh hưởng lên thành viên trong gia đình, đặc biệt quan tâm đến người phụ nữ, người vợ trong gia đình,

vì đây là đối tượng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ bạo lực gia đình

1.3.4 Yếu tố xã hội

Quá trình thực hiện pháp luật chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của sự phát triển kinh tế – xã hội Thành phố Hồ Chí Minh là một thành phố đô thị phát triển, trình độ học vấn, nâng thức của dân cư ở mỗi khu vực là khác nhau, do

đó nó cũng ảnh hưởng nhất định đến việc thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình

Các phong tục tập quán trong cộng đồng xã hội có ảnh hưởng nhất định tới hoạt động thực hiện pháp luật của các tầng lớp nhân dân Bên cạnh những

ưu điểm rất căn bản, các phong tục tập quán ở khu vực ngoại thành cũng đang bộc lộ những nhược điểm nhất định như còn lạc hậu, lỗi thời; trình độ dân trí

Trang 33

còn thấp; thói hư tật xấu và tệ nạn xã hội còn phát sinh; quan niệm “trọng nam khinh nữ” còn phổ biến… Những hiện tượng trên gây khó khăn cho việc thực hiện đúng đắn pháp luật, đồng thời là những hành vi vi phạm pháp luật, coi thường kỷ cương, phép nước, cần phải có biện pháp xử lý nghiêm minh, thích đáng

Đặc trưng nổi bật của lối sống đô thị nội thành là tính tích cực chính trị – xã hội Cư dân nội thành có nhiều điều kiện tiếp xúc với các thông tin chính trị – xã hội và tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội Các phong trào có sức huy động quần chúng ở các đô thị nội thành thường diễn ra nhanh hơn so với ở ngoại thành Đây cũng là điều dễ hiểu vì đô thị thường là nơi tập trung nhiều thành phần xã hội có trình độ học vấn tương đối cao, từ đó việc thực hiện pháp luật về phòng, chống BLGĐ cũng có hiệu quả cao

Qua đó, ta thấy được yếu tố xã hội góp phần quan trọng trong việc thực hiện pháp luật về phòng, chống BLGĐ Đó là sự tác động qua lại giữa yếu tố

xã hội và công tác phòng, chống BLGĐ, xã hội càng phát triển thì công tác phòng, chống BLGĐ được thực hiện có hiệu quả cao hơn; công tác phòng, chống BLGĐ được thực hiện có hiệu quả thì góp phần xây dựng và phát triển toàn diện cho từng gia đình Việt Nam, từ đó góp phần phát triển xã hội ngày càng dân chủ, văn minh, xây dựng “Thành phố Hồ Chí Minh ngày càng tiến

bộ, hiện đại, nghĩa tình”

Trang 34

Kết luận chương 1

Trong chương này, luận văn đã cơ bản giải quyết được các vấn đề lý luận liên quan đến pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình như: khái niệm, đặc điểm và vai trò của việc thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ; chủ thể, nội dung và hình thức thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ; các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ Đây là những vấn đề lý luận làm nền tảng cho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện công tác phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ hiện nay

Trang 35

CHƯƠNG 2:

THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI PHỤ NỮ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ tại Thành phố Hồ Chí Minh

2.1.1 Tình hình kinh tế, xã hội

Thành phố Hồ Chí Minh (thường được gọi là Sài Gòn) là một trong hai thành phố lớn nhất Việt Nam, đồng thời cũng là một trong những trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa và giáo dục quan trọng nhất của Việt Nam Hiện nay, Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố trực thuộc trung ương, tổng diện tích 2.096 km², dân số thực tế gần 14 triệu người, với 19 quận và 5 huyện với

322 phường, xã, thị trấn

Thành phố Hồ Chí Minh giữ vai trò quan trọng bậc nhất trong nền kinh

tế Việt Nam, chiếm 21,3% tổng sản phẩm (GDP) và 29,38% tổng thu ngân sách của cả nước, gần 30% giá trị tổng sản lượng công nghiệp, gần 307% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước Đặc biệt, kinh tế Thành phố luôn duy trì tốc độ tăng trưởng cao, các lĩnh vực giáo dục, truyền thông, thể thao, giải trí, Thành phố Hồ Chí Minh đều giữ vai trò quan trọng bậc nhất Với nhiều ưu đãi về tự nhiên, địa lý và kinh tế, nên Thành phố Hồ Chí Minh thu hút phần đông dân cư các nơi về đây học tập, sinh sống và làm việc Do đó, điều kiện kinh tế - xã hội ngày càng phát triển và hoàn thiện; các vấn đề xã hội được giải quyết triệt để như: giảm hộ nghèo, giải quyết việc làm, y tế, giáo dục đạt được nhiều kết quả tốt hơn; tệ nạn xã hội được kéo giảm, đời sống nhân dân ngày càng cải thiện và ổn định

Hiện nay, Thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện nhiều chính sách về

Trang 36

văn hóa, công tác an sinh xã hội, đã đạt được nhiều thành quả tích cực Tập trung nguồn lực, ưu tiên đầu tư nâng cấp các công trình, thiết chế văn hóa; định hướng phát triển báo chí, xuất bản, văn hóa – nghệ thuật, thể dục thể thao gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” góp phần ngăn chặn, đẩy lùi các tiêu cực, tệ nạn xã hội, từng bước nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần của người dân, tạo điều kiện tốt nhất để người dân được hưởng thụ văn hóa, tiếp cận được những luồn văn hóa mới, tích cực, tiến bộ của Thế giới

Đây là dấu hiệu đáng mừng chứng minh rằng gia đình Việt Nam đang ngày càng ấm no, hạnh phúc và tiến bộ, góp phần xây dựng và phát triển con

người theo hướng chân – thiện – mỹ Vì “xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia

và nuôi dưỡng suốt cả đời người Ở bất kỳ giai đoạn nào, gia đình đều giữ vai trò là tế bào của xã hội, là một trong những nhân tố quyết định sự hưng thịnh của quốc gia Nước ta đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mục tiêu của gia đình là: No ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, để mỗi gia đình thực sự là tổ ấm của mỗi người và là tế bào lành mạnh của xã hội Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, đường lối, chính sách xây dựng và phát triển gia đình Việt Nam thông qua việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, xây dựng các đề án, chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020,

Trang 37

tầm nhìn đến năm 2030, chương trình hành động quốc gia về phòng, chống bạo lực gia đình đến năm 2020,…

Tuy nhiên, tình trạng bất bình đẳng giới và hậu quả của nó vẫn còn tồn tại trong gia đình và xã hội, đó cũng chính là nguyên nhân gây ra bạo lực gia đình Dù bạo lực gia đình ở cộng đồng phát hiện được giảm dần trong những năm qua, nhưng số nạn nhân bạo lực gia đình là phụ nữ luôn chiếm tỷ lệ trên 80% và người gây bạo lực đa số là nam giới Các vụ bạo lực gia đình đã được phát hiện ở các năm qua đều có ở các tầng lớp dân cư, diễn ra ở nhiều khu vực nội thành và ngoại thành; tỷ lệ số vụ bạo lực gia đình ở các huyện ngoại thành cao hơn các quận nội thành Bạo lực gia đình xảy ra dưới nhiều hình thức đa dạng và diễn biến của bạo lực cũng rất phức tạp và khó dự báo trước, phần lớn những biện pháp can thiệp thường diễn ra sau khi bạo lực xảy ra và nạn nhân đã bị tổn thương Những tổn thương do BLGĐ gây ra trong thời gian hiện nay không còn là thương tích về thể xác mà còn là những tổn thương về mặt tinh thần, nó còn ảnh hưởng nặng nề hơn đối với nạn nhân BLGĐ về thể xác, vết thương ngoài da còn có thể lành nhưng những tổn thương về tinh thần thì phải trải qua thời gian rất lâu mới có thể xóa đi được Những tổn thương ấy làm ảnh hưởng đến nạn nhân BLGĐ về thể chất, tinh thần, năng suất, hiệu quả làm việc và ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế của gia đình cũng như toàn xã hội

Theo báo cáo điều tra quốc gia về bạo lực đối với phụ nữ ở Việt Nam năm 2019 với tên gọi “Hành trình để thay đổi” do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Tổng cục Thống kê phối hợp thực hiện với sự hỗ trợ kỹ thuật, tài chính của Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc, Bộ Ngoại giao - Thương

mại Úc và Đại sứ quán Úc tại Việt Nam:“… bạo lực đối với phụ nữ không

những gây tổn hại sức khỏe thể chất, tinh thần của nữ giới mà còn tạo ra

Trang 38

phụ nữ đang gây thiệt hại về kinh tế cho Việt Nam tương đương khoảng 1,8% GDP trong năm 2018” [4] Qua kết quả điều tra: gần 63% phụ nữ được hỏi

cho biết, từng bị chồng gây ra một hoặc hơn một hình thức bạo lực thể xác, tình dục, tinh thần, bạo lực kinh tế hoặc bị kiểm soát hành vi Trong 12 tháng qua, có gần 32% phụ nữ đang tiếp tục hứng chịu bạo lực Theo điều tra, hầu hết bạo lực đối với phụ nữ thường do chồng gây ra Nếu phụ nữ nào bị bạo lực thể xác do người khác không phải là chồng gây ra thì “thủ phạm” chủ yếu

là thành viên nam trong gia đình (60,6%) Bạo lực đối với phụ nữ vẫn bị che giấu; một nửa số phụ nữ bị chồng bạo hành chưa bao giờ kể với bất kỳ ai; hầu hết phụ nữ (90,4%) bị chồng bạo lực thể xác hoặc tình dục đã không tìm kiếm

bất kỳ sự hỗ trợ nào từ các cơ quan chính quyền

Theo Bà Nguyễn Thị Hà - Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và

Xã hội cho rằng: “nhóm phụ nữ trẻ tuổi không cam chịu và mạnh mẽ hơn trong đấu tranh với bạo lực Những người có trình độ học vấn cao có tỷ lệ bị bạo lực thấp hơn, cho thấy học vấn đã giúp phụ nữ tự tin hơn, mạnh mẽ và độc lập hơn trong cuộc sống Tuy nhiên, nhiều phụ nữ vẫn có nguy cơ cao bị bạo lực Tình trạng bạo lực với phụ nữ vẫn được che giấu do định kiến giới còn khá phổ biến trong xã hội Sự im lặng, kỳ thị của cộng đồng và văn hóa

đổ lỗi là những rào cản khiến người bị bạo lực không dám lên tiếng và tìm

kiếm sự giúp đỡ” [22]

Tại Thành phố Hồ Chí Minh với điều kiện kinh tế - xã hội ngày càng phát triển và hoàn thiện; các vấn đề xã hội được giải quyết triệt để như: giảm

hộ nghèo, giải quyết việc làm, y tế, giáo dục đạt được nhiều kết quả tốt hơn;

tệ nạn xã hội được kéo giảm Nhưng vẫn giữ được đặc trưng của gia đình Việt Nam, số hộ gia đình có phụ nữ (trong các vai trò là vợ, là mẹ, là bà) chiếm khoảng 89% Những nỗ lực thúc đẩy bình đẳng giới và truyền thông nâng cao nhận thức chung về bình đẳng giới đã tạo sự chuyển biến nhận thức, hành

Trang 39

động chung, nhất là giới nữ, đã làm thay đổi vị thế nữ giới trong gia đình và ngoài xã hội Đã có nhiều quan tâm trong việc chăm sóc sức khỏe phụ nữ khi mang thai, chia sẻ trách nhiệm nuôi dạy con và chia sẻ việc nhà, đã tạo điều kiện cho phụ nữ có thời gian tham gia vào các hoạt động xã hội, cộng đồng, làm việc có thu nhập, học tập nâng cao kiến thức, kỹ năng, tay nghề, góp phần khẳng định và nâng cao vị thế của người phụ nữ trong xã hội Nhưng tình trạng BLGĐ vẫn còn tồn tại, có giảm theo từng năm nhưng hình thức bạo lực thay đổi theo xu thế phát triển của xã hội, bạo lực thể xác giảm xuống, tăng hình thức bạo lực tinh thần và bạo lực tình dục

Theo số liệu thống kê, từ năm 2009 đến năm 2018 trên địa bàn thành phố

có 1.877 vụ bạo lực gia đình, 74,7% vụ bạo lực gia đình xảy ra ở 19 quận nội thành và 5 huyện ngoại thành thì chiếm 25,3% vụ Theo phân tích thì: 61,4%

là bạo lực thể xác, bạo lực tinh thần là 30,8%, bạo lực kinh tế là 6,6%, bạo lực tình dục là 1,2% Trong số đó, nạn nhân nam là 282 vụ, chiếm 13,9%, nạn nhân nữ chiếm đa số là 86,1% với 1.595 vụ Từ đó, ta thấy được số vụ bạo lực gia đình tại khu vực ngoại thành cao hơn nội thành, vì khu vực ngoại thành dân cư đông, đa phần dân nhập cư làm việc tại các khu công nghiệp, khu chế xuất; trình độ văn hóa không đồng đều; lối sống nông thôn còn quan điểm

“trọng nam khinh nữ”, điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, … đó là những

nguyên nhân chính gây ra bạo lực gia đình

Mặc dù, công tác phòng, chống bạo lực gia đình, cũng như công tác phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ tại thành phố Hồ Chí Minh luôn được quan tâm triển khai thực hiện đồng bộ từ thành phố đến cơ sở, trải đều khắp 24 quận, huyện, 322 phường, xã, thị trấn Công tác tuyên truyền, vận động được tất cả các cơ quan, ban ngành, đoàn thể thực hiện có hiệu quả từ

Sở Văn hóa, Thể dục, Thể thao tuyên truyền đẩy mạnh xây dựng Tiêu chuẩn

Trang 40

pháp thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới,

đô thị văn minh”, Hội Liên hiệp phụ nữ thành phố tăng cường tuyên truyền, vận động hội viên, phụ nữ thực hiện cuộc vận động “Xây dựng gia đình 5 không 3 sạch”; Hội Nông dân thành phố thì đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền “Nông dân với pháp luật”,… nhằm xóa bỏ các quan niệm lạc hậu của đời sống nông nghiệp như “trọng nam kinh nữ”, “gia trưởng” của người đàn ông trong gia đình,… hoạt động tuyên truyền, vận động cũng được nâng chất với nhiều hình thức đa dạng, phong phú như: thông qua các Hội thi, hội diễn, sân khấu hóa, hội thảo, tọa đàm, “Giải pháp thực thi Luật Phòng, chống bạo lực gia đình”, “Kỹ năng tự bảo vệ”, “Xây dựng mái ấm không bạo lực”,

“Tiếng nói người trong cuộc”, “Thắp sáng tình yêu thương trong mỗi gia đình”, “Vai trò của phụ nữ trong xây dựng gia đình hạnh phúc”, “Mẹ hiểu ý con”, “Lắng nghe tiếng nói trẻ em”, tọa đàm “Kỹ năng làm bạn với con, dạy con hiệu quả, trao đổi kiến thức nuôi con, chăm sóc con”, “Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ vị thành niên”, “Yêu thương và chia sẻ”, “Giữ lửa trong gia đình”, “Góc bếp nếp nhà”, “Bữa cơm gia đình chia sẻ - yêu thương”,… Nhưng, đâu đó trong thành phố vẫn còn xảy ra tình trạng vi phạm pháp luật

về phòng, chống bạo lực gia đình, số vụ việc có giảm theo từng năm nhưng mức độ ảnh hưởng thì không giảm, nhiều vụ BLGĐ còn gây hậu quả nghiêm trọng hơn, gây bức xúc trong xã hội

Theo số liệu thống kê của cơ quan quản lý Nhà nước, hằng năm số vụ BLGĐ có chiều hướng giảm Giai đoạn 2008 đến 2014, trên địa bàn thành phố xảy ra 733 vụ BLGĐ, đến giai đoạn 2015 đến 2019 còn 230 vụ BLGĐ

Bảng 2.1: Số vụ bạo lực gia đình giai đoạn từ năm 2015 – 2019

Ngày đăng: 30/03/2022, 17:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w