Hiện nay, hoạt động ươm tạo doanh nghiệp KH&CN được thực hiện ởmột số dạng chính sau: 1 hoạt động hỗ trợ hoàn thiện công nghệ; 2 hoạtđộng đào tạo, tư vấn về mô hình kinh doanh, quản trị
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HÀ NỘI, 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHÙNG VĂN QUÂN
GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY ĐẦU TƯ MẠO HIỂM ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ƯƠM TẠO DOANH NGHIỆP KHOA
HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TẠI VIỆT NAM
Ngành: Quản lý Khoa học và Công nghệ
Mã số: 8 34 04 12
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS TẠ DOÃN TRỊNH
HÀ NỘI, 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiệndưới sự hướng dẫn khoa học của TS.Tạ Doãn Trịnh Các số liệu, những kếtluận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này hoàn toàn trung thực.Tôixin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Học viên
Phùng Văn Quân
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 : VAI TRÒ ĐẦU TƯ MẠO HIỂM ĐỐI VỚI VIỆC ƯƠM TẠO DOANH NGHIỆP KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 19
1.1 Doanh nghiệp khoa học và công nghệ 19
1.2 Ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ 30
1.3 Đầu tư mạo hiểm 19
Chương 2: ĐẦU TƯ MẠO HIỂM CHO ƯƠM TẠO DOANH NGHIỆP KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TẠI VIỆT NAM VÀ CÁC BÀI HỌC KINH NGHIỆM QUỐC TẾ 35
2.1 Thực trạng hoạt động đầu tư mạo hiểm đối với hoạt động ươm tạo doanh nghiệp KH&CN ở Việt Nam và quốc tế 35
2.2 Thực tiễn đầu tư của nhà đầu tư Việt Nam khi đầu tư vào dự án/công ty KH&CN khởi nghiệp 46
2.3 Những thuận lợi và khó khăn trong việc hình thành và phát triển ĐTMH vào ươm tạo doanh nghiệp KH&CN ở Việt Nam 51
2.4 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 55
Chương 3 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY ĐẦU TƯ MẠO HIỂM CHO HOẠT ĐỘNG ƯƠM TẠO DOANH NGHIỆP KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 58
3.1 Nguyên tắc đềxuấtvào các văn bản quy phạm pháp luật 60
3.2 Các đề xuất chính sách 61
KẾT LUẬN 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
Trang 5DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp khoa học vàcông nghệ
Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tếPhát hành công khai lần đầu ( Initial Public Offering)Venture capital funds
Government venture capital
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH
Hình 1: Các giai đoạn khởi nghiệp phân loại theo nhu cầu vốn 6
Hình 2: Giai đoạn cần vốn đầu tư mạo hiểm 27
Hình 3: Các chủ thể trong hệ sinh thái khởi nghiệp 33
Hình 4: Vốn đầu tư mạo hiểm các doanh nghiệp Châu Âu huy động được 43
Hình 5: Số lượng các khoản đầu tư vào doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam từ năm 2011 đến năm 2015 50
Hình 6: Số lượng giao dịch và tổng số tiền đầu tư mạo hiểm vào doanh nghiệp khởi nghiệp (đơn vị triệu đô la) 51
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việc xây dựng và phát triển thị trường KH&CN là mục tiêu đặt ra chorất nhiều quốc gia trên thế giới, nhất là những nước đang phát triển.Chính phủcác nước đó đều hiểu rằng một thị trường KH&CN hoạt động hiệu quả vàmạnh mẽ sẽ trở thành đòn bẩy đưa nền kinh tế phát triển một cách nhanhchóng và bền vững
Trên thế giới, một trong những phương pháp phổ biến để thúc đẩy thịtrường KH&CN phát triển chính là việc đầu tư cho hoạt động ươm tạo doanhnghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực khoa học – công nghệ nhằm phát triển hệsinh thái hỗ trợ khởi nghiệp Trong các nghiên cứu về đầu tư cho hoạt độngnày nổi bật lên 2 vấn đề chính: (1) nghiên cứu về đầu tư cho hoạt động ươmtạo nói chung và (2) nghiên cứu về đầu tư trực tiếp cho đối tượng doanhnghiệp KH&CN khởi nghiệp
Hiện nay, hoạt động ươm tạo doanh nghiệp KH&CN được thực hiện ởmột số dạng chính sau: (1) hoạt động hỗ trợ hoàn thiện công nghệ; (2) hoạtđộng đào tạo, tư vấn về mô hình kinh doanh, quản trị doanh nghiệp, xây dựngthương hiệu, phát triển thị trường, sở hữu trí tuệ…; (3) Hoạt động hỗ trợ gọivốn đầu tư cho doanh nghiệp; và (4) hoạt động trực tiếp đầu tư cho doanhnghiệp khởi nghiệp
Xuất phát từ nhu cầu khác nhau trong các giai đoạn ươm tạo, pháttriển của doanh nghiệp KH&CN khởi nghiệp, Nhà nước cần có chính sách hỗtrợ các doanh nghiệp khởi nghiệp thông qua hoạt động của các cơ sở ươm tạo(incubators) và hỗ trợ các doanh nghiệp non trẻ thông qua hoạt động của các
tổ chức thúc đẩy kinh doanh (business accelarators) Nhà nước cũng cần cóchính sách đầu tư ban đầu dưới dạng cấp vốn mồi (seed money) cho các nhómkhởi nghiệp và hỗ trợ tài chính, tín dụng cho các doanh nghiệp khởi nghiệp
Trang 8(tài trợ, hỗ trợ đầu tư nghiên cứu thử nghiệm, cho vay ưu đãi, cho vay có thểchuyển đổi thành cổ phần v.v.).
Chính sách hỗ trợ đầu tư ban đầu của Nhà nước cho các doanh nghiệpkhởi nghiệp là tác nhân quan trọng để thu hút các nguồn vốn đầu tư của xã hộicho hoạt động ươm tạo, hỗ trợ doanh nghiệp công nghệ khởi nghiệp Chínhsách đầu tư của Nhà nước cần hướng đến sự quan tâm của các nhà đầu tư xãhội có ý nghĩa quan trọng hình thành nên hệ sinh thái hỗ trợ khởi nghiệp, baogồm các nhà đầu tư thiên thần (angel investors), các quỹ đầu tư mạo hiểm(venture capitals) và các công ty đầu tư (corporate investors)
Nhà nước cần liên kết với khu vực tư nhân để đầu tư phát triển mạnglưới các cơ sở ươm tạo, tổ chức thúc đẩy kinh doanh.Đồng thời, các chươngtrình hỗ trợ đầu tư của Nhà nước dành cho các doanh nghiệp khởi nghiệp cầnđược quản lý hiệu quả với cơ chế đặc thù để thực sự trở thành các nhân tố tiền
đề tạo nên hệ sinh thái hỗ trợ doanh nhân công nghệ khởi nghiệp tại ViệtNam
Ở Việt Nam, hầu hết các hoạt động ươm tạo doanh nghiệp KH&CNdiễn ra ở các cơ sở ươm tạo doanh nghiệp KH&CN công lập Tuy nhiên, hìnhthức ươm tạo ở các cơ sở này hầu hết chỉ dừng lại ở việc cung cấp mặt bằng
và một số cơ sở vật – chất dùng chung hoặc cung cấp tài chính cho việcnghiên cứu, phát triển hoàn thiện công nghệ, chứ chưa có hoạt động trực tiếpcung cấp nguồn tài chính cho doanh nghiệp khởi nghiệp Hoạt động củanhững cơ sở ươm tạo này được đánh giá là chưa có hiệu quả bởi số lượng vàchất lượng của các doanh nghiệp tốt nghiệp khởi các cơ sở này là chưa cao.Trong khi đó, hầu hết những doanh nghiệp đã đăng ký doanh nghiệp KH&CN
mà Cục PTTTDN tổng hợp được đều không đi qua quá trình ươm tạo doanhnghiệp KH&CN chuyên nghiệp nào
Theo phân tích ban đầu của nhóm nghiên cứu, hoạt động cấp vốn trực
Trang 9tiếp cho doanh nghiệp được coi là hoạt động không thể thiếu được trong quátrình ươm tạo doanh nghiệp và nhất là đối với doanh nghiệp khởi nghiệp dựatrên công nghệ Trong hoạt động này, vai trò tham gia của Nhà nước là vôcùng quan trọng bởi thời kỳ khởi nghiệp của doanh nghiệp KH&CN là thời kỳrủi ro nhất trong quá trình phát triển của doanh nghiệp mà các nhà đầu tư tưnhân, nhất là những nhà đầu tư tại Việt Nam không muốn tham gia.
Ở Việt Nam hiện nay, hoạt động đầu tư mạo hiểm thực tế hầu hết đượcthực hiện bởi các quỹ đầu tư mạo hiểm của nước ngoài như IDG Ventures hayCyber Agents và bản thân họ chỉ chú trọng vào đầu tư cho doanh nghiệp khởinghiệp trong lĩnh vực công nghệ thông tin với chu kỳ đầu tư ngắn và khoảnđầu tư ban đầu không cao Như vậy có thể nói doanh nghiệp khởi nghiệptrong các lĩnh vực KH&CN không phải công nghệ thông tin như lĩnh vực vật
lý, hóa học, công nghệ sinh học, hay những lĩnh vực công nghệ mới, côngnghệ cao, công nghệ có giá trị đối với người nông dân, xóa đói giảm nghèo,bảo vệ môi trường,… đang bị các nhà đầu tư tư nhân “lãng quên” vì lý do lợinhuận, rất cần được Nhà nước quan tâm trong chính sách đầu tư phát triển các
cơ sở ươm tạo, tổ chức thúc đẩy kinh doanh, hỗ trợ nguồn vốn khởi nghiệpban đầu và hỗ trợ thúc đẩy kinh doanh của các doanh nghiệp KH&CN khởinghiệp
Nguồn gốc sâu xa của đầu tư mạo hiểm đối với ươm tạo doanh nghiệpKH&CN là nuôi dưỡng nguồn thu cho tương lai với những đối tượng tiềmnăng lớn Tuy nhiên, hoạt động đầu tư luôn hàm chứa yếu tố rủi ro Hay nóicách khác, rủi ro cao luôn song hành với đầu tư mạo hiểm Việc chấp nhậnđiều này, đồng thời có cơ chế quản lý và xử lý rủi ro phù hợp là cần thiếttrong khuyến khích đẩy mạnh các hình thức đầu tư mạo hiểm đối với ươm tạodoanh nghiệp KH&CN Hiện tại các luật như Luật doanh nghiệp, Dự thảoLuật quản lý sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, Luật đầu tư, Bộ
Trang 10Luật hình sự (trong mối liên quan với các luật nội dung) vẫn chưa thể hiện rõcác chính sách khuyến khích nói trên, thậm chí còn có một số rào cản đối vớicác chủ thể tham gia trong hệ sinh thái hỗ trợ khởi nghiệp Ví dụ, việc Nhànước đầu tư “vốn mồi” cho doanh nghiệp khởi nghiệp chưa được cho phéptrong bất kỳ văn bản luật hay dự luật nào nói trên Mặc dù tại Luật Đầu tư
2014 đã có quy định ưu đãi đầu tư mạo hiểm, ươm tạo doanh nghiệp côngnghệ cao, tuy nhiên các quy định về đầu tư của Nhà nước trong các hoạt độngnày chưa được quy định cụ thể[18] Mặt khác, ở cả Luật doanh nghiệp (sửađổi) và Dự thảo Luật quản lý sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệpđều có những quy định chặt chẽ buộc người đại diện vốn nhà nước chịu tráchnhiệm bảo toàn và phát triển vốn đầu tư của Nhà nước trong doanh nghiệp,không có ngoại lệ nào cho hoạt động đầu tư ươm tạo doanh nghiệp nghiệpkhoa học và công nghệ Quy định đó sẽ làm nản lòng những cơ sở ươm tạo, tổchức thúc đẩy kinh doanh, người được giao quản lý các chương trình hỗ trợđầu tư cho các doanh nghiệp khởi nghiệp
Chính vì những lý do nêu trên, để tạo điều kiện cho đầu tư của Nhànước/đầu tư có sự tham gia của Nhà nước cho hoạt động ươm tạo doanhnghiệp KH&CN, Luận văn này tập trung vào các nội dung chính sau:
- Nghiên cứu kinh nghiệm một số nước về các loại hình đầu tư của Nhànước cho hoạt động ươm tạo và phát triển doanh nghiệp KH&CN và tác độngcủa nó trong hình thành hệ sinh thái hỗ trợ khởi nghiệp trong nước
- Nghiên cứu thực trạng chính sách, thực tiễn hoạt động đầu tư của Nhànước và của tư nhân cho ươm tạo và phát triển doanh nghiệp KH&CN ở
Việt Nam; nhu cầu phát triển hệ sinh thái hỗ trợ khởi nghiệp trong nước
- Đề xuất một số chính sách cụ thể khuyến khích đầu tư của Nhà nước
và thúc đẩy đầu tư mạo hiểm từ xã hội cho hoạt động ươm tạo doanh nghiệpKH&CN tại Việt Nam
Trang 112 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
* Tình hình nghiên cứu quốc tế:
Theo các nghiên cứu nước ngoài, hoạt động đầu tư mạo hiểm thườngđược gắn liền với các doanh nghiệp KH&CN trong giai đoạn đầu, hay còn gọi
là doanh nghiệp KH&CN khởi nghiệp (technology startup) Có thể phân loạicác loại hình đầu tư cho doanh nghiệp KH&CN khởi nghiệp theo đối tượngđầu tư như sau: (1) Sáng lập viên khởi nghiệp, gia đình, bạn bè của doanhnghiệp khởi nghiệp; (2) Nhà đầu tư thiên thần (business angels), là nhà đầu tư
cá nhân không phải gia đình, bạn bè nhưng là những người giàu có đầu tư chodoanh nghiệp khởi nghiệp trong giai đoạn đầu phát triển; (3) Các trung giangọi vốn cộng đồng (crowdfunding) là nơi thu hút vốn đầu tư từ mọi người dâncho doanh nghiệp khởi nghiệp; (4) Các công ty, tập đoàn đầu tư cho khởinghiệp (corporate ventures); (5) Các quỹ đầu tư mạo hiểm (venture capitalfunds - VC); và (6) Nhà nước đầu tư cho khởi nghiệp (OECD, 1996; Lerner,2002)
Các loại hình đầu tư này đóng các vai trò khác nhau trong từng bướcphát triển của startups, bao gồm: ươm mầm, bắt đầu khởi nghiệp, phát triển và
mở rộng, thoái vốn bằng mua bán & sáp nhập và chuẩn bị IPO Nếu ở giaiđoạn ươm mầm, các nhà đầu tư thiên thần với các khoản tiền nhỏ nhưng rủi rocao đóng vai trò quan trọng trong việc cấp vốn ĐTMH cho startup thì ở giaiđoạn sau, các quỹ ĐTMH thường là đối tượng chính để cấp vốn cho doanhnghiệp khởi nghiệp Trong khi đó, các tập đoàn đầu tư có thể vừa đóng vai tròcủa người cung cấp vốn đầu tư cho startups, vừa có thể thực hiện các khoảnmua bán và sáp nhập, chính là lúc các khoản đầu tư có thể thoái vốn Nhànước thường tham gia vào giai đoạn ban đầu, cung cấp vốn cho doanh nghiệpdưới dạng tài trợ hoặc đầu tư bằng cổ phần trực tiếp, hoặc đầu tư thông quamột quỹ đầu tư tư nhân mà nhà nước góp vốn
Trang 12Hình 1: Các giai đoạn khởi nghiệp phân loại theo nhu cầu vốn [7]
Trang 132000) Hầu hết ở khắp nơi trên thế giới, số lượng doanh nghiệp mà nhà đầu tưthiên thần đầu tư vào đều cao hơn số lượng được đầu tư bởi các quỹ ĐTMH
và các tổ chức tài chính (Sohl, 2012).Cung đầu tư từ nhà đầu tư thiên thầncũng ít bị chịu ảnh hưởng bởi sự lên xuống của nền kinh tế hơn là các tổ chứcđầu tư lớn (Mason & Harrison, 2013)
- Crowdfunding được coi là mô hình trung gian mới, hiệu quả, chophép sử dụng hạ tầng internet để các doanh nghiệp khởi nghiệp ở giai đoạnđầu có thể thu hút vốn đầu tư rất nhiều người, hầu hết là các khoản đầu tư nhỏ
từ vài trăm đến khoản vài ngàn USD mà không cần đi qua các trung gian tàichính truyền thống (Mollick, 2013) Trong gọi vốn cộng đồng lại có 3 loạihình chính là: (1) gọi vốn cộng đồng bằng tài trợ (donation-basedcrowdfunding); (2) gọi vốn cộng đồng bằng phần thưởng (reward-basedcrowdfunding); (3) gọi vốn cộng đồng bằng vốn vay (lending-basedcrowdfunding) và (4) gọi vốn cộng đồng bằng cổ phần (equity-basedcrowdfunding) (McCahery & Vermeulen, 2014; World Bank, 2013) WorldBank (2013) cho rằng nếu biết cách tạo môi trường thuận lợi, crowdfunding
sẽ là một loại hình trung gian phù hợp để thu hút vốn đầu tư cho các doanhnghiệp KH&CN khởi nghiệp ở các nước đang phát triển
- Quỹ ĐTMH: là loại hình tổ chức đầu tư chuyên nghiệp, chuyên đầu tưvào các công ty mới thành lập và có tiềm năng phát triển nhanh Khác với các
tổ chức đầu tư tài chính truyền thống, VC có quy trình đánh giá, lựa chọnstartup rất kỹ lưỡng, không chỉ đầu tư mà còn hỗ trợ startups trong việc quản
lý doanh nghiệp, tìm kiếm các vòng đầu tư sau và chuẩn bị cho việc thoái vốnthông qua mua bán & sáp nhập hoặc IPO (Lerner, 2009) Nhiều nghiên cứucho rằng VC có sự ảnh hưởng lớn và tích cực đến việc phát triển hoạt độngđổi mới sáng tạo (Hellmann & Puri, 2000) Các công ty được đầu tư từ VC(VC-backed companies) hầu hết đóng vai trò quan trọng, dẫn đầu trong các
Trang 14ngành như công nghệ sinh học, máy tính, bán dẫn (Lerner, 2009) Ngoài ra,theo thống kê của các công ty đã niêm yết trên sàn chứng khoán Hoa Kỳ, cáccông ty được đầu tư bởi VC cũng có xu hướng phát triển nhanh hơn (thờiđiểm niêm yết kể từ khi thành lập), phát triển bền vững hơn sau khi phát hànhIPO và tạo ra nhiều việc làm hơn so với các công ty không được đầu tư bởicác quỹ này (Lerner, 2009).
Về mặt các chính sách liên quan đến đầu tư của nhà nước, đã có một sốnghiên cứu như sau:
Có hai cách chính mà Nhà nước sử dụng để ảnh hưởng đến nguồn vốnđầu tư mạo hiểm: (1) đầu tư trực tiếp cho doanh nghiệp khởi nghiệp hoặc (2)gián tiếp hỗ trợ cho các khoản đầu tư từ các nhà đầu tư tư nhân (Lerner,2002) Đối với hình thức thứ nhất, Nhà nước mở ra các chương trình ĐTMHriêng (government venture capital – GVC), trong khi đó đối với hình thức thứhai, nhà nước thường đầu tư dưới dạng cổ đông trách nhiệm hữu hạn (limitedpartner) của các quỹ ĐTMH tư nhân hoặc đầu tư đối ứng với các nhà đầu tư
tư nhân, bao gồm cả quỹ ĐTMH, nhà đầu tư thiên thần, công ty đầu tư lẫn các
cơ sở ươm tạo
Nhà nước đầu tư vốn cho doanh nghiệp khởi nghiệp vì một số giả địnhrằng: (1) khu vực tư nhân không cung cấp đủ nguồn vốn đầu tư mạo hiểm chocác doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ; (2) nhà nước có khả năng lựa chọncác khoản đầu tư có tiềm năng mang lại lợi ích xã hội hoặc lợi ích kinh tế caohoặc có thể khuyến khích để các trung gian làm việc này và (3) đầu tư của nhànước vào những lĩnh vực liên quan đến nhiều đến nghiên cứu và phát triển cóthể tạo ra được những ảnh hưởng lan tỏa tích cực đến thị trường, ví dụ thôngqua việc các đối thủ trên thị trường bị sức ép cạnh tranh khiến cho phảithường xuyên cập nhật, đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm(Lerner, 2002)
Trang 15Tại Châu Âu, Nhà nước đóng góp khoảng 40% vào tổng số vốn đầu tưcho khởi nghiệp trong năm 2012 (so với 10-15% từ những năm trước suythoái kinh tế) (Vlerick Business School, 2013) Các GVC hầu hết đầu tư vàogiai đoạn ươm mầm (seed stage) và giai đoạn ban đầu (early stage) củastartups Có một số nghiên cứu cho rằng việc đầu tư từ nhà nước cho startups
có ảnh hưởng tích cực đến việc phát triển hoạt động ĐTMH (Leleux &Surlemont, 2003; Cumming, 2011; del-Palacio, Zhang & Sole, 2012;Cumming & Li, 2013; Brander, Du & Hellmann, 2013)
Mặc dù vậy, việc xây dựng các chính sách về trực tiếp đầu tư từ cácGVC là rất khó khăn trên các cơ sở lý thuyết cũng như thực tế, ví dụ:
+ Hầu hết những người quản lý GVC là công chức, cán bộ nhà nước,chính vì vậy họ sẽ thiếu kinh nghiệm và động lực (tài chính) phù hợp để cóthể lựa chọn và cung cấp các hỗ trợ cần thiết cho các doanh nghiệp được đầu
tư (Leleux & Surlemont, 2003)
+ Rất nhiều nghiên cứu như Olson (1965) and Stigler (1971), Peltzman(1976) and Becker (1983) đều cho thấy kết quả là hầu hết các hỗ trợ của Nhànước cho các tổ chức trung gian đều bị lợi dụng bởi các tổ chức có quan hệchính trị tốt chứ không dựa trên năng lực thực sự của các tổ chức đó
+ Do GVC thường có các mục tiêu về xã hội như việc làm tạo ra, kếtquả nghiên cứu được thương mại hóa, hơn là mục tiêu về tài chính nên cácquỹ này có xu hướng đầu tư dưới giá thị trường, do đó thu hút hầu hết các dự
án startup tốt, để lại những dự án chất lượng thấp hơn cho các nhà đầu tư tưnhân (Leleux & Surlemont, 2003) Có một số nghiên cứu thực nghiệm chothấy thực sự đầu tư từ nhà nước đã có ảnh hưởng tiêu cực đến đầu tư tư nhân
ở một số nước Châu Âu, Hoa Kỳ và Canada (Armour & Cumming, 2006;Cumming & MacIntosh, 2006; Da Rin et al ,2006)
Chính vì các lý do nêu trên, nhiều nghiên cứu cho rằng GVC thường ít
Trang 16khi thành công (Lerner, 2002).
Tuy nhiên, hình thức đầu tư gián tiếp tư nhà nước được coi là có hiệuquả hơn so với hình thức đầu tư trực tiếp từ GVC (OECD, 2013).Khi đó, nhànước đầu tư phần vốn của mình vào các quỹ ĐTMH của tư nhân như vậy nhànước có thể tận dụng bộ lọc và kinh nghiệm của các quỹ tư nhân trong việclựa chọn và hỗ trợ các startup phát triển (Cumming, 2007; Munari & Toschi,2011).Các quỹ tư nhân cũng sẽ làm tốt hơn các GVC trong việc hỗ trợ thoáivốn từ startup (Luukkonen, Deschryvere & Bertoni, 2013) Tại Israel, Chươngtrình hỗ trợ đầu tư mạo hiểm Yozma từ năm 1993 đến 1998, được coi là độnglực quan trọng nhất để phát triển ngành đầu tư mạo hiểm tại nước này Yozma
đã đầu tư 80 triệu USD để góp vốn vào 10 quỹ đầu tư mạo hiểm của tư nhân
và 20 triệu USD để hỗ trợ, đầu tư trực tiếp cho doanh nghiệp KH&CN khởinghiệp Với sự tham gia đầu tư của Yozma mà lượng vốn đầu tư mạo hiểmtrên thị trường của Isarel tăng từ 27 triệu USD năm 1992 lên đến 2,712 triệuUSD vào năm 2000 Sau 5 năm, nhà nước đã thoái vốn thành công (bảo toànvốn) tại tất cả 10 quỹ được nhận đầu tư (Avnimelech, 2009)
* Tình hình nghiên cứu trong nước:
Các nghiên cứu trong nước hầu hết tập trung vào vấn đề chính sách củanhà nước đối với doanh nghiệp KH&CN và gần đây là một số nghiên cứu vềtình hình đầu tư mạo hiểm trong nước, cụ thể là:
Về các chính sách của nhà nước đối với doanh nghiệp KH&CN
Doanh nghiệp KH&CN là doanh nghiệp thực hiện sản xuất, kinhdoanh, dịch vụ khoa học và công nghệ để tạo ra sản phẩm, hàng hoá từ kếtquả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (Luật KH&CN 2013) [19]
Năm 2007, Chính phủ ban hành Nghị định số 80/2007/NĐ-CP về pháttriển doanh nghiệp KH&CN: quy định tiêu chí, điều kiện thành lập và cácchính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp KH&CN Tại Quyết định số
Trang 171244/QĐ-TTg Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt phương hướng, mục tiêu,nhiệm vụ khoa học và công nghệ giai đoạn 2011-2015 và định hướng tronggiai đoạn 2015-2020 sẽ phát triển 3.000 doanh nghiệp KH&CN Trong đó, sốlượng doanh nghiệp KH&CN hình thành từ các trường đại học, viện nghiêncứu chiếm khoảng 70%[16] Gần đây nhất, Luật KH&CN số 29/2013/QH13ngày 18/6/2013 quy định về doanh nghiệp KH&CN (Điều 58) đã góp phầnhoàn thiện cơ sở pháp lý thúc đẩy sự hình thành và phát triển doanh nghiệpKH&CN.
Các chính sách đưa ra các ưu đãi cho doanh nghiệp KH&CN như sau:
- Được xem xét, giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ thuộc sở hữu nhà nước;
- Được hưởng chính sách ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp, miễn
lệ phí trước bạ khi đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà;
- Được ưu tiên thuê đất, cơ sở hạ tầng trong khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, khu công nghệ cao;
- Được hưởng chính sách ưu đãi về tín dụng đầu tư của Ngân hàng pháttriển Việt Nam, Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia và các quỹ khác để thựchiện dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh;
- Được ưu tiên sử dụng trang thiết bị phục vụ cho hoạt động nghiên cứukhoa học và phát triển công nghệ tại phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia,
cơ sở ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu khoa học
và công nghệ của Nhà nước
Tuy nhiên, trên thực tế việc hỗ trợ phát triển doanh nghiệp KH&CN còn nhiều khó khăn, vướng mắc, cụ thể:
- Vấn đề đăng ký chứng nhận doanh nghiệp KH&CN còn rất phức tạp,mất thời gian để doanh nghiệp chứng minh được quyền sở hữu, quyền sửdụng hợp pháp đối với kết quả nghiên cứu, đặc biệt là các kết quả nghiên cứu
Trang 18hình thành từ ngân sách nhà nước (Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp KH&CN, 2013b).
- Nhiều doanh nghiệp công nghệ thông tin (CNTT) không mấy “mặnmà’’ với việc đăng ký doanh nghiệp KH&CN do các ưu đãi họ được hưởngkhi là doanh nghiệp CNTT đã được hưởng rất nhiều ưu đãi (Tia sáng, 2013)
- Phần “công nghệ” trong doanh nghiệp chưa thực sự phát triển Hằngnăm có quá ít các kết quả nghiên cứu từ người Việt Nam được đăng ký bảo
hộ sở hữu trí tuệ (Báo cáo hằng năm, Cục Sở hữu trí tuệ, 2015; Mai Hà, Mai
Hà, Hoàng Văn Tuyên, Đào Thanh Trường, 2015)
- Các chính sách về hỗ trợ tài chính, ví dụ thông qua ưu đãi thuế, chodoanh nghiệp KH&CN rất khó để có thể tiếp cận, chưa thực sự tạo được độnglực cho các doanh nghiệp đó (Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp
- Để phát triển các doanh nghiệp KH&CN mới thành lập, vai trò củacác cơ sở ươm tạo doanh nghiệp KH&CN là rất quan trọng.Tuy nhiên, hầu hếtcác cơ sở ươm tạo tại các trường đại học, viện nghiên cứu của Việt Nam hoạtđộng chưa thật hiệu quả Nguồn tài chính đầu tư hiện nay cho các vườn ươmchủ yếu từ ngân sách nhà nước nên còn nhiều hạn chế, đặc biệt khó thu hútnhân lực có kinh nghiệm để làm việc Các vườn ươm hiện có chưa thu hútđược sự quan tâm của các quỹ đầu tư và các doanh nghiệp lớn để đầu tư chocác doanh nghiệp được ươm tạo (Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệpkhoa học và công nghệ, 2013b)
- Các chính sách về hỗ trợ tài chính, thuế đối với doanh nghiệpKH&CN còn chưa thực đồng bộ, gây khó khăn trong quá trình thực hiện Ví
dụ, điều kiện để doanh nghiệp KH&CN được nhận hỗ trợ theo Nghị định số80/2007/NĐ-CP về doanh nghiệp KH&CN và Thông tư liên tịch số
06/2008/TTLT-BKHCN-BTC-BNV hướng dẫn Nghị định tập trung vào tỷ lệ
Trang 19doanh thu của việc sản xuất, kinh doanh hàng hóa hình thành từ kết quảnghiên cứu KH&CN trên tổng doanh thu của doanh nghiệp, trong khi điềukiện được nhận hỗ trợ của những doanh nghiệp có hoạt động đổi mới côngnghệ tại Luật chuyển giao công nghệ lại không phụ thuộc vào các điều kiệnnhư vậy mà vào địa bản, lĩnh vực (Nguyễn Thị Vân Anh, 2013).
Do còn có nhiều vướng mắc, số lượng doanh nghiệp KH&CN được cấpchứng nhận đến cuối năm 2015 mới đạt 204 doanh nghiệp, thấp hơn rất nhiều
so với chỉ tiêu 3000 doanh nghiệp KH&CN đến năm 2015 và 5000 doanhnghiệp KH&CN đến năm 2020 đề ra trong Quyết định số 1244/QĐ-TTg củaThủ tướng Chính phủ ngày 25/7/2011 về việc phê duyệt phương hướng, mụctiêu, nhiệm vụ khoa học và công nghệ chủ yếu giai đoạn 2011-2015 (Hội nghị
“Phát triển doanh nghiệp doanh nghiệp khoa học và công nghệ năm 2015”)
Về tình hình đầu tư mạo hiểm
- Trong khi các dự án về phát triển, thương mại hóa công nghệ mới,công nghệ cao khó có thể tiếp cận được các tổ chức tài chính truyền thống thì
họ có thể tiếp cận đầu tư từ các quỹ ĐTMH Ở nhiều nước trên thế giới,ĐTMH đã được chứng minh là đóng vai trò quan trọng trong việc phát triểncác công ty có tiềm năng phát triển nhanh dựa trên công nghệ.Cũng có nhiềuchính sách liên quan đến phát triển ĐTMH Tuy nhiên, tác giả của các nghiêncứu trong nước về vấn đề này cho rằng biện pháp hiệu quả nhất là phải
khuyến khích được tư nhân cùng tham gia với nhà nước để thành lập các quỹĐTMH phối hợp công – tư (Viện Chính sách và Chiến lược khoa học và côngnghệ, 2015)
- Từ năm 2000 đến nay, mới chỉ có khoảng 3 – 4 quỹ đầu tư mạo hiểm
ở Việt Nam và tất cả là quỹ nước ngoài, có văn phòng đại diện ở Việt Nam.Trong năm 2016, Tập đoàn công nghệ FPT mở quỹ đầu tư FPT Ventures tuynhiên vẫn chưa rõ đây là mô hình công ty đầu tư hay quỹ đầu tư (được phép
Trang 20phát hành chứng chỉ quỹ để huy động vốn) Điều này thể hiện một số thực tếsau: (1) Trong các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam chưa có quyđịnh về đăng ký hoạt động của quỹ đầu tư mạo hiểm dành cho khởi nghiệpđổi mới sáng tạo trong khi đó ở các nước phát triển trên thế giới, việc thànhlập và hoạt động của các quỹ này được quy định riêng biệt và có những điềukiện thấp hơn nhiều về vốn và các nguyên tắc đầu tư hơn so với điều kiện củaquỹ đầu tư chứng khoán thông thường; (2) Cũng chưa có các ưu đãi thuế dànhcho nhà đầu tư từ quy mô cá nhân (nhà đầu tư thiên thần) đến quy mô quỹtrong khi đó các nước như Hồng Kông, Singapore đều có các ưu đãi rất lớncho nhà đầu tư mạo hiểm; (3) Hệ thống tài chính của Việt Nam chưa thật sựphát triển, chính vì vậy các công cụ đầu tư, cách thức đầu tư và cấu trúc tàichính của doanh nghiệp chưa được chuyên nghiệp, chưa thực sự thu hút nhàđầu tư nước ngoài; (4) đặc biệt, thị trường mua bán và sáp nhập cũng như thịtrường chứng khoán của Việt Nam chưa thực sự phát triển, do đó nhà đầu tưchưa nhìn thấy được “đầu ra”, chính là việc thoái vốn từ các khoản đầu tưmạo hiểm cho các doanh nghiệp khởi nghiệp ở Việt Nam Chính vì những lý
do trên mà các nhà đầu tư mạo hiểm ở nước ngoài cảm thấy “quen” làm việchơn với các thị trường phát triển như Singapore, Hồng Kông hay ở Hoa Kỳhơn là mất công tìm hiểu và vượt qua các rào cản để đầu tư vào Việt Nam
Ngoài ra, trong 67 phi vụ đầu tư mạo hiểm thống kê được trong năm
2015 bởi Topica Founder Institute, khoảng ½ là các khoản đầu tư mà trong đónhà đầu tư yêu cầu doanh nghiệp khởi nghiệp phải đăng ký trụ sở tại nướcngoài trước khi thực hiện đầu tư Nói cách khác, đó không còn là nhữngdoanh nghiệp đúng nghĩa Việt Nam mà là doanh nghiệp nước ngoài có ngườisáng lập là người Việt Nam
*Bình luận, đánh giá
Các tài liệu và nghiên cứu trong nước hầu hết tập trung vào các chính
Trang 21sách phát triển doanh nghiệp KH&CN Có rất ít các nghiên cứu về nội dungđầu tư mạo hiểm Chỉ có một số nghiên cứu như Đề tài “Nghiên cứu xây dựngchính sách khuyến khích tư nhân thành lập hoặc liên kết với nhà nước đểthành lập các quỹ đầu tư mạo hiểm phát triển công nghệ mới, công nghệ cao”,Viện Chính sách và Chiến lược khoa học và công nghệ, Bộ Khoa học và Côngnghệ (2015) là tổng kết được các chính sách nước ngoài về vấn đề ĐTMH vàcho rằng Việt Nam nên học tập mô hình liên kết giữa nhà nước và tư nhân đểthành lập các quỹ này Tuy nhiên, các mô hình ĐTMH là gì, điểm mạnh, yếucủa từng mô hình, các chính sách liên quan và việc tham gia của nhà nước vàotừng hình thức đầu tư mạo hiểm đóchưa được nghiên cứu sâu.
Các nghiên cứu cũng chưa phân biệt rõ giữa đầu tư cho dự án KH&CN
và đầu tư dưới dạng góp vốn doanh nghiệp Do đó, các nghiên cứu hầu hết tậptrung phân tích khía cạnh KH&CN; trong khi đó những vấn đề về cấu trúcdoanh nghiệp, chính sách về doanh nghiệp (ví dụ, quy định về phá sản, bảohiểm,…), hay những chính sách về thị trường đầu tư (ví dụ: quy định vềchứng khoán, các tổ chức tín dụng, ngân sách nhà nước,…) có ảnh hưởng rasao đến đầu tư vẫn chưa được nghiên cứu Hơn nữa, các nghiên cứu hầu hết
sử dụng phương pháp tổng hợp tài liệu quốc tế để đưa ra những đề xuất choviệc phát triển đầu tư cho công nghệ ở Việt Nam, chứ chưa thực sự dựa trênkhung pháp lý hiện có và tình hình văn hóa, xã hội trong nước để đưa ranhững đề xuất phù hợp
Từ những nghiên cứu và thực tiễn trên thế giới, tại Việt Nam về đầu tư
mạo hiểm, tôi đã chọn thực hiện Luận văn với chủ đề “Giải pháp chính sách thúc đẩy đầu tư mạo hiểm đối với hoạt động ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ tại Việt Nam”, để có cái nhìn tổng quan về tình hình đầu
tư và chính sách đầu tư cho mô hình startup trên thế giới và những điểm còncần tiếp tục đào sâu, phân tích đối với thực trạng và chính sách đầu tư cho
Trang 22ươm tạo doanh nghiệp KH&CN ở Việt Nam.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu này làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm đề xuất chínhsách khuyến khích đầu tư mạo hiểm có sự tham gia của Nhà nước cho hoạtđộng ươm tạo doanh nghiệp KH&CN ở Việt Nam
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu kinh nghiệm một số nước về các loại hình đầu tư của Nhànước cho hoạt động ươm tạo và phát triển doanh nghiệp KH&CN
- Nghiên cứu thực trạng chính sách, thực tiễn hoạt động đầu tư cho ươm tạo và hỗ trợ phát triển doanh nghiệp KH&CN tại Việt Nam
- Đề xuất một số chính sách cụ thể khuyến khích đầu tư mạo hiểm có
sự tham gia của Nhà nước cho hoạt động ươm tạo doanh nghiệp KH&CN tạiViệt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn này là các chính sách, kinh nghiệmquốc tế và thực tiễn của Việt Nam liên quan đến thúc đẩy đầu tư mạo hiểmcho ươm tạo doanh nghiệp KH&CN
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian nghiên cứu: chính sách của Việt Nam và một
số nước đi trước đã thành công trong việc thúc đẩy đầu tư cho ươm tạodoanh nghiệp KH&CN
Phạm vi thời gian nghiên cứu:
- Đối với nước ngoài: kể từ khi ban hành các chính sách, chương trìnhcủa Chính phủ quy định về đầu tư mạo hiểm
- Đối với Việt Nam: trong khoảng 05 năm trở lại đây
Trang 235 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
- Đưa ra được các nội dung về doanh nghiệp khoa học và công nghệ,các nội dung về ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ, đầu tư mạohiểm
- Nêu ra và phân tích thực trạng hoạt động đầu tư mạo hiểm trong nước
và quốc tế, rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: các tài liệu trong nước và nước ngoài
về vấn đề chính sách thúc đẩy đầu tư mạo hiểm cho ươm tạo doanh nghiệpKH&CN
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1 Ý nghĩa lý luận:
Việc nghiên cứu Luận văn với đề tài trên một phần là củng cố tri thức,phương pháp nghiên cứu khoa học cho người nghiên cứu về đầu tư mạo hiểm.Đồng thời Luận văn sẽ làm phong phú thêm phạm vi nghiên cứu, lĩnh vựcnghiên cứu về đầu tư mạo hiểm cho ươm tạo doanh nghiệp KH&CN
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn góp phần làm rõ được những đặc điểm và cơ chế hoạt độngcủa ĐTMH trong hoạt động ươm tạo doanh nghiệp KH&CN, phân tích thựctrạng quốc tế về các loại hình đầu tư của Nhà nước cho hoạt động ươm tạo vàphát triển doanh nghiệp khoa học công nghệ và tác động của nó trong hìnhthành hệ sinh thái hỗ trợ khởi nghiệp trong nước, phân tích thực trạng củaViệt Nam và nêu lên một số bài học kinh nghiệm cũng như đề xuất các giảipháp chính sách nhằm phát triển hoạt động ĐTMH ở Việt Nam trong thờigian tới
Trang 247 Bố cục của Luận văn
- Chương 3: Đề xuất giải pháp chính sách thúc đẩy đầu tư mạo hiểm cho hoạt động ươm tạo doanh nghiệp KH&CN
- Kết luận
- Tài liệu tham khảo
Trang 25Chương 1 VAI TRÒ ĐẦU TƯ MẠO HIỂM ĐỐI VỚI VIỆC ƯƠM TẠO
DOANH NGHIỆP KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 1.1 Đầu tư mạo hiểm
1.1.1 Khái niệm:
Khái niệm về đầu tư nói chung được hiểu “là quá trình sử dụng cácnguồn lực tài chính, lao động, tài nguyên thiên nhiên và các tài sản vật chấtkhác nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp tái sản xuất giản đơn, tái sản xuất mở rộngcác cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế nói chung, các cơ sở sản xuất kinh
doanh, dịch vụ của ngành, cơ quan quản lý và xã hội nói riêng” (Giáo trình về
đầu tư và dự án đầu tư, Đại học Kinh tế quốc dân)
Việc đầu tư cho doanh nghiệp KH&CN khởi nghiệp cũng tương tự nhưvậy và có thể được phân biệt theo chủ thể đầu tư như đối với doanh nghiệpkhởi nghiệp ĐMST (OECD, 1996; Lerner, 2002), bao gồm: Sáng lập viênkhởi nghiệp; Gia đình, bạn bè của doanh nhân KH&CN khởi nghiệp; Nhà đầu
tư thiên thần (business angels), là nhà đầu tư cá nhân không phải gia đình, bạn
bè nhưng là những người giàu có đầu tư cho doanh nghiệp KH&CN khởinghiệp trong giai đoạn đầu phát triển; Các trung gian gọi vốn cộng đồng(crowdfunding) là nơi thu hút vốn đầu tư từ mọi người dân cho doanh nghiệpkhởi nghiệp; Các công ty, tập đoàn lớn trong cùng lĩnh vực (corporateventures); Các quỹ đầu tư mạo hiểm (venture capital funds - VC); và Nhànước đầu tư cho khởi nghiệp Đồng thời, cũng bao gồm cả chủ thể đầu tư là tổchức “mẹ” đối với trường hợp spin-off
Về động lực đầu tư, có thể phân làm các loại sau:
- Sáng lập viên khởi nghiệp đầu tư vào doanh nghiệp KH&CN khởinghiệp vì tin tưởng vào sản phẩm, dịch vụ của mình; vì mong muốn đưa cácsản phẩm, dịch vụ mới được tạo ra từ trí tuệ của mình đến cộng đồng, xã hội;
Trang 26vì mong muốn được làm chủ và được công nhận (Hwang & Horowitt, 2012).
-Gia đình, bạn bè của doanh nhân KH&CN khởi nghiệp đầu tư hầu hếtvới động lực là niềm tin và sự mong muốn được hỗ trợ doanh nhân KH&CNkhởi nghiệp thành công, hơn cả động lực về kinh tế (Hwang & Horowitt, 2012)
- Tổ chức “mẹ” đầu tư cho doanh nghiệp KH&CN khởi nghiệp với mong muốn đưa kết quả nghiên cứu của tổ chức đó ra thị trường
- Nhà nước đầu tư cho doanh nghiệp KH&CN khởi nghiệp vì mongmuốn tạo ra công ăn việc làm, đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường và pháttriển nền kinh tế dựa trên tri thức (Lerner, 2002)
- Ngoài các đối tượng trên, hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư thiênthần, công ty đầu tư và quỹ đầu tư được gọi là hoạt động ĐTMH, có thể hiểuđơn giản là đầu tư dưới hình thức góp vốn bằng cổ phần vào các doanh nghiệpKH&CN khởi nghiệp có rủi ro cao để đổi lấy lợi nhuận vượt trội trong tươnglai (Cơ quan hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ Hoa Kỳ SBA [7], Hiệp hội vốn cổ phần
và vốn ĐTMH của Hà Lan – NVP [7], Hiệp hội đầu tư mạo hiểm Phần Lan –FVCA [7]) Hoạt động ĐTMH thường hướng đến một số lĩnh vực chính baogồm vực công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) và công nghệ sinh học,công nghệ sạch (OCED, 2011; Hiệp hội đầu tư mạo hiểm và đầu tư cổ phần
cá nhân Vương quốc Anh – BVCA [7])
Các loại hình và tính chất của ĐTMH:
- Đầu tư mạo hiểm (ĐTMH) được hiểu là một loại hình tài chính đặcthù được cung cấp bởi một số công ty có hoạt động vừa đầu tư, vừa quản lýcác công ty mới thành lập chưa có mặt trên sàn chứng khoán Trong đó, có 3đối tượng chính tham gia vào ngành ĐTMH là: (1) các tổ chức đầu tư; (2) cácdoanh nghiệp khởi nghiệp được nhận đầu tư và (3) các tổ chức và cá nhântrung gian thực hiện nhiệm vụ đánh giá, lựa chọn, giao dịch, quản lý các dự ánđầu tư và thu hút các khoản đầu tư (OECD, 1996)
Trang 27- Có 3 loại hình đầu tư mạo hiểm chính là quỹ ĐTMH (venture capitalfunds), nhà đầu tư thiên thần (business angels hoặc angel investors) và tậpđoàn đầu tư mạo hiểm (corporate venture) Các hình thức thoái vốn bao gồm:mua bán, sáp nhập hoặc phát hành cổ phiếu ra thị trường (IPO) Các bướcphát triển khởi nghiệp công nghệ bao gồm: ươm mầm, bắt đầu khởi nghiệp,phát triển và mở rộng, thoái vốn bằng mua bán & sáp nhập, IPO Đặc điểmcủa ĐTMH là đầu tư dài hạn từ 5-10 năm vào các dự án có rủi ro cao nhưng
có thể mang lại lợi ích lớn, chính vì vậy ĐTMH đóng vai trò quan trọng trongviệc kết nối nguồn tài chính cần thiết cho các dự án đổi mới sáng tạo củadoanh nghiệp KH&CN khởi nghiệp (OECD, 1996)
- Ngoài các hình thức kể trên, trong hoạt động ĐTMH, gọi vốn cộngđồng (crowdfunding) là mô hình trung gian cho phép các doanh nghiệp khởinghiệp ở giai đoạn đầu có thể đưa thông tin về dự án của mình lên mạng vàthu hút vốn đầu tư rất nhiều người, hầu hết là các khoản đầu tư nhỏ từ vàitrăm đến khoản vài ngàn USD Trong gọi vốn cộng đồng lại có 3 loại hìnhchính là: (1) gọi vốn cộng đồng bằng tài trợ (donation-based crowdfunding);(2) gọi vốn cộng đồng bằng phần thưởng (reward-based crowdfunding); (3)gọi vốn cộng đồng bằng vốn vay (lending-based crowdfunding) và (4) gọi vốncộng đồng bằng cổ phần (equity-based crowdfunding) (McCahery &Vermeulen, 2014; World Bank, 2013) World Bank (2013) cho rằng nếu biếtcách tạo môi trường thuận lợi, crowdfunding sẽ là một loại hình trung gianphù hợp để thu hút vốn đầu tư cho các doanh nghiệp KH&CN khởi nghiệp ởcác nước đang phát triển
Do mục tiêu và tính chất của đầu tư gắn liền với đối tượng đầu tư, do
đó trong Luận văn này, “đầu tư mạo hiểm cho ươm tạo doanh nghiệpKH&CN” được hiểu như sau:
“Đầu tư mạo hiểm cho ươm tạo doanh nghiệp KH&CN là việc vừa đầu
Trang 28tư vốn cổ phần vào các doanh nghiệp KH&CN, vừa hỗ trợ các doanh nghiệp
đó trong thời gian ban đầu hoạt động để các doanh nghiệp có thể giảm thiểu rủi ro và phát triển nhanh chóng.”
Các chủ thể đầu tư bao gồm:Gia đình, bạn bè của doanh nhân KH&CN khởi nghiệp; Nhà đầu tư thiên thần; Các công ty công ty lớn trong cùng lĩnh vực; Các quỹ đầu tư mạo hiểm; Trung gian gọi vốn cộng đồng; Tổ chức thành lập ra doanh nghiệp đó (nếu có); và Nhà nước.”
Vai trò của đầu tư mạo hiểm trong tổng thể hệ sinh thái phát triển doanh nghiệp khởi nghiệp
Nhiều người cho rằng ĐTMH là một trong những yếu tố quan trọngnhất trong việc quyết định sự thành công của một doanh nghiệp KH&CN khởinghiệp Tuy nhiên, nếu không có sự phát triển toàn diện và liên kết chặt chẽgiữa các thành phần của hệ sinh thái khởi nghiệp thì cũng khó có thể tạo rađược những doanh nghiệp KH&CN khởi nghiệp mạnh Chính vì vậy, ngànhĐTMH không thể chỉ được nghiên cứu một cách độc lập mà cần được đặttrong tổng thể các hoạt động của hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp KH&CNkhởi nghiệp nói chung (Field, 2012; Hwang & Horowitt, 2012; Senor &Singer, 2011)
Cuốn sách “The Rainforest: the secret to building the next SiliconValley” của tác giả Victor W Hwang và G Horowitt năm 2012 và cuốn sách
“Startup Communities:Building an entrepreneurial ecosystem in your city”của tác giả Brad Field năm 2012, mỗi tác giả mô tả đặc tính của một hệ sinhthái khởi nghiệp cách xa nhau, ở thung lũng Silicon, Sanfrancisco, và một hệsinh thái khởi nghiệp ở Boulder, Colorado nhưng có những điểm rất chung
Đó là, mỗi cá nhân, tổ chức trong hệ sinh thái khởi nghiệp phải luôn sẵn sànggiúp đỡ nhau, bỏ qua lợi ích cá nhân, không chỉ làm việc vì mục tiêu lợinhuận của riêng mình mà còn vì lợi ích chung của cộng đồng khởi nghiệp
Trang 29Chỉ có như vậy, hệ sinh thái khởi nghiệp mới tạo nên các kết nối dựa trên lòngtin và mới có thể tự phát triển các doanh nghiệp khởi nghiệp một cách rất tựnhiên Điều này đúng với cả hoạt động ĐTMH Với tư cách của các nhàĐTMH cho khởi nghiệp, mặc dù đặt mục tiêu lợi nhuận là mục tiêu cao nhất,các tác giả vẫn cho rằng nhà đầu tư chỉ có thể thành công nếu biết trân trọng,
hỗ trợ các doanh nghiệp khởi nghiệp, kể cả nếu không đi đến hợp tác đầu tưthành công thì họ vẫn sẵn sàng giới thiệu doanh nghiệp khởi nghiệp đó chonhà đầu tư phù hợp hơn
Tuy nhiên, trong khi Field (2012) đánh giá rất thấp vai trò của nhà nướctrong hệ sinh thái khởi nghiệp, cho rằng các chính phủ, với tính chất làm việcdựa trên nhiệm kỳ, sẽ không thể đưa ra chính sách gì hỗ trợ được sự phát triểnlâu dài của hệ sinh thái khởi nghiệp, thì Hwang & Horowitt (2012) lại chorằng tất cả các đối tượng trong hệ sinh thái, bao gồm cả Chính phủ, đều có thể
hỗ trợ khởi nghiệp nếu họ làm đúng cách và không vụ lợi
Senor & Singer (2011) trong cuốn sách “Quốc gia khởi nghiệp” phântích các bí quyết trở thành quốc gia khởi nghiệp của Ixaren nhưng không dướigóc độ chính sách mà dưới góc độ văn hóa, con người Các tác giả cho rằngchính lịch sử thường xuyên bị đe dọa bởi các thế lực thù địch, ai cũng phảithực hiện nghĩa vụ quân sự, đã rèn rũa người Ixaren trở thành những chiếnbinh dũng cảm, mưu trí, tự chủ trên cả chiến trường lẫn thương trường Nghĩa
vụ tham gia quân sự bắt buộc và việc phải hằng năm quay trở lại phục vụquân đội trong thời gian ngắn đã làm mối quan hệ của những người Ixaren trởnên thân thiết, và trở thành nguồn lực rất quý giá về mạng lưới hỗ trợ mỗi khingười Ixaren nào muốn khởi nghiệp Sự kết nối này cũng khiến các nhàĐTMH có thể đặt lòng tin ở các doanh nhân khởi nghiệp và sẵn sàng giúp đỡ
họ trong hoạt động kinh doanh Sự chấp nhận thất bại, cho phép thách thứccác quy luật có sẵn, cách hành xử không đặt nặng vấn đề vị trí xã hội mà tôn
Trang 30trọng sáng kiến, sự hiệu quả cũng chính là các yếu tố khiến người Ixaren trởthành dân tộc rất thành công khi khởi nghiệp, đồng thời tạo nên thái độ chấpnhận rủi ro dễ dàng hơn khi ĐTMH cho doanh nghiệp khởi nghiệp.
Những yếu tố ảnh hưởng đến ĐTMH ở một quốc gia
Nghiên cứu định lượng của Jeng (2000) với số liệu của 21 nước trên thếgiới từ năm 1986 đến năm 1995 về các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển củahoạt động ĐTMH cho thấy:
+ IPO là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến sự phát triển hoạt độngĐTMH
+ Sự ảnh hưởng của các quỹ hưu trí đến hoạt động ĐTMH là có ý nghĩathống kê theo thời gian nhưng không theo quốc gia
+ Sự ảnh hưởng của GDP và sự tăng trưởng của thị trường vốn lạikhông có ý nghĩa thống kê
+ Sự can thiệp của nhà nước có ảnh hưởng mang ý nghĩa thống kê đốivới hoạt động ĐTMH, từ cả hai phương diện: xây dựng môi trường pháp lý
và hỗ trợ thúc đẩy thị trường trong giai đoạn khủng hoảng, đi xuống
Mỗi giai đoạn ĐTMH bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác nhau Ví dụ:+ ĐTMH giai đoạn đầu đầu (early-stage VC investing) bị ảnh hưởngnhiều bởi sự cứng nhắc của thị trường lao động nhưng ĐTMH giai đoạn sau(later-stage VC investing) thì không
+ IPO không có nhiều ảnh hưởng đến ĐTMH giai đoạn đầu nhưng lại
có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của ĐTMH giai đoạn sau theo quốc gia.Điều này cho thấy tiềm năng thoái vốn bằng IPO cao chính là yếu tố thúc đẩyĐTMH ở giai đoạn sau còn trong giai đoạn đầu thì không thoái vốn bằng IPO
+ Các khoản ĐTMH có sự góp vốn của nhà nước thường không bị ảnh hưởng nhiều bởi các yếu tố ảnh hưởng đến ĐTMH của tư nhân
Trang 311.1.2 Đặc điểm:
Khác với các hình thức đầu tư tài chính thông thường, đối tượng đượcnhận vốn ĐTMH phần lớn là các doanh nghiệp công nghệ cao, công nghệ tiêntiến có quy mô vừa và nhỏ đang trong giai đoạn khởi nghiệp Vì đầu tư vàocông nghệ cao, công nghệ tiên tiến nên độ rủi ro rất lớn, nhưng ngược lại nếuthành công thì lợi nhuận thu được rất cao ĐTMH có một số đặc điểm sau:
Thứ nhất, đầu tư vào các doanh nghiệp mà không cần phải có mộtkhoản đặt cọc hay ký quỹ nào, các chuyên gia quản lý vốn mạo hiểm rót vốnvào doanh nghiệp chủ yếu dựa trên sự tin tưởng vào việc tạo dựng thành côngdoanh nghiệp của người sáng lập và đội ngũ lãnh đạo doanh nghiệp
Thứ hai, đầu tư mạo hiểm là hình thức đầu tư đặc thù, có quy địnhriêng biệt và thường có tiêu chuẩn thấp hơn về vốn và nguyên tắc đầu tư
Thứ ba, các chuyên gia quản lý vốn mạo hiểm đầu tư vào một doanhnghiệp nào đó thì có nghĩa là họ sẽ đồng tham dự vào việc kiểm soát điềuhành doanh nghiệp.Điều này cũng có nghĩa là họ sẽ phải đối mặt với rủi ro bịmất khoản đầu tư trong trường hợp doanh nghiệp bị phá sản Tuy nhiên, rủi rocao thì sẽ được bù đắp bởi lợi nhuận cao khi doanh nghiệp đó thành công
Thứ tư, bên cạnh việc cung cấp vốn, các chuyên gia quản lý vốnĐTMH còn tư vấn ở cấp chiến lược, hướng dẫn, hỗ trợ doanh nghiệp trongquản lý và mở rộng các mối quan hệ nhằm tăng cường năng lực hoạt độngkinh doanh, tạo dựng uy tín, xây dựng thương hiệu và phát triển thị trường
Thứ năm, đầu tư mạo hiểm không chỉ cấp vốn tái chính cho đối tượngđược chấp nhận, mà còn hỗ trợ về quản lý, các giải pháp công nghệ, phương
án kinh doanh,… nhằm nâng cao tỉ lệ thành công của doanh nghiệp KH&CN
Do tính chất “mạo hiểm” trong hoạt động đầu tư, các chuyên gia quản lýquỹ ĐTMH thường tiến hành rất kỹ việc sàng lọc hay thẩm định đầu tư nhằmtìm ra các doanh nghiệp tiềm năng để đầu tư Việc thẩm định đầu tư này
Trang 32được tiến hành trên tất cả các mảng của hoạt động kinh doanh, từ việc xemxét đội ngũ lãnh đạo, công nghệ cho đến mô hình kinh doanh.
1.1.3 Hình thức hoạt động của đầu tư mạo hiểm
Do ĐTMH có những đặc điểm mang tính đặc thù nên cơ chế và hìnhthức hoạt động của loại hình đầu tư này cũng có những điểm riêng biệt, khácvới các loại hình đầu tư khác Hoạt động ĐTMH có thể được tiến hành theo 3bước:
Bước 1: Xem xét và thẩm định các dự án đầu tư Các cá nhân hay tổchức tiến hành ĐTMH thường thực hiện thông qua các quỹ ĐTMH QuỹĐTMH sẽ thay mặt nhà đầu tư xem xét, nghiên cứu, thẩm định và tìm ra cácdoanh nghiệp hay dự án tiềm năng để đầu tư Quỹ ĐTMH có thể được tổ chứcdưới nhiều dạng như: Công ty hợp danh hữu hạn, quỹ tín thác, công ty cổphần, công ty trách nhiệm hữu hạn…
- Công ty hợp danh hữu hạn: Là hình thức trong đó những nhà đầu tư làcác thành viên chính góp vốn, hưởng lợi nhuận và chịu trách nhiệm hữu hạntương ứng theo tỷ lệ phần trăm vốn góp Còn những người hoặc tổ chứckhông có vốn nhưng có kinh nghiệm và kỹ năng quản lý đầu tư thì góp mộtphần vốn rất nhỏ, mang tính chất tượng trưng nhưng được toàn quyền quản lýquỹ và chịu trách nhiệm vô hạn đối với hoạt động của quỹ.Đây là hình thứcphổ biến đối với các quỹ ĐTMH ở Mỹ
- Quỹ tín thác (trust fund): Đây không phải là một pháp nhân đầy đủ,
mà chỉ phát hành tín phiếu đầu tư, sau đó uỷ thác cho công ty quản lý quỹ sửdụng nguồn vốn đầu tư đó Trong trường hợp này, ngân hàng sẽ thay mặt nhàđầu tư giữ vai trò giám sát công ty quản lý quỹ nhằm bảo quản vốn và tài sảncủa quỹ hay đảm bảo quyền lợi của các nhà đầu tư
- Các dạng khác như công ty con của một công ty lớn (corporationventure), công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty tư nhân: So
Trang 33với công ty hợp danh hữu hạn, những hình thức này thường không linh hoạt vàkhông mang lại hiệu quả cao do những người quản lý quỹ hoặc không phải lànhững người quản lý đầu tư chuyên nghiệp, hoặc không có sự ràng buộc chặt chẽ
về lợi ích giữa hiệu quả hoạt động của quỹ và lợi ích của người quản lý
Bước 2: Các quỹ ĐTMH tiến hành đầu tư, rót vốn vào các doanhnghiệp công nghệ cao hay công nghệ tiên tiến có triển vọng, đang trong giaiđoạn khởi nghiệp và chưa tham gia niêm yết trên thị trường chứng khoán
Bước 3: Kết thúc đầu tư, hay thu hồi vốn ĐTMH thường có thời gianhoạt động nhất định, khoảng từ 7 đến 10 năm Các khoản ĐTMH được thu hồithông qua 4 kênh chính: Thị trường chứng khoán (chào bán ra công chúng lầnđầu, IPO), bán cổ phần cho nhà đầu tư khác (trade sale), bán lại cổ phần chodoanh nghiệp và bán doanh nghiệp cho doanh nghiệp khác
Hiện nay, ở Việt Nam ĐTMH được thực hiện chủ yếu thông qua cácquỹ ĐTMH do các nhà đầu tư nước ngoài thành lập Hình thức hoạt động chủyếu của các quỹ này là công ty hợp danh hữu hạn
Trang 341.2 Doanh nghiệp khoa học và công nghệ
Doanh nghiệp KH&CN là khái niệm được các nhà nghiên cứu ViệtNam sử dụng từ năm 2003, trong quá trình nghiên cứu xây dựng chính sách
để phát triển loại hình doanh nghiệp này
Trong đó, định nghĩa của các nghiên cứu hầu hết hướng đến loại hìnhdoanh nghiệp dựa trên kết quả nghiên cứu từ viện nghiên cứu, trường đại họchoặc doanh nghiệp, là các tổ chức “mẹ” của doanh nghiệp và hỗ trợ doanhnghiệp phát triển Cụ thể:
- Theo Bạch Tân Sinh và đồng nghiệp (2003), doanh nghiệp KH&CN
là doanh nghiệp được hình thành trên cơ sở áp dụng/khai thác kết quả nghiêncứu KH&CN được tạo ra ở viện nghiên cứu, trường đại học, tổ chức nghiêncứu tư nhân hoặc bởi một cá nhân hoặc tập thể nhà khoa học, công nghệ vàsáng chế
- Theo Trương Hữu Chí (2004), doanh nghiệp KH&CN là loại hìnhdoanh nghiệp chuyên sâu, vừa có chức năng nghiên cứu, vừa có chức năngsản xuất kinh doanh nhằm tạo ra các sản phẩm KH&CN có nhu cầu của thịtrường, đồng thời thương mại hóa các sản phẩm này thông qua sản xuất, dịch
vụ và chuyển giao công nghệ
- Theo Võ Văn Tới (2005), doanh nghiệp KH&CN là mô hình doanhnghiệp vừa và nhỏ, đầu tư cho công việc công nghiệp hóa các kết quả nghiêncứu tiên tiến có ý nghĩa thực tiễn và mang lại lợi nhuận cao một cách nhanhchóng
- Theo Phan Xuân Dũng (2006), doanh nghiệp KH&CN được hiểu lànhững doanh nghiệp được hình thành dựa trên cơ sở: (1) áp dụng và khai tháckết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ được tạo ra ở viện nghiên cứu,trường đại học; (2) chuyển đổi toàn bộ hoặc một phận của tổ chức nghiên cứukhoa học và phát triển công nghệ
Trang 35- Chỉ có Nguyễn Thị Minh Nga và đồng nghiệp (2006) là không đưayếu tố nguồn gốc thành lập vào định nghĩa doanh nghiệp KH&CN, cụ thểtheo các tác giả, doanh nghiệp KH&CN nên được xác định là doanh nghiệpKH&CN vừa và nhỏ, trong đó: (i) sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệpphụ thuộc chủ yếu vào việc áp dụng kỹ năng hoặc tri thức KH&CN, áp dụng
đó là một áp dụng mới đầu mới (novel) của công nghệ tiên tiến hoặc sử dụngcông nghệ không phải là tiên tiến nhưng theo cách đổi mới (innovative) đểđưa ra một sản phẩm hoặc dịch vụ hoàn toàn mới (new); (ii) các hoạt độngcủa doanh nghiệp theo đuổi yếu tố công nghệ như một nguồn lực chính cholợi thế cạnh tranh Mặc dù trong định nghĩa không nhắc đến vấn đề nguồn gốccủa doanh nghiệp KH&CN, tuy nhiên, trong các phân tích về đặc tính củadoanh nghiệp KH&CN thì các tác giả lại cho rằng các hầu hết các doanhnghiệp này được hưởng các hỗ trợ từ tổ chức “mẹ”
Ở Việt Nam, Chính phủ đã ban hành Nghị định 80/2007/NĐ-CP vềdoanh nghiệp KH&CN (gọi tắt là Nghị định 80) để phát triển loại hình doanhnghiệp dựa trên công nghệ tương tự Trong đó định nghĩa về doanh nghiệpKH&CN như sau:
“Doanh nghiệp khoa học và công nghệ quy định tại Nghị định này là doanh nghiệp do tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức cá nhân nước ngoài có quyền sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp các kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (quy định tại khoản 2 Điều 1 Nghị định này) thành lập,
tổ chức quản lý và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Luật Khoa học và Công nghệ.”
“Hoạt động chính của doanh nghiệp khoa học và công nghệ là thực hiện sản xuất, kinh doanh các loại sản phẩm hàng hoá hình thành từ kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ và thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ Ngoài các hoạt động này, doanh nghiệp khoa học và công
Trang 36nghệ có thể thực hiện sản xuất, kinh doanh các loại sản phẩm hàng hoá khác
và thực hiện các dịch vụ khác theo quy định của pháp luật.”
Luật KH&CN 2013 cũng đã luật hóa khái niệm doanh nghiệp KH&CNnhư sau:
“1 Doanh nghiệp khoa học và công nghệ là doanh nghiệp thực hiện sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khoa học và công nghệ để tạo ra sản phẩm, hàng hoá từ kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ.”
“2 Doanh nghiệp khoa học và công nghệ phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
a) Là doanh nghiệp được thành lập, đăng ký kinh doanh, tổ chức quản
lý và hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp;
b) Có năng lực thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ;
c) Doanh thu từ việc sản xuất, kinh doanh sản phẩm, hàng hoá hình thành từ kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ đạt tỷ lệ theo quy định.”
Như vậy có thể nói định nghĩa về doanh nghiệp KH&CN tại Nghị định
80 cũng như trong Luật KH&CN có phần khác với định nghĩa về doanhnghiệp KH&CN trong các nghiên cứu về mô hình này trước đây, trong đó,nguồn gốc của doanh nghiệp KH&CN không được quy định, có nghĩa làdoanh nghiệp này có thể là doanh nghiệp độc lập, cũng có thể là doanh nghiệpđược hình thành từ kết quả nghiên cứu của tổ chức “mẹ”
1.3 Ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ
Trang 37tăng giá trị về mặt quản lý và kinh doanh của doanh nghiệp được ươm tạo(Hackett & Dilts, 2004) Hệ thống hỗ trợ này quản lý, tập hợp và phân bổ cácnguồn lực với mục tiêu là hỗ trợ sự phát triển của các doanh nghiệp mới thànhlập được ươm tạo, trong khi đó giúp giảm chi phí trong trường hợp doanhnghiệp mới bị thất bại.
- Mục tiêu của việc ươm tạo là cung cấp công cụ để hỗ trợ phát triểncác doanh nghiệp KH&CN, khởi nghiệp ĐMST phát triển và giảm thiểu tỷ lệthất bại (tr 59, Allen &Rahnan, 1980)
- Có các cách phân loại cơ sở ươm tạo khác nhau về nguồn gốc kinh phí(từ nguồn ngân sách nhà nước, phi lợi nhuận, từ trường, viện và từ tư nhân);các dịch vụ cung cấp (không gian làm việc chung, phí thuê thấp, các dịch vụ
hỗ trợ doanh nghiệp); nhu cầu sử dụng của doanh nghiệp được ươm tạo (pháttriển sản phẩm, sản xuất, nhu cầu hỗn hợp); loại hình doanh nghiệp được ươmtạo (doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp khởi nguồn) (tr 60) Riêng đốivới phân loại về nguồn gốc kinh phí, với trọng tâm của Luận văn này là liênquan đến đầu tư mạo hiểm nghĩa là đầu tư với mục đích vì lợi nhuận thì sẽ không tập trung vào loại hình cơ sở ươm tạo phi lợi nhuận
- Cũng có ý kiến cho rằng hai loại cơ sở ươm tạo chính là: hỗ trợ chỗ ngồi và hỗ trợ kinh doanh (tr 60, 62)
- Theo Luật chuyển giao công nghệ năm 2005, ươm tạo doanh nghiệpcông nghệ là hoạt động hỗ trợ tổ chức, cá nhân hoàn thiện công nghệ, huyđộng vốn đầu tư, tổ chức sản xuất, kinh doanh, tiếp thị, thực hiện thủ tục pháp
lý và các dịch vụ cần thiết khác để thành lập doanh nghiệp sử dụng công nghệmới được tạo ra
- Theo Thông tư số 16/2014/TT-BKHCN của Bộ KH&CN ngày13/6/2014 về các tổ chức trung gian của thị trường KH&CN, cơ sở ươm tạocông nghệ, ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ là loại hình tổ chức