1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu Đề tài : Sự bất cân xứng giữa nhu cầu tuyển dụng của các ngân hàng và khả năng đáp ứng của sinh viên khối ngành kinh tế ra trường – thực tiễn và giải pháp docx

94 816 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự bất cân xứng giữa nhu cầu tuyển dụng của các ngân hàng và khả năng đáp ứng của sinh viên khối ngành kinh tế ra trường – thực tiễn và giải pháp
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế
Chuyên ngành Ngành Kinh Tế
Thể loại Đề tài
Năm xuất bản 2008
Thành phố Việt Nam
Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hàng năm có một khối lượng không nhỏ sinh viên chuyên ngành tài chính ngân hàng của tất cả các cấp đại học – cao đẳng – trung cấp ra trường song năng lực và trình độ chuyên môn của một b

Trang 1

Đề tài tham dự cuộc thi Sinh viên nghiên cứu khoa học năm 2008

Sự bất cân xứng giữa nhu cầu tuyển dụng của các

ngân hàng và khả năng đáp ứng của sinh viên khối

ngành kinh tế ra trường – thực tiễn và giải pháp

Trang 2

http://svnckh.com.vn 1

MỤC LỤC

Chương 1 Lý thuyết thị trường lao động 2

1 Lý thuyết vi mô về thị trường lao động trong ngành ngân hàng 2

2 Lý thuyết vi mô về thị trường lao động trong ngành ngân hàng

theo quan điểm lao động là hàng hóa 7

Chương 2 Những vấn đề trong khả năng đáp ứng yêu cầu công việc ngân

hàng của sinh viên khối ngành kinh tế mới ra trường 10

2 Sự bất cân xứng trong đánh giá khả năng của sinh viên mới ra

Chương 3 Các nguyên nhân dẫn đến sự bất cân xứng giữa nhu cầu tuyển

dụng của ngân hàng và khả năng đáp ứng của sinh viên 22

1 Nguyên nhân từ phía Nhà trường – bên cung trên thị trường 22

1.2 Về chương trình đào tạo và các môn học 24

1.5 Về đánh giá kết quả học tập của sinh viên và hiệu quả của nhà

2 Nguyên nhân từ phía ngân hàng – bên cầu 34

2.1 Không cung cấp đầy đủ thông tin về nhu cầu của ngành 35 2.2 Chưa tạo điều kiện thích đáng cho các chương trình hỗ trợ đào tạo,

liên kết đào tạo với các trường đại học 37

3 Nguyên nhân đặc biệt từ chủ quan sinh viên – sản phẩm trên

3.2 Thái độ thụ động, trong nghiên cứu, tìm hiểu thông tin và rèn

3.3 Đánh giá quá cao vể bản thân và thiếu thái độ cầu thị 52

Trang 3

http://svnckh.com.vn 2

Chương 4 Một số đề xuất giải pháp nhằm rút ngăn khoảng cách chênh

lệch giữa cung và cầu nhân lực ngành ngân hàng 57

2.1 Phát triển về mặt nghiệp vụ chuyên môn 61

3.2 Giảng viên tại các cơ sở đào tạo có thể tham gia họp tổng kết tình

3.3 Các ngân hàng tạo điều kiện để sinh viên thực tập hiệu quả hơn 71 3.4 Xây dựng các mô hình liên kết đào tạo giữa trường đại học và

4 Giải pháp về tài liệu đào tạo 74

5 Giải pháp cho việc phát triển các kĩ năng và tính cách cần

thiết, giải quyết các bất cập còn tồn tại ở sinh viên 76

5.1 Tạo điều kiện cho sinh viên phát triển kĩ năng mềm và tiếp cận

Trang 4

http://svnckh.com.vn 3

LỜI NÓI ĐẦU

Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển mạnh mẽ như hiện nay và nhất là sau khi Việt Nam gia nhập WTO với những cơ hội hòa nhập ngày càng sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giới, hoạt động của ngành ngân hàng cũng ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn bao giờ hết Một hệ thống ngân hàng hoạt động nhanh nhạy và hiệu quả sẽ có tác dụng thúc đẩy rất lớn đối với sự phát triển của toàn nền kinh tế Tuy nhiên khả năng và kết quả hoạt động của từng ngân hàng nói riêng và toàn hệ thống ngân hàng nói chung lại phụ thuộc rất lớn vào nguồn nhân lực Hiện tại, nguồn nhân lực cho ngành này không chỉ thiếu về số lượng mà còn yếu kém cả về chất lượng Hàng năm có một khối lượng không nhỏ sinh viên chuyên ngành tài chính ngân hàng của tất cả các cấp đại học – cao đẳng – trung cấp ra trường song năng lực và trình độ chuyên môn của một bộ phận lớn những sinh viên này lại chưa thể đáp ứng được những yêu cầu làm việc mà các ngân hàng đặt ra

Xuất phát từ thực tiễn bức xúc như vậy, nhóm nghiên cứu mong muốn tìm hiểu cặn kẽ hơn những thiếu sót, bất cập trong chất lượng sinh viên khối ngành kinh tế mới ra trường hiện nay, nhất là các sinh viên có mong muốn và định hướng

sẽ làm việc trong ngành ngân hàng sau khi ra trường Vì thế, nhóm nghiên cứu đã

chọn đề tài “Sự bất cân xứng giữa nhu cầu tuyển dụng của các ngân hàng và khả năng đáp ứng của sinh viên khối ngành kinh tế mới ra trường – Thực tiễn

và Giải pháp” Trên cơ sở những nghiên cứu chi tiết về những bất cân xứng đang

tồn tại và các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những bất cân xứng đó, nhóm nghiên cứu xin đề xuất một số giải pháp thay đổi trên các phương diện vĩ mô và vi mô với mong muốn có thể đóng góp một vài ý tưởng góp phần hạn chế bớt sự bất cân bằng cung cầu lao động cho ngành ngân hàng

Nhóm nghiên cứu

Trang 5

1.1.1 Cầu lao động của cá nhân hãng:

Cầu lao động của cá nhân hãng (ngân hàng) là số công nhân mà hãng có khả năng và sẵn sàng thuê ở các mức đơn giá tiền lương khác nhau trọng một khảng thời gian xác định, các yếu tố khác không đổi

Cầu lao động của hãng là cầu thứ phát, nó phụ thuộc vào và được được rút ra

từ mức sản lượng của hãng và chi phí của các đầu vào

Quyết định thuê bao nhiêu lao động của chủ hãng dựa trên việc xem xét lợi nhuận mỗi lao động đem lại và chi phí bỏ ra để thuê họ

Một ngân hàng sẽ xem xét thuê bao nhiêu lao động để đạt mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận Nếu giả sử tất cả nhân viên của ngân hàng đều có khả năng làm việc như nhau, ta sẽ suy ra được quyết định thuê lao động của ngân hàng phụ thuộc vào sự thay đổi về lợi nhuận trên các giao dịch dịch vụ ngân hàng mà ngân hàng thu được khi thuê thêm các lao động

D

L

Đơn giá tiền lương

Lượng lao động

Trang 6

http://svnckh.com.vn 5

1.1.2 Cầu lao động của thị trường:

Ở đây chúng ta chỉ xét đến thị trường lao động của ngành ngân hàng nên đường cầu lao động của thị trường sẽ có được từ việc cộng các đường cầu của tất

cả các ngân hàng lại, hay cầu lao động của ngành là tổng cầu lao động của từng ngân hàng

Các yếu tố ảnh hưởng đến sự dịch chuyển của đường cầu lao động ngành ngân hàng

Thứ nhất, sự thay đổi trong giá của hàng hóa, cụ thể là giá các dịch vụ ngân

hàng (tín dụng, giao dịch thanh toán, chuyển tiền ) Khi nền kinh tế thị trường

ngày càng phát triển thì nhu cầu về các dịch vụ ngân hàng cũng tăng lên Điều này làm cho giá cả của các dịch vụ này tăng lên và cũng tức là mỗi lao động tạo ra nhiều doanh thu hơn Với mỗi mức tiền lương, số lượng lao động được thuê sẽ tăng lên

Đây chính là thực tế đang xảy ra ở Việt Nam hiện nay Hệ thống ngân hàng của chúng ta mới thực sự đi vào hoạt động từ sau Đổi mới Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế theo hướng kinh tế thị trường, nhu cầu về các dịch vụ ngân hàng cũng phát triển mạnh mẽ Điều này khiến cho ngân hàng trở thành một ngành có lợi nhuận cao, thu hút nhiều hãng tham gia vào thị trường Đặc biệt là sau một loạt các chính sách cải cách, tạo cơ hội phát triển cho các ngân hàng tư nhân của Nhà nước Từ đó, nhu cầu về lao động trong ngành ngân hàng cũng tăng lên đáng kể Thực trạng tình hình cung cầu lao động trong ngành ngân hàng sẽ được

đề cập cụ thể hơn ở Phần 2

Thứ hai, sự thay đổi trong công nghệ Công nghệ được cải tiến khiến cho

người lao động làm việc hiệu quả hơn, các thông tin giao dịch chính xác hơn, làm tăng doanh thu do mỗi lao động tạo ra Và tương tự như yếu tố trên, nó làm nhu cầu tuyển dụng của ngành tăng

Trang 7

http://svnckh.com.vn 6

1.2 Cung lao động:

1.2.1 Cung lao động cá nhân:

Cung lao động là lượng thời gian mà người lao động sẵn sàng và có khả năng làm việc tương ứng với các mức tiền lương khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định, các yếu tố khác không đổi Tức là, lượng thời gian làm việc của người lao động phụ thuộc vào mức tiền lương

Tuy nhiên, mỗi cá nhân đều có chỉ đúng 24 giờ mỗi ngày, và không ai có thể cung lao động cả 24 giờ mỗi ngày được Mỗi người đều có các mục đích khác chứ không chỉ có mục đích bán các dịch vụ lao động của mình trên thị trường.Thời gian trong ngày của mỗi người có thể được chia ra thành những giờ lao động và những giờ nghỉ ngơi Nghỉ ngơi là thuật ngữ chung mô tả các hoạt động không làm việc bao gồm: ăn, ngủ, đi chơi với gia đình và bè bạn, và cả nghiên cứu và làm việc ở nhà Người lao động được giả định yêu thích nghỉ ngơi và sẽ chọn số giờ làm việc trong ngày tùy ý Đơn giá tiền lương là giá của thời gian nghỉ ngơi vì họ sẽ phải từ

bỏ lượng tiền đó để hưởng thụ nghỉ ngơi Với mục tiêu tối đa hóa lợi ích chứ không phải tối đa hóa lợi nhuận thì đơn giá tiền lương tăng lên có nghĩa là giá của nghỉ ngơi tăng lên, người ta tiêu dùng ít nghỉ ngơi hơn – và làm việc nhiều hơn Đường cung lao động là đường dốc lên

Khi đơn giá tiền lương tăng đến một mức nhất định, người ta làm ít giờ mà vẫn có thu nhập cao thì họ sẽ tiêu dùng hàng hóa “nghỉ ngơi” nhiều hơn Điều đó được dùng để giải thích đường cung lao động các nhân vòng về phía sau

Đơn giá

tiền lương

Số giờ làm việc/ngày

SL

Đơn giá

tiền lương

Số giờ làm việc/ngày

SL

Trang 8

http://svnckh.com.vn 7

Trong thực tế với một ngành như ngành ngân hàng thì đường cung lao động thực tế cá nhân cũng giống như của người bình thường (chứ không phải các nhân

vật nổi tiếng) – là đường cung lao động dốc lên.

1.2.2 Cung lao động của thị trường:

Đường cung lao động thị trường có thể đạt được bằng việc cộng chiều ngang các đường cung lao động của các cá nhân trong ngành Đường cung lao động của thị trường của ngành trong thực tế sẽ có dạng đốc lên vì đa phần lao động ngân hàng có đường cung lao động dốc lên, và với những người có đường cung vòng về phái sau thì các điểm vòng đó cũng xuất hiện ở những mức đơn giá tiền lương khác nhau

Các yếu tố ảnh hưởng đến sự dịch chuyển đường cung lao động trong ngành ngân hàng:

Thứ nhất, cơ hội lựa chọn việc làm ở các ngành khác của lao động trong

ngành Nếu có nhiều cơ hội để người lao động chuyển sang làm việc ở các ngành

khác với mức lương cao hơn thì đường cung lao động ngành ngân hàng sẽ dịch chuyển sang trái – tức là cung giảm đi Và ngược lại, nếu có ít cơ hội để chuyển ngành, và người lao động thấy công việc trong ngành ngân hàng là sự lựa chọn tốt nhất thì đường cung lao động sẽ dịch chuyển phải – cung tăng lên

Thứ hai, sự thay đổi trong quy mô dân số Quy mô dân số tăng làm tăng

lượng người trong độ tuổi lao động, do đó làm tăng cung lao động ở tất cả các ngành, kể cả ngành ngân hàng

Thứ ba, sự thay đổi trong mức sống của người lao động cũng ảnh hưởng đến

khả năng làm việc của họ Khi mức sống ngày càng cao, cuộc sống của mọi người

càng tốt hơn thì họ sẽ có xu hướng nghỉ ngơi nhiều hơn và ngược lại, khi cuộc sống khó khăn, đường cung lao động sẽ dịch chuyển phải

Trang 9

http://svnckh.com.vn 8

Thứ tư, sự thay đổi trong quan điểm sống xã hội như về việc phụ nữ đi làm, và

làm việc trong cả các lĩnh vực mà vốn được mặc định là chỉnh dành cho nam giới Điều nay làm tăng lực lượng lao động xã hội nói chung và của ngành ngân hàng nói riêng

Trong nội dung của bài nghiên cứu này, đối tượng lao động chính được nghiên cứu là sinh viên các ngành kinh tế vừa mới ra trường nên các yếu tố thứ hai, thứ ba và thứ tư ảnh hưởng đến việc cung lao động ở trên sẽ có ít tác động trực tiếp

và xin không được phân tích sâu hơn

1.3 Cân bằng thị trường lao động:

Giả định, thị trường lao động ngành ngân hàng là thị trường lao động cạnh tranh hoàn hảo Trong thị trường này có nhiều người mua sức lao động (nhiều ngân

Đơn giá tiền lương

Số giờ làm việc/ngày

Trang 10

http://svnckh.com.vn 9

hàng cần tuyển dụng lao động) và nhiều người bán dịch vụ lao động với các kỹ năng và khả năng làm việc như nhau Mỗi người bán dịch vụ lao động không có ảnh hưởng gì đến giá của dịch vụ lao động nên họ là người chấp nhận giá

2 Lý thuyết vi mô về thị trường lao động trong ngành ngân hàng theo quan điểm lao động là hàng hóa:

Ở phần trên, nhóm nghiên cứu đã đưa ra lý thuyết vi mô về thị trường lao động Đây là cách tiếp cận trong môn Kinh tế học vi mô Tuy nhiên, chúng ta cũng

có thể tiếp cận vấn đề thị trường lao động trong ngành ngân hàng theo một cách khác

Do đối tượng lao động chủ yếu được nghiên cứu của bài nghiên cứu là sinh viên khối ngành kinh tế vừa tốt nghiệp, nhóm nghiên cứu muốn tiếp cận vấn đề theo cách coi chính sức lao động của sinh viên là hàng hóa Sinh viên được đào tạo, cung cấp các kĩ năng cần thiết từ trường đại học, cao đẳng để làm việc trong ngành ngân hàng Khi đó, người cầu hàng hóa lao động của sinh viên vẫn là ngân hàng, nhưng bên cung không còn là cá nhân sinh viên nữa mà là các trường đại học, cao đẳng có đào tạo về nghiệp vụ ngân hàng

Bên cầu lao động – Ngân hàng – được phân tích giống như cách tiếp cận ở

trên (xem phần 1) Cầu lao động của mỗi ngân hàng là số lao động mà ngân hàng

đó có khả năng và sẵn sàng thuê ở các mức đơn giá tiền lương khác nhau trọng một khảng thời gian xác định, các yếu tố khác không đổi

Trường đại học,

cao đẳng

Sinh viên tốt nghiệp

Sản phẩm

Trang 11

http://svnckh.com.vn 10

Đường cầu lao động của thị trường sẽ có được từ việc cộng các đường cầu của tất cả các ngân hàng lại, hay cầu lao động của ngành là tổng cầu lao động của từng ngân hàng

Sản phẩm lao động chính là sức lao động của sinh viên tốt nghiệp – người lao

động Chất lượng ở sản phẩm lao động là ở các kĩ năng nghiệp vụ ngân hàng, kĩ năng mềm… của sinh viên mà phải qua đào tạo mới có được (tức là phải qua “quá

trình sản xuất” của các bên cung lao động – các trường đào tạo)

Bên cung lao động – Nhà trường – chính là nơi đào tạo các kĩ năng đó, tạo ra

chất lượng sức lao động của sinh viên Các sinh viên trước khi vào trường chưa có

đủ kĩ năng, không thể làm nghiệp vụ của ngân hàng, nhưng sau khi qua đào tạo ở trường đại học, cao đẳng, họ có thể gia nhập lực lượng lao động có tay nghề cho ngành ngân hàng – tức là đáp ứng cầu lao động của ngân hàng

Đường cung lao động của mỗi trường khối ngành kinh tế cộng lại sẽ tạo thành đường cung lao động cho ngành ngân hàng (Ở đây nhóm nghiên cứu chấp nhận một giả thiết gần đúng là chỉ các sinh viên ngành kinh tế mới có nghiệp vụ về kinh

tế để làm việc ở ngân hàng Trong thực tế vẫn có sinh viên của các ngành khác làm trái nghề trong ngành ngân hàng, nhưng đó chỉ là thiểu số và họ sẽ vẫn phải học các

kĩ năng nghiệp vụ ngân hàng.) Đường cung này chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố: chi phí mà nhà trường phải bỏ ra để đào tạo sinh viên theo từng mức độ về chất lượng, lợi ích – doanh thu mà nhà trường nhận được (dưới nhiều hình thức: học phí, trợ cấp của nhà nước, hỗ trợ đào tạo từ phía các ngân hàng…)

Cân bằng cung cầu lao động trên thị trường sẽ đạt được khi lượng lao động

được cầu từ phía ngân hàng được đáp ứng từ quá trình đào tạo của các trường với một mức chi phí mà ngân hàng bỏ ra để trả lương cho người lao động và hỗ trợ đào tạo các trường phù hợp với lợi ích họ nhận được khi sử dụng các sinh viên có nghiệp vụ

Trang 12

http://svnckh.com.vn 11

Nhóm nghiên cứu muốn dựa trên cách tiếp cận này để phân tích tình hình cung cầu lao động trong ngành ngân hàng hiện nay của Việt Nam, chỉ ra nguyên ngân của những mất cân bằng cung cầu trên thị trường lao động ngành ngân hàng Trên

cơ sở phân tích các lí do gây ra sự bất cân xứng đó, mới có thể đi đến đề xuất được các giải pháp khả thi đối với vai trò của cả ba bên tham gia thị trường nhằm làm hạn chế, khắc phục dần những chênh lệch cung cầu đó thông qua việc nâng cao chất lượng cho sản phẩm đầu ra – sinh viên khối ngành kinh tế mới ra trường mong muốn và định hướng làm việc trong lĩnh vực ngân hàng

Trang 13

http://svnckh.com.vn 12

CHƯƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ TRONG KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG

YÊU CẦU CÔNG VIỆC NGÂN HÀNG CỦA SINH VIÊN KHỐI NGÀNH KINH TẾ MỚI RA TRƯỜNG

1 Thiếu hụt về số lượng:

Việt Nam hiện có hơn 30 ngân hàng thương mại cổ phần, 5 ngân hàng quốc doanh, 5 ngân hàng liên doanh và gần 40 chi nhánh ngân hàng nước ngoài Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, hệ thống các tổ chức tín dụng bao gồm: 6 tổ chức tín dụng nhà nước, 25 ngân hàng thương mại cổ phần đô thị, 12 ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn, 31 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 5 ngân hàng liên doanh, 6 công ty tài chính, 9 công ty cho thuê tài chính và 44 văn phòng đại diện gân hàng nước ngoài Mỗi tổ chức có hàng trăm chi nhánh trải rộng trên cả nước Trong một thời gian ngắn từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO cho đến nay, nhiều

NH thương mại cổ phần đã có tốc độ phát triển nhân lực khá cao từ 30-70%, thậm chí có nơi đến 150%, một vài ví dụ như VIB Bank chỉ trong năm 2006 đã tăng nhân sự từ gần 900 người lên tới gần 1.700 người, G-Bank mới được thành lập năm

2006, nhưng dự kiến sẽ tăng nhân sự từ hơn 300 người lên gần 1.000 nhân sự năm

2007, Habubank dự kiến tăng thêm từ 300-400 nhân viên

Theo các kết quả đánh giá về các chỉ số nhân lực của Cong ty tư vấn Navigos – Một trong các công ty tư vấn nguồn nhân lực hàng đầu Việt Nam hiện nay, chỉ tính riêng hai quý đầu năm 2008, nhu cầu nhân lực cho các bộ phận kế toán, nghiệp

vụ tài chính ngân hàng của ngành ngân hàng đã tăng thêm 1300 người tương đương 383% so với cùng kì năm trước Xét về tốc độ gia tăng của thị trường thì nguồn nhân lực của ngành ngân hàng đạt mức kỉ lục và xếp vị trí cao nhất trong tất cả các ngành nghể hoạt động trong nền kinh tế hiện nay với tốc độ tăng trưởng 57%

Trang 14

có ít nhất một bộ khung lãnh đạo gồm ba thành viên: giám đốc, phó giám đốc và kế toán trường Như vậy chỉ riêng mảng nhân sự cao cấp mỗi ngân hàng đã cần đến 60 người cho mỗi năm hoạt động Tùy thuộc vào quy mô của chi nhánh mà số lượng nhân viên cụ thể cần tuyển dụng vào làm việc sẽ khác nhau Hay một ngân hàng mới thành lập với quy mô vốn điều lệ 1000 tỷ đồng sẽ đồng nghĩa với việc cần tuyển dụng tối thiểu từ 100 đến 200 nhân viên để khởi sự Tuy nhiên điều này cũng

đã đủ cho thấy nhu cầu tuyển dụng của các ngân hàng trong những năm gần đây ở mức rất lớn Đó là chưa kể đến một số lượng lớn các ngân hàng nước ngoài đã và đang xâm nhập vào hoạt động tại thị trường Việt Nam, nhất là sau thời điểm ngày 1/4/2007 khi ngân hàng 100% vốn nước ngoài được phép thành lập tại Việt Nam (theo cam kết gia nhập WTO của Việt Nam) Các ngân hàng nước ngoài với quy

mô lớn khi vào thị trường Việt Nam cũng đòi hỏi phải có một đội ngũ nhân viên đông đảo để nhanh chóng nắm bắt thị trường mở rộng hoạt động

Theo tính toán sơ bộ của Thống đốc ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tính trong phạm vi ba năm gần đây, trung bình mỗi năm ngành ngân hàng cần khoảng 15000 nhân viên có trình độ đại học Đó là xét về đầu vào, còn về đầu ra, trên địa bản cả nước hiện nay có có 33 trường có ngành tài chính ngân hàng ở trình độ đại học, 16 trường cao đăng và 8 trường trung cấp chuyên nghiệp Tổng số sinh viên ở các trường này có thể làm việc trong ngành ngân hàng ngay sau khi ra trường hiện nay mới chỉ có thể đủ cho khoảng 11000 vị trí Thêm vào đó, tính đến năm 2012, nguồn nhân lực cho ngành tài chính ngân hàng sẽ cần ít nhất 1,8 triệu người Như vậy từ

Trang 15

số những vấn đề nhỏ còn tồn tại trong mối quan hệ cung cầu giữa bên cung – trường đại học khối ngành kinh tế và bên cầu – các ngân hàng thương mại Điều đáng nói ở đây là trong số 11000 vị trí tuyển dụng trong ngành ngân hàng mà sinh viên có thể vào làm nói trên, không phải tất cả các vị trí đều có thể tìm được sinh viên đủ khả năng bắt tay vào công việc Chất lượng của sinh viên mới ra trường và khả năng đảm nhận công việc thực tế mới là vấn đề nổi cộm nhất trong quá trình tuyển dụng của các ngân hàng

2 Sự bất cân xứng trong đánh giá khả năng của sinh viên mới ra trường:

Khả năng của sinh viên mới ra trường – hay xét theo cách tiếp cận của nhóm nghiên cứu, chính là chất lượng của sản phẩm đầu ra được cung ứng trên thị trường lao động – là vấn đề lớn nhất và cũng là một trong các nguyên nhân đáng kể nhất dẫn đến tình trạng ngân hàng vẫn thiếu nhân lực trầm trọng trong khi một bộ phận không nhỏ sinh viên khối ngành kinh tế được đào tạo về tài chính – ngân hàng và được cho là có thể làm việc trong các ngân hàng khi ra trường lại không thể được chấp nhận vào làm việc

Trên cơ sở số lượng ước tính nhân viên cần tuyển dụng mỗi năm của hệ thống các ngân hàng ở Việt Nam hiện nay và số lượng sinh viên tốt nghiệp hàng năm của một số khoa ngành đào tạo tại một số trường kinh tế - nguồn cung nhân lực chủ yếu cho lĩnh vực ngân hàng, phần nào đã có thể thấy được một sự bất cân đối giữa cung và cầu

Trang 16

Cuộc điều tra được tiến hành với hai bộ phận song song – thực tế có thể coi là hai cuộc điều tra nhỏ trên cơ sở bản câu hỏi khá gần nhau song đối tượng nghiên cứu khác nhau

Một mảng bao gồm 149 sinh viên hệ chính quy sắp ra trường của năm trường: Đại học Ngoại thương Hà Nội, Đại học Hà Nội, Đại học Kinh tế Quốc dân, Học viện Tài chính và Học viện Ngân hàng Các sinh viên được hỏi, trên cơ sở bản điều tra của nhóm nghiên cứu sẽ đưa ra sự tự đánh giá về năng lực của bản thân Phiếu trả lời hợp lệ là các phiếu có tối thiểu 75% câu hỏi được trả lời

Mảng thứ hai bao gồm 201 nhân viên của 7 ngân hàng thương mại hàng đầu Việt Nam: Ngân hàng Quân Đội, Ngân hàng đầu tư và phát triển, Ngân hàng Kĩ thương, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Ngân hàng Ngoại thương, Ngân hàng Xuất nhập khẩu và Ngân hàng Đại dương Phiếu trả lời hợp lệ

là các phiếu có tối thiểu 75% câu hỏi được trả lời đồng thời do cán bộ ngân hàng đã từng có kinh nghiệm đào tạo trực tiếp cho và làm việc cùng với sinh viên mới ra trường thực hiện Các cán bộ này dựa trên những kinh nghiệm thực tế của mình khi tiếp xúc với các sinh viên khối ngành kinh tế mới ra trường trong môi trường làm việc của ngân hàng sẽ đưa ra sự đánh giá của họ về khả năng đáp ứng của các sinh viên này trước các yêu cầu tuyển dụng của ngân hàng

Do đặc tính và yêu cầu làm việc cụ thể có sự khác biệt nhau giữa các bộ phận khác nhau trong cùng một hệ thống ngân hàng, các phiếu trả lời thu về được phân chia ra làm bốn nhóm trên cơ sở các phòng ban nghiệp vụ của một ngân hàng:

Trang 17

http://svnckh.com.vn 16

Bộ phận thanh toán quốc tế

Bộ phận tín dụng / đầu tư

Bộ phận thẻ Các bộ phận khác Việc phân loại bộ phận nghiệp vụ được thể hiện trong bảng sau

Bảng 1: Số phiếu trả lời phân theo bộ phận nghiệp vụ

ra trường làm việc trong lĩnh vực ngân hàng Kết quả đánh giá được thể hiện như sau:

Bảng 2: Kết quả đánh giá của hai mảng nghiên cứu

phân theo mảng tiêu chí Tiêu

Độ lệch chuẩn

Trang 18

vụ

chuyên

môn

Thanh toán 2.58 2.38 149 78 1.04 0.93 Tín dụng 2.62 2.49 148 82 1.02 1.10 Thẻ 3.06 3.00 148 37 1.05 0.92 Nghiệp vụ

Trang 19

http://svnckh.com.vn 18

xét Cụ thể, sinh viên có xu hướng đánh giá về bản thân mình cao hơn trong khi trên thực tế, các ngân hàng cho rằng sinh viên khối ngành kinh tế mới ra trường có khả năng đáp ứng yêu cầu công việc chỉ ở mức trung bình – khá

Mặc dù ở cả ba mảng tiêu chí lớn là Nghiệp vụ chuyên môn – Kĩ năng mềm và Tính cách, kết quả tự đánh giá của sinh viên và sự đánh giá sinh viên của ngân hàng đều đạt kết quả khá (trên 3 trong thang 5 điểm), song thực chất mảng Nghiệp

vụ chuyên môn có sự chênh lệch lớn nhất đồng thời có số điểm đánh giá trung bình chung thấp nhất Hơn nữa, khi tiếp tục chia nhỏ các tiêu chí của mảng Nghiệp vụ

chuyên môn thì kết quả thậm chí còn thấp hơn

Có thể thấy, sở dĩ kết quả đánh giá trung bình chung cho phần Nghiệp vụ chuyên môn đạt mức khá là nhờ có sự đánh giá khá cao về mục Nghiệp vụ chung (bao gồm các kiến thức cơ bản cần biết mà bất kì một nhân viên ngân hàng, bất kể làm việc trong bộ phận nào, phải nắm được như Tiếng Anh, sử dụng MSWord, hiểu biết về tình hình chính trị và kinh tế vĩ mô, hiểu biết chung về hoạt động của ngành ngân hàng…): Sinh viên cho rằng họ đáp ứng được khoảng 3.42/ 5 điểm và ngân hàng cũng đánh giá khá cao khả năng của sinh viên với 3.33 điểm

Tuy nhiên, ở từng bộ phận cụ thể phân theo phòng ban làm việc, đòi hỏi các kiến thức chuyên môn cho riêng từng công việc thì kết quả rất kém Bộ phận tín dụng đánh giá gần sát nhất khả năng của sinh viên so với những kết quả tự nhận định bản thân mà sinh viên đưa ra Còn lại, về các nghiệp vụ của phòng thanh toán, trong khi sinh viên cho rằng họ nắm được 3.19 /5 điểm thì bên ngân hàng chỉ cho rằng sinh viên đáp ứng được 2.71 / 5 điểm những yêu cầu của họ Và về bộ phận thẻ, sự chênh lệch cũng khá lớn với con số tương ứng là 3.06 điểm và 2.33 điểm Nhóm nghiên cứu xin đưa ra một số các tiểu mục nhỏ trong số các tiểu mục đánh giá mà nhóm nêu ra trong bảng điều tra của nhóm về mảng Nghiệp vụ chuyên môn

Trang 20

Mức độ chênh lệch

Tỉ lệ % NH chọn 1 và 2

Các kiến thức thương mại cơ sở

Nghiệp vụ thanh toán thẻ

Trang 21

http://svnckh.com.vn 20

của ngân hàng chỉ đạt mức trung bình Có một số tiêu chí đạt trên 2.5 điểm song cũng có các tiêu chí bị đánh giá rất yếu như Giải quyết khiếu nại trong Bộ Phận THẺ chỉ được 1.92 điểm Trong đó, mặc dù có sự khác nhau giữa các phòng ban bộ phận nghiệp vụ, có một điểm khá tương đồng giữa các bộ phận này là: Tỉ lệ nhân viên ngân hàng đánh giá sinh viên chỉ đạt được 1 điểm (Không có hiểu biết gì) hoặc 2 điểm (Hiểu biết rất ít, mơ hồ và có nhiều nhầm lẫn) là rất cao Tỉ lệ này còn đặc biệt cao ở các tiêu chí có liên quan đến thực tiễn như khả năng giải quyết tranh chấp, sai sót ở bộ phận Thanh toán (74.4% bên ngân hàng cho rằng sinh viên chỉ đạt không quá 2 điểm cho tiểu mục này) hay khả năng giải quyết khiếu nại đối với

bộ phận Thẻ (63.8%)

Kết quả này cho thấy một nghịch lý rất lớn trong việc đào tạo tại trường đại học Các tiêu chí mà nhóm nghiên cứu đưa ra trong mảng Nghiệp vụ chuyên môn dựa trên cơ sở các kiến thức được học (thậm chí đã được xây dựng riêng thành các môn học chuyên ngành) ở các trường đại học khối ngành kinh tế Thế nhưng kết quả đánh giá của bên ngân hàng lại cho thấy một bộ phận lớn sinh viên không nắm được các kiến thức cơ bản đó, cho dù đã được học tập tại trường đại học Hơn thế nữa, nếu như xem xét đến các nghiệp vụ có liên quan đến thực tế thì khả năng của sinh viên còn kém hơn nhiều Đồng thời, một mâu thuẫn nữa là trong khi ngân hàng đánh giá không cao về khả năng của sinh viên thì đại bộ phận sinh viên lại cho rằng bản thân họ nắm khá vững về các kiến thức cơ sở của từng bộ phận nghiệp vụ nêu trên Tại hầu hết các tiểu mục, kết quả trung bình chung tự đánh giá của sinh viên đều trên 3 điểm, thậm chí có mục còn lên đến 3.48 điểm Điều này phần nào phản ánh sự thiếu thực tế của chương trình đào tạo

Sinh viên cho rằng họ nắm chắc các nghiệp vụ, kiến thức được đưa ra là do họ đang đứng trên cơ sở những cái được học ở trường để tự đánh giá bản thân Trong khi đó ngân hàng đứng trên cơ sở các kĩ năng nghiệp vụ thực tế để đánh giá sinh viên Hai cơ sở đánh giá khác nhau đưa ra các kết quả đánh giá có độ “vênh” khá

Trang 22

http://svnckh.com.vn 21

lớn đã cho thấy bản thân hai nền tảng đánh giá đã có độ chênh lệch đáng kể Hay nói cách khác, tồn tại một khoảng cách lớn giữa cái sinh viên được học ở nhà trường và công việc thực tế họ cần phải làm được trong môi trường ngân hàng

Mảng thứ hai và thứ ba trong phiếu điều tra của nhóm nghiên cứu là phần đánh giá về các Kĩ năng mềm Kỹ năng mềm (soft skills) là thuật ngữ dùng để chỉ các kỹ năng quan trọng trong cuộc sống con người như: kỹ năng sống, giao tiếp, lãnh đạo, làm việc theo nhóm, kỹ năng quản lý thời gian, thư giãn, vượt qua khủng hoảng, sáng tạo và đổi mới là những thứ thường không được học trong nhà trường, không liên quan đến kiến thức chuyên môn, không thể sờ nắm, không phải

là kỹ năng cá tính đặc biệt mà phụ thuộc chủ yếu vào cá tính của từng người

Nhóm nghiên cứu đã đưa ra 22 kĩ năng mềm và 12 nét tính cách để làm cơ sở đánh giá Theo bản tổng hợp các đặc điểm mà một nhân viên ngân hàng cần có của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam và trên cơ sở kết quả điều tra, nhóm nghiên cứu chỉ xin trích dẫn ra đây kết quả nghiên cứu theo các đặc điểm trong bản tổng hợp của Hiệp hội Ngân hàng

Bảng 5: Đánh giá kĩ năng mềm và tính cách

Tiêu chí Số phiếu Cao nhất Thấp nhất Trung

bình

Độ lệch chuẩn

Trang 23

http://svnckh.com.vn 22

từ phê

bình Hiểu biết

Trang 24

http://svnckh.com.vn 23

vụ Chuyên môn Sự chênh lệch lớn nhất nằm ở tiêu chí Sự hiểu biết về con người (2.90 của ngân hàng và 3.19 của sinh viên) và Hiểu biết về chính trị và kinh tế Vĩ

mô (2.71 của ngân hàng và 3.09 của sinh viên) Điều này một lần nữa cho thấy hiện

tại, sinh viên trong quá trình đào tạo và khi ra trường còn quá thiếu kiến thức thực

tế Hành trang sinh viên có chỉ là những bài giảng trên lớp trong khi các bài giảng này thường không gắn liền với thực tế, xa vời thực tế đồng thời sinh viên không có thói quen hoặc không bị bắt buộc phải tìm hiểu thêm các kiến thức bên ngoài, thực tiễn hóa lý thuyết được học

Bản điều tra của nhóm nghiên cứu với việc phân chia thành ba mảng: Nghiệp

vụ chuyên môn, Kĩ năng mềm và Tính cách và hàng loạt tiêu chí cụ thể cho từng mảng nghiên cứu đều đã đi đến chung một kết luận sinh viên khối ngành kinh tế mới ra trường chưa có khả năng đáp ứng được các yêu cầu tuyển dụng của các ngân hàng Tuy nhiên, các sinh viên này lại không ý thức được điều đó và thường

có xu hướng đánh giá khả năng của mình cao hơn so với thực tế làm việc có thể có được

Cũng trong bản điều tra của mình, nhóm nghiên cứu đã đi đến thêm một kết luận: Sinh viên các trường kinh tế cho rằng khi ra trường họ có thể đáp ứng được 65% yêu cầu của ngân hàng và chỉ cần thời gian đào tạo ban đầu là 2,3 tháng để thật sự làm việc hiệu quả Trong khi đó, các con số tương ứng mà ngân hàng đưa ra chỉ là 55.7% và ngân hàng phải mất đến 4.24 tháng cho việc đào tạo đối với các sinh viên mới ra trường mà họ tuyển dụng

Trang 25

http://svnckh.com.vn 24

CHƯƠNG 3 CÁC NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN SỰ BẤT CÂN XỨNG

GIỮA NHU CẦU TUYỂN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG VÀ

KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG CỦA SINH VIÊN

1 Nguyên nhân từ phía Nhà trường – bên cung trên thị trường

Qua những phân tích ở trên chúng ta có thể thấy, việc có sự bất cân xứng giữa khả năng đáp ứng của sinh viên khi ra trường với yêu cầu về chuyên môn của các nhà tuyển dụng trong ngành tài chính ngân hàng có thể xuất phát từ bản thân sinh viên

và cách tiếp cận nguồn lực của Ngân hàng Tuy nhiên một nguyên nhân cũng rất quan trọng nữa là tác nhân để khả năng của sinh viên và nhu cầu của Ngân hàng có thể gặp nhau đó là đào tạo trong trường Đại học Có một thực tế là nhiều ngân hàng vẫn buộc phải tiếp nhận những nhân viên “dưới chuẩn” vì nếu không tiếp nhận thì ngân hàng sẽ phải đối mặt với nguy cơ thiếu nhân lực Mặc dù trường Đại học được coi là nơi đào tạo và trang bị cho sinh viên những kiến thức cần thiết cho ngành học, nhưng lại không tạo ra những con người “có nghề” Bởi vậy mà hiện nay hầu hết các ngân hàng đều xây dựng Trung tâm đào tạo của riêng mình và việc đào tạo lại, bồi dưỡng nghiệp vụ cho nhân viên mới được coi là việc tất yếu đối với các ngân hàng Vậy thì có những nguyên nhân trực tiếp nào dẫn đến “sản phẩm đầu ra” của các trường Đại học lại không đáp ứng được nhu cầu tuyển dụng của các ngân hàng?

1.1 Về phương thức đào tạo

(a) Các phương pháp giảng dạy kém hiệu quả: Hiện nay, việc giảng dạy vẫn phổ

biến dưới hình thức bài thuyết trình, bài giảng của các thầy cô mà thiếu đi sự đóng góp của chính sinh viên trong bài học hay chính là thiếu sự tương tác giữa sinh viên

và giảng viên trong quá trình học Các thầy cô ít sử dụng những kỹ năng học tích

Trang 26

http://svnckh.com.vn 25

cực như giao bài tập, giao những bài nghiên cứu nhỏ có gắn với thực tế, hoặc tăng những giờ thảo luận trong lớp học Những kỹ năng học như thế sẽ giúp cho sinh viên tránh ghi nhớ kiến thức theo kiểu thuộc lòng mà là thực sự nắm được vấn đề

và có khả năng áp dụng vào thực tế

(b) Sinh viên học tập và tiếp cận kiến thức một cách thụ động: Tuy việc truyền

đạt kiến thức của các thầy cô đã được xác định “lấy sinh viên làm trung tâm, thầy

cô chỉ là người hướng dẫn”, nhưng có thể do cách tổ chức bài giảng của thầy cô hoặc có thể do sự thiếu linh hoạt trong việc học tập của sinh viên mà điều này ít nhiều bị xao nhãng Sinh viên vẫn có thói quen học kiểu ghi chép, và chỉ dừng lại ở những kiến thức đơn thuần được đưa ra trong bài giảng và sách giáo trình Đối với sinh viên khối ngành kinh tế nói chung và sinh viên chuyên ngành TC – NH nói riêng, những kiến thức cập nhật về tình hình kinh tế thế giới hoặc những thay đổi trong những nghiệp vụ mình đang học là hết sức cần thiết Đó là chưa kể đến việc sinh viên cần phải tham khảo them những tài liệu, giáo trình nước ngoài để một phần nào đó có thể bắt nhịp cùng chương trình đào tạo quốc tế vì giáo trình tại Việt Nam chưa thực sự cập nhật và thống nhất

(c) Thiếu nhận thức về sự khác biệt giữa giáo dục và đào tạo: Các trường cần tự

xác định giáo dục và đào tạo là hai phạm trù khác nhau trong cùng một mục đích là

có được đầu ra là nguồn nhân lực Giáo dục là sự chuẩn bị chung cho việc học cá nhân và nghề nghiệp lâu dài, còn đào tạo là sự chuẩn bị cụ thể để có khả năng thực hiện hoàn tất công việc Dường như ở Việt Nam, hầu hết nguồn nhân lực mới chỉ được giáo dục chứ chưa được đào tạo Cụ thể là nguồn nhân lực trong ngành TC –

NH mới chỉ được dạy các kiến thức chuyên ngành chứ chưa được trang bị những

kỹ năng cần thiết khi giải quyết một công việc cụ thể

(d) Mất cân đối giữa các giờ học lý thuyết và giờ học thực hành/ áp dụng vào tình huống thực tế: Việc truyền đạt kiến thức ở Việt Nam vẫn tập trung quá lớn

vào cung cấp lý thuyết và kiên thức dữ kiện mà thiếu hẳn các bài học tình huống

Trang 27

http://svnckh.com.vn 26

Kiến thức cơ sở là phần sinh viên bắt buộc phải nắm được, từ đó mới có thể áp dụng vào các bài học tình huống, ngược lại, từ việc học các bài tập tình huống như vậy, sinh viên có thể nắm rõ hơn và thậm chí là bổ sung, phát triển những kiến thức nền đã được học Hơn nữa, chính việc soạn ra một khối lượng kiến thức khá nặng phải hoàn thành cùng một thời lượng như đối với các môn đại cương đã khiến cho việc tiếp thu vội vàng và không có thời gian cho áp dụng Trong khi một môn học đại cương có thể chiếm tới 8 trình tương đương 120 tiết thì một môn học chuyên ngành lại chỉ có vỏn vẹn 60 tiết Đã có thầy cô giáo thừa nhận, với một thời lượng như vậy cho một khối lượng kiến thức chuyên ngành lớn và phức tạp thì khó có thể hoàn thành một cách chi tiết, chưa nói đến việc có thể thực hành

1.2 Về chương trình đào tạo và các môn học

(a) Mất nhiều thời gian đào tạo nhóm bộ môn chính trị và môn Giáo dục quốc phòng

Chương trình đào tạo Đại học (ĐH) phổ biến trên thế giới đã được công nhận có nhiều điểm khác biệt đối với chương trình đào tạo ĐH ở Việt Nam Khác biệt là điều tất yếu vì mỗi quốc gia đều có sự lựa chọn riêng, và có nhiều yếu tố tác động đến lựa chọn đó, nhưng khác biệt về thời lượng dành cho các môn chính trị và giáo dục quốc phòng có thể đưa đến những ảnh hưởng không được tích cực đến thời gian cung cấp cho sinh viên (SV) những kiến thức chuyên ngành cần thiết Trong tất cả các chương trình đào tạo của Việt Nam đều có nhóm các môn chính trị và giao dục quốc phòng trong khi các trường nước ngoài không hề có hoặc không bắt buộc Các môn này thường chiến từ 20 đến 24 đơn vị học trình (khoảng 300 – 360 tiết học), điều này dẫn đến việc bất bình đẳng trong việc học và công nhận trình độ đối với người tốt nghiệp Đại học Một trường ĐH hoặc một doanh nghiệp nước ngoài có thể không công nhận bằng cử nhân tại một trường ĐH Việt Nam do sinh viên không được học đủ số giờ cần thiết cho một môn chuyên ngành, nhưng, một

Trang 28

http://svnckh.com.vn 27

trường ĐH hoặc một doanh nghiệp ở Việt Nam không thể từ chối bằng cử nhân của một sinh viên nước ngoài vì họ thiếu giờ học cho các môn chính trị và giáo dục quốc phòng Trong sự hội nhập mạnh mẽ và xu thế phát triển nhanh chóng của tri thức như hiện nay, liệu một cử nhân tốt nghiệp Việt Nam có thể đáp ứng được nhu cầu cho công việc tại các doanh nghiệp, ngân hàng, tổ chức… đòi hỏi kiến thức chuyên ngành cao, am hiểu công việc sâu sắc hay không? Đã từng có nhiều ý kiến

đề đạt trong các hội nghị về cải cách giáo dục ĐH về việc giảm bớt thời lượng học cho các môn khoa học xã hội, để giành thời gian tập trung cho các môn chuyên ngành và các kỹ năng thực tế; nhưng kết quả hầu như không thay đổi

(b) Các trường ĐH chưa được tự chủ chương trình đào tạo

Hiện nay, chương trình giáo dục ĐH của ta vẫn còn kém hiệu quả và một nguyên nhân rõ rệt là Bộ Giáo dục và Đào tạo khống chế quá chặt về chương trình khung, yêu cầu các trường phải tuân thủ một cách cứng nhắc Cũng với một ví dụ tương tự như trên, chương trình khung của quy định phải có môn học giáo dục thể chất, trong khi với ĐH nước ngoài đây là môn học tự chọn Việc sắp xếp và bố trí thời gian cho môn giáo dục quốc phòng cũng không hợp lý Thông thường, hiện nay sinh viên phải mất một tháng vừa học lý thuyết vừa thực hành Khoảng thời gian này có thể được dành ra cho việc học ngoại khóa hay cho sinh viên thực hành những nghiệp vụ đã được học, như vậy, có lẽ chất lượng đào tạo sẽ cao hơn Nếu như các trường được chủ động trong biên soạn chương trình, trong cùng một ngành, mỗi trường sẽ có chương trình đặc thù mang thế mạnh riêng của trường mình Đây cũng là một cách cạnh tranh lành mạnh giữa các trường từ đó tạo động lực nâng cao chất lượng đào tạo

(c) Đào tạo dàn trải không chuyên sâu, dẫn đến việc sinh viên chuyên ngành Tài chính ngân hàng (TCNH) ra trường với số lượng lớn nhưng chất lượng không cao Theo những nghiên cứu gần đây, khối lượng sinh viên ra trường thuộc

chuyên ngành TC – NH thậm chí vượt quá nhu cầu tuyển dụng của các NH, công ty

Trang 29

http://svnckh.com.vn 28

tài chính và các tổ chức tín dụng, nhưng nguồn nhân lực có chất lượng và đạt được yêu cầu tuyển dụng lại dừng lại ở con số quá thấp Đại diện NH Xuất nhập khẩu Việt nam Eximbank cho biết, hiện nay hầu hết các sinh viên ra trường chưa thể đáp ứng được ngay nhu cầu công việc, gần như 100% các nhân viên đều phải qua một lớp đào tạo ngắn hạn ít nhất là 3 tháng do NH tổ chức rồi sau đó được hướng dẫn thực tế mới làm được việc Cũng theo kết quả điều tra của nhóm nghiên cứu, các nhân viên hiện tại đang làm việc tại các NH hầu hết cho rằng sinh viên sau khi vào làm từ 3 đến 6 tháng mới đáp ứng được yêu cầu công việc Tài chính Ngân hàng là một lĩnh vực khá rộng, bao gồm nhiều phân ngành nhỏ và mỗi một phân ngành như vậy lại yêu cầu những kỹ năng và nghiệp vụ khác nhau Tuy nhiên, việc đào tạo trong trường ĐH lại không được tách bạch ra như vậy: sinh viên ngành Tài chính, sinh viên ngành Ngân hàng, sinh viên Kinh tế có khi cùng được dạy một môn nhưng nội dung lại không tương đồng, hoặc có khi được học các môn có tên gọi khác nhau nhưng lại có nội dung tương tự Ở một khía cạnh khác, sinh viên được trang bị những kiến thức đa dạng thuộc nhiều môn học nhưng dàn trải ở quá nhiều môn, không tập trung, không chuyên sâu, dẫn đến tình trạng sinh viên có kiến thức

về một mảng nào đó nhưng chỉ là những kiến thức sơ qua và chưa thể đủ để đáp ứng yêu cầu công việc cho mảng đó Theo con số thống kê không chính thức thì có khoảng 70% sinh viên khi ra trường không làm theo đúng chuyên ngành mà mình

đã học, thậm chí rất nhiều trong số họ phải chấp nhận công việc chỉ đòi hỏi trình độ trung cấp, trong khí đó, các doanh nghiệp và ngân hàng vẫn tiếp tục đau đầu vì bài toán đào tạo nhân lực

Thêm vào đó là việc phân ngành và cấu trúc môn học không rõ ràng, thậm chí

còn chồng chéo vì lý do kích thích theo chỉ tiêu số lượng Mỗi khoa có xu hướng quản lý nhiều môn học hơn, thời lượng tiết giảng lớn hơn, và như vậy thì thu nhập

đổ về cho giảng viên trong khoa nhiều hơn Từ đó xuất hiện xu hướng phân nhỏ một chuyên ngành hẹp ra thành những chuyên ngành quá hẹp và đưa chúng về

Trang 30

http://svnckh.com.vn 29

thành các khoa riêng biệt Việc phân nhỏ hay dạy trùng lặp làm tăng số lượng môn học bắt buộc trong từng chuyên ngành tăng lên đáng kể Và như vậy khó có thể đưa thêm vào chương trình những môn học hiện đại mà thị trường đang có nhu cầu

(d) Chương trình đào tạo đại học yêu cầu quá nhiều môn học: Thông thường,

trong một học kỳ, sinh viên phải học từ 6 đến 8 môn, mỗi môn khoảng 4 đơn vị học trình, và như vậy sinh viên không thể có kiến thức sâu Đây cũng là một khối lượng công việc khá lớn cho cả giảng viên và sinh viên Giảng viên sẽ không có nhiều thời gian để nghiên cứu và chuẩn bị bài giảng một cách phong phú, còn sinh viên thì không có thời gian tự học, tự tìm hiểu thêm và làm những bài tập hoặc đọc những thông tin bổ trợ Hơn nữa, tất cả các môn học đều là các môn bắt buộc, không có khoảng trống dành cho môn học tự chọn Về nguyên tắc, một sinh viên thuộc ngành này có thể theo học một số môn bổ trợ thuộc ngành khác để tăng khả năng tìm việc làm chẳng hạn, nhưng số môn bắt buộc trong nội bộ ngành thường đã quá cao, sinh viên lại phải đạt điểm giỏi các môn này như là một điều kiện tiên quyết Thậm chí có trường còn không cho phép sinh viên học hai chuyên ngành cùng một lúc mặc dù đã đáp ứng đủ điều kiện vì không có tiền lệ Điều này ngăn cản rất nhiều việc học tập, cầu thị và tự bổ trợ kiến thức của sinh viên

(e) Nội dung của mỗi môn học và chương trình đào tạo có phần lỗi thời, không ngang bằng với trình độ phát triển của thế giới Khung chương trình đào tạo vẫn

đi theo một lối mòn cũ Một khung chương trình đào tạo tiêu biểu của một trường kinh tế là hai năm đầu học các môn đại cương, và hai năm tiếp theo học các môn chuyên ngành Đối với một số trường thời gian đào tạo là 4 năm thì khoảng thời gian cho các môn chuyên ngành thực chất chỉ là 3 năm rưỡi, như vậy là thời lượng còn ít hơn so với học các môn đại cương Hầu hết các trường ĐH trên thế giới đều đào tạo theo hình thức tín chỉ, sinh viên ngoài những môn học bắt buộc có thể học thêm những môn bổ trợ mà anh ta thấy cần thiết cho công việc sau này, và có thể tự chủ về thời gian hoàn thành chương trình Chương trình đào tạo như vậy sẽ khiến

Trang 31

(f) Thiếu các kỹ năng nghề nghiệp thông thường: Các trường ĐH hiện nay hầu

hết mới chỉ tập trung vào giảng dạy kiến thức mà chưa dành mối quan tâm thực sự đến một phần khuyết lớn trong kỹ năng nghề nghiệp thông thường của sinh viên như làm việc nhóm, giao tiếp, viết văn bản bằng tiếng Anh, phương pháp giải quyết vấn đề, sáng kiến tích cực, học tập suốt đời… Có thể lấy một ví dụ khá điển hình ở trường ĐH Ngoại thương Hà Nội sau khi tiến hành điều tra về chất lượng đào tạo của trường, trong phần kết quả về những phẩm chất còn thiếu của sinh viên Ngoại thương, các kỹ năng nghề nghiệp thông thường lại chiếm tỷ lệ khá cao so với chuyên môn nghiệp vụ

Cọ sát thực tế khả năng sáng tạo

cần cù, chăm chỉ

trình độ ngoại ngữ

Làm việc độc lập

và chịu trách nhiệm

Làm việc với cường

độ cao

ham học hỏi thích nghi với môi trường

tư duy tổng hợp

chuyên môn sâu

lòng trung thành

Soạn thảo văn bản

trung thực năng động Phẩm chất chính trị, đạo đức

tính kiên trì

Các kỹ năng này hầu như sinh viên không được đào tạo trong trường và cũng không có nhiều thông tin để tìm hiểu Các bạn chịu quan sát và để ý có thể tự trang

bị bằng cách đọc sách hoặc tham gia các khóa học ngắn hạn về các kỹ năng nghề nghiệp thông thường này Hạn chế này dẫn đến khả năng hòa nhập với công việc có

Phẩm chất còn thiếu của SV Ngoại thương

Trang 32

http://svnckh.com.vn 31

thể gặp khó khăn, hoặc lúng túng khi phải giải quyết vấn đề nảy sinh trong khi làm việc

(g) Thiếu thông tin về nhu cầu nghề nghiệp của các nhà tuyển dụng nên không

có chương trình đào tạo phù hợp Một thực tế ở Việt Nam hiện nay là chưa có cơ

quan nào đóng vai trò ban điều hành về nhu cầu đào tạo, hay nói cách khác, nhà tuyển dụng trong ngành TC – NH và các cơ sở đào tạo nguồn nhân lực cho ngành này chưa có mối liên hệ cần thiết và Bộ Giáo dục đào tạo cũng chưa làm hết chức năng và nhiệm vụ của mình Các trường ĐH hoàn toàn có thể điều chỉnh số chỉ tiêu cho mỗi ngành học để đáp ứng vừa đủ nhu cầu của các nhà tuyển dụng nếu có một

dự báo về lượng cầu nhân lực cho từng tiểu ngành, từng chuyên môn nghiệp vụ cụ thể của các tổ chức TC – NH Trong một vài năm vừa qua, các ngành ngoại thương, tài chính, ngân hàng thu hút một lượng lớn sinh viên đổ dồn vào học những ngành

có tiềm năng lớn trên thị trường việc làm, tuy nhiên, luồng sinh viên này lại ít thay đổi theo những biến động của thị trường và các trường ĐH cũng không thường xuyên có sự điều chỉnh về chỉ tiêu tuyển sinh Ví dụ cụ thể như, từ cuối năm 2007 đến thời điểm hiện tại, các NH Việt Nam đang phải đối mặt với những khó khăn trong diễn biến kinh tế khá bất lợi, nhiều NH phải đối mặt với việc mất khả năng thanh toán, tuy nhiên, theo thống kê không chính thức thì số hồ sơ đăng ký thi vào Học viện Ngân hàng năm 2008 tăng gần như gấp đôi, từ 13.000 lên 25.000 so với năm 2007 Và cũng do không có thông tin về nhu cầu tuyển dụng cụ thể theo từng

bộ phận chuyên môn nghiệp vụ của Ngân hàng nên các trường ĐH không thể điều chỉnh chương trình và quy mô đào tạo phù hợp

1.3 Về tài liệu giảng dạy

(a) Tài liệu giảng dạy không đồng bộ giữa các trường: Hiện tại, do chương trình

đào tạo và thậm chí tên gọi cũng như nội dung các môn học chưa được thống nhất trong hệ thống các trường ĐH có đào tạo chuyên ngành TC – NH nên bộ giáo trình

Trang 33

http://svnckh.com.vn 32

các trường sử dụng không đồng bộ Điều này dẫn đến việc chênh lệch kiến thức giữa các sinh viên mới ra trường của các trường ĐH Ví dụ như trường Ngoại thương có giáo trình Thanh toán quốc tế; Học viện Ngân hàng có giáo trình Thanh toán quốc tế bằng L/C là một phần quan trọng trong Thanh toán quốc tế… và hầu hết các giáo trình Kinh tế Vi mô, Kinh tế Vĩ mô trường Ngoại thương hầu hết dùng sách của trường Kinh tế quốc dân, Bộ môn Marketing thì trường Ngoại thương dùng kết hợp giáo trình Marketing lý thuyết của trường và giáo trình Marketing quốc tế của trường Kinh tế quốc dân… Việc sử dụng tài liệu không đồng bộ như vậy thứ nhất, khó có tiêu chí cụ thể để đánh giá chất lượng nguồn nhân lực đầu ra nếu chỉ dựa trên kết quả đào tạo ở trường; thứ hai, khó cho Bộ Giáo dục và đào tạo trong việc theo dõi chương trình đào tạo của các trường cũng như Bộ sẽ gặp khó khăn trong việc điều chỉnh hoặc thực hiện các chính sách của mình; thứ ba, nếu việc sử dụng tài liệu thống nhất và tài liệu thực sự có chất lượng thì việc hình thành ngân hàng câu hỏi, ngân hàng đề thi, ngân hàng bài giảng sẽ thuận lợi hơn rất nhiều; đồng thời cũng tạo điều kiện để các trường có thể trao đổi kinh nghiệm giảng dạy và luân chuyển giảng viên giỏi

(b) Thiếu update, không phù hợp với chương trình đào tạo quốc tế vì vậy khó khăn cho sinh viên trong việc đáp ứng những đòi hỏi công việc phức tạp

Một trong những hạn chế lớn nhất của tài liệu giảng dạy ĐH ở Việt Nam là kém update và không theo sát những tài liệu chuẩn quốc tế và những tài liệu có chất lượng đã được công nhận TC – NH là một trong những ngành sôi động nhất trên thế giới, bởi vậy tài liệu giảng dạy các môn học về TC – NH cũng như tài liệu tham khảo rất phong phú và thường xuyên được cập nhật Tài liệu giảng dạy ở Việt Nam, nhất là các môn đại cương hoặc các môn kinh tế cơ bản đều được các thầy cô viết

từ rất lâu và không được sửa chữa kịp thời số liệu, quan điểm, tìm tòi mới… Có những tài liệu tuy được dịch từ sách gốc nhưng mặc dù sách đã được xuất bản và chỉnh sửa thêm nhiều phiên bản nhưng giáo trình ở Việt Nam vẫn không có gì thay

Trang 34

có thể tác động tiêu cực đến chất lượng đào tạo sinh viên ngành TC –NH

(a) Đội ngũ giảng viên được trang bị ít ỏi về mặt học thuật

Giảng viên có những hạn chế về đào tạo sau đại học như chỉ hoàn thành chương trình thạc sĩ, bài giảng của họ chỉ dừng lại ở những lý thuyết thông thường

và được truyền đạt lại cho sinh viên theo cách riêng của từng người

Giảng viên thiếu những kiến thức cập nhật trong chuyên ngành liên quan đến chương trình đào tạo, nội dung môn học và những hiểu biết thực tế về những nghiệp vụ họ giảng dạy được áp dụng cụ thể như thế nào, cần lưu ý thêm những gì

và cần phải bổ sung những kiến thức gì để có thể thực hành được những nghiệp vụ

đó Các tổ chức tài chính và các ngân hàng đồng thời cũng chưa có những chương trình hợp tác với trường ĐH để tạo điều kiện cho giảng viên được tiếp xúc với các công việc xử lý nghiệp vụ thực tế

(b) Thu nhập của giảng viên và chế độ khen thưởng không thỏa đáng Có

một thực tế là lương và thu nhập của giảng viên được xác định theo vị trí quản lý, thâm niên công tác, và số lượng giờ tăng Nhưng cách xác định như vậy không thu hút được các tiến sĩ, thạc sĩ mới tốt nghiệp từ các trường ĐH danh tiếng trên thế giới về giảng dạy mà thậm chí còn có tác dụng ngược lại Đó là khiến các giảng viên hiện thời phải tăng giờ dạy, hoặc vừa giảng dạy vừa nắm một chức vụ quản lý

để có một thu nhập cao hơn Như vậy giảng viên không có đủ thời gian để vừa nghiên cứu vừa cập nhật thông tin và tình hình thực tế, đồng thời đảm bảo được

Trang 35

Giảng viên không nhận thức được hết các thủ tục và các bước của hệ thống khen thưởng (như thăng tiến, khen nhượng, bổ nhiệm) hoặc trách nhiệm đối với công tác giảng dạy của họ

(c) Với quy mô các trường ĐH ngày càng được mở rộng như hiện nay, nhu cầu

đối với đội ngũ giảng viên là khá lớn, nhưng do yêu cầu những kiến thức chuyên ngành nên hầu như giảng viên được tuyển từ chính những sinh viên tốt nghiệp ra trường ở trường ĐH đó Điều này có những tác động khá tiêu cực, thứ nhất những sinh viện được tuyển để trở thành giảng viên có thể giỏi về nghiệp vụ nhưng lại không có kiến thức và kỹ năng sư phạm nên không thể truyền đạt cho sinh viên; thứ hai là những giảng viên trẻ này hầu hết chưa có kinh nghiệm đứng lớp, và thậm chí có những trường quá thiếu giảng viên nên bỏ luôn giai đoạn kiến giảng

(d) Giảng viên đôi khi thụ động và không muốn thay đổi hoặc cải tiến phương thức cũng như chương trình đào tạo Dường như giảng viên chưa bị

ràng buộc bởi chế tài nào cho trách nhiệm đối với chất lượng sinh viên mình giảng dạy nên không có động lực để cải tiến chương trình

(e) Giảng viên thiếu sự hỗ trợ trong một số lĩnh vực Giảng viên có ít hoặc

không có sự hỗ trợ phát triển về mặt chuyên môn nghiệp vụ như việc được tạo điều kiện cho đi học hoặc làm nghiên cứu sinh Ngoài ra ở Việt Nam còn rất hạn chế trong việc giảng viên có trợ giảng, hoặc chuyên gia về tài chính ngân hàng tư vấn

về nội dung chương trình, tài liệu tham khảo và cách thức giảng dạy Trợ giảng có

Trang 36

tác giảng dạy

(g) Chưa có chương trình đáng giá chất lượng giảng viên Gần đây, ở một số

trường bắt đầu có những chương trình thăm dò ý kiến của sinh viên về phương pháp, nội dung giảng dạy và kiến thức thực tế ngành TC – NH mà các giảng viên truyền đạt được Tuy nhiên, vẫn chưa có một cơ chế cố định cho việc đánh giá chất lượng giảng dạy của giảng viên: có thể là tự đánh giá, đánh giá của sinh viên và

đánh giá từ phía các đồng nghiệp giảng dạy cùng chuyên ngành

(h) Chưa có sự trao đổi kiến thức, kinh nghiệm giảng dạy giữa các giảng viên Như trong bất cứ một ngành nào khác, kinh nghiệm và tri thức là của riêng

mỗi người, các giảng viên trong ngành TC – NH còn có quá ít các chương trình giao lưu, trao đổi quan điểm và thậm chí là trao đổi vị trí giảng dạy nhằm bổ sung

và cập nhật kiến thức chuyên ngành và kiến thức thực tế Đồng thời giúp đồng nghiệp phát hiện ra những yếu điểm để khắc phục trong việc giảng dạy cho sinh

viên

1.5 Về đánh giá kết quả học tập của sinh viên và hiệu quả của nhà trường

Một trong những nguyên nhân khiến cho các trường ĐH Việt Nam có chuyên ngành đào tạo là TC – NH chưa có thay đổi nhiều trong chương trình và phương thức giảng dạy là do chưa thực sự có tiêu chuẩn đánh giá kết quả học tập của sinh viên và tính hiệu quả trong việc giảng dạy và đào tạo của trường

Trang 37

http://svnckh.com.vn 36

Hiện tại, kết quả học tập của sinh viên vẫn chủ yếu được tính dựa trên điểm thi cuối kỳ Mặc dù đã có điểm thành phần là điểm thi giữa kỳ và điểm chuyên cần nhưng điểm cuối kỳ vẫn chiếm khoảng 60% - 70%, tỷ lệ này vẫn còn cao và có thể dẫn tới sự bất công bằng hoăc ảo tưởng về khả năng học tập của sinh viên Giảng viên không chịu trách nhiệm về chất lượng giảng dạy và học tập cũng như cải tiến chất lượng giáo dục Hầu như chưa có một cơ chế nào ảnh hưởng đến quyền lợi hoặc uy tín của giảng viên khi sinh viên ra trường không đáp ứng được yêu cầu công việc của các nhà tuyển dụng

Các chương trình đánh giá chất lượng sinh viên hoặc những bài tập nghiên cứu, các bài kiểm tra ngắn chưa được áp dụng nhiều Việc đánh giá khả năng tự tìm tòi, nghiên cứu của sinh viên cũng chưa được để ý tới

Chương trình đào tạo và môn học thường không được điều chỉnh hoặc cập nhật dựa trên các phản hồi về giảng dạy và học tập Điều đó chứng tỏ chương trình đào tạo chưa thực gắn với chất lượng sinh viên,và bằng chứng trực tiếp về học tập của sinh viên rõ rang không được sử dụng trong việc đánh giá các môn học

và chương trình đào tạo

Thành công của sinh viên sau khi ra trường chưa được các trường ĐH thực sự quan tâm mặc dù đó mới chính là tiêu chí chính để đánh giá hiệu quả đào tạo của trường

2 Nguyên nhân từ phía ngân hàng – bên cầu

Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng bất cân xứng giữa khả năng đáp ứng của sinh viên khối ngành kinh tế mới ra trường với các yêu cầu của ngân hàng là nguyên nhân từ phía ngân hàng Có thể nói, nguyên nhân dẫn tới tình trạng trên chủ yếu là do hệ thống giáo dục đào tạo Việt Nam và bản thân các sinh viên đang còn ngồi trên ghế nhà trường, song cũng không thể không kể đến trách nhiệm

từ phía ngân hàng Các ngân hàng Việt Nam chưa chú trọng vào việc thu hút nguồn

Trang 38

http://svnckh.com.vn 37

nhân lực có chất lượng cao từ các trường đại học, chưa có kế hoạch liên kết và phối hợp chặt chẽ với các trường đại học nhằm đổi mới chương trình giáo dục sao cho phù hợp với các yêu cầu cụ thể, riêng biệt của ngân hàng

2.1 Không cung cấp đầy đủ thông tin về nhu cầu của ngành

Đứng trên cơ sở cách tiếp cận của nhóm nghiên cứu, trường đại học là nguồn cung sản phẩm – tức là các sinh viên khi ra trường và ngân hàng là bên cầu sản phẩm “Có cầu rồi mới có cung” – hay nói cách khác, ngân hàng phải là những người đi đầu tiên phong trong việc xác định Việc xác định sản phẩm của cầu – ngân hàng phải được thể hiện ở tất cả các khía cạnh: sản phẩm họ cần là gì – sinh viên khối ngành kinh tế mới ra trường có khả năng làm việc cho lĩnh vực ngân hàng, họ cần bao nhiêu sản phẩm đó – số lượng nhân viên cho mỗi bộ phận mà mỗi ngân hàng cần tuyển dụng trong từng năm và quan trọng hơn hết là chất lượng sản phẩm mà cầu – ngân hàng đòi hỏi là như thế nào – sinh viên kinh tế mới ra trường phải có được những kiến thức nền tảng như thế nào, khả năng liên hệ làm việc thực

tế ra sao, các kĩ năng mềm họ đã rèn luyện được đến mức độ nào cũng như các tính cách bắt buộc phải có để có thể làm việc được trong môi trường ngân hàng…

Thế nhưng trên thực tế, các thông tin như thế này lại không được các ngân hàng tiết lộ ra ngoài Một số ngân hàng còn coi đây là các thông tin mật hoặc là các lợi thế cạnh tranh đối với các ngân hàng khác, do đó việc để các trường đại học nói riêng và toàn xã hội nói chung nắm được các yêu cầu chi tiết của ngân hàng về số lượng và chất lượng sản phẩm – nguồn nhân lực họ cần là điều rất hạn chế

Trong bối cảnh hiện nay kể từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO, tài chính ngân hàng đang là một ngành có quy mô và tốc độ phát triển lớn mạnh bậc nhất trong nền kinh tế Do đó, tốc độ gia tăng nhu cầu nguồn nhân lực của ngành ngân hàng cũng đứng nhất nhì trong thang bậc nhu cầu nhân lựuc cho các ngành nghề của nền kinh tế Theo kết quả đánh giá các chỉ số nguồn nhân lực của Công ty tư vấn Navigos – một tổ chức chuyên tư vấn nguồn nhân lực hàng đầu tại Việt Nam

Trang 39

http://svnckh.com.vn 38

hiện nay, chỉ riêng trong hai quý đầu năm 2008, tốc độ tăng trưởng nhu cầu nhân lực của ngành ngân hàng đã tăng đến 383% so với cùng kì năm ngoái Trong đó, xét về tốc độ gia tăng của thị trường thì mức độ gia tăng nhân lực cho ngành ngân hàng chiếm tỉ lệ tăng 57%, đứng số một trong tất cả các ngành nghề của nền kinh

tế, vượt xa kế toán ở vị trí thứ hai với tốc độ tăng 43%

Tuy nhiên, những con số nêu trên chỉ là những thống kê chung cho toàn bộ ngành ngân hàng Còn trên thực tế, mỗi ngân hàng cần tuyển dụng bao nhiêu nhân viên từng năm thì không có một con số thống kê chính thức nào Thông thường chỉ sau khi các ngân hàng đã tuyển dụng xong thì thị trường mới biết được năm nay ngân hàng đó có lượng cầu bằng bao nhiêu Trong khi đó, thực ra chỉ cần dựa vào các kế hoạch phát triển, mở rộng cho từng năm là các ngân hàng đã có thể ước tính được khá sát nhu cầu tuyển dụng cho năm đó, số lượng cụ thể bao nhiêu, cho những bộ phận nghiệp vụ nào với các yêu cầu công việc của từng bộ phận ra sao Trên cơ sở trên, các ngân hàng hoàn toàn có thể cung cấp thông tin cho các trường đại học để các trường có định hướng tốt hơn cho việc đào tạo sinh viên ra trường – sao cho đảm bảo được cả số lượng và chất lượng Việc cung cấp thông tin

về nhu cầu của mình cho các trường đại học để các trường xác định chương trình đào tạo và đồng thời cho các sinh viên khối ngành kinh tế để sinh viên tự định hướng tốt nhất cho bản thân hoàn toàn có thể thực hiện thông qua các hình thức đơn giản như các buổi nói chuyện, buổi hội thảo hay các ngày hội việc làm… mà các ngân hàng tổ chức tại các trường đại học

Thế nhưng, trên thực tế hiện nay, các chương trình trao đổi thông tin như vậy còn rất hạn chế Một số ngân hàng cũng đã tiến hành các ngày hội việc làm nhưng công việc chỉ được thực hiện khi ngân hàng đó có nhu cầu tuyển dụng và cũng chỉ nhắm đến đối tượng sinh viên đang trong thời gian làm luận văn tốt nghiệp Còn lại, các buổi nói chuyện hay hội thảo mang tính cung cấp thông tin về nhu cầu sản

phẩm hay định hướng cho việc đào tạo sao cho đảm bảo “cung gặp cầu” thì hầu

Trang 40

http://svnckh.com.vn 39

như chưa thấy được tổ chức ở các trường đại học Việc đào tạo ở trường đại học, do

đó, phụ thuộc vào các yếu tố không gắn với nhu cầu thị trường: Ví dụ như, số lượng sinh viên chuyên ngành tài chính ngân hàng hoặc ngành kinh tế khác có thể làm việc trong ngành ngân hàng phụ thuộc vào quy mô của trường; nội dung đào tạo, từ đó dẫn đến chất lượng sản phẩm – sinh viên phần lớn phụ thuộc vào đặc điểm, thế mạnh của từng trường…

Một số ngân hàng cũng đã tỏ ra quan tâm hơn đến việc đào tạo ra nguồn nhân lực cho mình thông qua các chương trình trao học bổng nhằm tạo điều kiện cho sinh viên học tập tốt hơn Nhiều ngân hàng trao học bổng kèm điều kiện sinh viên

đó khi ra trường sẽ phải làm việc cho ngân hàng đó Tuy nhiên, một thực tế khác cho thấy mặc dù đã chắc chắn rằng sinh viên được nhận học bổng sẽ là nhân viên tương lai của mình song các ngân hàng vẫn từ chối việc cho các sinh viên đó được thực tập thực sự, làm quen và bắt tay vào làm việc như một nhân viên thực thụ trong hệ thống của mình khi sinh viên đó vẫn đang ngồi trên ghế nhà trường

Tóm lại, hầu hết các ngân hàng – trong vai trò là cầu lao động của thị trường - chưa có những hoạt động tích cực, chủ động để cung cấp đầy đủ và chính xác thông tin về các yêu cầu tuyển dụng của mình Điều đó khiến cho các cơ quan đào tạo không tiếp xúc trực tiếp không hiểu, sinh viên ngồi trên ghế nhà trường học chương trình lý thuyết cũng không được thực hành thực tế thiếu kỹ năng, thiếu kinh nghiệm Chính lý do trên đã gây ra sự chênh lệch giữa các yêu cầu của ngân hàng

và khả năng đáp ứng thực tế của sinh viên

2.2 Chưa tạo điều kiện thích đáng cho các chương trình hỗ trợ đào tạo, liên kết đào tạo với các trường đại học

Không chỉ riêng ngành ngân hàng, có thể nói hầu hết tất cả các ngành nghề trong xã hội, từ kinh tế đến kĩ thuật, ngoại ngữ, việc đào tạo rèn luyện học sinh sinh viên dường như được xem là công việc riêng của ngành giáo dục đào tạo Có thể

Ngày đăng: 13/02/2014, 03:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Báo cáo kết quả nghiên cứu “Một số yếu tố kinh tế - xã hội tác động đến hoạt động học tập và đinh hướng việc làm sau khi tốt nghiệp của sinh viên” – Nhóm giảng viên ĐHQG Tp.HCM – 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số yếu tố kinh tế - xã hội tác động đến hoạt động học tập và đinh hướng việc làm sau khi tốt nghiệp của sinh viên
8. Một số website www.vnchannel.net http://www.laodong.com.vn/ Link
1. Giáo trình Kinh tế Vi mô I, II – Đại học Kinh tế Quốc dân Khác
2. Báo cáo kết quả khảo sát chất lượng đào tạo của trường Đại học Ngoại thương Khác
5. Australian Qualifications Framework – Implementation Handbook, Third edition 2002 Khác
7. Kết quả của một số điều tra, thống kê về sinh viên của Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân Hà Nội và Học viện Ngân hàng Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

d) Nhập khẩu hàng hóa theo hình thức thuê mua tài chính. 3 A21Chuyển tiêu - Tài liệu Đề tài : Sự bất cân xứng giữa nhu cầu tuyển dụng của các ngân hàng và khả năng đáp ứng của sinh viên khối ngành kinh tế ra trường – thực tiễn và giải pháp docx
d Nhập khẩu hàng hóa theo hình thức thuê mua tài chính. 3 A21Chuyển tiêu (Trang 1)
Từ bảng 1 và đồ thị 1, có thể thấy giữa sự đánh giá của ngân hàng và sự tự đánh giá của sinh viên tồn tại sự mất cân xứng trong tất cả mọi tiêu chí được xem - Tài liệu Đề tài : Sự bất cân xứng giữa nhu cầu tuyển dụng của các ngân hàng và khả năng đáp ứng của sinh viên khối ngành kinh tế ra trường – thực tiễn và giải pháp docx
b ảng 1 và đồ thị 1, có thể thấy giữa sự đánh giá của ngân hàng và sự tự đánh giá của sinh viên tồn tại sự mất cân xứng trong tất cả mọi tiêu chí được xem (Trang 18)
Bảng 3: Kiểm định đánh giá của hai mảng nghiên cứu phân theo tiêu chí - Tài liệu Đề tài : Sự bất cân xứng giữa nhu cầu tuyển dụng của các ngân hàng và khả năng đáp ứng của sinh viên khối ngành kinh tế ra trường – thực tiễn và giải pháp docx
Bảng 3 Kiểm định đánh giá của hai mảng nghiên cứu phân theo tiêu chí (Trang 18)
Bảng 4: Kết quả đánh giá phân theo tiêu chí của mảng Nghiệp vụ chuyên môn  Bộ phận Tiêu chí TBC đánh - Tài liệu Đề tài : Sự bất cân xứng giữa nhu cầu tuyển dụng của các ngân hàng và khả năng đáp ứng của sinh viên khối ngành kinh tế ra trường – thực tiễn và giải pháp docx
Bảng 4 Kết quả đánh giá phân theo tiêu chí của mảng Nghiệp vụ chuyên môn Bộ phận Tiêu chí TBC đánh (Trang 20)
Từ bảng 3 có thể thấy tại hầu hết các tiêu chí đánh giá trình độ nghiệp vụ chuyên môn của từng bộ phận, khả năng đáp ứng của sinh viên theo sự đánh giá - Tài liệu Đề tài : Sự bất cân xứng giữa nhu cầu tuyển dụng của các ngân hàng và khả năng đáp ứng của sinh viên khối ngành kinh tế ra trường – thực tiễn và giải pháp docx
b ảng 3 có thể thấy tại hầu hết các tiêu chí đánh giá trình độ nghiệp vụ chuyên môn của từng bộ phận, khả năng đáp ứng của sinh viên theo sự đánh giá (Trang 20)
Bảng 5: Đánh giá kĩ năng mềm và tính cách - Tài liệu Đề tài : Sự bất cân xứng giữa nhu cầu tuyển dụng của các ngân hàng và khả năng đáp ứng của sinh viên khối ngành kinh tế ra trường – thực tiễn và giải pháp docx
Bảng 5 Đánh giá kĩ năng mềm và tính cách (Trang 22)
Bảng 6: Vấn đề lớn nhất trong quá trình đào tạo lại sinh viên mới ra trƣờng - Tài liệu Đề tài : Sự bất cân xứng giữa nhu cầu tuyển dụng của các ngân hàng và khả năng đáp ứng của sinh viên khối ngành kinh tế ra trường – thực tiễn và giải pháp docx
Bảng 6 Vấn đề lớn nhất trong quá trình đào tạo lại sinh viên mới ra trƣờng (Trang 42)
Bảng 7: Động cơ chọn nghề - chọn trƣờng của sinh viên Lí do Giá trị - Tài liệu Đề tài : Sự bất cân xứng giữa nhu cầu tuyển dụng của các ngân hàng và khả năng đáp ứng của sinh viên khối ngành kinh tế ra trường – thực tiễn và giải pháp docx
Bảng 7 Động cơ chọn nghề - chọn trƣờng của sinh viên Lí do Giá trị (Trang 46)
Bảng 8: Tình cảm gắn bó với nghề nghiệp - Tài liệu Đề tài : Sự bất cân xứng giữa nhu cầu tuyển dụng của các ngân hàng và khả năng đáp ứng của sinh viên khối ngành kinh tế ra trường – thực tiễn và giải pháp docx
Bảng 8 Tình cảm gắn bó với nghề nghiệp (Trang 47)
Bảng 9: Tình hình SV các năm học khơng muốn gắn bó với ngành học Năm đang theo học  Tổng Năm 1  Năm 2  Năm 3  Năm 4  Năm 5 - Tài liệu Đề tài : Sự bất cân xứng giữa nhu cầu tuyển dụng của các ngân hàng và khả năng đáp ứng của sinh viên khối ngành kinh tế ra trường – thực tiễn và giải pháp docx
Bảng 9 Tình hình SV các năm học khơng muốn gắn bó với ngành học Năm đang theo học Tổng Năm 1 Năm 2 Năm 3 Năm 4 Năm 5 (Trang 48)
Thế nhưng, từ bảng đánh giá trên, có thể thấy chính những hiểu biết về con người và các kiến thức thực tế về tình hình chính trị và kinh tế vĩ mô lại là những  mảng  mà  sinh viên nhận được  sự đánh giá thấp nhất từ  các ngân hàng  (đạt  2.90  điểm cho ph - Tài liệu Đề tài : Sự bất cân xứng giữa nhu cầu tuyển dụng của các ngân hàng và khả năng đáp ứng của sinh viên khối ngành kinh tế ra trường – thực tiễn và giải pháp docx
h ế nhưng, từ bảng đánh giá trên, có thể thấy chính những hiểu biết về con người và các kiến thức thực tế về tình hình chính trị và kinh tế vĩ mô lại là những mảng mà sinh viên nhận được sự đánh giá thấp nhất từ các ngân hàng (đạt 2.90 điểm cho ph (Trang 50)
Bảng 12: Các kĩ năng mề mở sinh viên mà ngân hàng đánh giá yếu nhất Kĩ năng mềm Đánh  giá  của  ngân - Tài liệu Đề tài : Sự bất cân xứng giữa nhu cầu tuyển dụng của các ngân hàng và khả năng đáp ứng của sinh viên khối ngành kinh tế ra trường – thực tiễn và giải pháp docx
Bảng 12 Các kĩ năng mề mở sinh viên mà ngân hàng đánh giá yếu nhất Kĩ năng mềm Đánh giá của ngân (Trang 51)
Bảng 13: Sinh viên sử dụng thời gian rỗi - Tài liệu Đề tài : Sự bất cân xứng giữa nhu cầu tuyển dụng của các ngân hàng và khả năng đáp ứng của sinh viên khối ngành kinh tế ra trường – thực tiễn và giải pháp docx
Bảng 13 Sinh viên sử dụng thời gian rỗi (Trang 52)
Bảng 15: Các tiêu chí có sự đánh giá lệch nhau nhiều nhất Mảng - Tài liệu Đề tài : Sự bất cân xứng giữa nhu cầu tuyển dụng của các ngân hàng và khả năng đáp ứng của sinh viên khối ngành kinh tế ra trường – thực tiễn và giải pháp docx
Bảng 15 Các tiêu chí có sự đánh giá lệch nhau nhiều nhất Mảng (Trang 56)
Bảng 16: Phẩm chất còn thiếu của Sinh viên Ngoại thƣơng - Tài liệu Đề tài : Sự bất cân xứng giữa nhu cầu tuyển dụng của các ngân hàng và khả năng đáp ứng của sinh viên khối ngành kinh tế ra trường – thực tiễn và giải pháp docx
Bảng 16 Phẩm chất còn thiếu của Sinh viên Ngoại thƣơng (Trang 58)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w