Có thể nói, việc áp dụng pháp luật hình sự nói chung và áp dụng pháp luật hình sự đối với tội trộm cắp tài sản vẫn còn hạn chế, khó khăn, vướng mắc… mà yêu cầu thực tiễn hiện nay cần có
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THÀNH DANH
ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN
TỪ THỰC TIỄN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHI MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
HÀ NỘI, Năm 2020
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THÀNH DANH
ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN
TỪ THỰC TIỄN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHI MINH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan nội dung luận văn “Áp dụng pháp luật hình sự đối với tội trộm cắp tài sản từ thực tiễn Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh” là công
trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi thực hiện với sự hướng dẫn khoa học của Phó giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Thanh Dương Tất cả những tài liệu, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này hoàn toàn trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác
Tác giả luận văn:
Trần Thành Danh
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN 7
1.1 Khái niệm, đặc điểm pháp lý của tội trộm cắp tài sản và phân biệt dấu
hiệu đặc trưng tội trộm cắp tài sản với tội xâm phạm sở hữu có dấu hiệu gần
tương đồng 7 1.2 Khái niệm, đặc điểm của áp dụng pháp luật hình sự đối với tội trộm cắp tài sản 14 1.3 Nội dung của áp dụng pháp luật hình sự đối với tội trộm cắp tài sản 18
Tiểu kết Chương 1 28 Chương 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ……… ………29 2.1 Khái quát tình hình xét xử áp dụng pháp luật hình sự đối với tội trộm cắp tài sản trên địa bàn Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh 29 2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự trong định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản trên địa bàn Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh 33 2.3 Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự trong việc quyết định hình phạt đối với tội trộm cắp tài sản 47 2.4 Những hạn chế, khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân 53
Tiểu kết Chương 2 62 Chương 3: CÁC YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG ĐÚNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 63
3.1 Các yêu cầu bảo đảm áp dụng đúng pháp luật hình sự đối với tội trộm cắp tài sản 63 3.2 Các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng pháp luật hình sự đối với tội trộm
Trang 5Tiểu kết chương 3 79 KẾT LUẬN 80 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU THỐNG KÊ
Bảng 2.1 Diễn biến tình hình tội trộm cắp tài sản so với các tội xâm
phạm sở hữu trên địa bàn Quận 10 từ năm 2015 đến 2019
Bảng 2.2 Số lượng, số vụ và bị cáo phạm tội trong nhóm tội xâm phạm
sở hữu đã được TAND Quận 10 xét xử, giai đoạn 2015 – 2019
Bảng 2.3 Tỷ lệ % các tội phạm trong nhóm tội xâm phạm sở hữu trên địa
bàn Quận 10, giai đoạn 2015 – 2019
Bảng 2.4 Thống kê mức hình phạt mà TAND Quận 10 đã xét xử về tội
trộm cắp tài sản, giai đoạn 2015 – 2019
Bảng 2.5 Thống kê số lượng án bị cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái
thẩm hủy, sửa đối với tội trộm cắp tài sản
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013 quy định tại Điều 32:
“1 Mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác
2 Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ…”
Ngoài ra, các luật về Dân sự, Hành chính, Hôn nhân gia đình, Lao động,
sở hữu trí tuệ… cũng đã ghi nhận và bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp của cá nhân,
tổ chức Vì vậy, mọi hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp đều bị lên án trước xã hội và có thể dẫn đến bị xử lý Khi vi phạm đến mức phải xử lý hình sự thì đó là tội phạm, cho nên vấn đề xử lý tội phạm cần phải tuân thủ áp dụng đúng quy định của pháp luật hình sự thì mới bảo đảm tính nghiêm minh, khách quan
Hiện nay, Quận 10 có tổng dân số 250.687 người, với mật độ đông trên 47.000 người/km2 Trong đó người Kinh chiếm hơn 80% dân số, người Hoa chiếm 18%, còn lại một số dân tộc ít người Kh’Me, Tày, Chăm, Nùng và người dân tộc khác Thế mạnh kinh tế chủ yếu tập trung là ngành thương mại – dịch vụ
có tốc độ phát triển nhanh, với nhiều loại hình thương mại – dịch vụ cao cấp và
đa dạng tạo được sự thu hút đầu tư của các doanh nghiệp tham gia đầu tư phát triển, giá trị thương mại chiếm tỷ lệ khá cao, phát huy lợi thế của mình đã và đang phấn đấu duy trì tốc độ tăng trưởng, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng định hướng lĩnh vực công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, các ngành dịch vụ chất lượng cao, các tuyến đường khu vực kinh doanh chuyên ngành, đa ngành từng
bước hình thành và phát triển
Cùng với những thành tựu đã đạt được thì tội phạm cũng phát sinh, diễn
biến phức tạp, trong đó có Tội trộm cắp tài sản Các cơ quan THTT luôn khẩn
trương tiến hành xử lý theo quy định pháp luật, tuy nhiên trong quá trình xử lý không tránh khỏi các hạn chế, khó khăn, vướng mắc,… trong việc áp dụng pháp luật, trong đó đáng chú ý là tại giai đoạn xét xử sơ thẩm tại TAND Quận 10
Trang 9Qua số liệu đã cập nhật phân tích công tác xét xử từ năm 2015 đến năm
2019 tại TAND Quận 10, tội trộm cắp tài sản ngày càng có xu hướng diễn biến phức tạp về phương thức, thủ đoạn tinh vi, tính chất, mức độ nguy hiểm cao, đồng thời độ tuổi người phạm tội ngày càng trẻ hóa,… gây hoang mang trong đời sống quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng chung đến an ninh trật tự xã hội
Dù đã được các cơ quan có thẩm quyền tích cực áp dụng các biện pháp phòng chống, đấu tranh, nhất là việc phát hiện và làm hạn chế và loại bỏ dần các nguyên nhân làm phát sinh tội trộm cắp tài sản song hiệu quả mang lại chưa được như mong muốn Cùng với đó là thực tiễn điều tra, truy tố và xét xử đã cho thấy còn có bất cập, khó khăn trong việc xác định đối tượng tác động của tội phạm, một số dấu hiệu định tội, các dấu hiệu định khung tăng nặng, giảm nhẹ…của người tiến hành tố tụng còn nhiều hạn chế, có vụ định tội danh chưa thật sựthuyết phục làm cho dư luận xã hội tranh luận nhiều chiều, quyết định hình phạt vẫn cònmang tính chủ quan cá nhân của một số người tiến hành tố tụng Có thể nói, việc áp dụng pháp luật hình sự nói chung và áp dụng pháp luật hình sự đối với tội trộm cắp tài sản vẫn còn hạn chế, khó khăn, vướng mắc… mà yêu cầu thực tiễn hiện nay cần có văn bản hướng dẫn cụ thể về nhóm tội xâm phạm sở hữu trong đó có tội trộm cắp tài sản theo quy định của BLHS năm
2015, dẫn đến thực tế áp dụng quy định về các tội này không tránh khỏi việc chưa thống nhất giữa các cơ quan tiên hành tố tụng, mà quan trọng nhất là TAND nơi tiến hành xét xử
Để khắc phục những khó khắn vướng mắc trong việc áp dụng pháp luật hình sự và đề xuất các giải pháp nhằm bảo đảm áp dụng đúng quy định của pháp
luật hình sự của Tội trộm cắp tài sản tại địa bàn Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh, tôi chọn đề tài: “Áp dụng pháp luật hình sự đối với tội trộm cắp tài sản từ thực tiễn Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh” để làm luận văn thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Để có cơ sở lý luận cho việc thực hiện đề tài được giao, học viên đã tham khảo các công trình khoa có liên quan sau: Nguyễn Ngọc Hòa (Chủ biên, 2017),
Trang 10Giáo trình Luật hình sự Việt Nam – Phần chung, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội; Võ Khánh Vinh (2014), Định tội danh đối với các tội xâm phạm sở hữu của tác giả Lê Đăng Doanh, NXb Tư pháp năm 2013; Giáo trình luật hình sự Việt Nam – Phần chung, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội; Võ Khánh Vinh (2013), Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt tài sản của tác giả Cao Thị Oanh (chủ biên), Nxb Tư pháp năm 2015; Bình luận Bộ luật hình sự năm 2015, Nxb thông tin và truyền thông, Hà Nội; Trần Văn Biên – Đinh Thế Hưng (2017); Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 2015, Nhà xuất bản thế giới, Hà Nội; Trần Văn Biên – Đinh Thế Hưng (2017); Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nhà xuất bản Thế Giới, Hà Nội, và các nguồn tài liệu tham khảo khác sách báo, kể cả internet Ngoài ra, theo tìm hiểu tác giả còn tham khảo thêm một số tài liệu và trong các luận văn thạc sĩ có liên quan đến, hoặc cùng nội dung của tội trộm cắp tài sản có thể được kể đến như:
- Luận văn thạc sĩ “Tội trộm cắp tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam
từ thực tiễn từ huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội” của tác giả Đỗ Hồng Thúy,
Học viện Khoa học xã hội, 2018
- Luận văn thạc sĩ “Áp dụng pháp luật hình sự đối với tội trộm cắp tài sản
từ thực tiễn Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Lê Ngọc Như Chi,
Học viện Khoa học xã hội, 2019
- Luận văn thạc sĩ “Áp dụng pháp luật hình sự đối với tội trộm cắp tài sản
từ thực tiễn quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Nguyễn Thị
Linh, Học viện Khoa học xã hội, 2020
Các tài liệu khoa học trên là cơ sở lý luận chung của tội trộm cắp tài sản, tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu việc áp dụng pháp luật hình sự đối với tội trộm cắp tài sản từ thực tiễn Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh Chính vì vậy, theo đó trên cơ sở luận văn này tác giả muốn nghiên cứu tìm hiểu thực tế đi sâu vào thực tiễn tội trộm cắp tài sản, những khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng pháp luật hình sự đối với tội trộm cắp tài sản Song song đó, trong việc kế thừa các công trình của những tác giả trước đó, từ đó để đưa ra các giải pháp
Trang 11kiến nghị với mục đích hoàn thiện và áp dụng đúng các quy định pháp luật hình
sự về tội trộm cắp tài sản
Qua tìm hiểu và nghiên cứu, tác giả khẳng định Đề tài: “Áp dụng pháp luật hình sự đối với tội trộm cắp tài sản từ thực tiễn Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh” không trùng với bất kỳ đề tài nào đã được công bố tính đến thời điểm
10, thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời đề xuất những giải pháp đảm bảo cho việc
áp dụng đúng pháp luật hình sự đối với tội trộm cắp tài sản tại Quận 10, thành phố
Hồ Chí Minh
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Xuất phát từ mục đích trên, luận văn này đề ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
- Làm rõ những vấn đề lý luận chung, đồng thời phân tích cơ sở khoa học pháp lý hình sự, căn cứ vào các quy địnhvề áp dụng pháp luật hình sự đối với tội trộm cắp tài sản
- Thực trạng áp dụng pháp luật hình sự đối với tội trộm cắp tài sản trên địa bàn Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đề xuất các yêu cầu cụ thể và giải pháp bảo đảm áp dụng đúng pháp luật hình sự đối với tội trộm cắp tài sản
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và hoạt động
áp dụng pháp luật hình sự đối với tội trộm cắp tài sản trên địa bàn Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 12- Về cơ sở pháp lý, “Tội trộm cắp tài sản” trong luận văn này được quy định tại Chương XIV Điều 138 BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và Chương XIV, Điều 173 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
- Về thời gian, đề tài đã sử dụng tài liệu nghiên cứu trên cơ sở thống kê theo số liệu trong thời gian 05 (năm) năm, từ năm 2015 đến năm 2019 với thực trạng ADPL trong xét xử hình sự sơ thẩm đối với tội trộm cắp tài sản tại TAND Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh
- Về không gian, luận văn này thực hiện đề tài nghiên cứu trên phạm vi địa bàn Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh
- Trong luận văn này, tên thật của bị cáo và bị hại đã được mã hóa lưu trữ tại kho cơ sở dữ liệu tòa án theo quy định tại Nghị quyết số 03/2017/NQ-HĐTP
ngày 16/3/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao “Về việc công
bố bản án, quyết định trên cổng thông tin điện tử của tóa án” Vì vậy, tên của
nhân vật đề cặp đã được thay thế bằng tên khác hoặc viết tắt Tuy nhiên, tác giả bảo đảm tính khách quan và trung thực về dữ liệu cập nhật nghiên cứu trên cơ sở thực tiễn và khoa học
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin với phép biện chứng duy vật, Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về pháp luật và chính sách pháp luật hình sự; về cải cách tư pháp, phòng và chống các loại tội phạm trong đó có Tội trộm cắp tài sản
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể gồm: phương pháp hệ thống; phương pháp lịch sử, logic; phương pháp tìm hiểu, khảo sát, tổng hợp, phân tích, so sánh… thông qua số liệu thống kê; phương pháp tổng kết kinh nghiệm, đọc những bản án và phương pháp trao đổi, thảo luận, tham khảo
6 Những đóng góp khoa học và ý nghĩa của luận văn
Nội dung đề tài này đã nêu rõ khía cạnh lý luận về áp dụng pháp luật hình
Trang 13sự và thực tiễn áp dụng pháp luật đối với tội trộm cắp tài sản trên địa bàn Quận
10, Thành phố Hồ Chí Minh Qua đó, đã đề xuất các yêu cầu cụ thể và giải pháp bảo đảm áp dụng đúng pháp luật hình sự đối với tội danh này
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục từ các tài liệu tham khảo và phụ lục kèm theo, danh mục của các bảng, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về áp dụng pháp luật hình
sự đối với tội trộm cắp tài sản
Chương 2: Thực trạng áp dụng pháp luật hình sự đối với tội trộm cắp tài
sản trên địa bàn Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Các yêu cầu và giải pháp bảo đảm áp dụng đúng pháp luật
hình sự đối với tội trộm cắp tài sản trên địa bàn Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 14Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ ÁP DỤNG
PHÁP LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN
1.1 Khái niệm, đặc điểm pháp lý của tội trộm cắp tài sản và phân biệt dấu hiệu đặc trưng tội trộm cắp tài sản với tội xâm phạm sở hữu có dấu hiệu gần tương đồng
1.1.1 Khái niệm tội trộm cắp tài sản
Tội trộm cắp tài sản, theo quy định tại Điều 173 BLHS năm 2015 chỉ quy
định "Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị " mà không nêu rõ
các dấu hiệu pháp lý cụ thể Vì vậy, hiện nay ở nước ta có rất nhiều quan điểm ý kiến khác nhau về khái niệm tội trộm cắp tài sản Theo giáo trình Trường đại học
Luật Hà Nội: “Tội trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản đang có chủ” [51, tr.32] Theo tìm hiểu từ điển bách khoa của Công an nhân dân: “trộm cắp tài sản được hiểu là hành vi lén lút bí mật đối với người quản lý tài sản để chiếm đoạt tài sản” Theo từ điển pháp luật hình sự: “trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản đang có người khác quản lý” [16, tr.283] Trong khi
đó, TS Hoàng Văn Hùng thì cho rằng: ‘Tội trộm cắp tài sản là hành vi lén lút lấy tài sản của người khác với mục đích chiếm đoạt, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý, xâm phạm các quyền sở hữu được Nhà nước bảo vệ bằng pháp luật”
[17, tr.21]
Từ các khái niệm cụ thể trên, có thể thấy được đặc trưng của Tội trộm cắp tài sản là “Người phạm tội bằng hành vi lén lút, bí mật chuyển dịch bất hợp pháp tài sản của chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản nhằm chiếm đoạt tài sản nào đó” Nói theo cách khác, lén lút là hành vi của chủ thể phạm tội cố ý thực hiện một
hành vi giấu diếm, vụng trộm và không mong muốn để lộ cho người khác biết để nhằm mục đích chiếm đoạt một cách trái phép tài sản của người đó Qua đó, điều này đã nói lên tội trộm cắp tài sản rất rõ ràng cụ thể, đồng thời làm rõ thêm các dấu hiệu đặc điểm về lỗi của tội phạm trộm cắp tài sản là do lỗi cố ý, người phạm
Trang 15tội phải đủ tuổi chịu TNHS và phải có năng lực trách nhiệm hinh sự (đối với các hành vi lén lút mà lấy tài sản của những người khác khi chưa đạt được đủ tuổi chịu TNHS hay đang ở tình trạng tâm lý không có năng lực TNHS thì không phải là tội phạm
Trên các cơ sở tham khảo, tìm hiểu tổng kết thực tế các quan điểm khác nhau về tội trộm cắp tài sản, từ đó tác giả nêu ra định nghĩa về tội trộm cắp tài
sản như sau: “Tội trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác, do người có đủ năng lực TNHS thực hiện một cách cố ý, xâm phạm quan hệ sở hữu được Nhà nước bảo vệ”
1.1.2 Đặc điểm pháp lý của tội trộm cắp tài sản
Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội
có thể chia thành cấu thành tội phạm như sau:
- Cấu thành cơ bản , là tổng hợp các dấu hiệu đặc trưng bắt buộc với mọi
trường hợp phạm tội của một loại tội, phản ánh bản chất của loại tội đó và cho phép phân biệt được loại tội phạm này với các loại tội phạm khác Nội dung của cấu thành cơ bản chỉ bao gồm những dấu hiệu định tội, đây là cấu thành tội phạm
mà mức hình phạt quy định ở khung thấp nhất trong điều luật của BLHS
Theo quy định về tội trộm cắp tài sản tại Điều 173 BLHS năm 2015 có thể thấy tội trộm cắp tài sản có các dấu hiệu pháp lý cấu thành tội phạm như sau:
+ Khách thể của tội trộm cắp tài sản
“Khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ
và bị tội phạm xâm hại” [52, tr.86]
Khách thể trực tiếp của tội trộm cắp tài sản là một trong những các tội xâm phạm sở hữu thực hiện có tính chiếm đoạt Do vậy cũng giống như các tội xâm phạm sở hữu khác, tội phạm này xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản Hơn nữa dễ dàng gây thiệt hại xâm phạm đến các quyền sở hữu về tài sản, cụ thể người phạm tội trộm cắp tài sản phải tác động đến tất cả tài sản của người chủ sở hữu Ví dụ: A trộm cắp tài sản của B, A đã xâm hại đến khách thể là quyền sở hữu tài sản của B và gây phương hại đến khách thể chung và khách thể loại
Trang 16quyền sở hữu của công dân Như vậy, về nguyên tắc, đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản phải là tài sản của người khác Tuy nhiên, trong trường hợp người chủ tài sản đã giao tài sản cho người khác quản lý như cho mượn, giữ hộ… thế nhưng sau đó lại có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của mình thì vẫn
có thể cấu thành tội trộm cắp tài sản
+ Mặt khách quan của tội trộm cắp tài sản
“Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện bên ngoài của tội phạm bao gồm hành vi khách quan, hậu quả nguy hiểm cho xã hội của tội phạm và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả” [52, tr.99]
* Hành vi khách quan của trộm cắp tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn đó là dấu hiệu lén lút, lợi dụng, bất cẩn, thiếu cảnh giác, sơ sơ hở của người bị hại, hoặc lợi dụng hoàn cảnh mà quản lý tài sản không biết Một điểm nữa hành vi lén lút của tội trộm cắp tài sản là bí mật lén lút cho việc chiếm đoạt tài sản, hơn nữa có thể tội phạm thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản trước sự có mặt nhiều người và mặt dù người đó không biết được đó
là hành vi trộm cắp tài sản Điều đáng nói hơn nữa, lén lút cũng có nghĩa là người thực hiện hành vi phạm tội cố tình che giấu đi hành vi phạm tội của mình đối với người chủ sở hữu hay người trực tiếp quản lý tài sản khi phạm tội (Ví dụ: sau nhiều lần theo dõi gia đình anh H, do đó lợi dụng lúc sở hở cả nhà của anh H đi về quê chơi, vắng nhà không có người trông coi, C lén lút cạy cửa đột nhập vào nhà anh H, ngang nhiên vào nhà lấy tài sản trước sự chứng kiến của nhiều người nhưng họ không hay biết C đang chiếm đoạt tài sản bất hợp pháp của nhà người khác mà đều nghĩ là người thân của gia đình anh H) Ngoài ra, có thể người phạm tội thực hiện hành vi lén lút đó với bị hại nhưng công khai với người khác (cụ thể như: hành vi móc túi trong công viên, bến xe, rạp hát, nhà ga, siêu thị, trung tâm thương mại…)
* Hậu quả pháp lý của tội phạm này là gây thiệt hại về tài sản cho người
bị hại cụ thể là giá trị tài sản chiếm đoạt Tài sản của hành vi trộm cắp như: tiền, vàng, vật các loại, hàng hóa và các giấy tờ có giá trị khác Hậu quả là những
Trang 17dấu hiệu đặc trưng bắt buộc đối với tội trộm cắp tài sản Nếu như một người nào
đó có ý định trộm cắp tài sản của người khác, thế nhưng chưa thực hiện được hành vi chiếm đoạt tài sản mà bị họ phát hiện thì chưa đủ căn cứ cấu thành tội trộm cắp tài sản theo quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 Tuy nhiên, sau
đó người phạm tội đã có hành vi dịch chuyển tài sản ra khỏi vị trí ban đầu của tài sản đó thì sẽ bị xử lý truy tố về tội trộm cắp tài sản mặc dù mục đích chiếm đoạt tài sản đó có đạt được hay không (Ví dụ: T đột nhập lén lút vào nhà M để trộm cắp tài sản, thế nhưng chưa kịp đưa số tài sản ra ngoài thì bị M phát hiện Cho nên, trường hợp này T đã phạm tội trộm cắp tài sản, nếu T bị phát hiện trước khi
lấy tài sản thì mới không phạm tội)
+ Chủ thể của tội trộm cắp tài sản
“Chủ thể của tội phạm là người phải có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình
sự, đạt độ tuổi luật định và đã thực hiện hành vi phạm tội cụ thể” [50, tr.90]
Theo Điều 76 BLHS 2015 quy định phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại, trong đó không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội trộm
cắp tài sản, như vậy ở chủ thể của tội trộm cắp tài sản là cá nhân
Tại Điều 12, Điều 173 BLHS 2015 quy định thì người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản tại các Khoản 3, 4 Điều 173; còn đối với người từ đủ 16 tuổi trở lên thì phải chịu trách
nhiệm hình sự đối với cả những hành vi thuộc các Khoản 1, 2 Điều 173 BLHS
+ Mặt chủ quan của tội trộm cắp tài sản
“Mặt chủ quan của tội phạm là diễn biến tâm lý bên trong của người phạm tội” [50, tr.76]
Mặt chủ quan là những gì diễn biến bên trong với các nội dung như sau: dấu hiệu bắt buộc là lỗi (cụ thể lỗi vô ý và cố ý) và những dấu hiệu không bắt buộc gồm có động cơ và mục đích
* Dấu hiệu lỗi của tội trộm cắp tài sản
“Lỗi là thái độ chủ quan của người phạm tội đối với hành vi và đối với hậu quả thiệt hại cho xã hội do mình gây ra, được thực hiện dưới hình thức lỗi cố
Trang 18ý hoặc vô ý” [6, tr.20]
Về lý trí: Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình gây ra là nguy
hiểm cho xã hội, xâm hại đến trực tiếp về quyền sở hữu tài sản hợp pháp của
người khác
Về ý chí: người phạm tội mong muốn mặc kệ để cho những hậu quả xảy
ra, chỉ có như vậy người phạm tội mới có thể thực hiện chiếm đoạt được tài sản của người khác, biến tài sản những tài sản đã lấy cắp của người khác thành tài
sản chính của mình
* Động cơ, mục đích của người phạm tội trộm cắp tài sản
Ngoài các dấu hiệu đặc trưng về lỗi, mặt chủ quan đối với tội trộm cắp tài
sản còn được xác định bởi động cơ, mục đích phạm tội
Theo đó đối với tội trộm cắp tài sản động cơ phạm tội chính là vụ lợi, mục đích phạm tội là chiếm đoạt cho được tài sản của người khác Cho nên việc xác định động cơ, mục đích phạm tội này có ý nghĩa quan trọng trong việc làm căn
cứ đánh giá mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội khi xem xét định
tội danh và quyết định hình phạt
Tóm lại: Tội trộm cắp tài sản được thực hiện do lỗi cố ý Mục đích là chiếm đoạt tài sản của người khác do người phạm tội thực hiện Tuy nhiên, cũng
có những trường hợp, người đồng phạm với người trộm cắp tài sản nhưng không
có mục đích chiếm đoạt tài sản mà không cấu thành tội khác thì vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội trộm cắp tài sản (Ví dụ: N ghen M vì M có tình ý với vợ của N, nên N xúi giục K trộm chiếc xe SH của M Đáng nói hơn, vì tức giận M phản bội nên N vô tình hành động như vậy chứ không có mục đích để chiếm đoạt tài sản của M, thế nhưng N vẫn bị xử lý hình sự về tội trộm cắp tài sản cùng vai trò là đồng phạm
- Cấu thành tội phạm tăng nặng, bao gồm những dấu hiệu định tội và
những dấu hiệu thể hiện mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội TP tăng lên rõ rệt
- Cấu thành tội phạm giảm nhẹ, bao gồm những dấu hiệu định tội và
những dấu hiệu thể hiện mức độ nguy hiểm cho xã hội giảm đi rõ rệt
Trang 19Tội trộm cắp tài sản theo quy định tại Điều 173 BLHS năm 2015 về mức hình phạt của tội phạm này được chia thành bốn khung, cụ thể như sau:
- Khung một (Khoản 1): Có mức hình phạt là phạt cải tạo không giam giữ
đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm Theo đó, được áp dụng trong trường hợp phạm tội có đủ các dấu hiệu cấu thành cơ bản như đã trình bày ở phần mặt khách quan
- Khung hai (Khoản 2): Có mức phạt tù từ hai năm đến bảy năm Theo đó,
cụ thể được áp dụng một trong các trường hợp phạm tội sau đây: Có tổ chức; Có tính chất chuyên nghiệp; Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng; Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm Được hiểu là các thủ đoạn tinh vi rất khó phát hiện (như bố trí trộm cắp xe gắn máy tại bãi giữ xe) và các thủ đoạn mang tính nguy hiểm gây thiệt hại thêm cho chủ sở hữu (Ví dụ: C lén lút trèo lên hệ thống thông gió vào nhà trộm cắp tài sản trị giá 5.000.000 đồng…); Hành hung để tẩu thoát; Tài sản là bảo vật quốc gia; Tái phạm nguy hiểm
- Khung ba (Khoản 3): Có mức phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm Theo đó, được áp dụng đối với một trong các trường hợp phạm tội sau đây: Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng; Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh
- Khung bốn (Khoản 4): Có mức phạt tù từ mười hai đến hai mươi năm.Theo đó, được áp dụng với một trong các trường hợp phạm tội sau đây: Chiếm đoạt tài sản trị giá năm trăm triệu đồng đồng trở lên; Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp
- Hình phạt bổ sung (Khoản 5)
Ngoài việc phải chịu một trong các mức hình phạt chính nêu trên được quy định tại Bộ luât hình sự, tuỳ từng trường hợp cụ thể, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng
1.1.3 Phân biệt dấu hiệu đặc trưng của tội trộm cắp tài sản với một số tội xâm phạm sở hữu có dấu hiệu gần tương đồng
Trang 20- Thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Hơn nữa, các vấn đề này đã xảy ra nhiều trong thực tế xã hội đối với trường hợp dùng thủ đoạn gian dối của người phạm tội để tiếp cận tài sản cho đến khi có điều kiện mới lén lút thực hiện chiếm đoạt tài sản của người bị hại, qua đó là dấu hiệu đặc trưng của tội trộm cắp tài sản chứ không dấu hiệu của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Ví dụ: A giả làm người bị bệnh để B thương tình đưa vào nhà của B nghỉ Trong lúc cả gia đình B lo làm việc, A lén lút lấy trộm tiền và xe mô tô của B bỏ trốn Hành vi của A cấu thành tội trộm cắp tài sản chứ không phải là tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Thủ đoạn đặc trưng của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là không cần che giấu hành vi và thực hiện công khai hành vi chiếm đoạt Nhiều người nhìn thấy và không nghi ngờ gì về hành vi chiếm đoạt tài sản Trường hợp người phạm tội lợi dụng không có ai trực tiếp quản lý tài sản, giả làm ngưòi có trách nhiệm đến và chiếm đoạt tài sản đó Trường hợp này người phạm tội đã thực hiện hành vi lén lút ở việc che giấu thân phận thật của mình (giả làm người có trách nhiệm) để lén lút với mọi người xung quanh và người quản lý tài sản, tiếp cận và thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản Do vậy, họ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản chứ không phải tội công nhiên chiếm đoạt tài sản
Ví dụ: A giả làm nhân viên khách sạn M, dọn dẹp một số cây kiểng trong khuôn viên của khách sạn A đã dùng xe chở một số cây kiểng quý đi để chiếm đoạt số cây kiểng đó Trường hợp này A lén lút với mọi người xung quanh nên phạm tội trộm cắp tài sản chứ không phải tội công nhiên chiếm đoạt tài sản
- Thủ đoạn đặc trưng của tội cướp giật tài sản là hành vi công khai và nhanh chóng giằng lấy, giật lấy tài sản thường là gọn nhẹ của người khác rồi nhanh chóng tẩu thoát Trường hợp người phạm tội lợi dụng chỗ đông người lén giật tài sản của người khác để không bị phát hiện rồi sau đó chiếm đoạt tài sản
ấy Trường hợp này thực chất người phạm tội đã lén lút (không có ý thức công khai) chiếm đoạt tài sản bằng cách giật lấy tài sản thật nhanh chóng để không ai
Trang 21thấy Người phạm tội đã lén lút cả đối với người bị hại và đối với người xung quanh Do vậy, trường hợp này là tội trộm cắp tài sản chứ không phải là tội cướp giật tài sản
Ví dụ: A lợi dụng xếp hàng chen lấn, giả làm khách hàng chen lấn xô đẩy mạnh làm phân tán sự chú ý của mọi người và cùng lúc đó giật dây chuyền của B rơi xuống đất để đồng bọn lấy Trường hợp này, A không có ý thức công khai thực hiện hành vi này mà lén lút giật lấy tài sản (giật cho dây chuyền rơi xuống) rồi sau đó cùng đồng bọn chiếm đoạt Do vậy, hành vi này phải cấu thành tội
trộm cắp tài sản chứ không phải tội cướp giật tài sản
1.2 Khái niệm, đặc điểm của áp dụng pháp luật hình sự đối với tội trộm cắp tài sản
1.2.1 Khái niệm áp dụng pháp luật hình sự
Trong xã hội dù ở đâu bất cứ một hình thức Nhà nước nào thì trong đó pháp luật luôn là một trong những công cụ để đảm bảo cho một xã hội phát triển bền vững và ổn định, hơn nữa khi đặt ra những quy phạm pháp luật, Nhà nước ta mong muốn sử dụng chúng để điều chỉnh tất cả các quan hệ xã hội và để đáp ứng lợi ích của nhân dân lao động cho sự tiến bộ xã hội Do đó, khi các chủ thể được thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật trong thực tế đời sống thì mục đích của áp dụng pháp luật đã đạt được Từ đó cho thấy việc Áp dụng pháp luật (ADPL) là hình thức thực hiện pháp luật đặc biệt, trong đó Nhà nước hay cá nhân thông qua
cơ quan có thẩm quyền hoặc nhà chức trách tổ chức cho các chủ thể pháp luật thực hiện các hoạt động cá biệt hoá qui định của pháp luật vào các sự kiện pháp
lý cụ thể và trên cơ sở đó đưa ra các quyết định làm phát sinh, chấm dứt hay thay đổi một quan hệ pháp luật cụ thể đối với các đối tượng cụ thể theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định Việc thực hiện pháp luật dựa trên các hình thức sau:
Tuân thủ pháp luật, có nội dung là việc chủ thể pháp luật kiềm chế mình
để không thực hiện điều pháp luật cấm hay nói cách khác chủ thể đã thực hiện các hành vi đúng hợp pháp theo quy định yêu cầu của pháp luật
Ví dụ: Việc tuân thủ các quy phạm nghiêm cấm trong Bộ luật hình sự
Trang 22như: không được trộm cắp, không được lừa đảo chiếm đoạt tài sản; không được xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người Pháp luật cấm hành vi mua, bán dâm Do đó, “không thực hiện hành vi mua, bán dâm” được xem là tuân thủ pháp luật
Thi hành pháp luật, là việc chủ thể pháp luật chủ động thực hiện điều
pháp luật yêu cầu và được thực hiện dưới hình thức “hành vi hành động”
Ví dụ: Pháp luật quy định về nghĩa vụ đóng thuế thu nhập cá nhân/ thuế thu nhập doanh nghiệp Do đó, nếu không thuộc trường hợp miễn thuế/đối tượng không chịu thuế thì chủ thể đóng thuế được xem là “thi hành pháp luật”
Sử dụng pháp luật, là hình thức trong đó các chủ thể thực hiện quyền pháp
lý của mình theo quy định pháp luật (thực hiện những hành vi mà pháp luật không cấm và cho phép)
Ví dụ: Việc thực hiện quyền khởi kiện vụ án dân sự hay không khởi kiện vụ
án dân sự của các cá nhân theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; quyền chứng minh mình vô tội hay quyền không chứng minh mình vô tội trong tố tụng hình sự Chủ thể thực hiện hình thức sử dụng pháp luật là tất cả các cơ quan nhà nước, cán
bộ công chức nhà nước, các cá nhân, tổ chức và mọi công dân trong xã hội
Áp dụng pháp luật, là việc chủ thể pháp luật thực hiện điều mà pháp luật
cho phép, đó có thể là “hành vi hành động” hoặc “hành vi không hành động” tùy quy định pháp luật cho phép
Ví dụ: Xử một số vụ án việc phạm tội hình sự, giải quyết tranh chấp về dân sự, hành chính, kinh tế…phải xác định quyền và nghĩa vụ một công dân… vì vậy, áp dụng pháp luật phải được tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định Khi A khởi kiện B ra tòa, tòa án đó có trách nhiệm xem xét và thụ lý đơn khởi kiện của A Theo đó, tòa án được xem là cơ quan “áp dụng pháp luật”
Vì vậy, nếu tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật và sử dụng pháp luật là những hình thức mà trong đó mọi chủ thể pháp luật đều có thực hiện thì ADPL chỉ được thực hiện bằng hình thức thông qua các hoạt động của nhà nước cơ quan có thẩm quyền hoặc nhà chức trách, đây được xem như để bảo đảm đặc thù
Trang 23của cơ quan Nhà nước cho các quy phạm pháp luật được thực hiện một cách dễ dàng thực sự có hiệu quả trong đời sống xã hội Từ đó, có thể đưa ra định nghĩa
sau: ADPL là một hình thức thực hiện pháp luật đặc biệt, là một hoạt động thực tiễn pháp lý nhằm cá biệt hóa những quy phạm pháp luật vào các trường hợp tương ứng đối với các chủ thể pháp luật cụ thể, mang tính tổ chức - quyền lực do nhà nước thông qua những thiết chế của nó thực hiện
Tóm lại, với những lý do trình bày phân tích ở trên có thể rút ra khái
niệm: ADPLHS là một dạng của ADPL nói chung, được hiểu là một hoạt động thực tiễn pháp lý, là quá trình nhằm cá biệt hóa những quy phạm PLHS vào các trường hợp cụ thể đối với người đã thực hiện hành vi mà nhà nước coi là tội phạm, mang tính tổ chức - quyền lực nhà nước và được thực hiện theo một trình
tự đặc biệt do pháp luật tố TTHS quy định
1.2.2 Đặc điểm áp dụng pháp luật hình sự đối với tội trộm cắp tài sản
Trên cơ sở khái niệm ADPL hình sự, có thể nêu ra khái niệm, đặc điểm của áp dụng pháp luật hình sự đối với tội trộm cắp tài sản như sau:
- Khái niệm áp dụng pháp luật tội trộm cắp tài sản, là hoạt động mang
tính quyền lực nhà nước của các CQTHTT hình sự, theo trình tự thủ tục do luật định nhằm cá biệt hóa Bộ luật hình sự về tội trộm cắp tài sản để xử lý tội phạm đúng người, đúng hành vi phạm tội theo đúng pháp luật
- Đặc điểm áp dụng pháp luật tội trộm cắp tài sản, là một hình thức thực hiện pháp luật đặc biệt nên áp dụng PLHS về tội trộm cắp tài sản có những đặc
điểm đó là:
Thứ nhất, hoạt động ADPL luôn có sự tham gia của nhà nước với tư cách
là một tổ chức quyền lực công cho nên điều này làm cho hoạt động ADPL có đặc điểm thể hiện mang tính tổ chức- quyền lực và được nhà nước thông qua các cơ quan có thẩm quyền hoặc nhà chức trách tiến hành Ngoài ra, ADPL cũng là hình thức thực hiện pháp luật được diễn ra đối với hoạt động hành pháp và tư pháp Hơn nữa, ADPL chủ yếu được tiến hành theo ý chí đơn phương của các chủ thể
có thẩm quyền tiến hành, nhưng không phụ thuộc vào ý chí của chủ thể bị
Trang 24ADPL Cho nên, việc áp dụng này luôn mang tính bắt buộc đối với những chủ thể bị ADPL và được sự đảm bảo thực hiện bằng hình thức cưỡng chế nhà nước
Ví dụ: ông C phạm tội có đủ các yếu tố cấu thành tội phạm và dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản được quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự năm
2015, do đó thẩm phán phải căn cứ trên tinh thần thượng tôn pháp luật áp dụng hình phạt một cách tương xứng được cụ thể tại Điều luật này, đồng thời không được phép xử mức ở cao hơn hay ở mức thấp hơn
Thứ hai, hoạt động ADPL có đặc điểm là sự điều chỉnh cá biệt đối với
một chủ thể, cụ thể đến các quan hệ xã hội (có hành vi lét lút trộm cắp xảy ra) khi có sự kiện pháp lý phạm tội là hoạt động giải quyết trực tiếp những vấn đề thực tế Dựa trên những cơ sở mệnh lệnh chung trong quy phạm pháp luật nhất định và được cá biệt hóa trong từng trường hợp cụ thể vào đời sống xã hội
Ví dụ: ông B trộm xe môtô SH của M trị giá 50 triệu đồng, do đó cơ quan tiến hành tố tụng tiến hành xử lý bằng cách áp dụng các quy định pháp luật hình
sự, đã tiến hành xử lý băng cách khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử B về tội trộm cắp tài sản và đã tuyên hình phạt tương ứng với hành vi của B dựa trên cơ sở căn cứ của BLHS 2015
Thứ ba, Khi nói đến hoạt động ADPL trong đó có phát sinh những quan
hệ pháp luật hình sự rất cụ thể khi phát sinh phải đảm bảo được đối với 02 chủ thể pháp luật thể hiện với trong những địa vị pháp lý khác nhau giữa Nhà nước
và người phạm tội Đồng thời, làm căn cứ phát sinh các quan hệ pháp luật hình
sự đã diễn ra trong thực tế của hành vi phạm tội và đến khi thời điểm kết thúc chấm dứt quan hệ pháp luật hình sự là khi người phạm tội đã chấp hành hoặc thi hành xong hình phạt hay thực hiện bất kỳ các biện pháp nào đó mà Nhà nước đã
áp dụng cho người phạm tội; hoặc tại thời điểm người phạm tội đã chết Chẳng hạn, tội trộm cắp tài sản thì trong quan hệ pháp luật hình sự khi phát sinh, có hành vi lét lút trộm tài cắp tài sản xảy ra trong thực tế và cho đến khi thời điểm kết thúc chấm dứt quan hệ pháp luật hình sự là khi người phạm tội đã chấp hành hoặc thi hành xong hình phạt hay thực hiện các biệp pháp khác do Nhà nước áp
Trang 25dụng đối với người phạm tội trộm cắp tài sản
Thứ tư, là một hoạt động ADPL phải được tuân thủ nghiêm ngặt được tiến
hành theo những hình thức và được quy định chặt chẽ bởi pháp luật Tố tụng hình
sự Hơn nữa, điều này có nghĩa là trong việc áp dụng PLHS về tội trộm cắp tài sản không thể tiến hành một cách tùy tiện, cầu thả mà phải được diễn ra trên cơ
sở căn cứ pháp luật một cách khoa học, trong những điều kiện và theo những trình tự thủ tục do pháp luật quy định nhất định, rõ ràng nhất đó là thủ tục tố tụng hình sự (BLTTHS 2015)
Thứ năm, áp dụng PLHS là một hoạt động đòi hỏi tính sáng tạo trong
phạm vi quy định của pháp luật Tính sáng tạo của các chủ thể trong quá trình áp dụng đối với việc ADPLHS mang tính khái quát cao còn thực tế thì phong phú
và đa dạng, từ đó cho nên khi chuyển hóa áp dụng những quy định pháp luật vào đời sống, đòi hỏi các chủ thể ADPL phải sáng tạo (theo khuôn khổ của pháp luật cho phép) và phải vận dụng các quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ
xã hội phát sinh Vì vậy, khi người áp dụng PLHS phải có những kiến thức, thực tiễn, kinh nghiệm, trách nhiệm cao để từ đó có thể áp dụng vận dụng đúng những quy định của pháp luật tương ứng trong việc để định tội danh và áp dụng TNHS đối với từng loại tội phạm cụ thể
Thứ sáu, Chủ thể áp dụng pháp luật hình sự tội trộm cắp tài sản, theo quy
định của pháp luật tố tụng hình sự hình sự, thì mỗi cơ quan chức năng có thẩm quyền được tiến hành các hoat động nhất định Đối với tội trộm cắp tài sản thì chủ thể tiến hành tố tụng bao gồm: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án nhân dân trong đó mỗi cơ quan đều có chức năng và vai trò độc lập trong quá trình xử lý vụ án từ giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử Do đó các cơ quan này là chủ thể áp dụng pháp luật hình sự, được thực hiện chức năng của mình từ khi khởi tố vụ án đến khi ban hành bản án có hiệu lực pháp luật
1.3 Nội dung của áp dụng pháp luật hình sự đối với tội trộm cắp tài
sản
1.3.1 Định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản
Trang 261.3.1.1 Khái niệm, đặc điểm định tội danh tội trộm cắp tài sản
- Khái niệm định tội danh tội trộm cắp tài sản
Định tội danh có thể được hiểu là hoạt động thực tiễn ADPLHS và BLTTHS do các cơ quan tiến hành tố tụng từ điều tra, viện kiểm sát, tòa án và một số cơ quan chức năng có thẩm quyền khác theo quy định của pháp luật dựa trên cơ sở các chứng cứ, tài liệu thu thập được và những tình tiết thực tế diễn biến cũng như hiện trường của vụ án nhằm xác định sự phù hợp giữa hành vi thực tế đã thực hiện với các cấu thành tội phạm cụ thể được quy định trong Bộ luật hình sự, để từ đó xác định một người có phạm tội hay không, và phạm tội theo điều luật nào của Bộ luật hình sự Như chúng ta đã biết, hiện nay trong khoa học hình sự Việt Nam có rất nhiều cách hiểu khác nhau xung quanh khái niệm
định tội danh, cụ thể là:
Quan điểm GS.TSKH Lê Cảm cho rằng:“Định tội danh là một quá trình nhận thức lý luận có tính lôgic, là dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự cũng như pháp luật tố tụng hình sự và được tiến hành trên cơ sở các chứng cứ tài liệu thu thập được và các tính tiết thực tế của vụ án hình sự để xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi tương ứng do luật hình sự quy định nhằm đạt được sự thật khách quan, tức đưa ra sự đánh giá chính xác tội phạm về mặt pháp lý hình sự, làm tiền đề cho việc cá thể hóa và phân tích trách nhiệm hình sự một cách công minh, có căn cứ và đúng pháp luật” [5]
Theo GS.TS Võ Khánh Vinh “Định tội danh là việc xác định và ghi nhận
về mặt pháp lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi phạm tội cụ thể đã được thực hiện với các dấu hiệu cấu thành tội phạm được quy định trong quy phạm pháp luật hình sự” [49, tr.9-10]
Bên cạnh đó TS Dương Tuyết Miên: “Định tội danh là hoạt độngcủa cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án) và một số cơ quan khác có thẩm quyền theo quy định của pháp luật để xác định một người có phạm tội hay không, nếu phạm tội thì đó là tội gì, theo điều luật nào của BLHS hay nói cách khác đây là quá trình xác định tên tội cho hành vi nguy hiểm đã
Trang 27thực hiện” [19] Theo Điều 173 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
quy định về tội phạm có tên tội danh là “Tội trộm cắp tài sản”, từ kết quả trên tác giả đồng tình trên khái niệm định tội danh mà GS.TS Võ Khánh Vinh, sau đây
xin nêu rõ khái niệm định tội danh tội trộm cắp tài sản như sau:
“Định tội danh tội trộm cắp tài sản là việc xác định và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi phạm tội cụ thể đã được thực hiện với các dấu hiệu cấu thành tội phạm được quy định tại Điều 173 BLHS”
- Đặc điểm của việc định tội danh tội trộm cắp tài sản
Định tội danh của tội trộm cắp tài sản là một trường hợp định tội danh cụ thể, vì vậy nó có đặc điểm của định tội danh [49, tr.10]
Một là, định tội danh tội trộm cắp tài sản là một quá trình khoa học theo
nguyên tắc lôgic nhất định, hơn nữa đây là hoạt động xác nhận một quan hệ pháp luật xảy ra trong thực tế và ghi nhận sự phù hợp của từng trường hợp phạm tội cụ thể với các dấu hiệu của cấu thành tội trộm cắp tài sản được quy định tại Điều
173 Bộ luật hình sự
Hai là, định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản là hoạt động của các cơ
quan tiến hành tố tụng đánh giá nhất định về mặt pháp lý trên cơ sở quy định tại
Điều 173 HLHS đối với hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản nguy hiểm cho xã hội
1.3.1.2 Các trường hợp của việc định tội danh tội trộm cắp tài sản
Tương ứng với các cơ sở căn cứ của việc phân loại khác nhau, do đó việc
định tội danh tội trộm cắp tài sản được phân chia thành các trường hợp cụ thể:
Đầu tiên, căn cứ vào những yếu tố cấu thành tội phạm căn bản được quy định tại Khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản được phân chia trên cơ sở bốn yếu tố cấu thành tội phạm: khách thể, mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ quan
Yếu tố thứ nhất là, định tội danh tội trộm cắp tài sản theo khách thể của
tội phạm là định tội danh theo các quan hệ sở hữu tài sản mà hành vi lén lút
chiếm đoạt tài sản xâm hại
Trang 28Yếu tố thứ hai là, định tội danh tội trộm cắp tài sản theo mặt khách quan
của tội phạm là định tội danh theo những dấu hiệu hành vi khách quan, hậu quả, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả cụ thể được quy định ở Điều 173 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Yếu tố thứ ba là, định tội danh tội trộm cắp tài sản theo chủ thể của tội
phạm là định tội danh theo dấu hiệu chủ thể thường ở tội trộm cắp tài sản
Yếu tố thứ tư là, định tội danh tội trộm cắp tài sản theo mặt chủ quan của
tội phạm là định tội danh theo dấu hiệu do lỗi cố ý trực tiếp, gián tiếp hoặc lỗi vô
ý của tội trộm cắp tài sản hoặc trong những trường hợp sai lầm
Tiếp theo, căn cứ vào mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và vai trò
của nó đối với việc áp dụng pháp luật hình sự, cấu thành tội trộm cắp tài sản, định tội danh tội trộm cắp tài sản được phân loại chia thành định tội danh tội trộm cắp tài sản theo cấu thành tội phạm cơ bản cụ thể đa số được quy định ở Khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và định tội danh tội trộm cắp tài sản theo cấu thành tội phạm tăng nặng được quy định tại
Khoản 2, 3, 4 Điều 173 BLHS năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Cuối cùng, tùy vào căn cứ tính chất đặc biệt của tội phạm, thực ra việc
định tội danh tội trộm cắp tài sản được phân loại chia thành định danh đối với tội trộm cắp tài sản trong ba trường hợp cụ thể: trường hợp hành vi phạm tội chưa hoàn thành, trường hợp đồng phạm và trường hợp có nhiều tội phạm
Định tội danh tội trộm cắp tài sản trong trường hợp đồng phạm là định tội danh trong trường hợp phạm tội từ hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội
phạm, cụ thể trong đó là tội trộm cắp tài sản
Định tội danh tội trộm cắp tài sản trong trường hợp có nhiều tội phạm là trường hợp định tội danh trong trường hợp người phạm tội có nhiều hành vi phạm tội và trong đó có hành vi trộm cắp tài sản Định tội danh tội trộm cắp tài sản đối với trường hợp hành vi phạm tội chưa hoàn thành là định tội danh trong trường hợp chuẩn bị phạm tội trộm cắp tài sản và phạm tội chưa đạt trộm cắp tài sản Tuy nhiên, theo Điều 14 Bộ luật hình sự 2015 về chuẩn bị phạm tội thì
Trang 29chuẩn bị phạm tội trộm cắp tài sản không phải chịu TNHS Như vậy, định tội danh tội trộm cắp tài sản trong trường hợp hành vi phạm tội chưa hoàn thành thì
chỉ có trường hợp hành vi phạm tội chưa đạt theo Điều 15 BLHS
1.3.1.3 Ý nghĩa của việc định tội danh trộm cắp tài sản
- Đối với hoạt động định tội danh đúng
Việc định tội danh đúng cũng sẽ là yếu tố quan trọng tiền đề cho việc phân hóa trách nhiệm hình sự cụ thể và cá thể hóa hình phạt một cách khách quan công minh, có cơ sở pháp lý căn cứ và đúng pháp luật
Định tội danh đúng cũng là một trong những cơ sở để áp dụng một cách chính xác các quy phạm của pháp luật tố tụng hình sự về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (từ tạm giam, thời hạn tạm giam), cho đến khởi tố vụ án hình sự… bằng những cách đó, định tội danh đúng sẽ góp phần đắc lực vào trong việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
Định tội danh đúng sẽ góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và được loại trừ trong việc kết án không có căn cứ cho những hành
vi không gây nguy hiểm đáng kể cho xã hội, không trái quy định pháp luật, tạo tiền đề pháp lý cho việc quyết định hình phạt công bằng đối với người phạm tội
Định tội danh đúng là sự thể hiện hoạt động có hiệu quả của cơ quan chức năng tiến hành tố tụng, sự nhận thức và ý thức tuân thủ pháp luật một cách triệt
để, ý thức trách nhiệm trong hoạt động nghề nghiệp của các cơ quan chức năng
- Đối với hoạt động định tội danh sai
Định tội danh sai chắc chắn sẽ dẫn đến hàng loạt các hệ quả tiêu cực: bỏ lọt tội phạm, truy cứu trách nhiệm hình sự người không phạm tội, không đảm bảo sự minh bạch khách quan Thời gian qua, khi theo dõi thông tin từ thực tiễn những vụ oan, sai chủ yếu bởi nguyên do từ việc đánh giá các tài liệu chứng cứ thiếu thận trọng, chưa toàn diện, nóng vội khởi tố vụ án, suy diễn mang tính chủ quan theo định kiến có tội
Định tội danh sai sẽ dẫn đến tình trạng không thuyết phục được người phạm tội về tính đúng đắn và nghiêm minh của bản án, nhiều trường hợp làm cho
Trang 30dư luận chú ý và tranh luận theo nhiều chiều khác nhau, làm giảm hiệu quả giáo dục của bản án đối với người dân trong xã hội và đồng thời làm giảm uy tín và hiệu lực của các cơ quan bảo vệ pháp luật, làm giảm hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng và chống và xử lý các loại tội phạm
1.3.2 Quyết định hình phạt đối với tội trộm cắp tài sản
1.3.2.1 Khái niệm quyết định hình phạt đối với tội trộm cắp tài sản
Quyết định hình phạt (QĐHP) là một trong những khái niệm cơ bản quan trọng của Luật hình sự Việt Nam, xác định hành vi nào là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tới khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ, từ đó đưa ra các biện pháp cưỡng chế phù hợp nhất đối với người phạm tội Do đó, có thể khẳng định QĐHP là cầu nối, là một mắt xích quan trọng giữa tội phạm và hình phạt Vì vậy, QĐHP là giai đoạn của ADPLHS được Tòa án thực hiện ngay sau việc định tội,
định khung hình phạt
Hiện nay pháp luật hình sự Việt Nam chưa có một văn bản chính thức cụ thể để định nghĩa về khái niệm QĐHP, nên khái niệm này chỉ được nghiên cứu dưới độ là một khái niệm khoa học luật hình sự mà chưa được quy định trong hệ thống văn bản pháp lý hình sự có tính chất chính thống Theo PGS.TS Lê Văn
Đệ thì: "Quyết định hình phạt là sự lựa chọn loại hình phạt và xác định mức hình phạt cụ thể trong phạm vi luật định để áp dụng đối với người phạm tội cụ thể"
[11, tr.161] Dưới góc độ của luật tố tụng hình sự, TS Chu Thị Trang Vân đưa ra
khái niệm như sau:"Quyết định hình phạt là một giai đoạn rất quan trọng trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân, là việc Tòa án lựa chọn loại hình phạt và mức hình phạt cụ thể được quy định trong luật hình sự tương ứng với cấu thành tội phạm cụ thể để áp dụng với người phạm tội, thể hiện trong bản án buộc tội"
[46, tr.55] Vì vậy, khái niệm quyết định hình phạt trên có thể được nghiên cứu
từ hai góc độ khác nhau, từ góc độ luật hình sự và từ góc độ luật tố tụng hình sự
Từ góc độ luật hình sự có thể định nghĩa quyết định hình phạt như sau:
“Quyết định hình phạt là sự lựa chọn loại hình phạt và xác định mức hình phạt (đối với loại hình phạt có các mức độ khác nhau) trong phạm vi luật định
Trang 31để áp dụng đối với chủ thể chịu TNHS”
Quyết định hình phạt đối với chủ thể chịu TNHS là sự lựa chọn một trong
số của các hình phạt chính và xác định mức hình phạt đối với loại hình phạt có mức độ khác nhau trong khung hình phạt được quy định trong luật Trong khi đó, nếu chế tài được quy định chỉ có một loại hình phạt chính và có các mức độ khác nhau thì lúc đó quyết định hình phạt đối với trường hợp này là xác định mức hình phạt trong phạm vi khung hình phạt được quy định
Quyết định hình phạt bổ sung có nội dung giống như hình phạt chính thì
đó là việc vận dụng loại hình phạt bổ sung có thể là một hoặc một số loại nếu luật quy định cho phép áp dụng nhiều loại hình phạt bổ sung và xác định mức hình phạt trong khung quy định để áp dụng cùng với hình phạt chính
Do vậy, quyết định hình phạt bao gồm như quyết định hình phạt chính và quyết định hình phạt bổ sung Quyết định hình phạt theo nghĩa này được xem coi
như là theo nghĩa hẹp
Quyết định hình phạt cũng có thể được hiểu theo như các nghĩa rộng khác nhau sau: Quyết định hình phạt là quyết định hình phạt chính, quyết định hình phạt bổ sung và quyết định biện pháp tư pháp
Từ các khái niệm quyết định hình phạt có thể được hiểu theo nhiều nghĩa, thế nhưng quyết định hình phạt theo nghĩa hẹp vẫn được chiếm đa số các tác giả
ghi nhận trong các tài liệu sách, báo pháp lý
Tóm lại dựa trên cơ sở đó, có thể đưa ra khái niệm về quyết định hình
phạt đối với tội trộm cắp tài sản như sau: “Quyết định hình phạt đối với tội trộm cắp tài sản là việc Tòa án lựa chọn loại hình phạt với mức hình phạt cụ thể trong phạm vi luật định để áp dụng đối với người phạm tội trộm cắp tài sản”
1.3.2.2 Căn cứ quyết định hình phạt đối với tội trộm cắp tài sản
Theo quy định tại Điều 50 BLHS căn cứ quyết định hình phạt đối với
người phạm tội như sau: “Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định củaBộ luật này, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS”
Trang 32Theo các nội dung đã phân tích, căn cứ để quyết định hình phạt đối với tội
trộmcắp tài sản bao gồm:
Thứ nhất, căn cứ vào các quy định của BLHS sau đây
Các quy định có trong Phần chung BLHS: quy định về cơ sở của TNHS (tại Khoản 1 Điều 2 BLHS); quy định về nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội (tại Khoản 1 Điều 3 BLHS); các quy định về hình phạt (từ Điều 30 đến Điều
45 BLHS); các quy định về biện pháp tư pháp (từ Điều 46 đến Điều 49 BLH); các quy định về căn cứ của quyết định hình phạt (Điều 50 BLHS), về các tình tiết giảm nhẹ TNHS (Điều 51 BLHS), các tình tiết tăng nặng TNHS (Điều 52 BLHS), về tái phạm, tái phạm nguy hiểm (Điều 53 BLHS); các quy định về quyết định hình phạt trong các trường hợp cụ thể (từ Điều 54 đến Điều 59
BLHS)
Các quy định có trong Phần chương các tội phạm BLHS: cụ thể đó là các quy định về khung hình phạt chính cũng như hình phạt bổ sung của tội trộm cắp
tài sản được quy định ở Điều 173 BLHS
Thứ hai, tùy căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội
Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm là một trong những thuộc tính quan trọng và là yếu tố bắt buộc của tội phạm thể hiện cụ thể ở việc gây thiệt hại hoặc tạo ra những nguy cơ gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội là đối tượng được bảo vệ theo pháp luật hình sự Do đó, các khung hình phạt được xây dựng bởi chủ yếu dựa trên tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của từng tội phạm cụ
thể
Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với tội trộm cắp tài sản phụ thuộc vào những yếu tố sau: tính chất của hành vi phạm tội như thủ đoạn, công cụ, phương tiện, hình thức thực hiện; tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi trộm cắp tài sản đã thực hiện và mức độ của hậu quả do tội trộm cắp tài sản gây ra; ngoài ra mức độ lỗi như tính chất của động cơ, quyết tâm phạm tội, nguyên nhân và điều kiện phạm tội; hoàn cảnh phạm tội như khó khăn hoàn cảnh
Trang 33kinh tế, chính trị, xã hội của địa điểm và thời gian xảy ra hành vi phạm tội; những tình tiết và nhân thân có ảnh hưởng đến mức độ nguy hiểm của hành vi
phạm tội
Thứ ba, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội trộm cắp tài sản
Đây là nguyên tắc cụ thể thể hiện cá thể hoá hình phạt trong luật hình Việt Nam Thế nhưng nguyên tắc này biểu hiện tính nhân đạo, công bằng và cá thể hoá được thể hiện rõ trong quy định luật hình sự Việt Nam, đồng thời được thực tiễn khẳng định, có ý nghĩa to lớn trong giáo dục, phòng ngừa tội phạm
Nhân thân người phạm tội trộm cắp tài sản là tổng hợp những đặc điểm riêng của người phạm tội như: phạm tội lần đầu hay là có tiền án, tiền sự, phạm tội mang tính chất chuyên nghiệp hay không; là người đủ 18 tuổi hay chưa đủ 18 tuổi; có thái độ ăn năn hối cải hay tự thú (đầu thú) không; là người có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt hay không… Nhân thân người phạm tội trộm cắp tài sản được coi là căn cứ để quyết định hình phạt nhằm đạt được mục đích trừng trị và giáo
dục người phạm tội
Thứ tư, căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Pháp luật hình sự nước ta luôn coi các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là căn cứ quyết định hình phạt độc lập để quyết định hình phạt Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được xác định quy định tại Điều 51 và Điều 52 của BLHS là có tính chất chung và chỉ được áp dụng đối với tội phạm cụ thể khi tình tiết đó chưa được quy định là dấu hiệu phạm tội, hoặc là
tình tiết định khung
1.3.2.3 Ý nghĩa quyết định hình phạt đối với tội trộm cắp tài sản
Quyết định hình phạt là một trong những giai đoạn tố tụng quan trọng trong quá trình xử lý vụ án, một nội dung quan trọng của quá trình áp dụng luật hình sự Hiến pháp năm 2013 và BLHS năm 1999 (và sau đó được thay thề bằng BLHS năm 2015) đều quy định chỉ có Tòa án mới có quyền quyết định hình phạt Quyết định hình phạt luôn đóng vai trò vô cùng to lớn, bởi vì suy cho cùng, các hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự trước đó (từ khi khởi tố,
Trang 34điều tra, truy tố, kể cả trong việc tranh tụng tại phiên tòa) sẽ không có nhiều ý nghĩa nếu Tòa án không thực hiện làm tốt việc quyết định hình phạt Quyết định hình phạt đúng pháp luật, công bằng và hợp lý là tiền đề, điều kiện để đạt mục đích hình phạt (cho việc cải tạo, giáo dục, phòng ngừa chung và phòng ngừa riêng) Do đó, quyết định hình phạt đúng: là cơ sở pháp lý để đạt được mục đích của hình phạt; là cơ sở pháp lý đảm bảo và nâng cao hiệu quả của hình phạt; là điều kiện bảo đảm tính thực thi của hệ thống hình phạt, góp phần bảo đảm tính pháp chế xã hội chủ nghĩa
Tóm lại: quyết định hình phạt nói chung và quyết định hình phạt về tội trộm cắp tài sản nói riêng, từ đó đóng vai trò hết sức quan trọng về mặt chính trị
- xã hội trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm Đồng thời, quyết định hình phạt đúng pháp luật, công bằng và hợp lý là tiền đề, điều kiện để đạt mục đích hình phạt (cho việc cải tạo, giáo dục, phòng ngừa chung và phòng ngừa riêng) Nếu hình phạt quá nặng sẽ tạo tâm lý không công bằng, không thuyết phục, không hợp lý cho ở người bị kết án dẫn đến thái độ tiêu cực, luôn không tin tưởng vào pháp luật, không chịu tích cực lao động cải tạo để trở thành người
có ích cho xã hội khi tái hòa nhập cộng đồng Hình phạt có đạt được mục đích hay không và đến một mức độ nào đó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như sau: xây dựng pháp luật hình sự, chấp hành hình phạt, ý thức pháp luật… cho nên yếu
tố quyết định hình phạt giữ vai trò hết sức quan trọng vì chỉ dựa trên cơ sở nhận thức và vận dụng đúng đắn các quy định pháp luật cho từng trường hợp phạm tội
cụ thể thì Toà án mới có thể cho ra đời một bản án tuyên hình phạt đúng đắn và
có hiệu quả
Trang 35Tiểu kết Chương 1
Từ những kết quả trên cơ cở lý luận nghiên cứu các văn bản pháp luật trong phạm vi Chương 1 của Luận văn này, tác giả đã làm rõ các khái niệm, đặc điểm của ADPLHS đối với tội trộm cắp tài sản, ADPLHS là một dạng của ADPL nói chung được hiểu là một hoạt động thực tiễn pháp lý, là quá trình nhằm
cá biệt hóa những quy phạm PLHS vào các trường hợp cụ thểđối với người đã thực hiện hành vi mà nhà nước coi là tội phạm, mang tính tổ chức - quyền lực nhà nước và được thực hiện theo một trình tự đặc biệt do pháp luật do pháp luật TTHS quy định
Bên cạnh đó, đưa ra được nội dung của ADPL các khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản, song song với định tội danh tội trộm cắp tài sản đưa ra được các căn cứ quyết hình hình phạt tương ứng với định tội danh tội trộm cắp tài sản, hơn nữa làm rõ những dấu hiệu pháp lý cấu thành tội trộm cắp tài sản
Qua đó, cũng tìm hiểu thêm về phân biệt các dấu hiệu đặc trưng của tội trộm cắp tài sản với một số tội có dấu hiệu gần tương đồng, để từ đó có cái nhìn toàn diện hơn về ADPLHS đối với tội trộm cắp tài sản Đồng thời, trên cơ sở lý luận về mặt pháp lý ở Chương 1 là cơ sở để tác giả tiếp cận nghiên cứu thực trạng áp dụng pháp luật hình sự đối với tội trộm cắp tài sản trên địa bàn Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh
Trang 36Chương 2 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
ĐỐI VỚI TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1 Khái quát tình hình xét xử áp dụng pháp luật hình sự đối với tội trộm cắp tài sản trên địa bàn Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh
Với đặc điểm vị trí địa lý là cửa ngỏ tiếp giáp nhiều địa bàn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc kinh doanh thương mại, những thành tựu đã đạt được thì mặt trái của nền kinh tế thị trường sự gia tăng dân số nhanh với tỉ lệ dân nhập cư ngày càng lớn gây khó khăn trong công tác quản lý con người và quản lý xã hội
đã làm cho tình hình tội phạm trên địa bàn Quận 10 diễn biến hết sức phức tạp, trong đó có tội trộm cắp tài sản
Trong 05 năm giai đoạn 2015- 2019, Tòa án nhân dân Quận 10 đã xét xử rất nhiều vụ trộm cắp tài sản với nhiều bị cáo Theo số liệu thống kê của Tòa án nhân dân Quận 10, từ các năm 2015 đến năm 2019 cho chúng ta nhận biết thấy một bức tranh tổng thể về tình hình tội trộm cắp tài sản trong những năm gần đây
Bảng 2.1 Diễn biến tình hình tội trộm cắp tài sản so với các tội xâm
phạm sở hữu trên địa bàn Quận 10 từ năm 2015 đến 2019
Năm Xâm phạm sở hữu Trộm cắp tài sản Tỷ lệ %
Số vụ (A) Số bị cáo (B) Số vụ (C) Số bị cáo (D) (C)/(A) (D)/(B)
Trang 37Bảng 2.2 Số lượng, số vụ và bị cáo phạm tội trong nhóm tội xâm phạm
sở hữu đã được TAND Quận 10 xét xử, giai đoạn 2015 – 2019
Số
vụ
Bị cáo
Số
vụ
Bị cáo
Số
vụ
Bị cáo
Số
vụ
Bị cáo
Số
vụ
Bị cáo
Trang 38Bảng 2.3 Tỷ lệ % các tội phạm trong nhóm tội xâm phạm sở hữu trên
địa bàn Quận 10, giai đoạn 2015 – 2019
Số
vụ
Bị cáo
Số
vụ
Bị cáo
Số
vụ
Bị cáo
Số
vụ
Bị cáo
Số
vụ
Bị cáo
38,12%
30,28%
26,71%
22,87%
25,51%
20,40%
29,47%
23,64%
33,2 7%
25,9 5%
23,02%
21,15%
12,97%
12,76%
26,53%
25,85%
26,31%
25,00%
23,2 9%
20,9 5%
34,53%
45,19%
52,67%
57,44%
43,87%
47,61%
38,94%
47,29%
36,9 3%
46,7 9%
Trang 39Bảng 2.4 Thống kê mức hình phạt mà TAND Quận 10 đã xét xử về tội
trộm cắp tài sản, giai đoạn 2015 – 2019
(Nguồn: Tòa án nhân dân Quận 10)
Đối chiếu qua các số liệu thống kê trên cho thấy, giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2019 Tòa án nhân dân Quận 10 đã xét xử tổng cộng 601 vụ án hình sự với 921 bị cáo Đối với nhóm tội xâm phạm sở hữu xét xử 379 vụ với 490 bị cáo (chiếm tỷ lệ 52,77% vụ án và 48,77% bị cáo) Tuy nhiên trong đó, tội trộm cắp tài sản xét xử 200 vụ với 239 bị cáo (chiếm tỷ lệ 33,27% vụ án và 25,95% bị cáo); tội cướp tài sản xét xử 13 vụ với 19 bị cáo (chiếm tỷ lệ 2.16% vụ án và 2,06% bị cáo); tội cướp giật tài sản xét xử 140 vụ với 193 bị cáo (chiếm tỷ lệ 23,29% vụ án và 20,95% bị cáo); tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xét xử 18 vụ với
22 bị cáo (chiếm tỷ lệ 2,99% vụ án và 2,38% bị cáo); tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xét xử 08 vụ với 17 bị cáo (chiếm tỷ lệ 1,33% vụ án và 1,84%
bị cáo); các tội phạm khác xét xử 222 vụ với 431 bị cáo (chiếm tỷ lệ 36,93 % vụ
án và 46,79% bị cáo)
Cụ thể số lượng án hình sự Tòa án nhân dân quận 10 xét xử về tội trộm cắp tài sản hàng năm như sau: Năm 2015 xét xử 59 vụ với 68 bị cáo; Năm 2016 xét xử 53 vụ/ 63 bị cáo; Năm 2017 xét xử 35 vụ/ 43 bị cáo; Năm 2018 xét xử 25
Trang 40vụ /38 bị cáo; Năm 2019 xét xử 28 vụ/35 bị cáo Từ những kết quả cập nhật số liệu trên cho thấy, trong thời gian từ năm 2015 đến năm 2019 số lượng các vụ án Tòa án nhân dân Quận 10 xét xử về tội trộm cắp tài sản tăng giảm không đều qua các năm nhưng có xu hướng tăng: Năm 2015 tăng, từ năm 2016 đến năm 2018
có sự giảm nhẹ, thế nhưng đến năm 2019 có chiều hướng gia tăng
Từ những kết quả phân tích các bảng cập nhật số liệu thống kê có thể nhận thấy trên địa bàn Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh thì các tội xâm phạm
sở hữu chiếm tỷ lệ cao nhất trong nhóm các tội phạm, đặc biệt riêng tội trộm cắp tài sản chiếm tỷ lệ cao nhất trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu Từ kết quả cập nhật thống kê trên đã thể hiện trong thời gian qua công tác đấu tranh phòng chống loại tội phạm này đã phát huy hiệu quả đáng ghi nhận, tuy nhiên bên cạnh
đó yêu cầu thực tiễn đòi hỏi cần nâng cao hơn nữa vai trò của các cơ quan chức năng mà đặc biệt là công tác xét xử của ngành tóa án nhân dân Xuất phát từ yêu cầu đó, việc nâng cao hiệu lực hiện quả của nhiệm vụ đề ra trog việc ban hành và
áp dụng các quy định về tội trộm cắp tài sản là hoạt động cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn đóng vai trò quan trọng và là khâu tất yếu trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và tội trộm cắp tài sản nói riêng tại địa bàn Quận 10
2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự trong định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản trên địa bàn Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh
Đề tài Luận văn này tác giả đã thực hiện trong giai đoạn năm 2015 - 2019 cho nên việc áp dụng pháp luật hình sự đối với tội trộm cắp tài sản dựa trên căn
cứ cơ sở pháp lý của Bộ luật hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm
2009, gọi tắt là BLHS 1999) và Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung
năm 2017, có hiệu lực ngày 01/01/2018, gọi tắt là BLHS 2015)
2.2.1 Thực tiễn định tội danh tội trộm cắp tài sản theo cấu thành tội
phạm cơ bản
Từ thực tiễn kết quả công tác xét xử cấp sơ thẩm tại TAND Quận 10 về tội trộm cắp tài sản, thì việc định tội danh ở khung cấu thành cơ bản (Khoản 1