1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN văn THẠC sĩ) tổ CHỨC và HOẠT ĐỘNG của TOÀ GIA ĐÌNH và NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN THEO LUẬT tổ CHỨC TOÀ án NHÂN dân năm 2014 từ THỰC TIỄN TỈNH THANH HOÁ

86 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

và pháp luật của Nhà nước về bảo vệ, phát triển gia đình; bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em nói chung và xử lý người chưa thành niên vi phạm pháp luật nói riêng; góp phần thực hiện những

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM THỊ LINH

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TOÀ GIA ĐÌNH VÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN THEO LUẬT TỔ CHỨC TOÀ ÁN NHÂN DÂN

NĂM 2014 TỪ THỰC TIỄN TỈNH THANH HOÁ

Chuyên ngành : Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

Mã số : 8 38 01 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS ĐỖ THỊ PHƯỢNG

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 8

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TÒA GIA ĐÌNH VÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN 8

1.1 Khái quát chung về gia đình và người chưa thành niên 8

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của gia đình 8

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm của người chưa thành niên 9

1.1.3 Mối liên hệ giữa gia đình và sự phát triển của người chưa thành niên 12

1.2 Mô hình Tòa gia đình và người chưa thành niên trên thế giới 13

1.2.1 Các mô hình cơ bản của Tòa Gia đình và người chưa thành niên trên thế giới 13

1.2.2 Mô hình Tòa gia đình và người chưa thành niên ở một số quốc gia trên thế giới 15

1.2.2.1 Mô hình Tòa Gia đình Liên Bang của Úc 15

1.2.2.2 Mô hình Tòa Gia đình ở Nhật Bản 16

1.2.2.3 Mô hình Tòa án vị thành niên và gia đình ở Thái Lan 18

1.3 Pháp luật về tổ chức và hoạt động của Tòa gia đình và người chưa thành niên tại Việt Nam 21

1.3.1 Vị trí của Tòa gia đình và người chưa thành niên trong hệ thống Tòa án 21

Điều kiện để thành lập Tòa gia đình và người chưa thành niên 21

1.3.2 Các quy định pháp luật hiện hành về tổ chức của Tòa gia đình và người chưa thành niên 23

1.3.3 Các quy định về hoạt động của Tòa gia đình và người chưa thành niên 26

1.3.3.1 Giải quyết các vụ án hình sự liên quan đến người dưới 18 tuổi 26

1.3.3.2 Xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân đối với người chưa thành niên 30

1.3.3.3 Giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 33

Kết luận chương 1 34

Chương 2 36

THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TÒA GIA ĐÌNH VÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN THEO LUẬT TỔ CHỨC TAND NĂM 2014 TỪ THỰC TIỄN TỈNH THANH HÓA 36

2.1 Thực trạng tổ chức của Tòa gia đình và người chưa thành niên tỉnh Thanh Hóa 36

2.1.1 Khái quát về tình hình chính trị - xã hội và sự cần thiết thành lập Tòa gia đình và người chưa thành niên tại tỉnh Thanh Hóa 36

Trang 3

2.1.2.1 Về nhân sự 38

Bảng 2.1 Biến động nhân sự Tòa GĐ & NCTN tại TAND tỉnh Thanh Hóa qua các năm 39

2.1.2.2 Về cơ sở vật chất 40

2.2 Thực trạng hoạt động của Tòa gia đình và người chưa thành niên tại tỉnh Thanh Hóa 42

2.2.1 Công tác xét xử các vụ án hình sự 42

Biểu đồ 2.1 Kết quả thụ lý, giải quyết án hình sự sơ thẩm từ năm 2018 đến năm 2020 43

Biểu đồ 2.2 Kết quả thụ lý, giải quyết án hình sự phúc thẩm từ năm 2018 đến năm 2020 44

2.2.2 Việc xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân đối với người chưa thành niên 47

2.2.3 Công tác thụ lý, giải quyết vụ, việc hôn nhân và gia đình 48

Biểu đồ 2.3 Kết quả thụ lý, giải quyết vụ việc hôn nhân và gia đình sơ thẩm từ năm 2018 đến năm 2020 49

Biểu đồ 2.4 Kết quả thụ lý, giải quyết vụ việc hôn nhân và gia đình phúc thẩm từ năm 2018 đến năm 2020 49

2.3 Đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động của Tòa Gia đình và người chưa thành niên tại tỉnh Thanh Hóa 52

2.3.1 Những kết quả đạt được 52

2.3.2 Hạn chế, vướng mắc 54

2.3.3 Nguyên nhân 55

Kết luận chương 2 56

Chương 3 58

QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TỔ CHỨC VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA TÒA GIA ĐÌNH VÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN 58

3.1 Quan điểm, mục tiêu hoàn thiện tổ chức và hoạt động của tòa gia đình và người chưa thành niên 58

3.1.1 Phương hướng hoạt động của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn 2021 - 2026 58

3.1.2 Quan điểm hoàn thiện tổ chức và hoạt động của tòa gia đình và người chưa thành niên 60

3.1.3 Mục tiêu hoàn thiện tổ chức và hoạt động của tòa gia đình và người chưa thành niên 61

3.2 Các giải pháp hoàn thiện tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của tòa gia đình và người chưa thành niên 62

3.2.1 Hoàn thiện thể chế về Tòa gia đình và người chưa thành niên 62

3.2.2 Nâng cao năng lực giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa gia đình và người chưa thành niên 65

Trang 4

3.2.3 Tăng cường cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ hoạt động của Tòa gia đình và

người chưa thành niên 69

3.2.4 Nâng cao nhận thức và năng lực của đội ngũ cán bộ 70

3.2.5 Tăng cường tính đồng bộ của các cơ quan tiến hành tố tụng và sự phối hợp trong giải quyết các vụ án 72

Kết luận chương 3 74

KẾT LUẬN 75

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

Trang 5

DANH MỤC TỪ VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT

Tòa GĐ & NCTN: Tòa gia đình và người chưa thành niên

Trang 6

DANH MỤC BẢNG, BIỂU Bảng 2.1 Biến động nhân sự Tòa gia đình và người chưa thành niên tại TAND

tỉnh Thanh Hóa qua các năm 39

Biểu đồ 2.1 Kết quả thụ lý, giải quyết án hình sự sơ thẩm từ năm 2018 đến

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Gia đình là tế bào của xã hội, trẻ em là tương lai của đất nước Bởi vậy công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em luôn được Đảng, Nhà nước Việt Nam quan tâm, đặc biệt là sau khi Việt Nam phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1990 Việt Nam cũng đã xây dựng được một hệ thống pháp luật, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc bảo vệ trẻ em nói chung

và người chưa thành niên trong các vụ án hình sự nói riêng Tuy nhiên, thực tiễn giải quyết các vụ án trong thời gian qua cho thấy, tỷ lệ tội phạm do người chưa thành niên thực hiện vẫn có chiều hướng gia tăng; cơ cấu, tổ chức, tính chất tội phạm ngày càng phức tạp và nghiêm trọng; có không ít trường hợp đã

bị Toà án xét xử, áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc nhưng hiệu quả của việc

áp dụng hình phạt chưa cao, tỷ lệ người chưa thành niên tái phạm còn nhiều Bên cạnh đó, gia đình là môi trường xã hội đầu tiên mà con người tiếp xúc, là yếu tố chủ đạo cho sự hình thành và phát triển nhân cách, có tác động thường xuyên tích cực hoặc tiêu cực đến tâm lý của mỗi thành viên, trong đó có người chưa thành niên Như vậy, môi trường gia đình lành mạnh sẽ tạo ra cho người chưa thành niên những điều kiện thuận lợi để hình thành và phát triển nhân cách Ngược lại, sống trong môi trường gia đình có nhiều khiếm khuyết sẽ để lại những dấu ấn tiêu cực ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển nhân cách của người chưa thành niên Giải quyết tốt các vấn đề thuộc quan hệ gia đình sẽ góp phần hạn chế, ngăn ngừa người chưa thành niên vi phạm pháp luật; đồng thời, sự tham gia tích cực, có trách nhiệm của các thành viên trong gia đình là yêu cầu quan trọng để nâng cao hiệu quả công tác giáo dục, xử lý người chưa thành niên vi phạm pháp luật [34]

Việc thành lập Tòa gia đình và người chưa thành niên (GĐ & NCTN) là bước đi cụ thể nhằm triển khai có hiệu quả các chủ trương, quan điểm của Đảng

Trang 8

và pháp luật của Nhà nước về bảo vệ, phát triển gia đình; bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em nói chung và xử lý người chưa thành niên vi phạm pháp luật nói riêng; góp phần thực hiện những mục tiêu đề ra trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng về cải cách tư pháp, đặc biệt là Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-

2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, trong đó có yêu cầu về đổi mới, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của hệ thống Tòa án; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao

Bên cạnh đó, do đặc thù về tâm sinh lý của trẻ em, người chưa thành niên đòi hỏi phải có những biện pháp xử lý và những thủ tục tố tụng riêng biệt Mặc

dù Bộ luật Tố tụng hình sự (TTHS) nước ta có một chương riêng quy định thủ tục tố tụng đặc biệt đối với người chưa thành niên phạm tội nhưng nhìn chung thủ tục đó thiếu toàn diện hoặc còn mang tính hình thức, chưa mang lại hiệu quả như mong muốn Trên thực tế, từ tình hình người chưa thành niên vi phạm pháp luật nói chung và người chưa thành niên phạm tội nói riêng vẫn chiếm tỷ

lệ cao, tái phạm và nghiêm trọng Hơn nữa, Tòa GĐ & NCTN ở Việt Nam xuất phát từ tình hình thực tế số các vụ việc về hôn nhân và gia đình mà Tòa án phải giải quyết ngày càng tăng và từ những đặc thù của các quan hệ hôn nhân và gia đình Theo quy định tại Điều 30, 38, 45 của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (TAND) thì trong cơ cấu tổ chức của TAND cấp cao, TAND cấp tỉnh và TAND cấp huyện có Tòa GĐ & NCTN Việc tổ chức Tòa GĐ & NCTN ở TAND cấp tỉnh, TAND cấp huyện căn cứ vào yêu cầu công việc và thực tế xét xử của mỗi Tòa án; căn cứ vào biên chế đội ngũ Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký của từng Tòa án và do Chánh án TAND tối cao xem xét, quyết định Để việc tổ chức các Toà chuyên trách nói chung, Tòa GĐ & NCTN nói riêng được thực hiện thống nhất trong cả nước, ngày 21/1/2016, Chánh án TAND tối cao đã ban hành Thông tư số 01 quy định việc tổ chức các Toà chuyên trách tại TAND

Trang 9

tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương; trong đó, quy định cụ thể về thẩm quyền và quy trình tổ chức Tòa GĐ & NCTN Chánh án TAND tối cao cũng có ý kiến chỉ đạo Tòa án các cấp về công tác nhân sự, yêu cầu về cơ sở vật chất, chuyên môn,

về sự phối hợp với các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức phúc lợi xã hội, cơ quan y tế, giáo dục ở trung ương và địa phương trong việc giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa GĐ & NCTN

Là địa phương còn khó khăn trong phát triển kinh tế - xã hội, nhưng thời gian qua, TAND tỉnh Thanh Hóa đã có nhiều cải cách trong hoạt động tư pháp, đặc biệt là tư pháp người chưa thành niên Trên cơ sở chỉ đạo sát sao của cấp

ủy, sự ủng hộ, tạo điều kiện của chính quyền, nhân dân và sự tham gia hỗ trợ, hợp tác tích cực và hiệu quả của Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc, hệ thống cơ quan tư pháp tại Thanh Hóa đang từng bước được tổ chức, hoạt động hiệu quả, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp Để phù hợp với yêu cầu phát triển chung, thực hiện Luật Tổ chức TAND và các đạo luật về tố tụng tư pháp, ngày 28/8/2017, Chánh án TAND tối cao đã ban hành Quyết định số 1425/QĐ-TCCB thành lập Tòa GĐ & NCTN tại tỉnh Thanh Hóa Việc thành lập Tòa GĐ

& NCTN không chỉ là sự sắp xếp lại cơ cấu tổ chức của TAND mà là thiết chế tạo điều kiện để chuyên môn hóa công tác giải quyết các vụ việc về gia đình và người chưa thành niên nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng và rút ngắn thời hạn giải quyết các vụ việc về gia đình và người chưa thành niên tại TAND Với

những lý do vừa nêu, tác giả quyết định chọn đề tài: “Tổ chức và hoạt động của Toà gia đình và người chưa thành niên theo Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 2014 từ thực tiễn tỉnh Thanh Hoá” cho luận văn tốt nghiệp thạc sĩ

của mình

Trang 10

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu các vấn đề liên quan đến xét xử các vụ án về gia đình và người chưa thành niên cũng như các vấn đề liên quan đến tổ chức và hoạt động của TAND nói chung, Tòa chuyên trách và Tòa GĐ & NCTN nói riêng được tác giả tìm hiểu, tổng hợp cụ thể:

Tác giả Hoàng Văn Quang (2018), Đảm bảo quyền của người chưa thành

niên trong hoạt động xét xử các vụ việc hôn nhân và gia đình - qua thực tiễn tại TAND quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ, Khoa Luật,

Đại học Quốc gia Hà Nội [15]

Tác giả Trần Đức Anh (2016), Tổ chức và hoạt động của TAND theo tinh

thần Hiến pháp năm 2013 qua thực tiễn tỉnh Vĩnh Phúc, Luận văn thạc sĩ, Khoa

Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội [1]

Tác giả Phan Đức Phương (2007), Đổi mới tổ chức và hoạt động của

TAND trong tiến trình cái cách tư pháp, Luận văn thạc sĩ, Khoa Luật, Đại học

Quốc gia Hà Nội Phân tích cơ sở lý luận về tổ chức quyền lực Nhà nước, quyền

tư pháp để làm rõ sự hình thành, vị trí, vai trò của TAND trong bộ máy nhà nước, các quan điểm về đổi mới, yêu cầu của cải cách tư pháp đối với đổi mới

tổ chức và hoạt động của TAND Từ đó làm rõ thực trạng tổ chức, hoạt động của TAND ở nước ta và nêu nguyên nhân, hạn chế trong tiến trình cải cách tư pháp

Đề xuất những phương hướng cơ bản và kiến nghị về xác định lại thẩm quyền xét xử và thiết kế mới mô hình tổ chức của các tòa án; nâng cao tính độc lập, nghiêm minh của hoạt động xét xử; nâng cao năng lực, phẩm chất và địa vị pháp

lý của Thẩm pháp, Hội thẩm nhân dân, nhằm đổi mới và hoàn thiện tổ chức và hoạt động của TAND, xây dựng hệ thống Tòa án trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, nâng cao hiệu quả hoạt động xét xử nói chung [14]

Tác giả Lữ Thị Hằng (2019), Mô hình Tòa gia đình và người chưa thành

niên ở Việt Nam và Hàn Quốc - nhìn từ góc độ luật so sánh, Tạp chí Nghiên

Trang 11

cứu Lập pháp Tòa GĐ & NCTN ở Việt Nam được quy định lần đầu tiên tại Luật Tổ chức Tòa án năm 2014, được tổ chức theo mô hình Tòa chuyên trách,

là một bộ phận nằm trong cơ cấu tổ chức tại TAND cấp huyện và tương đương, TAND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, TAND cấp cao Hiện tại,

mô hình Tòa GĐ & NCTN tại TAND cấp tỉnh, cấp huyện mới được tổ chức thí điểm, do đó, để mô hình Tòa chuyên trách này được hoạt động hiệu quả, việc học tập kinh nghiệm nước ngoài là cần thiết [8]

Với các công trình trên, khi nghiên cứu đề tài “Tổ chức và hoạt động của

Toà gia đình và người chưa thành niên theo Luật tổ chức Toà án nhân dân năm

2014 từ thực tiễn tỉnh Thanh Hoá”, tác giả có thuận lợi được tham khảo khá

nhiều nguồn tài liệu Tuy nhiên, tình hình nghiên cứu cho thấy, các tác giả chủ yếu tập trung nghiên cứu về người chưa thành niên, gia đình trong hoạt động TTHS, vấn đề về tổ chức và hoạt động của TAND các cấp nói chung và Tòa

GĐ & NCTN nói riêng chưa nhận được sự quan tâm của nhiều tác giả Do đó, việc nghiên cứu tổ chức và hoạt động của Tòa GĐ & NCTN là rất cần thiết, góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề này tại một địa phương cụ thể là tỉnh Thanh Hóa

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục đích nghiên cứu

Đề tài nêu khái quát vấn đề lý luận, đánh giá thực tiễn tổ chức và hoạt động của Tòa GĐ & NCTN, qua đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện tổ chức

và nâng cao hiệu quả hoạt động của Tòa GĐ & NCTN

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích nghiên cứu, đề tài đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu là:

- Nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận về tổ chức và hoạt động của Tòa GĐ & NCTN;

Trang 12

- Phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn tổ chức và hoạt động của Tòa GĐ & NCTN tại tỉnh Thanh Hóa;

- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của Tòa GĐ & NCTN

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu vấn đề tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của Tòa GĐ & NCTN

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Do thời gian nghiên cứu có hạn nên tác giả chỉ tập trung nghiên cứu về

vị trí pháp lý, chức năng, nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động, cơ cấu tổ chức, thẩm quyền của TAND ở nước ta và các vấn đề có liên quan đến gia đình

và người chưa thành niên được quy định trong Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức TAND năm 2014 để làm cơ sở lý luận cho việc thành lập Tòa GĐ & NCTN Đồng thời tác giả còn tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật

có liên quan đến công tác giải quyết các vụ việc về gia đình và người chưa thành niên, mà cụ thể là các quy định của Bộ luật hình sự năm 2015, Bộ luật TTHS năm 2015 liên quan vấn đề gia đình và người chưa thành niên phạm tội

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, những quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về nhà nước pháp quyền, cải cách pháp luật, cải cách bộ máy nhà nước nói chung, cải cách tư pháp và thủ tục tư pháp nói riêng

Ngoài ra, luận văn được xây dựng trên cơ sở vận dụng những kiến thức

đã học; sử dụng phương pháp nghiên cứu lý luận trên tài liệu, sách vở kết hợp với phương pháp phân tích, tổng hợp những tài liệu có liên quan đến tình hình

Trang 13

giải quyết các vụ việc có liên quan đến người chưa thành niên và các vụ việc

về hôn nhân và gia đình Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng phương pháp phân tích luật viết, so sánh đối chiếu những quy định của pháp luật với thực tiễn áp dụng những quy định đó Thông qua đó làm sáng tỏ những bất cập có liên quan đến tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của Tòa GĐ & NCTN

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Với mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, luận văn góp phần bổ sung lý luận về cải cách tư pháp mà trọng tâm là sắp xếp hiệu quả tổ chức TAND nói chung và tòa chuyên trách nói riêng, hình thành hệ thống các vấn đề lý luận về hoạt động của tòa chuyên trách, Tòa GĐ & NCTN

Về mặt thực tiễn, luận văn đóng góp vào việc tìm ra những hạn chế trong thực trạng các quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật, qua đó, đưa

ra những giải pháp có tính khả thi giúp hoàn thiện tổ chức và nâng cao hiệu quả triển khai các nhiệm vụ của Tòa GĐ & NCTN trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về tổ chức và hoạt động của Toà gia đình

và người chưa thành niên

Chương 2: Thực trạng tổ chức và hoạt động của Toà gia đình và người chưa thành niên theo Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 2014 từ thực tiễn tỉnh Thanh Hoá;

Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của Toà gia đình và người chưa thành niên

Trang 14

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TÒA GIA ĐÌNH VÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN

1.1 Khái quát chung về gia đình và người chưa thành niên

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của gia đình

Gia đình gắn liền với đời sống của mỗi con người Trong đời sống xã hội

từ xưa đến nay, gia đình luôn giữ vị trí quan trọng Hồ Chủ tịch đã nói: “Rất quan tâm đến gia đình là đúng, vì nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt” Chính vì vậy, xây dựng gia đình “No ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc” đang là vấn đề thu hút

sự quan tâm của nhiều người, trong đó có tất cả chúng ta [34]

Gia đình Việt Nam hiện nay đang phải đương đầu với một loạt thử thách lớn khi chuyển từ mô hình gia đình truyền thống sang gia đình hiện đại Để tồn tại và phát triển, mỗi gia đình phải tìm cách thích ứng với những điều kiện mới, từng thành viên trong gia đình phải tự điều chỉnh các mối quan hệ trong gia đình Thực tế cho thấy, sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng cùng với những trào lưu tiến bộ về khoa học công nghệ có phần không tương xứng với sự phát triển văn hóa, xã hội đã làm đổ vỡ, mờ nhạt một số hệ thống giá trị tinh thần, đạo đức ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam; không ít những gia đình Việt Nam đang gặp nhiều khó khăn, bế tắc, thậm chí tan vỡ đã kéo theo

sự suy thoái về các định hướng giá trị, ảnh hưởng phần nào đến sự phát triển của thế hệ trẻ, mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình còn gặp không ít những khó khăn, khúc mắc và những vấn đề nan giải [8]

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về gia đình của các nhà khoa học nghiên cứu ở từng góc độ khác nhau, ở đây chúng ta có thể hiểu khái niệm gia đình như sau: “Gia đình là một nhóm xã hội được hình thành trên cơ sở hôn nhân và quan hệ huyết thống, những thành viên trong gia đình có sự gắn bó và

Trang 15

ràng buộc với nhau về trách nhiệm, quyền lợi, nghĩa vụ có tính hợp pháp được nhà nước thừa nhận và bảo vệ”

Từ khái niệm này, chúng ta tìm hiểu đặc trưng cơ bản của gia đình để xem xét các mối quan hệ của gia đình ở góc độ là một nhóm xã hội, nhóm tâm

lý - tình cảm đặc thù, với các mối quan hệ bên trong, với sự tác động qua lại trong nội bộ của các thành viên để thỏa mãn những nhu cầu của mỗi người, đặc biệt là mối quan hệ giữa vợ và chồng

Gia đình ở nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã được coi là một vấn đề xã hội lớn, được đánh giá là một trong nhiều yếu tố quan trọng để thúc đẩy sự phát triển bền vững của xã hội Việc tổ chức gia đình tốt

và giáo dục trong gia đình chu đáo sẽ có tác động sâu xa đến việc hình thành nhân cách con người, tạo tiền đề quan trọng để cung cấp nguồn nhân lực đáp ứng với yêu cầu của đất nước trong quá trình phát triển Vì vậy, giáo dục gia đình thể hiện tính đa dạng và nhiều chiều, nó vừa có ảnh hưởng của cá nhân đối với cá nhân (giữa cha mẹ với con cái; giữa ông bà với cháu) vừa có ảnh hưởng của cả tập thể gia đình liên kết với nhau tác động đến từng cá nhân qua lối sống, nếp sống ở mỗi gia đình Tính đa dạng còn thể hiện qua phương pháp giáo dục, không chỉ bằng lời nói mà bằng thái độ, tình cảm, nêu gương, không chỉ là nói lý thuyết hay nói suông mà phải bằng thực tiễn từ những việc làm cụ thể Tính nhiều chiều trong giáo dục gia đình thể hiện qua việc tiếp xúc rộng rãi với môi trường xã hội mà các thành viên trong gia đình là người trực tiếp tham gia vào các mối quan hệ đó Đây là những vấn đề quan trọng ở mỗi gia đình khó có thể hình dung hết và thấy hết được trách nhiệm cũng như vai trò đóng góp to lớn của “tế bào” nhỏ bé của mình cho tương lai của dân tộc

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm của người chưa thành niên

Theo Từ điển tiếng Việt thì khái niệm người chưa thành niên được định nghĩa: "Người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về

Trang 16

thể lực, trí tuệ, tinh thần cũng như chưa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân" Theo quy định tại Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1990 thì "Trẻ

em có nghĩa là người dưới 18 tuổi trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em

đó có quy định tuổi thành niên sớm hơn" Bên cạnh Công ước về quyền trẻ em thì Quy tắc tối thiểu phổ biến của Liên Hợp Quốc về việc áp dụng pháp luật đối với người chưa thành niên (Quy tắc Bắc Kinh) do Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 14/12/1992 cũng là một văn bản pháp luật quốc tế quan trọng

đề cập đến khái niệm "người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi" như là một

sự kế thừa của Công ước về Quyền trẻ em Do sự phát triển của từng quốc gia khác nhau, nên khái niệm người chưa thành niên ở các quốc gia cũng khác nhau, bên cạnh việc đưa ra khái niệm này thì Công ước về Quyền trẻ em vẫn còn những điều khoản để ngỏ cho các nước quy định về độ tuổi cho người chưa thành niên, thậm chí ngay trong một quốc gia các văn bản pháp luật cũng quy định không thống nhất về vấn đề này [8]

Theo pháp luật Việt Nam, từ những kinh nghiệm được thừa nhận trong quá khứ, dựa trên những thành tựu do các ngành khoa học khác mang lại cũng như tiếp thu các văn bản pháp luật quốc tế mà các nhà làm luật đã đưa ra khái niệm về người chưa thành niên, tuỳ theo từng lĩnh vực điều chỉnh của từng ngành luật, như sau: Khoản 1 Điều 21 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2015 quy định: “Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi" và Điều 161 Bộ luật lao động Việt Nam năm 2012 cũng quy định: "Người lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi” [18]

Như vậy, có thể hiểu người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi Quan niệm này cũng hoàn toàn phù hợp với Công ước quốc tế về quyền trẻ em ngày 20/2/1990 mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên

Trang 17

Người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể lực, trí tuệ, tinh thần cũng như chưa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân Chình vì vậy mà họ có những đặc điểm riêng về tâm lý

Thứ nhất, về trạng thái cảm xúc

Người chưa thành niên là người đang trong quá trình phát triển cả về sinh

lí, tâm lí và ý thức Đây là giai đoạn diễn ra những biến cố rất đặc biệt, đó là sự phát triển cơ thể mất cân bằng nên đã dẫn đến tình trạng mất cân bằng tạm thời trong cảm xúc của người chưa thành niên Trên thực tế, trạng thái thần kinh, trạng thái cảm xúc không cân bằng có thể là yếu tố gây nên các hành vi lệch chuẩn Có không ít trường hợp, do xuất phát từ những mâu thuẫn nhỏ, nhưng không kiềm chế được sự nóng giận quá khích mà người chưa thành niên đã phạm phải hành động sai lầm, thậm chí là thực hiện hành vi phạm tội

Thứ hai, về nhận thức pháp luật

Có thể nói, lứa tuổi chưa thành niên là giai đoạn phát triển như “vũ bão”

về mặt sinh học nhưng lại thiếu cân đối về mặt trí tuệ Đó là lứa tuổi mà kinh nghiệm trong cuộc sống còn quá ít ỏi, đặc biệt là khả năng nhận thức về pháp luật còn nhiều hạn chế Một phần không nhỏ người chưa thành niên thực hiện hành vi phạm tội chỉ để thỏa mãn nhu cầu, hứng thú không đúng đắn của cá nhân, không quan tâm đến hậu quả nguy hiểm cho xã hội Chỉ khi được giải thích, phân tích thì các em mới hiểu rằng hành vi của mình là phạm tội

Thứ ba, về nhu cầu độc lập

Nhu cầu độc lập có thể được hiểu là việc cá nhân tự hành động và tự ra quyết định theo ý kiến riêng mà không muốn bị ảnh hưởng của người khác Nhưng chúng ta cũng cần lưu ý rằng, nhu cầu độc lập không chỉ có mặt tích cực mà còn có mặt tiêu cực nếu một khi nó phát triển theo hướng thái quá Đặc biệt, ở lứa tuổi chưa thành niên, nhu cầu độc lập thái quá thường biểu hiện ra bên ngoài dưới dạng các hành vi như ngang bướng, cố chấp, dễ tự ái, gây gổ,

Trang 18

phô trương Tất cả những hành vi này của người chưa thành niên đều mang tính chất của hành vi lệch chuẩn, dễ dẫn tới các hành vi phạm tội

Thứ tư, về nhu cầu khám phá cái mới

Tìm hiểu, khám phá cái mới là một trong những nhu cầu của các em ở lứa tuổi chưa thành niên Tuy vậy, sự tò mò và khám phá cái mới cũng có thể trở thành một trong những nguyên nhân dẫn tới hành vi phạm tội của các em, nếu các em thiếu sự hướng dẫn, kiểm tra, giám sát của gia đình, xã hội, không

tự chủ được bản thân và không phân biệt được phải trái, đúng sai

1.1.3 Mối liên hệ giữa gia đình và sự phát triển của người chưa thành niên

Gia đình luôn có vai trò quan trọng trong sự hình thành và phát triển nhân cách của người chưa thành niên Giáo dục gia đình không chỉ tác động mạnh

mẽ đến sự hình thành nhân cách của trẻ em ở giai đoạn ấu thơ mà nó còn quyết định sự phát triển, hoàn thiện nhân cách của chúng trong các giai đoạn của cuộc đời, đặc biệt là giai đoạn chưa thành niên Vì vậy, xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, thật sự là tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trường quan trọng, trực tiếp giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách của con trẻ, đặc biệt

là trẻ vị thành niên

Gia đình hạnh phúc, các em cảm nhận được tình yêu thương, sự che chở, giúp đỡ lẫn nhau của các thành viên trong gia đình, sự chăm sóc và giáo dục của ông bà, cha mẹ, giúp các em có một môi trường phát triển lành mạnh, góp phần kéo giảm và ngăn ngừa tình trạng vi phạm pháp luật ở người chưa thành niên Nhưng nếu gia đình không hạnh phúc, các em thường xuyên chứng kiến những mâu thuẫn, cãi vã hoặc hành vi mang tính chất bạo lực thì những lời nói, những hình ảnh đó sẽ dần ăn sâu vào tâm trí và từng ngày làm tổn thương về tâm lý của các em và từ hành vi đó làm cho các em sẽ trở nên thô bạo trong suy nghĩ và hành động và là nguyên nhân dẫn đến những hành động gây nguy hại cho bản thân mình và cho xã hội [8]

Trang 19

1.2 Mô hình Tòa gia đình và người chưa thành niên trên thế giới

1.2.1 Các mô hình cơ bản của Tòa Gia đình và người chưa thành niên trên thế giới

* Mô hình Tòa cho trẻ em có nguy cơ (hay mô hình an sinh phúc lợi)

Năm 1889, lần đầu tiên trên thế giới, mô hình Tòa án người chưa thành niên được hình thành Tòa án người chưa thành niên được trao quyền tài phán với đối tượng là các nhóm trẻ em bị cáo buộc phạm tội; nhóm trẻ em là đối tượng bị xâm hại và nhóm trẻ em không còn sự chăm sóc của cha mẹ do cha

mẹ đã mất, bị khuyết tật hoặc các vì lý do khác Sau đó, mô hình này được phát triển tại một số quốc gia trên thế giới Tuy thẩm quyền tài phán của hệ thống Tòa án người chưa thành niên được xác lập theo hướng gắn với 3 nhóm đối tượng nêu trên, nhưng các Tòa án này trên thực tế lại chủ yếu xử lý những vụ việc người chưa thành niên bị cáo buộc có hành vi sai trái, bao gồm cả những hành vi phạm tội và những hành vi không có tính chất tội phạm như trốn học,

bỏ nhà đi lang thang Các cán bộ giám sát thử thách và cán bộ thi hành án được trao quyền chủ động rộng rãi trong việc quyết định các biện pháp phục hồi cho người chưa thành niên và các phiên tòa được xét xử kín để bảo đảm không làm ảnh hưởng đến cuộc sống sau này của các em khi trưởng thành v.v Tuy nhiên,

mô hình này cũng đã bộc lộ những nhược điểm nhất định, chẳng hạn như việc các cán bộ giám sát thử thách và cán bộ thi hành án được trao quyền tự chủ rộng rãi trong việc quyết định áp dụng các biện pháp phục hồi cho người chưa thành niên có thể dẫn đến tình trạng lạm quyền; trong khi đó, các cán bộ này lại không có đầy đủ các điều kiện cần thiết để bảo đảm cho việc thực hiện trách nhiệm hỗ trợ phục hồi [8]

* Mô hình tư pháp người chưa thành niên (hay mô hình trừng phạt)

Từ đầu những năm 70 của thế kỷ XX, do xu hướng ngày càng gia tăng của các tội phạm có tính chất mức độ ngày càng nguy hiểm do người chưa

Trang 20

thành niên thực hiện, một số quốc gia, điển hình là Canada, Anh và xứ Wales…

đã có cách tiếp cận mang tính cứng rắn hơn trong việc xử lý trách nhiệm của người chưa thành niên có hành vi phạm tội Hệ thống Tòa án cho người chưa thành niên đã từng tồn tại ở các quốc gia này đã chuyển dần từ yêu cầu về trách nhiệm phục hồi sang việc nhấn mạnh yếu tố trách nhiệm và trừng phạt trong việc xử lý các hành vi phạm tội do người chưa thành niên thực hiện, theo hướng gần tương đương đối với người đã thành niên phạm tội Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy đường lối “cứng rắn” này trong việc xử lý người chưa thành niên phạm tội cũng không chứng tỏ được hiệu quả rõ rệt của nó trong việc làm giảm bớt số lượng các vi phạm pháp luật và tội phạm do người chưa thành niên thực hiện hay hỗ trợ quá trình tái hòa nhập cộng đồng của người chưa thành niên

* Mô hình Tòa gia đình

Đây là mô hình Tòa án người chưa thành niên xuất hiện trong thời gian gần đây Theo đó, mục đích của mô hình Tòa án này là đưa tất cả vấn đề gia đình vào xử lý trong quá trình tố tụng và đội ngũ hỗ trợ dịch vụ xã hội Cách tiếp cận này cho phép thẩm phán đánh giá và nhận thức một cách đầy đủ hơn

về những vấn đề đang diễn ra trong gia đình của trẻ phạm tội, từ đó có đầy đủ thông tin và áp dụng các biện pháp xử lý mang tính “trị liệu” hợp lý hướng vào

cả gia đình lẫn bản thân người chưa thành niên phạm tội Có thể nhận xét rằng, các mô hình Tòa án người chưa thành niên nêu trên được xác lập trên cơ sở thực tiễn về điều kiện kinh tế – xã hội, chính trị – pháp lý cụ thể của từng quốc gia Do đó không có một mô hình nào là hoàn hảo và áp dụng chung cho tất cả các quốc gia Ở những mức độ khác nhau, trong từng mô hình này đều có những

ưu điểm cũng như những nhược điểm nhất định, hoặc mô hình tổ chức và hoạt động của nó vẫn đang trong quá trình kiểm nghiệm, còn phải tiếp tục phát triển

trong thực tiễn [8]

Trang 21

1.2.2 Mô hình Tòa gia đình và người chưa thành niên ở một số quốc gia trên thế giới

1.2.2.1 Mô hình Tòa Gia đình Liên Bang của Úc

* Cơ cấu tổ chức và thẩm quyền

Cơ cấu tổ chức: Cơ cấu tổ chức của Tòa Gia đình Liên bang bao gồm:

01 Chánh án, 01 Phó chánh án và các thẩm phán Thẩm phán của Tòa Gia đình được bổ nhiệm bởi Toàn quyền Úc trên cơ sở đề nghị của Nghị viện với nhiệm

kỳ dài hạn đến 70 tuổi Những người được lựa chọn bổ nhiệm làm thẩm phán của Tòa Gia đình thường là những luật sư có uy tín và cũng có thể là những chuyên gia trong lĩnh vực gia đình học

Thẩm quyền: Tòa Gia đình Liên bang có thẩm quyền giải quyết đối với các yêu cầu tuyên bố hôn nhân vô hiệu hoặc hôn nhân là hợp pháp, ly hôn, cư trú, liên lạc, giám hộ, cấp dưỡng và tài sản liên quan đến các quan hệ nói trên Tòa Gia đình Liên bang xét xử phúc thẩm các vụ án liên quan đến gia đình do Tòa án sơ thẩm Liên bang xét xử sơ thẩm; phúc thẩm các phán quyết do một thẩm phán xét xử của Tòa Gia đình Liên bang; phúc thẩm các phán quyết của Tòa Gia đình bang Tây Úc [35]

* Ưu và nhược điểm của mô hình này

Ưu điểm: Tổ chức Tòa Gia đình Liên bang là một cấp tòa trung gian độc lập, đồng thời vẫn chia sẻ thẩm quyền sơ thẩm các vụ việc liên quan đến gia đình cho Tòa án sơ thẩm có thẩm quyền chung, khẳng định sự độc lập trong hoạt động của cơ quan này Tòa Gia đình Liên bang có các văn phòng luật gia đình có chức năng hỗ trợ, tư vấn những vấn đề liên quan đến gia đình Đi cùng với các văn phòng này là hoạt động của các chuyên gia về gia đình Hoạt động của các văn phòng này giúp cho các gia đình có thể giải quyết hòa bình được các xung đột mà không phải đưa ra Tòa án

Trang 22

Nhược điểm: Tòa Gia đình Liên bang là một cấp Tòa độc lập, đây là ưu điểm và cũng chính là nhược điểm của mô hình này Do được tổ chức độc lập nên làm cho hệ thống Tòa án thêm cồng kềnh

Mô hình Toà gia đình hợp nhất là một phương pháp tiếp cận tổng thể nhằm xử lý các vấn đề của gia đình trên cơ sở đảm bảo cuộc sống và phúc lợi cho tất cả các thành viên của gia đình đó Mô hình này tập trung tăng cường tính hiệu quả và giảm sức ép thông qua việc chỉ định một Thẩm phán được đào tạo đặc biệt về pháp luật gia đình phối hợp, hỗ trợ một gia đình cụ thể xử lý tất

cả các vấn đề của mình theo phương thức hỗ trợ chứ không phải là phán xét

Để đạt được mục tiêu bao quát này, cần phải xây dựng một hệ thống có đủ năng lực Việc xây dựng một hệ thống như vậy đòi hỏi phải có công tác tập huấn phù hợp cho đội ngũ Thẩm phán và cán bộ Toà án, xây dựng các hệ thống tích hợp thông tin và quản lý các dịch vụ xã hội hoàn thiện bao gồm dịch vụ tham vấn, giải quyết tranh chấp, điều trị cai nghiện Nếu không xây dựng được năng lực như vậy, mô hình Toà gia đình hợp nhất có khả năng sẽ không đạt được tất cả tiềm năng và mục đích mà nó đặt ra

1.2.2.2 Mô hình Tòa Gia đình ở Nhật Bản

Nhật Bản đã có một hệ thống tư pháp riêng cho trẻ em vi phạm pháp luật

từ năm 1949 Luật Người chưa thành niên của Nhật Bản hoàn toàn dựa trên nền tảng phúc lợi để điều chỉnh, đặc biệt là đối với trẻ em dưới 14 tuổi Mô hình này kết hợp với một truyền thống văn hoá gia đình và kiểm soát xã hội mạnh

mẽ đã giữ tỷ lệ tội phạm chưa thành niên của Nhật Bản trong thời gian dài ở mức thấp Tuy nhiên gần đây, cùng với xu hướng tăng của tội phạm và một số

vụ phạm tội do trẻ em thực hiện gây chấn động lớn, Nhật Bản đã tăng cường quyền lực của nhà nước trong việc xử lý các bị can thanh thiếu niên Luật mới quy định về thủ tục điều tra của Cảnh sát đối với thanh thiếu niên dưới 14 tuổi

và lần đầu tiên cho phép Tòa Gia đình đưa trẻ em vào các trường giáo dưỡng/cơ

Trang 23

sở phục hồi thay vì đưa vào các trung tâm hướng dẫn trẻ em Luật sửa đổi cũng quy định thiết lập một hệ thống mới có chức năng chuyển các vụ án nghiêm trọng từ Toà Gia đình sang Toà dành cho người trưởng thành [35]

Toà gia đình Nhật bản có quyền xét xử đối với trẻ em và thanh thiếu niên dưới 20 tuổi vi phạm pháp luật Đạo luật về người chưa thành niên đã cung cấp một định nghĩa rất rộng về “người chưa thành niên vi phạm pháp luật” Định nghĩa này không chỉ bao gồm thanh thiếu niên đã có hành vi phạm tội mà còn bao gồm cả những em “mà xu hướng phát triển của họ cho thấy họ có thể phạm tội trong tương lai”, đó là những người chưa thành niên thường xuyên không chấp hành sự chỉ dẫn chính đáng của người giám hộ mình, thường xuyên bỏ nhà không có lý chính đáng, giao du với những người có khuynh hướng phạm tội hoặc những người có tính cách vô đạo đức, hoặc thường xuyên có hành vi

đe dọa đến đạo đức cá nhân của mình Toà gia đình cũng có quyền xét xử đối với người trưởng thành có các hành vi làm tổn hại đến cuộc sống và phúc lợi của trẻ em Các vấn đề khác như cấp dưỡng và quyền nuôi dưỡng con thuộc phạm vi xử lý của bộ phận quan hệ gia đình của Toà gia đình

Ưu điểm: Mô hình Tòa Gia đình của Nhật Bản kết hợp với một truyền thống văn hóa gia đình và kiểm soát xã hội mạnh mẽ đã giữ tỷ lệ tội phạm chưa thành niên ở nước này trong thời gian dài ở mức thấp

Nhật Bản dựa chủ yếu vào các biện pháp xử lý không chính thức trong gia đình và cộng đồng để quản lý hành vi của trẻ em và thanh thiếu niên Ngoài

ra, Cảnh sát Nhật còn hoạt động rất tích cực Họ đi thăm những trường học, tham gia vào những diễn đàn của cộng đồng để tập huấn cho các giáo viên, cha

mẹ và trẻ em về hệ thống tư pháp người chưa thành niên Những hoạt động nhằm định hướng, khuyên bảo người chưa thành niên như thế này đã đạt được thành công lớn trong việc hạn chế người chưa thành niên vi phạm pháp luật

Có sự điều tra rất chi tiết kéo dài từ 4 đến 8 tuần về hoàn cảnh của thanh thiếu

Trang 24

niên trước khi vụ án được đưa ra Tòa gia đình xét xử, nên việc đưa ra các biện pháp xử lý đối với thanh thiếu niên không những tuân thủ quy định của pháp luật mà còn tùy thuộc hoàn cảnh của các em

Nhược điểm: Nhật Bản là một ví dụ điển hình về một hệ thống tư pháp

đã chuyển từ mô hình thuần tuý phục hồi sang một mô hình mang tính xử phạt nhiều hơn trong những năm gần đây Các nghiên cứu đã cho thấy rằng, mô hình mang tính xử phạt người chưa thành niên phạm tội không đem lại hiệu quả trong việc giảm thiểu tỷ lệ tái phạm hay hỗ trợ quá trình phát triển tích cực của người chưa thành niên

Nhật Bản là một ví dụ điển hình về một hệ thống tư pháp đã chuyển từ

mô hình thuần tuý phục hồi sang một mô hình mang tính xử phạt nhiều hơn trong những năm gần đây Và sự chuyển đổi này đã bắt đầu nhận được một số phản ứng Năm 2004, Ủy ban về Quyền Trẻ em của Liên hợp quốc đã bày tỏ quan ngại về xu hướng thay đổi này, đặc biệt là với quyết định của Nhật về việc giảm độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và kéo dài thời hạn cho phép giữ người chưa thành niên trong cơ sở giam giữ Uỷ ban này cũng kết luận rằng việc áp dụng thủ tục TTHS là “không phù hợp đối với trẻ em”

1.2.2.3 Mô hình Tòa án vị thành niên và gia đình ở Thái Lan

Thái Lan đã có hệ thống tư pháp riêng cho thanh thiếu niên từ năm 1951 Đạo luật về Toà gia đình và người chưa thành niên hiện nay đang áp dụng đã được ban hành từ năm 1991 Đạo luật này đã tạo ra một hệ thống Toà án chuyên trách có quyền tài phán đối với hai nhóm vụ án chính là: 1) những vụ án có trẻ

em vi phạm pháp luật; và 2) những vụ án liên quan tới các vấn đề gia đình bao gồm ly hôn, tiền cấp dưỡng nuôi con, quyền nuôi con và thăm nom con Năm

2003, Thái Lan đã thông qua một Đạo luật Bảo vệ Trẻ em riêng tập trung vào bảo vệ trẻ em khỏi các hình thức bạo lực, xâm hại, bóc lột [35]

* Cơ cấu tổ chức và thẩm quyền

Trang 25

Cơ cấu tổ chức: Tòa án vị thành niên và gia đình có hai bộ phận: Bộ phận xét xử và Bộ phận hành chính

Bộ phận xét xử: gồm Thẩm phán và Hội thẩm

Thẩm phán Tòa án vị thành niên và gia đình được cử trong số cán bộ tư pháp theo quy định của “Quy định công vụ tư pháp”, phải là người có tính cách

và hành vi tốt để giáo dục và khuyên dạy vị thành niên

Hội thẩm: là người được bầu theo thủ tục quy định tại Quy chế của Bộ

Tư pháp và sau đó do Tư lệnh hoàng gia bổ nhiệm Hội thẩm tham gia trong Hội đồng xét xử hình sự và dân sự có liên quan đến vị thành niên

Bộ phận hành chính: gồm có Thư ký Tòa án và các cán bộ, nhân viên văn phòng có trách nhiệm thực hiện các công việc hành chính của Tòa

Thẩm quyền: Tòa vị thành niên và gia đình có thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự đối với người ở độ tuổi từ đủ 7 tuổi cho đến dưới 18 tuổi tại thời điểm phạm tội và giải quyết các vụ án có liên quan đến vị thành niên hoặc gia đình theo quy định của Bộ luật dân sự và thương mại

* Ưu và nhược điểm của mô hình này

Ưu điểm: Áp dụng thành công biện pháp xử lý chuyển hướng, đưa một

số lượng lớn thanh thiếu niên ra khỏi hệ thống tư pháp hình sự thông qua biện pháp họp gia đình và cộng đồng Khi áp dụng biện pháp họp gia đình và cộng đồng chỉ có 3% số trẻ em tái phạm

Xét xử kín các vụ án hình sự có liên quan đến người chưa thành niên, khi xét xử bị cáo chưa thành niên không bị gông cùm, trừ trường hợp phạm tội có mức hình phạt cao nhất trên 10 năm tù

Một nhân tố quan trọng trong tiến bộ của Thái Lan đối với việc giải quyết các vấn đề về trẻ em là sự cởi mở và sự sẵn sàng của một bộ phận các Thẩm phán, cán bộ các Bộ, các nhà lập pháp và các tổ chức phi chính phủ trong việc phối hợp để cải thiện các hệ thống cho trẻ em Một ví dụ cho sự phối hợp này

Trang 26

chính là quy định pháp luật về lấy lời khai “thân thiện với trẻ em” của Thái Lan Bộ luật TTHS của Thái Lan quy định tất cả nạn nhân, nhân chứng trẻ em

và thanh thiếu niên vi phạm pháp luật phải được lấy lời khai riêng tại một địa điểm phù hợp do một nhà tâm lý hoặc cán bộ phúc lợi xã hội tiến hành Trong quá trình lấy lời khai, trẻ em được phép ngồi trong một phòng cùng với nhà tâm

lý hoặc cán bộ phúc lợi xã hội và một người mà em đó tin cậy lựa chọn Trẻ em được quyền có cố vấn pháp lý có mặt cùng với mình Nếu trẻ không có Luật

sư, Nhà nước phải chỉ định Luật sư cho các em Công tố viên và Cảnh sát sẽ theo dõi cuộc lấy lời khai từ một phòng liền kề qua hệ thống gương một chiều

và hệ thống loa Công tố viên sẽ cố vấn cho cán bộ xã hội về các câu hỏi cần đặt trong quá trình lấy lời khai thông qua hệ thống truyền âm thanh vào tai nghe

mà người cán bộ xã hội này đeo Cuộc lấy lời khai được ghi lại vào đĩa CD để Công tố viên có thể nghe lại sau này nếu cần Những biện pháp thân thiện với trẻ em này đã rất thành công trong việc làm giảm những chấn thương về tâm lý của trẻ em được lấy lời khai; giảm những khiếu nại về việc Cảnh sát cư xử không đúng mực trong quá trình lấy cung; và tạo thuận lợi cho quá trình xét xử

về tình trạng gia đình và báo cáo với Tòa về việc trẻ em - con em của gia đình

đó - cần làm gì để bảo đảm cuộc sống và phát triển của các em trong tương lai

Nhược điểm: Mỗi Tòa vị thành niên và gia đình đều có Trung tâm giám sát và Bảo vệ vị thành niên, vì vậy mô hình này cần nguồn nhân lực và chi phí rất lớn Thẩm phán và Giám đốc Trung tâm Bảo trợ người chưa thành niên

Trang 27

được giao quyền tự chủ rất lớn, điều này dễ dẫn đến tình trạng lạm quyền, chủ quan trong việc đưa ra các quyết định

Để mô hình Tòa vị thành niên và gia đình hoạt động có hiệu quả trong thực tế thì đòi hỏi phải có sự đồng bộ từ khâu điều tra, truy tố, xét xử đến cả thi hành án, đây là một công việc rất khó khăn bởi lẽ nó cần có nguồn nhân lực có trình độ và tất cả các cán bộ trong các cơ quan này phải được chuyên môn hóa

- tức là phải trang bị cho họ những kiến thức cần thiết về người chưa thành niên Vì vậy, đây cũng là vấn đề khó thực hiện, cần có thời gian để xây dựng

và hoàn thiện pháp luật, cũng như đào tạo Thẩm phán, cán bộ chuyên sâu để họ nắm vững tâm - sinh lý và hoàn cảnh của người chưa thành niên này

1.3 Pháp luật về tổ chức và hoạt động của Tòa gia đình và người chưa thành niên tại Việt Nam

1.3.1 Vị trí của Tòa gia đình và người chưa thành niên trong hệ thống Tòa án

Việc thành lập Tòa gia đình và người chưa thành niên tại Việt Nam là bước đi cụ thể để thực hiện các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia về bảo

vệ các quyền dân sự, quyền của trẻ em Tòa GĐ & NCTN không phải là “Tòa

án đặc biệt” cũng như không phải được thành lập thành một hệ thống Tòa án độc lập, song song với hệ thống TAND sẽ được thành lập theo Nghị quyết số 49-NQ/TW và Kết luận số 79-KL/TW của Bộ Chính trị Mục tiêu chủ yếu của việc thành lập Tòa án này là để chuyên xét xử các vụ án và giải quyết các vụ việc có liên quan đến gia đình và người chưa thành niên xuất phát từ bản chất của các quan hệ xã hội và chủ thể của các quan hệ đặc biệt này Vì vậy, xét về bản chất, đây là loại Tòa chuyên trách nằm trong hệ thống TAND [8]

Điều kiện để thành lập Tòa gia đình và người chưa thành niên

Việc thành lập Tòa GĐ & NCTN phải gắn với việc tổ chức hệ thống TAND theo tinh thần cải cách tư pháp; cụ thể như sau:

Trang 28

- Trường hợp thành lập TAND sơ thẩm khu vực ở một hoặc một số đơn

vị hành chính cấp huyện, thì so với TAND cấp huyện hiện nay, tổ chức của Tòa

án này sẽ lớn mạnh hơn nhiều Số vụ việc hàng năm Tòa án giải quyết sẽ tăng lên nhất là ở các TAND sơ thẩm khu vực ở các đô thị Số lượng Thẩm phán cũng

sẽ tăng tương ứng Đây là điều kiện cơ bản để tiến hành việc cơ cấu tổ chức TAND sơ thẩm khu vực theo loại quan hệ xã hội, loại vụ việc và chuyên môn hóa đội ngũ Thẩm phán Theo đó, TAND sơ thẩm khu vực ở những nơi có đủ điều kiện (nếu được thành lập) sẽ thành lập các Tòa chuyên trách như: Tòa hình

sự, Tòa dân sự, Tòa hành chính, Tòa GĐ & NCTN Như vậy, Tòa GĐ & NCTN

là một Tòa chuyên trách trong TAND sơ thẩm khu vực

- Trường hợp chưa thành lập TAND sơ thẩm khu vực ở một hoặc một số đơn vị hành chính cấp huyện thì không thành lập Tòa chuyên trách về gia đình

và người chưa thành niên ở cấp huyện nhưng cần phải có các Thẩm phán chuyên trách giải quyết các vụ việc về gia đình và người chưa thành niên

- TAND cấp tỉnh xét xử sơ thẩm, phúc thẩm các vụ án theo quy định của pháp luật tố tụng và có các tòa chuyên trách như: Tòa hình sự, Tòa dân sự, Tòa lao động, Tòa hành chính và sẽ thành lập thêm Tòa GĐ & NCTN để xem xét, giải quyết theo thủ tục sơ thẩm và phúc thẩm các vụ việc về gia đình và người chưa thành niên theo thẩm quyền

- TAND cấp cao khu vực (nếu được thành lập) hoặc các Tòa phúc thẩm TAND tối cao hiện nay không có các tòa chuyên trách nên không đặt vấn đề thành lập Tòa GĐ & NCTN tại các Tòa án này Tuy nhiên, cần thiết có các Thẩm phán chuyên trách sâu về lĩnh vực gia đình và người chưa thành niên để phân công chủ trì giải quyết các vụ việc có liên quan đến gia đình và người chưa thành niên

- TAND tối cao được tổ chức như hiện nay (có các tòa chuyên trách như: Tòa hình sự, Tòa dân sự, Tòa lao động, Tòa kinh tế để thực hiện chức năng xét

Trang 29

xử giám đốc thẩm, tái thẩm), thì cần thành lập Tòa GĐ & NCTN để xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm những vụ án liên quan đến gia đình và người chưa thành niên theo quy định của pháp luật tố tụng

- Trường hợp có đổi mới tổ chức của TAND tối cao và không còn Tòa chuyên trách trong tổ chức của TAND tối cao thì cần có các Thẩm phán chuyên trách về lĩnh vực gia đình và người chưa thành niên để tham gia Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm các vụ án có liên quan đến gia đình và người chưa thành niên Hội đồng được thành lập theo pháp luật tố tụng khi xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm, chứ không phải là một tổ chức được thành lập để hoạt động thường xuyên

1.3.2 Các quy định pháp luật hiện hành về tổ chức của Tòa gia đình

và người chưa thành niên

Trong thời gian qua, để triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013 và thực hiện chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật theo tinh thần Nghị quyết số 48 của Bộ Chính trị, cùng với việc thông qua Luật Tổ chức TAND năm 2014, Quốc hội đã thông qua nhiều đạo luật quan trọng về tư pháp như Bộ luật Hình

sự, Bộ luật TTHS, Bộ luật dân sự, Bộ luật TTDS, Luật Tố tụng hành chính.v.v Theo các đạo luật này thì trong cơ cấu tổ chức của TAND cấp cao, cấp tỉnh và cấp huyện có Tòa GĐ & NCTN Bên cạnh đó, Bộ luật Hình sự và Bộ luật TTHS

đã có sự điều chỉnh mạnh mẽ về tư pháp người chưa thành niên nói chung, chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội nói riêng; trong đó, cùng với việc tiếp tục bảo đảm yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm là yêu cầu về bảo đảm lợi ích tốt nhất cho người chưa thành niên, với những quy định hết sức cụ thể

Để triển khai thực hiện điểm b khoản 1 Điều 38 và khoản 1 Điều 45 Luật

Tổ chức TAND năm 2014, ngày 12/4/2016, TAND tối cao ban hành Công văn

số 99/TANDTC-PC về triển khai thực hiện việc tổ chức Tòa GĐ & NCTN

Trang 30

Theo đó, Tòa GĐ & NCTN được tổ chức ở TAND cấp huyện và tương đương, TAND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và TAND cấp cao Đây là một trong các Tòa chuyên trách thuộc TAND, được tổ chức theo quy định tại Thông tư số 01/2016/TT-CA ngày 21/01/2016 của TAND tối cao quy định việc

tổ chức các Tòa chuyên trách tại TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương Việc tổ chức Tòa GĐ & NCTN ở TAND cấp tỉnh, TAND cấp huyện được căn cứ vào yêu cầu công việc và thực tế xét xử của mỗi Tòa án; căn cứ vào biên chế đội ngũ Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký của từng Tòa án và do Chánh án TAND tối cao xem xét, quyết định

Tại Công văn này, Chánh án TAND tối cao chỉ đạo các Tòa án cần chủ động xây dựng Quy chế phối hợp với các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức phúc lợi xã hội, cơ quan y tế, giáo dục ở trung ương và địa phương để phối hợp với Tòa án giải quyết tốt các vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa GĐ & NCTN Chánh án TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Chánh án TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương khẩn trương chuẩn

bị các điều kiện cần thiết, đặc biệt là về công tác nhân sự và cơ sở vật chất để

tổ chức Tòa GĐ & NCTN, bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả và đúng quy định của pháp luật Tòa GĐ & NCTN ở Việt Nam được tổ chức theo mô hình Tòa chuyên trách nên nhân sự cũng bao gồm các Thẩm phán và Thư ký Tòa án Đội ngũ lãnh đạo bao gồm Chánh Tòa và các Phó Chánh tòa

* Trình tự, thủ tục thành lập Tòa GĐ & NCTN

Theo quy định tại Điều 4 Thông tư 01/2016/TT-CA về trình tự, thủ tục

tổ chức Tòa chuyên trách như sau:

- Chuẩn bị tổ chức Tòa GĐ & NCTN

Chánh án TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương căn cứ vào các điều kiện tổ chức, rà soát, đánh giá nhu cầu tổ chức Tòa GĐ & NCTN tại TAND

Trang 31

tỉnh, huyện và tương đương thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ; rà soát

về biên chế Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án hiện có; xây dựng hồ sơ

đề nghị tổ chức Tòa GĐ & NCTN tại TAND tỉnh, huyện và các tòa tương đương thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ

- Về hồ sơ đề nghị tổ chức Tòa GĐ & NCTN

+ Thứ nhất, đề án tổ chức tại TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương Trong đó nêu rõ sự cần thiết tổ chức Tòa này, cơ sở của việc đề xuất, số lượng Tòa cần tổ chức, tên các Tòa, cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, phương án

tổ chức nhân sự và đề xuất về biên chế Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa

án của từng Tòa Đề án phải được Ban cán sự đảng TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xem xét, biểu quyết thông qua;

+ Thứ hai, văn bản đề nghị tổ chức tại TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương

+ Thứ ba, hồ sơ đề nghị tổ chức Tòa GĐ & NCTN được gửi cho TAND tối cao (thông qua Vụ Tổ chức - Cán bộ)

- Về thời hạn xem xét tổ chức Tòa GĐ & NCTN

Trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận được Hồ sơ đề nghị tổ chức Tòa chuyên trách, Vụ Tổ chức - Cán bộ TAND tối cao phải xem xét Hồ

sơ đề nghị tổ chức Tòa chuyên trách; Nếu hồ sơ đáp ứng đủ điều kiện thì lập

Tờ trình Chánh án TAND tối cao xem xét, quyết định việc tổ chức Tòa GĐ & NCTN Trường hợp Chánh án TAND tối cao quyết định không tổ chức Tòa này tại TAND cấp tỉnh, cấp huyện và tương đương thì Vụ Tổ chức - Cán bộ thông báo bằng văn bản cho TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã trình Hồ sơ đề nghị tổ chức Tòa này biết

Theo trình tự này, thực hiện Luật tổ chức TAND năm 2014, Tòa GĐ & NCTN được thành lập tại hai địa phương đầu tiên là thành phố Hồ Chí Minh

Trang 32

vào tháng 3 năm 2016 và Đồng Tháp vào tháng 8 năm 2017 Tính đến nay, Tòa

GĐ & NCTN đã được thành lập tại 03 TAND cấp cao tại Hà Nội, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh và tại 38 TAND cấp tỉnh Chưa có TAND cấp huyện nào thành lập Tòa GĐ & NCTN

1.3.3 Các quy định về hoạt động của Tòa gia đình và người chưa thành niên

1.3.3.1 Giải quyết các vụ án hình sự liên quan đến người dưới 18 tuổi

Để quy định chi tiết việc xét xử vụ án hình sự có người tham gia tố tụng

là người dưới 18 tuổi thuộc thẩm quyền của Tòa GĐ & NCTN, TAND tối cao

đã ban hành Thông tư số 02/2018/TT-TANDTC ngày 21/9/2018, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/12/2018 Theo đó, Tòa GĐ & NCTN có thẩm quyền xét xử các vụ án hình sự có bị cáo là người dưới 18 tuổi hoặc các vụ án hình sự có người bị hại là người dưới 18 tuổi bị tổn thương nghiêm trọng về tâm lý hoặc cần sự hỗ trợ về điều kiện sống, học tập do không có môi trường gia đình lành mạnh như những người dưới 18 tuổi khác (Điều 3)

Người bị hại là người dưới 18 tuổi bị tổn thương nghiêm trọng về tâm lý

là người luôn ở trong trạng thái hoảng loạn, sợ hãi, suy nhược về tinh thần và thể chất, rối loạn tâm thần và hành vi do tác động bởi hành vi phạm tội gây ra

Người cần có sự hỗ trợ về điều kiện sống, học tập do không có môi trường gia đình lành mạnh như những người dưới 18 tuổi khác là người có hoàn cảnh không bình thường (như: mồ côi, cha mẹ ly hôn, hay bị bạo hành, có cha

mẹ nghiện rượu, ma túy, vi phạm pháp luật ) dẫn đến bị thiếu thốn về vật chất, tinh thần, không có nơi ở, bỏ học hoặc không được đi học như những người dưới 18 tuổi khác

Pháp luật cũng có quy định cụ thể về những vụ án hình sự thuộc thẩm quyền của Tòa GĐ & NCTN xét xử tại Phòng xử án hình sự và những vụ việc xét xử tại Phòng xét xử thân thiện

Trang 33

Theo đó, những vụ án hình sự thuộc thẩm quyền của Tòa GĐ & NCTN xét xử tại Phòng xử án hình sự bao gồm:

- Vụ án hình sự có bị cáo là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý và tội đặc biệt nghiêm trọng;

- Vụ án hình sự có bị cáo là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm một trong các tội đặc biệt nghiêm trọng quy định tại các điều 123, 134, 141,

142, 144, 151, 168, 169, 170, 171, 248, 249, 250, 251, 252 và 299 của Bộ luật Hình sự;

- Vụ án hình sự vừa có bị cáo là người dưới 18 tuổi vừa có bị cáo là người

từ đủ 18 tuổi trở lên;

- Vụ án hình sự mà bị cáo là người từ đủ 18 tuổi trở lên nhưng người bị hại là người dưới 18 tuổi bị tổn thương nghiêm trọng về tâm lý hoặc cần sự hỗ trợ về điều kiện sống, học tập do không có môi trường gia đình lành mạnh như những người dưới 18 tuổi khác

Những vụ án hình sự thuộc thẩm quyền của Tòa GĐ & NCTN xét xử tại Phòng xét xử thân thiện bao gồm:

- Những vụ án hình sự có bị cáo là người dưới 18 tuổi thuộc thẩm quyền của Tòa GĐ & NCTN nếu không thuộc trường hợp quy định nêu trên thì xét

xử tại Phòng xét xử thân thiện

- Đối với các Tòa án chưa có Phòng xét xử thân thiện thì khi xét xử các

vụ án, phòng xử án phải được bố trí thân thiện, bảo đảm lợi ích tốt nhất cho người dưới 18 tuổi

Khi giải quyết vụ án hình sự có người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi, Chánh án Tòa án phân công Thẩm phán là người có kinh nghiệm xét xử các vụ án liên quan đến người dưới 18 tuổi hoặc đã được đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng về kỹ năng giải quyết các vụ án hình sự có người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi hoặc đã được đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng về tâm lý học,

Trang 34

khoa học giáo dục đối với người dưới 18 tuổi; có 01 Hội thẩm là giáo viên, cán

bộ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh hoặc người có kinh nghiệm, hiểu biết tâm lý người dưới 18 tuổi

* Quy định về phòng xử án thân thiện, phòng hòa giải và các phòng chức năng:

Phòng xử án phải được bố trí thân thiện, bảo đảm lợi ích tốt nhất cho người dưới 18 tuổi theo đúng quy định tại Thông tư số 01/2017/TT-TANDTC ngày 28/7/2017 của Chánh án TAND tối cao quy định về phòng xử án Thẩm phán mặc trang phục làm việc hành chính của TAND (không mặc áo choàng) Việc tổ chức phiên tòa và bảo vệ phiên tòa thực hiện theo quy định tại Thông

tư số 02/2017/TT-TANDTC ngày 28/7/2017 của Chánh án TAND tối cao ban hành Quy chế tổ chức phiên tòa

Đối với những vụ án có người bị hại là người dưới 18 tuổi bị xâm hại tình dục, bị bạo hành hoặc bị mua bán thì Tòa án phải xét xử kín; đối với những

vụ án khác có yêu cầu của người dưới 18 tuổi, người đại diện của họ hoặc để giữ bí mật đời tư, bảo vệ người dưới 18 tuổi thì Tòa án cũng có thể xét xử kín nhưng phải tuyên án công khai theo quy định tại Điều 327 của Bộ luật TTHS

Vị trí của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, người tham dự phiên tòa, phiên họp trong phòng xử án được bố trí trên cùng một mặt phẳng, sắp xếp theo hình thức bàn tròn; tường trong phòng xử án có màu xanh

Người dưới 18 tuổi tham gia tố tụng tại phiên tòa được ngồi cạnh người đại diện, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ

Bàn, ghế trong phòng xử án được thiết kế theo kiểu dáng bàn, ghế văn phòng Ngoài ra, phòng xử án và giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa GĐ & NCTN phải bảo đảm các quy định chung về phòng xử án (Điều 6 Thông tư 01/2017)

Trang 35

Phòng xử án được trang bị rèm che hoặc màn che có thể gấp gọn để chắn, không cho nạn nhân là trẻ em, người chưa thành niên nhìn thấy bị can, bị cáo Các trang thiết bị để thu phát việc lấy lời khai của trẻ em, người chưa thành niên trong quá trình xét hỏi tại phiên tòa gồm: Màn hình ti vi, máy tính hoặc thiết bị phát video được kết nối với màn hình ti vi; loa có điều khiển từ xa để điều chỉnh âm lượng; thiết bị âm thanh, ghi hình, mạng Internet, mạng truyền hình trực tuyến và các trang thiết bị khác phục vụ cho công tác xét xử; máy điều hòa không khí

Phòng hòa giải thiết kế với nền tường màu xanh, treo tranh, ảnh về thiên nhiên, con người và được bố trí bàn hình tròn hoặc hình bầu dục

Phòng chờ có thể sử dụng nhằm một số mục đích như tạo không gian riêng tư, thân thiện để trẻ em và người chưa thành niên cùng cha mẹ, người giám hộ, người lớn đi kèm ngồi chờ khi ở Tòa án, để trẻ em, người chưa thành niên tạm nghỉ khi thấy căng thẳng, không khỏe hay cần nghỉ ngơi trong quá trình xét xử, cung cấp lời khai trước tòa, để được cha mẹ, chuyên gia tâm lý hoặc cán bộ xã hội an ủi, khích lệ Trường hợp sử dụng thiết bị cầu truyền hình, trẻ em, người chưa thành niên có thể ngồi tại phòng chờ để khai báo và việc lấy lời khai được ghi hình và truyền trực tiếp đến phòng xử án

Phòng chờ cho trẻ em được sơn màu trắng, thân thiện và trang trí không gian ấm áp và yên tĩnh cho trẻ Cần lưu ý phòng này dành cho trẻ em và người chưa thành niên ở mọi độ tuổi, do đó, không nên trang trí theo hướng quá thân thiện với trẻ nhỏ

Phòng chờ nên có đồ chơi, trò chơi và sách cho trẻ em và người chưa thành niên, bao gồm sách tô màu, bút màu, búp bê, tạp chí, máy tính bảng có các trò chơi, video…

Phòng chờ có thể có một số trang thiết bị như ghế sofa, bàn tròn nhỏ theo kích cỡ cho trẻ em và ghế; hình và áp phích nhiều màu được vẽ, dán trên tường;

Trang 36

rèm cửa sổ, thảm sàn nhà nhiều màu sắc; tủ, kệ hoặc hộp đồ chơi, trò chơi và sách; máy tính bảng có các trò chơi và phim dành cho trẻ em, người chưa thành niên ở nhiều độ tuổi khác nhau; tủ lạnh; bộ sơ cứu cơ bản và điều hòa

1.3.3.2 Xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân đối với người chưa thành niên

Theo Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại TAND, các biện pháp xử lý hành chính tại TAND bao gồm đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

- Biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng:

Theo quy định tại Điều 91 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, đưa vào trường giáo dưỡng là biện pháp xử lý hành chính áp dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp luật quy định tại Điều 92 của Luật này nhằm mục đích giúp họ học văn hóa, học nghề, lao động, sinh hoạt dưới sự quản lý, giáo dục của nhà trường Thời hạn áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng từ 06 tháng đến 24 tháng

Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng bao gồm: người

từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật hình sự; người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý quy định tại Bộ luật hình sự; người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật hình sự mà trước đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi 02 lần trở lên trong 06 tháng thực hiện hành vi trộm cắp, lừa đảo, đánh bạc, gây rối trật tự công cộng mà chưa đến

Trang 37

mức truy cứu trách nhiệm hình sự và trước đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn (Điều 92)

- Biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc:

Theo quy định tại Điều 93 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc là biện pháp xử lý hành chính áp dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp luật quy định tại Điều 94 của Luật này để lao động, học văn hoá, học nghề, sinh hoạt dưới sự quản lý của cơ sở giáo dục bắt buộc Thời hạn áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc từ 06 tháng đến 24 tháng

Đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc là người thực hiện hành vi xâm phạm tài sản của tổ chức trong nước hoặc nước ngoài; tài sản, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của công dân, của người nước ngoài; vi phạm trật tự, an toàn xã hội 02 lần trở lên trong 06 tháng nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú ổn định (Điều 94)

- Biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc:

Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là biện pháp xử lý hành chính áp dụng đối với người có hành vi vi phạm quy định tại Điều 96 của Luật này để chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc Thời hạn áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc từ 12 tháng đến 24 tháng

Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú ổn định (Điều 96)

Trang 38

Theo quy định của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13, thời hạn xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính là 15 ngày, kể từ ngày Tòa án thụ lý hồ sơ đề nghị của cơ quan có thẩm quyền; đối với vụ việc phức tạp, thời hạn này có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày

Pháp lệnh chỉ rõ, người đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính thuộc trường hợp quy định tại Khoản 1 và 2 Điều 112 Luật Xử lý vi phạm hành chính được Tòa án giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành phần thời gian

áp dụng biện pháp xử lý hành chính còn lại trên cơ sở đề nghị của hiệu trưởng trường giáo dưỡng, giám đốc cơ sở giáo dục bắt buộc, giám đốc cơ sở cai nghiện bắt buộc

Đối với trường hợp giảm thời hạn chấp hành biện pháp xử lý hành chính thì đối tượng được xét giảm đã chấp hành được một nửa thời hạn mà Tòa án quyết định và mỗi năm chỉ được xét giảm 01 lần với thời hạn xét giảm không quá một phần tư thời hạn mà Tòa án quyết định

Hiệu trưởng trường giáo dưỡng, Giám đốc cơ sở giáo dục bắt buộc, Giám đốc cơ sở cai nghiện bắt buộc phải gửi văn bản đề nghị cho Tòa án nơi có trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc kèm theo tài liệu chứng minh người đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 112 của Luật xử lý vi phạm hành chính Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành phần thời gian áp dụng biện pháp xử lý hành chính còn lại, Tòa án phải thụ lý và phân công Thẩm phán xem xét, giải quyết, đồng thời thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét và ra quyết định; trường hợp cần thiết, cơ quan đề nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có ý kiến bằng văn bản trước khi Tòa án ra quyết định

Trang 39

Quyết định về việc giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành phần thời gian áp dụng biện pháp xử lý hành chính còn lại có hiệu lực thi hành

kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật và phải được gửi cho người được quy định tại khoản 3 Điều 112 của Luật

xử lý vi phạm hành chính và Viện kiểm sát cùng cấp trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định

1.3.3.3 Giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình theo quy định của

Bộ luật tố tụng dân sự

Quy định tại Điều 28 Bộ luật TTDS năm 2015, sửa đổi, bổ sung những tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án so với Điều 27 Bộ luật TTDS cũ Trong đó, bổ sung quan hệ tranh chấp Chia tài sản sau khi ly hôn, Tranh chấp về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc khi hủy kết hôn trái pháp luật; đồng thời điều luật cũng xác định rõ khi có quy định của pháp luật khác xác định thẩm quyền giải quyết các tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc cơ quan khác thì Tòa án không thụ lý, giải quyết Quy định tại Điều

29 Bộ luật TTDS năm 2015 sửa đổi, bổ sung những yêu cầu về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án so với Điều 28 Bộ luật TTDS cũ Trong đó, bổ sung yêu cầu về Công nhận việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định tại Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; yêu cầu liên quan đến việc mang thai hộ theo quy định từ Điều 92 đến Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; yêu cầu công nhận thỏa thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân đã được thực hiện theo bản án, quyết định của Tòa án; yêu cầu tuyên bố vô hiệu thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng theo quy định tại Điều 50 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; yêu cầu xác định cha

Trang 40

mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định từ Điều 89 đến Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; đồng thời điều luật cũng xác định rõ khi có quy định của pháp luật khác xác định thẩm quyền giải quyết các việc hôn nhân

và gia đình thuộc cơ quan khác thì Tòa án không thụ lý, giải quyết.Về thẩm quyền của TAND: So với Điều 33 Bộ luật TTDS cũ, Điều 35 Bộ luật TTDS năm 2015 bổ sung thẩm quyền của TAND cấp huyện nơi cư trú của công dân Việt Nam hủy việc kết hôn trái pháp luật, giải quyết việc ly hôn, các tranh chấp

về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, cha mẹ và con, về nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi và giám hộ giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng cũng cư trú ở khu vực biên giới Việt Nam theo quy định của Bộ luật TTDS và các quy định khác của pháp luật Việt Nam Ngoài ra, cần chú ý quy định mới bổ sung tại khoản 2 Điều 36 và khoản 2 Điều

38 Bộ luật TTDS 2015 về thẩm quyền của Tòa GĐ & NCTN tại TAND địa phương

Những tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa GĐ & NCTN được quy định tại Điều 28 Bộ luật TTDS năm 2015 Những yêu cầu về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa

GĐ & NCTN được quy định Điều 29 Bộ luật TTDS năm 2015 Trình tự, thủ tục giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình tại Tòa GĐ & NCTN được quy định cụ thể tại Bộ luật dân sự năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành

Kết luận chương 1

Theo yêu cầu Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020, trong bộ máy Nhà nước ta, TAND có vị trí, vai trò hết sức quan trọng Toà án là cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp,

có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp

Ngày đăng: 30/03/2022, 17:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Đức Anh (2016), Tổ chức và hoạt động của TAND theo tinh thần Hiến pháp năm 2013 qua thực tiễn tỉnh Vĩnh Phúc, Luận văn thạc sĩ, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức và hoạt động của TAND theo tinh thần Hiến pháp năm 2013 qua thực tiễn tỉnh Vĩnh Phúc
Tác giả: Trần Đức Anh
Năm: 2016
2. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2005
3. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2005
4. Bộ Chính trị (2010), Kết luận số 79-KL/TW ngày 28-7-2010 của Bộ Chính trị về Đề án đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án, Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra theo Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết luận số 79-KL/TW ngày 28-7-2010 của Bộ Chính trị về Đề án đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án, Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra theo Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-2005
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2010
5. Đảng cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
6. Đảng cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2016
7. Huỳnh Thị Trúc Giang và Nguyễn Thị Mỹ Linh (2012), Tập bài giảng Luật hôn nhân &gia đình , Khoa Luật- Đại học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập bài giảng Luật hôn nhân &gia đình
Tác giả: Huỳnh Thị Trúc Giang và Nguyễn Thị Mỹ Linh
Năm: 2012
8. Lữ Thị Hằng (2019), Mô hình Tòa GĐ & NCTN ở Việt Nam và Hàn Quốc - nhìn từ góc độ luật so sánh, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình Tòa GĐ & NCTN ở Việt Nam và Hàn Quốc - nhìn từ góc độ luật so sánh
Tác giả: Lữ Thị Hằng
Năm: 2019
9. Bùi Thị Thu Hương (2020), Tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân cấp huyện, tỉnh Phú Thọ, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Học viện Hành chính Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân cấp huyện, tỉnh Phú Thọ
Tác giả: Bùi Thị Thu Hương
Năm: 2020
10. Nguyễn Thị Lộc (2013), Sự cần thiết phải bổ sung thủ tục tố tụng đối với người bị hại là người chưa thành niên trong Bộ luật TTHS sửa đổi, Tạp chí TAND, số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự cần thiết phải bổ sung thủ tục tố tụng đối với người bị hại là người chưa thành niên trong Bộ luật TTHS sửa đổi
Tác giả: Nguyễn Thị Lộc
Năm: 2013
11. Ngô Thị Mai (2019), Tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân cấp cao ở Việt Nam hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Học viện Hành chính Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân cấp cao ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Ngô Thị Mai
Năm: 2019
12. Nguyễn Tất Nam (2018), Bảo đảm quyền của người bị kết án theo thủ tục giám đốc thẩm vụ án hình sự của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, Luận văn Thạc sỹ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo đảm quyền của người bị kết án theo thủ tục giám đốc thẩm vụ án hình sự của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Tất Nam
Năm: 2018
13. Hoàng Thị Thanh Nhàn (2018), Tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân cấp huyện theo yêu cầu cải cách tư pháp – Từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Học viện Hành chính Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân cấp huyện theo yêu cầu cải cách tư pháp – Từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình
Tác giả: Hoàng Thị Thanh Nhàn
Năm: 2018
14. Phan Đức Phương (2007), Đổi mới tổ chức và hoạt động của TAND trong tiến trình cái cách tư pháp, Luận văn thạc sĩ, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới tổ chức và hoạt động của TAND trong tiến trình cái cách tư pháp
Tác giả: Phan Đức Phương
Năm: 2007
15. Hoàng Văn Quang (2018), Đảm bảo quyền của người chưa thành niên trong hoạt động xét xử các vụ việc hôn nhân và gia đình - qua thực tiễn tại TAND quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảm bảo quyền của người chưa thành niên trong hoạt động xét xử các vụ việc hôn nhân và gia đình - qua thực tiễn tại TAND quận Bắc Từ Liêm
Tác giả: Hoàng Văn Quang
Năm: 2018
16. Quốc hội (2013), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sửa đổi năm 2013), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sửa đổi năm 2013)
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2013
20. Quốc hội (2013), Nghị quyết số 63/2013/QH13 ngày 27/11/2013 của Quốc hội “về tăng cường các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 63/2013/QH13 ngày 27/11/2013 của Quốc hội “về tăng cường các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm”
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2013
21. Nguyễn Minh Sử (2011), Đổi mới tổ chức Tòa án nhân dân cấp huyện trong quá trình cải cách tư pháp ở Việt Nam, Luận án Tiến sỹ luật học, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới tổ chức Tòa án nhân dân cấp huyện trong quá trình cải cách tư pháp ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Minh Sử
Năm: 2011
22. Nguyễn Văn Tám (2013), Vị trí, vai trò của Tòa án nhân dân trong thể chế Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luận văn thạc sỹ, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vị trí, vai trò của Tòa án nhân dân trong thể chế Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Tám
Năm: 2013
23. Tòa án nhân dân tối cao (2014), Nghiên cứu so sánh hệ thống Tòa án một số nước kinh nghiệm và bài học trong hoàn thiện hệ thống Tòa án Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu so sánh hệ thống Tòa án một số nước kinh nghiệm và bài học trong hoàn thiện hệ thống Tòa án Việt Nam
Tác giả: Tòa án nhân dân tối cao
Năm: 2014

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w