chính sách đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, công chức bởi chính sáchđào tạo, bồi dưỡng không chỉ trang bị những kiến thức, nguyên lý cơ bản củaChủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN DUY TRÁNG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐĂK GLONG,
TỈNH ĐĂK NÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
Đăk Lăk, năm 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN DUY TRÁNG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐĂK GLONG,
TỈNH ĐĂK NÔNG
Ngành: Chính sách công
Mã số: 8340402
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN HẢI NINH
Đăk Lăk, năm 2019
Trang 3Lời cảm ơn
Sau thời gian học tập và nghiên cứu tại Học viện Khoa học xã hội ViệtNam cơ sở tại thành phố Buôn Ma Thuột – Đăk Lăk Tôi chân thành cảm ơnsâu sắc đến lãnh đạo Học viện Khoa học xã hội Việt Nam cơ sở tại thành phốBuôn Ma Thuột – Đăk Lăk đã tạo điều kiện mở lớp chuyên ngành chính sáchcông tại Đăk Lăk để bản thân có điều kiện thuận lợi tham gia học tập, nghiêncứu Xin bày tỏ lòng cảm ơn đến quý thầy, cô tham gia giảng dạy, đội ngũviên chức làm công tác quản lý tại Học viện khoa học xã hội Việt Nam cơ sởtại thành phố Buôn Ma Thuột – Đăk Lăk đã giúp đỡ trong suốt quá trình họctập
Tác giả xin gửi lời cảm ơn, chân thành, sâu sắc tới TS Nguyễn Hải Ninh
đã tận tình, quan tâm, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình làm và hoàn thiệnLuận văn
Xin trân trọng cảm ơn lãnh đạo Huyện ủy, Ủy ban nhân huyện, các cán
bộ, công chức tại các phòng, ban, đơn vị; các cán bộ, công chức cấp xã thuộchuyện Đăk Glong đã tạo điều kiện giúp đỡ để tác giả thu thập tài liệu, nghiêncứu nghiệp vụ để hoàn thành Luận văn
Tác giả luận văn
Trần Duy Tráng
Trang 4Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu độc lập của tôidưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Hải Ninh
Các số liệu, tư liệu, nội dung trích dẫn trong Luận văn đảm bảo quyềntác giả Các số liệu kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõràng của các cơ quan quản lý nhà nước
Tác giả luận văn
Trần Duy Tráng
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNH - HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 6DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
01 Sơ đồ: 2.1 Sơ đồ tổ chức UBND huyện Đăk Glong 43
02 Bảng: 2.2 Số lượng CBCC cấp xã huyện Đăk Glong 46
Trang 7MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 8
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 8
7 Kết cấu của luận văn 9
Chương 1 . MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG 10 CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ 10
1 1 Thực hiện chính sách đạo tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã 10
1.1.1 Các khái niệm cơ bản 10
1.1.2 Yêu cầu, đặc điểm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã 20
1.2 Nội dung đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã 23
1.2.1 Xác định nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng 23
1.2.2 Xác định mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng 26
1.2.4 Xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng 26
1.2.5 Lựa chọn phương pháp đào tạo, bồi dưỡng 27
1.2.6 Đánh giá hiệu quả chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã 28
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã 29
1.3.1 Các nhân tố khách quan 29
Trang 81.3.2 Các nhân tố chủ quan 34
1.4 Sự cần thiết phải đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã 35
Tiểu kết chương 1 37
Chương 2 . THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐĂK GLONG TỈNH ĐĂK NÔNG 38
2.1 Tổng quan về tình hình kinh tế - xã hội huyện Đăk Glong, tỉnh Đăk Nông38 2.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Đăk Glong, tỉnh Đăk Nông 38 2.3 Những ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đến thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp xã huyện Đăk Glong, tỉnh Đăk Nông 42
2.4 Thực trạng đội ngũ CBCC cấp xã huyện Đăk Glong, tỉnh Đăk Nông 43
2.4.1 Số lượng CBCC cấp xã của huyện Đăk Glong, tỉnh Đăk Nông 44
2.4.2 Về trình độ năng lực CBCC cấp xã của huyện Đắk Glong, tỉnh Đăk Nông 46
2.5 Đánh giá thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức trên địa bàn huyện Đăk Glong, tỉnh Đăk Nông 54
2.5.1 Kết quả đạt được 54
2.5.2 Những tồn tại hạn chế 56
2.5.3 Những nguyên nhân 59
Tiểu kết chương 2 61
Chương 3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐĂK GLONG, TỈNH ĐĂK NÔNG 62
Trang 93.1 Mục tiêu, nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã trên địa
bàn huyện Đăk Glong, tỉnh Đăk Nông 62
3.1.1 Mục tiêu chung 62
3.1.2 Mục tiêu cụ thể 63
3.1.3 Nhiệm vụ chủ yếu để đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức cấp xã 64
3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Đăk Glong 65
3.2.1 Nhóm giải pháp về giáo dục nhận thức về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã 65
3.2.2 Nhóm giải pháp về xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã 66
3.2.3 Nhóm giải pháp cơ chế, chính sách và tài chính 67
3.2.4 Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên 68
3.2.5 Đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng 69
3.2.6 Các giải pháp khác 71
3.3 Đề xuất và kiến nghị 71
3.3.1 Đề xuất 71
3.3.2 Kiến nghị 72
Tiểu kết chương 3 74
KẾT LUẬN 75
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thực hiện về chính sách đào tạo, bồi dưỡng về cán bộ, công chức nóichung được xem là nhân tố quan trọng hàng đầu quyết định sự thành bại củacách mạng Nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của công tác đào tạo, bồi dưỡng
về cán bộ, công chức đối với sự nghiệp cách mạng của toàn dân tộc, Đảng vàNhà nước ta luôn quan tâm chăm lo đến công tác cán bộ các cấp, các ngànhđáp ứng yêu cầu xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.Chúng ta biết rằng để ổn định xã hội, giữ vững quốc phòng an ninh phục vụcho công cuộc phát triển đất nước thì cần phải chú trọng đến vấn đề xây dựng
từ cấp cơ sở Cấp cơ sở bao gồm: xã, phường, thị trấn là nơi nhân dân cư trú,sinh sống, là cầu nối trực tiếp toàn bộ hệ thống chính trị với nhân dân, là nơi
tổ chức vận động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, chính sách, phápluật của Nhà nước; tăng cường đại đoàn kết toàn dân Vì vậy, việc chăm loxây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có đủ phẩm chất, năng lực lànhiệm vụ thường xuyên, có ý nghĩa hết sức quan trọng trong sự nghiệp cáchmạng của Đảng Trong thực tiễn cho thấy, nơi nào có đội ngũ cán bộ cơ sởvững mạnh thì nơi đó tình hình chính trị ổn định; kinh tế - xã hội được pháttriển; quốc phòng an ninh giữ vững Ngược lại, ở địa phương, đơn vị nào cóđội ngũ cán bộ yếu về phẩm chất, năng lực thì nơi đó gặp khó khăn, kinh tế -
xã hội chậm phát triển, thậm chí tạo cơ hội cho các thế lực thù địch lợi dụngtạo ra “điểm nóng” làm mất ổn định Do vậy, cán bộ, công chức xã có vai tròrất quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến việc xây dựng và củng cố hệ thốngchính trị ở cơ sở, là nhân tố tác động trực tiếp đến sự nghiệp đổi mới củaĐảng và Nhà nước trong giai đoạn hiện nay
Muốn xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở có chất lượng tốt phải tiếp tục đổimới công tác cán bộ Đặc biệt chúng ta cần chú trọng đến công tác thực hiện
1
Trang 11chính sách đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, công chức bởi chính sáchđào tạo, bồi dưỡng không chỉ trang bị những kiến thức, nguyên lý cơ bản củaChủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách củaĐảng và Nhà nước góp phần hình thành thế giới quan, nhân sinh quan khoahọc và lý tưởng cách mạng cho đội ngũ cán bộ mà thông qua đó sẽ nâng caohơn nữa nhận thức, bản lĩnh chính trị giúp cán bộ không ngừng rèn luyện, tudưỡng đạo đức nhằm thống nhất ý chí và hành động thực hiện thắng lợiđường lối, nhiệm vụ cách mạng do Đảng ta đề ra.
Đối với tỉnh Đắk Nông tại Nghị quyết số 18-NQ/TU, ngày 12/6/2018của Ban Thường vụ Tỉnh ủy “Về đổi mới, sắp xếp bộ máy của hệ thống chínhtrị ở cấp xã và thôn, tổ dân phố tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”, đãnhận định rõ những hạn chế của cán bộ, công chức cấp xã, đó là: “Chất lượng
và hiệu quả công tác của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã và người hoạtđộng không chuyên trách cấp xã và ở thôn, tổ dân phố có nhiều mặt hạn chếyếu kém, đội ngũ cán bộ đông nhưng chưa mạnh; số lượng người chưa quađào tạo về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị chiếm tỷ lệ khácao; một số chưa thể hiện tốt tinh thần trách nhiệm trong quá trình thực hiệnnhiệm vụ được giao, chưa nắm vững pháp luật” 32,tr.2 Do đó, trong thờigian tới cần thực hiện tốt chính sách cán bộ, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, côngchức nói chung và cán bộ, công chức cấp xã nói riêng để đáp ứng theo yêucầu nhiệm vụ hiện nay Riêng huyện Đắk Glong là một trong những huyệnnghèo nhất cả nước Là huyện miền núi, điều kiện đi lại khó khăn, tỷ lệ ngườidân tộc thiểu số chiếm 60,01% trong tổng số dân nên mặt bằng văn hóa vàtrình độ dân trí thấp, phân bố dân cư và nguồn lực chưa phù hợp với yêu cầuphát triển kinh tế - xã hội Trong thời gian qua, công tác đào tạo, bồi dưỡngđội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Đắk Glong đã góp phầnquan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an
Trang 12ninh, trật tự an toàn xã hội Tuy nhiên, việc thực hiện chính sách đào tạo, bồidưỡng cán bộ, công chức cấp xã vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập cần tiếp tụcnghiên cứu điều chỉnh bổ sung về đối tượng, chương trình, nội dung, chế độchính sách, cơ sở vật chất, giải quyết mối quan hệ giữa đào tạo với sử dụng.Các giải pháp của địa phương đưa ra đã có một số chuyển biến tích cực.Nhưng chưa có hệ thống, khoa học, chưa giải quyết tốt việc thực hiện chínhsách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã đảm bảo mục tiêu nâng caochất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu trong điều kiện mới Do vậy, việcnghiên cứu để phân tích thực trạng, tìm ra các giải pháp thực hiện tốt chínhsách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện ĐắkGlong, tỉnh Đắk Nông là nhiệm vụ cấp thiết trong giai đoạn hiện nay Xuất
phát từ những lý do nêu trên tác giả chọn nội dung “Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông” làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành Chính sách công.
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng cho cán
bộ, đảng viên nói chung và cán bộ cấp xã nói riêng Thực hiện công cuộc đổimới từ Đại hội VI (tháng 12/1986) đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ranhiều chủ trương, chính sách và những quy định về công tác đào tạo, bồidưỡng đối với cán bộ, công chức các cấp Đây là những định hướng quantrọng góp phần nâng cao trình độ lý luận chính trị; kỹ năng quản lý Nhà nước
và nghiệp vụ chuyên môn cho cán bộ, đảng viên Nghị quyết Đại hội đại biểutoàn quốc lần thứ VIII (1996) của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ: Mọicán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo chủ chốt phải có kế hoạchthường xuyên học tập, nâng cao trình độ lý luận chính trị, kiến thức và nănglực học tập thực tiễn
Trang 13Nghị quyết số 32-NQ/TW, ngày 26 tháng 5 năm 2014 của Bộ Chính trịkhẳng định: “Đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ lãnh đạo, quản
lý là nhiệm vụ quan trọng của Đảng Mỗi cán bộ lãnh đạo, quản lý phải thấmnhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về học tập suốt đời, học đi đôi với hành, lý luậngắn với thực tiễn, gắn học tập với rèn luyện phẩm chất đạo đức, tư cách ngườicách mạng” 38,tr.2
Trong những năm gần đây, rất nhiều nhà khoa học thông qua việc xuấtbản sách, các công trình nghiên cứu khoa học đã đưa ra các quan điểm, ý kiếnđánh giá về thực trạng cũng như các giải pháp nhằm nâng cao chất lượngcông tác đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên nói chung và cán bộ cấp xãnói riêng Trong số này đáng chú ý là:
Luận án tiến sĩ của Vũ Công Thương (Năm 2012), “Sự thống nhất giữa
lý luận và thực tiễn trong hoạt động lãnh đạo của cán bộ chủ chốt cấp xã ở các tỉnh miền Đông Nam bộ hiện nay” Luận án đã phân tích vai trò, thực
trạng việc thực hiện sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt độnglãnh đạo của cán bộ chủ chốt cấp xã ở các tỉnh miền Đông Nam bộ Luận áncũng đã đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả việc thựchiện sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt động lãnh đạo của độingũ cán bộ này
Luận án tiến sĩ Chính trị học của tác giả Cầm Thị Lai (2012): “Đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, hành chính cho đội ngũ cán bộ chuyên trách cấp
xã ở các tỉnh Tây Bắc trong giai đoạn hiện nay” Trong công trình này, tác
giả đã phân tích và làm rõ thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luậnchính trị, hành chính cho đội ngũ cán bộ chuyên trách cấp xã ở các tỉnh TâyBắc, đồng thời chỉ ra những ưu điểm và hạn chế trong công tác này Từ đó, đềxuất những giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng lý luận
Trang 14chính trị, hành chính cho đội ngũ cán bộ chuyên trách cấp xã ở các tỉnh TâyBắc đến năm 2020.
Luận văn Thạc sĩ Quản trị lao động của tác giả Hà Thị Nhung (2013):
“Đào tạo cán bộ, công chức cấp xã của huyện Chương Mỹ, thành phố HàNội” Luận văn đã làm rõ các vấn đề liên quan đến đào tại nguồn cán bộ côngchức cấp xã và việc sử dụng đội ngũ này sau đào tạo; đã hệ thống hóa các quyđịnh của pháp luật về đào tạo nguồn cán bộ, công chức cấp xã và các quy định
có liên quan đến cán bộ, công chức cấp xã sau đào tạo; đã đánh giá thực trạngviệc đào tạo nguồn cán bộ, công chức cấp xã và việc sử dụng nguồn cán bộsau đào tạo của huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội và đề xuất một số giảipháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về đào tạo nguồn cán bộ, công chứccấp xã cũng như các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nhân lực sau đàotạo
Luận văn thạc sĩ kinh tế: “Đào tạo, bồi dưỡng công chức trong nền kinh
tế thị trường ở nước ta (qua thực tiễn ở thành phố Hà Nội)” của Tạ QuangNgải Luận văn đã làm rõ một số vấn đề về đào tạo, bồi dưỡng công chứctrong nền kinh tế thị trường ở nước ta; đánh giá thực trạng đào tạo, bồi dưỡngcông chức qua thực tiễn ở thành phố Hà Nội trong 10 năm Luận văn cũng đã
đề xuất mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng, hiệu quảđào tạo, bồi dưỡng công chức trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa (XHCN) ở nước ta
Tác giả Đặng Khắc Ánh với bài “Đào tạo, bồi dưỡng theo vị trí việc làm
- Những khó khăn và kiến nghị”, Tạp chí Quản lý Nhà nước số 2/2012 đã
phân tích rõ sự cần thiết pháp đào tạo, bồi dưỡng gắn với đề án vị trí việc làmcủa cán bộ, công chức Tạp chí đã chỉ ra những tồn tại, hạn chế trong đào tạo,bồi dưỡng cán bộ, công chức ở nước ta trong thời gian qua Hạn chế chủ yếu
là nội dung chương trình đào tạo của các cơ sở giáo dục còn nặng về cung cấp
Trang 15kiến thức và kỹ năng mang tính chung chung chưa gắn với kiến thức và kỹnăng theo từng vị trí việc làm của cán bộ, công chức Do vậy, cần tổ chức đàotạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức theo vị trí việc làm Xuất phát từ các lậpluận trên bài viết đưa ra một số kiến nghị: Khẩn trương tiến hành phân tíchtổng thể và phận loại các vị trí việc làm trong bộ máy công vụ; xây dựng vàhoàn thiện hệ thống bảng mô tả công việc; định kỳ khảo sát nhu cầu đào tạo,bồi dưỡng; thiết kế lại các chương trình đào tạo, bồi dưỡng; đổi mới hoạtđộng đánh giá chất lượng đào tạo, bồi dưỡng; nâng cao chất lượng các cơ sởlàm nhiệm vụ đào tào, bồi dưỡng.
Nhìn chung, các công trình trên đã tập trung nghiên cứu các vấn đề lýluận về: Lý luận về công tác cán bộ nói chung và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,công chức nói riêng Một số công trình cũng tập trung nghiên cứu các khíacạnh khác nhau của giáo dục lý luận chính trị cho cán bộ cấp cơ sở ở ViệtNam hiện nay, thực trạng và những vấn đề đặt ra, từ đó đã đưa ra các giảipháp nhằm đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán
bộ, công chức hiện nay
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu trực tiếp về côngtác đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bànhuyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông Vì vậy, việc chọn nghiên cứu đề tài nàymang ý nghĩa lý luận và thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của
hệ thống chính trị ở huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông
Trang 163 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng quá trình thựchiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã của huyện ĐắkGlong, tỉnh Đắk Nông nhằm chỉ ra những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân.Trên cơ sở đó, đưa ra một số giải pháp góp phần thực hiện hiệu quả chínhsách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện ĐắkGlong, tỉnh Đắk Nông
Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, khái quát cơ sở lý luận về chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, công chức cấp xã
Thứ hai, nghiên cứu thực trạng của việc thực hiện chính sách đào tạo, bồidưỡng cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Đắk Glong, tỉnh ĐắkNông
Thứ ba, đề xuất các giải pháp để góp phần nâng cao hiệu quả việc thựchiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã trên địa bànhuyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn tập trung nghiên cứu về quy trình thực hiện chính sách đào tạobồi dưỡng cán bộ công chức và kết quả thực hiện chính sách đào tạo, bồidưỡng cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Đắk Glong, tỉnh ĐắkNông
Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi về không gian: Nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn huyệnĐắk Glong, tỉnh Đắk Nông
7
Trang 17Phạm vi về thời gian: Nghiên cứu tập trung phân tích, đánh giá thựctrạng chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã trên địa bànhuyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông giai đoạn 2016-2018 và đưa ra các giảipháp thực hiện giai đoạn 2019-2025.
Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu toàn bộ các nội dung thực hiện chínhsách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện ĐắkGlong, tỉnh Đắk Nông (phạm vi cán bộ, công chức cấp xã theo quy định luậtcán bộ, công chức năm 2008)
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý luận: Luận văn thực hiện dựa trên phương pháp luận chủnghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sảnViệt Nam đào tạo, bồi dưỡng và thực hiện chính sách về đào tạo, bồi dưỡngcán bộ, công chức
Về phương pháp nghiên cứu:
Dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, luận văn đượctriển khai bằng các phương pháp cụ thể: phương pháp logic và phương pháplịch sử; Phương pháp quan sát; Phương pháp mô hình hóa; phương pháp phântích - tổng hợp; phương pháp phân tích thống kê và xử lý tài liệu…
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu nghiên cứu,tham khảo vận dụng cho các nhà lãnh đạo, quản lý, các cơ sở đào tạo trên địabàn huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông trong việc xây dựng, ban hành chươngtrình, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu; sinhviên ngành chính sách công hoặc những ai quan tâm vấn đề này
Trang 187 Kết cấu của luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, danh mục bảng biểu, danh mục các chữ viết tắt và các phụ lục, luận văn được chia làm 03chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công
chức cấp xã
Chương 2: Thực trạng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã trên
địa bàn huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức cấp xã trên địa bàn huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông
Trang 19Theo từ điển Tiếng việt do Giáo sư Hoàng Phê chủ biên thì “Chính sách”
là “Sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vàođường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra”
Theo James Anderson “Chính sách là một quá trình hành động có mụcđích theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà
họ quan tâm”
Ngoài ra, có thể kể đến cái khái niệm khác như:
Chính sách là những gì mà chính phủ làm, lý do làm và sự khác biệt nótạo ra (Dye 1972) Chính sách là một hành động mang tính quyền lực nhànước nhằm sử dụng nguồn lực để thúc đẩy một giá trị ưu tiên (Considine1994)
Theo Vũ Cao Đàm: “Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự
ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của
họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một số mục tiêu ưu tiên nào
đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội”.
Tóm lại, có thể có thể khái quát về khái niệm chính sách, như sau: Chínhsách là chương trình hành động do các nhà lãnh đạo hay nhà quản lý đề ra đểgiải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình
Trang 20Khái niệm chính sách công:
Hiện nay, trên thế giới việc tranh luận để đưa ra một khái niệm chungnhưng vẫn chưa thống nhất Đây là chủ đề tranh luận sôi động ở nhiều khíacạnh khác nhau Từ thực tế chính sách của các ngành, các địa phương và mỗiquốc gia, cũng như qua những cuộc thảo luận trên các diễn đàn nghiên cứuchính sách, chúng ta có thể chọn ra một số cách tiếp cận quan trọng nhất đểphân tích trước khi đi đến một khái niệm thống nhất về chính sách công
Từ khái niệm chung về chính sách, nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ranhững khái niệm cụ thể về chính sách công
Một khái niệm đơn giản và dễ nhớ nhất là của Thomas R.Dye (1984):
“Chính sách công là cái mà Chính phủ lựa chọn làm hay không làm”.
Ngoài những khái niệm trên đây, còn rất nhiều khái niệm về chính sáchcông có thể liệt kê như:
“Chính sách công bao gồm các hoạt động thực tế do Chính phủ tiến hành” (Peter AuCoin, 1971).
“Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm các nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt các mục tiêu đó” (William Jenkin,
Trang 21Gần đây, một khái niệm tổng hợp hơn đã được đưa ra bởi Kraft vàFurlong (2004): “Chính sách công là một quá trình hành động hoặc khônghành động của chính quyền để đáp lại một vấn đề công cộng Nó được kếthợp với các cách thức và mục tiêu chính sách đã được chấp thuận một cáchchính thức, cũng như các quy định và thông lệ của các cơ quan chức năngthực hiện những chương trình”.
Khái niệm này chứa đựng những từ khóa chính: Vấn đề, chính quyền và
sự lựa chọn Cụ thể là, khi có một vấn đề kinh tế - xã hội nào đó xuất hiện,chính quyền sẽ lựa chọn nội dung, mục tiêu và cách thức giải quyết một vấn
Chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức:
Là hệ thống các quan điểm, quyết định, quy định lựa chọn của Nhànước nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng, phương pháp thực hiện nhiệm vụtrong hoạt động công vụ của cán bộ, công chức góp phần xây dựng đội ngũcán bộ, công chức chuyên nghiệp, có phần chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chínhtrị và năng lực, đáp ứng yêu cầu phục vụ Nhân dân, sự nghiệp phát triển củađất nước Chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã điều chỉnhcác hoạt động về đối tượng, phạm vi, nội dung, chương trình, hình thức thựchiện; những quyền, lợi ích và nghĩa vụ của đội ngũ cán bộ, công chức phù hợpvới hoàn cảnh khách quan và những mục tiêu của Nhà nước trong mỗi giaiđoạn cách mạng cụ thể
Trang 22Chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là tập hợp củanhiều chính sách đối với cán bộ, công chức, nhằm đạt được những mục tiêutổng thể của Đảng và Nhà nước.
Khái niệm về cán bộ và cán bộ cấp xã:
Nước ta đang trong giai đoạn đẩy nhanh sự nghiệp CNH, HĐH (côngnghiệp hóa, hiện đại hóa) vừa xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa (XHCN) vừa tiến hành xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc Chính vì vậy, cần phải xây dựng đội ngũ cán bộ đảm bảo
có chất lượng đồng bộ, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ mới đặt ra, đặc biệt làcán bộ, công chức cấp xã Cán bộ đó là một thuật ngữ quen thuộc không chỉ ởViệt Nam mà còn ở các nước trên thế giới Riêng ở nước ta, thuật ngữ cán bộđược sử dụng từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (03/02/1930) và được sửdụng phổ biến từ sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, dùng đểchỉ một lớp người là chiến sỹ cách mạng, lớp người mới, sẵn sàng chịu đựnggian khổ, hy sinh, gắn bó với Nhân dân, phục vụ cho sự nghiệp giải phóngdân tộc, giành lại độc lập tự do cho Tổ quốc Tên gọi cán bộ đã để lại dấu ấnđẹp trong lịch sử cách mạng nước ta từ khi có Đảng Cộng sản lãnh đạo đấtnước
Theo từ điển Tiếng Việt - Viện Ngôn ngữ học, Nhà xuất bản Đà Nẵng(năm 2006), “cán bộ được hiểu là người làm công tác nghiệp vụ chuyên môntrong cơ quan Nhà nước, đoàn thể; người làm công tác có chức vụ trong một
cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người không có chức vụ” 44,tr.105.Trong tác phẩm Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũcán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH do Nguyễn Phú Trọng – TrầnXuân Sầm (đồng chủ biên) thì: “Cán bộ là khái niệm chỉ những người có chức
vụ, vai trò và cương vị nòng cốt trong một tổ chức, có tác động, ảnh hưởng
Trang 23đến hoạt động của tổ chức và các quan hệ trong lãnh đạo, chỉ huy, quản lý,điều hành, góp phần định hướng sự phát triển của tổ chức” 39,tr.20.
Tại Điều 4, Luật Cán bộ, công chức được Quốc hội nước cộng hòaXHCN Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13/11/2008, có hiệulực từ ngày 01 tháng 01 năm 2010 quy định: Cán bộ là công dân Việt Namđược bầu cử phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ chức danh theo nhiệm kỳ trongcác cơ quan của Đảng Cộng Sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xãhội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung
là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước Ở nước
ta hiện nay, đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị được chia thành nhiềucấp: cấp Trung ương; cấp tỉnh, thành phố; cấp quận, huyện và cấp xã, phường,thị trấn Cán bộ ở xã, phường, thị trấn được gọi chung là cán bộ cấp cơ sở
Cấp cơ sở là nơi nhân dân cư trú, sinh sống gắn bó chặt chẽ với cácquan hệ kinh tế, văn hóa, xã hội, huyết thống, phong tục tập quán và nhữngsinh hoạt chung khác Cấp cơ sở có vị trí rất quan trọng trong hệ thống chínhtrị ở nước ta, đó là nơi trực tiếp giải quyết các mối quan hệ giữa Nhà nước vớiNhân dân; cụ thể hóa các chỉ thị, Nghị quyết, hướng dẫn của cấp trên Ngườilãnh đạo, chỉ đạo việc thực hiện các nhiệm vụ đó ở cơ sở chính là đội ngũ cán
bộ ở cơ sở hay cán bộ, công chức cấp xã
Đề cập đến cán bộ cấp xã, tại Khoản 3, Điều 4 của Luật Cán bộ, công chứcnăm 2008 quy định rõ: Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấpxã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trongThường trực HĐND, UBND, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổchức chính trị - xã hội
Tại Điều 61 của Luật Cán bộ, công chức và Khoản 3, Điều 1 của Nghịđịnh 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ về chức danh, số
Trang 24lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thịtrấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã thì cán bộ cấp xãgồm có các chức danh sau đây:
- Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy;
- Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND;
- Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND;
- Chủ tịch ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam;
- Bí thư Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;
- Chủ tịch Hội LHPN Việt Nam;
- Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị
trấn có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam)
- Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam Khái niệm về công chức, công chức cấp xã:
Công chức là một khái niệm được sử dụng phổ biến ở nhiều quốc giatrên thế giới để chỉ các công dân được tuyển dụng vào làm việc thường xuyêntrong các cơ quan nhà nước, do ngân sách nhà nước trả lương Nhưng do đặcthù của từng quốc gia nên quan niệm về công chức là không đồng nhất
Ở Pháp thì công chức được coi là những người được tuyển dụng, bổnhiệm vào làm việc trong các công sở gồm các cơ quan hành chính côngquyền và các tổ chức dịch vụ công cộng do nhà nước tổ chức, bao gồm cảTrung ương và địa phương nhưng không kể đến các công chức địa phươngthuộc các hội đồng thuộc địa phương quản lý
Ở Nhật Bản công chức được xác định trong Luật Công chức, theo đóbao gồm toàn bộ những người làm công ăn lương do Ủy ban Nhân sự quốc gia quản lý Công chức ở Nhật Bản bao gồm tất cả những người làm việc
Trang 25trong các cơ quan nhà nước, và các đơn vị sự nghiệp nhà nước như các bệnhviện công, trường học công Tuy nhiên, số bệnh viện công, trường học công
và các đơn vị sự nghiệp khác ở Nhật Bản rất ít do sự phát triển mạnh mẽ củakhu vực tư nhân Ở nước ta, khái niệm công chức được hình thành gắn liềnvới sự phát triển của nền hành chính nhà nước Trải qua các giai đoạn pháttriển của nền hành chính nhà nước thì khái niệm này được hiểu theo nhiềucách khác nhau
Theo pháp lệnh Cán bộ công chức năm 1998, sửa đổi bổ sung năm
2000 và năm 2003 đã có quy định về CBCC nhưng vẫn chưa có sự phân biệtrạch ròi giữa cán bộ và công chức mà sử dụng chung khái niệm CBCC
Ngày 13/11/2008, Quốc hội nước cộng hòa XHCN Việt Nam khóa XII,
kỳ họp thứ 4 thông qua Luật CBCC, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2010.Tại khoản 2 Điều 4 Luật CBCC quy định: “Công chức là công dân Việt Nam,được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan củaĐảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương,cấp tỉnh, cấp huyện: trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà khôngphải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơquan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhânchuyên nghiệp, và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp cônglập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sauđây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương
từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo; quản lý củađơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật [7,tr.1]
Để quy định cụ thể về công chức, ngày 25 tháng 01 năm 2010, Chínhphủ ban hành Nghị định 06/2010/NĐ-CP quy định: “Công chức là công dânViệt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong
Trang 26biên chế, hưởng lương từ ngân sách hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của đơn
vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [34, tr 9]
Khái niệm công chức cấp xã: Theo khoản 3, điều 4 luật cán bộ côngchức năm 2008: “Công chức cấp xã là công dân nước Việt Nam được tuyểndụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã, trongbiên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [7, tr 1 ]
Công chức cấp xã gồm các chức danh sau: (Trưởng Công an; Chỉ huytrưởng quân sự; Văn phòng – thống kê; Địa chính – xây dựng – đô thị và môitrường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính – nông nghiệp – xây dựng vàmôi trường (đối với xã); Tài chính – kế toán; Tư pháp – hộ tịch; Văn hóa – xãhội)
Công chức cấp xã do huyện quản lý Căn cứ vào điều kiện kinh tế - xãhội, quy mô, đặc điểm của địa phương thì Chính phủ sẽ quy định cụ thể sốlượng CBCC cấp xã
Khái niệm về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã:
Công tác đào tạo bồi dưỡng CBCC luôn được Đảng Nhà nước ta coitrọng và xác định trong các Văn kiện Đại hội Đảng: “Đẩy mạnh đào tạo, bồidưỡng CBCC với chương trình, nội dung sát hợp chú trọng đội ngũ cán bộ xã,phường Có chương trình, kế hoạch đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng
thường xuyên cán bộ công chức nhà nước” [18, tr 217-218] Đảng ta coi việcđào tạo CBCC cấp xã là việc làm thường xuyên, cần được chú trọng ưu tiêntrong sự nghiệp đổi mới của đất nước
Từ các Văn kiện Đại hội Đảng, các Chỉ thị, Nghị quyết Trung ương,các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã ban hành những văn bản quy phạmpháp luật về đào tạo CBCC và chỉ đạo, triển khai thực hiện thống nhất trongtoàn quốc Trên cơ sở đó Luật Cán bộ, công chức đã thể chế hóa như sau:
Trang 27CBCC được “Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn,nghiệp vụ” [7, tr.13] Do vậy, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của côngchức, Luật CBCC còn quy định trách nhiệm của cơ quan nhà nước đối vớiviệc đào tạo CBCC: “Cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý công chức có tráchnhiệm xây dựng và công khai quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng để tạonguồn và nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của công chức.
Cơ quan, tổ chức, đơn vị sử dụng công chức có trách nhiệm tạo điều kiện đểcông chức tham gia đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực, trình độ chuyênmôn, nghiệp vụ” [7,tr.30]
Theo Đại từ điển Tiếng Việt của Nhà xuất bản Văn hóa – thông tin năm1999: Đào tạo là dạy dỗ, rèn luyện để trở nên người có hiểu biết, có nghềnghiệp, đào tạo thành người có tri thức, đào tạo chuyên môn nghiệp vụ Từđiển Tiếng Việt do Viện Ngôn ngữ học chủ biên thì cho rằng, đào tạo là làmcho trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định
Tại Điều 5, Nghị định số 18/2010/NĐ-CP, ngày 05/3/2010 của Chínhphủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức định nghĩa: Đào tạo là quá trình truyềnthụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấphọc, bậc học Từ các cách tiếp cận trên, có thể hiểu: đào tạo là quá trình tácđộng đến con người làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững tri thức, kỹ năng,
kỹ xảo một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộcsống và khả năng nhận một sự phân công lao động nhất định, góp phần củamình vào việc phát triển xã hội, duy trì và khai hóa nền văn minh nhân loại.Đào tạo cán bộ, công chức là nội dung rất quan trọng trong công tác quản lýphát triển nguồn nhân lực của đất nước nói chung và cho các cơ quan, đơn vịnói riêng nhằm mục tiêu xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ thành thạo vềchuyên môn, vững về nghiệp vụ, trung thành với Nhà nước, tận tụy với côngviệc, phục vụ Nhân dân Quá trình đào tạo bao giờ cũng phải tiến hành trên cơ
Trang 28sở xác định nhu cầu đào tạo của từng cơ quan đơn vị, theo đề án vị trí việclàm đã xác định, đồng thời phải dựa trên sự phân tích về năng lực thực hiệncông việc của đội ngũ cán bộ, công chức qua thực tiễn công tác.
Tóm lại, có thể khái quát về khái niệm đào tạo CBCC là quá trìnhtruyền thụ kiến thức, kỹ năng về chuyên môn, nghiệp vụ dưới các hình thứckhác nhau cho CBCC phù hợp với yêu cầu giải quyết có chất lượng công việcđược nhà nước giao, do các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức thựchiện
Theo Nghị định 18/2010/NĐ-CP đưa ra khái niệm: “Bồi dưỡng là hoạtđộng trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc” [38, tr.2] Theo
Từ điển Tiếng Việt do GS Hoàng Phê chủ biên (Nxb, Đà Nẵng Trung tâm từđiển Hà Nội – Đà Nẵng, 1998), Bồi dưỡng - đó là “làm cho người học tăngthêm súc của co thể bằng chất bổ và tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất” [44,tr.79] Như vậy, bồi dưỡng là quá trình gia tăng, bổ sung, cập nhật thêmnhững kiến thức mới, kinh nghiệm thực tiễn, phẩm chất nghề nghiệp nhằmgiúp người học hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ được giao
Từ các quan hệ nêu trên, chúng ta có thể hiểu khái quát: Đào tạo, bồidưỡng CBCC là quá trình tổ chức học tập cho đội ngũ CBCC nhằm trang bị,cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng, thái độ làm việc giúp học thực hiện tốthơn nhiệm vụ được giao Hoạt động đào tạo CBCC được thực hiện ở một số
cơ sở của Đảng, nhà nước như: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh,Học viện hành chính, trường cán bộ, trường chính trị của các tỉnh, các trungtâm bồi dưỡng chính trị huyện, các trung tâm đào tạo khác
Hiện nay chất lượng CBCC cấp xã còn nhiều yếu kém; cần phải chútrọng trong công tác đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn,nghiệp vụ và lý luận chính trị để đáp ứng với yêu cầu công việc Nội dung củađào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp xã gồm: đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính
Trang 29trị; về quản lý nhà nước; kiến thức pháp luật, chuyên môn nghiệp vụ, kỹ nănglàm việc; ngoại ngữ, tin học và các kiến thức bổ trợ khác Công tác đào tạo,bồi dưỡng CBCC cấp xã hiện nay được triển khai theo kế hoạch, dưới sự chỉđạo thống nhất của cơ quan quản lý ở Trung ương và địa phương Kinh phíđào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp xã được trích từ nguồn ngân sách nhà nước vàcác nguồn khác theo các đề án, kế hoạch từ Trung ương ương đến địa phương.Ngoài những quy định của chung về đào tạo, bồi dưỡng CBCC của các cơquan, đơn vị, CBCC cấp xã còn tự tham gia đào tạo, bồi dưỡng theo nhu cầu
tế - chính trị - xã hội, thể hiện lợi ích và thái độ của giai cấp công nhân vànhân dân lao động đối với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, làcông cụ quan trọng cho việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, bao gồm những nguyên tắc;chuẩn mực, định hướng giá trị xã hội thừa nhận, có tác dụng chi phối, điềuchỉnh hành vi của con người và toàn xã hội
Phẩm chất chính trị, đạo đức của mỗi con người chính là sự kết hợp hàihòa biện chứng giữa đạo đức cách mạng và bản lĩnh chính trị Trong giai đoạnhiện nay, phẩm chất chính trị của CBCC cấp xã đó là sự hiểu biết sâu sắc Chủnghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu lý tưởng củaĐảng Cộng Sản Việt Nam; độc lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội làmcho dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, không hoang
Trang 30mang giao động về chính trị, tư tưởng, có niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng,
sự nghiệp đổi mới đất nước, có bản lĩnh chính trị vững vàng, luôn nêu caotinh thần cảnh giác trước những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địchnhằm lợi dụng các vấn đề về nhân quyền, dân tộc, tôn giáo để chia rẽ khối đạiđoàn kết toàn dân tộc Đặc biệt là âm mưu “diễn biến hòa bình”; “tự diễnbiến”; “tự chuyển hóa” trong nội bộ chủ yếu là ở vùng sâu, vùng xa, vùngđồng bào dân tộc thiểu số Nếu không có tầm nhìn xa, trông rộng, chỉ thấy lợitrước mắt, cục bộ địa phương mà quên đi lợi ích dân tộc, lợi ích giai cấp, lợiích của nhân dân thì đó là nguy cơ đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổquốc XHCN Thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam trong đấu tranh giànhchính quyền và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc cho thấy, khi nào Đảng thể hiệnđược bản lĩnh chính trị vững vàng, toàn dân đoàn kết muôn người như một thìcách mạng phát triển thuận lợi, giành được những thắng lợi to lớn Để thựchiện sứ mệnh thiêng liêng của mình Đảng ta luôn nêu cao năng lực lãnh đạo
và sức chiến đấu của Đảng cụ thể tập trung quyết liệt vào đổi mới, chỉnh đốnĐảng, kiên trì, kiên quyết loại bỏ những cán bộ, Đảng viên không đủ năng lựcphẩm chất, thoái hóa, biến chất ra khỏi hàng ngũ của Đảng
Đạo đức cách mạng là cái gốc của mỗi CBCC nói chung trong đó cóCBCC cấp xã nói riêng Đó là lòng trung thành với Đảng, với Tổ quốc, vớinhân dân, luôn kiên định sự nghiệp cách mạng của Đảng, xây dựng chủ nghĩa
xã hội và bảo vệ thành công Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Cụ thể hơn
là tinh thần trách nhiệm, tận tụy với công việc, thực hiện tốt đạo đức công vụ.Đẩy mạnh phong trào học tập theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ ChíMinh về chuyên đề “Xây dựng ý thức tôn trọng nhân dân, phát huy dân chủ,chăm lo đời sống nhân dân” gắn với nhiệm vụ chuyên môn của mình Lấythước đo chỉ số hài lòng của người dân và doanh nghiệp là một trong nhữngtiêu chí quan trọng đối với đạo đức công vụ của CBCC cấp xã
Trang 31Về năng lực chuyên môn:
Năng lực chuyên môn là một trong hai yếu tố cấu thành tiêu chuẩn conngười cán bộ Trong điều kiện phát triển của khoa học công nghệ yêu cầuchuyên môn, nghiệp vụ ngày càng cao mới đáp ứng được yêu cầu vị trí côngtác Năng lực chuyên môn nghiệp vụ được xác định ở một số tiêu chí cụ thểnhư sau:
Trình độ văn hóa và chuyên môn nghiệp vụ: Được đánh giá thông quachỉ tiêu bậc học, ngành nghề đào tạo, hình thức đào tạo, ngạch, bậc công chức
có phù hợp với yêu cầu trong đề án vị trí việc làm hay không
Kinh nghiệm làm việc: Là thời gian công tác ở vị trí đảm nhiệm; khảnăng tích lũy kinh nghiệm trong quá trình thực thi công vụ
Khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao: được đánh giá thông quamức độ hoàn thành công việc được giao Chỉ số này thường được đánh giáxếp loại theo hàng tháng và cuối năm; đồng thời qua các kênh thông tin củacán bộ, Đảng viên; quần chúng nhân dân và doanh nghiệp khi trực tiếp làmviệc với CBCC
Trong thời kỳ đổi mới, đất nước đang hội nhập quốc tế sâu rộng trêncác lĩnh vực, do vậy yêu cầu CBCC cấp xã là những người được đào tạo, bồidưỡng thường xuyên để có trình độ chuyên môn phù hợp với những quy định
về vị trí việc làm Có khả năng thích ứng nhanh những chủ trương của Đảng,pháp luật Nhà nước; tiếp cận và vận động tốt kiến thức khoa học, công nghệtiên tiến, kiến thức về kinh tế thị trường, kiến thức về pháp luật, kiến thức vềquản lý Nhà Nước, ngoại ngữ và tin học…để nắm bắt kịp thời những yêu cầu,những biến động của thực tiễn ở cơ sở đáp ứng tốt nhiệm vụ công tác củamình đặc biệt về thực hiện tốt cải cách thủ tục hành chính ở cấp xã, phường,thị trấn
Về năng lực tổ chức:
Trang 32Năng lực tổ chức là khả năng của cá nhân trong phối kết hợp các yếu tốcần thiết, biết điều phối tổ chức làm việc trong mối quan hệ giữa con ngườivới con người, giữa chủ thể các cá nhân với tự nhiên, xã hội để dự toán, lập kếhoạch, phối hợp và giải quyết các công việc một cách hiệu quả, đạt được mụctiêu của tổ chức đề ra CBCC cấp xã phải là người có trình độ tổ chức thựchiện tốt nhiệm vụ được giao, có tư duy nhạy bén, sáng tạo, có phương pháplàm việc dân chủ khoa học, có tính quyết đoán, dám nghĩ, dám làm; có khảnăng hoạch định các chương trình, kế hoạch hành động cho cấp ủy, chínhquyền ban hành và giao nhiệm vụ.
1.2 Nội dung đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã
1.2.1 Xác định nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng
Xác định nhu cầu đào tạo là cơ sở để hoạch định, xây dựng kế hoạchđào tạo, bồi dưỡng phù hợp với điều kiện thực tiễn địa phương Nhu cầu đàotạo là khả năng thiếu hụt của CBCC trong thực hiện công việc so với yêu cầunhiệm vụ của tổ chức Việc xác định nhu cầu đào tạo là xác định khi nào? ở
bộ phận nào? cần phải đào tạo, đào tạo kỹ năng nào, cho loại lao động nào vàbao nhiêu người Nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp xã được xác địnhdựa trên cơ sở phân tích hai yếu tố cơ bản Thực trạng chất lượng CBCC cấp
xã và yêu cầu tiêu chuẩn đối với CBCC cấp xã so với những quy định hiệnnay Cụ thể cần đáp ứng về các nội dung sau:
Đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị:
Về bản chất, lý luận chính trị phản ánh tính quy luật của các cơ quankinh tế - chính trị - văn hóa – xã hội, thể hiện lợi ích và thái độ của giai cấpđối với quyền lực Nhà nước Về mục đích, lý luận chính trị nhằm trang bị thếgiới quan và thúc đẩy hành vi thực hiện mục tiêu, lý tưởng chính trị của giaicấp
Trang 33Đối với CBCC cấp xã đào tạo lý luận chính trị trang bị cho mỗi cán bộĐảng viên có lập trường kiên định trung thành và kiên định chủ nghĩa Mác –Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh Nắm vững mối quan hệ giữa kiên định và pháttriển, tức là phát triển trên cơ sở kiên định nguyên tắc cách mạng và khoa họccủa chủ nghĩa Mác Lê nin, tư tưởng Hồ Chí minh và phù hợp với thực tiễncách mạng Việt Nam, với xu thế thời đại Đồng thời phải bảo vệ và phát triểnchủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phải kiên quyết đấu tranh vớinhững quan điểm, tư tưởng, sai trái, thù địch.
Nội dung đào tạo bồi dưỡng lý luận chính trị bao gồm:
Trang bị các kiến thức về lý luận chính trị theo phân phối chương trìnhcủa các trường, học viên đã xây dựng: theo tiêu chuẩn quy định cho các chứcdanh cán bộ, ngạch công chức và chức danh lãnh đạo quản lý Tổ chức phổbiến các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị của Đảng; bồi dưỡng cập nhật, nâng caotrình độ lý luận theo quy định của Ban tuyên giáo Trung ương và các cơ quan
có thẩm quyền
Đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về quản lý Nhà nước:
Đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về quản lý Nhà nước (QLNN) trong nềnkinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta là xây dựng đội ngũ CBCCvững mạnh, tăng cường khả năng thích ứng trước những yêu cầu của nhiệm
vụ mới, trang bị kiến thức, kỹ năng cơ bản về kinh tế thị trường và vai trò củaNhà nước trong cơ chế mới Nội dung đào tạo bồi dưỡng kiến thức, kỹ năngQLNN bao gồm: Trang bị kiến thức, kỹ năng QLNN theo chương trình quyđịnh cho công chức các ngạch và theo chức vụ lãnh đạo, quản lý Bồi dưỡngkiến thức, kỹ năng QLNN chuyên ngành và tương ứng với các vị trí làm việctheo chế độ bồi dưỡng bắt buộc tối thiểu hàng năm như chương trình bồidưỡng kỹ năng nghiệp vụ cho công chức địa chính – xây dựng; công chức kếtoán… theo đề án 124 của Bộ Nội Vụ và các chương trình đào tạo, bồi dưỡng
Trang 34khác Bồi dưỡng văn hóa công sở, tức các quy định văn hóa ứng xử củaCBCC trong thực thi nhiệm vụ, đặc biệt là Quyết định của Thủ tướng Chínhphủ về phê duyệt đề án văn hóa công vụ.
Chương trình đào tạo, bồi dưỡng gồm: Bồi dưỡng cập nhật kiến thứcmới; bồi dưỡng các kiến thức và kỹ năng cho cán sự, chuyên viên, chuyênviên chính, chuyên viên cấp cao; đào tạo trung cấp, đại học, sau đại học…
Đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, chuyên môn nghiệp vụ, kỹnăng làm việc:
Nội dung này cập nhật kiến thức về pháp luật, chuyên môn nghiệp vụ,nâng cao trình độ và năng lực thực thi công việc cho đội ngũ CBCC; xâydựng đội ngũ CBCC có năng lực hoạch định, triển khai và tổ chức thực hiệncác chính sách quả lý các chương trình, dự án có hiệu quả, đáp ứng các mụctiêu phát triển Gồm có các chương trình bồi dưỡng chính sách pháp luậtchung, bồi dưỡng kiến thức về pháp luật chuyên ngành; các chương trình bồidưỡng cập nhật, kỹ năng hoạt động, sơ cấp, trung cấp, đại học, sau đại họcthuộc các lĩnh vực chuyên môn; các chương trình đào tạo, bồi dưỡng theochức danh công chức, ngạch công chức
Đào tạo, bồi dưỡng về ngoại ngữ, tin học, kiến thức về hội nhập kinh tếquốc tế và các kiến thức bổ trợ khác: Trong xu thế toàn cầu hóa với sự pháttriển mạnh mẽ của cuộc cách mạng 4.0 đã lan tỏa rộng khắp các nước trên thếgiới Do vậy mỗi CBCC cần bồi dưỡng các kiến thức kỹ năng tin học trong xử
lý công việc và tính thích ứng môi trường quốc tế để tăng cường khả nănggiao dịch, nghiên cứu tài liệu, ứng dụng công nghệ hiện đại, nâng cao năngsuất và năng lực làm việc của CBCC xây dựng vận hành hệ thống chính trịhoạt động đồng bộ
Trang 351.2.2 Xác định mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng
Xác định mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng là việc xác định các kết quả cầnđạt được của chương trình đào tạo Các mục tiêu phải được nêu một cách rõràng và chính xác Kết quả mong đợi sau khi hoàn thành các chương trình cả
về phương diện kiến thức, kỹ năng, thái độ có sự chuyển biến tích cực Mụctiêu đào tạo, bồi dưỡng của CBCC cấp xã đó là góp phần xây dựng đội ngũCBCC cấp xã chuyên nghiệp, vững vàng về chính trị, tinh thông nghiệp vụ có
đủ năng lực xây dựng hệ thống chính trị, nhà nước pháp quyền XHCN tiêntiến, hiện đại đáp ứng tốt xu thế hội nhập quốc tế
1.2.3 Lựa chọn đối tượng đào tạo, bồi dưỡng
Trên cơ sở điều tra, khảo sát, tổng hợp để xác định các nhóm đối tượngcần được đào tạo, bồi dưỡng bao gồm số lượng, độ tuổi, dân tộc các ngànhcần đào tạo Việc xác định đối tượng đào tạo có ảnh hưởng rất lớn đến kết quảcủa chương trình đào tạo nếu xác định đối tượng, số lượng không đúng sẽgây ảnh hưởng xấu đến kết quả đào tạo, mục tiêu của chương trình đào tạo,bồi dưỡng có thể không đạt được Dẫn đến sự mất cân đối giữa kế hoạch vànhu cầu thực tế, giữa đào tạo và sử dụng, thiếu cân đối về cơ cấu dẫn đến khókhăn cho các nhà tổ chức làm nhiệm vụ bố trí, sắp xếp đội ngũ CBCC
Việc xác định đối tượng đào tạo phải được dựa trên nghiên cứu và xácđịnh nhu cầu của CBCC cấp xã Hiện nay, CBCC cấp xã trước khi được bầu
bổ nhiệm vào ngạch hoặc chức danh nào đó, họ đã được đào tạo ở một trình
độ nhất định Vì vậy cần nắm chắc trình độ lý luận chính trị, chuyên mônnghiệp vụ đã được đào tạo để lựa chọn đối tượng cử đi đào tạo, bồi dưỡng chophù hợp
1.2.4 Xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng
Sau khi xác định được nhu cầu đào tạo, đối tượng đào tạo, các cơ quanchuyên môn và cơ sở giáo dục cần xây dựng chương trình đào tạo phù hợp
Trang 36cho CBCC cấp xã nhằm bổ sung kiến thức, nâng cao trình độ, tránh trùng lặpkhông hiệu quả Xây dựng chương trình đào tạo là việc xác định một cách hệthống các môn học, các chuyên môn nào cần được đào tạo; các kỹ năng, kiếnthức nào cần được dạy, cùng với đó là xác định thời gian, địa điểm đào tạo.Nội dung chương trình đào tạo và hệ thống giáo trình, bài giảng được xácđịnh và xây dựng trên cơ sở yêu cầu tiêu chuẩn chức danh và ngạch CBCCcấp xã Các yêu cầu tiêu chuẩn hiện nay có thể phân thành 4 loại và cùng với
4 loại yêu cầu này là 4 hệ thống chương trình đào tạo, bồi dưỡng.(Chươngtrình đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị; chương trình đào tạo, bồi dưỡng kiếnthức và kỹ năng chuyên môn; chương trình đào tạo, bồi dưỡng kiến thức QLNN;chương trình đào tạo, bồi dưỡng kiến thức bổ trợ)
1.2.5 Lựa chọn phương pháp đào tạo, bồi dưỡng
Lựa chọn phương pháp đào tạo, bồi dưỡng là một trong những khâu rấtquan trọng để phù hợp với điều kiện của CBCC cấp xã bởi các đối tượng này
là những người thường xuyên giải quyết trực tiếp với người dân Nếu tất cảcác lớp xác định phương pháp không phù hợp sẽ ảnh hưởng đến việc giảiquyết công việc tại cơ sở Phương pháp đào tạo CBCC cấp xã chính là cáchình thức đào tạo Hình thức đào tạo là cách tổ chức một khóa học Mỗi hìnhthức đào tạo, bồi dưỡng đều có những ưu và nhược điểm nhất định Việc lựachọn hình thức tổ chức cụ thể nào dành cho từng khóa học không phụ thuộcvào ý muốn chủ quan của người tổ chức lớp học mà phải xem xét các yếu tốliên quan đến khóa học Tự đào tạo để nâng cao trình độ, kinh nghiệm và nănglực thực thi công vụ Tự đào tạo, bồi dưỡng có vai trò rất quan trọng trongsuốt quá trình hoạt động của mỗi CBCC; là quá trình CBCC tự nghiên cứu,tìm tòi, học hỏi, đúc rút kinh nghiệm qua thực tế công việc để nhận thức, nângcao trình độ và năng lực thực thi công việc của mình Đây là hình thức đàotạo, bồi dưỡng quan trọng hiện nay trong thời đại công nghệ thông tin,
Trang 37trong suốt quá trình tham gia công tác của mỗi CBCC cấp xã Thông thườngcác khóa đào tạo bồi dưỡng CBCC cấp xã được tổ chức dưới các hình thứcsau:
- Đào tạo bồi dưỡng theo hình thức tập trung hoặc bán tập trung
- Đào tạo bồi dưỡng dài hạn
- Các khóa bòi dưỡng ngắn hạn
1.2.6 Đánh giá hiệu quả chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã.
Một chính sách có bền vững, mang lại hiệu quả hay không thì việc đánhgiá chính sách là khâu cuối cùng của công tác đào tạo, bồi dưỡng Kết quảđánh giá cho chúng ta biết mục tiêu đào tạo đã đạt được ở mức độ nào để cónhững điều chỉnh, bổ sung cần thiết, phù hợp với từng đối tượng Đối với đàotạo, đánh giá được như là quá trình thu thập và xử lý thông tin về quá trìnhđào tạo, bồi dưỡng, nhằm xác định mức độ đạt được các mục tiêu, giúp cácnhà quản lý, lãnh đạo các chuyên gia nghiên cứu, biên soạn đưa ra các quyếtđịnh phù hợp cho công tác đào tạo CBCC cấp xã Về bản chất, đánh giá chínhsách đào tạo, bồi dưỡng là việc so sánh những kết quả đạt được sau học tậpvới mục tiêu đề ra từ trước Với ý nghĩa phát triển, đánh giá được xem như làviệc kiểm tra, xem xét độc lập và có hệ thống của một chương trình dự án đểxác định kết quả, hiệu quả của khóa đào tạo, bồi dưỡng Đánh giá kết quả củachương trình đào tạo là việc đánh giá những kiến thức thu được của CBCCcấp xã và khả năng ứng dụng kiến thức đã được học vào thực tiễn công tác.Kết quả của chương trình đào tạo bao gồm: Kết quả nhận thức, mức độ hàilòng của CBCC cấp xã đối với chương trình đào tạo, khả năng vận dụngnhững kiến thức và kỹ năng lĩnh hội được từ chương trình đào tạo vào quátrình công tác tại địa phương, đơn vị
Trang 381.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán
Thực hiện các quan điểm của Đảng trong giai đoạn 1996 – 2001, Thủtướng Chính phủ đã ban hành hai quyết định về công tác đào tạo, bồi dưỡngCBCC trong đó có kế hoạch đào tạo CBCC cấp xã Cụ thể: Quyết định số874/QĐ-TTg ngày 20/11/1996 về công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCC, Quyếtđịnh số 74/2001/QĐTTg ngày 05/07/2001 phê duyệt kế hoạch đào tạo, bồidưỡng CBCC giai đoạn 2001-2005 Trong chương trình tổng thể cải cáchhành chính Nhà nước giai đoạn 2001-2010 (được ban hành kèm theo Quyếtđịnh số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/9/2001 của Thủ tướng Chính phủ) đã xácđịnh: Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC là một trong bảy chươngtrình hành động có ý nghĩa quan trọng góp phần xây dựng một nền hành chínhdân chủ, trong sạch, vũng mạnh, chuyên nghiệp, từng bước hiện đại, hoạtđộng có hiệu lực, hiệu quả
Trang 39Giai đoạn 2006-2010, nhằm phát huy các kết quả đạt được, chuyểnhướng mạnh vào mục tiêu phát triển nguồn nhân lực Thủ Tướng Chính Phủban hành quyết định số 40/2006/QĐ-TTg ngày 15/02/2006 về việc phê duyệt
kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng CBCC giai đoạn 2006-2010 Thủ Tướng yêucầu: “Thực hiện đào tạo, bồi dưỡng trước khi bổ nhiệm và đào tạo, bồi dưỡngcho cán bộ lãnh đạo quản lý đương chức đảm bảo đến 2010, 100% công chứclãnh đạo cấp vụ, cấp sở, cấp huyện được trang bị kỹ năng lãnh đạo, quản lý và
kỹ năng phối hợp xử lý các vấn đề có tính chất liên ngành” Tiếp theo để phùhợp với yêu cầu nhiệm vụ mới trong phát triển đất nước và hội nhập quốc tếsâu rộng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1374/QĐ-TTg ngày12/08/2011 về việc phê duyệt kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng CBCC nói chung,trong đó có quy định kế hoạch đào tạo CBCC cấp xã giai đoạn 2011 – 2015
Tại điều 2, điều 3 Nghị định 18/2010/NĐ-CP ngày 05/03/2010 có quyđịnh “đào tạo, bồi dưỡng phải căn cứ vào vị trí việc làm, tiêu chuẩn của ngạchcông chức, tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý và nhu cầu xây dựng, pháttriển nguồn nhân lực cơ quan, đơn vị” [ 35,tr.1]
Gần đây nhất, Chính phủ đã ban hành Nghị định 101/2017/NĐ/CP, ngày01/09/2017 về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức để quy định.Trên cơ sở đó Bộ Nội Vụ ban hành Thông tư 01/2018/TT-BNV hướng dẫnmột số điều của Nghị định 101/2017/NĐ-CP về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,công chức, viên chức Thông tư quy định rõ về thực hiện bồi dưỡng kiến thức,
kỹ năng chuyên ngành là bắt buộc hàng năm Các chính sách về hoạt độngđào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp xã trong thời gian qua đã thể hiện sự đúng đắn
và hợp lý Vì thế đã có những tác động tích cực đối với hiệu qủa làm việc củaCBCC cấp xã góp phần xây dựng hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN ởnước ta
Những nguồn nhân lực đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã:
Trang 40Tổng thể những nguồn lực để đào tạo, bôi dưỡng cho CBCC cấp xã baogồm: các thể chế, chính sách của Đảng và Nhà nước; kinh phí; các điều kiện
về cơ sở vật chất
Về chế độ, chính sách đào tạo CBCC cấp xã là những quan điểm, cácnguyên tắc và các quy định thể hiện trong các văn bản của Đảng, Nhà nước đểđiều chỉnh các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng CBCC bao gồm: phạm vi, đốitượng nội dung chương trình: quyền lợi và nghĩa vụ của CBCC khi tham giađào tạo, bồi dưỡng, phù hợp với hoàn cảnh khách quan và những mục tiêuchung của Đảng, Nhà nước trong mỗi giai đoạn cụ thể Chính sách của Đảng
và Nhà nước, là nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới hoạt động đào tạo, bồidưỡng CBCC Các chính sách ưu tiên, động viên, khuyến khích sẽ thúc đẩycác hoạt động đào tạo, bồi dưỡng tạo điều kiện cho CBCC cấp xã tích cựctham gia học tập để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và năng lựccông tác đáp ứng với các quy định của nhà nước, đồng thời phục vụ tốt cho vịtrí công tác của mỗi CBCC Trong Luật CBCC đã quy định: CBCC phảithường xuvên rèn luyện phẩm chất đạo đức, học tập nâng cao trình độ và nănglực công tác để thực hiện tốt nhiệm vụ, công vụ được giao Chính sách củaĐảng và pháp luật của Nhà nước về đào tạo CBCC còn quy định về việc phảitham gia các chương trình bồi dưỡng định kỳ hàng năm, Do đó bắt buộc các
cơ quan, các địa phương phải tổ chức đào tạo, bồi dưỡng và CBCC phải thamgia
Nguồn ngân sách dành cho đào tạo, bồi dưỡng đối với ngân sách Nhànước cấp: Nguồn ngân sách cấp trước đây thực hiện theo Thông tư79/2005/TT-BTC của Bộ Tài chính Từ năm 2009, việc quản lý và sử dụngkinh phí đào tạo bồi dưỡng được thực hiện theo Thông tư 51/2008/TT- BTCtheo đó Việc cấp ngân sách không tính theo định suất mà cấp theo khối lượng,
kế hoạch đào tạo bồi dưỡng Hiện nay chúng ta đang áp dụng theo Thông tư