So với Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 thì Luật Xử lý vi phạm hành chính có nhiều quy định mới về hình thức xử lý, thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính, thủ tục xử phạt và thi
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN PHƯƠNG LAN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN TUẤN KHANH
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu thu thập và kết quả phân tích trong luận văn là trung thực và chính xác, những kết quả nghiên cứu chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Phương Lan
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU - 1 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TRÌNH TỰ, THỦ TỤC XEM XÉT, QUYẾT ĐỊNH ÁP DỤNG BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN - 8
1.1 Quan niệm, đặc điểm xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân - 8 1.2 Thẩm quyền, trình tự, thủ tục xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành
chính tại Tòa án nhân dân - 16 1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử
lý hành chính tại Tòa án nhân dân - 28
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TRÌNH TỰ, THỦ TỤC XEM XÉT, QUYẾT ĐỊNH ÁP DỤNG BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN Ở TỈNH CAO BẰNG - 36
2.1 Khái quát điều kiện tinh tế - xã hội và tình hình áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân ở tỉnh Cao Bằng - 36 2.2 Thực trạng tổ chức bộ máy và việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại hai cấp Tòa án nhân dân ở tỉnh Cao Bằng - 39 2.3 Đánh giá chung về trình tự, thủ tục xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân ở tỉnh Cao Bằng - 43
CHƯƠNG 3 QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ BẢO ĐẢM THỰC HIỆN TRÌNH TỰ, THỦ TỤC XEM XÉT, QUYẾT ĐỊNH
ÁP DỤNG BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỪ THỰC TIỄN TỈNH CAO BẰNG - 64
3.1 Quan điểm - 64 3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiện trình tự, thủ tục xem xét,
quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân ở tỉnh Cao Bằng 68 KẾT LUẬN - 79 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO - 81 PHỤ LỤC - 86
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BPXLHC : Biện pháp xử lý hành chính TAND : Tòa án nhân dân
UBND : Ủy ban nhân dân
VKSND : Viện kiểm sát nhân dân
Trang 5
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Luật Xử lý vi phạm hành chính được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua năm 2012, có hiệu lực từ ngày 01/7/2013 quy định hai nội dung chủ yếu là xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng các biện pháp xử
lý hành chính Theo đó luật quy định 04 hình thức xử phạt vi phạm hành chính bao gồm: (a) Cảnh cáo; (b) Phạt tiền; (c) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; (d) Tịch thu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính (sau đây gọi chung là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính); (đ) Trục xuất, và có
04 biện pháp xử lý hành chính gồm: (a) Biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; (b) Biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng; (c) Biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và (d) Biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc So với Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 thì Luật Xử lý vi phạm hành chính có nhiều quy định mới về hình thức xử lý, thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính, thủ tục xử phạt và thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, mức xử phạt
và một trong những điểm mới quan trọng của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 là quy định về các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, theo đó, Tòa án nhân dân có thẩm quyền xem xét, quyết định áp dụng một số biện pháp xử lý hành chính
Theo quy định tại Điều 106 của Luật Xử lý vi phạm hành chính, thì: “Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định trình tự, thủ tục Tòa án nhân dân xem xét, quyết định việc áp dụng các biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào
cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” Nghị quyết số
24/2012/QH13 ngày 20/6/2012 của Quốc hội “Về việc thi hành Luật Xử lý vi
phạm hành chính” quy định: “các quy định liên quan đến việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính do Tòa án nhân dân xem xét, quyết định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2014” Như vậy, ngoài hoạt động xét
xử các vụ án, Tòa án nhân dân các cấp còn được giao thẩm quyền quyết định
áp dụng một số biện pháp xử lý hành chính, cụ thể là 3 trên 4 biện pháp xử lý
Trang 6hành chính như đã nêu ở trên Việc chuyển thẩm quyền xem xét, quyết định
áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc từ Chủ tịch UBND sang TAND là một cải cách lớn và có ý nghĩa rất sâu sắc, phù hợp với xu hướng tiến bộ, dân chủ hiện nay Việc giao Toà án quyết định áp dụng các biện pháp Xử lý hành chính nêu trên theo thủ tục tư pháp sẽ tạo điều kiện cho đương sự, luật sư, người bào chữa được tham dự để bảo vệ quyền lợi của đương sự, bảo đảm dân chủ, khách quan, phù hợp với quá trình hội nhập quốc tế
Về bản chất, các biện pháp xử lý hành chính do Tòa án xem xét, quyết định áp dụng là những biện pháp mang tính cưỡng chế nhà nước, trực tiếp ảnh hưởng đến quyền cơ bản của công dân, trong đó có quyền của người chưa thành niên Người bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính này ít nhiều bị hạn chế tự do và một số quyền lợi khác, vì vậy, việc áp dụng các biện pháp này cần phải được thực hiện theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ, dân chủ, công khai, bảo đảm khách quan, chính xác theo đúng tinh thần “các cơ quan tư pháp phải thật sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con người” đã được khẳng định tại các Nghị quyết của Đảng và mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền việt Nam
Ngày 17/03/2014, Văn phòng Chủ tịch nước đã công bố Lệnh của Chủ tịch nước về việc ban hành Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 về Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử
lý hành chính tại Tòa án nhân dân (Sau đây gọi tắt là Pháp lệnh số 09) Pháp lệnh đã thể chế hóa các quan điểm, chủ trưởng, chính sách của Đảng về cải cách hệ thống hóa pháp luật, cải cách tư pháp và cải cách hành chính đã được xác định trong các nghị quyết, văn kiện của Đảng; bảo đảm trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính chặt chẽ, nhanh gọn, khả thi nhằm tăng cường tính công khai, minh bạch, công bằng dân chủ trong quá trình xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính bảo đảm quyền công dân, quyền con người đặc biệt là quyền của người chưa
Trang 7thành niên trong quá trình xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân
Tại tỉnh Cao Bằng, tình hình vi phạm pháp luật diễn ra ngày càng phức tạp, số vụ việc vi phạm pháp luật hành chính do Tòa án nhân dân giải quyết ngày càng tăng, trong đó việc áp dụng các BPXLHC tại Tòa án nhân dân được tiến hành khá thường xuyên Qua thực tiễn áp dụng có thể thấy trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng BPXLHC tại Tòa án còn rườm rà, phải qua nhiều bước, liên quan đến nhiều cơ quan như: Công an cấp xã; Công an huyện, Phòng Tư pháp, Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội, Tòa án nhân dân cấp huyện nên mất rất nhiều thời gian; điều kiện để lập hồ sơ áp dụng BPXLHC quy định khá chặt chẽ nên khó để đưa được đối tượng vào cơ
sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc và trường giáo dưỡng hơn so với trước đây, do đó, phần nào hạn chế đến việc áp dụng các biện pháp này trên thực tế Thêm nữa, các đối tượng cần được áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại TAND có số lượng tương đối lớn, tuy nhiên, số hồ sơ mà các TAND
đã thụ lý để xem xét, giải quyết còn ít, chưa phản ánh đúng yêu cầu thực tế của việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại TAND nhất là tại địa bàn tỉnh Cao Bằng trong giai đoạn hiện nay
Vì vậy, việc nghiên cứu tổng quát về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân có ý nghĩa quan trọng và cần thiết trong tiến trình cải cách tư pháp hiện nay, từ đó đưa ra giải pháp để hoàn thiện và đảm bảo việc thực hiện hoạt động này của Tòa án nhân dân hai cấp
Từ thực tiễn trên đây, học viên lựa chọn đề tài “Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân từ thực tiễn tỉnh Cao Bằng” làm luận văn Thạc sĩ luật học, chuyên ngành luật Hiến pháp và luật hành chính
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Bên cạnh hệ thống giáo trình Luật hành chính của các cơ sở đào tạo luật cung cấp các kiến thức cơ bản về cưỡng chế hành chính nói chung và biện pháp
Trang 8xử lý hành chính (trước đây là biện pháp xử lý hành chính khác) nói riêng, đã có nhiều công trình nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau của biện pháp xử lý hành chính Trong đó, có thể nêu ra một số công trình tiêu biểu như: Luận văn
thạc sĩ luật học của Nguyễn Thị Thủy (2001), "Thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính", trường Đại học Luật Hà Nội; Luận văn thạc sĩ luật học của Nguyễn Thị
Hà (2011), "Các biện pháp xử lý hành chính khác theo quy định của pháp luật Việt Nam", trường Đại học Luật Hà Nội; Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ do Đặng Thanh Sơn làm chủ nhiệm (2009), "Các biện pháp xử lý hành chính khác
và việc bảo đảm quyền con người", Bộ Tư pháp; Nguyễn Ngọc Bích (2003),
"Những điểm mới về các biện pháp xử lý hành chính khác trong Pháp lệnh xử lý
vi phạm hành chính", Tạp chí Luật học, (Đặc san về xử lý vi phạm hành chính); Trần Thanh Hương (2005), "Quyền công dân, quyền con người và chỗ đứng của các biện pháp xử lý hành chính khác trong pháp luật về vi phạm hành chính", Tạp chí Dân chủ và Pháp luật; Lê Ngọc Thạch (2006), "Hoàn thiện các biện pháp xử lý hành chính khác theo Pháp luật Việt Nam", Tạp chí Dân chủ và Pháp luật; Nguyễn Cửu Việt (2009), "Những vấn đề đổi mới pháp luật về vi phạm hành chính ở nước ta", Tạp chí nghiên cứu lập pháp; Nguyễn Mạnh Hùng (2012), "Bàn về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong Dự thảo Luật Xử lý
vi phạm hành chính" - Chuyên đề thuộc Tọa đàm cấp bộ: Thông tin khoa học
tham vấn về Dự thảo Luật Xử lý vi phạm hành chính, (04/2012), Văn phòng Quốc hội - Ủy ban Pháp luật Quốc hội, Hà Nội Ở những góc độ tiếp cận và phạm vi nghiên cứu khác nhau, các công trình này đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề
lý luận và thực tiễn pháp lý về các biện pháp xử lý hành chính theo quy định của pháp luật hiện hành ở thời điểm nghiên cứu (trước khi ban hành Luật xử lý vi phạm hành chính ngày 20/6/2012) Do đó, một số kết quả của các công trình nghiên cứu này không còn tương thích với những thay đổi gần đây trong Luật xử
lý vi phạm hành chính năm 2012 và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật này về áp dụng biện pháp xử lý hành chính Gần đây, đáng chú ý là
cuốn sách do Đặng Thanh Sơn làm chủ biên (2017), "Tìm hiểu pháp luật về các biện pháp xử lý vi phạm hành chính", Cục Xuất bản, in và phát hành Đây là
Trang 9công trình có tính quy mô, toàn diện và khá chi tiết về các biện pháp pháp xử lý hành chính Tuy vậy, Cuốn sách chủ yếu luận giải các biện pháp xử lý hành chính trên cơ sở các quy định của pháp luật hiện hành để đưa ra các luận cứ cho việc nhận diện và áp dụng đúng pháp luật đối với các biện pháp này
Nhìn chung, các công trình nêu trên đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề lý luận
và thực tiễn pháp lý về các biện pháp xử lý hành chính theo nhiều phương diện tiếp cận khác nhau Đây là những luận cứ quan trọng để tiếp tục nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hơn nữa chế định pháp luật về
áp dụng biện pháp xử lý hành chính và nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện chế định này trong thực tiễn
Qua tổng quan tình hình nghiên cứu nêu trên, bằng kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn của bản thân người viết, việc nghiên cứu đề tài luận văn thạc
sĩ luật học "Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân từ thực tiễn tỉnh Cao Bằng" theo định hướng ứng dụng được thực hiện trên trên cơ sở kế thừa có chọn lọc kết quả của các công trình nghiên cứu có liên quan trước đây
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu vấn đề lý luận, đánh giá thực hiện và đưa ra giải pháp nhằm đảm bảo việc thực hiện trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng BPXLHC tại Tòa án nhân dân từ thực tiễn tỉnh Cao Bằng
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ những vấn đề lý luận về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng BPXLHC tại Tòa án: quan niệm, đặc điểm, nội dung, thẩm quyền trình
tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân
- Phân tích làm rõ thực tiễn việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp
xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân tại tỉnh Cao Bằng, chỉ ra những ưu điểm, kết quả đạt được, hạn chế và bất cập, nguyên nhân của kết quả đạt được cũng như những hạn chế, bất cập
Trang 10- Đưa ra quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật và bảo đảm việc thực hiện trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng BPXLHC tại TAND
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận, pháp lý, thực tiễn có liên quan đến trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Luận văn nghiên cứu trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân và các quy định của pháp luật có liên quan đến việc quyết định áp dụng BPXLHC tại Tòa
án theo pháp luật Việt Nam trên địa bàn tỉnh Cao Bằng
- Về thời gian: Luận văn nghiên cứu thực tiễn công tác áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính tại Tòa án nhân dân từ thực tiễn tỉnh Cao Bằng, giai đoạn từ 2016 - 2019
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn sử dụng các phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của triết học Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về áp dụng BPXLHC tại TAND
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu cụ thể: tổng hợp, phân tích khái quát những vấn đề cơ bản nhất về lý luận và thực tiễn xem xét, quyết định áp dụng BPXLHC trên cơ sở trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng BPXLHC được quy định tại Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 Luận văn cũng nghiên cứu thực tiễn, tổng kết số liệu từ năm 2016 đến năm
2019 trong hoạt động thực hiện trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng BPXLHC của Tòa án nhân dân tại tỉnh Cao Bằng
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Trang 11Luận văn góp phần làm rõ thêm lý luận về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân Luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo dành cho các nhà nghiên cứu, các cán bộ giảng dạy pháp luật Luận văn còn tổng hợp, phân tích tình hình thực hiện các trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, thực trạng tồn tại, nguyên nhân, giải pháp thực hiện những vấn đề quan trọng để phục vụ cho việc trang bị những kiến thức cũng như kỹ năng hoạt động cho các cán bộ, Kiểm sát viên và Thẩm phán đang công tác tại các cơ quan Công an, Viện kiểm sát, Tòa án trong quá trình
áp dụng các biện pháp xử lý hành chính được khách quan, chính xác, có căn
cứ và đúng pháp luật Luận văn có giá trị tham khảo cho việc hoạch định chính sách và hoàn thiện chính sách pháp luật trong việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân
7 Cơ cấu của luận văn
Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và giải pháp về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân
Chương 2: Thực trạng trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân ở tỉnh Cao Bằng
Chương 3: Quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiện trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân từ thực tiễn tỉnh Cao Bằng
Ngoài ra còn có phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo
và phụ lục
Trang 121.1.1 Quan niệm về biện pháp xử lý hành chính và việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính của Tòa án nhân dân
Theo quy định của Luật XLVPHC năm 2012, xử lí vi phạm hành chính bao gồm xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng các biện pháp xử lí hành chính khác
Tại Điều 2 Luật XLVPHC năm 2012 quy định:
“3 Biện pháp xử lý hành chính là biện pháp được áp dụng đối với cá nhân vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà không phải là tội phạm, bao gồm biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.”
Từ đó có thể đưa ra khái niệm: Xử lí vi phạm hành chính là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng những biện pháp cưỡng chế do pháp luật quy định đối với cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự Xử lí vi phạm hành chính bao gồm xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng các biện pháp xử lí hành chính khác
Xuất phát từ Nghị quyết 49 năm 1961 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các biện pháp xử lý hành chính quy định trong Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 hiện hành có nguồn gốc ban đầu là biện pháp cưỡng chế hành chính đặc biệt Nghị quyết này quy định việc đưa vào các cơ sở tập trung giáo dục, cải tạo đối với người có hành động nguy hại cho xã hội, được giáo dục nhiều lần, nhưng không hối cải Chủ tịch tỉnh ra quyết định và Bộ trưởng Công an
Trang 13duyệt với thời hạn 03 năm mà không cần thông qua việc xét xử của cơ quan
tư pháp - Tòa án Những biện pháp này được dành cho những người chống đối chế độ biểu hiện qua những hành vi như: gián điệp, mật thám, ngụy quân, ngụy quyền, cốt cán đảng phái phản động… Biện pháp tập trung giáo dục cải tạo, ngoài những đối tượng nói trên, cũng được áp dụng cho những người có những hành tội phạm như lưu manh, trộm cắp, lừa đảo…
Theo Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 1995 các biện pháp cưỡng chế hành chính đặc biệt được xếp vào nhóm biện pháp xử lý vi phạm hành chính khác
Đến Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 đã được sửa đổi, bổ sung theo hướng nhân đạo hơn nhằm tạo điều kiện cho người vi phạm sớm hoà nhập cộng đồng:
Tại Điều 1 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 quy định:
"Các biện pháp xử lý hành chính khác được áp dụng đối với cá nhân có hành
vi vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định tại các điều 23, 24, 25, 26 của Pháp lệnh này"
Các biện pháp xử lý hành chính khác được xem là biện pháp cưỡng chế hành chính đặc biệt, sở dĩ được xem là đặc biệt vì nó khác các biện pháp cưỡng chế hành chính thông thường khác như đã phân tích trên và nó mang những đặc trưng về mức độ nghiêm khắc cao hơn so với các biện pháp cưỡng chế hành chính thông thường Về thực chất biện pháp xử lý hành chính khác hạn chế quyền tự do cá nhân trong một giai đoạn nhất định với hình thức như đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục, đưa vào cơ sở chữa bệnh, không thua kém các biện pháp tư pháp hình sự về tính chất khắc nghiệt, trừng phạt; hoặc biện pháp có tính chất tác động xã hội cao như giáo dục tại xã, phường, thị trấn Nhóm biện pháp này có đặc trưng là thời gian cưỡng chế dài
từ ba tháng đến hai năm, người bị áp dụng phải chịu sự giám sát và quản lý
Trang 14chặt chẽ của các cơ quan hành chính nhà nước, tổ chức xã hội, các đoàn thể… Đối tượng bị áp dụng các biện pháp này cũng đa dạng và đặc biệt hơn
Đến ngày 01 tháng 01 năm 2014, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012
có hiệu lực hoàn toàn, đã có nhiều quy định mới và cụ thể hơn về hình thức xử
lý, thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính, thủ tục xử phạt và thi hành quyết định
xử phạt vi phạm hành chính cũng như mức xử phạt, đặc biệt là quy định về các biện pháp xử lý hành chính do Tòa án nhân dân xem xét, quyết định
Theo quy định tại Phần thứ ba của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm
2012 thì có 04 biện pháp xử lý hành chính, bao gồm: (1) biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; (2) biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng; (3) biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và (4) biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc Trong đó, Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có thẩm quyền quyết định áp dụng các biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc Xét về bản chất thì các biện pháp xử lý hành chính do Tòa án nhân dân xem xét, quyết định áp dụng nêu trên là những biện pháp mang tính cưỡng chế nhà nước, trực tiếp ảnh hưởng đến quyền cơ bản của công dân, trong đó
có quyền của người chưa thành niên Người bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính này ít nhiều bị hạn chế tự do và một số quyền lợi khác Vì vậy, việc áp dụng các biện pháp này cần phải được thực hiện theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ, dân chủ, công khai, bảo đảm khách quan, chính xác
Từ những phân tích nêu trên, có thể đưa ra khái niệm áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân như sau: “Áp dụng các biện pháp xử
lý hành chính tại Tòa án nhân dân là một hình thức thực hiện pháp luật do Tòa
án nhân dân tuân thủ những quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính và Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân để quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế hành chính đối với cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bao gồm biện pháp
Trang 15đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc; đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc”
1.1.2 Đặc điểm của xem xét, quyết định áp dụng BPXLHC tại TAND
1.1.2.1 Áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân là quá trình cá biệt hoá các quy phạm pháp luật hành chính đối với hành vi vi phạm hành chính
Theo nguyên tắc của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và Pháp lệnh số 09 quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xứ lý hành chính tại Tòa án nhân dân thì việc xác định sự thật khách quan của hồ sơ đề nghị xử lý vi phạm hành chính thuộc trách nhiệm của các
cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong đó có Toà án
Xác định sự thật khách quan của hồ sơ xử lý hành chính bao gồm các việc như xác định các giai đoạn của quá trình thực hiện hành vi vi phạm hành chính từ khi bắt đầu cho tới khi kết thúc; hành vi vi phạm pháp luật đó thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật xử lý vi phạm hành chính hay không, nếu thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật xử lý vi phạm hành chính thì sẽ áp dụng điều luật nào, khoản nào, mức hình phạt nào hoặc áp dụng biện pháp xử lý hành chính nào để tương xứng với hành vi vi phạm Đồng thời khi nghiên cứu hồ
sơ xử lý vi phạm hành chính, những cá nhân có thẩm quyền cần xác định hành vi phạm vi phạm hành chính trên thực tế và đối chiếu với quy định của Luật xử lý hành chính để xem xét áp dụng một trong ba biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, là: đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và đưa vào cai nghiện bắt buộc
Tại phiên họp để xem xét việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính Thẩm phán phải lựa chọn quy phạm pháp luật nội dung (Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012) và quy phạm pháp luật hình thức (Pháp lệnh số 09) phù hợp để áp dụng và xem xét việc đưa ra biện pháp xử lý hành chính đối với người thực hiện hành vi vi phạm hành chính Để thực hiện áp dụng biện pháp xử lý hành chính đúng, thì các chủ thể áp dụng biện pháp xử lý hành
Trang 16chính phải có kiến thức pháp lý, có kinh nghiệm thực tiễn và có sự hiểu biết
rộng về các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội
1.1.2.2 Áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính tại Tòa án nhân dân là hoạt động nhân danh quyền lực Nhà nước do Tòa án nhân dân tiến hành mà trực tiếp là Thẩm phán và được tiến hành tại trụ sở của Tòa án
Thẩm phán Tòa án nhân dân phải căn cứ vào các chứng cứ tài liệu mà cơ quan lập hồ sơ đề nghị xử lý vi phạm hành chính (Công an hoặc Ủy ban nhân dân ) đã thu thập được và kết quả thẩm tra tại phiên họp để ra quyết định áp dụng một trong ba biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân đối với người
vi phạm hành chính được khách quan, chính xác, đúng pháp luật được tiến hành thông qua phiên họp xem xét, quyết định áp dụng BPXLHC tại TAND, nhằm xem xét, đánh giá các chứng cứ, tài liệu thu thập được trong quá trình các cơ quan, tổ chức lập hồ sơ đề nghị đối với người bị áp dụng BPXLHC Điều đó thể hiện uy quyền của Nhà nước mà cơ quan đại diện là TAND Việc mở phiên họp công khai tại trụ sở Tòa án không chỉ thể hiện sự tôn nghiêm của pháp luật mà còn đảm bảo sự tham gia, giám sát của nhân dân Qua đó, đảm bảo quyền tự do, dân chủ của công dân, quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước; các quyền và nghĩa vụ của Nhà nước, của công dân, các tổ chức được pháp luật bảo vệ, công bằng xã hội được thực hiện triệt để, nghiêm túc
Thẩm phán chủ trì phiên họp xem xét việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân Tại phiên họp, người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý có quyền trình bày ý kiến về việc mình bị đề nghị áp dụng biện pháp xứ lý hành chính là đúng hay sai và có quyền đưa ra chứng cứ và tham gia tranh luận bảo vệ quyền và nghĩa vụ hợp pháp của mình Những người tham gia phiên họp còn phải chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên họp, nếu
vi phạm thì tùy theo mức độ sẽ bị Thẩm phán xử lý theo quy định của pháp luật Việc mở phiên họp công khai tại Tòa án nhân nhân cũng chính là cơ sở xem xét, đánh giá chất lượng công tác áp dụng các biện pháp xử lý hành
Trang 17chính tại Tòa án dân dân nói chung và khả năng, trình độ, năng lực người Thẩm phán nói riêng
Vì vậy, để đảm bảo cho một quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân đạt hiệu quả, đúng pháp luật đòi hỏi Thẩm phán phải tuân thủ chặt chẽ các quy định của pháp luật, có tâm huyết với nghề Toà
án nói chung và uy tín của từng cá nhân Thẩm phán nói riêng
1.1.3 Áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại TAND là hoạt động áp dụng pháp luật được tiến hành theo một trình tự, thủ tục xem xét chặt chẽ
Pháp lệnh số 09 và Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của pháp luật về xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xứ lý hành chính tại Tòa án nhân dân đã quy định rất chi tiết và chặt chẽ trình tự thủ tục và cách thức tiến hành các hoạt động xem xét áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân buộc cơ quan Tòa án mà đại diện là Thẩm phán phải tuân thủ triệt để các quy định đó khi tổ chức phiên họp xem xét áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân Thẩm phán được phân công xem xét, quyết định áp dụng BPXLHC phải dự tính trước các tình huống phát sinh tại phiên họp như: việc khiếu nại, giải quyết khiếu nại trong quá trình lập hồ sơ đề nghị; người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử hành chính vắng mặt; đại diện cơ quan đề nghị, Kiểm sát viên hoặc phiên dịch vắng mặt Trong quá trình xem xét, quyết định áp dụng BPXLHC, nếu Tòa án vi phạm các trình tự, thủ tục phiên họp do pháp luật quy định thì bị coi là vi phạm nghiêm trọng Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân và sẽ bị Viện kiểm sát nhân dân kháng nghị, dẫn tới việc quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân có thể bị hủy bỏ
Do vậy quá trình tổ chức phiên họp, Thẩm phán phải tuân thủ triệt để các quy định của Pháp lệnh số 09 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính tại Tòa án nhân dân Đây chính là
Trang 18việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình thức được quy định trong Pháp lệnh số 09 Việc áp dụng đúng các quy định nêu trên giúp cho các quyền và nghĩa vụ của công dân được bảo đảm thực hiện một cách nghiêm chỉnh; các bước tiến hành trình tự, thủ tục được chính xác, khách quan; các quyết định
áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại của Toà án bảo đảm đúng pháp luật
1.1.3 Nguyên tắc của xem xét, quyết định áp dụng BPXLHC tại TAND
Nguyên tắc khi áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án được quy định cụ thể tại Điều 2 Pháp lệnh số 09 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, theo đó, nguyên tắc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính được quy định như sau:
Thứ nhất, việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính
tại Tòa án phải đảm bảo nguyên tắc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính được quy định tại khoản 2 Điều 3 và khoản 2 Điều 5 của Luật xử lý vi phạm hành chính, bao gồm: Cá nhân chỉ bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính nếu thuộc một trong các đối tượng sau: đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Việc
áp dụng các biện pháp xử lý hành chính phải được tiến hành nhanh chóng, công khai, khách quan, đúng thẩm quyền, bảo đảm công bằng, đúng quy định của pháp luật; Việc quyết định thời hạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính phải căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, nhân thân người vi phạm
và tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng; Người có thẩm quyền áp dụng biện pháp xử lý hành chính có trách nhiệm chứng minh vi phạm hành chính Cá nhân bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp chứng minh mình không vi phạm hành chính; Đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính là cá nhân được quy định tại các điều 90, 92, 94 và 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính
Trang 19Việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với người chưa thành niên còn phải bảo đảm các quy định tại các khoản 1, 2 và 4 Điều 134 của Luật xử lý vi phạm hành chính, cụ thể như sau:
“1 Việc xử lý người chưa thành niên vi phạm hành chính chỉ được thực hiện trong trường hợp cần thiết nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội
Trong quá trình xem xét xử lý người chưa thành niên vi phạm hành chính, người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính phải bảo đảm lợi ích tốt nhất cho người chưa thành niên Biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng chỉ được áp dụng khi xét thấy không có biện pháp xử lý khác phù hợp hơn;
2 Việc xử lý người chưa thành niên vi phạm hành chính còn căn cứ vào khả năng nhận thức của người chưa thành niên về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm, nguyên nhân và hoàn cảnh vi phạm để quyết định việc xử phạt hoặc áp dụng biện pháp xử lý hành chính phù hợp;
4 Trong quá trình xử lý người chưa thành niên vi phạm hành chính, bí mật riêng tư của người chưa thành niên phải được tôn trọng và bảo vệ;” Thứ hai, việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính do
một Thẩm phán thực hiện
Thứ ba, khi xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính,
Thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
Thứ tư, bảo đảm sự vô tư của những người tiến hành phiên họp, gồm
Thẩm phán và Thư ký phiên họp Nếu Thẩm phán, Thư ký được phân công thuộc những trường hợp sau thì phải từ chối, thay đổi Thẩm phán, Thư ký
phiên họp: Là người thân thích của người bị đề nghị; Đã tiến hành xem xét,
quyết định việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong cùng vụ việc đó;
Đã tiến hành việc giải quyết khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong cùng vụ việc đó; Có căn cứ rõ ràng cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ
Trang 20Thứ năm, tiếng nói, chữ viết dùng trong việc xem xét, quyết định áp
dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án là tiếng Việt Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính hoặc người đại diện hợp pháp của họ, cha
mẹ hoặc người giám hộ của người bị đề nghị là người chưa thành niên có quyền dùng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình và phải có người phiên dịch
Thứ sáu, người bị đề nghị, cha mẹ hoặc người giám hộ của người bị đề
nghị là người chưa thành niên có quyền tự mình hoặc nhờ luật sư, người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Trường hợp người bị đề nghị là người chưa thành niên mà không có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp thì Tòa án yêu cầu Đoàn luật sư phân công Văn phòng luật sư cử người bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ Tòa án bảo đảm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị đề nghị
Thứ bảy, bảo đảm quyền của người bị đề nghị được giải trình trước Tòa
án, tranh luận với cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính
Thứ tám, bảo đảm quyền được xem xét theo hai cấp trong việc áp dụng
biện pháp xử lý hành chính Theo đó, Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính là Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cơ quan đề nghị có trụ sở Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền xét lại quyết định của Tòa án nhân dân cấp huyện bị khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị
1.2 Thẩm quyền, trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng BPXLHC tại TAND
1.2.1 Thẩm quyền
Thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 theo tinh thần của
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị đó là “hình thành
cơ chế pháp lý đế Chính phủ thực hiện quyền yêu cầu xem xét, xử lý bằng thủ tục tư pháp đối với mọi vi phạm nghiêm trọng được phát hiện trong quá trình quản lý, tổ chức thi hành pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tham gia tố tụng, bảo đảm sự bình đẳng của công dân và cơ quan công quyền trước Tòa án” cũng như bảo đảm thực hiện các cam kết quốc tế về quyền con
Trang 21người, tiến tới các chuẩn mực quốc tế về quyền con người theo hướng công khai, minh bạch, công bằng, hạn chế việc ban hành quyết định áp dụng mang tính khép kín, đơn phương của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, Luật XLVPHC quy định chuyển thẩm quyền xem xét, quyết định áp dụng các BPXLHC bao gồm biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, biện pháp đưa vào
cơ sở giáo dục bắt buộc, biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc sang cơ quan tư pháp, cụ thể ở đây là Tòa án nhân dân, là một cải cách lớn và có ý nghĩa rất sâu sắc Điều này giúp tăng uy tín quốc gia trong việc bảo đảm thực hiện các cam kết quốc tế, hơn nữa, việc thực thi tốt các điều ước quốc tế về quyền con người giúp doanh nghiệp gián tiếp hưởng lợi về đầu tư và việc tham gia các hiệp định thương mại; giảm khiếu nại, tố cáo; hiệu quả thi hành của quyết định áp dụng do đối tượng bị áp dụng và gia đình đồng tình với quyết định áp dụng, tự nguyện thi hành cao hơn trước; tiết kiệm được chi phí
cơ hội nếu tránh được việc bị áp dụng sau pháp luật
Tòa án nhân dân cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Tòa án nhân dân cấp huyện) có thẩm quyền xem xét, quyết định
áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ
sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
Tòa án nhân dân cấp tỉnh, thành phố thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Tòa án nhân dân cấp tỉnh) có thẩm quyền xem xét, giải quyết các quyết định của Tòa án nhân dân cấp huyện trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị; xem xét, giải quyết hành vi của người có thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị khiếu nại
Điểm mới quan trọng của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 là quy định về các biện pháp xử lý hành chính do Tòa án nhân dân xem xét, quyết định Theo khoản 2 Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định:
“Toà án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền quyết định áp dụng các biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai
Trang 22nghiện bắt buộc” Việc chuyển thẩm quyền xem xét, quyết định áp dụng biện
pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và đưa vào cơ
sở cai nghiện bắt buộc từ Chủ tịch Ủy ban nhân dân sang Tòa án nhân dân là nội dung thay đổi rất lớn so với Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 trước đây, phù hợp với xu hướng tiến bộ, dân chủ hiện nay
1.2.2 Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân
Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại TAND được thực hiện theo quy định tại Pháp lệnh số 09 Biện pháp
xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân được tiến hành một cách chặt chẽ, qua nhiều khâu xét duyệt với sự tham gia của nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền khác nhau Bởi việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân đối với các đối tượng vi phạm pháp luật ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, tự do của mỗi cá nhân.Vì vậy, pháp luật cần phải quy định chính xác, minh bạch trong quá trình xử lý để vừa đảm bảo xử lý nghiêm những hành vi phạm, đồng thời đảm bảo quyền tự do dân chủ của công dân
Pháp lệnh gồm có 5 chương, 42 điều, quy định trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại tòa án nhân dân; trình tự, thủ tục xem xét, quyết định việc hoãn, miễn chấp hành, giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành phần thời gian áp dụng biện pháp xử lý hành chính còn lại; khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị; giải quyết khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính; khiếu nại, giải quyết khiếu nại hành vi của người có thẩm quyền của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính
Trình tự, thủ tục xem xét quyết định áp dụng BPXLHC tại TAND được thực hiện qua 05 bước cơ bản như sau:
Trang 23- Sau khi Tòa án thụ lý hồ sơ đề nghị của cơ quan có thẩm quyền, trong thời hạn 01 ngày làm việc, phải tiến hành phân công Thẩm phán xem xét, giải quyết
- Tòa án thông báo việc thụ lý bằng văn bản cho cơ quan đề nghị, người bị đề nghị hoặc các cá nhân có liên quan và Viện kiểm sát cùng cấp trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý
- Thẩm phán được phân công phải kiểm tra hồ sơ đề nghị trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày được phân công, từ đó quyết định việc yêu cầu bổ sung tài liệu, chứng cứ; đình chỉ, tạm đình chỉ việc xem xét, quyết định áp dụng BPXLHC; hoặc mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng BPXLHC
- Trường hợp mở phiên họp thì Thẩm phán ra quyết định mở phiên họp và gửi cho người bị đề nghị, cơ quan đề nghị, Viện kiểm sát và những người có liên quan khác tham gia phiên họp trong thời hạn chậm nhất 03 ngày làm việc trước khi mở phiên họp
- Trình tự, thủ tục tiến hành phiên họp được quy định tại Điều 20 Pháp lệnh số 09 Tại phiên họp Thẩm phán phải công bố một trong các quyết định: áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp XLHC hoặc đình chỉ, tạm đình chỉ việc xem xét, quyết định áp dụng BPXLHC
Có thể khẳng định rằng, với phạm vi điều chỉnh như trên, Pháp lệnh
đã thể chế hóa các quan điểm, chủ trưởng, chính sách của Đảng về cải cách
hệ thống hóa pháp luật, cải cách tư pháp và cải cách hành chính đã được xác định trong các nghị quyết, văn kiện của Đảng; bảo đảm trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính chặt chẽ, nhanh gọn, khả thi nhằm tăng cường tính công khai, minh bạch, công bằng dân chủ trong quá trình xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính bảo đảm quyền công dân, quyền con người đặc biệt là quyền của người chưa thành niên trong quá trình xem xét, quyết định áp dụng các
biện pháp hành chính
Trang 24Thời hạn để Tòa án xem xét, quyết định áp dụng BPXLHC kể từ ngày thụ lý hồ sơ đến khi công bố quyết định là 15 ngày, đối với vụ việc phức tạp, thời hạn này có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày
Trách nhiệm của Thẩm phán khi được phân công là phải vô tư trong khi làm nhiệm vụ, nếu có căn cứ rõ ràng cho rằng họ có thể không vô tư thì Thẩm phán phải từ chối xem xét, quyết định, trường hợp này thì Chánh án Tòa án phân công Thẩm phán khác xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính Đặc biệt đối với việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, Thẩm phán được phân công phải có hiểu biết cần thiết về tâm lý học, khoa học giáo dục và hoạt động phòng ngừa người chưa thành niên vi phạm pháp luật Thẩm phán kiểm tra hồ sơ đề nghị về các nội dung như: tài liệu trong hồ sơ đề nghị đúng, đủ theo quy định của Luật XLVPHC; Thời hiệu áp dụng BPXLHC theo quy định của Luật XLVPHC; Thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng BPXLHC Trường hợp cần thiết, Thẩm phán có thể tham vấn ý kiến của chuyên gia y tế, tâm lý, giáo dục, xã hội học và đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính cư trú để làm rõ tình trạng sức khỏe, tâm lý, điều kiện sống, học tập của họ
Đối với trường hợp cần bổ sung tài liệu, chứng cứ thì người bị đề nghị, cha mẹ hoặc người giám hộ của người bị đề nghị là người chưa thành niên, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị đề nghị có quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ cho tòa án đã thụ lý; Thẩm phán có quyền yêu cầu cơ quan
đề nghị bổ sung tài liệu, chứng cứ khi tài liệu chứng minh hành vi vi phạm của người bị đề nghị, tài liệu về nhân thân, tình trạng sức khỏe của người bị
đề nghị chưa rõ hoặc có mâu thuẫn mà không thể bổ sung, làm rõ tại phiên họp hoặc khi phát hiện có vi phạm nghiêm trọng trình tự, thủ tục đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính
Đối với trường hợp đình chỉ, tạm đình chỉ việc xem xét, quyết định áp dụng BPXLHC khi có một trong các căn cứ theo quy định tại Điều 15 Pháp lệnh số 09
Trang 25như sau: Hết thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính; Người bị đề nghị đã chết; Người bị đề nghị không thuộc đối tượng áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính; Người bị đề nghị thuộc trường hợp không áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy định của Luật
xử lý vi phạm hành chính; Cơ quan đề nghị rút đề nghị; Người bị đề nghị đã có bản án, quyết định hình sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật đối với hành vi bị
đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính; Người bị đề nghị đang chấp hành hình phạt tù, đang chờ chấp hành hình phạt tù hoặc hình phạt tử hình theo bản
án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
Đối với trường hợp mở phiên họp thì thành phần tiến hành phiên họp gồm
có người tiến hành phiên họp là Thẩm phán và Thư ký phiên họp; Người tham gia phiên họp gồm có đại diện cơ quan đề nghị, Kiểm sát viên, người bị đề nghị hoặc người đại diện hợp pháp của họ, cha mẹ hoặc người giám hộ của người bị
đề nghị là người chưa thành niên, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị đề nghị; Trường hợp cần thiết, Tòa án yêu cầu đại diện cơ quan Lao động - thương binh và xã hội cấp huyện, người giám định, người phiên dịch, chuyên gia y tế, giáo dục, tâm lý, đại diện của nhà trường nơi người bị đề nghị là người chưa thành niên học tập, đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người bị đề nghị cư trú hoặc những người khác tham gia phiên họp để trình bày ý kiến về các vấn đề có liên quan Người tham gia phiên họp phải thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 18 Pháp lệnh số 09 Nếu người tham gia phiên họp vắng mặt có lý do chính đáng thì Tòa án có thể hoãn phiên họp; trường hợp vắng mặt không có lý do chính đáng hoặc có yêu cầu xem xét vắng mặt thì Tòa
án vẫn tiến hành phiên họp Riêng đối với trường hợp đại diện cơ quan đề nghị, Kiểm sát viên vắng mặt thì phải hoãn phiên họp Biên bản phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính phải ghi rõ ngày, tháng, năm, địa điểm mở phiên họp; thành phần tham gia phiên họp; nội dung, diễn biến phiên họp; quyết định của Thẩm phán Sau khi kết thúc phiên họp, Thẩm phán phải kiểm tra biên bản, cùng với Thư ký phiên họp ký vào biên bản Kiểm sát viên,
Trang 26người bị đề nghị hoặc người đại diện hợp pháp của họ, cha mẹ hoặc người giám
hộ của người bị đề nghị là người chưa thành niên, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị đề nghị, đại diện cơ quan đề nghị được xem biên bản phiên họp, có quyền yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên họp
và ký xác nhận
Quyết định áp dụng, không áp dụng biện pháp xử lý hành chính, quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ áp dụng biện pháp xử lý hành chính của Tòa án nhân dân
có hiệu lực sau 03 ngày mà không bị khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị
Về việc thi hành quyết định áp dụng BPXLHC tại TAND:
Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính có hiệu lực, Tòa án nhân dân cấp huyện phải gửi cho người bị áp dụng, Trưởng Công an và Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cùng cấp - nơi gửi hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người bị áp dụng BPXLHC cư trú để thi hành theo quy định của pháp luật; quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng được gửi cho cha mẹ hoặc người đại diện hợp pháp của họ
Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng hết thời hiệu thi hành sau 06 tháng; quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hết thời hiệu thi hành sau
01 năm Trường hợp người phải chấp hành quyết định cố tình trốn tránh việc thi hành, thì thời hiệu được tính kể từ thời điểm hành vi trốn tránh chấm dứt Người phải chấp hành quyết định nhưng chưa đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc được hoãn chấp hành quyết định trong các trường hợp sau: đang ốm nặng có chứng nhận của bệnh viện; gia đình đang có khó khăn đặc biệt được Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận Khi điều kiện hoãn chấp hành quyết định không còn thì quyết định được tiếp tục thi hành Người phải chấp hành được miễn chấp hành trong các trường hợp sau: Mắc bệnh hiểm nghèo có
Trang 27chứng nhận của bệnh viện; trong thời gian hoãn chấp hành quyết định mà người đó có tiến bộ rõ rệt trong việc chấp hành pháp luật hoặc lập công hoặc không còn nghiện ma túy; đang mang thai có chứng nhận của bệnh viện Tòa
án nhân dân cấp huyện nơi đã ra quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc xem xét, quyết định việc hoãn hoặc miễn chấp hành trên cơ sở đơn
đề nghị của người phải chấp hành quyết định hoặc người đại diện hợp pháp của họ; trong trường hợp cần thiết thì đề nghị cơ quan đã gửi hồ sơ có ý kiến trước khi quyết định
Ngoài trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng BPXLHHC tại TAND được quy định tại Pháp lệnh số 09, Luật XLVPHC năm 2012 còn quy định chi tiết, cụ thể về thời hiệu áp dụng BPXLHC, thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng BPXLHC đối với mỗi biện pháp xử lý hành chính tại TAND
1.2.2.1 Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng
Thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng được thực hiện theo sau:
- Đối với người chưa thành niên vi phạm có nơi cư trú ổn định thì Chủ
tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng Tài liệu trong hồ sơ đề nghị gồm có: bản tóm tắt lý lịch; tài liệu về các hành vi vi phạm pháp luật của người vi phạm; biện pháp giáo dục đã áp dụng; bản tường trình của người vi phạm, ý kiến của cha mẹ hoặc người đại diện hợp pháp của họ, ý kiến của nhà trường,
cơ quan, tổ chức nơi người chưa thành niên đang học tập hoặc làm việc (nếu có) và các tài liệu khác có liên quan
- Đối với người chưa thành niên vi phạm không có nơi cư trú ổn định thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó có hành vi vi phạm pháp luật lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng.Tài liệu trong
Trang 28hồ sơ đề nghị gồm có: biên bản vi phạm; bản tóm tắt lý lịch; tài liệu về các hành vi vi phạm pháp luật của người đó; bản trích lục tiền án, tiền sự; biện pháp giáo dục đã áp dụng (nếu có); bản tường trình của người vi phạm, ý kiến của cha mẹ hoặc người đại diện hợp pháp của họ
- Trong trường hợp người chưa thành niên vi phạm do cơ quan Công
an cấp huyện hoặc Công an cấp tỉnh trực tiếp phát hiện, điều tra, thụ lý trong các vụ vi phạm pháp luật, nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự mà thuộc đối tượng đưa vào trường giáo dưỡng theo quy định của Luật XLVPHC thì cơ quan Công an đang thụ lý vụ việc tiến hành xác minh, thu thập tài liệu và lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng đối với người đó Hồ sơ đề nghị gồm có: bản tóm tắt lý lịch; tài liệu về các hành vi vi phạm pháp luật của người đó; biện pháp giáo dục đã áp dụng; bản tường trình của người vi phạm, ý kiến của cha mẹ hoặc của người đại diện hợp pháp của họ
Tất cả các hồ sơ phải có văn bản của Trưởng công an cấp huyện về việc
đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng
Thời hạn áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng từ 06 tháng đến
24 tháng, cụ thể: Đối với người từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi thực hiện hành
vi có dấu hiệu của một tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý quy định tại
Bộ luật hình sự, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý quy định tại Bộ luật hình sự thì thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng là 01 năm, kể từ ngày cá nhân thực hiện hành vi trên Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật hình sự mà trước đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại
xã, phường, thị trấn thì thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng là 06 tháng, kể từ ngày cá nhân thực hiện hành vi trên Đối với người
từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi 02 lần trở lên trong 06 tháng thực hiện hành vi trộm cắp, lừa đảo, đánh bạc, gây rối trật tự công cộng mà chưa đến mức truy
Trang 29cứu trách nhiệm hình sự và trước đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng là
06 tháng, kể từ ngày cá nhân thực hiện lần cuối một trong những hành vi trên Công an cấp huyện nơi gửi hồ sơ đề nghị có trách nhiệm đưa người phải chấp hành quyết định vào trường giáo dưỡng, trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định áp dụng BPXLHC đưa vào trường giáo dưỡng
1.2.2.2 Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào
cơ sở giáo dục bắt buộc
Thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc được thực hiện như sau:
- Đối với người vi phạm có nơi cư trú ổn định thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào
cơ sở giáo dục bắt buộc Tài liệu trong hồ sơ đề nghị gồm có: bản tóm tắt lý lịch; tài liệu về các hành vi vi phạm pháp luật của người đó; biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đã áp dụng; bản tường trình của người vi phạm hoặc của người đại diện hợp pháp của họ và các tài liệu khác có liên quan
- Đối với người không cư trú tại nơi có hành vi vi phạm pháp luật thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã phải xác minh; trường hợp xác định được nơi cư trú thì có trách nhiệm chuyển người đó kèm theo biên bản vi phạm về địa phương để xử lý; trường hợp không xác định được nơi cư trú của người đó thì lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc Tài liệu trong hồ sơ đề nghị gồm có: biên bản vi phạm; bản tóm tắt lý lịch; tài liệu
về các hành vi vi phạm pháp luật của người đó; bản trích lục tiền án, tiền sự; biện pháp giáo dục đã áp dụng (nếu có); bản tường trình của người vi phạm hoặc của người đại diện hợp pháp của họ
- Trường hợp người vi phạm do cơ quan Công an cấp huyện hoặc Công
an cấp tỉnh trực tiếp phát hiện, điều tra, thụ lý trong các vụ vi phạm pháp luật, nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự mà thuộc đối tượng đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc theo quy định của Luật XLVPHC thì cơ quan
Trang 30Công an đang thụ lý vụ việc tiến hành xác minh, thu thập tài liệu và lập hồ sơ
đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với người đó
Hồ sơ đề nghị gồm có: bản tóm tắt lý lịch; tài liệu về các hành vi vi phạm pháp luật của người đó; biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đã áp dụng; bản tường trình của người vi phạm hoặc của người đại diện hợp pháp của họ
Tất cả các hồ sơ phải có văn bản của Trưởng Công an cấp huyện về việc
đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc
Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc là 01 năm Thời hạn áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc từ 06 tháng đến 24 tháng Trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định áp dụng BPXLHC đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc Công an cấp huyện nơi gửi
hồ sơ đề nghị có trách nhiệm đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở giáo dục bắt buộc
1.2.2.3 Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào
cơ sở cai nghiện bắt buộc
Thủ tục lập hồ sơ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được thực hiện sau:
- Đối với người nghiện ma túy có nơi cư trú ổn định thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc Hồ sơ đề nghị gồm có bản tóm tắt lý lịch; tài liệu chứng minh tình trạng nghiện ma túy hiện tại của người đó; tài liệu chứng minh người đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi nghiện ma túy; bản tường trình của người vi phạm hoặc của người đại diện hợp pháp của họ và các tài liệu khác có liên quan;
- Đối với người nghiện ma túy không cư trú tại nơi người đó có hành vi
vi phạm pháp luật thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã phải xác minh; trường hợp xác định được nơi cư trú thì có trách nhiệm chuyển người đó kèm theo biên bản vi phạm về địa phương để xử lý; trường hợp không xác định được
Trang 31nơi cư trú của người đó thì lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc Hồ sơ đề nghị gồm có biên bản vi phạm; bản tóm tắt lý lịch; tài liệu chứng minh tình trạng nghiện ma túy hiện tại của người đó; tài liệu chứng minh người đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi nghiện ma túy; bản tường trình của người nghiện ma túy;
- Trường hợp người nghiện ma túy vi phạm do cơ quan Công an cấp huyện hoặc cơ quan Công an cấp tỉnh trực tiếp phát hiện, điều tra, thụ lý trong các vụ vi phạm pháp luật mà thuộc đối tượng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 96 của Luật này thì cơ quan Công an đang thụ lý
vụ việc tiến hành xác minh, thu thập tài liệu và lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người đó
Tất cả các hồ sơ phải có Văn bản của Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cấp huyện về việc đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đưa vào
cơ sở cai nghiện bắt buộc
Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là 03 tháng đối với người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú ổn định Thời hạn áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc từ 12 tháng đến 24 tháng
Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội phối hợp với Công an cấp huyện nơi lập hồ sơ đề nghị có trách nhiệm đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định áp dụng BPXLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Tòa án nhân dân cùng cấp
Sau khi hoàn thành việc lập hồ sơ đề nghị, cơ quan đã lập hồ sơ phải thông báo cho người bị đề nghị áp dụng, cha mẹ hoặc người đại diện của họ
về việc lập hồ sơ Trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện có trách nhiệm kiểm tra tính pháp lý của hồ
sơ và gửi Trưởng công an cùng cấp đối với hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp
Trang 32đưa vào trường giáo dưỡng và đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cùng cấp đối với hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân
Pháp luật luôn đòi hỏi sự khách quan, chính xác, thống nhất và đúng pháp luật trong hoạt động áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân Các yếu tố bảo đảm việc áp dụng pháp luật trong áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đưa ra các giải pháp để khắc phục những hạn chế, tồn tại, nâng cao chất lượng áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân dân, được
xác định như sau:
1.3.1 Quy định của pháp luật
Để khắc phục những hạn chế, bất cập của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính quy định về các biện pháp xử lý hành chính nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đối với công tác quản lý nhà nước, bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn
xã hội trong thời kỳ mới, Luật Xử lý vi phạm hành chính đã giao cho TAND xem xét, quyết định áp dụng một số biện pháp xử lý hành chính
Hoạt động áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân được tiến hành trên cơ sở những quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính năm
2012, Pháp lệnh số 09 và những văn bản pháp luật khác có liên quan về biện pháp xử lý hành chính nói chung và biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân nói riêng để áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại tòa án nhân dân Trong lịch sử và điều kiện lập pháp của nước ta, qua quá trình phát triển
và hội nhập, chất lượng hệ thống pháp luật quyết định quan trọng đến quá trình áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân dân của các chủ thể áp dụng pháp luật Theo đó, các quy định của pháp luật hành chính càng đảm bảo tính khả thi, tính toàn diện bao nhiêu thì kết quả áp dụng biện pháp
Trang 33xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân của chủ thể áp dụng hình phạt rõ ràng
cơ sở pháp lý cho hoạt động áp dụng các biện pháp xử lý hành chính
1.3.2 Năng lực chuyên môn và ý thức trách nhiệm của Thẩm phán, Thư
ký Tòa án nhân dân
Trong hoạt động áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, Thẩm phán và Thư ký là người tiến hành phiên họp, là chủ thể áp dụng pháp luật về xử lý vi phạm hành chính theo Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 Do đó, trình độ năng lực, phẩm chất đạo đức của Thẩm phán Tòa
án nhân dân là yếu tố quan trọng bảo đảm cho việc áp dụng các biện pháp xử
lý hành chính tại Tòa án nhân dân được khách quan, đúng pháp luật và có hiệu quả Để đáp ứng được nhiệm vụ, bảo vệ công lý, quyền con người, đòi hỏi Thẩm phán Tòa án nhân dân phải có phẩm chất và năng lực, phải vững vàng về bản lĩnh chính trị và giỏi về nghiệp vụ
Nguyên tắc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính do một thẩm phán thực hiện; khi xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử
lý hành chính, thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, đây là một nguyên tắc Hiến định và là nguyên tắc cơ bản của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 cũng như Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 Thẩm phán độc lập trong quá trình xem xét hồ sơ và độc lập với những yêu cầu của những người tham phiên họp, khi ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính thì Thẩm phán chỉ căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã có trong hồ sơ và các thông tin được thẩm tra tại phiên họp và theo quy định của pháp luật, nghiên cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc quyết định của Thẩm
Trang 34phán, từ đó đảm bảo việc áp dụng các biện pháp XLHC tại TAND được thực hiện khách quan, đúng pháp luật
1.3.3 Vai trò, trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân
Pháp lệnh XLVPHC năm 1995 quy định trong phiên họp áp dụng BPXLHC đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục, đưa vào cơ sở chữa bệnh của Hội đồng tư vấn cùng cấp đều có đại diện Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp tham dự, đến Pháp lệnh 09 năm 2014 quy định Viện kiểm sát tham gia các phiên họp; tham gia việc xét hoãn, miễn, giảm, tạm đình chỉ việc chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy định của pháp luật Cho thấy, công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại TAND là một lĩnh vực công tác thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND, nhằm bảo đảm cho việc xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính của Tòa án kịp thời, đúng pháp luật
Đối tượng của công tác kiểm sát việc xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính là việc tuân theo pháp luật của Tòa án, người tiến hành, người tham gia thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính trong quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ việc
Về phạm vi, công tác kiểm sát việc xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính bắt đầu từ khi Viện kiểm sát nhận được thông báo thụ
lý hồ sơ đề nghị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đến khi có quyết định giải quyết việc xem xét, áp dụng các biện pháp xử lý hành chính của Tòa
án có hiệu lực pháp luật theo quy định của Pháp lệnh số 09 năm 2014, cụ thể bằng các hoạt động: Kiểm sát việc thụ lý hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử
lý hành chính; kiểm sát việc yêu cầu bổ sung tài liệu, chứng cứ; kiểm sát việc hoãn phiên họp; kiểm sát việc mở phiên họp; nghiên cứu hồ sơ vụ việc; báo cáo kết quả nghiên cứu hồ sơ vụ việc và dự thảo văn bản phát biểu ý kiến tham gia phiên họp Tham gia phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện
Trang 35pháp xử lý hành chính của Tòa án; phiên họp xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với các quyết định giải quyết của Tòa án; kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên họp của Thẩm phán, Thư ký phiên họp, cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, người bị đề nghị, người khiếu nại, cơ quan đề nghị kiến nghị, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan tham gia phiên họp; phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát tại phiên họp Theo quy định tại Điều 7 của Nghị quyết số 04 ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn về việc phát biểu của Kiểm sát
viên tại phiên họp xem xét, quyết định áp dụng BPXLHC quy định: “Sau khi những người tham gia phiên họp kết thúc tranh luận, Kiểm sát viên phát biểu
ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính và ý kiến của Viện kiểm sát về việc áp dụng biện pháp
xử lý hành chính” Như vậy, khi tham gia phiên họp xem xét, quyết định áp
dụng BPXLHC, Viện kiểm sát có trách nhiệm kiểm sát việc lập hồ sơ, phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính và phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính, ở đây là phát biểu về đường lối giải quyết
Để có thể phát biểu ý kiến cả về tố tụng và nội dung như nêu trên, đòi hỏi Kiểm sát viên phải nghiên cứu, lập hồ sơ kiểm sát đầy đủ, đúng quy định, đồng thời phải nắm chắc các quy định của pháp luật có liên quan, trên cơ sở
đó đưa ra quan điểm giải quyết bảo đảm có căn cứ, đúng pháp luật
Viện kiểm sát còn có thẩm quyền kháng nghị theo quy định tại khoản 2
Điều 30 Pháp lệnh số 09, quy định như sau: “Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính khi có căn cứ cho rằng quyết định đó là trái pháp luật” Theo đó, Pháp lệnh đã giao cho Viện kiểm sát có
trách nhiệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án trong việc áp dụng BPXLHC của TAND và thẩm quyền kháng nghị là của Viện kiểm sát cùng cấp (cấp huyện) Điều này đòi hỏi Viện kiểm sát cấp huyện nói chung và
Trang 36Kiểm sát viên tham gia phiên họp áp dụng BPXLHC nói riêng phải nắm vững pháp luật, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ và phẩm chất, đạo đức tốt Muốn vậy, Kiểm sát viên phải nghiêm túc tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, tu dưỡng rèn luyện đạo đức, thường xuyên học hỏi để nâng cao tri thức và trình độ chuyên môn
Có thể thấy, hoạt động kiểm sát việc xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính nói chung và tham gia phiên họp nói riêng có một
ý nghĩa cực kỳ quan trọng, nó quyết định đến chất lượng, hiệu quả của công tác kiểm sát việc xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại TAND của Viện kiểm sát nhằm bảo đảm cho việc xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính của Tòa án kịp thời, đúng pháp luật, đảm bảo việc thực hiện công tác này có hiệu quả, chất lượng
1.3.4 Ý thức pháp luật, nhận thức của người dân
Những năm gần đây, công tác phổ biến giáo dục pháp luật nói chung và pháp luật xử lý hành chính nói riêng ở nước ta đã được Đảng và Nhà nước quan tâm chú trọng nhiều hơn Những hoạt động của các cấp các ngành trong việc tuyên truyền, phổ biến Luật xử lý hành chính đến người dẫn đã góp phần nâng cao ý thức pháp luật của người dân, hầu hết người dân đã nắm rõ được tầm quan trong của pháp luật trong đời sống từ đó mà nhìn nhận đúng và tự giác hơn trong việc chấp hành pháp luật mà nhà nước đề ra
Hiện nay trong các hoạt động của pháp luật, ý thức của người dân Việt Nam đã nâng lên, ý thức trong thực hiện pháp luật của các tầng lớp nhân dân cũng được cải thiện rõ rệt Người dân đã ngày càng nêu cao tinh thần “sống
và làm việc theo pháp Hiến pháp và pháp luật” Nhân dân đã nghiêm chỉnh, tự giác trong việc chấp hành pháp luật Các tranh chấp trong xã hội nay đã giảm bớt đi sự căng thẳng vì mọi người có ý thức điều hòa những mâu thuẫn không đáng có Bên cạnh đó, ý thức bảo vệ pháp luật hiện nay cũng đã được quan tâm Xuất hiện trong cuộc sống của chúng ta nhiều tấm gương về người tốt,
Trang 37việc tốt trong thực hiện pháp luật, họ đã nâng cao tinh thần trách nhiệm của mình trong việc bảo đảm trật tự, an toàn xã hội
Bên cạnh những mặt tích cực về ý thức pháp luật của người dân hiện nay thì vẫn còn tồn tại những mặt hạn chế nhất định ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của toàn xã hội như: ý thức pháp luật của một bộ phận người dân vẫn còn thấp, họ chưa tôn trọng pháp luật, thái độ thờ ơ và lẩn tránh các quy định của pháp luật vẫn còn xảy ra nhiều, sự tùy tiện trong việc chấp hành kỉ luật lao động, sinh hoạt và làm việc Nguyên nhân của vấn đề trên chính là do nhân dân Việt Nam vẫn còn chiếm tỉ lệ lớn trong các ngành nông nghiệp, quanh năm chú trọng đến sản xuất, chăn nuôi, người dân sống và thực hiện trách nhiệm của mình bằng các phong tục, tập quán từ lâu đời do đó ý thức vẫn còn thấp trong hiểu biết và chấp hành pháp luật
Đến nay, trình độ dân trí của người dân vẫn còn thấp, sự chênh lệch giữa các vùng miền, đặc biệt ý thức của người dân ở vùng sâu vùng xa vùng dân tộc thiểu số còn thực sự thấp Ở một số nơi thì người dân đã có kiến thức về pháp luật nhưng một số nơi thì pháp luật còn là một điều gì đó xa vời, không gắn với thực tiễn cuộc sống, họ thờ ờ trước pháp luật và vì lợi ích trước mắt của cá nhân mà có nhiều hành động trái với pháp luật ảnh hưởng tới hoạt động của con người
Trong thời đại công nghệ 4.0 hiện nay, nhiều hình thức vi phạm pháp luật mới như hành vi đánh bạc qua internet, lừa đảo qua mạng xã hội, xuất hiện ngày càng nhiều Đặc biệt đáng lưu ý là ý thức pháp luật của tầng lớp thanh thiếu niên luôn chiếm tỉ lệ lớn, trên 70% tổng số mà không ít là học sinh, sinh viên, tình trạng thanh niên gây rối trật tự công cộng, trộm cắp tài sản, cướp giật, đánh bạc, sử dụng ma túy đang trở thành vấn nạn trong đời sống hiện nay
Như vậy có thể thấy rằng, trong đời sống hiện nay, ý thức pháp luật đã được người dân quan tâm và nghiêm chỉnh chấp hành tuy nhiên sự tồn tại của những mặt tiêu cực nêu trên đã gây không ít những khó khăn cho việc đưa
Trang 38pháp luật thực sự đi vào đời sống Để nâng cao hơn nữa ý thức pháp luật của người dân thì các cơ quan có chức năng thẩm quyền cần có những giải pháp
cụ thể để giải quyết những mặt tiêu cực nêu trên
1.3.5 Sự phối kết hợp của các cơ quan, tổ chức có liên quan trong quá trình áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân
Sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác áp dụng các biện pháp xử lý hành chính của Tòa án nhân dân là điều kiện tiên quyết đảm bảo dân chủ công bằng cho việc tuân đúng pháp luật Trong công tác dụng các biện pháp xử lý hành chính, nếu cấp ủy Đảng với cơ chế lãnh đạo, chỉ đạo hợp lý, thường xuyên và sâu sát thì chất lượng áp dụng pháp luật nói chung và áp dụng các biện pháp
xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân nói riêng sẽ được nâng cao; ngược lại, nếu cấp ủy Đảng buông lỏng lãnh đạo hoặc can thiệp không đúng vào hoạt động áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân sẽ dẫn đến chất lượng áp dụng áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân không được đảm bảo
Sự giám sát của các cơ quan dân cử và của mọi tầng lớp nhân dân đối với hoạt động áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân Hoạt động áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân của Tòa án nhân dân có sự giám sát chặt chẽ của các cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử, các cơ quan thông tấn báo chí và của quần chúng nhân dân Khi giám sát hoạt động áp dụng pháp luật nói chung và hoạt động các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân nói riêng, nếu phát hiện những hành vi trái pháp luật thì các cơ quan nhà nước, Mặt trận tổ quốc, các tổ chức thành viên Mặt trận và đặc biệt là nhân dân có quyền kiến nghị với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định, các cơ quan này phải xem xét, giải quyết và trả lời
yêu cầu, kiến nghị đó theo quy định của pháp luật
Trang 39Đây là những cơ sở lý luận khoa học hết sức quan trọng để nghiên cứu trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân của Tòa án nhân dân ở địa phương tỉnh Cao Bằng – đó là thực trạng trình tự, thủ tục, xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân ở tỉnh Cao Bằng giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2019
Trang 40CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TRÌNH TỰ, THỦ TỤC XEM XÉT, QUYẾT ĐỊNH ÁP DỤNG BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN
Ở TỈNH CAO BẰNG 2.1 Khái quát điều kiện kinh tế - xã hội và tình hình áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân ở tỉnh Cao Bằng
2.1.1 Khái quát chung về điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh Cao Bằng
Cao Bằng là tỉnh miền núi nằm ở vùng Đông Bắc, phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc với đường biên giới dài trên 333 km, phía Tây giáp 2 tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang, phía Nam giáp 2 tỉnh Bắc Kạn và Lạng Sơn, có diện tích tự nhiên 6.703,42 km2
Địa hình của tỉnh Cao Bằng là cao nguyên đá vôi xen với đất, có độ cao trung bình so với mặt biển trên 300m, thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông Với một đặc điểm tự nhiên đồi núi phong phú, đa dạng, chiếm hơn 90% diện tích của tỉnh, nên mạng lưới sông, suối, hồ tự nhiên khá nhiều, song phân bố không đều Tỉnh Cao Bằng có địa hình khá đa dạng, sự phức tạp của địa hình tạo ra nhiều tiểu vùng sinh thái Đặc điểm địa hình như vậy có ảnh hưởng lớn đến việc giao lưu phát triển kinh tế - xã hội và đầu tư phát triển
hệ thống hạ tầng cơ sở, đặc biệt là giao thông
Dân số toàn tỉnh là 530.341 người (theo điều tra dân số ngày 01/04/2019) Chủ yếu là dân tộc Tày, Nùng (chiếm 60%) và một số dân tộc thiểu số ít người khác, trong đó, 77% dân số sống ở đô thị và 23% dân số sống ở nông thôn, được phân chia thành 10 đơn vị hành chính gồm 9 huyện
và 1 thành phố
Cao Bằng có nhiều cửa khẩu và lối mở thông thương với Trung Quốc tạo thuận lợi giao lưu, mở rộng thị trường xuất nhập khẩu hàng hoá Bên cạnh đó nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng cũng là tiền đề để phát triển ngành công nghiệp của tỉnh Nền kinh tế Cao Bằng với điểm xuất phát thấp, năm 2019 tổng thu ngân sách đạt 1.800 tỷ đồng Cơ cấu kinh tế chủ yếu là