1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN văn THẠC sĩ) quản lý nhà nước đối với viên chức y tế từ thực tiễn trường đại học y khoa phạm ngọc thạch, thành phố hồ chí minh

100 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản Lý Nhà Nước Đối Với Viên Chức Y Tế Từ Thực Tiễn Trường Đại Học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch
Tác giả Ngô Thị Ngọc Thu
Người hướng dẫn PGS.TS Đỗ Minh Khôi
Trường học Học viện Khoa học xã hội
Chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 1,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dù vậy, với thực trạng trong một thời gian dài, cơ chế quản lý đội ngũ viên chức y tế được thực hiện giống như đối với cán bộ, công chức, chưa tính đến những đặc điểm và tính chất ho

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGÔ THỊ NGỌC THU

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI VIÊN CHỨC Y TẾ

TỪ THỰC TIỄN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y KHOA

PHẠM NGỌC THẠCH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

HÀ NỘI, NĂM 2020

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGÔ THỊ NGỌC THU

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI VIÊN CHỨC Y TẾ

TỪ THỰC TIỄN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y KHOA

Trang 3

LỜI CÁM ƠN

Tôi xin chân thành cám ơn lãnh đạo Học viện Khoa học xã hội, lãnh đạo Trường Đại hoc Y khoa Phạm Ngọc Thạch đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa học Thạc sĩ Luật Hiến pháp – Luật Hành chính

Tôi xin chân thành cám ơn Thầy PGS.TS Đỗ Minh Khôi, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn, Thầy đã trang bị cho tôi những kiến thức về Luật học để làm cơ sở thực hiện thành công Luận văn này

Xin chân thành cám ơn Ban Giám hiệu, Phòng Tổ chức Cán bộ Trường Đại hoc Y khoa Phạm Ngọc Thạch đã giúp tôi trong quá trình khảo sát, thu thập số liệu

và phân tích thực trạng về đội ngũ viên chức y tế tại Trường Đại hoc Y khoa Phạm Ngọc Thạch để tôi hoàn thành Luận văn

Tác giả luận văn

Ngô Thị Ngọc Thu

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Ngô Thị Ngọc Thu

Trang 5

MỤC LỤC LỜI CÁM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA QUẢN LÝ

NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI VIÊN CHỨC Y TẾ 7

1.1 Khái niệm, đặc điểm quản lý nhà nước đối với viên chức y tế 7

1.2 Mục đích, nguyên tắc, hình thức và công cụ quản lý nhà nước đối với viên chức y tế 12

1.3 Chủ thể và đối tượng quản lý nhà nước đối với viên chức y tế 16

1.4 Nội dung quản lý nhà nước đối với viên chức y tế của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh 17 1.5 Các yếu tố tác động đến quản lý nhà nước đối với viên chức y tế 24

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI VIÊN CHỨC Y TẾ TỪ THỰC TIỄN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y KHOA PHẠM NGỌC THẠCH 30

2.1 Tổng quan về đội ngũ viên chức Y tế tại Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch 30

2.2 Thực trạng quản lý nhà nước đối với viên chức y tế ở Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch 34

2.3 Kết quả đạt được và nguyên nhân 52

2.4 Hạn chế và nguyên nhân 54

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI VIÊN CHỨC Y TẾ TỪ THỰC TIỄN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y KHOA PHẠM NGỌC THẠCH 59

3.1 Phương hướng hoàn thiện quản lý nhà nước đối với viên chức y tế tại Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch 59

3.2 Các giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với viên chức y tế tại Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch 64

KẾT LUẬN 78

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

Bảng 2.6 Kết quả khảo sát công tác tuyển dụng viên chức y tế tại Trường Đại học

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sự nghiệp giáo dục đào tạo và sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân ở nước ta luôn được sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước (NN), trong đó con người là nhân tố quyết định cho sự thành công của mọi hoạt động, đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục và y tế Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XII nhấn mạnh

“ Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo; phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao” là một trong ba đột phá chiến lược và khẳng định trọng tâm “Phát huy nhân tố con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; tập trung xây dựng con người về đạo đức, nhân cách, lối sống, trí tuệ, năng lực làm việc; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh” Đồng thời tại Nghị quyết số 20 –NQ/TW ngày 25/10/2017 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới đã xác định “Nghề y là một nghề đặc biệt Nhân lực

y tế phải đáp ứng yêu cầu chuyên môn và y đức; cần được tuyển chọn, đào tạo, sử dụng

và đãi ngộ đặc biệt…”

Với sứ mệnh vừa chăm sóc, bảo vệ sức khỏe con người và trồng người, ngành y tế, giáo dục đang từng ngày khẳng định tầm quan trọng đối với sự tồn tại, phát triển của đất nước, trong đó không thể không nói đến vai trò của các viên chức

y tế trong các trường Đại học Y Họ là người thầy của những người “thầy”, vừa tham gia vào sự nghiệp “trồng người” lại vừa tích cực cống hiến trong công tác cứu người Người thầy thuốc - thầy giáo gánh trên vai trách nhiệm lớn lao nhưng cũng đầy nhân văn Để hoàn thành nhiệm vụ của mình, các trường đại học y cần có đội ngũ viên chức có đủ phẩm chất và năng lực cần thiết

Thời gian qua Đảng và Nhà nước ta đã nhận thấy tầm quan trọng của viên chức y tế và tạo điều kiện cho việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quản lý viên chức y tế Ngoài ra công tác quản lý và nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức y tế đang là đòi hỏi của xã hội trong giai đoạn hiện nay Hiện nay thực tiễn cho thấy hệ thống thể chế quản lý viên chức vẫn chưa đầy

Trang 10

đủ, chưa tạo cơ sở pháp lý hoàn chỉnh cho viên chức y tế thực thi nghiệp vụ Cơ cấu, chất lượng của đội ngũ viên chức y tế vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội Do đó một trong các nguyên nhân sâu xa dẫn đến những hạn chế trên là do công tác quản lý viên chức còn nhiều bất cập, hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước trong thời kỳ mới

Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch là đơn vị sự nghiệp công lập (ĐVSNCL) giáo dục đại học thuộc Thành phố Hồ Chí Minh Việc tìm hiểu thực trạng viên chức của Trường đã và đang được lãnh đạo nhà trường quan tâm Trong thời gian qua, Trường đã xây dựng đội ngũ viên chức có kiến thức chuyên môn sâu,

kỹ năng làm việc thành thạo, hiệu quả, gắn với từng vị trí việc làm (VTVL), tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp của viên chức Nghiên cứu, ban hành nhiều cơ chế chính sách phù hợp, đảm bảo tuyển dụng viên chức phải trên cơ sở tự do cạnh tranh;

có cơ chế phát huy động lực làm việc, tạo môi trường làm việc, khuyến khích sự sáng tạo, cống hiến Nhờ đó phần lớn viên chức đã nhận thức rõ hơn về trách nhiệm của mình, không ngừng phấn đấu học tập, lao động, sáng tạo, phát huy khả năng, trí tuệ để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; đồng thời có ý thức, trách nhiệm cao trong việc giảng dạy, đào tạo đội ngũ viên chức y tế kế thừa, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo chủ chốt, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị

Mặc dù vậy, với thực trạng trong một thời gian dài, cơ chế quản lý đội ngũ viên chức y tế được thực hiện giống như đối với cán bộ, công chức, chưa tính đến những đặc điểm và tính chất hoạt động nghề nghiệp đặc thù của viên chức y tế trong các trường đại học y Điều này làm hạn chế chất lượng của đội ngũ viên chức y tế của Trường và không đáp ứng yêu cầu đào tạo, nghiên cứu khoa học phục vụ nhân dân trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Nhận thức được vấn đề

nêu trên, học viên đã mạnh dạn lựa chọn đề tài “Quản lý nhà nước đối với viên

chức y tế từ thực tiễn Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, Thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài luận văn thạc sĩ ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

của mình

Trang 11

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Ở Việt Nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, vấn đề quản lý nhà nước (QLNN) đối với viên chức không còn là một vấn đề mới, nhưng luôn là

đề tài có tính thời sự và đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu trên những góc độ khác nhau Các công trình nghiên cứu đã công bố chủ yếu là những vấn đề có liên quan đến nội dung của Luận văn trong đó có thể kể đến một số công trình:

Vũ Tiến Dũng (2011), Quản lý nhà nước về đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán

bộ viên chức tại các bệnh viện công - Từ thực tiễn bệnh viện Bạch Mai Hà Nội,

Luận văn Thạc sỹ quản lý hành chính công đánh giá thực trạng về QLNN về bồi dưỡng công chức, viên chức ở bệnh viện Bạch Mai, đề xuất giải pháp hoàn thiện QLNN về bồi dưỡng công chức, viên chức ở bệnh viện Bạch Mai.Tuy nhiên, đề tài còn có hạn chế là chưa đưa ra được chiến lược, giải pháp thực tiễn lâu dài cho vấn

đề QLNN về bồi dưỡng công chức, viên chức trong các bệnh viện công

Lê Minh Hương (2012), Một số vấn đề về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên

chức theo Nghị định số 29/NĐ-CP của Chính phủ, Tạp chí Tổ chức nhà nước, (số 5)

Vũ Quang Tuyên (2014), QLNN đối với giảng viên các trường đại học trực

thuộc Bộ Y Tế, Luận văn Thạc sĩ Luật học Học viện Khoa học xã hội Luận văn chỉ

ra mục tiêu, định hướng tăng cường QLNN và đề xuất giải pháp tăng cường quản lý đội ngũ giảng viên và hoàn thiện pháp luật về quản lý giảng viên

Phạm Văn Tác (2014), QLNN đội ngũ cán bộ chuyên khoa SĐH trong lĩnh

vực Y tế, Luận án tiến sĩ Quản lý công Luận án đã phân tích và đánh giá thực trạng

QLNN đội ngũ cán bộ chuyên khoa sau đại học trong lĩnh vực y tế, chỉ ra những thành công và hạn chế trong đội ngũ này, đồng thời phân tích được các nguyên nhân gây ra các hạn chế Từ đó đề xuất được 9 giải pháp có tính hệ thống và toàn diện nhằm hoàn thiện QLNN đối với đội ngũ cán bộ chuyên khoa sau đại học trong lĩnh vực y tế ở nước ta trong thời gian tới

Lê Thị Bích Liên (2016), QLNN đối với đội ngũ Giảng viên đại học từ thực

tiễn Trường Đại học Hà Nội, Luận văn thạc sĩ Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

đã đưa ra những khái niệm là giảng viên, đội ngũ giảng viên đại học và QLNN đối

Trang 12

với giảng viên các trường đại học Nêu ra thực trạng thực hiện các quy định pháp luật về nội dung của QLNN, chỉ ra những ưu điểm, hạn chế cũng như nguyên nhân của hạn chế QLNN tại Trường Đại học Hà Nội

Nguyễn Hồng Tươi (2017), QLNN về chất lượng đào tạo nguồn nhân lực y

tế từ thực tiễn tại trường Đại học Y Hà Nội, Luận văn Thạc sỹ Hành chính công

Trần Văn Long (2018), QLNN đối với đội ngũ viên chức giáo dục từ thực

tiễn Quận Lê Chân, Thành phố Hải Phòng Luận văn thạc sĩ Luật Hiến pháp và

Luật Hành chính, nghiên cứu về QLNN đối với viên chức giáo dục Trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, pháp lý về quản lý viên chức giáo dục gắm với thực tiễn Quận Lê Chân, từ đó đề xuất những phương hướng, giải pháp nhằm tăng cường QLNN đối với viên chức giáo dục

Hứa Thu Hà (2019), QLNN về nguồn nhân lực ngành y tế trong giai đoạn

hiện nay, Luận văn Thạc sỹ Hành chính công Tác giả nghiên cứu các cơ sở lý luận

liên quan đến QLNN về nguồn nhân lực ngành y tế giai đoạn hiện nay và đề xuất

các giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lý nguồn nhân lực y tế hiện nay

Những nghiên cứu trên đã nêu ra được tầm quan trọng của nguồn nhân lực y

tế và sự cần thiết phải phát triển nguồn nhân lực cho y tế để đáp ứng và đảm bảo cho sự nghiệp giáo dục và chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân Tuy nhiên vấn đề nhân lực y tế tại các trường Đại học y chưa được nghiên cứu đầy đủ Do vậy việc nghiên cứu đề tài này là rất cần thiết cho sự phát triển của ngành y tế trong giai đoạn định hướng từ nay đến năm 2025

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích của luận văn

Mục đích của luận văn là trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, pháp

lý về QLNN đối với viên chức y tế gắn với thực tiễn tại Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch từ đó đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện QLNN đối với viên chức y tế trong giai đoạn hiện nay

3.2 Nhiệm vụ của luận văn

Luận văn có những nhiệm vụ cụ thể sau đây:

Trang 13

Làm rõ những vấn đề lý luận về QLNN đối với viên chức y tế như: Khái niệm, đặc điểm viên chức; khái niệm, đặc điểm viên chức y tế; khái niệm quản lý viên chức y tế; nội dung, vai trò của QLNN đối với viên chức y tế và các yếu tố ảnh hưởng đến việc QLNN đối với viên chức y tế

Phân tích, đánh giá thực trạng và chỉ ra những kết quả đạt được và những hạn chế; chỉ ra các nguyên nhân của những kết quả đạt được và hạn chế trong QLNN đối với viên chức y tế ở Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch;

Đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện QLNN đối với viên chức y tế từ thực tiễn Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn QLNN đối với viên chức y tế gắn với thực tiễn Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc

Thạch

Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu về QLNN đối với viên chức y tế của

Ủy ban nhân dân thành phố tại Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch từ năm

bộ, công chức và hoàn thiện việc quản lý đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong luận văn bao gồm: Phương pháp so sánh, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp

thu thập số liệu, cụ thể như sau:

Chương 1: Phương pháp phân tích, so sánh, phương pháp duy vật của chủ

nghĩa Mác - Lê nin

Trang 14

Chương 2: Phương pháp phân tích, thống kê, tổng hợp, thu thập số liệu Đặc biệt, để thu thập các đánh giá khách quan, luận văn sử dụng phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi hướng đến các đối tượng là viên chức quản lý, viên chức y tế tại Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, cán bộ quản lý tại Sở Nội

vụ thành phố Hồ Chí Minh Đề tài phát ra 200 phiếu khảo sát thu về 172 phiếu khảo sát để sử dụng tổng hợp, thống kê phục vụ phân tích thực trạng tại chương 2 Các

dữ liệu thu thập được thông qua khảo sát được xử lý bằng phần mềm Excel

Chương 3: Phương pháp phân tích, tổng hợp

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Luận văn làm rõ các luận cứ lý luận và pháp lý về QLNN đối với viên chức

y tế

Đánh giá thực trạng QLNN đối với viên chức y tế từ thực tiễn Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch qua đó rút ra các kết quả đạt được, các hạn chế và

các nguyên nhân của những kết quả đạt được và hạn chế đó

Đề xuất các giải pháp hoàn thiện QLNN đối với viên chức y tế từ thực tiễn Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch đáp ứng các yêu cầu của xã hội

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần lời mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo luận văn được kết cấu thành 03 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp lý của quản lý nhà nước đối với viên chức y tế

Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với viên chức y tế từ từ thực tiễn Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch

Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với viên chức y tế từ thực tiễn Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch

Trang 15

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

ĐỐI VỚI VIÊN CHỨC Y TẾ 1.1 Khái niệm, đặc điểm quản lý nhà nước đối với viên chức y tế

1.1.1 Khái niệm quản lý nhà nước đối với viên chức y tế

1.1.1.1 Viên chức

Trước khi Luật cán bộ, công chức được ban hành năm 2008 thì trong hệ thống pháp luật của nước ta đều có những điều, khoản quy định sử dụng nhiều lần các thuật ngữ “cán bộ, công chức, viên chức” từ Hiến pháp 1992 cho đến các luật khác

và không có một văn bản luật nào giải thích các thuật ngữ này Năm 1998 Pháp lệnh Cán bộ, công chức được ban hành và văn bản hướng dẫn thi hành Pháp lệnh này mặc dù đã có sự thay đổi rõ rệt so với những quy định trong các nghị định trước đó, song vẫn chưa có sự phân định rõ giữa công chức và viên chức Tại kỳ họp thứ tư, Quốc hội Khóa XII, Luật Cán bộ, công chức được thông qua và có hiệu lực từ ngày 01/01/2010 Theo Luật Cán bộ, công chức, đối tượng điều chỉnh bị thu hẹp so với Pháp lệnh Cán bộ, công chức Viên chức chiếm số lượng tương đối lớn làm việc trong khu vực sự nghiệp công lập là đối tượng không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý

Do đặc điểm và tính chất hoạt động của viên chức không trực tiếp thực thi quyền lực nhà nước, quyền lực chính trị nên không thuộc phạm vi, đối tượng điều chỉnh của Luật Cán bộ, công chức mà được phân biệt, tách khỏi đội ngũ cán bộ, công chức hiện tại để điều chỉnh bằng một chế độ pháp lý khác Việc tách đội ngũ viên chức trong các ĐVSNCL ra khỏi Luật Cán bộ, công chức nhằm tạo điều kiện tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách, khuyến khích sự phát triển của các đơn vị sự nghiệp, góp phần đẩy mạnh quá trình xã hội hóa các hoạt động sự nghiệp, dịch vụ công, tạo điều kiện để tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý phù hợp với xu hướng nâng cao chất lượng phục vụ của các hoạt động sự nghiệp

Năm 2010 Luật Viên chức được ban hành điều chỉnh đối với đội ngũ viên chức trong các ĐVSNCL và khái niệm về viên chức chính thức được rõ ràng và quy định cụ thể Tại điều 2, Luật Viên chức 2010 quy định “Viên chức là công dân Việt

Trang 16

Nam được tuyển dụng theo VTVL, làm việc tại ĐVSNCL theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của ĐVSNCL theo quy định của pháp luật” Đây là những người mà hoạt động của họ nhằm cung cấp các dịch vụ cơ bản, thiết yếu cho người dân như giáo dục, đào tạo, y tế, an sinh xã hội, hoạt động khoa học, văn hoá, nghệ thuật, thể dục, thể thao… Những hoạt động này không nhân danh quyền lực chính trị hoặc quyền lực công, không phải là các hoạt động QLNN mà chỉ thuần tuý mang tính nghề nghiệp gắn với nghiệp vụ, chuyên môn Viên chức có những đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, người có quốc tịch Việt Nam và được ký kết hợp đồng làm việc

theo vị trí việc làm tại ĐVSNCL và hưởng lương từ nguồn thu của đơn vị;

Thứ hai, viên chức là những người làm những công việc thuần túy về chuyên

môn như giảng dạy, nghiên cứu khoa học, khám chữa bệnh, cung cấp thông tin…tại các đơn vị sự nghiệp công lập, không trực tiếp tham gia vào công tác QLNN;

Thứ ba, hoạt động nghề nghiệp của viên chức nhằm thực hiện việc cung cấp

những dịch vụ công thiết yếu, cung cấp cho người dân các sản phẩm “phi vật chất”, dựa trên “kỹ năng nghiệp vụ, mang tính nghiệp vụ cao” Với tính chất công việc như vậy, mọi hoạt động nghề nghiệp của viên chức đòi hỏi tính chuyên nghiệp, chính xác

Lao động của viên chức là hoạt động nghề nghiệp mang tính phục vụ, không thu tiền hoặc có thu tiền nhưng không đặt mục tiêu lợi nhuận lên trên hết, nhằm cung cấp cho người dân các nhu cầu cơ bản Phạm vi của các hoạt động nghề nghiệp tập trung vào các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, y tế, khoa học và công nghệ, văn hóa, thể thao, lao động, việc làm, … Mức độ cung cấp mà nhà nước có trách nhiệm thực hiện tùy thuộc vào mức độ phát triển của mỗi quốc gia [23,tr.13 ]

1.1.1.2 Viên chức y tế

Viên chức ngành y tế là các cán bộ, nhân viên y tế thuộc biên chế đang làm trong cơ sở y tế, cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học y, dược và những người đang tham gia vào các hoạt động quản lý và cung ứng dịch vụ chăm sóc sức khỏe

Trang 17

nhân dân trong các đơn vị sự nghiệp công lập Viên chức y tế ngoài những đặc điểm của viên chức nói chung còn mang những đặc điểm riêng như sau:[27,tr.8,9]

Thứ nhất, hoạt động của viên chức y tế liên quan trực tiếp đến sức khỏe nhân

dân, tính mạng người bệnh và đòi hỏi nhiều lao động, do đó:

Việc cung ứng các dịch vụ y tế hỏi một lực lượng nhân lực đủ lớn Bởi trong cung ứng mỗi dịch vụ y tế, ít nhất cần có sự tiếp xúc riêng trực tiếp giữa nhân viên y

tế và người bệnh Trong những ca phức tạp có thể cần tới cả một tập thể nhân viên y

tế với các thành phần khác nhau dành riêng cho việc chăm sóc cho một người bệnh Thậm chí có những ca đơn giản nhưng vẫn cần hàng loạt các dịch vụ kỹ thuật, chuyên môn khác nhau phối hợp chăm sóc cho một người bệnh Lao động của viên chức y tế gắn với trách nhiệm trước sức khoẻ của con người và tính mạng của người bệnh, đây là loại lao động đặc thù Lao động trong môi trường không thuận lợi, không phù hợp với tâm lý con người Tiếp xúc với nhiều loại bệnh tật, độc hại, lây nhiễm, hoá chất, Là lao động cực nhọc căng thẳng (đứng mổ hàng chục tiếng đồng hồ, tiếp xúc với tác nhân gây bệnh truyền nhiễm, lao, phong, HIV, AIDS.) Chịu sức ép nặng nề của dư luận xã hội, thái độ hành vi không đúng của người bệnh

và người nhà bệnh nhân khi không thoả mãn nhu cầu của họ trong khi điều kiện đáp ứng không có, người thầy thuốc không thể thực hiện được

Lao động của viên chức y tế là loại lao động luôn tiếp xúc với những người

có sức khỏe về thể chất và tinh thần không bình thường Người bệnh là người có tổn thương về thể chất và tinh thần, luôn lo lắng với tình trạng bệnh tật của mình Vì vậy họ dễ buồn phiền, cáu gắt và có phản ứng khó lường, nếu như trình độ nhận thức hiểu biết chưa tốt, thiếu giáo dục, thiếu bản lĩnh thì họ sẽ có những hành vi không đúng mức với thầy thuốc, những người đang tìm cách cứu sống họ Do đó dễ gây thắc mắc, căng thẳng giữa thầy thuốc và người bệnh

Thứ hai, đào tạo viên chức y tế cần sự đầu tư lớn và liên tục

Lực lượng viên chức y tế luôn phải được duy trì đáp ứng nhu cầu gia tăng theo dân số Ngoài ra, việc đào tạo cán bộ y tế, và đặc biệt là đội ngũ bác sĩ, cần một khoảng thời gian rất dài với sự kiểm tra giám sát chặt chẽ và rất tốn kém Do yêu

Trang 18

cầu cao trong công việc nên thời gian đào tạo của ngành y tế thường dài hơn các ngành khác Thời gian đào tạo của bác sĩ nội trú là 9 năm, bác sĩ là 6 năm, dược sĩ

là 5 năm; trong khi đó nhiều ngành khác thời gian đào tạo đại học chỉ từ 4 đến 5 năm Ngoài ra, các loại máy móc, thiết bị ngày càng hiện đại đòi hỏi nhân viên y tế phải biết cách sử dụng, thao tác Do đó, các kỹ năng về sử dụng các loại máy móc, thiết bị cũng phải được cập nhật, hoàn thiện

Thứ ba, viên chức y tế có đặc thù riêng về đạo đức nghề nghiệp

Ở Việt Nam, ngành y tế lúc nào cũng nhắc đến lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Lương y như từ mẫu” Nghề y là một nghề cao quý và được xã hội tôn trọng

vì có nhiệm vụ chữa bệnh cứu người, bảo vệ sự sống và nâng cao sức khỏe của nhân dân Tuy nhiên, nghề y cũng như đội ngũ viên chức y tế chịu sự phán xét cao của dư luận xã hội khi xảy ra những sai sót trong chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp

Thứ tư, viên chức y tế chịu ảnh hưởng bởi đặc thù ngành y tế

Tình hình sức khỏe và các can thiệp y tế luôn luôn chứa đựng nhiều rủi ro và

sự không chắc chắn Bản chất không chắc chắn nói trên đòi hỏi tăng các cơ hội chia

sẻ kinh nghiệm lâm sàng, nhưng cũng đòi hỏi giám sát và điều tra khi nào có tai biến xảy ra nhằm rút kinh nghiệm và giúp cải tiến quá trình ra quyết định của các thầy thuốc đang đối mặt với nhiều sự việc không chắc chắn Ngoài ra, viên chức y

tế chịu áp lực về thời gian và môi trường làm việc độc hại (dịch bệnh, truyền nhiễm, phóng xạ,…) Chính vì thế họ cần được đãi ngộ đặc biệt

1.1.1.3 Quản lý nhà nước đối với viên chức chức y tế

Quản lý là sự tác động có mục đích của các chủ thể quản lý đối với các đối tượng quản lý Quản lý xuất hiện ở bất kỳ nơi nào, lúc nào nếu ở nơi đó và lúc đó có hoạt động chung của con người Quản lý được thực hiện bằng tổ chức và quyền uy

QLNN là hoạt động của nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước Nói cách khác, QLNN là sự tác động của các chủ thể mang quyền lực nhà nước, chủ yếu bằng pháp luật, tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối

Trang 19

ngoại của nhà nước Như vậy tất cả các cơ quan nhà nước đều làm chức năng quản lý nhà nước [19,tr.13]

Theo nghĩa hẹp, QLNN là hoạt động chấp hành - điều hành được đặc trưng bởi các yếu tố có tính tổ chức; được thực hiện trên cơ sở và để thi hành pháp luật; được bảo đảm thực hiện chủ yếu bởi hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước (hoặc một số QLNN cũng là sản phẩm của việc phân công lao động nhằm liên kết và phối hợp các đối tượng bị quản lý

Quản lý viên chức y tế là việc cơ quan có thẩm quyền QLNN ban hành văn bản quy phạm pháp luật; tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật; thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, khen thưởng, kỷ luật; báo cáo tổng kết, đánh giá công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực y học; quản lý đối với nguồn nhân lực, tổ chức

bộ máy, nguồn tài chính, cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ trong lĩnh vực y tế

[26]

Trong phạm vi luận văn khái niệm QLNN đối với viên chức y tế được hiểu là một bộ phận cấu thành hoạt động QLNN đối với viên chức nói chung bảo đảm cho

hoạt động thực thi quyền hành pháp của nhà nước có hiệu lực và hiệu quả

1.1.2 Đặc điểm quản lý nhà nước đối với viên chức y tế

Hoạt động QLNN đối với viên chức y tế có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, QLNN đối với viên chức y tế trong các cơ sở giáo dục đại học là

quản lý đội ngũ giảng viên, nhân viên là bác sĩ, dược sĩ, nha sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên trong lĩnh vực y tế Đặc điểm này còn thể hiện rõ hơn trong việc QLNN đối với các giảng viên là những bác sĩ, thực hiện đào tạo bác sĩ trong tương lai, sự quản

lý này gắn trực tiếp với Luật Giáo dục đại học Tại các trường đại học y khoa, giảng viên còn là những bác sĩ, điều dưỡng có trình độ chuyên môn cao Hay có thể nói, giảng viên các cơ sở đào tạo y khoa vừa là bác sĩ và là bậc thầy của bác sĩ Đặc thù này đã tạo cho các trường đại học y khoa có nguồn nhân lực giảng viên vừa là bác sĩ trình độ bậc cao trong đào tạo, nghiên cứu khoa học và khám chữa bệnh Đây là một thuận lợi có ý nghĩa quan trọng trong việc khám, chữa bệnh phục vụ chăm sóc sức

Trang 20

khỏe nhân dân và mở rộng các hoạt động dịch vụ có thu, tăng thu nhập cho giảng viên và phát triển nhà trường [23,tr.22 ]

Thứ hai, chủ thể QLNN đối với viên chức y tế bao gồm nhiều đơn vị khác

nhau Các viên chức y tế làm việc trong các cơ sở đào tạo chịu sử quản lý nghiệp vụ của ngành giáo dục, chịu sự quản lý chuyên môn của ngành y tế và quản lý hành chính của đơn vị cấp trên trực tiếp Nếu cơ sở giáo dục là ĐVSNCL trực thuộc Tỉnh, Thành phố thì UBND tỉnh, thành phố sẽ thực hiện việc quản lý hành chính của UBND, thông qua Sở Nội vụ để quản lý đối với độ ngũ viên chức của tỉnh, thành phố

Thứ ba, hoạt động QLNN đối với viên chức y tế để nhằm phục vụ cộng đồng

nói chung là có cùng mục tiêu chung của các cơ quan nhà NN khác là phục vụ nhân dân mà đặc biệt là không chỉ phục vụ cho những người trung thành với tổ quốc và có tinh thần xây dựng, bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa và còn bảo đảm cho những nhu cầu tối thiếu của các cá nhân đi ngược lại mục tiêu xây dựng và bảo vệ Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa Do vậy, QLNN đối với viên chức y tế còn mang tính nhân đạo xuất phát từ bản chất của Nhà nước xã hội chủ nghĩa

1.2 Mục đích, nguyên tắc, hình thức và công cụ quản lý nhà nước đối với viên chức y tế

1.2.1 Mục đích quản lý nhà nước đối với viên chức y tế

QLNN đối với đội ngũ viên chức y tế đóng vai trò đặc biệt quan trọng, nó tác động và điều chỉnh của nhà nước đến việc quản lý viên chức y tế nhằm:

- Tạo ra các cơ sở pháp lý cho việc quản lý viên chức y tế

- Đảm bảo cho việc quản lý viên chức y tế thực hiện một cách thống nhất, đúng quy định để góp phần cho quản lý viên chức y tế được bình đẳng, lành mạnh, công khai, minh bạch, đáp ứng yêu cầu của tình hình thực tế

- Giám sát công tác tuyển dụng, sử dụng và đào tạo, bồi dưỡng… viên chức

y tế và xử lý các vi phạm phát sinh nhằm hạn chế, ngăn chặn các tiêu cực trong đội ngũ viên chức y tế Quản lý của nhà nước là sức ép lên các đơn vị sử dụng viên

Trang 21

chức, buộc các đơn vị này phải luôn tuân thủ những quy định chung vì lợi ích của đơn vị và vì lợi ích của đội ngũ viên chức y tế trong bệnh viện đó

1.2.2 Nguyên tắc quản lý nhà nước đối với viên chức y tế

Việc QLNN đối với viên chức y tế được thực hiện trên cơ sở quy định tại Điều 6, Luật Viên chức 2010 về nguyên tắc QLNN đối với viên chức, có các nguyên tắc sau:

Một là, phải bảm đảm sự lãnh đạo của Đảng và sự thống nhất quản lý của

NN đối với đội ngũ viên chức ngành y tế;

Hai là, bảo đảm quyền chủ động và đề cao trách nhiệm của người đứng đầu;

Ba là, việc tuyển dung, sử dụng, quản lý, đánh giá viên chức y tế được thực

hiện trên cơ sở tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp, VTVL và căn cứ vào hợp đồng làm việc VTVL là công việc hoặc nhiệm vụ gắn với chức danh nghề nghiệp hoặc chức vụ quản lý tương ứng, là căn cứ xác định số lượng người làm việc, cơ cấu viên chức để thực hiện việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức trong ĐVSNCL

Bốn là, thực hiện bình đẳng giới, các chính sách ưu đãi của Nhà nước đối với

viên chức y tế là người có tài năng, người dân tộc thiểu số, người có công với cách mạng, viên chức làm việc ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và các chính sách ưu đãi khác của NN đối với viên chức y tế

1.2.3 Hình thức quản lý của nhà nước đối với viên chức y tế

Hình thức QLNN là biểu hiện có tính chất tổ chức – pháp lý của những hoạt động cụ thể của chủ thể quản lý NN nhằm hoàn thành những nhiệm vụ đặt ra trước

đó, hình thức QLNN là những hình thức pháp lý liên kết chặt chẽ với nhau trên cơ

sở sự thống nhất của chức năng chấp hành và điều hành (19,tr.117)

Trong hoạt động QLNN, QLNN của Trung ương là quản lý toàn diện, (thẩm quyền chung của Chính phủ) hoặc ngành, lĩnh vực (thẩm quyền riêng của Bộ) trên phạm vi cả nước Còn chức năng QLNN của chính quyền địa phương theo thẩm quyền chung là quản lý trên phạm vi đơn vị hành chính - lãnh thổ Hai loại chức năng đó không tách biệt nhau; không phải Bộ chỉ quản lý theo ngành mà không có

Trang 22

trách nhiệm quản lý theo lãnh thổ cũng như không phải chính quyền địa phương chỉ quản lý theo lãnh thổ tách khỏi quản lý ngành

Quản lý theo ngành cần phải được kết hợp chặt chẽ với quản lý theo địa phương Đó là sự phối hợp quản lý theo chiều dọc của các bộ với quản lý theo chiều ngang của chính quyền địa phương Trên cơ sở xác định nội dung quản lý nhà nước theo ngành, QLNN theo lãnh thổ và phân tích chức năng quản lý nhà nước về y tế cho thấy nhất thiết phải kết hợp QLNN theo ngành với quản lý nhà nước theo lãnh thổ

1.2.4 Công cụ quản lý của nhà nước đối với viên chức y tế

Công cụ quản lý là những phương tiện mà chủ thể quản lý dùng để tác động lên các đối tượng quản lý nhằm đạt được các mục tiêu nhất định bao gồm pháp luật, chính sách, kế hoạch, công cụ tài chính, tiền tệ [22 ]

Công cụ QLNN đối với viên chức y tế chủ yếu gồm:

Thứ nhất, công cụ quy hoạch, kế hoạch

Quy hoạch, kế hoạch là một trong những công cụ quản lý vĩ mô quan trọng của NN, là các chương trình mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và các biện pháp cụ thể để đạt mục tiêu trong từng thời kỳ nhất định do nhà nước đặt ra Điều đó có nghĩa, quy hoạch, kế hoạch là một công cụ định hướng, tổ chức và điều chỉnh các hoạt động kinh tế - xã hội trong đó có QLNN đối với viên chức y tế Vai trò của công cụ quy hoạch, kế hoạch trong QLNN đối với viên chức y tế được thể hiện ở các khía cạnh sau đây: nhờ quy hoạch, kế hoạch mà chủ thể quản lý và đối tượng quản lý biết được hướng đi và lựa chọn con đường thích hợp để nhanh chóng đạt tới mục tiêu vạch ra Quy hoạch, kế hoạch tạo ra tầm nhìn chiến lược cho nhà quản lý, giúp họ phát hiện vấn đề trong quản lý, sử dụng đối với viên chức y tế một cách hiệu quả Quy hoạch, kế hoạch cho phép các nhà quản lý hình dung khái quát được

sự hình thành, xu hướng vận động, phát triển của đội ngũ viên chức y tế, từ đó hình thành các phương án quản lý đối với viên chức y tế

Thứ hai, công cụ chính sách

Trang 23

Chính sách là một trong số các loại công cụ quản lý vĩ mô của NN, là tổng thể các chủ trương, quan điểm chính thức của NN về quản lý kinh tế - xã hội cũng như hoạt động tổ chức thực thi các chủ trương, quan điểm đó Chính sách giữ vai trò là công cụ quản lý của nhà nước, là chủ trương, quyết sách và hành động của lực lượng nắm quyền lực chính trị xã hội, đó là nhà nước Toàn bộ các vấn đề về lợi ích kinh tế, chính trị, xã hội đều được thực hiện trong chính sách của nhà nước Nội dung cơ bản của chính sách là xác định mục tiêu, phương hướng phát triển cũng như các biện pháp tổ chức thực hiện các nhiệm vụ do yêu cầu của đời sống xã hội

và quản lý nhà nước đặt ra Chính sách nhà nước là thể thống nhất giữa chủ trương

và hành động của Nhà nước Chính sách nhà nước giữ vai trò vừa hàm chứa vừa định hướng, làm nền tảng cho các thể chế công cụ quản lý kinh tế - xã hội của Nhà nước Chính sách có nhiều loại: chính sách chính trị, chính sách kinh tế, chính sách

xã hội, chính sách an ninh, quốc phòng, chính sách đối ngoại, chính sách về khoa học công nghệ , trong đó có chính sách đối với viên chức y tế

Thứ ba, công cụ pháp luật

Pháp luật là dạng biểu hiện đặc thù của chính sách NN, nhưng pháp luật cũng là loại công cụ độc lập trong hệ thống công cụ quản lý của nhà nước Hiến pháp 2013 qui định: "Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật; Nhà nước quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật”, pháp luật đã chính thức trở thành công cụ QLNN đối với viên chức y tế Công cụ pháp luật có một ý nghĩa đặc biệt trong quản lý nhà nước đối với viên chức y tế, là cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và là căn cứ pháp lý để thống nhất và chuẩn hoá các tiêu chuẩn về viên chức y tế

Các công cụ kế hoạch, chính sách phần lớn đều phải thể hiện dưới các hình thức pháp lý nhất định (như các Luật, Pháp lệnh và các văn bản cá biệt) thì mới đi vào thực tế cuộc sống và được đảm bảo bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước

Trang 24

1.3 Chủ thể và đối tượng quản lý nhà nước đối với viên chức y tế

1.3.1 Chủ thể quản lý của nhà nước đối với viên chức y tế

Với chức năng của mình, NN điều tiết mọi việc trong quản lý đội ngũ viên chức

y tế, điều chỉnh mọi hoạt động của công tác này cho phù hợp với tình hình thực tế, phù hợp với sự phát triển chung của toàn xã hội và đáp ứng yêu cầu Các viên chức y tế chịu sự quản lý của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và mỗi cơ quan có thẩm quyền quản lý đều có mục tiêu, chương trình, kế hoặc công tác cụ thể Do vậy, hoạt động thực hiện nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ chuyên môn của các viên chức y tế phải dựa trên cơ sở mục tiêu, chương trình, kế hoạch của cơ quan có thẩm quyền quản lý y

tế [26]

Nhà nước tiến hành QLNN mọi mặt viên chức trong đó có viên chức y tế Thông qua các cơ quan của mình, nhà nước thực hiện quản lý đối với đội ngũ viên chức Trong đó, Quốc hội ban hành các Luật liên quan đến quản lý viên chức; Chính phủ ban hành các Nghị định quy định, hướng dẫn và điều chỉnh những gì liên quan đến quản lý viên chức

Chính phủ thống nhất QLNN về viên chức Bộ Nội vụ là cơ quan nhà nước trực thuộc Chính phủ được giao nhiệm vụ trực tiếp QLNN chung về đội ngũ viên chức Ủy ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là cơ quan giám sát trực tiếp việc thực hiện các văn bản ban hành trong quản lý đội ngũ viên chức y tế ở địa phương Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là cơ quan chủ quản quản lý Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch vì vậy cũng ban hành những văn bản liên quan đến phạm vi, chức năng, nhiệm vụ mình quản lý trong công tác quản lý đội ngũ viên chức y tế của địa phương

Chức năng QLNN đối với viên chức y tế của Ủy ban Nhân dân là QLNN theo lãnh thổ, ví dụ như chế độ tuyển dụng, sử dụng, bổ nhiệm, miễn nhiệm, kỷ luật viên chức y tế; Chế độ tài chính;Tổ chức thi hành pháp luật; Trách nhiệm trong QLNN,

Trang 25

1.3.2 Đối tượng quản lý của nhà nước đối với viên chức y tế

Theo thông tư liên tịch số 10/2015/TTLT-BYT-BNV; Thông tư liên tịch số 26/2015/TTLT-BYT-BNV quy định mã số tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp đối với một số chức danh đối với viên chức y tế bao gồm:

Nhóm chức danh giảng viên gồm: Giảng viên cao cấp; Giảng viên chính;

độ đào tạo, bồi dưỡng, tiêu chuẩn năng lực, chuyên môn nghiệp vụ

1.4 Nội dung quản lý nhà nước đối với viên chức y tế của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

1.4.1 Quyết định danh mục vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp và số lượng người làm việc theo phân công, phân cấp

Vị trí việc làm được xác định và điều chỉnh phù hợp với chức năng, nhiệm

vụ, quyền hạn của ĐVSNCL, đồng thời phải gắn với chức danh nghề nghiệp, chức

vụ quản lý tương ứng Đây là nguyên tắc xác định và quản lý VTVL được nêu trong Nghị định 41/2012/NĐ-CP quy định về VTVL trong ĐVSNCL được Chính phủ ban hành

Trang 26

Theo Điều 11, Chương 2 Thông tư 14/2012/TT-BNV quy định "Đơn vị sự nghiệp công lập có tư cách pháp nhân, có con dấu, tài khoản có trách nhiệm xây dựng đề án vị trí việc làm hoặc đề án điều chỉnh VTVL hàng năm của đơn vị mình trình cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp theo quy định Vụ (Ban) Tổ chức cán bộ thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, tổ chức do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thành lập mà không phải là ĐVSNCL (sau đây gọi chung là Bộ)

có trách nhiệm thẩm định đề án VTVL của các tổ chức, ĐVSNCL thuộc Bộ quản lý; tổng hợp danh mục VTVL của các ĐVSNCL thuộc Bộ quản lý, trình lãnh đạo

Bộ xem xét, quyết định, gửi Bộ Nội vụ theo quy định Sở Nội vụ thuộc UBND tỉnh, thành phố thuộc Trung ương có trách nhiệm thẩm định đề án VTVL trong các ĐVSNCL thuộc UBND tỉnh, thuộc Sở, Ban, ngành, UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; tổng hợp danh mục VTVL của các ĐVSNCL thuộc tỉnh quản

lý, trình UBND tỉnh xem xét, quyết định, gửi Bộ Nội vụ theo quy định”

Theo khoản 1 Điều 7 Luật Viên chức năm 2010 thì VTVL với viên chức là công việc hoặc nhiệm vụ gắn với chức danh nghề nghiệp hoặc chức vụ quản lý tương ứng Đồng thời, theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Nghị định 41/2012 về VTVL của viên chức trong ĐVSNCL có phân VTVL thành: VTVL do một người đảm nhận; VTVL do nhiều người đảm nhận; VTVL kiêm nhiệm Qua đó có thể hiểu, VTVL của viên chức là công việc gắn với chức danh của một người và phải căn cứ vào nó để tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức trong ĐVSNCL Xác định VTVL là yêu cầu tất yếu trước khi đơn vị ra đời để xác định tổ chức bộ máy và tiêu chuẩn chọn nhân sự phù hợp với từng vị trí Nội dung này là để các ĐVSNCL xác định các vị trí trong tổ chức gắn với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của đơn vị và rà soát lại tổ chức bộ máy, đội ngũ viên chức Công việc này còn giúp đơn

vị tránh tình trạng định sẵn nhân sự rồi mới tạo ra công việc và tránh sự chồng chéo khi phân công, giao việc, từ đó giúp cho các ĐVSNCL hạn chế tình trạng vừa thừa, vừa thiếu nhân lực Đồng thời giúp cho viên chức thấy được vị trí, vai trò, trách nhiệm của mình trong tổ chức, không thể đùn đẩy, thoái thác công việc khi xác định VTVL

Trang 27

Xác định cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp trong ĐVSNCL được quy định như sau: Cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp được xác định theo các căn cứ sau: Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và phạm vi hoạt động của ĐVSNCL được cơ quan có thẩm quyền quyết định; Tính chất, đặc điểm, phạm

vi, quy mô, mức độ phức tạp của công việc; Số lượng VTVL và chức danh nghề nghiệp tương ứng [14]

Để thực hiện việc quản lý xây dựng VTVL, cơ cấu chức danh nghề nghiệp theo định kỳ đơn vị quản lý sẽ có quyết định phê duyệt danh mục VTVL cho đơn vị

sự nghiệp do mình quản lý Đối với cơ sở đào tạo trực thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì UBND cấp tỉnh sẽ phê duyệt danh mục VTVL Trên cơ sở

đó, ĐVSNCL có kế hoạch tuyển dụng, sử dụng nhân lực phù hợp với VTVL

1.4.2 Phân cấp việc tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng viên chức

Việc tuyển dụng viên chức phải căn cứ vào nhu cầu công việc, VTVL, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và quỹ tiền lương của ĐVSNCL, có hai hình thức tuyển dụng là thi tuyển và xét tuyển Tuyển dụng phải bảo đảm công khai, minh bạch, công bằng, khách quan và đúng pháp luật, bảo đảm tính cạnh tranh, tuyển chọn đúng người đáp ứng yêu cầu của VTVL, đề cao trách nhiệm của người đứng đầu ĐVSNCL, ưu tiên người có tài năng tiến tới thực hiện xây dựng đề án VTVL ngành y tế để đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân

Các đơn vị sự nghiệp thực hiện việc tuyển dụng viên chức theo quy định tại Nghị định số 29/2012/NĐ-CP và Nghị định 161/2018/NĐ-CP ngày 29/11/2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số quy định về tuyển dụng công chức, viên chức, nâng ngạch công chức, thặng hạng viên chức và thực hiện chế độ hợp đồng một loại công việc trong cơ quan hành chính nhà nước, ĐVSNCL Bên cạnh đó, các đơn vị cần nghiên cứu Thông tư số 15/2012/TT-BNV ngày 25 tháng 12 năm 2012, Thông

tư 03/2019/TT-BNV ngày 14/5/2019 của Bộ Nội Vụ về sửa đổi, bổ sung một số quy định về tuyển dụng công chức, viên chức, nâng ngạch công chức, thăng hạng viên chức và thực hiện chế độ hợp đồng một loại công việc trong cơ quan hành chính nhà nước Đồng thời đối với các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Ủy ban Nhân dân

Trang 28

thành phố thực hiện Quyết định số 03/2016/QĐ-UBND ngày 04 tháng 02 năm 2016 của Ủy ban Nhân dân Thành phố về tuyển dụng, chuyển công tác viên chức và xếp lương khi bổ nhiệm chức danh nghề nghiệp khi thực hiện tuyển dụng, sử dụng viên chức” Theo đó điều kiện đối với người tham gia tuyển dụng theo quy định của luật

về viên chức, có văn bằng chứng chỉ phù hợp với yêu cầu và đáp ứng các điều kiện khác theo yêu cầu của VTVL do ĐVSNCL xác định nhưng không được trái với quy định của pháp luật, không được phân biệt loại hình đào tạo, văn bằng, chứng chỉ, trường công lập, trường ngoài công lập

Hợp đồng làm việc là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa viên chức hoặc người được tuyển dụng làm viên chức với người đứng đầu ĐVSNCL về VTVL, tiền lương, chế độ đãi ngộ, điều kiện làm việc quyền và nghĩa vụ của mỗi bên Các loại hợp đồng làm việc gồm: Hợp đồng làm việc xác định thời hạn và hợp đồng làm việc không xác định thời hạn [39]

Thay đổi VTVL: viên chức có thể được chuyển sang VTVL mới nếu có đủ tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ của VTVL khi ĐVSNCL có nhu cầu Việc lựa chọn viên chức vào VTVL còn thiếu do người đứng đầu ĐVSNCL hoặc cơ quan có thẩm quyền quản lý ĐVSNCL thực hiện theo nguyên tắc bình đẳng, công khai, minh bạch, khách quan và đúng pháp luật

Việc đào tạo, bồi dưỡng được thực hiện đối với viên chức trước khi bổ nhiệm, thay đổi chức danh nghề nghiệp hoặc nhằm bổ sung, cập nhật kiến thức, kỹ năng phục vụ hoạt động nghề nghiệp thực hiện theo khoản 2, Điều 14 Quyết định 35/QĐ-UBND quy định “Cán bộ, công chức, viên chức đang giữ chức vụ và thuộc ngạch, chức danh nào đều phải được đào tạo, bồi dưỡng đáp ứng các tiêu chuẩn trình độ kiến thức quy định cho chức vụ, ngạch và tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp đó” [52] Căn cứ vào tiêu chuẩn chức vụ quản lý, chức danh nghề nghiệp, yêu cầu bổ sung, cập nhật kiến thức, kỹ năng phục vụ hoạt động nghề nghiệp mà xây dựng nội dung, hình thức, chương trình, thời gian đào tạo, bồi dưỡng viên chức Đào tạo bao gồm cả bồi dưỡng, đào tạo tại chỗ, đào tạo lại cho viên chức y tế, cần xác định các hình thức đào tạo phù hợp cho mỗi chức danh viên chức, triển khai và

Trang 29

sử dụng đúng số lượng, khả năng, trình độ ngành nghề mà viên chức y tế đã được đào tạo Đảm bảo cơ cấu tỷ lệ hợp lý giữa các chức danh viên chức từng khu vực

1.4.3 Quyết định nâng bậc lương và phụ cấp đối với viên chức

Viên chức được trả lương tương xứng với VTVL, chức danh nghề nghiệp, chức vụ quản lý và kết quả thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ được giao; được hưởng phụ cấp và chính sách ưu đãi trong trường hợp làm việc ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế -

xã hội đặc biệt khó khăn hoặc làm việc trong ngành nghề có môi trường độc hại, nguy hiểm, lĩnh vực sự nghiệp đặc thù Được hưởng tiền làm thêm giờ, tiền làm đêm, công tác phí và chế độ khác theo quy định của pháp luật và quy chế của ĐVSNCL Được hưởng tiền thưởng, được xét nâng lương theo quy định của pháp luật và quy chế của ĐVSNCL [33]

Thời gian vừa qua, Chính phủ đã quan tâm nâng mức thu nhập cho viên chức

y tế trực tiếp tham gia giảng dạy bằng hình thức bổ sung một số phụ cấp đặc thù như phụ cấp ưu đãi nhà giáo, phụ cấp thâm niên nghề; mở rộng tiêu chuẩn, tiêu chí nâng lương trước thời hạn và được cụ thể hóa thông qua các Thông tư liên tịch, cụ thể như Thông tư số 08/2013/TT-BNV ngày 31/7/2013, Thông tư liên tịch số 06/VBHN-BGDĐT và một số văn bản khác Cải cách tiền lương và các loại phụ cấp theo lương đã phần nào động viên, khuyến khích viên chức an tâm công tác, đóng góp nhiều hơn cho sự nghiệp phát triển y tế, giáo dục và đào tạo của đất nước đặc biệt là các cùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo

Ngoài ra, đối với các ĐVSNCL (không phân biệt đơn vị tự bảo đảm kinh phí hoạt động và đơn vị do ngân sách NN hỗ trợ một phần hay hỗ trợ toàn bộ chi phí hoạt động) được chi trả thu nhập tăng thêm cho viên chức, người lao động Việc chi

bổ sung thu nhập cho người lao động trong đơn vị được thực hiện theo nguyên tắc gắn với số lượng, chất lượng và hiệu quả công tác Hệ số thu nhập tăng thêm của chức danh lãnh đạo đơn vị sự nghiệp công tối đa không quá 2 lần hệ số thu nhập tăng thêm bình quân thực hiện của người lao động trong đơn vị [15] Việc chi trả

Trang 30

thu nhập tăng thêm của viên chức, người lao động sẽ căn cứ vào kết quả hoạt động tài chính trong năm Quy định như trên dẫn đến có nhiều ĐVSNCL tự bảo đảm kinh phí hoạt động, có nguồn thu cung cấp dịch vụ theo giá thị trường, có khả năng chi trả tiền lương cao hơn quy định của NN cho người lao động, nhưng phải đợi sau khi tính toán cân đối chênh lệch thu, chi, nộp các khoản thuế cho NN theo quy định, mới được sử dụng từ quỹ bổ sung thu nhập tăng thêm cho người lao động

1.4.4 Thực hiện bổ nhiệm, miễn nhiệm viên chức quản lý

Bổ nhiệm viên chức quản lý phải căn cứ vào nhu cầu của ĐVSNCL, tiêu chuẩn, điều kiện của chức vụ quản lý và thực hiện đúng thủ tục, thẩm quyền, trình

tự Căn cứ vào nhu cầu của ĐVSNCL, viên chức giữ chức vụ quản lý được bổ nhiệm có thời hạn không quá 05 năm Trong thời gian giữ chức vụ quản lý, viên chức được hưởng phụ cấp chức vụ quản lý; được tham gia hoạt động nghề nghiệp theo chức danh nghề nghiệp đã được bổ nhiệm Theo Khoản 1 Điều 3 Luật viên chức 2010 quy đinh: Viên chức quản lý là người được bổ nhiệm giữ chức vụ quản

lý có thời hạn, chịu trách nhiệm điều hành, tổ chức thực hiện một hoặc một số công việc trong đơn vị sự nghiệp công lập nhưng không phải là công chức và được hưởng phụ cấp chức vụ quản lý Bên cạnh đó, tại Điều 28 Nghị định 29/2012/NĐ-CP quy định thẩm quyền bổ nhiệm viên chức quản lý như sau:

- Đối với ĐVSNCL được giao quyền tự chủ, người đứng đầu ĐVSNCL thực hiện việc bổ nhiệm, giải quyết thôi giữ chức vụ hoặc miễn nhiệm đối với viên chức giữ chức vụ quản lý theo phân cấp

- Đối với ĐVSNCL chưa được giao quyền tự chủ, cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm người đứng đầu ĐVSNCL thực hiện hoặc phân cấp việc bổ nhiệm, giải quyết thôi giữ chức vụ quản lý hoặc miễn nhiệm đối với viên chức

Viên chức quản lý có thể xin thôi giữ chức vụ quản lý hoặc được miễn nhiệm nếu thuộc một trong các trường hợp sau: Không đủ sức khoẻ, không đủ năng lực, uy tín; Theo yêu cầu nhiệm vụ; Vì lý do khác Trong một số trường hợp cụ thể theo luật định thì người được bổ nhiệm làm viên chức quản lý có thể bị miễn nhiệm Theo đó, theo quy định tại Khoản 1 Điều 38 Luật Viên chức 2010 thì viên chức

Trang 31

quản lý có thể bị miễn nhiệm nếu thuộc một trong các trường hợp sau: Không đủ sức khoẻ; Không đủ năng lực, uy tín; Theo yêu cầu nhiệm vụ; Vì lý do khác

Thẩm quyền miễn nhiệm viên chức quản lý:

- Đối với ĐVSNCL được giao quyền tự chủ, người đứng đầu ĐVSNCL thực hiện miễn nhiệm đối với viên chức giữ chức vụ quản lý theo phân cấp

- Đối với ĐVSNCL chưa được giao quyền tự chủ, cơ quan có thẩm quyền miễn nhiệm người đứng đầu ĐVSNCL thực hiện hoặc phân cấp việc miễn nhiệm đối với viên chức

1.4.5 Thực hiện công tác khen thưởng, kỷ luật đối với viên chức

Mục tiêu của thi đua nhằm tạo động lực, động viên, lôi cuốn, khuyến khích mọi cá nhân, tập thể phát huy truyền thống yêu nước, năng động, sáng tạo vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; khen thưởng là việc ghi nhận, biểu dương, tôn vinh công trạng và khuyến khích bằng lợi ích vật chất đối với cá nhân, tập thể có thành tích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc [30] Mục đích của đánh giá viên chức để làm căn

cứ tiếp tục bố trí, sử dụng, bổ nhiệm, miễn nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng,

kỷ luật và thực hiện chế độ, chính sách đối với viên chức [33] Việc khen thưởng đối với viên chức có công trạng, thành tích và cống hiến trong công tác, hoạt động nghề nghiệp được thực hiện theo quy định của pháp luật Việc thực hiện kỷ luật viên chức được thực hiện theo quy định tại Nghị định 27/2012/NĐ-CP ngày 06/4/2012 của Chính phủ quy định về xử lý kỷ luật viên chức và trách nhiệm bồi thường, hoàn trả của viên chức

Thực hiện việc đánh giá khen thưởng, kỷ luật viên chức y tế là một trong những công cụ quản lý nhà nước trong quá trình xây dựng, phát triển và sử dụng đội ngũ viên chức y tế Công tác khen thưởng nhằm động viên những gương điển hình tiên tiến, người tốt việc tốt, cùng với khen thưởng cũng có những hình thức kỷ luật

để phòng ngừa những hành vi vi phạm kỷ luật, pháp luật của viên chức Sự kết hợp giữa công tác khen thưởng và kỷ luật một cách chặt chẽ, công bằng sẽ tạo ra động

Trang 32

lực cho viên chức hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình và là điều kiện để đơn vị xây dựng đội ngũ viên chức y tế có phẩm chất và năng lực toàn diện

1.4.6 Giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với viên chức

Việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại của viên chức đối với các quyết định của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập hoặc cấp có thẩm quyền liên quan đến quản lý viên chức được thực hiện theo quy định của pháp luật Cơ quan chủ quản quản lý đơn vị sự nghiệp công lập và những ngành có liên quan tiến hành việc thanh tra, kiểm tra việc tuyển dụng, sử dụng, quản lý viên chức tại các đơn vị sự nghiệp công lập được giao quản lý

Sở Nội vụ thanh tra việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức theo quy định của pháp luật và các quy định khác của pháp luật có liên quan, thanh tra việc thực hiện hoạt động nghề nghiệp của viên chức thuộc ngành, lĩnh vực được giao quản lý [59]

Trong Luật Khiếu nại năm 2011 và Nghị định số 75/2012/NĐ-CP ngày 3/10/2012 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Khiếu nại 2011, lần đầu tiên các quy định về giải quyết khiếu nại trong ĐVSNCL tại Việt Nam được đề cập chi tiết, cụ thể Điều này đã phần nào giúp các ĐVSNCL khắc phục được những hạn chế, bất cập trong việc giải quyết khiếu nại trước đây và đạt được những kết quả nhất định

1.5 Các yếu tố tác động đến quản lý nhà nước đối với viên chức y tế

1.5.1 Hệ thống thể chế quản lý nhà nước đối với viên chức y tế

Một số chính sách lớn trong quản lý đội ngũ viên chức ngành y tế đã được đề xuất như: Xây dựng và đề xuất các chính sách để tuyển dụng, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ nhân tài; xây dựng và đề xuất các chính sách ưu đãi đối với viên chức y tế, đặc biệt là viên chức y tế làm việc ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, biên giới, hải đảo Xây dựng và ban hành quy hoạch hệ thống đào tạo y tế, bao gồm đào tạo dài hạn trước khi hành nghề và đào tạo liên tục, cập nhật kiến thức Đổi mới các chính sách về định mức biên chế viên chức y tế Hệ thống pháp luật được đồng

bộ, hoàn thiện sẽ là tiền đề, điều kiện để các đơn vị sự nghiệp và đội ngũ viên chức

Trang 33

y tế thi hành Thực tế cho thấy các văn bản quy phạm pháp luật về viên chức y tế chưa được tổng hợp thành những bộ luật bao trùm nội dung của công tác này Vì vậy, các cơ quan phải áp dụng nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau để có

cơ sở pháp lý Từ đó cần thiết xây dựng hệ thống quy định liên quan đến viên chức

y tế gắn liền với yêu cầu quản lý nhà nước

1.5.2 Năng lực thực hiện pháp luật của bộ máy quản lý nhà nước về viên chức

Năng lực quản lý của bộ máy quản lý ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý viên chức y tế Năng lực quản lý thể hiện ở việc hoạch định, đưa ra các chính sách, quyết đoán phù hợp với thực tiễn ngành cũng như từng đơn vị Đồng thời, nói lên khả năng am hiểu các chủ trương, chính sách, tuyên truyền viên chức y tế tự chấp hành các quy định pháp luật của nhà nước Mặt khác, có biện pháp và chủ động trong xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra, chấn chỉnh và xử lý kịp thời những sai phạm xảy

ra, từ đó sẽ tạo được uy tín, niềm tin trong nhân dân đối với viên chức y tế

1.5.3 Tính chất hoạt động nghề nghiệp của đội ngũ viên chức y tế

Lao động của viên chức là hoạt động nghề nghiệp mang tính phục vụ, nhằm cung cấp cho người dân các nhu cầu cơ bản, thiết yếu, không thu tiền hoặc có thu tiền nhưng không đặt mục tiêu lợi nhuận Phạm vi của các hoạt động nghề nghiệp tập trung vào các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, y tế, khoa học và công nghệ, văn hóa, thể thao, lao động, việc làm, an sinh xã hội Mỗi lĩnh vực mà viên chức làm việc

Trang 34

chỉ cung cấp và đáp ứng một loại nhu cầu cơ bản, cụ thể, ví dụ, trường học đáp ứng nhu cầu về đào tạo, bồi dưỡng; bệnh viện đáp ứng các nhu cầu về chăm sóc sức khỏe, y tế; viện nghiên cứu đáp ứng các nhu cầu về nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ vào đời sống thực tiễn Do đó, cơ chế quản lý viên chức của các đơn vị này phụ thuộc vào tính chất, đặc điểm của hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ Điều

4 Luật Viên chức nêu rõ: “Hoạt động nghề nghiệp của viên chức là việc thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ có yêu cầu về trình độ, năng lực, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ trong ĐVSNCL theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan” Gắn với các đặc điểm, tính chất của hoạt động nghề nghiệp, các quyền và nghĩa vụ của viên chức nói chung viên chức y tế nói riêng nên các quy định về quyền và nghĩa vụ của viên chức theo hướng mở hơn so với các quy định đối với cán bộ, công chức Từ đó tạo điều kiện để viên chức có thể phát huy khả năng công hiến tài năng, sức sáng tạo trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế

1.5.4 Tổ chức và hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập

ĐVSNCL là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của NN thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ ĐVSNCL Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch là Trường Đại học công lập,

là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và chịu sự quản lý về giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo; Trường là cơ sở đào tạo đa cấp các ngành học thuộc nhóm ngành khoa học sức khỏe Trường có tư cách pháp nhân,

có con dấu riêng, có trụ sở đóng tại thành phố Hồ Chí Minh, được giao quyền tự chủ một phần, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế

và tự chủ về tài chính, bảo đảm một phần chi phí hoạt động thường xuyên theo phân cấp của Ủy ban Nhân dân thành phố để thực hiện chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ được giao, đồng thời chịu trách nhiệm và chịu sự kiểm tra, thanh tra, giám sát của

Ủy ban Nhân dân thành phố, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền về hoạt động của mình

Trang 35

Như các ĐVSNCL khác, nguồn thu chủ yếu của Trường là từ ngân sách nhà nước cấp và học phí, chiếm 95.9% tổng thu Nguồn thu từ nguồn xã hội hóa công tác đào tạo và các nguồn thu khác còn thấp Do vậy, việc đầu tư cho cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, chi cho thu nhập tăng thêm của viên chức, quỹ phúc lợi, quỹ khen thưởng còn hạn chế đã không thúc đẩy được động lực làm việc của đội ngũ viên chức của Trường

Vừa qua Chính phủ đã ban hành Chương trình hành động thực hiện thông báo kết luận của Bộ Chính trị về Đề án “Đổi mới cơ chế hoạt động của các ĐVSNCL, đẩy mạnh xã hội hóa một số loại hình dịch vụ sự nghiệp công.” Theo đó,

NN tiếp tục giữ vai trò chủ đạo, tăng cường đầu tư cho xây dựng cơ sở vật chất các hoạt động sự nghiệp công cơ bản và thực hiện cơ cấu lại chi thường xuyên ngân sách NN đối với các hoạt động cung cấp dịch vụ sự nghiệp công theo hướng ngân sách nhà nước bảo đảm kinh phí hoạt động thường xuyên đối với các đơn vị sự nghiệp công Việc thay đổi cơ bản phương thức hỗ trợ từ ngân sách NN trong cung cấp dịch vụ sự nghiệp công, từ bước chuyển từ giao dự toán ngân sách cho các đơn

vị cung cấp dịch vụ sự nghiệp công như hiện nay sang thực hiện phương thức đặt hàng Điều này sẽ giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đồng bộ cả về tổ chức thực hiện nhiệm vụ, nhân lực, tài chính, tài sản cho các ĐVSNCL trong đó có Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch

Để phát huy tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của ĐVSNCL trong việc thực hiện nhiệm vụ quản lý đội ngũ viên chức, góp phần cải cách khu vực sự nghiệp dịch

vụ công, hiện nay Luật Viên chức 2010 đã quy định các nguyên tắc bảo đảm quyền chủ động và đề cao trách nhiệm của người đứng đầu ĐVSNCL trong tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức QLNN về đội ngũ viên chức, đồng thời giao thẩm quyền hoặc tiến hành phân cấp cho người đứng đầu ĐVSNCL trong việc quản lý viên chức

Trang 36

1.5.5 Sự tham gia của nhân dân vào hoạt động quản lý nhà nước đối với đội ngũ viên chức y tế

Sự tham gia của nhân dân vào hoạt động quản lý nhà nước không chỉ đòi hỏi

từ sự hội nhập mà quan trọng hơn là từ chính yêu cầu của công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế thị trường, dân chủ hóa đời sống xã hội và của bản thân Nhà nước Mở rộng sự tham gia mạnh mẽ của người dân vào các quá trình ra quyết định, các hoạt động quản lý nhà nước sẽ đóng góp quan trọng cho việc xây dựng một xã hội công bằng và dân chủ, ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện hiện nay Nhân dân tham gia quản lý NN là nguyên tắc hiến định được NN thừa nhận và bảo đảm thực hiện Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân, Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Chính phủ, Luật tổ chức chính quyền địa phương, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật khiếu nại, Luật tố cáo, Luật phòng, chống tham nhũng,… đã quy định cụ thể các điều kiện, hình thức, phương thức để nhân dân tham gia vào hoạt động quản lý của NN (như việc các đại biểu dân cử, các

cơ quan NN phải tiếp nhận và giải quyết những đề xuất, kiến nghị, khiếu nại của người dân, tiếp thu các ý kiến đóng góp vào các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành, các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội…) Nhân dân tham gia QLNN đảm bảo tính khách quan trong công tác QLNN nói chung và quản lý hành chính nói riêng, giúp nhân dân hiện thực hóa địa vị pháp lý cũng như thể hiện nguyện vọng chính đáng, phát huy vai trò làm chủ của mình trong công tác QLNN Nhân dân không chỉ có quyền giám sát đối với hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước; thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo mà còn có quyền tự mình tham gia vào hoạt động quản lý NN, trực tiếp thể hiện quyền lợi của mình Có cơ chế chính sách bảo vệ và đãi ngộ đặc biệt với những người có tinh thần trách nhiệm, mạnh dạn phản ảnh những hành vi sai phạm của đội ngũ viên chức y tế, nhờ đó mà cơ quan QLNN đã kịp thời phát hiện và xử lý hiệu quả

Trang 37

Kết luận chương 1

Trong chương 1, luận văn đã trình bày những vấn đề lý luận và pháp lý của QLNN đối với viên chức y tế QLNN đối với viên chức y tế có vai trò quan trọng trong việc xây dựng và phát triển đội ngũ viên chức y tế ở thành phố nói chung và ở Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch nói riêng hiện nay và việc tăng cường quản lý NN đối với viên chức y tế tại các ĐVSNCL khác là thực sự cần thiết Quản

lý về viên chức y tế gồm những nội dung cơ bản như: xây dựng vị trí việc làm; lập quy hoạch, kế hoạch xây dựng và phát triển đội ngũ viên chức y tế; thực hiện chế độ tiền lương, chính sách đãi ngộ đối với viên chức y tế; đào tạo, bồi dưỡng viên chức

y tế; thực hiện việc khen thưởng, kỷ luật viên chức y tế; thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về quản lý NN

Thực hiện theo Nghị định 29/2012/NĐ-CP ngày 12 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức và Nghị định số 161/2018/NĐ-CP ngày 28 tháng 11 năm 2018 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số quy định về tuyển dụng công chức, viên chức, nâng ngạch công chức, thăng hạng viên chức và thực hiện chế độ hợp đồng một số loại công việc trong cơ quan hành chính NN, ĐVSNCL, việc nghiên cứu lý luận QLNN đối với viên chức y

tế tạo cơ sở lý luận để thực hiện các nội dung nghiên cứu ở những chương tiếp theo của luận văn

Trang 38

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI VIÊN CHỨC Y TẾ TỪ THỰC TIỄN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y KHOA PHẠM NGỌC THẠCH 2.1 Tổng quan về đội ngũ viên chức Y tế tại Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch

2.1.1 Khái quát về Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch

Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch được thành lập ngày 07/01/2008 trên cơ sở tổ chức lại Trung tâm Đào tạo Bồi dưỡng Cán bộ Y tế TP HCM Trước đây, ngay từ khi thành lập năm 1989, Trung tâm Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Y tế Thành phố

Hồ Chí Minh được giao nhiệm vụ như một Trường Đại học Y của Thành phố Hồ Chí Minh, nên trong suốt quá trình phát triển 30 năm, Trung tâm Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ

Y tế Thành phố Hồ Chí Minh trước đây và nay là Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch đã đào tạo và cung cấp hàng ngàn bác sĩ đa khoa chính qui tham gia vào hệ thống y tế của Thành phố, bên cạnh đó, trường cũng đã cung cấp hơn 8.000 điều dưỡng

và trên 500 bác sĩ tuyến y tế cơ sở (hệ đại học y tập trung 4 năm) bổ sung cho nguồn nhân lực y tế cho vùng sâu vùng xa của các tỉnh thành phía Nam từ Đà Nẵng trở vào Các sản phẩm của Trường được xã hội chấp nhận và đánh giá khá cao, mà bằng chứng

là mỗi năm, Trường nhận được số nhiệm sở yêu cầu từ các đơn vị y tế của Thành phố

và đơn vị Trung ương đóng trên địa bàn Thành phố gấp 5 lần số bác sĩ và gấp 4 lần số điều dưỡng tốt nghiệp Bên cạnh đó, Trường cũng bồi dưỡng sau đại học cho hàng ngàn bác sĩ các chuyên khoa như chẩn đoán hình ảnh, gây mê hồi sức, tai mũi họng…

Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch là trường đại học công lập nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân của nước ta, do Thủ tướng Chính phủ ra quyết định thành lập Trường chịu sự quản lý trực tiếp của UBND Thành phố Hồ Chí Minh, chịu sự quản lý nghiệp vụ của Bộ Giáo dục và Đào tạo

Trong 5 năm qua, hệ đại học từ 5 ngành đào tạo, là ngành Bác sĩ đa khoa, cử nhân Điều dưỡng, cử nhân Kỹ thuật hình ảnh, cử nhân Xét nghiệm, cử nhân Khúc

xạ nhãn khoa (KXNK), trường đã phát triển thêm 4 ngành mới là Bác sĩ Răng Hàm Mặt,Cử nhân Y tế Công cộng, Dược sĩ và Cử nhân Dinh dưỡng Ngoài ra, trong

Trang 39

ngành đào tạo cử nhân điều dưỡng phát triển thêm các chuyên ngành Gây mê hồi sức, Cấp cứu trước bệnh viện, Hộ sinh, Phục hồi chức năng Đây là những ngành đào tạo nhân lực y tế hết sức cần thiết để đáp ứng với nhu cầu bức thiết của hệ thống y tế Thành phố Từ năm 2017, trường đã mở rộng đào tạo cho toàn quốc (chỉ tiêu cho Thành phố chỉ còn khoảng 400 – 500/năm) để vừa đáp ứng với nhu cầu thực của Thành phố sau năm 2020, vừa hỗ trợ đào tạo nhân lực cho các tỉnh như một biện pháp chủ động giảm tải áp lực cho Tp.HCM Từ năm 2015 đến nay, trường đã cung cấp số nhân lực y tế khá lớn (4.777 sinh viên tốt nghiệp tất cả các ngành) cho hệ thống y tế Thành phố trong đó, riêng BS đa khoa tăng từ 371 lên đến

748 (năm 2019) và dự kiến năm 2020 sẽ cung cấp thêm khoảng 1000 BS

Ngoài ra, chương trình liên kết đào tạo với Đại học Johannes Gutenberg (Mainz, CHLB Đức) tại Khoa Y Việt - Đức cũng đã hoàn thành một chu trình đào tạo 6 năm với những thành quả đáng khích lệ mà phải kể đến là sự vào cuộc của Cơ quan Khảo thí Y Dược của Liên Bang Đức, và với khóa đầu có 26 SV (năm 2018)

và 11SV (2019) đạt kỳ thi M2 và sang Đức học năm thực hành lâm sàng Cả 26 sinh viên đã tốt nghiệp kỳ thi M3 tại Đức vào tháng 2/2020 và đến tháng 5/2020 tất

cả đều được cấp chứng chỉ hành nghề tại Đức và tiếp tục học tập nâng cao trình độ tại Đức

Để đáp ứng với các nhiệm vụ đó, trường đã không ngừng phát triển nhanh về đội ngũ giảng viên và cơ sở vật chất Hiện tại trường có 70 bộ môn với 573 giảng viên cơ hữu, trong đó có 02 giáo sư, 19 phó giáo sư, 78 tiến sĩ, 258 thạc sĩ và nhiều bác sĩ chuyên khoa cấp I, II Trường có cơ sở vật chất tương đối tốt tọa lạc trên 2 ha đất ở Trung tâm Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, với hệ thống giảng đường và các labo trang bị hiện đại, trong đó, có những labo tiên tiến hàng đầu như phòng thí nghiệm vật liêu sinh học, phòng thí nghiệm hóa sinh - sinh học phân tử, phòng thí nghiệm giải phẫu học và trong tương lai gần, với sự quan tâm đầu tư của UBND Thành phố Hồ Chí Minh, nhiều dự án đầu tư lớn sẽ được triển khai Trường có một

hệ thống bệnh viện thực hành bao gồm 24 bệnh viện đa khoa - viện chuyên khoa trực thuộc Thành phố và một hệ thống cơ sở thực địa cộng đồng khá hoàn chỉnh

Trang 40

Hiện nay, Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch có 13 Phòng, 01 ban, 01 Trạm

Y tế, 07 khoa và 03 Trung tâm trực thuộc

2.1.2 Tình hình đội ngũ viên chức y tế tại Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch

Nhà Trường xây dựng đội ngũ viên chức có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt và các đơn vị đoàn kết, thống nhất, năng động, sáng tạo, không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ trong đội ngũ viên chức Trường đã tích cực thực hiện công tác thu hút, luân chuyển viên chức có trình độ sau đại học cùng với việc khuyến khích cho các viên chức học tập nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại và đảm bảo yếu tố chiến lược trong kế hoạch phát triển tương lai

Sau hơn 10 năm kể từ sau khi có quyết định thành lập (2008), trường đã có nhiều bước phát triển trên nhiều mặt: phát triển đội ngũ về cả số lượng 630 người năm 2015 lên 786 người tại thời điểm 31/5/2020 với 02 Giáo sư, 19 Phó Giáo sư, 78 Tiến sĩ, đạt tỷ lệ quy đổi 1 giảng viên/10 sinh viên; phát triển về cơ sở vật chất với đầy đủ giảng đường, các phòng thí nghiệm có chất lượng, trang thiết bị tốt, đảm bảo cho việc dạy - học; phát triển về đào tạo, phương pháp dạy - học và đánh giá; phát triển về hợp tác quốc tế, nghiên cứu khoa học

Bảng 2.1 Thực trạng viên chức, người lao động tại Trường Đại học Y khoa

(Nguồn: Phòng Tổ chức cán bộ, Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch)

Thực trạng đội ngũ cán bộ, giảng viên tại Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch tại bảng 2.1 cho thấy có 457 viên chức đang công tác tại Trường chiếm 58,14% tổng số cán bộ, viên chức và người lao động của Nhà trường

Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch luôn quan tâm đến việc nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức, giai đoạn 2015 - 2020, số lượng cán bộ, viên chức có

Ngày đăng: 30/03/2022, 17:37

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

I.1.3. Khái quát quá trình hình thành, sản xuất kinh doanh trong những năm qua - (LUẬN văn THẠC sĩ) quản lý nhà nước đối với viên chức y tế từ thực tiễn trường đại học y khoa phạm ngọc thạch, thành phố hồ chí minh
1.3. Khái quát quá trình hình thành, sản xuất kinh doanh trong những năm qua (Trang 4)
Bảng tổng hợp xuất kho nguyên vật liệu - (LUẬN văn THẠC sĩ) quản lý nhà nước đối với viên chức y tế từ thực tiễn trường đại học y khoa phạm ngọc thạch, thành phố hồ chí minh
Bảng t ổng hợp xuất kho nguyên vật liệu (Trang 32)
Bảng 2.3. Kết quả khảo sát về thực trạng đội ngũ viên chức y tế tại Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch - (LUẬN văn THẠC sĩ) quản lý nhà nước đối với viên chức y tế từ thực tiễn trường đại học y khoa phạm ngọc thạch, thành phố hồ chí minh
Bảng 2.3. Kết quả khảo sát về thực trạng đội ngũ viên chức y tế tại Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch (Trang 41)
Bảng 2.2. Trình độ chuyên môn của đội ngũ viên chức và người lao động Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch - (LUẬN văn THẠC sĩ) quản lý nhà nước đối với viên chức y tế từ thực tiễn trường đại học y khoa phạm ngọc thạch, thành phố hồ chí minh
Bảng 2.2. Trình độ chuyên môn của đội ngũ viên chức và người lao động Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch (Trang 41)
T Nội dung Thang đánh giá ĐTB - (LUẬN văn THẠC sĩ) quản lý nhà nước đối với viên chức y tế từ thực tiễn trường đại học y khoa phạm ngọc thạch, thành phố hồ chí minh
i dung Thang đánh giá ĐTB (Trang 44)
Bảng 2.5. Kết quả khảo sát về quản lý xây dựng VTVL, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp đối với viên chức y tế tại  Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc - (LUẬN văn THẠC sĩ) quản lý nhà nước đối với viên chức y tế từ thực tiễn trường đại học y khoa phạm ngọc thạch, thành phố hồ chí minh
Bảng 2.5. Kết quả khảo sát về quản lý xây dựng VTVL, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp đối với viên chức y tế tại Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc (Trang 44)
Bảng 2.6. Kết quả khảo sát công tác tuyển dụng viên chức y tế tại Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch - (LUẬN văn THẠC sĩ) quản lý nhà nước đối với viên chức y tế từ thực tiễn trường đại học y khoa phạm ngọc thạch, thành phố hồ chí minh
Bảng 2.6. Kết quả khảo sát công tác tuyển dụng viên chức y tế tại Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch (Trang 48)
Bảng 2.7. Kết quả hoạt động cử đi đào tạo đối với viên chức, người lao động của Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch - (LUẬN văn THẠC sĩ) quản lý nhà nước đối với viên chức y tế từ thực tiễn trường đại học y khoa phạm ngọc thạch, thành phố hồ chí minh
Bảng 2.7. Kết quả hoạt động cử đi đào tạo đối với viên chức, người lao động của Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch (Trang 50)
Bảng 2.8. Kết quả khảo sát về công tác quản lý đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế tại Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch - (LUẬN văn THẠC sĩ) quản lý nhà nước đối với viên chức y tế từ thực tiễn trường đại học y khoa phạm ngọc thạch, thành phố hồ chí minh
Bảng 2.8. Kết quả khảo sát về công tác quản lý đào tạo, bồi dưỡng viên chức y tế tại Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch (Trang 51)
Bảng 2.9. Kết quả khảo sát về thực trạng nâng bậc lương và phụ cấp đối với viên chức y tế tại Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch - (LUẬN văn THẠC sĩ) quản lý nhà nước đối với viên chức y tế từ thực tiễn trường đại học y khoa phạm ngọc thạch, thành phố hồ chí minh
Bảng 2.9. Kết quả khảo sát về thực trạng nâng bậc lương và phụ cấp đối với viên chức y tế tại Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch (Trang 53)
Kết quả thực hiện việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại cán bộ viên chức y tế tại bảng 2.11  cho  thấy  năm  2017,  2018,  Nhà  trường  đã  thực  hiện  việc  bổ  nhiệm  rất  nhiều  chức vụ khác nhau cho 27 cán bộ năm 2017 và 28 cán bộ năm 2018 - (LUẬN văn THẠC sĩ) quản lý nhà nước đối với viên chức y tế từ thực tiễn trường đại học y khoa phạm ngọc thạch, thành phố hồ chí minh
t quả thực hiện việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại cán bộ viên chức y tế tại bảng 2.11 cho thấy năm 2017, 2018, Nhà trường đã thực hiện việc bổ nhiệm rất nhiều chức vụ khác nhau cho 27 cán bộ năm 2017 và 28 cán bộ năm 2018 (Trang 55)
Bảng 2.12. Kết quả khảo sát về công tác thi đua, khen thưởng, kỷ luật đối với viên chức y tế tại Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch - (LUẬN văn THẠC sĩ) quản lý nhà nước đối với viên chức y tế từ thực tiễn trường đại học y khoa phạm ngọc thạch, thành phố hồ chí minh
Bảng 2.12. Kết quả khảo sát về công tác thi đua, khen thưởng, kỷ luật đối với viên chức y tế tại Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch (Trang 58)
Bảng 2.13. Kết quả khảo sát về công tác khiếu nại, tố cáo đối với viên chức y tế tại Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch - (LUẬN văn THẠC sĩ) quản lý nhà nước đối với viên chức y tế từ thực tiễn trường đại học y khoa phạm ngọc thạch, thành phố hồ chí minh
Bảng 2.13. Kết quả khảo sát về công tác khiếu nại, tố cáo đối với viên chức y tế tại Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch (Trang 60)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w