1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN văn THẠC sĩ) thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án mua bán trái phép chất ma túy từ thực tiễn thành phố biên hòa, tỉnh đồng nai

90 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Mai Đắc Biên 2018, Những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử tội phạm về ma túy; Kỷ yếu Hội thảo khoa học Học viện Công an nhân dân, Hà Nội; - Lại

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN NAM THẮNG

THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA

VỤ ÁN MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY TỪ THỰC TIỄN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN NAM THẮNG

THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA

VỤ ÁN MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY TỪ THỰC TIỄN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là đề tài nghiên cứu khoa học của cá nhân tôi Những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn đảm bảo tính chính xác, trung thực, được thu thập trong quá trình học tập và công tác tại đơn vị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, không trùng lặp với các đề tài khác cùng lĩnh vực đã được công bố trước đây

Tác giả luận văn

Nguyễn Nam Thắng

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT

VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY 7

1.1 Những vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án mua bán trái phép chất ma túy 7 1.2 Quy định của pháp luật về thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án mua bán trái phép chất ma túy 23 Tiểu kết chương 1 29

Chương 2 THỰC TIỄN THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI 30

2.1 Tình hình đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội và tình hình tội phạm ảnh hưởng đến thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án Mua bán trái phép chất ma túy tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai 30 2.2 Thực tiễn thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án Mua bán trái phép chất ma túy tại Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai 33 Tiểu kết chương 2 51

Chương 3 YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA

VỤ ÁN MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY TẠI THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI 52

3.1 Yêu cầu nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn thành phố Biên

Trang 5

3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai 56 Tiểu kết chương 3 69

KẾT LUẬN 71 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1

PHỤ LỤC 2

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Số liệu tin báo, nguồn tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố tiếp nhận và vụ

án hình sự khởi tố từ năm 2015 đến năm 2019 82

Bảng 2.2 Bảng so sánh tỷ lệ án ma túy đã khởi tố tại thành phố Biên Hòa, tỉnh

Đồng Nai giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2019 82

Bảng 2.3 Bảng số liệu số vụ án hình sự và vụ án ma túy đã khởi tố tại thành phố

Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2019 83

Bảng 2.4 Bảng so sánh tình hình áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam

tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2019 83

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tình hình tội phạm về ma túy ngày càng diễn biến phức tạp, với sự gia tăng

về số lượng tội phạm, quy mô phạm tội và xu hướng trẻ hóa đặt ra những thách thức lớn đối với tình hình chính trị xã hội và ảnh hướng đến đời sống của người dân Đối với địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai cũng đối mặt với những ảnh hưởng của loại tội phạm này Thành phố Biên Hòa là một thành phố với nhiều khu công nghiệp lớn, tập trung số lượng lớn người lao động nhập cư, địa bàn rộng nên thường xuyên là điểm nóng về tội phạm, đặc biệt là tội phạm về mua túy chiếm tỷ lệ cao Việc xử lý tội phạm này giúp ổn định tình hình chính trị địa phương, luôn được các cấp chính quyền quan tâm, vì thế đặt ra những yêu cầu nâng cao chất lượng trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm đối với các cơ quan tiến hành tố tụng Các loại tội phạm về ma túy cần được phát hiện, điều tra, truy tố xét xử nhanh chóng, kịp thời, đặc biệt là tội mua bán trái phép chất ma túy, bởi vì việc xét xử nghiêm minh loại tội phạm này góp phần lớn trong việc ngăn ngừa các loại tội phạm ma túy khác xảy ra

Để phòng ngừa và ngăn chặn tệ nạn ma túy gây ra, chúng ta đã có một hệ thống pháp luật tương đối đầy đủ như Luật Phòng, Chống ma túy, các quy định về

xử lý vi phạm hành chính đối với các hành vi liên quan đến ma túy, các quy định pháp luật hình sự đối với các tội phạm về ma túy… Trong hoạt động tư pháp, một trong những hoạt động mang tính chất phòng ngừa tội phạm đó là hoạt động xử lý hình sự các đối tượng mua bán trái phép chất ma túy, mang tính răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội Để hoạt động này mang lại hiệu quả cần có sự phối hợp trong công tác điều tra, truy tố, xét xử các tội phạm mua bán trái phép chất ma túy

Đối với vai trò của VKS, chức năng THQCT là một chức năng quan trọng bên cạnh chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp, nếu thực hiện tốt chức năng THQCT trong các vụ án mua bán trái phép chất ma túy, đặc biệt là giai đoạn điều tra, sẽ giúp cho quá trình giải quyết vụ án được chính xác, khách quan, toàn diện, đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong việc không bỏ lọt tội phạm và không làm oan

Trang 9

sai người vô tội Tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, trong công tác THQCT trong hoạt động điều tra vụ án mua bán trái phép chất ma túy vẫn còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như việc gắn hoạt động THQCT với hoạt động điều tra đôi khi chưa thực sự đáp ứng đẩy đủ yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm; vẫn còn tình trạng một vài KSV thiếu tính chủ động trong công tác THQCT, việc đề ra yêu cầu điều tra đôi khi còn sơ sài, mang tính hình thức, không cụ thể dẫn đến không định hướng cho hoạt động điều tra, dẫn đến hoạt động điều tra còn hạn chế, vẫn còn tình trạng phải gia hạn thời hạn điều tra vì một số nguyên nhân chủ quan có thể khắc phục được, vẫn còn tình trạng trả hồ sơ để điều tra bổ sung…Những vấn đề này cần được phân tích, nghiên cứu để có những giải pháp khắc phục để nâng cao hiệu quả THQCT Do đó việc nghiên cứu đề tài này đem lại ý nghĩa thực tiễn đối với công tác đấu tranh phòng chống nhóm tội phạm ma túy nói chung và tội phạm mua bán trái phép chất ma túy nói riêng trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, từ đó góp phần nâng cao chất lượng THQCT, đặc biệt trong giai đoạn điều tra,

là giai đoạn mang tính chất quan trọng và tạo nền tảng cho các hoạt động tố tụng sau này

Từ những lý do đã nêu trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Thực hành quyền công

tố trong giai đoạn điều tra vụ án mua bán trái phép chất ma túy từ thực tiễn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai” để làm nội dung nghiên cứu cho Luận văn Thạc sỹ Luật học hoàn toàn phù hợp, mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn, vừa có tính thời sự cao, từ đó góp phần nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án mua bán trái phép chất ma túy tại địa phương thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Hoạt động thực hành quyền công tố của VKSND nói chung và trong vụ án mua bán trái phép chất ma túy nói riêng là vấn đề đã được nhiều tác giả nghiên cứu, như:

- Lê Hữu Thể (2005), Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư

pháp trong giai đoạn điều tra, Nxb Tư pháp, Hà Nội

Trang 10

- Phan Hoàng Tân (2011), Thực tiễn áp dụng pháp luật trong hoạt động thực

hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra của Viện kiểm sát nhân dân ở tỉnh Điện Biên, Luận văn thạc sĩ Luật học, Hà Nội

- Bùi Mạnh Cường (2012), Gắn công tố với hoạt động điều tra trong tố tụng

hình sự theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ Luật học, Hà Nội

- Nguyễn Mạnh Tùng (2017), Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra

các vụ án về ma tuý ở thành phố Hà Nội; Luận văn thạc sỹ luật học, Trường Đại

học Luật Hà Nội;

- Hà Minh Loan (2018), Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra

các tội phạm về ma tuý trên địa bàn Huyện Văn Chân, Tỉnh Yên Bái; Luận văn thạc

sỹ luật học, Học viện Khoa học Xã hội – Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam,

2017

- Mai Đắc Biên (2018), Những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động khởi

tố, điều tra, truy tố, xét xử tội phạm về ma túy; Kỷ yếu Hội thảo khoa học Học viện

Công an nhân dân, Hà Nội;

- Lại Viết Quang (2018), Áp dụng biện pháp cưỡng chế trong điều tra tội

phạm về ma túy; Kỷ yếu Hội thảo khoa học Học viện Công an nhân dân, Hà Nội;

- Trần Công Phàn (2019), Điều tra và truy tố các tội phạm về ma túy theo

pháp luật mới; sách chuyên khảo, NXB Công an nhân dân, Hà Nội;

- Nguyễn Thành Nhân (2019), Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều

tra các vụ án về ma túy theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương; Luận văn thạc sỹ luật học, Học viện khoa học

xã hội, Hà Nội;

- Trần Thị Minh Hảo (2019), Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều

tra các tội phạm về ma túy từ thực tiễn tỉnh Quảng Ninh; Luận văn thạc sỹ luật học,

Học viện khoa học xã hội, Hà Nội;

- Nguyễn Ngọc Phụng (2019), Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều

Trang 11

thạc sỹ luật học, Học viện khoa học xã hội, Hà Nội;

Tuy nhiên, cho đến thời điểm viết luận văn này, hiện chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu về thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ

án mua bán trái phép chất ma túy tại địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai Vì vậy luận văn này sẽ tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn tại địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai để đưa ra những yêu cầu, giải pháp hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng THQCT của loại tội phạm này trong giai đoạn điều tra

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Làm rõ mặt lý luận, các quy định pháp luật và hoạt động thực tiễn tại địa phương, từ đó phân tích được thực trạng, những tồn tại, hạn chế để có hướng đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng THQCT trong giai đoạn điều tra các vụ án mua bán trái phép chất ma túy nói chung và địa bàn thành phố Biên Hòa nói riêng

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Thứ nhất, phân tích những vấn đề lý luận như các khái niệm, đối tượng, phạm vi, các nhiệm vụ, quyền hạn và vai trò của KSV trong công tác THQCT trong giai đoạn điều tra các vụ án mua bán trái phép chất ma túy;

Thứ hai, phân tích, đánh giá thực tiễn quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật trong công tác THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, từ đó đúc kết được những mặt đã đạt được, những mặt chưa đạt được, hạn chế cần khắc phục;

Thứ ba, nêu được những yêu cầu đặt ra nhằm nâng cao chất lượng THQCT trong giai đoạn điều tra các vụ án mua bán trái phép chất ma túy và đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố nói chung và cụ thể đối với VKSND thành phố Biên Hòa

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận, quy định pháp luật và thực tiễn

Trang 12

hoạt động THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án mua bán trái phép chất ma túy tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nội dung nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu, đánh giá, khảo sát thực tiễn áp dụng các quy định về công tác THQCT của VKS trong giai đoạn điều tra các vụ án mua bán trái phép chất ma túy theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

Phạm vi về thời gian: Nghiên cứu trong khoảng thời gian 05 năm từ năm

2015 -2019

Phạm vi về không gian: Tập trung nghiên cứu tại địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, đồng thời có mở rộng thu thập một số thông tin số liệu các tội phạm ma túy trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Đề tài Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa Mác-Lênin; Tư tưởng Hồ Chí Minh; các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, cụ thể là quan điểm của Đảng về cải cách tư pháp theo Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 và Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị; chính sách pháp luật của Nhà nước nói chung và các chính sách pháp luật của ngành Kiểm sát nói riêng trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm ma túy

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng tổng thể các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp diễn dịch, phương pháp quy nạp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, phương pháp thống kê tội phạm để làm rõ các nội dung của Luận văn

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận của luận văn

Luận văn giúp làm sáng tỏ vấn đề lý luận THQCT trong giai đoạn điều tra các vụ án mua bán trái phép chất ma túy như khái niệm, đặc điểm pháp lý của tội

Trang 13

phạm này, nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong việc THQCT… Luận văn có thể sử dụng như một tài liệu tham khảo trong công tác nghiên cứu pháp luật, học tập cho những ai quan tâm đến hoạt động THQCT của VKS

6.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn

Từ việc nghiên cứu thực tiễn địa phương, luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ việc đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng THQCT trong giai đoạn điều tra các vụ án, đặc biệt là các vụ án mua bán trái phép chất ma túy của VKS cấp huyện Luận văn cũng có thể sử dụng như một tài liệu giúp cho các nhà lãnh đạo ngành kiểm sát định hướng trong công tác tổ chức, quản lý, đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ; hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án mua bán trái phép chất ma túy

7 Kết cấu của luận văn

Luận văn được kết cấu thành 03 chương, bao gồm cả các phần mục lục, mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, gồm:

Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án mua bán trái phép chất ma túy

Chương 2: Thực tiễn thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

Chương 3: Yêu cầu và giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền công

tố trong giai đoạn điều tra vụ án mua bán trái phép chất ma túy tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

Trang 14

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN MUA BÁN

Cho đến nay, khái niệm “Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra

vụ án mua bán trái phép chất ma túy” chỉ được nói đến trong các công trình nghiên cứu khoa học Khái niệm này là tập hợp các khái niệm nhỏ ghép lại với nhau, tác giả chia khái niệm này thành các khái niệm nhỏ để phân tích đó là khái niệm “quyền công tố”, “thực hành quyền công tố”, khái niệm “vụ án mua bán trái phép chất ma túy”, khái niệm “giai đoạn điều tra vụ án mua bán trái phép chất ma túy” Từ đó tổng hợp một cách đầy đủ, toàn diện để đưa ra khái niệm “THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án mua bán trái phép chất ma túy”

1.1.1.1 Khái niệm “quyền công tố” và “thực hành quyền công tố”

Theo Đại từ điển Tiếng Việt, “Công” được hiểu là “thuộc về Nhà nước”,

mang yếu tố công cộng, thuộc tính chung xã hội, trái ngược với “tư” là thuộc về cá

nhân, cái riêng “Tố” được hiểu là “trình bày công khai cho mọi người biết việc làm

sai trái, phạm pháp của người phạm tội khác” “Công tố” là “điều tra, truy tố, buộc tội kẻ phạm pháp và phát biểu ý kiến trước tòa án” [36, tr 459]

Từ điển Luật học cho rằng công tố là “quyền buộc tội nhân danh Nhà nước

đối với người phạm tội… được xem xét trong mối liên hệ với lĩnh vực pháp luật…, không thể tách rời với việc nhân danh Nhà nước chống lại hình thức vi phạm pháp luật nghiêm trọng (tội phạm), đó là lĩnh vực tố tụng hình sự” [51, tr 188]

Theo từ điển Oxford, công tố (prosecution) được hiểu là quá trình thực hiện một loạt hoạt động pháp lý để chứng minh trước Tòa án rằng một người nào đó

Trang 15

phạm tội, là hoạt động chính thức cho việc buộc tội một hành vi phạm pháp [13]

Có thể hiểu rằng quyền công tố là quyền lực để cơ quan có thẩm quyền thực hiện các thủ tục tố tụng đã được quy định để buộc tội hành vi phạm pháp trước cơ quan xét xử là Tòa án

Trong nghiên cứu khoa học, có một số ý kiến khác nhau về quyền công tố, nổi bật là các quan điểm:

Quan điểm thứ nhất: Quyền công tố là quyền lực của VKS thay cho Nhà nước bảo vệ lợi ích công khi xảy ra các hành vi vi phạm pháp luật Có nghĩa là VKS đại diện cho Nhà nước đưa các vụ việc vi phạm pháp luật trên các lĩnh vực ra Tòa

án để xét xử, nhằm bảo vệ lợi ích của chính Nhà nước và trật tự xã hội, trật tự pháp luật [26, tr.85-86] Theo quan điểm này, VKS THQCT trên nhiều lĩnh vực không chỉ hình sự mà còn là dân sự, kinh tế và hoạt động tư pháp

Quan điểm thứ hai: Công tố chỉ là hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật, không phải là một chức năng riêng biệt của VKS Quyền công tố là “quyền nhân danh Nhà nước kiểm sát tính hợp pháp của quá trình điều tra tội phạm, nhằm truy tố và buộc tội người phạm tội ra Tòa án để xét xử đúng người, đúng tội, đúng luật, đảm bảo lợi ích xã hội, lợi ích Nhà nước và đặc biệt là quyền tự

do của con người” [9, tr.1-12] Theo quan điểm này, giữa THQCT và kiểm sát sự tuân theo pháp luật là quan hệ giữa cái riêng và cái chung, quan điểm này dựa trên

lý luận của các nhà TTHS học Xô Viết, phổ biến trong giai đoạn trước khi Hiến pháp năm 1980 quy định cụ thể hơn về THQCT của VKS

Quan điểm thứ ba: Quyền công tố là quyền lực của Nhà nước giao cho các

cơ quan cụ thể để thực hiện việc khởi tố, điều tra và truy tố người phạm tội ra trước tòa án để xét xử và buộc tội trước phiên tòa [25, tr.204] Quan điểm này được phổ biến trong các Nhà nước có sự phân chia quyền lực

Quan điểm thứ tư: Quyền công tố là quyền lực của Nhà nước giao cho VKS thực hiện các hoạt động truy tố người phạm tội trước Tòa án, buộc tội người đó tại phiên tòa với tội danh cụ thể bằng quá trình chứng minh có căn cứ và đúng pháp luật được thể hiện trong bản cáo trạng Những người có quan điểm này cho rằng

Trang 16

đây là quan điểm phù hợp nhất với lý luận và thực tiễn hoạt động của VKS [24, tr.86-88]

Do có nhiều quan điểm khác nhau như đã nêu nên khái niệm quyền công tố tùy thuộc vào mỗi quan điểm cũng khác nhau về phạm vi giới hạn không gian, thời gian Đa số các quan điểm đều cho rằng quyền công tố có phạm vi về mặt không gian trong lĩnh vực tố tụng hình sự, một số quan điểm lại cho rằng quyền công tố có phạm vi trong tất cả lĩnh vực tư pháp, từ tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, lao động, kinh tế… Về phạm vi thời gian, chưa có sự thống nhất về thời điểm bắt đầu và kết thúc của quyền công tố, ví dụ trong lĩnh vực tố tụng hình sự, có quan điểm cho rằng quyền công tố bắt đầu từ giai đoạn điều tra, cho đến truy tố và xét xử, có quan điểm cho rằng chỉ có ở giai đoạn xét xử

Tổng hợp các quan điểm khoa học, tác giả xin đưa ra khái niệm về quyền

công tố như sau: Quyền công tố là quyền lực Nhà nước, được Nhà nước trao cho cơ

quan công tố (VKS), đại diện Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự và truy tố, buộc tội đối với người phạm tội

Đối với khái niệm “thực hành quyền công tố”, đây là khái niệm liên quan mật thiết với khái niệm “quyền công tố” Khi xảy ra hành vi phạm tội, Nhà nước phải truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội đó Điều này làm phát sinh quyền công tố và cơ quan công tố là VKS phải sử dụng chức năng của mình để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Theo

từ điển Luật học: “THQCT là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc

nội dung quyền công tố để truy cứu TNHS đối với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử” [29,tr.188] Cần lưu ý rằng tội phạm và người

phạm tội là đối tượng THQCT Khi có sự việc phạm tội xảy ra, Cơ quan công tố (VKS) phải áp dụng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định pháp luật tố tụng hình sự

để phát hiện kịp thời tội phạm, khởi tố, điều tra làm rõ tội phạm, người hoặc pháp nhân phạm tội Hoạt động này phải bắt đầu từ giai đoạn tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, kéo dài đến giai đoạn điều tra, giai đoạn truy tố, xét

xử Chủ thể THQCT là VKS mà người trực tiếp thực hiện hoạt động THQCT là

Trang 17

Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS, KSV và Kiểm tra viên, trong đó, KSV là người

có đầy đủ nhiệm vụ quyền hạn THQCT trong tất cả các hoạt động tố tụng Một số quyền hạn quan trọng thuộc về Viện trưởng, Phó Viện trưởng được Viện trưởng phân công, như ra các quyết định phê chuẩn, không phê chuẩn hoặc hủy bỏ các quyết định tố tụng trái pháp luật của CQĐT, các quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, áp dụng biện pháp ngăn chặn, quyết định truy tố Đối với KSV không phải là Viện trưởng, Phó Viện trưởng nhưng là lãnh đạo đơn vị như Trưởng phòng, Phó trưởng phòng ở VKS cấp tỉnh, Vụ trưởng, Phó Vụ trưởng ở VKSND tối cao được Lãnh đạo Viện ủy quyền được thực hiện một số thẩm quyền thuộc lãnh đạo Viện [33]

Mặc dù thuật ngữ “thực hành quyền công tố” đã được quy định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật, nhưng vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau, chưa thống nhất Qua quá trình nghiên cứu tổng hợp các quan điểm khoa học và thực tiễn quy định của pháp luật, tác giả xin đưa ra khái niệm về thực hành quyền công tố

như sau: Thực hành quyền công tố là hoạt động của VKSND trong tố tụng hình sự,

trong đó, VKSND sử dụng tổng hợp quyền lực do pháp luật quy định để truy cứu trách nhiệm hình sự, truy tố và buộc tội người phạm tội trước Tòa án, không để xảy

ra oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm, bảo đảm quyền con người, quyền công dân

Bên cạnh chức năng THQCT của VKSND, chức năng kiểm sát điều tra vụ án cũng là một chức năng vô cùng quan trọng Kiểm sát điều tra là việc VKS thực hiện các biện pháp giám sát, mục đích nhằm bảo đảm các hoạt động điều tra được tiến hành một cách đúng đắn, đầy đủ, khách quan theo đúng trình tự, thủ tục, nội dung của pháp luật quy định, không trực tiếp ra quyết định, chỉ ra kiến nghị khi có vi phạm pháp luật tố tụng xảy ra hoặc kiến nghị yêu cầu khắc phục các nguyên nhân, điều kiện dẫn đến tội phạm THQCT và kiểm sát điều tra vụ án luôn tồn tại song song từ khi khởi tố cho đến khi kết thúc việc điều tra và VKS ra quyết định truy tố, giữa hai chức năng tuy độc lập về chức năng, nhưng có tác động qua lại lẫn nhau Nếu làm tốt nhiệm vụ THQCT sẽ hỗ trợ đắc lực cho KSĐT thực hiện vai trò của mình, như tạo điều kiện cho KSĐT tiếp cận các biện pháp điều tra nhằm duy trì

Trang 18

pháp luật, phát hiện, khắc phục vi phạm pháp luật về tố tụng; làm tốt nhiệm vụ kiểm sát điều tra sẽ giúp cho công tác THQCT phát huy khả năng quyết định quá trình tố tụng, như bảo đảm việc khởi tố, yêu cầu khởi tố, quyết định áp dụng, thay đổi, hủy

bỏ các biện pháp ngăn chặn, huỷ các quyết định trái pháp luật của CQĐT một cách

có căn cứ, đúng pháp luật Như vậy, hoạt động THQCT và kiểm sát điều tra tuy hai nhưng là một, hai hoạt động này phải được tiến hành song song và hỗ trợ lẫn nhau nhằm không để bất kỳ người nào bị bắt giữ, khởi tố trái pháp luật, không để lọt tội

và không làm oan người vô tội, đảm bảo cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội phải đúng pháp luật và có căn cứ, việc điều tra được tiến hành một cách khách quan, toàn diện, chính xác và đúng pháp luật; những vi phạm pháp luật trong quá trình điều tra được phát hiện và khắc phục kịp thời

1.1.1.2 Khái niệm “vụ án mua bán trái phép chất ma túy”

Các Công ước của Liên hợp quốc về phòng, chống và kiểm soát chất ma túy vào các năm 1961, 1971 và 1988 không nêu khái niệm thế nào là chất ma túy mà chỉ liệt kê danh mục các chất ma túy bị kiểm soát Khoản 1, 2 , 3 Điều 2 Luật

phòng, chống ma túy năm 2013 đã nêu “chất ma túy là các chất gây nghiện, chất

hướng thần được quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành Chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây tình trạng nghiện đối với người sử dụng Chất hướng thần là chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện đối với người sử dụng.” Danh mục các chất gây nghiện, chất hướng thần được Chính phủ quy định

cụ thể tại Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018

Để đi đến khái niệm vụ án mua bán trái phép chất ma túy, trước tiên, chúng

ta cần tìm hiểu một số vấn đề cơ bản về tội mua bán trái phép chất ma túy Pháp luật Hình sự Việt Nam quy định cụ thể về tội danh “Mua bán trái phép chất ma túy” tại Điều 251 BLHS Dựa vào quy định của điều luật, tội “Mua bán trái phép chất ma túy” có cấu thành tội phạm và hình phạt như sau:

Về khách thể tội phạm: Khách thể bị tội phạm xâm hại là chế độ quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy Chất ma túy là một loại chất nếu không có sự

Trang 19

quản lý chặt chẽ của Nhà nước thì sẽ gây ra ảnh hưởng tiêu cực rất lớn đến với xã hội Bỡi lẽ nếu có sự quản lý và phục vụ vào mục đích hợp pháp như nghiên cứu khoa học, phục vụ y tế thì có ý nghĩa và hữu ích cho xã hội, ngược lại nếu sử dụng chất ma túy vào các mục đích cá nhân không hợp pháp như nhằm thỏa mãn cơn nghiện thì ma túy trở thành thứ gây nguy hiểm cho xã hội Ma túy có thể coi là khởi nguồn của rất nhiều loại tội phạm, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, ảnh hưởng đến khả năng lao động, tình hình chính trị xã hội của bất kì quốc gia nào Chính vì vậy Nhà nước phải có một chế độ quản lý đặc biệt và độc quyền đối với loại chất ma túy này Cần lưu ý rằng, đối tượng tác động của tội “Mua bán trái phép chất ma túy” chính là chất ma túy (các chất gây nghiện, chất hướng thần), không phải các tiền chất ma túy

Mặt khách quan tội phạm: Mặt khách quan của tội này là các hành vi mua và bán trái phép chất ma túy như mua chất ma túy để bán lại cho người khác, vận chuyển chất ma túy để bán cho người khác, tàng trữ trái phép chất ma túy để bán dần cho người khác, dùng chất ma túy đổi lấy hàng hóa hoặc ngược lại, xin chất ma túy để bán lại cho người khác Theo quy định tại tiểu mục 3.3, Mục 3, phần II, Thông tư liên tịch 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP có hướng dẫn

về tội danh này, theo đó ta có thể phân hành vi khách quan của tội “Mua bán trái phép chất ma túy” thành 03 nhóm hành vi khách quan, đó là:

Nhóm hành vi bán (quy định tại các điểm a, b, c, e, g): Là các hành vi mua, chiếm đoạt, nhặt được, trộm được, chất ma túy mà không cần biết nguồn gốc ma túy do đâu mà có, để phục vụ cho mục đích bán trái phép ma túy cho người khác

Nhóm hành vi trao đổi (quy định tại các điểm d, đ): Là các hành vi trao đổi trái phép ma túy nhằm để lấy tài sản của người nhận ma túy, để bù trừ khoản chi phí bất kì hoặc sử dụng để thanh toán

Nhóm hành vi hỗ trợ: Là các hành vi hỗ trợ cho việc bán và trao đổi trái phép chất ma túy như tổ chức, xúi giục, giúp sức cho hành vi mua bán, trao đổi chất ma túy (trường hợp đồng phạm)

Về chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội này bắt buộc là con người cụ thể, là

Trang 20

người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình

sự Cần lưu ý một số vấn đề sau: Theo quy định tại điều 12 BLHS thì người từ đủ

14 tuổi đến dưới 16 tuổi không chịu trách nhiệm hình sự về các hành vi phạm tội quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS (Tội nghiêm trọng) Theo tinh thần của Mục

10, Nghị quyết 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì trường hợp người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành

vi mua bán trái phép chất ma túy từ hai lần trở lên thì không chịu trách nhiệm hình

sự về tội này nếu tổng trọng lượng chất ma túy của các lần cộng lại dưới mức tối thiểu hoặc không xác định được tổng trọng lượng chất ma túy của tất cả các lần đó đến mức tối thiểu quy định tại điểm g, h, i, k, l, m, n hoặc o khoản 2 Điều 194 BLHS năm 1999 (tương ứng với các quy định tại khoản 2 Điều 251 BLHS hiện hành)

Về mặt chủ quan của tội phạm: Người thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp, tức là người phạm tội nhận thức được rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy

là hành vi nguy hiểm cho xã hội, thấy trước được hậu quả nguy hiểm của hành vi đó

và mong muốn hậu quả đó xảy ra

Về khung hình phạt, tội danh này có mức hình phạt tù từ 02 năm đến chung thân hoặc tử hình Cụ thể:

Tại khoản 1 Điều này quy định cấu thành tội phạm là hành vi “mua bán trái phép chất ma túy” với mức hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm

Tại khoản 2 Điều này quy định một loạt các hành vi cụ thể, nếu người phạm tội có dấu hiệu thuộc các trường hợp từ điểm a đến điểm q khoản 2 Điều này như:

Có tổ chức; Phạm tội 02 lần trở lên; Đối với 02 người trở lên; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội hoặc bán ma túy cho người dưới 16 tuổi; Qua biên giới; Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 500 gam đến dưới 01 kilôgam; Heroine, Cocaine, có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam; Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis) do Chính phủ quy định có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 25 kilôgam; Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 200

Trang 21

kilôgam; Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 50 kilôgam; Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 20 gam đến dưới 100 gam; Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 100 mililít đến dưới 250 mililít; Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm h đến điểm o khoản này; Tái phạm nguy hiểm, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm

Tại khoản 3 Điều này quy định một loạt các hành vi cụ thể, nếu người phạm

tội có dấu hiệu thuộc các trường hợp từ điểm a đến điểm h khoản 3 Điều này như:

Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 05 kilôgam; Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam; Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 25 kilôgam đến dưới 75 kilôgam; Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 200 kilôgam đến dưới 600 kilôgam; Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 150 kilôgam; Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 100 gam đến dưới 300 gam; Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 250 mililít đến dưới 750 mililít; Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm

Tại khoản 4 Điều này quy định một loạt các hành vi cụ thể, nếu người phạm tội có dấu hiệu thuộc các trường hợp từ điểm a đến điểm h khoản 4 Điều này như:

Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng 05 kilôgam trở lên; Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng 100 gam trở lên; Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng 75 kilôgam trở lên; Quả thuốc phiện khô có khối lượng 600 kilôgam trở lên; Quả thuốc phiện tươi có khối lượng 150 kilôgam trở lên; Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng 300 gam trở lên; Các chất ma

Trang 22

túy khác ở thể lỏng có thể tích 750 mililít trở lên; Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này, thì bị

phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình

Ngoài ra tại khoản 5 Điều này còn quy định mức phạt tiền từ 5.000.000 đồng

đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản

Như vậy, tội phạm ma túy là hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực TNHS, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện, có lỗi, xâm phạm đến chế độ quản lý, sử dụng các chất ma túy của nhà nước, từ đó gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, của xã hội và của công dân, gây mất trật tự an toàn xã hội [11; tr.233] Đối với tội danh “Mua bán trái phép chất ma túy” thì hành vi mua bán trái phép chất ma túy là “hành vi trao đổi trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào” [27, tr 204] hoặc có thể hiểu cụ thể hơn là “bán hay mua để bán lại; vận chuyển ma túy để bán cho người khác; tàng trữ để bán lại hoặc để sản xuất ra chất

ma túy khác để bán lại trái phép; hoặc dùng ma túy để đổi lấy hàng hóa hay dùng hàng hóa để đổi lấy ma túy” [16, tr 92] Như vậy đối với hành vi mua bán trái phép chất ma túy, hầu hết các nhà khoa học đều thống nhất đây là hành vi nhằm bán trái phép chất ma túy cho người khác mà không cần biết nguồn gốc ma túy hoặc hành vi nhằm trao đổi ma túy như hàng hóa có giá trị Đối với các hành vi đồng phạm với hành vi bán ma túy thì cũng bị truy cứu TNHS về tội danh này

Tổng kết lại, hành vi mua bán trái phép chất ma túy là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực TNHS, đủ tuổi chịu TNHS thực hiện, có lỗi, xâm phạm đến khách thể là chế độ quản lý, sử dụng các chất ma túy của Nhà nước

Vụ án mua bán trái phép ma túy là một loại vụ án hình sự, do đó khái niệm của nó cũng phải mang tính lý luận từ khái niệm “vụ án hình sự” “Vụ án hình sự”

là “vụ việc phạm pháp có dấu hiệu là tội phạm được quy định trong BLHS đã được

CQĐT khởi tố hình sự để tiến hành điều tra, truy tố, xét xử theo trình tự thủ tục đã được quy định” [8,tr.170-171]

Trang 23

Trong vụ án mua bán trái phép chất ma túy gồm hai loại hành vi phạm tội, đó

là hành vi mua trái phép chất ma túy và bán trái phép chất ma túy Người phạm tội

có hành vi mua ma túy và bán ma túy để kiếm lời, thu lợi bất chính Đối với trường hợp có hành vi mua ma túy để nhằm mục đích bán kiếm lợi nhưng chưa bán thì cũng phạm tội mua bán trái phép chất ma túy Khi có hành vi mua bán trái phép chất ma túy xảy ra, CQĐT hoặc cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (sau đây gọi chung là CQĐT) sẽ áp dụng các biện pháp điều tra theo quy định của pháp luật để phát hiện, khởi tố, điều tra đối với tội phạm và người phạm tội Như vậy kết hợp với các phân tích nêu trên, có thể đưa ra khái niệm “vụ

án mua bán trái phép ma túy” là những vụ việc phạm tội liên quan đến hành vi mua

bán trái phép chất ma túy được quy định trong BLHS, đã được CQĐT phát hiện và khởi tố để tiến hành hoạt động điều tra, truy tố, xét xử theo quy định”

1.1.1.3 Khái niệm “giai đoạn điều tra vụ án mua bán trái phép chất ma túy” “Giai đoạn điều tra” đề cập trong luận văn được hiểu là giai đoạn điều tra vụ

án hình sự, bởi lẽ “điều tra” là một hoạt động không thể tách rời với các vụ án mang tính chất hình sự, khác với các hoạt động xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ trong các vụ án dân sự, kinh doanh thương mại, lao động, hành chính

Giai đoạn điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng hình sự do các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện các hoạt động tố tụng nhằm thu thập tài liệu, chứng

cứ, nghiên cứu các tình tiết của vụ án, phát hiện chính xác, khách quan, đầy đủ hành

vi tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự Trong đó nhiệm vụ chính trong hoạt động điều tra là của CQĐT, bên cạnh đó có sự tham gia của VKS trong hoạt động THQCT và kiểm sát thuộc chức năng, quyền hạn của mình Giai đoạn điều tra vụ án hình sự là một trong các giai đoạn tố tụng được thực hiện trước giai đoạn truy tố, xét xử

Dưới góc độ nghiên cứu, có một số quan điểm cho rằng giai đoạn điều tra vụ

án hình sự có hai cách xác định theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng Quan điểm giai đoạn điều tra nếu xét theo quy định của BLTTHS hiện hành thì là nghĩa hẹp, tức là bắt đầu khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự Quan điểm theo nghĩa rộng, giai đoạn

Trang 24

điều tra sẽ được xác định thời gian bắt đầu từ khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố Đối với giai đoạn điều tra cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp đều kết thúc khi CQĐT có hoạt động kết luận điều tra và đề nghị truy tố bị can hoặc kết luận điều tra và đình chỉ vụ án Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả cho rằng giai đoạn điều tra được xác định từ khi CQĐT ra quyết định khởi tố vụ án hình

sự và tiến hành điều tra cho đến khi CQĐT có hoạt động kết thúc điều tra, đây là quan điểm phù hợp và chính xác theo quy định của BLTTHS hiện hành

Trong giai đoạn điều tra, CQĐT được áp dụng các biện pháp điều tra, thu thập chứng cứ theo quy định của pháp luật để thu thập chứng cứ và tiến hành chứng minh có hay không sự việc phạm tội, người thực hiện tội phạm và các vấn đề khác như nguyên nhân của hành vi phạm tội, điều kiện người phạm tội thực hiện hành vi

và các tình tiết liên quan khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án Trong giai đoạn điều tra vụ án mua bán trái phép chất ma túy có các hoạt động điều tra như: Lấy lời khai của người bị bắt quả tang, lời khai người bị giữ (bắt người bị giữ) trong trường hợp khẩn cấp, lời khai người bị tạm giữ hình sự, lời khai người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và những người tham gia tố tụng khác liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy; Hỏi cung bị can; Giám định chất

ma túy và các hoạt động giám định khác có liên quan đến hàm lượng chất ma túy; giám định tuổi của người phạm tội; đối chất, nhận dạng; các thủ tục khám xét, khám người, thu giữ tài liệu, đồ vật liên quan đến hành vi phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” Các hoạt động điều tra trong giai đoạn này cần phải thực hiện đúng theo trình tự thủ tục quy định trong BLTTHS, thực hiện nhanh chóng, khách quan nhằm thu thập tài liệu, chứng cứ toàn diện để củng cố cho hoạt động buộc tội và gỡ tội đối với người có hành vi phạm tội

Như vậy, giai đoạn điều tra vụ án mua bán trái phép chất ma túy là một giai

đoạn tố tụng, trong đó, Cơ quan điều tra tiến hành các biện pháp điều tra theo quy định của BLTTHS để xác định tội phạm và người phạm tội mua bán trái phép chất

ma túy, làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án hình sự một cách đúng đắn, không làm oan người vô tội và không bỏ lọt tội phạm

Trang 25

1.1.4 Khái niệm thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án mua bán trái phép chất ma túy

THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án mua bán trái phép chất ma túy là hoạt động của VKS trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người có hành vi mua bán trái phép chất ma túy Hoạt động này bắt đầu từ khi CQĐT khởi tố vụ án hình sự đối với hành vi mua bán trái phép chất ma túy và kết thúc khi có kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc khi có quyết định đình chỉ điều tra

vụ án mua bán trái phép chất ma túy [09, tr 50 - 53] Khi THQCT trong giai đoạn

điều tra vụ án mua bán trái phép chất ma túy, VKS thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại Điều 165 và trong một số điều luật khác của BLTTHS Trong giai đoạn này, KSV, KTV và Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS tiến hành các hoạt động sau:

- Yêu cầu CQĐT khởi tố hoặc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can;

- Phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can không có căn cứ và trái pháp luật của CQĐT;

- Khởi tố, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can của CQĐT trong các trường hợp do BLTTHS quy định;

- Phê chuẩn, không phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, gia hạn tạm giữ, việc tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, khám xét, thu giữ, tạm giữ đồ vật, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt; phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định tố tụng khác không

có căn cứ và trái pháp luật của CQĐT; hủy bỏ các quyết định tố tụng không có căn

cứ và trái pháp luật của CQĐT;

- Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế của CQĐT theo quy định của BLTTHS;

- Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu CQĐT tiến hành điều tra để làm rõ tội phạm, người phạm tội; yêu cầu CQĐT truy nã bị can, áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt;

Trang 26

- Trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra trong trường hợp để kiểm tra,

bổ sung tài liệu, chứng cứ khi xét phê chuẩn lệnh, quyết định của CQĐT hoặc trường hợp phát hiện có dấu hiệu oan, sai, bỏ lọt tội phạm, vi phạm pháp luật mà VKS đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc phục hoặc trường hợp để kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ khi quyết định việc truy tố;

- Khởi tố vụ án hình sự khi phát hiện hành vi của người có thẩm quyền trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra có dấu hiệu tội phạm; yêu cầu CQĐT khởi tố vụ án hình sự khi phát hiện hành vi của người có thẩm quyền trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra có dấu hiệu tội phạm;

- Quyết định việc gia hạn thời hạn điều tra, thời hạn tạm giam; quyết định chuyển vụ án, áp dụng thủ tục rút gọn, áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh; hủy bỏ quyết định tách, nhập vụ án;

- Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong việc THQCT theo quy định của BLTTHS

Mọi yêu cầu, quyết định của VKS phải được CQĐT chấp hành, thực hiện đầy đủ, cả trong trường hợp không nhất trí vẫn phải thực hiện nhưng có quyền kiến nghị lên VKS cấp trên trực tiếp Quyết định của VKS cấp trên là quyết định cuối cùng

Từ những phân tích nêu trên, tác giả rút ra khái niệm như sau: THQCT trong

giai đoạn điều tra vụ án mua bán trái phép chất ma túy là hoạt động của VKS trong giai đoạn điều tra, bắt đầu từ khi cơ quan điều tra khởi tố vụ án mua bán trái phép chất ma túy và tiến hành điều tra, trong đó, VKS sử dụng nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự, buộc tội người phạm tội mua bán trái phép chất ma túy, bảo đảm không để xảy ra oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm

1.1.2 Đặc điểm thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án mua bán trái phép chất ma túy

THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án mua bán trái phép chất ma túy có

Trang 27

những đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, THQCT là thẩm quyền riêng có của VKS, không có cơ quan nào

khác được thực hiện VKS THQCT bằng các hoạt động khởi tố vụ án, khởi tố bị can, phê chuẩn, thay đổi hoặc hủy bỏ các quyết định tố tụng của CQĐT, yêu cầu cơ quan điều tra tiến hành hoạt động điều tra Những hoạt động đó đảm bảo mọi hành vi phạm tội, người phạm tội phải được phát hiện, khởi tố, điều tra kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng phát luật, không làm oan sai và không bỏ lọt tội phạm; không vi phạm quyền con người, quyền công dân CQĐT cũng có thẩm quyền khởi tố vụ án, khởi tố bị can, áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế nhưng những quyết định đó của CQĐT phải được gửi cho VKS để VKS kiểm tra, đánh giá tính đúng đắn, tính hợp pháp Trường hợp quyết định không

có căn cứ, không hợp pháp, tức là trái quy định của pháp luật thì VKS thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn THQCT để ra quyết định không phê chuẩn, thay đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ

Thứ hai, THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án mua bán trái phép chất ma

túy gắn chặt với hoạt động điều tra, đảm bảo việc thu thập chứng cứ, chứng minh hành vi phạm tội phải nhanh chóng, khách quan, toàn diện và đầy đủ, đúng quy định của pháp luật, làm nền tảng cho hoạt động truy tố, xét xử sau này

Thứ ba, THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án mua bán trái phép chất ma

túy gắn liền với việc yêu cầu CQĐT phải trưng cầu giám định chất ma túy Bởi lẽ kết luận giám định chất ma túy là căn cứ quan trọng đầu tiên để xác định định khung hình phạt Khi thu giữ được chất nghi là ma túy, các cơ quan tố tụng phải giám định chất ma túy thu giữ để xác định đó có phải là chất ma túy hay không, loại chất gì, khối lượng bao nhiêu, hoặc hàm lượng (trong trường hợp cần thiết giám định) thì mới có thể giải quyết đúng đắn vụ án mua bán trái phép chất ma túy

Thứ tư, THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án mua bán trái phép chất ma túy

gắn liền với việc áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với người bị buộc tội Tội “Mua bán trái phép chất ma túy” thuộc loại tội phạm nghiêm trọng trở lên, người có hành

vi phạm tội thường bị bắt quả tang hoặc bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp

Trang 28

Mặc khác, do đặc điểm riêng biệt của loại tội phạm mua bán trái phép chất ma túy,

là loại tội phạm nguy hiểm cho xã hội nên các biện pháp tạm giữ, tạm giam thường được áp dụng với loại tội phạm này nên VKS phải THQCT bằng các hoạt động phê chuẩn hoặc không phê chuẩn các lệnh, quyết định, hủy bỏ các lệnh, quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn của CQĐT

Thứ năm, THQCT trong điều tra tội phạm mua bán trái phép chất ma túy thể

hiện rõ quan hệ chặt chẽ giữa VKS với CQĐT

Mối quan hệ giữa VKS và CQĐT khi THQCT trong giai đoạn điều tra các vụ

án hình sự nói chung và vụ án về tội mua bán trái phép chất ma túy là mối quan hệ vừa phối hợp, vừa chế ước Chất lượng, hiệu quả hoạt động của từng cơ quan phụ thuộc rất lớn vào mối quan hệ giữa hai chủ thể này CQĐT và VKS phối hợp bằng nhiều cách thức, cấp độ khác nhau như: Phối hợp theo quy định của pháp luật (Bộ luật TTHS, Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự, Thông tư liên tịch), các quy định giữa hai ngành, hai đơn vị cùng cấp (quy chế, quy định phối hợp), phối hợp thường xuyên định kỳ theo chương trình, kế hoạch đột xuất thông qua việc giải quyết các

vụ án hình sự cụ thể Sự phối hợp được thực hiện bởi ĐTV và KSV là hai chủ thể trực tiếp giải quyết vụ án hình sự ĐTV và KSV tham gia vào việc giải quyết vụ án mua bán trái phép chất ma túy với nhiệm vụ, quyền hạn khác nhau nhưng có rất nhiều hoạt động cần phối hợp để giải quyết, như khám nghiệm và kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, khám xét, thực nghiệm điều tra và các hoạt động điều tra khác Cả hai đều có chung nhiệm vụ là nhanh chóng, kịp thời thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm, người phạm tội, các tình tiết khác có liên quan đến việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự

Giữa VKS và CQĐT có quan hệ chế ước, trong đó, VKS có quyền THQCT, kiểm sát việc tuân theo pháp luật của CQĐT, yêu cầu điều tra, phê chuẩn, không phê chuẩn hoặc hủy bỏ các quyết định trái pháp luật của CQĐT, yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật của ĐTV Những yêu cầu, quyết định của VKS phải được CQĐT thực hiện, một số trường hợp nếu không đồng ý với quyết định của VKS thì CQĐT vẫn phải thực hiện và có quyền báo cáo lên VKS cấp trên trực tiếp

Trang 29

Quyết định của VKS cấp trên trực tiếp có hiệu lực pháp luật Hoạt động này của KSV, VKS nhằm bảo đảm việc khởi tố, điều tra vụ án đúng pháp luật Quyền năng này của VKS đối với cơ quan điều tra có hiệu lực rất cao và CQĐT phải chấp hành Đối với vụ án mua bán trái phép chất ma túy thì quan hệ phối hợp, chế ước này được thực hiện ở mức độ cao để kịp thời bắt giữ người phạm tội, thu thập đủ chứng

cứ chứng minh tội phạm, thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng

Thứ sáu, THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án mua bán trái phép chất ma

túy có những đặc điểm riêng biệt gắn liền với tội phạm mua bán trái phép chất ma túy Hầu hết các vụ án mua bán trái phép chất ma túy đều là bắt quả tang, đối với các vụ án bắt quả tang công tác THQCT thường gặp nhiều thuận lợi do khi bị bắt quả tang hành vi mua bán trái phép chất ma túy có người mua ma túy là người làm chứng trực tiếp, làm căn cứ buộc tội vững chắc Tuy nhiên đối với các vụ án truy xét từ lời khai của các bị can thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy hoặc lời khai của đồng phạm mua bán trái phép chất ma túy thì thường gặp nhiều khó khăn do các đối tượng thường quanh co chối tội, khai báo gian dối nhằm thoát tội Đối với các trường hợp tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp các đối tượng kể trên nếu không thu giữ được ma túy các đối tượng tàng trữ thì rất khó để đấu tranh làm rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy của các đối tượng này Do

đó KSV cần có yêu cầu điều tra phù hợp và bám sát cùng ĐTV tiến hành đấu tranh làm rõ hành vi phạm tội, tiến hành nhận dạng, đối chất, dùng các chứng cứ gián tiếp thông qua lời khai người làm chứng, tang vật thu giữ (các dụng cụ để phân chia ma túy, số lượng tép ma túy thu giữ…) nhằm đấu tranh làm rõ hành vi phạm tội

1.1.3 Phạm vi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án mua bán trái phép chất ma túy

Phạm vi THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án mua bán trái phép chất ma túy chính là phạm vi thực hiện quyền lực nhà nước trao cho VKS trong hoạt động truy cứu TNHS, buộc tội đối với tội phạm mua bán trái phép chất ma túy, bắt đầu từ khi CQĐT khởi tố vụ án mua bán trái phép chất ma túy đến khi kết thúc việc điều tra bằng bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc bằng bản kết luận điều tra và

Trang 30

quyết định đình chỉ điều tra của CQĐT

Việc nhận thức đúng đắn phạm vi THQCT có ý nghĩa quan trọng về lý luận

và thực tiễn bởi vì khi xác định đúng đắn phạm vi của công tác này thì mới thực hiện đầy đủ biện pháp nghiệp vụ, nhiệm vụ, quyền hạn được Nhà nước trao cho theo luật định để nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hành quyền công tố đối với vụ

án hình sự nói chung và với vụ án mua bán trái phép chất ma túy nói riêng

1.1.4 Ý nghĩa thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án mua bán trái phép chất ma túy

Thứ nhất, THQCT của VKS có ý nghĩa quan trọng trong giai đoạn điều tra

vụ án mua bán trái phép chất ma túy, đó là bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội, vi phạm pháp luật trong điều tra vụ án mua bán trái phép chất ma túy đều phải được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh, việc khởi tố, điều tra đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội

Thứ hai, thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra vụ án mua bán trái

phép chất ma túy có vai trò bảo vệ quyền con người, quyền công dân Giai đoạn điều tra nhằm thu thập đầy đủ chứng cứ chứng minh tội phạm, người phạm tội, đồng thời thu thập cả chứng cứ chứng minh sự vô tội của người bị buộc tội VKS thực hiện tốt nhiệm vụ THQCT để không có người nào bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế quyền con người, quyền công dân trái pháp luật, từ đó bảo đảm quyền con người, quyền công dân theo quy định của Hiến pháp và pháp luật

Thứ ba, THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án mua bán trái phép chất ma

túy của VKS là cơ sở quan trọng đảm bảo hiệu quả các hoạt động tố tụng ở các giai đoạn tiếp theo Kết quả của hoạt động tố tụng trong giai đoạn này là tiền đề để thực hiện các hoạt động tố tụng ở giai đoạn truy tố, xét xử, do vậy, nếu VKS thực hiện tốt nhiệm vụ, quyền hạn THQCT trong giai đoạn điều tra sẽ là cơ sở vững chắc cho việc truy tố, xét xử sau này

1.2 Quy định của pháp luật về thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án mua bán trái phép chất ma túy

Trang 31

Thuật ngữ pháp lý “Thực hành quyền công tố” được quy định lần đầu tiên trong hệ thống pháp luật Việt Nam tại Điều 138 Hiến pháp năm 1980, khi quy định chức năng của VKSND và đến hiện nay vẫn được quy định trong Điều 107 Hiến pháp năm 2013 Ngoài ra, khái niệm này còn được đề cập trong Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân các năm 1981, 2002 và mới nhất là năm 2014 Khoản 1 Điều 3 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014 quy định về chức năng thực hành quyền

công tố như sau: “Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân

dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự.”

Nội dung THQCT của VKS trong giai đoạn điều tra vụ án mua bán trái phép chất ma túy thuộc nhiệm vụ, quyền hạn THQCT của VKS trong giai đoạn điều tra

vụ án hình sự nói chung, được quy định tại Điều 165 BLTTHS Theo đó, khi THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án mua bán trái phép chất ma túy, VKS có các quyền hạn, nhiệm vụ cụ thể như sau:

Thứ nhất, yêu cầu CQĐT khởi tố hoặc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố

vụ án hình sự, khởi tố bị can phạm tội mua bán trái phép chất ma túy Khởi tố vụ án

hình sự là hoạt động mở đầu của quá trình TTHS để mở cuộc điều tra hình sự đối với sự kiện phạm tội Những thủ tục liên quan đến khởi tố vụ án hình sự được quy định từ Điều 143 đến Điều 162 BLTTHS năm 2015 Căn cứ để khởi tố vụ án hình

sự là có sự kiện phạm tội xảy ra hoặc sự việc có dấu hiệu tội phạm Theo quy định của pháp luật, phần lớn các trường hợp khởi tố các vụ án hình sự do CQĐT thực hiện Khởi tố bị can là thủ tục tố tụng áp dụng đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội để tiến hành điều tra Thủ tục liên quan đến khởi tố bị can quy định tại Điều 179 và Điều 180 BLTTHS năm 2015 Khi có đủ căn cứ để xác định một người

đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy thì CQĐT ra quyết định khởi tố

bị can Sau khi khởi tố bị can, CQĐT có quyền áp dụng các biện pháp điều tra theo luật định để làm rõ hành vi, tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân cũng như các tình tiết khác liên quan đến bị can Khi tiến hành điều tra, nếu có căn cứ xác định

Trang 32

hành vi phạm tội của bị can không phạm vào tội đã bị khởi tố hoặc còn hành vi phạm tội khác thì VKS yêu cầu CQĐT ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can Trường hợp phát hiện có sự kiện phạm tội, xác định một người

có hành vi phạm tội mua bán trái phép chất ma túy nhưng chưa được khởi tố thì VKS yêu cầu CQĐT khởi tố hoặc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình

sự, khởi tố bị can

Thứ hai, phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố, quyết định thay đổi hoặc

bổ sung quyết định khởi tố bị can về tội mua bán trái phép chất ma túy không có căn cứ và trái pháp luật Sau khi ra quyết định khởi tố hoặc quyết định thay đổi, bổ

sung quyết định khởi tố bị can, CQĐT phải chuyển hồ sơ cùng quyết định đến VKS

để VKS thực hiện chức năng THQCT Sau khi nghiên cứu hồ sơ và áp dụng các biện pháp tố tụng khác, nếu thấy quyết định khởi tố hoặc quyết định thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can có căn cứ và hợp pháp thì VKS sẽ phê chuẩn Trường hợp các quyết định đó không có căn cứ và không hợp pháp thì VKS sẽ ra quyết định hủy bỏ Khi VKS ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can thì CQĐT phải trả tự do ngay cho người bị khởi tố đang bị bắt, tạm giữ hoặc tạm giam Quyền phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố bị can của VKS đảm bảo VKS thực hành quyền công tố một cách tối ưu nhất, hạn chế việc khởi tố bị can trái pháp luật dẫn đến làm oan người vô tội;

Thứ ba, khởi tố, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can về tội mua bán trái phép chất ma túy trong các trường hợp do BLHS quy định

Theo quy định tại Điều 153 BLTTHS, Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp: Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; Viện kiểm sát trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; Viện kiểm sát trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm hoặc theo yêu cầu khởi tố của Hội đồng xét xử

Theo quy định tại Điều 179 BLTTHS thì CQĐT ra quyết định khởi tố bị can nói chung và tội mua bán trái phép chất ma túy nói riêng Trường hợp phát hiện có

Trang 33

người đã thực hiện hành vi mà BLHS quy định là tội phạm chưa bị khởi tố thì VKS yêu cầu CQĐT ra quyết định khởi tố bị can hoặc trực tiếp ra quyết định khởi tố bị can nếu đã yêu cầu nhưng Cơ quan điều tra không thực hiện Viện kiểm sát thay đổi quyết định khởi tố bị can khi thuộc một trong các trường hợp: Khi tiến hành điều tra nếu có căn cứ xác định hành vi của bị can không phạm vào tội đã bị khởi tố; Quyết định khởi tố ghi không đúng họ, tên, tuổi, nhân thân của bị can

Viện kiểm sát phải bổ sung quyết định khởi tố bị can nếu có căn cứ xác định

bị can còn thực hiện hành vi khác mà BLHS quy định là tội phạm

Thứ tư, phê chuẩn, không phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, gia hạn tạm giữ, việc tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, khám xét, thu giữ, tạm giữ đồ vật, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt; phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định tố tụng khác không có căn cứ và trái pháp luật của CQĐT theo quy định của BLTTHS; hủy bỏ các quyết định tố tụng không có căn cứ và trái pháp luật của CQĐT về tội mua bán trái phép chất ma túy Quá trình điều tra vụ án mua bán trái phép chất ma túy,

CQĐT phải ban hành một số lệnh, quyết định như lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, gia hạn tạm giữ, tạm giam, lệnh khám xét, thu giữ, tạm giữ đồ vật, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt Những quyết định này phải được VKS phê chuẩn trước khi thi hành Đối với lệnh bắt người

bị giữ trong trường hợp khẩn cấp hoặc lệnh khám xét, CQĐT có thể thực hiện trước khi VKS phê chuẩn nhưng ngay sau khi thực hiện phải gửi quyết định và hồ sơ để VKS kiểm sát Trường hợp những lệnh, quyết định này không có căn cứ hoặc trái pháp luật thì VKS ra quyết định không phê chuẩn hoặc hủy bỏ Thẩm quyền của VKS phê chuẩn, không phê chuẩn, hủy bỏ lệnh, quyết định tố tụng của CQĐT là một thẩm quyền đặc trưng cơ bản và riêng có của VKS, cho phép VKS khắc phục, loại trừ những vi phạm pháp luật của CQĐT

Thứ năm, quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế trong vụ án mua bán trái phép chất ma túy theo quy định của

Trang 34

BLHS Quá trình điều tra vụ án mua bán trái phép chất ma túy, để kịp thời ngăn

chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để bảo đảm thi hành án,

cơ quan, CQĐT phải áp dụng một trong các biện pháp ngăn chặn được quy định tại Điều 109 BLTTHS, đó là biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh Đồng thời, có thể áp dụng những biện pháp cưỡng chế áp giải, dẫn giải, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản VKS có thẩm quyền thay đổi hoặc hủy bỏ những quyết định trên của CQĐT trong trường hợp những quyết định đó do VKS phê chuẩn hoặc trái pháp luật VKS chỉ ra quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế trong giai đoạn điều tra trong trường hợp cần thiết áp dụng, đã yêu

cầu nhưng CQĐT không áp dụng

Thứ sáu, đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu CQĐT tiến hành điều tra để làm

rõ tội phạm, người phạm tội; yêu cầu CQĐT truy nã bị can, áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt trong vụ án mua bán trái phép chất ma túy Đề ra yêu cầu điều

tra và yêu cầu CQĐT tiến hành điều tra là thẩm quyền, nhiệm vụ quan trọng của VKS nhằm kịp thời định hướng điều tra, bảo đảm điều tra đúng trình tự thủ tục, thời hạn và thẩm quyền theo quy định của pháp luật, qua đó bảo đảm vụ án được điều tra một cách khách quan, toàn diện, đúng quy định của pháp luật, không bỏ lọt tội phạm và không làm oan người vô tội;

Thứ bảy, trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra trong trường hợp để kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ khi xét phê chuẩn lệnh, quyết định của CQĐT hoặc trường hợp phát hiện có dấu hiệu oan, sai, bỏ lọt tội phạm, vi phạm pháp luật

mà VKS đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc phục hoặc trường hợp để kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ khi quyết định việc truy tố đối với vụ án mua bán trái phép chất ma túy VKS trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra theo

quy định như: Hỏi cung bị can, tiến hành đối chất, thực nghiệm điều tra, lấy lời khai

bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan…để củng cố các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án;

Trang 35

Thứ tám, khởi tố vụ án hình sự khi phát hiện hành vi của người có thẩm quyền trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra vụ án mua bán trái phép chất ma túy có dấu hiệu tội phạm; yêu cầu CQĐT khởi tố vụ án hình sự khi phát hiện hành vi của người có thẩm quyền trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra vụ án mua bán trái phép chất ma túy có dấu hiệu tội phạm Trong

thực tiễn THQCT, VKS đã khởi tố vụ án hình sự hoặc yêu cầu CQĐT khởi tố vụ án hình sự đối với trường hợp phát hiện hành vi của người có thẩm quyền trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều

tra vụ án mua bán trái phép chất ma túy có dấu hiệu tội phạm Đó có thể là hành vi

làm sai lệch hồ sơ vụ án, chiếm đoạt trái phép chất ma túy, hối lộ hoặc nhận hối lộ, bức cung, dùng nhục hình đối với người bị buộc tội

Thứ chín, quyết định việc gia hạn thời hạn điều tra, thời hạn tạm giam; quyết định chuyển vụ án, áp dụng thủ tục rút gọn, áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh; hủy bỏ quyết định tách, nhập vụ án mua bán trái phép chất ma túy Khi thời hạn

điều tra, thời hạn tạm giam đã hết nhưng chưa thể kết thúc việc điều tra, đồng thời không có căn cứ để thay đổi biện pháp tạm giam thì CQĐT đề nghị VKS ra quyết định gia hạn thời hạn điều tra, thời hạn tạm giam VKS căn cứ vào kết quả điều tra, nếu có căn cứ xác định có tội phạm mà thời hạn điều tra và thời hạn tạm giam đã hết nhưng chưa thể kết thúc việc điều tra, cần phải gia hạn điều tra, gia hạn tạm giam thì VKS ra quyết định gia hạn điều tra, gia hạn tạm giam theo đúng quy định của pháp luật Trường hợp xác định vụ án không thuộc thẩm quyền điều tra của CQĐT nơi VKS THQCT thì VKS ra quyết định chuyển vụ án đến CQĐT có thẩm quyền Trường hợp vụ án có đủ điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn nhưng CQĐT không áp dụng sau khi VKS đã yêu cầu thì VKS ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn Trường hợp bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác dẫn đến khả năng không thể tiếp tục điều tra, truy tố thì VKS ra quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh Trường hợp CQĐT ra quyết định tách nhập vụ án không đúng quy định thì VKS ra quyết định hủy bỏ quyết định tách nhập vụ án của CQĐT

Trang 36

Thứ mười, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong việc thực hành quyền

công tố đối với mua bán trái phép chất ma túy theo quy định của BLTTHS Ngoài những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể nêu trên, trong quá trình THQCT, VKS có thể thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn khác thuộc chức năng THQCT theo quy định BLTTHS để đảm bảo mọi hành vi phạm tội đều bị xử lý theo quy định pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội

Những vấn đề được nêu trên là nền tảng quan trọng trong việc phân tích và đánh giá thực tiễn THQCT trong giai đoạn điều tra các vụ án mua bán trái phép chất

ma túy của VKSND thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, từ đó đưa ra được các phương hướng, giải pháp thiết thực nhằm nâng cao chất lượng THQCT trong giai đoạn điều tra loại án này

Trang 37

Chương 2 THỰC TIỄN THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY TRÊN ĐỊA BÀN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

2.1 Tình hình đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội và tình hình tội phạm ảnh hưởng đến thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án Mua bán trái phép chất ma túy tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

Thành phố Biên Hòa là đơn vị hành chính cấp huyện thuộc tỉnh Đồng Nai, có

vị trí ở phía tây của tỉnh Đồng Nai, giáp với các huyện Vĩnh Cửu, huyện Long Thành, huyện Trảng Bom (các huyện thuộc tỉnh Đồng Nai), thành phố Dĩ An (tỉnh Bình Dương) và Quận 9 (thành phố Hồ Chí Minh) Thành phố Biên Hòa là thành phố trực thuộc tỉnh có dân số đông nhất cả nước (năm 2019 là 1.272.000 người), với

sự đa dạng của 19 dân tộc cùng chung sống và thành phố trực thuộc tỉnh có nhiều phường nhất (có 30 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm 29 phường và 01 xã) Có nhiều tuyến đường huyết mạch quan trọng đi qua như Quốc lộ 1A, Quốc lộ 1K và Quốc lộ 51 chạy qua thành phố

Dân cư tại thành phố Biên Hòa đa dạng là do sự di cư từ các vùng khác về địa phương sinh sống và làm việc Thành phố Biên Hòa có sự đa dạng về tôn giáo như Công giáo, Phật giáo, Phật giáo Hòa Hảo, Tin Lành,

Biên Hòa với nguồn lực nhân công lao động lớn có tiềm năng phát triển công nghiệp, sở hữu nguồn tài nguyên khoáng sản Về cơ cấu kinh tế, năm 2017 dịch vụ chiếm 35,84%, công nghiệp - xây dựng chiếm 64,08% và nông lâm nghiệp chiếm 0,08% Tính đến năm 2018, GDP/đầu người của thành phố cao gấp hai lần GDP/đầu người của Việt Nam (khoảng 4500 USD)

Chính vì địa bàn rộng, dân cư đông, đa dạng về thành phần dân tộc, tôn giáo,

sự thu hút nguồn lao động từ các địa phương khác đã dẫn đến nhiều thành phần xấu đến địa bàn phạm tội, một bộ phận người dân có lối sống không lành mạnh, thực

Trang 38

dụng đã sa ngã vào con đường nghiện hút… hệ quả kéo theo nhiều người đã thực hiện hành vi phạm tội

2.1.2 Cơ cấu, tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

VKSND thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai là đơn vị VKS cấp huyện, đây

là đơn vị cơ sở và đóng vai trò quan trọng trong hệ thống VKS Do đặc thù lượng án nhiều, phức tạp, đơn vị VKSND thành phố Biên Hòa được lãnh đạo phân công thành 04 bộ phận nghiệp vụ, gồm:

- Bộ phận văn phòng – tổng hợp, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo do đồng chí Viện trưởng phụ trách

- Bộ phận THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp về án kinh tế, chức vụ, kiểm sát tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự do 01 đồng chí phó Viện trưởng phụ trách

- Bộ phận THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp về án trật tự xã hội, ma túy

Do đặc thù khối lượng công việc nhiều, số lượng vụ án, vụ việc nhiều nhất tỉnh Đồng Nai, do đó VKSND thành phố Biên Hòa luôn củng cố, hoàng thiện tổ chức, hoạt động để đáp ứng được những yêu cầu công việc đặt ra, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Mỗi cán bộ VKSND thành phố Biên Hòa luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm trong công việc, không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ để phục vụ công tác

Trang 39

2.1.3 Tình hình tội phạm ma túy trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

Chính vì những đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của thành phố Biên Hòa nên đã ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình tội phạm tại địa phương Tình hình tội phạm ma túy nói chung và tội phạm mua bán trái phép chất ma túy nói riêng tại địa bàn thành phố Biên Hòa đa số đều thực hiện dưới hình thức cá thể đơn lẻ, chưa phát hiện các nhóm tội phạm, các tổ chức tội phạm Tuy nhiên mức độ thủ đoạn của hành vi phạm tội ngày càng tinh vi, phức tạp, đối tượng phạm tội có phần trẻ hóa Nguyên nhân chủ yếu do khu vực địa bàn thành phố Biên Hòa tập trung nhiều khu công nghiệp, xí nghiệp, công ty có số lượng lao động là dân nhập cư, thu hút nhiều đối tượng, thành phần xấu từ nhiều địa phương khác đến phạm tội

Có thể đánh giá tình hình tội phạm tại thành phố Biên Hòa thông qua số liệu thống kê trong 05 năm từ năm 2015 đến năm 2019 tại Bảng 2.1: Số liệu tin báo, nguồn tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố tiếp nhận và vụ án hình sự khởi tố từ năm

2015 đến năm 2019 (Phụ lục II) Qua đó có thể thấy trong 05 năm, số tin báo, nguồn tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố đã tiếp nhận là 4080 vụ việc (trung bình mỗi năm thụ lý 816 vụ việc), trong đó đã khởi tố 3565 vụ án (trung bình mỗi năm khởi tố 713

vụ án) Qua đó có thể thấy đa phần các tin báo, nguồn tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố thụ lý được tiếp nhận đã đều được khởi tố vụ án khi có đủ dấu hiệu tội phạm

Để rõ hơn về tình hình tội phạm ma túy tại địa bàn thành phố Biên Hòa, có thể xem qua bảng Bảng 2.2 Bảng so sánh tỷ lệ án ma túy đã khởi tố tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2019 (Phụ lục II) để so sánh số liệu các vụ án ma túy trên toàn tỉnh Đồng Nai và các vụ án ma túy tại thành phố Biên Hòa Có thể thấy trong 05 năm, số vụ án ma túy của thành phố Biên Hòa luôn chiếm số lượng lớn so với tổng số vụ án ma túy của toàn tỉnh (trung bình chiếm 30% số án mỗi năm), cho thấy số lượng tội phạm ma túy bị phát hiện khởi tố của địa bàn thành phố Biên Hòa rất nhiều so với các huyện, thị xã còn lại trong địa bàn tỉnh Đồng Nai Dựa vào số liệu hai cấp về án ma túy đã khởi tố của VKSND

Trang 40

tỉnh Đồng Nai và VKSND thành phố Biên Hòa, có thể diễn biến phức tạp của tình hình tội phạm ma túy nói chung và tội phạm mua bán trái phép chất ma túy nói riêng diễn ra trên địa bàn

Đối với tội phạm mua bán trái phép chất ma túy tại thành phố Biên Hòa, để làm rõ hơn về tính chất, mức độ, số lượng tội phạm, có thể xem qua Bảng 2.3 Bảng

số liệu số vụ án hình sự và vụ án ma túy đã khởi tố tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2019 (Phụ lục 2) dựa trên Báo cáo tổng kết các năm của VKSND thành phố Biên Hòa các năm từ 2015 đến 2019 Theo đó, trong 05 năm, số vụ án mua bán trái phép chất ma túy là 122 vụ / 145 bị can (so với

số vụ án về nhóm tội ma túy là 633 vụ / 785 bị can) Dựa vào số liệu của các bản Báo cáo tổng kết năm của VKSND thành phố Biên Hòa các năm từ 2015 đến 2019 cho thấy tội phạm về ma túy nói chung có xu hướng tăng lên, đặc biệt là tội phạm

về tàng trữ trái phép chất ma túy, riêng tội phạm mua bán trái phép chất ma túy có

xu hướng giảm Tuy nhiên nhìn vào số liệu giảm của tội danh này chưa đánh giá hết mức độ tội phạm mua bán trái phép chất ma túy, bỡi lẽ các đối tượng bán trái phép chất ma túy ngày càng tinh vi, xảo huyệt nên ngày càng khó phát hiện Nhiều đối tượng tàng trữ trái phép chất ma túy có dấu hiệu bán cho người khác nhưng khi bị phát hiện chưa đủ chứng cứ chứng minh hành vi mua bán nên phải xử lý về tội

“Tàng trữ trái phép chất ma túy” Đối với tội danh này, thực tế cho thấy gần như tuyệt đối các vụ án mua bán trái phép chất ma túy được khởi tố là do quá trình bắt quả tang hành vi phạm tội, hoặc trong quá trình điều tra các vụ án tàng trữ trái phép chất ma túy, bị can thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy khai ra các đối tượng mua bán trái phép chất ma túy, từ đó tiến hành xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ Do đó ngay từ khi các đối tượng thực hiện hành vi mua bán trái phép chất

ma túy bị bắt quả tang, VKSND thành phố Biên Hòa đã chủ động tích cực trong công tác thực hành quyền công tố ngay từ giai đoạn ban đầu tạo tiền đề cho quá trình khởi tố và xử lý vụ án nhanh chóng, khách quan và tuân thủ nguyên tắc pháp chế của BLTTHS

2.2 Thực tiễn thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án

Ngày đăng: 30/03/2022, 17:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Mai Đắc Biên (2018), “Những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử tội phạm về ma túy”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học Học viện Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử tội phạm về ma túy
Tác giả: Mai Đắc Biên
Nhà XB: Kỷ yếu Hội thảo khoa học Học viện Công an nhân dân
Năm: 2018
3. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, ban hành ngày 24/5/ 2005, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Bộ Chính trị
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2005
4. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, ban hành ngày 02/6/2005, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Bộ Chính trị
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2005
5. Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp (2015), Thông tư liên tịch số 08/2015/TTLT- BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP “Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTCTANDTC, ban hành ngày 14/11/2015”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch số 08/2015/TTLT- BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP “Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTCTANDTC, ban hành ngày 14/11/2015”
Tác giả: Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp
Năm: 2015
6. Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp (2017) Thông tư liên tịch số 17/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTCBTP“Hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương XVIII “Các tội phạm về ma túy"của BLHS năm 1999”, ban hành ngày 24/12/2007, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương XVIII “Các tội phạm về ma túy" của BLHS năm 1999
Tác giả: Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp
Năm: 2017
7. Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP (2018) “Quy định về quan hệ phối hợp giữa CQĐT và VKS trong việc thực hiện một số quy định của BLTTHS”ban hành ngày 19/10/2018, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định về quan hệ phối hợp giữa CQĐT và VKS trong việc thực hiện một số quy định của BLTTHS
Tác giả: Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Năm: 2018
9. Lê Cảm (2001), “Những vấn đề lý luận về chế định quyền công tố” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận về chế định quyền công tố
Tác giả: Lê Cảm
Năm: 2001
10. Trần Thị Minh Hảo (2019), “Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các tội phạm về ma túy từ thực tiễn tỉnh Quảng Ninh”, Luận văn thạc sĩ Luật Học, Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các tội phạm về ma túy từ thực tiễn tỉnh Quảng Ninh
Tác giả: Trần Thị Minh Hảo
Nhà XB: Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
Năm: 2019
11. Trần Văn Luyện (chủ biên), Bình luận khoa học bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi Bổ sung 2017) - Phần tội phạm, nxb. Công an nhân dân, 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi Bổ sung 2017) - Phần tội phạm
Tác giả: Trần Văn Luyện
Nhà XB: nxb. Công an nhân dân
Năm: 2017
12. Nguyễn Thành Nhân (2019), “Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án về ma túy theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương”, Luận văn thạc sĩ Luật Học, Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án về ma túy theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương
Tác giả: Nguyễn Thành Nhân
Nhà XB: Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
Năm: 2019
13. Oxford University Press, “Oxford Learner's Dictionaries”, https://www.oxfordlearnersdictionaries.com/definition/english/prosecution?q=prosecution, (01/6/2020) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Oxford Learner's Dictionaries
Nhà XB: Oxford University Press
Năm: 2020
14. Trần Công Phàn (2015), “Tiếp tục quan tâm làm tốt công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát giải quyết các vụ án ma túy trong tình hình hiện nay”, Tạp chí kiểm sát, số 20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp tục quan tâm làm tốt công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát giải quyết các vụ án ma túy trong tình hình hiện nay
Tác giả: Trần Công Phàn
Nhà XB: Tạp chí kiểm sát
Năm: 2015
15. Nguyễn Ngọc Phụng (2019), “Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án mua bán trái phép chất ma túy từ thực tiễn tỉnh Tiền Giang”, Luận văn thạc sĩ Luật Học, Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án mua bán trái phép chất ma túy từ thực tiễn tỉnh Tiền Giang
Tác giả: Nguyễn Ngọc Phụng
Nhà XB: Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
Năm: 2019
17. Quốc hội (2009), Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2009
18. Quốc hội (2017) Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2017
21. Quốc hội (2014), Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2014
22. Nguyễn Thành Tất (2018), “Tội Mua bán trái phép chất ma túy theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bắc Ninh”, Luận văn thạc sĩ Luật Học, Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội Mua bán trái phép chất ma túy theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bắc Ninh
Tác giả: Nguyễn Thành Tất
Nhà XB: Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
Năm: 2018
23. Nguyễn Trần Thanh (2019), “Thực hành quyền công tố trong các vụ án ma túy theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu”, Luận văn thạc sĩ Luật Học, Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành quyền công tố trong các vụ án ma túy theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Tác giả: Nguyễn Trần Thanh
Nhà XB: Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
Năm: 2019
24. Võ Thọ (1985) Một số vấn đề về luật tố tụng hình sự, NXB Pháp lý, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về luật tố tụng hình sự
Tác giả: Võ Thọ
Nhà XB: NXB Pháp lý
Năm: 1985
31. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai (2015, 2016, 2017, 2018, 2019), Báo cáo số liệu thống kê án ma túy tỉnh Đồng Nai, Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số liệu thống kê án ma túy tỉnh Đồng Nai
Tác giả: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai
Nhà XB: Đồng Nai
Năm: 2015, 2016, 2017, 2018, 2019

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ - (LUẬN văn THẠC sĩ) thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án mua bán trái phép chất ma túy từ thực tiễn thành phố biên hòa, tỉnh đồng nai
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ (Trang 1)
BLH S: Bộ luật Hình sự - (LUẬN văn THẠC sĩ) thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án mua bán trái phép chất ma túy từ thực tiễn thành phố biên hòa, tỉnh đồng nai
lu ật Hình sự (Trang 6)
CÁC BẢNG BIỂU SỐ LIỆU - (LUẬN văn THẠC sĩ) thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án mua bán trái phép chất ma túy từ thực tiễn thành phố biên hòa, tỉnh đồng nai
CÁC BẢNG BIỂU SỐ LIỆU (Trang 89)
Bảng 2.1. Số liệu tin báo, nguồn tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố tiếp nhận và vụ án hình sự khởi tố từ năm 2015 đến năm 2019 - (LUẬN văn THẠC sĩ) thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án mua bán trái phép chất ma túy từ thực tiễn thành phố biên hòa, tỉnh đồng nai
Bảng 2.1. Số liệu tin báo, nguồn tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố tiếp nhận và vụ án hình sự khởi tố từ năm 2015 đến năm 2019 (Trang 89)
Bảng 2.4. Bảng so sánh tình hình áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giai đoạn từ năm 2015 đến năm - (LUẬN văn THẠC sĩ) thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án mua bán trái phép chất ma túy từ thực tiễn thành phố biên hòa, tỉnh đồng nai
Bảng 2.4. Bảng so sánh tình hình áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giai đoạn từ năm 2015 đến năm (Trang 90)
Bảng 2.3. Bảng số liệu số vụ án hình sự và vụ án ma túy đã khởi tố tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2019  Năm Số vụ án hình sự Vụ án về nhóm tội ma - (LUẬN văn THẠC sĩ) thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án mua bán trái phép chất ma túy từ thực tiễn thành phố biên hòa, tỉnh đồng nai
Bảng 2.3. Bảng số liệu số vụ án hình sự và vụ án ma túy đã khởi tố tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2019 Năm Số vụ án hình sự Vụ án về nhóm tội ma (Trang 90)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w