1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN văn THẠC sĩ) áp dụng hình phạt tử hình từ thực tiễn các tỉnh miền trung, việt nam

84 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 841,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phần lớn pháp luật hình sự các quốc gia Châu Âu và nhiều nước có nền kinh tế tiên tiến trên thế giới không còn quy định hình phạt tử hình, phù hợp với những yêu cầu cụ thể về quyền sống,

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THÁI PHƯƠNG TRANG

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THÁI PHƯƠNG TRANG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS LẠI VIẾT QUANG

HÀ NỘI, năm 2020

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình xây dựng đề cương, nghiên cứu và hoàn thành luận văn thạc sĩ, tác giả đã nhận được rất nhiều sự trợ giúp đến từ các thầy, các cô, giảng viên Học viện khoa học xã hội - Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam Đặc biệt, tác giả trân trọng bày tỏ sự biết ơn tới TS Lại Viết Quang người được Học viện phân công hướng dẫn luận văn; đã tận tình, tâm huyết giúp đỡ hoàn thành đề tài Qua đây, tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô đã nhiệt tình giúp đỡ, hỗ trợ tác giả trong quá trình học tập cũng như trong quá trình nghiên cứu hoàn thành đề tài luận văn thạc sĩ

Xin gửi lời cảm ơn trân trọng đến Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng

đã tạo điều kiện hỗ trợ về thông tin, dữ liệu và tài liệu trong quá trình tác giả thực hiện luận văn

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ ÁP DỤNG HÌNH PHẠT TỬ HÌNH 9

1.1 Một số vấn đề chung về áp dụng hình phạt tử hình 9 1.2 Cơ sở, căn cứ và các nguyên tắc áp dụng hình phạt tử hình: 22

CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG HÌNH PHẠT TỬ HÌNH TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN CÁC TỈNH MIỀN TRUNG, VIỆT NAM 36

2.1 Những bất cập trong áp dụng hình phạt tử hình 36 2.2 Thực tiễn áp dụng hình phạt tử hình tại Tòa án nhân dân các tỉnh Miền Trung, Việt Nam 45

CHƯƠNG 3 QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO ÁP DỤNG ĐÚNG HÌNH PHẠT TỬ HÌNH TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN CÁC TỈNH MIỀN TRUNG, VIỆT NAM 65

3.1 Quan điểm, định hướng về việc áp dụng đúng hình phạt tử hình trong xét xử các vụ án hình sự 65 3.2 Các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng hình phạt tử hình tại Tòa án nhân dân các tỉnh Miền Trung, Việt Nam 68

KẾT LUẬN 74 DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

- Tòa án nhân dân tối cao: TANDTC

- Viện kiểm sát nhân dân: VKSND

- Viện kiểm sát nhân dân tối cao: VKSNDTC

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Số liệu án tử hình tại Tòa án nhân dân các tỉnh Miền Trung, Việt Nam giai đoạn từ 2015-2019 46 Bảng 2.2: Tỷ lệ bị cáo bị xử tử hình tại từng Tòa án nhân dân các tỉnh Miền Trung, Việt Nam so với tổng số bị cáo bị xử tử hình tại TAND 12 tỉnh Miền Trung, Việt Nam từ 2015-2019 49 Bảng 2.3: Tỷ lệ các tội danh có quy định hình phạt tử hình được TAND các tỉnh Miền Trung, Việt Nam áp dụng để xét xử các bị cáo từ 2015-2019 50

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tử hình là hình phạt đã có lịch sử từ lâu đời, là loại hình phạt đặc biệt, nghiêm khắc nhất trong hệ thống các hình phạt được quy định trong Bộ luật Hình sự Đó là một hiện tượng xã hội mang tính khách quan, do điều kiện Kinh tế xã hội cụ thể của một quốc gia quy định Xu thế phát triển của nhân loại là tiến tới loại bỏ hình phạt tử hình ra khỏi hệ thống các hình phạt trong pháp luật hình sự Phần lớn pháp luật hình sự các quốc gia Châu Âu và nhiều nước có nền kinh tế tiên tiến trên thế giới không còn quy định hình phạt tử hình, phù hợp với những yêu cầu cụ thể về quyền sống, (quyền con người) trong Luật nhân quyền quốc tế, trong Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị (ICCPR) được Đại hội đồng Liên hiệp quốc thông qua năm 1966, có hiệu lực năm 1976, Việt Nam phê chuẩn năm 1982

Mục đích của hình phạt là kết quả thực tế cuối cùng do Nhà nước đặt ra

và mong muốn đạt được; mục đích của hình phạt tử hình là ngăn ngừa người

bị kết án phạm tội mới (phòng ngừa riêng), ngăn ngừa người khác phạm tội (ngăn ngừa chung) Đây không chỉ là vấn đề có tính pháp lý mà còn là vấn đề liên quan đến chính trị, chủ quyền quốc gia, văn hóa, xã hội, đạo đức, tôn giáo, gây nhiều tranh cãi với rất nhiều quan điểm khác nhau trên thế giới cũng như ở Việt Nam; là chủ đề có tính thời sự, nóng bỏng, các nước phương Tây không ít lần gây khó dể với chúng ta, thậm chí là cái cớ, lợi dụng nhân quyền

để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam

So với các yêu cầu cụ thể về quyền sống (quyền con người) trong Luật nhân quyền quốc tế, Pháp luật hình sự chúng ta vẫn còn một khoảng cách So với điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam hiện tại và trong tương lai của xu thế toàn cầu hóa kinh tế và pháp luật thì chính sách hình sự (về hình phạt tử hình) của chúng ta cần phải chọn lựa bước đi phù hợp vừa đảm bảo chủ quyền quốc gia, nền kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa, bảo đảm quyền con người,

Trang 8

vừa bảo đảm hội nhập quốc tế; một bài toán khó phải tìm lời giải cả về phương diện lý luận, pháp luật lẫn phương diện thực tiễn áp dụng pháp luật về hình phạt tử hình

* Xét về phương diện lý luận, pháp luật:

Có thể nói đã có hàng trăm công trình nghiên cứu trong nước và quốc

tế với rất nhiều quan điểm khác nhau tranh cãi về hình phạt tử hình Các tranh cãi chủ yếu xoay quanh vấn đề tính đạo đức và tính pháp lý của hình phạt tử hình, có nên bỏ tử hình ra khỏi hệ thống hình phạt hay không Đây là vấn đề hết sức thời sự, có tính cấp bách cần phải được luận giải một cách khoa học

* Về phương diện áp dụng pháp luật về hình phạt tử hình:

Trong thời gian qua, Tòa án cả nước đã tuyên án tử hình hàng nghìn bị cáo Trong đó, Tòa án nhân dân các tỉnh Miền Trung, Việt Nam đã xét xử tuyên án tử hình 19 bị cáo Việc xét xử của các Tòa án cơ bản đúng người, đúng tội, đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội và hậu quả do bị cáo gây

ra Tuy nhiên vẫn còn những sai lầm, hạn chế trong việc đánh giá chứng cứ, xác định tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hậu quả vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, từ đó quyết định hình phạt không chính xác Vì vậy việc xét xử tuyên án tử hình hay không tử hình một con người phạm tội là việc hệ trọng, liên quan đến quyền con người, cần phải chính xác, đây là một đòi hỏi có tính cấp bách

Từ những bất cập về phương diện lý luận, pháp luật và những hạn chế, thiếu sót trong thực tiễn áp dụng pháp luật về hình phạt tử hình tại Tòa án nhân dân các tỉnh Miền Trung, Việt Nam, cần có những giải pháp khoa học để khắc phục trên cơ sở lấy thực tiễn kiểm nghiệm lý luận và pháp luật Chính vì lẽ đó,

tác giả chọn đề tài “Áp dụng hình phạt tử hình từ thực tiễn các tỉnh miền Trung, Việt Nam” với cách tiếp cận xã hội học, xã hội pháp luật làm nền tảng

nghiên cứu để góp phần luận giải những tồn tại từ các phương diện nêu trên

Trang 9

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Có thể nói dưới góc độ bảo vệ quyền con người, hình phạt tử hình là một đề tài được rất nhiều nhà khoa học trong nước và quốc tế nghiên cứu với nhiều quan điểm trái chiều nhau Có thể viện dẫn một số công trình tiêu biểu sau đây:

* Trong cuốn sách “Quyền sống và hình phạt tử hình” của Viện chính sách công và pháp luật thuộc Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam (sách tham khảo), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - sự thật, 2015, các tác giả sau đây đã nghiên cứu sâu về chủ đề này:

- GS.TSKH Lê Văn Cảm trong bài “Sửa đổi các quy định về hình phạt

tử hình trong pháp luật hình sự Việt Nam” đã đặt ra tính cấp thiết phải nghiên cứu chủ đề này, giới thiệu các nhóm quan điểm duy trì, hạn chế và loại bỏ hình phạt tử hình, gợi ý các giải pháp hoàn thiện và tiến tới loại bỏ hình phạt

tử hình ra khỏi pháp luật hình sự Việt Nam

- GS.TSKH Đào Trí Úc, PGS.TS Vũ Công Giao trong bài “Quyền sống trong Luật quốc tế và pháp luật Việt Nam” đã bàn sâu về hình phạt tử hình Các tác giả cho rằng phạm vi áp dụng hình phạt tử hình còn rộng so với nhiều nước trên thế giới và so với quan điểm của Liên hiệp quốc, vì vậy cần nghiên cứu tiến tới xóa bỏ hình phạt tử hình ở nhiều tội danh như các tội phạm về ma túy, xâm phạm quyền sở hữu, trật tự quản lý kinh tế…

- PGS.TS Vũ Công Giao trong bài “Những tranh luận chủ yếu về hình phạt tử hình trên thế giới” đã phân tích sâu sắc các quan điểm trên thế giới về hình phạt tử hình như: Tử hình có phải là biện pháp răn đe hiệu quả hơn các hình phạt khác hay không? Có cần thiết hay không? Có trái hay phù hợp với đạo đức, xã hội, với giáo lý của các tôn giáo? Có vi phạm quyền sống được ghi nhận trong Luật nhân quyền quốc tế hay không?

- TS Trương Hồ Hải trong bài “Giảm hình phạt tử hình trong dự thảo

Bộ luật Hình sự sửa đổi, từ góc nhìn của công chúng và chuyên gia” đã giới

Trang 10

thiệu nhiều quan điểm của các chuyên gia và dự luận công chúng, trong đó đại đa số cho rằng cần sửa đổi pháp luật hình sự theo hướng giảm hình phạt tử hình, chỉ giữ lại các điều luật có hình phạt tử hình đối với các tội như giết người, các tội về ma túy, tham ô…

- PGS.TS Trịnh Quốc Toản trong bài “Hình phạt tử hình trong Luật Hình

sự Việt Nam, một số kiến nghị hoàn thiện”; tác giả cho rằng dựa trên thực tế điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam thì cần giảm bớt các tội phạm có quy định về hình phạt tử hình và cần hoàn thiện định nghĩa về hình phạt tử hình

- PGS.TS Trương Thị Hồng Hà trong bài “Hình phạt tử hình và yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay” đã đưa ra khái niệm về hình phạt tử hình, giới thiệu chính sách hình sự về hình phạt tử hình ở Việt Nam, thực tiễn

áp dụng hình phạt tử hình ở Việt Nam và đề xuất áp dụng hình phạt tử hình trong định hướng cải cách tư pháp “Hạn chế án tử hình trong Bộ luật Hình sự”

- Nguyễn Văn Hoàn trong bài “Chính sách, pháp luật của Việt Nam về hình phạt tử hình” đã giới thiệu các tội danh quy định trong Bộ luật Hình sự

1999 có hình phạt tử hình và đề xuất hướng hoàn thiện các điều luật có hình phạt tử hình

* Trong cuốn sách “Những điều cần biết về hình phạt tử hình” của Trung tâm nghiên cứu quyền con người, quyền công dân”, Đại học quốc gia

Hà Nội - Khoa Luật do PGS.TS Nguyễn Đăng Dung, GS.TS Phạm Hồng Thái, ThS Vũ Công Giao, ThS Lã Khánh Tùng biên soạn (Sách tham khảo), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia 2009 đã giới thiệu một số nội dung lớn như: Khái niệm và lịch sử của hình phạt tử hình, tranh luận về hình phạt tử hình, vấn đề tôn giáo và hình phạt tử hình, vấn đề hình phạt tử hình trong Luật quốc

tế, thực trạng và diễn biến về áp dụng hình phạt tử hình trên thế giới, cách thức thi hành án tử hình trên thế giới, vận động xóa bỏ và duy trì hình phạt tử hình trên thế giới, hình phạt tử hình trong pháp luật hình sự Việt Nam…đã cho ta cái nhìn tổng quan về lý luận, pháp luật, thực tiễn áp dụng pháp luật

Trang 11

hình phạt tử hình và thi hành án tử hình

* Thạc sĩ Võ Thị Thúy trong cuốn sách chuyên khảo “Hình phạt tử hình trong Luật hình sự Việt Nam” - NXB Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh 2010 đã giới thiệu về lý luận, lịch sử hình thành hình phạt tử hình, các quan điểm về hình phạt tử hình, thực tiễn áp dụng hình phạt tử hình và đưa ra các kiến nghị cần thu hẹp phạm vi áp dụng hình phạt tử hình cho phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của Việt Nam hiện tại và tương lai

* Trong cuốn sách tham khảo “Hình phạt tử hình trong Luật quốc tế” của Hội Luật gia Việt Nam - NXB Hồng Đức 2008 đã giới thiệu về lịch sử, các quan điểm khác nhau về hình phạt tử hình, pháp luật quốc tế về hình phạt

tử hình, xu hướng áp dụng và việc vận động xóa bỏ hình phạt tử hình

* Trong cuốn sách chuyên khảo “Bảo vệ quyền con người trong tư pháp Hình sự Việt Nam” do TS Võ Thị Kim Oanh chủ biên với tập thể tác giả 19 GS, PGS, TS, ThS, nghiên cứu sinh đã tập trung phân tích sâu sắc các vấn đề về quyền con người trong tư pháp hình sự Việt Nam, giúp chúng ta có nền tảng cơ bản để nghiên cứu về hình phạt tử hình vì do nó gắn liền với quyền sống, quyền con người

* Trong cuốn sách chuyên khảo “Hoàn thiện pháp luật về đặc xá ở Việt Nam” của PGS.TS Nguyễn Ngọc Anh, NXB Tư Pháp 2007; tác giả đưa ra khái niệm về đặc xá trong đó có liên quan đến hình phạt tử hình, thể hiện tính nhân đạo của Nhà nước, của Chủ tịch Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

* GS Roger Hood (giáo sư về Tội phạm học), Đại học Oxford, Vương quốc Anh trong bài hình phạt tử hình và nhân quyền đăng trên cuốn sách tham khảo “Quyền sống và hình phạt tử hình” của Viện chính sách công và pháp luật thuộc Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam - NXB Chính trị quốc gia sự thật 2015; tác giả đã phân tích và kêu gọi các nước, các thành viên của Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị (ICCPR) còn duy trì hình phạt tử hình không được trì hoãn mà phải xóa bỏ hình phạt tử hình,

Trang 12

thay vào đó là hệ thống hình phạt tù mang tính nhân đạo

* Nhận xét về các công trình nghiên cứu:

Các công trình khoa học nêu trên tuy đã giới thiệu nhiều quan điểm khác nhau ở trong nước và quốc tế về việc có loại bỏ hay không loại bỏ hình phạt tử hình trong pháp luật hình sự; nhưng về cơ bản các tác giả đều có nhận thức chung là ủng hộ quan điểm giảm dần án tử hình và tiến tới loại bỏ hình phạt tử hình trong pháp luật hình sự Việt Nam theo định hướng cải cách tư pháp của Đảng Cộng sản Việt Nam Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu gắn với thực tiễn áp dụng pháp luật về hình phạt tử hình tại các tỉnh Miền Trung, Việt Nam Tác giả chọn đề tài này và tiếp cận qua lăng kính xã hội học, xã hội học pháp luật là một điểm mới của Luận Văn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu phân tích làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về hình phạt tử hình tại TAND các tỉnh Miền Trung, Việt Nam, tác giả đề xuất các giải pháp khoa học để nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về hình phạt tử hình trong hoạt động xét xử nhằm bảo vệ quyền con người, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm tại các tỉnh Miền Trung, Việt Nam

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn có nhiệm vụ:

Làm sáng tỏ những vấn đề chung về áp dụng hình phạt tử hình như khái niệm, đặc điểm, bản chất pháp lý, ý nghĩa của hình phạt tử hình; khái niệm, đặc điểm của áp dụng hình phạt tử hình; các quan điểm về hình phạt tử hình, các yếu tố tác động đến áp dụng hình phạt tử hình, những vấn đề cơ bản của pháp luật về hình phạt tử hình

Làm rõ thực trạng áp dụng hình phạt tử hình ở các tỉnh Miền Trung, Việt Nam, trên cơ sở đó đánh giá những ưu điểm cũng như những thiếu sót,

Trang 13

tồn tại trong hoạt động áp dụng hình phạt tử hình; tìm ra nguyên nhân của những hạn chế thiếu sót đó, đề xuất các giải pháp khắc phục

Điểm mới của Luận Văn là dựa trên cách tiếp cận xã hội học, xã hội học pháp luật; tác giả nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật về hình phạt tử hình tại TAND các tỉnh Miền Trung, Việt Nam, làm cơ sở để kiến nghị loại

bỏ hay không loại bỏ hình phạt tử hình

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu ba lĩnh vực cơ bản, đó là:

Nghiên cứu về lý luận và pháp luật về áp dụng hình phạt tử hình

Nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật về hình phạt tử hình tại TAND

các tỉnh Miền Trung, Việt Nam

Nghiên cứu về quan điểm, định hướng của Đảng, chính sách pháp luật hình sự của Nhà nước về áp dụng hình phạt tử hình, các giải pháp bảo đảm áp

dụng đúng hình phạt tử hình

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Về không gian: Nghiên cứu chế định pháp lý hình phạt tử hình quy định

trong BLHS năm 2015 trên cơ sở có so sánh với các quy định về hình phạt tử hình trước đây Nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật về hình phạt tử hình

tại TAND các tỉnh miền Trung, Việt Nam

Về thời gian: Số liệu xét xử được sử dụng nghiên cứu là 5 năm, từ năm

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trang 14

Đề tài sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu như: Phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, tội phạm học, điều tra tội phạm, xã hội học, dự báo khoa học, quy nạp, diễn dịch…Tùy thuộc vào nội dung từng chương, tác giả sử dụng các phương pháp phù hợp

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

7 Kết cấu của luận văn

Luận văn được thiết kế theo 3 chương như sau:

Chương 1: Một số vấn đề chung và pháp luật về áp dụng hình phạt tử hình

Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật về hình phạt tử hình tại Tòa án nhân dân các tỉnh miền Trung, Việt Nam

Chương 3: Quan điểm, định hướng và các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng hình phạt tử hình trong các vụ án hình sự tại Tòa án nhân dân các tỉnh Miền Trung, Việt Nam

Trang 15

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ ÁP DỤNG HÌNH

Như vậy về lý luận pháp luật thì đây là hoạt động của Tòa án, là chủ thể được quy định trong BLHS Biện pháp cưỡng chế của Nhà nước chỉ phát huy tác dụng trong đấu tranh, phòng chống tội phạm khi được Tòa án nhân danh Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam áp dụng thông qua hoạt động xét

xử các vụ án hình sự bằng bản án của Hội đồng xét xử (do Thẩm phán, Hội thẩm thực hiện)

Việc HĐXX ra bản án áp dụng hình phạt đối với người, pháp nhân thương mại phạm tội là kết tinh của quá trình đánh giá tính hợp pháp của các tài liệu, chứng cứ do cơ quan điều tra, Viện kiểm sát thu thập được Tuy nhiên phán quyết của HĐXX được đưa ra là một quá trình tư duy trong một quy trình tố tụng chặt chẽ Đó là sự thuân thủ nguyên tắc xử lý chung được quy định tại Điều 3 BLHS; các nguyên tắc xử lý, áp dụng hình phạt đối với các trường hợp đặc biệt như đối với người chưa thành niên phạm tội, các nguyên tắc áp dụng hình phạt tử hình; sự áp dụng chính xác các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ; nhân thân người phạm tội (Điều 50 BLHS - Căn cứ quyết định hình phạt); sự áp dụng chính xác các điều luật quy định tội phạm cụ thể và hình

Trang 16

phạt tương ứng Theo quy định tại Điều 32 BLHS thì Tòa án chỉ được áp dụng các hình phạt được quy định trong BLHS, bao gồm hình phạt chính như: Cảnh cáo, Phạt tiền, Cải tạo không giam giữ, Trục xuất, Tù có thời hạn, Tù chung thân, Tử hình (7 loại) cùng với các hình phạt bổ sung được quy định tại Điều 32 BLHS và các hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều 33 BLHS Và cuối cùng là đưa ra một hình phạt tương ứng với hành vi, hậu quả do bị cáo gây ra, tương xứng với mức độ phản ứng, tự vệ của Nhà nước Việc HĐXX áp dụng hình phạt chính xác sẽ phát huy tích cực hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm, đem lại sự bình yên cho xã hội và góp phần cải tạo, giáo dục người phạm tội; làm cho họ thấy được tính nghiêm minh của pháp luật để tự giác cải tạo Suy cho cùng một đạo luật dù có tiên tiến đến đâu nhưng hoạt động áp dụng pháp luật của Tòa án kém hiệu quả thì đạo luật

đó sẽ không đi vào đời sống xã hội, không phục vụ lợi ích an ninh, an toàn của

xã hội, hay ở nghĩa khác là sức mạnh tự vệ của Nhà nước bị giảm sút

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm của áp dụng hình phạt tử hình:

Áp dụng hình phạt tử hình là một quy trình tố tụng đặc biệt, được thực hiện dựa trên nền tảng pháp lý được quy định tại Điều 30 BLHS Tuy nhiên khi áp dụng một hình phạt cụ thể đối với một tội danh cụ thể, đặc biệt là hình phạt tử hình thì nó còn có những nét đặc biệt và đặc thù Vì vậy khái niệm, đặc điểm của áp dụng hình phạt tử hình cũng có những nét đặc thù, riêng biệt

mà việc áp dụng các hình phạt khác không có

- Khái niệm:

+ Về phương diện pháp luật: Tử hình là một hình phạt đặc biệt và

nghiêm khắc nhất được quy định trong pháp luật hình sự, tác động trực tiếp lên hành vi của người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, bắt họ phải chịu sự trừng phạt nghiêm khắc nhất, thể hiện sự phản ứng cứng rắn nhất của Nhà nước Hay nói cách khác khi một người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng gây phương hại to lớn đến sự an toàn xã hội, đến tính mạng con người…đến mức

Trang 17

phải tử hình thì họ phải trả giá tương xứng cho hành vi phạm tội của mình bằng hình phạt tử hình do Nhà nước đặt ra, đó là giới hạn cuối cùng của sự phòng vệ của Nhà nước Áp dụng hình phạt tử hình để tước đoạt quyền sống của người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng được thực hiện thông qua hoạt động xét xử của Tòa án theo một trình tự thủ tục chặt chẽ do BLTTHS quy định

+ Về phương diện thực tiễn:

Nếu như chỉ dừng lại ở quy định của pháp luật hình sự thực định thì sẽ không có bản án tử hình và thi hành án tử hình xảy ra Do đó hình phạt tử hình chỉ được tác động lên hành vi của người phạm tội thông qua tư duy của người có thẩm quyền áp dụng pháp luật đó là Hội đồng xét xử Thẩm phán, Hội thẩm là những người tiến hành tố tụng phải nghiên cứu, đánh giá tác hại

do hành vi phạm tội gây ra cho xã hội và cho con người Nếu hành vi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng đó cần thiết phải áp dụng tử hình thì Hội đồng xét

xử căn cứ vào điều luật quy định trong BLHS để tuyên bản án tử hình đối với người phạm tội Như vậy bản án tử hình thể hiện việc Hội đồng xét xử nhân danh Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thay mặt cho Nhà nước thực hiện sự phản ứng mạnh mẽ nhất và cao nhất đối với người phạm tội thông qua phương tiện do Nhà nước đặt ra đó là pháp luật về hình phạt tử hình, với hình thức thể hiện là một bản án kết tội và tuyên hình phạt tử hình đối với người đó

Từ phương diện pháp luật và thực tiễn áp dụng hình phạt tử hình tác giả

đề xuất một khái niệm về áp dụng hình phạt tử hình như sau:

“Áp dụng hình phạt tử hình là một quy trình tố tụng đặc biệt, chặt chẽ

do Bộ luật tố tụng hình sự quy định, được Hội đồng xét xử của Tòa án có thẩm quyền nhân danh Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam áp dụng các quy định về hình phạt tử hình để xét xử và tuyên án tử hình đối với một người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng; được kết thúc bằng bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật”

Trang 18

- Đặc điểm:

Nếu như hình phạt tử hình dưới góc độ pháp luật có những đặc điểm riêng của nó thì hoạt động áp dụng hình phạt tử hình cũng có những đặc điểm riêng của nó và có mối liên hệ không thể tách rời với các đặc điểm về hình phạt tử hình Theo đó trên quan điểm xã hội học thì áp dụng hình phạt tử hình

có những đặc điểm sau đây:

Thứ nhất: Áp dụng hình phạt tử hình là một quy trình tố tụng bắt buộc

và chặt chẽ nhất được chủ thể có thẩm quyền do pháp luật quy định thực hiện

Vì tử hình là tước bỏ quyền sống của người phạm tội; là một việc hệ trọng nên quy trình tố tụng bắt buộc chặt chẽ hơn việc áp dụng hình phạt không phải là tử hình Chủ thể áp dụng chỉ là Hội đồng xét xử mà thôi

Thứ hai: Áp dụng hình phạt tử hình gắn liền với tội phạm đặc biệt

nghiêm trọng và thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng Bỡi lẽ chỉ có tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì BLHS mới quy định hình phạt tử hình và không phải mọi trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng đều bắt buộc tử hình mà còn phải thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng (trong tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có trường hợp đặc biệt nghiêm trọng)

Thứ ba: Áp dụng hình phạt tử hình chính là cụ thể hóa phản ứng cao

nhất và cuối cùng của Nhà nước đối với người thực hiện hành vi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng bằng việc Hội đồng xét xử căn cứ vào hình phạt tử hình do Nhà nước quy định trong BLHS tuyên bản án tử hình đối với người phạm tội

và bản án được thi hành thông qua quy trình, thủ tục đặc biệt mang tính nhân đạo nhất Tức là Nhà nước không còn cách phản ứng nào khác ngoài việc phải

tử hình người phạm tội

Thứ tư: Áp dụng hình phạt tử hình đối với một số tội danh quy định

trong Bộ luật Hình sự là sự răn đe cần thiết của Nhà nước, phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của Việt Nam hiện nay Nghĩa là chỉ có những tội đặc biệt nghiêm trọng gây phương hại lớn (đặc biệt) cho xã hội thì mới áp dụng hình

Trang 19

phạt tử hình, còn những tội gây phương hại không lớn thì Nhà nước phản ứng bằng cách khác như tù chung thân, tù có thời hạn…

Thứ năm: Áp dụng hình phạt tử hình là chỉ đối với cá nhân người phạm

tội Tử hình là đối với con người cụ thể, không thể tử hình đối với pháp nhân thương mại phạm tội mặc dù pháp nhân thương mại là một trong hai chủ thể của trách nhiệm hình sự

Thứ sáu: Áp dụng pháp luật về hình phạt tử hình không chỉ để tước

đoạt quyền sống của người bị kết án mà còn để loại trừ các trường hợp đặc biệt ra khỏi hình phạt tử hình Trong những trường hợp đặc biệt (như người dưới 18 tuổi khi phạm tội, phụ nữ có thai, phụ nữ nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người từ đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử), mặc dù tính chất hành vi phạm tội, hậu quả do họ gây ra ngang nhau với tính chất hành vi phạm tội và hậu quả do người phạm tội bình thường gây ra, lẽ ra phải tử hình nhưng Tòa án không áp dụng hình phạt tử hình đối với họ Các nội dung này thể hiện chính sách nhân đạo đặc biệt của Nhà nước, vì vậy đây cũng là đặc điểm đặc biệt của áp dụng hình phạt tử hình

Thứ bảy: Áp dụng hình phạt tử hình là đảm bảo sự công bằng của xã

hội, “đáng tội chết thì phải chết” Nếu đáng tội chết mà không phải chết là sự bất công bằng và không phải là bản chất của pháp luật

1.1.3 Khái niệm, đặc điểm, bản chất pháp lý, ý nghĩa của hình phạt

tử hình và các quan điểm về hình phạt tử hình

Khái niệm:

Tử hình là hình phạt đặc biệt và nghiêm khắc nhất đã có từ lâu đời, được quy định trong pháp luật hình sự Việt Nam kể từ sau khi Cách mạng Tháng 8/1945 thành công, Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời Trải qua chiều dài của lịch sử ¾ thế kỷ, nhận thức, lý luận về hình phạt tử hình không ngừng được bổ sung, hoàn thiện theo xu hướng giảm dần và tiến tới loại bỏ hình phạt tử hình ra khỏi đời sống pháp luật Tử hình là hình phạt gây ra tranh

Trang 20

luận rất nhiều với nhiều quan điểm khác nhau và gắn liền với ý chí của giai cấp cầm quyền Hiện nay rất nhiều nước trên thế giới đã loại bỏ hình phạt tử hình như các nước thuộc khu vực Tây Âu, một số bang của Hoa Kỳ,…; tuy nhiên vẫn còn hàng trăm nước trên thế giới trong đó có Việt Nam vẫn duy trì hình phạt tử hình trong pháp luật hình sự Pháp luật hình sự Việt Nam quy định hình phạt tử hình cũng như áp dụng trong thực tiễn đã khẳng định một chính sách hình sự nghiêm minh, công bằng, phù hợp với điều kiện kinh tế -

xã hội của Việt Nam Luật nhân quyền quốc tế cũng khuyến khích các quốc gia đi theo xu hướng loại bỏ hình phạt tử hình Chính vì có rất nhiều quan điểm khác nhau về hình phạt tử hình nên cũng có nhiều cách tiếp cận khác nhau khi đưa ra định nghĩa về hình phạt tử hình

Theo từ điển tiếng Việt thì “Tử hình là hình phạt phải chịu tội chết” 1 Còn theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học thì “Tử hình là hình phạt tước

bỏ quyền sống của người bị kết án Tử hình được coi là hình phạt đặc biệt trong hệ thống hình phạt của Luật hình sự Việt Nam Là hình phạt nghiêm khắc nhất, tử hình chỉ được áp dụng đối với các trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng và chỉ được thi hành theo một thủ tục tố tụng chặt chẽ” 2

Theo gốc từ Hán Việt, “Tử hình có nghĩa là hình phạt chết Song xét ở phương diện pháp lý thì hình phạt tử hình được hiểu là sự tước bỏ tính mạng của một con người theo bản án được tuyên bởi một Tòa án được lập ra một cách hợp pháp, nhằm trừng phạt người đó vì đã phạm một tội ác đặc biệt nghiêm trọng”3

Theo quy định tại Điều 40 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì “Tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng

1 Viện khoa học Xã hội Việt Nam – Viện ngôn ngữ học (1992), Từ điển tiếng Việt, Trung tám từ điển ngôn ngữ, Hà Nội; tr 1053

2 PGS, TS Nguyễn Ngọc Hòa (Chủ biên) (1999) Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học (Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự), Nhà xuất bản Công an nhân dân, tr 129

3 “Những điều cần biết về hình phạt tử hình”, Trung tâm nghiên cứu về quyền con người, quyền công dân”, Đại học quốc gia Hà Nội – Khoa Luật, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia 2009, tr 14

Trang 21

thuộc một trong nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng con người, các tội phạm về ma túy, tham nhũng và một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác do Bộ luật này quy định” Xuất phát từ tinh thần nhân đạo, điều luật này còn quy định không áp dụng hình phạt tử hình đối với người dưới 18 tuổi khi phạm tội, phụ nữ có thai, nuôi con dưới 36 tháng tuổi hoặc người đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử và không thi hành

án tử hình đối với một số trường hợp đặc biệt

Từ quy định của BLHS về hình phạt tử hình, cho phép chúng ta phân biệt với quyền an tử mà pháp luật một số nước trên thế giới đã quy định Theo đó pháp luật một số nước giành cho người mắc bệnh nan y, hiểm nghèo được quyền chọn cái chết không đau đớn, giải thoát họ khỏi tình trạng bệnh tật đau đớn, kéo dài, vô vọng, bằng sự trợ giúp của người khác (thông thường là bác sĩ)

Có thể nói có rất nhiều định nghĩa về tử hình ở nhiều cách tiếp cận khác nhau; nhưng căn cứ vào Điều 40 BLHS năm 2015 quy định về tử hình cùng với các định nghĩa do các nhà khoa học pháp lý đưa ra trước đây, tác giả có

thể đề xuất một định nghĩa về tử hình như sau: “Tử hình là hình phạt đặc

biệt và nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt của Luật hình sự Việt Nam, là hình phạt tước bỏ quyền sống của người bị kết án, chỉ được áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng và trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, thuộc một trong các nhóm tội do Bộ luật Hình sự quy định có hình phạt tử hình”

Đặc điểm:

Từ những định nghĩa theo các cách tiệp cận nêu trên và từ quy định của

Bộ luật Hình sự, chúng ta thấy được hình phạt tử hình là một hiện tượng xã hội mang tính khách quan, nằm trong hệ thống các hình phạt của Bộ luật Hình sự nên có những đặc điểm chung, đó là: Là biện pháp cưỡng chế của Nhà nước, được quy định trong Bộ luật Hình sự, được Tòa án áp dụng theo một tố tụng chặt chẽ, nghiêm minh, công bằng đối với người bị kết án, đảm bảo sự bình

Trang 22

yên của xã hội…Song vì nó là hình phạt đặc biệt nên có những đặc điểm riêng:

- Vì nó tước đi quyền sống của người bị kết án, nên chỉ được áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng và trong những trường hơp đặc biệt nghiêm trọng

- Hình phạt tử hình có mục đích phòng ngừa tái phạm tội một cách triệt

để đối với người bị kết án, tước bỏ cơ hội tái hòa nhập cộng đồng của họ

- Hình phạt tử hình còn có khả năng đạt hiệu quả cao trong đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung

- Hình phạt tử hình có tính chất không thay đổi, nó tước đi khả năng khắc phục sai lầm trong hoạt động tư pháp4

Bản chất pháp lý của hình phạt tử hình:

Mác viết “Hình phạt không phải là một cái gì khác ngoài phương tiện

để bảo vệ mình của xã hội chống lại sự vi phạm của các điều kiện tồn tại đó”5 Như vậy hình phạt tử hình thực chất là thể hiện sự phản ứng cao nhất của Nhà nước đối với hành vi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng và có tính lịch sử Hay nói cách khác, hình phạt tử hình là cách thức, là phương tiện mạnh mẽ nhất được giai cấp cầm quyền sử dụng để chống lại hành vi nguy hiểm cho xã hội Một Nhà nước có khả năng tự vệ cao trước các hành vi phạm tội thì khả năng quy định và áp dụng hình phạt tử hình càng thấp thậm chí là bằng không, pháp luật các nước Tây Âu đã minh chứng điều đó Một vấn đề đặt ra bản chất của hình phạt tử hình có phải là nhân đạo hay không? Câu hỏi này cũng được đa số các học giả quan tâm đề cập, nhưng theo quan điểm của tác giả thì hình phạt tử hình trong hệ thống các hình phạt được Bộ luật Hình sự Việt Nam quy định ngoài việc trừng trị còn có tính nhân đạo Xét trên bình diện cộng đồng và sự ứng xử của Nhà nước đối với người bị tử hình thì cho dù một người bị Tòa án kết án tử hình nhưng quá trình xét xử đều được thực hiện

4 Quyền sống và hình phạt tử hình (Sách chuyên khảo), PGS, TS Trịnh Quốc Toản, NXB Chính trị quốc gia

2015, trang 138

5 Mác – Enghen toàn tập (1993), tập 8, NXB Chính trị quốc gia, tr 673

Trang 23

theo một quy trình đặc biệt, chặt chẽ và bảo đảm tinh thần nhân đạo đối với

họ, bản thân họ và cộng đồng xã hội đều nhìn nhận được sự ân huệ của Nhà nước đối với người bị kết án tử hình trước khi chết (được đối xử nhân đạo)

Ý nghĩa của hình phạt tử hình:

Có thể nói trong điều kiện kinh tế - xã hội đất nước ta còn thấp so với nhiều quốc gia trên thế giới, chúng ta vẫn còn một khoảng cách so với các yêu cầu về quyền sống (quyền con người) trong Luật nhân quyền quốc tế, vì vậy hình phạt tử hình có vai trò, ý nghĩa đặc biệt to lớn trong đời sống xã hội và đời sống pháp luật, được nhìn nhận trên cả phương diện lý luận pháp luật và thực tiễn áp dụng

- Về phương diện lý luận pháp luật:

Hình phạt tử hình thể hiện ý chí, sự phản ứng cao nhất của Nhà nước ta đối với người phạm tội đặc biệt nguy hiểm cho xã hội thông qua sự quy định của pháp luật hình sự Đó chính là đặc điểm của Nhà nước pháp quyền Xã Hội Chủ Nghĩa – quản lý xã hội bằng pháp luật Một người phạm tội gây phương hại lớn nhất cho xã hội thì Nhà nước sẽ có phản ứng mạnh mẽ nhất bằng việc quy định hình phạt cao nhất là tước bỏ mạng sống của người phạm tội ra khỏi đời sống xã hội

- Về phương diện thực tiễn:

Thông qua quy định của pháp luật hình sự, Tòa án áp dụng vào vụ án

cụ thể để xét xử người phạm tội và bản án tử hình sẽ được thi hành theo một cách thức nhân đạo nhất Như vậy, tước bỏ quyền sống của người phạm tội chính là đem lại sự bình yên cho xã hội, ngăn ngừa phạm tội mới và phòng ngừa chung Điều này cũng chứng tỏ nhu cầu của xã hội vẫn cần phải có hình phạt tử hình để cân bằng các quan hệ vốn có của xã hội

Quan niệm của các quốc gia và các tôn giáo về hình phạt tử hình:

Hình phạt tử hình không chỉ là vấn đề pháp lý đơn thuần mà còn là vấn

đề chủ quyền quốc gia, vấn đề chính trị, xã hội, văn hóa, đạo đức, tôn giáo

Trang 24

gắn liền với quốc gia đó Mỗi một quốc gia, lãnh thổ tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa, tôn giáo (nếu là tôn giáo thống trị về chính trị) mà quyết định có hình phạt tử hình hay không Một đất nước có nền kinh tế - xã hội văn minh, hiện đại thì khả năng loại bỏ hình phạt tử hình rất cao, điều này

đã thể hiện ở các nước Tây Âu, nhiều bang của Hoa Kỳ…và ngược lại thì quy định hình phạt tử hình tùy theo mức độ, tùy theo khả năng tự vệ của quốc gia

đó Ở một số nước do tôn giáo thống trị thì quan điểm về hình phạt tử hình cũng được tiếp cận ở nhiều cách khác nhau Chẳng hạn như trong Kinh PaYa-Kanhhaly Sutra “Không cấm việc giết người với mục đích phòng vệ và các mục đích nhân đạo khác Trong mọi trường hợp, mọi thời điểm, cộng đồng phật tử không ủng hộ giết người hoặc áp dụng hình phạt tử hình vì mục đích báo thù”; Cơ đốc giáo cũng có nhiều quan niệm khác nhau; Thiên chúa giáo la

mã thì tử hình là không cần thiết; Tin lành thì cũng có nhiều trường phái ủng

hộ hoặc không ủng hộ hình phạt tử hình; Đạo Hồi, Đạo Hindu thì hạn chế áp dụng hình phạt tử hình…

Bảng tổng hợp sau đây cho thấy sự phân tán về quan niệm bỏ hay không bỏ hình phạt tử hình

Số liệu này được thống kê bởi cuộc thăm dò của Viện Gallup Năm 2000 6

6 Những điều cần biết về hình phạt tử hình – Trung tâm nghiên cứu quyền con người và quyền công dân, Đại học Quốc Gia Hà Nội – Khoa Luật, NXB chính trị Quốc Gia năm 2009, trang 55

Trang 25

Nhìn bảng khảo sát này cho thấy quan điểm ủng hộ án tử hình trên phạm vị thế giới thì có tới 52%, phản đối 39%; Tuy nhiên có những khu vực như Mỹ La Tinh 37% ủng hộ, 55% phản đối, đặc biệt là Tây Âu 34% ủng hộ

và 60% phản đối án tử hình và xu hướng chung là tiến tới loại bỏ án tử hình (trong 52% ủng hộ án tử hình của thế giới có cả ủng hộ duy trì tuyệt đối, giảm bớt hình phạt tử hình và tiến tới xóa bỏ hình phạt tử hình)

Đa số quan điểm của các nhà khoa học pháp lý Việt Nam và dư luận chung của nhân dân là trong giai đoạn hiện nay và trong tương lai gần cần có hình phạt tử hình nhưng theo xu hướng giảm dần tiến tới loại bỏ hình phạt tử hình ra khỏi pháp luật hình sự Việt Nam, điều này phù hợp với quan điểm cải cách tư pháp của Đảng ta và chính sách pháp luật hình sự của Nhà nước ta

Bộ luật Hình sự 2015 chỉ còn giữ lại hình phạt tử hình ở 18 tội danh so với 44 tội danh có quy định hình phạt tử hình trong BLHS năm 1985; tuy nhiên trong

xu hướng toàn cầu hóa kinh tế và pháp luật mạnh mẽ như hiện nay và sự phát triển kinh tế của Việt Nam thì hiện 18 tội danh có hình phạt tử hình quy định trong Bộ luật Hình sự 2015 có tồn tại lâu dài hay không là một câu hỏi lớn, sẽ được luận giải tại Chương 2

1.1.4 Các yếu tố tác động đến việc áp dụng hình phạt tử hình

Việc áp dụng hình phạt tử hình chịu sự tác động của nhiều yếu tố như: yếu tố khách quan: sự quy định của pháp luật, điều kiện kinh tế - xã hội, dư luận xã hội; địa lý vùng, miền…và yếu tố chủ quan thuộc về nhận thức của chủ thể áp dụng pháp luật

- Các yếu tố khách quan:

+ Về điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa của Việt Nam: Chúng ta đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh chống ngoại xâm, nên kinh tế kiệt quệ, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn vất vả Mặc dù trong thời gian qua đất nước đổi mới, kinh tế, xã hội, văn hóa đạt được nhiều thành tựu quan trọng, tham gia toàn cầu hóa kinh tế và pháp luật; tuy nhiên xét tổng thể thì đất nước cũng chỉ

Trang 26

đang ở trong giai đoạn phát triển, tội phạm không ngừng gia tăng, trong đó có những tội như: Các tội phản bội tổ quốc, bạo loạn, tham nhũng, giết người…không thể không áp dụng hình phạt tử hình Bởi lẽ nhu cầu của đời sống xã hội cần phải có hình phạt tử hình, là một đòi hỏi tất yếu khách quan Đường lối, quan điểm của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, chính sách và pháp luật của Nhà nước về hình sự không thể tự dưng mà có mà nó đi ra từ xã hội, do điều kiện kinh tế, xã hội quyết định và trở lại phục vụ xã hội Pháp luật hình sự quy định hình phạt tử hình theo xu hướng thu hẹp là một giá trị, phản ánh đúng đắn nhu cầu thực tế của đời sống

xã hội Cụ thể từ 44 tội danh có hình phạt tử hình trong BLHS năm 1985 xuống còn 29 tội danh có hình phạt tử hình trong Bộ luật Hình sự năm 1999, tiếp tục giảm xuống còn 22 tội danh trong lần sửa đổi năm 2009 của BLHS

1999, nay BLHS 2015 chỉ còn quy định 18 tội danh có hình phạt tử hình trong

số 314 tội danh trong Bộ luật Hình sự Sự giảm dần này nằm trong chủ trương, định hướng cải cách tư pháp tại Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và hoàn toàn phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của đất nước trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể

Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lê Nin thì chính điều kiện kinh

tế xã hội của đất nước là nhân tố quyết định đến việc hoạch định chính sách pháp luật và tác động trực tiếp đến ý thức chủ quan của Thẩm phán, Hội Thẩm khi quyết định tử hình hay không tử hình người phạm tội; nghĩa là phải xem xét đến điều kiện kinh tế, môi trường sống cụ thể của họ, họ phạm tội do nghèo đói hay vì động cơ đê hèn…để từ đó ra phán quyết chính xác

+ Ở phương diện quốc tế: Chúng ta đang tham gia tích cực và sâu rộng vào toàn cầu hóa kinh tế và pháp luật, tôn trọng và thực thi các Công ước quốc tế về quyền con người, vì thế chúng ta cần phải đáp ứng các yêu cầu của Luật nhân quyền quốc tế theo những lộ trình phù hợp với điều kiện kinh tế xã

Trang 27

hội của đất nước ta, đây cũng chính là vấn đề đối ngoại Việc giảm dần các tội danh có hình phạt tử hình xuống còn 18 tội danh trong Bộ luật Hình sự 2015 đều có nhân tố quốc tế tác động mặc dù nhân tố kinh tế, xã hội trong nước là quyết định Rồi sẽ đến một thời điểm nhất định khi điều kiện kinh tế xã hội trong nước và quốc tế cho phép, khả năng tự vệ của Nhà nước đảm bảo thì sẽ loại bỏ hình phạt tử hình ra khỏi đời sống xã hội và đời sống pháp luật theo định hướng cải cách tư pháp của Đảng Đây cũng là nhân tố tác động đến nhận thức của Thẩm phán, Hội thẩm khi áp dụng hình phạt tử hình

+ Pháp luật về hình phạt tử hình: Nếu các quy định của pháp luật về hình phạt tử hình thống nhất, đồng bộ, tiên tiến, dễ áp dụng, ít bất cập thì sẽ tác động tích cực đến hoạt động áp dụng hình phạt tử hình, quyền con người được bảo đảm, áp dụng hình phạt tử hình sẽ chính xác Còn nếu pháp luật hình sự về tử hình có nhiều bất cập thì sẽ tác động ngược lại, áp dụng hình phạt tử hình sẽ không chính xác

+ Các nhân tố về địa lý, vùng, miền, trình độ học vấn, văn hóa, liên quan đến người phạm tội cũng là yếu tố tác động đến nhận thức của Hội đồng xét xử Chẳng hạn khi xét xử người phạm tội là dân tộc ít người, kém học vấn, kém văn hóa, nhận thức pháp luật và xã hội lạc hậu…thì sẽ được đánh giá khác so với người phạm tội có nhận thức cao hơn, có học vấn cao hơn, từ

đó sẽ có phán quyết phù hợp

+ Tiêu cực xã hội: Việc chạy án, đưa hối lộ cũng như các tiêu cực khác, các tác động phi vật chất (như không tử hình người phạm tội mà người này có quan hệ thân thiết với người có ảnh hưởng đến đề bạt, bổ nhiệm Thẩm phán…để Thẩm phán đổi lấy lợi ích chính trị) làm cho người có thẩm quyền

áp dụng pháp luật không còn giữ được phẩm chất, đạo đức của Thẩm phán, Hội thẩm dẫn đến thoái hóa, biến chất, bẻ cong công lý, lấy tiền hoặc để được hậu thuẫn chính trị…từ đó không xử tử hình người phạm tội Đây vừa là yếu

tố khách quan nhưng đồng thời cũng gắn liền với yếu tố chủ quan

Trang 28

+ Dư luận xã hội: Đây là một thực tiễn không thể không đề cập HĐXX luôn bị áp lực lớn khi gặp phải những vụ án lớn mà dư luận xã hội đặc biệt quan tâm, giữa việc tử hình hay không tử hình người phạm tội khi đứng trước hai luồng dư luận này là một việc cân não, nhất là những vụ án về tham nhũng, ma túy …rơi vào tình trạng cần cân nhắc kỹ giữa tử hình hay không tử hình cùng với dư luận xã hội theo một trong hai chiều hướng nêu trên Áp lực của quốc tế cũng là yếu tố tác động mạnh đến việc áp dụng hình phạt tử hình của Tòa án

- Về yếu tố chủ quan:

+ Nhận thức, năng lực, trình độ của người có thẩm quyền áp dụng pháp luật: Nếu người có thẩm quyền áp dụng pháp luật có nhận thức cao (gồm nhận thức pháp luật và nhận thức xã hội), có tư duy cao, có trình độ, năng lực chuyên môn vững vàng thì đó là một trong các yếu tố bảo đảm việc áp dụng đúng pháp luật về hình phạt tử hình vào thực tiễn xét xử, ngược lại thì dẫn đến áp dụng không đúng pháp luật về hình phạt tử hình

+ Bản lĩnh nghề nghiệp: Trong hoạt động xét xử, thực tế cho thấy có những Thẩm phán tuy rất giỏi về nghiệp vụ nhưng lại thiếu bản lĩnh nghề nghiệp nên không dám tuyên tử hình người phạm tội (trường hợp đáng phải tử hình) hoặc ngược lại Trường hợp không dám tuyên tử hình người phạm tội thường chiếm tỷ lệ cao hơn, có nhiều Thẩm phán còn có quan niệm rằng thà không tuyên tử hình thì còn đó, còn hơn là tuyên tử hình để rồi trở tay không kịp Điều này sẽ dẫn đến người phạm tội đáng phải tử hình thì lại không được

tử hình, như vậy không đảm bảo lẽ công bằng

1.2 Cơ sở, căn cứ và các nguyên tắc áp dụng hình phạt tử hình:

1.2.1 Cơ sở áp dụng hình phạt tử hình: Đó là sự quy định của pháp

Trang 29

triển gắn liền với điều kiện kinh tế, xã hội cụ thể của đất nước Một chặng đường lịch sử từ lúc chiến tranh cho đến hòa bình, từ chế độ kinh tế bao cấp đến giai đoạn đất nước tiến hành đổi mới, hội nhập quốc tế Có thể chia thành nhiều giai đoạn lập pháp hình phạt tử hình như sau:

* Giai đoạn từ năm 1945 - 30/4/1975:

Đây là giai đoạn lịch sử gắn liền với 9 năm chiến tranh chống Pháp và cuộc chiến tranh chống Mỹ xâm lược, bắt đầu ngay sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời 02/9/1945 Trong giai đoạn này, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật hình sự như Sắc luật, Sắc lệnh, Pháp lệnh, Thông tư…để điều chỉnh các hành vi phạm tội nảy sinh trong đời sống

xã hội, trong đó có quy định về án tử hình, cụ thể:

+ Sắc Lệnh số 33c-SL ngày 13/9/1945 của Chủ tịch Chính phủ quy định thành lập Tòa án quân sự trong đó có quy định về hình phạt tử hình

+ Sắc Lệnh số 163 – SL ngày 23/8/1946 về Tổ chức Tòa án binh lâm thời đặt tại Hà Nội có quy định về hình phạt tử hình

+ Sắc lệnh số 12-SL ngày 12/3/1948 của Chủ tịch chính phủ quy định

tử hình một số trường hợp ăn cắp tài sản quân đội trong thời chiến

+ Sắc Lệnh số 133-SL ngày 20/1/1953 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa về trừng trị bọn Việt gian phản động, trong đó có quy định

về hình phạt tử hình

+ Sắc lệnh số 151/SL ngày 12/4/1953 của Chủ tịch nước trừng trị địa chủ chống pháp luật ở những nơi thực hiện cải cách ruộng đất, trong đó có quy định hình phạt tử hình

+ Thông tư số 422-TTg ngày 19/1/1955 của Thủ Tướng chính phủ về một số tội liên quan đến Cố ý giết người, trong đó có quy định về hình phạt tử hình

+ Pháp lệnh Trừng trị các tội phản cách mạng năm 1967, trong đó có quy định hình phạt tử hình đối với một số tội phạm

Trang 30

Hình phạt tử hình gia đoạn này nặng về trừng trị và đã phát huy tác dụng trong điều kiện thù trong giặc ngoài ta phải đối phó

* Giai đoạn từ sau 30/4/1975 – 1985:

Đây là giai đoạn Miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, một giai đoạn chúng ta vừa tiến hành chiến tranh chống Pôn Pốt ở chiến trường Tây Nam, vừa tiến hành chiến tranh chống Trung quốc ở phía Bắc và

bị bao vây cấm vận bởi các thế lực thù địch do Mỹ cầm đầu

Ngày 27/6/1985 Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

đã thông qua Bộ luật Hình sự đầu tiên của nước ta (BLHS 1985), có hiệu lực

kể từ ngày 01/01/1986 và hết liệu lực lúc 0h ngày 01/7/2000 Đây là bước ngoặt trong hoạt động lập pháp, một Bộ luật Hình sự ra đời trên cơ sở kế thừa những tinh hoa lập pháp trong giai đoạn trước đây, đã thay thế toàn bộ các Sắc lệnh, Thông tư Hình phạt tử hình được quy định tại Điều 27 của Bộ luật Hình sự cùng với 44 điều luật có quy định hình phạt tử hình (qua 4 lần sửa đổi) Trước đó từ 1975-1985 Nhà nước ta vẫn còn áp dụng pháp luật của giai đoạn trước để điều chỉnh các hành vi phạm tội

* Giai đoạn từ năm 1986-1999:

Đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, điều kiện kinh tế, xã hội Việt Nam

đã có nhiều thay đổi và hòa nhập rộng rãi vào các quan hệ quốc tế Giai đoạn này Bộ luật Hình sự 1985 đã phát huy hiệu quả và đến năm 1999 nhiều quy định không còn phù hợp với điều kiện mới Do đó ngày 21/12/1999 Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ 6 đã thông qua Bộ luật Hình sự mới gọi tắt là BLHS năm 1999 BLHS năm 1999 quy định hình phạt tử hình tại Điều 35 cùng với việc quy định 29 điều luật có hình phạt tử hình (sau khi đã sửa đổi bổ sung năm 2009 rút xuống còn 22 điều luật

có quy định hình phạt tử hình) đã đánh dấu một bước tiến mới trong điều kiện đất nước đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và thành tựu về đối ngoại, hội nhập quốc tế; thể hiện chính sách

Trang 31

hình sự nhân đạo, khoan dung hơn qua việc mở rộng phạm vi không áp dụng hình phạt tử hình

* Giai đoạn từ năm 2000-2015:

Đây là giai đoạn thi hành BLHS năm 1999, tuy nhiên sau 15 năm, BLHS năm 1999 có nhiều quy định không còn phù hợp với hoàn cảnh mới của đất nước, nền kinh tế của chúng ta đã phát triển vượt bậc, đã tham gia tích cực và sâu rộng vào toàn cầu hóa kinh tế và pháp luật, cần phải có BLHS mới thay thế Ngày 27/11/2015, Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa 13 đã thông qua BLHS số 100/2015/QH13 (BLHS 2015) và Nghị quyết số 109/2015/QH13 về việc thi hành BLHS 2015 Do có một số sai sót

về kỹ thuật lập pháp nên ngày 20/6/2017 Quốc hội đã thông qua Luật số 12/2017/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS số 100/2015/QH13 và thông qua Nghị quyết số 41/2017/QH14 để thi hành BLHS 2015 và các đạo luật khác có liên quan; theo đó BLHS 2015 được sửa đổi, bổ sung 2017 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018

BLHS 2015 ra đời là một bước ngoặt mới, một thành tựu mới, chứng minh khả năng lập pháp tiên tiến của Quốc hội Việt Nam, hình phạt tử hình được quy định tại Điều 40 Việc quy định hình phạt tử hình tại Điều 40 BLHS

và áp dụng chỉ còn cho 18 tội danh thể hiện tinh thần nhân đạo sâu sắc, sự xích lại và rút ngắn khoảng cách đối với các yêu cầu cụ thể của Luật nhân quyền quốc tế, một xu hướng tiến tới loại bỏ hình phạt tử hình

- Quy định về hình phạt tử hình trong BLHS năm 2015

+ Sau 25 năm thi hành, BLHS năm 1999 không còn phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của Việt Nam Chúng ta đã bước sang một giai đoạn mới, nền kinh tế đã cất cánh và có bước nhảy vọt về chất, nền kinh tế công nghệ số

đã lên ngôi, các nhu cầu về văn hóa, xã hội tăng lên tương ứng với nền kinh

tế, sự hòa nhập rất sâu rộng của Việt Nam vào các diễn đàn quốc tế, uy tín, vị trí trong quan hệ đối ngoại của Việt Nam đã vươn lên một tầm cao mới Từ

Trang 32

điều kiện kinh tế xã hội trong nước và điều kiện quốc tế đã nảy sinh nhiều quan hệ xã hội làm cho BLHS năm 1999 không điều chỉnh kịp thời, không theo kịp với sự vận động khách quan của tồn tại xã hội, đến lúc phải có một đạo luật mới, thay thế BLHS năm 1999 Trong bối cảnh đó, ngày 27/11/2015, Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa 13 đã thông qua BLHS số 100/2015/QH13 và có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2018

+ BLHS năm 2015 ra đời khẳng định tiếp tục thể chế hóa chủ trương áp dụng hình phạt tử hình theo Nghị quyết của Đảng về cải cách tư pháp, đặc biệt là Nghị quyết số 49 của Bộ Chính trị và đã thể chế hóa tinh thần nội dung quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền sống của con người, theo đó tử hình được quy định tại Điều 40 BLHS

“1 Tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng thuộc một trong nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng con người, các tội phạm về ma túy, tham nhũng và một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác do Bộ luật này quy định

2 Không áp dụng hình phạt tử hình đối với người dưới 18 tuổi khi phạm tội, phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi hoặc người đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử

3 Không thi hành án tử hình đối với người bị kết án nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi;

b) Người đủ 75 tuổi trở lên;

c) Người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối

lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra,

xử lý tội phạm hoặc lập công lớn

4 Trong trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này hoặc trường hợp người bị kết án tử hình được ân giảm, thì hình phạt tử hình được chuyển

Trang 33

thành tù chung thân.”

So với điều 35 BLHS năm 1999 thì các trường hợp được áp dụng hình phạt tử hình trong điều 40 BLHS năm 2015 là các trường hợp mà người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng được giới hạn ở một trong các nhóm tội phạm quy định tại khoản 1 điều này Điều luật đã giới hạn một cách cụ thể các trường hợp được áp dụng hình phạt tử hình Ngoài ra điều luật mở rộng thêm các trường hợp không áp dụng hình phạt tử hình đối với người từ đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử Điều luật bổ sung các trường hợp được loại trừ thi hành án tử hình đối với người đủ 75 tuổi trở lên, người bị kết án về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ nếu họ đáp ứng được các điều kiện do điều luật này quy định So với quy định tại điều 35 BLHS 1999 thì các trường hợp không áp dụng hình phạt tử hình và các trường hợp không thi hành án tử hình được quy định tại Điều 40 BLHS năm 2015 được mở rộng hơn; Đây là quy định vừa mang tính nhân đạo, khoan dung sâu sắc, góp phần hạn chế án tử hình trên thực tế, vừa tạo cơ chế khuyến khích Nhà nước thu hồi tài sản bị tham nhũng

Quy định tại Điều 40 BLHS cho thấy Nhà nước đã xác định rõ tử hình

là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng thuộc một trong các nhóm tội xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng con người, các tội phạm về ma túy, tham nhũng và một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác do Bộ luật này quy định; các đối tượng loại trừ thi hành án tử hình được bổ sung rất nhiều

+ Về phần các tội phạm, BLHS năm 2015 đã loại bỏ tử hình ở 8 tội danh: “(1) Cướp tài sản (Điều 168); (2) Sản xuất, buôn bán hàng cấm là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm (Điều 193); (3) Tàng trữ trái phép chất

ma túy (Điều 249); (4) Chiếm đoạt chất ma túy (Điều 252); (5) Phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia; (6) Chống mệnh lệnh (Điều 394); (7) Đầu hàng địch (Điều 399); (8) Hoạt động phỉ (do BLHS

Trang 34

đã bỏ tội danh này) Như vậy BLHS năm 2015 vẫn còn duy trì hình phạt tử hình đối với 18 tội danh7 trong số 314 tội danh được quy định trong BLHS năm 2015 Điều này đồng nghĩa với việc các trường hợp được áp dụng hình phạt tử hình trong các tội danh cụ thể được giảm đáng kể

So sánh với chế định pháp lý về hình phạt tử hình được quy định trong các Đạo luật hình sự, các Văn bản quy phạm pháp luật hình sự trước đây thì hình phạt tử hình trong BLHS năm 2015 tiếp tục giảm xuống, các trường hợp được áp dụng hình phạt tử hình được giảm xuống và giới hạn cụ thể, các trường hợp không áp dụng hình phạt tử hình và không thi hành án tử hình được mở rộng, hình phạt tử hình chỉ được áp dụng đối với những hành vi đặc biệt nguy hiểm mà nhu cầu của xã hội chưa thể loại bỏ Rõ ràng chưa bao giờ Đảng, Nhà nước ta trong đường lối, chủ trương và pháp luật lại đề cao quyền sống của con người đến thế, là một thành tựu có tính bước ngoặt mới để tiến tới loại bỏ hoàn toàn án tử hình ra khỏi hệ thống các hình phạt trong pháp luật hình sự Việt Nam, cân bằng, đáp ứng các yêu cầu cụ thể của Luật nhân quyền quốc tế

- Cơ sở áp dụng hình phạt tử hình:

Hình phạt tử hình được Tòa án áp dụng đối với người phạm tội xuất phát từ nền tảng pháp lý là sự quy định của BLHS về trách nhiệm hình sự

Theo quy định tại Điều 2 BLHS năm 2015, thì “Chỉ người nào phạm một tội

đã được Bộ luật Hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự” Như

vậy Tòa án muốn áp dụng hình phạt tử hình đối với người phạm tội thì người

đó phải phạm một tội mà điều luật tương ứng có quy định hình phạt tử hình

7 Điều 108 Tội phản bội tổ quốc, Điều 110 Tội gián điệp, Điều 112 tội bạo loạn, điều 113 tội khủng bố nhăm chống chính quyền nhân dân, Điều 114 Tội phá hoại cơ sở vật chất kinh tế của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Điều 123 Tội giết người, Điều 142 Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, Điều 194 tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh, Điều 248 Tội sản xuất trái phép chất ma túy, Điều

250 Tội vận chuyển trái phép chất ma túy, Điều 251 Tội mua bán trái phép chất ma túy, Điều 299 Tội khủng

bố, Điều 353 Tội tham ô tài sản, Điều 354 tội nhận hối lộ, Điều 386 tội đánh tráo người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, người đang bị áp giải xét xử, chấp hành hình phạt tù, Điều 421 Tội phá hoại hòa hình, gây chiến tranh xâm lược, Điều 422 Tội chống loài người, Điều 423 Tội phạm chiến tranh

Trang 35

Đây là một quy định loại bỏ hoàn toàn sự tùy tiện của các chủ thể có thẩm quyền áp dụng hình phạt tử hình Vì vậy mọi hành vi của người có thẩm quyền áp dụng pháp luật làm trái với Điều 2 BLHS đều bị coi là ra bản án trái pháp luật

1.2.1.2 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về chủ thể có thẩm quyền

áp dụng hình phạt tử hình

Việc áp dụng các quy định về tử hình là một quy trình tố tụng đặc biệt

và chặt chẽ được Hội đồng xét xử áp dụng trong quá trình xét xử và kết thúc bằng bản án hình sự có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân danh Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố bị cáo phạm tội và tuyên án tử hình

Do đó theo cách tiếp cận này thì chủ thể có thẩm quyền áp dụng hình phạt tử hình chỉ là Hội đồng xét xử (bao gồm Thẩm phán và Hội thẩm được giới hạn phạm vi nghiên cứu ở cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm)

Việc quyết định bị cáo có tội hay không, có bị tử hình hay không phải

do Hội đồng xét xử của Tòa án có thẩm quyền quyết định Vì vậy luận văn đi sâu phân tích chủ thể có thẩm quyền áp dụng hình phạt tử hình do BLTTHS quy định là Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm, bao gồm Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Hội thẩm quân nhân

Theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 34 BLTTHS thì Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án, Thẩm tra viên là những người tiến hành tố tụng; nhưng chủ thể áp dụng hình phạt tử hình phải là Hội đồng xét xử bao gồm Thẩm phán TAND cấp tỉnh, TAQS cấp quân khu trở lên (Chánh án, Phó Chánh án đương nhiên phải là Thẩm phán), Hội thẩm nhân dân và Hội thẩm quân nhân cùng cấp (họ tham gia xét xử theo nguyên tắc

“Thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm tham gia” quy định tại Điều 22

BLTTHS) Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật (Điều 23 BLTTHS)

Trang 36

- Đối với Hội đồng xét xử sơ thẩm

Theo quy định tại Điều 254 BLTTHS: Đối với vụ án có bị cáo về tội

mà Bộ luật hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt là tù chung thân, tử hình thì Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm ba Thẩm phán

Bản án tử hình của Hội đồng xét xử sơ thẩm có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo luật định Khi có kháng cáo, kháng nghị thì bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật, bản án không được thi hành Trong trường hợp sau khi xét

xử sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị thì bản án sơ thẩm có hiệu lực thi hành, nhưng để thi hành được thì phải qua một số thủ tục về thi hành án tử hình được quy định tại Điều 367 BLTTHS

- Đối với Hội đồng xét xử phúc thẩm

Theo quy định tại Điều 254 BLTTHS thì Hội đồng xét xử phúc thẩm không có Hội thẩm mà chỉ có 3 Thẩm phán Tính chất của xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên trực tiếp (tức là Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án quân sự trung ương) xét xử lại vụ án mà bản án sơ thẩm đối với vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị Nguyên tắc xử của cấp phúc thẩm

là Hội đồng xét xử chỉ xem xét trong phạm vị kháng cáo, kháng nghị, không được làm xấu hơn tình trạng của bị cáo nhưng có quyền xét xử theo hướng nhẹ hơn Ví dụ bị cáo bị xử tù chung thân, kháng cáo xin giảm án, Hôi đồng xét xử phúc thẩm xem xét có giảm hay không, không được xử tử hình bị cáo nếu không có kháng cáo của người bị hại hoặc kháng nghị của Viện kiểm sát đề nghị tăng hình phạt lên tử hình Tuy nhiên mặc dù không có kháng cáo, kháng nghị theo hướng tăng hình phạt lên tử hình, nhưng nếu thấy trường hợp này đáng tử hình thì Hội đồng xét xử có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao xem xét lại theo thủ tục đặc biệt (giám đốc thẩm) Bản án phúc thẩm tuyên có hiệu lực pháp luật ngay, nhưng để thi hành án được thì phải qua một số thủ tục về thi hành án tử hình quy định tại Điều 367 BLTTHS

Trang 37

Có quan điểm cho rằng các chủ thể tại Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát cũng là các chủ thể áp dụng hình phạt tử hình; nhưng theo quan điểm của tác giả thì các chủ thể này chỉ làm nhiệm vụ khởi tố, điều tra, truy tố bị can về tội danh có khung hình phạt cao nhất là tử hình chứ họ không có quyền định đoạt quyền sống của bị cáo, tức là họ không có quyền quyết định tử hình hay không tử hình bị cáo Tại phiên tòa, kiểm sát viên có quyền đề nghị mức án đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xem xét và quyết định bằng bản án

Như vậy để ban hành bản án tử hình người phạm tội, chủ thể áp dụng hình phạt tử hình cần phải căn cứ vào Điều 50 BLHS; có thể được phân thành 4 căn cứ sau đây:

- Thứ nhất: Phải căn cứ vào hành vi phạm tội của bị cáo Hành vi phạm tội của bị cáo phải là hành vi phạm vào tội đặc biệt nghiêm trọng, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng cho xã hội do một người có đủ khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi gây ra trên thực tế; hành vi phạm tội đó phải đáp ứng đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm cụ thể được quy định trong phần các tội phạm của BLHS; hành vi phạm tội đó phải tương ứng với điều luật và khung hình phạt có quy định hình phạt tử hình

Đây là căn cứ đầu tiên và có tính chất chi phối đến quá trình và kết quả giải quyết vụ án, bị cáo có bị tử hình hay không hoàn toàn phụ thuộc vào hành

vi phạm tội của bị cáo và hậu quả do bị cáo gây ra

- Thứ hai: Hội đồng xét xử phải căn cứ vào pháp luật thực định được

Trang 38

quy định tại Điều 40 BLHS (quy định về hình phạt tử hình), các tội danh trong các điều luật cụ thể có quy định hình phạt tử hình trong phần các tội phạm của BLHS mà người phạm tội vi phạm để đối chiếu hành vi phạm tội với tội danh và khung hình phạt mà người phạm tội phạm vào, làm cơ sở cho việc quyết định hình phạt

- Thứ ba: Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tử hình không chỉ căn cứ vào Điều 40 BLHS và các điều luật cụ thể quy định các tội danh có hình phạt

tử hình mà còn phải căn cứ vào nhân thân của người phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để đánh giá một cách toàn diện về

vụ án Ví dụ: Người thực hiện hành vi phạm tội có tiền án (tái phạm, tái phạm nguy hiểm) hay không…Đây là một căn cứ hết sức nhạy cảm Trong nhiều trường hợp bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ thì Hội đồng xét xử không tuyên án tử hình mà có thể áp dụng hình phạt tù chung thân hoặc mức cao nhất của tù có thời hạn Vì vậy việc đánh giá, cân nhắc về nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là hoạt động hết sức tư duy, thận trọng của Hội đồng xét xử Trong thực tiễn xét

xử, Hội đồng xét xử đôi khi lạm dụng căn cứ này để loại trừ hình phạt tử hình cho bị cáo với nhiều lý do khác nhau

- Thứ tư: Hội đồng xét xử phải căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền được quy định trong BLTTHS để thực hiện các hoạt động xét xử đối với người thực hiện hành vi phạm tội có quy định hình phạt tử hình theo quy trình đặc biệt và chặt chẽ Đây là một thủ tục bắt buộc và có tính nguyên tắc, nếu vi phạm có thể dẫn đến bản án bị hủy do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng Chẳng hạn như: Thành phần Hội đồng xét xử phải đúng quy định, Thẩm phán sơ cấp không thể tham gia Hội đồng xét xử cấp tỉnh, hay như Hội đồng xét xử tham gia xét xử ở cấp sơ thẩm bị cấp phúc thẩm hủy bản án thì khi xét

xử lại họ không được tham gia Hội đồng xét xử vụ án này…

Trang 39

xã hội nên nó có các nguyên tắc đặc thù, đặc biệt mà việc áp dụng các hình phạt khác không có, điều này được ghi nhận tại Điều 40 BLHS

- Thứ nhất: Nguyên tắc nhận đạo, tôn trọng quyền con người

Trong quan điểm, đường lối lãnh đạo của Đảng ta cũng như Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và pháp luật hình sự Việt Nam đều đề cao tính nhân đạo, tôn trọng quyền con người đối với người phạm tội; điều này thể hiện rõ trong Hiến pháp năm 2013 ghi nhận quyền con người tại Chương 2 chỉ sau chương Chế độ chính trị

Chính sách nhân đạo, tôn trọng quyền con người của Đảng, Nhà nước

ta hoàn toàn phù hợp với xu hướng tiến bộ của nhân loại, phù hợp với Luật nhân quyền quốc tế Do vậy trong quá trình xét xử và áp dụng hình phạt tử hình đối với người phạm tội; HĐXX phải đảm bảo cho người bị kết án được đối xử nhân đạo, tôn trọng họ mặc dù họ sắp đối mặt với cái chết, đó cũng chính là sự đối xử công bằng

- Thứ hai: Nguyên tắc xử lý công minh, theo đúng pháp luật

Nguyên tắc này quy định HĐXX phải công tâm, người phạm tội đáng phải tử hình thì áp dụng hình phạt tử hình; không vì bất cứ lý do gì mà loại bỏ hình phạt tử hình đối với kẻ phạm tội ác tày trời

- Thứ ba: Nguyên tắc mọi người phạm tội đều hình đẳng trước pháp luật

Có thể nói đây là nguyên tắc được đánh giá rất cao trên bình diện quốc

tế Ở Việt Nam án tử hình được áp dụng đối với bất kì ai, không kể họ là nam

Trang 40

hay nữ, dân tộc, tôn giáo hay địa vị xã hội (trừ trường hợp do luật định)

- Thứ tư: Nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự

Trong một vụ án đồng phạm gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng phải áp dụng hình phạt tử hình (Ví dụ: tôi Giết người, gây hậu quả chết người, giết người man rợ…) thì việc áp dụng hình phạt tử hình cần phải được hướng tới

kẻ chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, tái phạm nguy hiểm…các đối tượng khác cần được xem xét áp dụng hình phạt nhẹ hơn nhằm đảm bảo sự công bằng khi phân hóa trách nhiệm hình sự

- Thứ năm: Nguyên tắc không áp dụng hình phạt tử hình đối với người dưới 18 tuổi khi phạm tội

Đây là một nguyên tắc thể hiện chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội Bởi lẽ ở tuổi dưới 18 nhận thức xã hội và nhận thức pháp luật của họ còn hạn chế hơn so với người đủ 18 tuổi, việc áp dụng hình phạt

tù đối với họ cũng cần được hạn chế, chủ yếu là các biện pháp giáo dục, giúp

đỡ khi xử lý hành vi phạm tội của họ Nguyên tắc này hiện nay được áp dụng hầu hết đối với các nước trên thế giới đang duy trì hình phạt tử hình trong pháp luật hình sự

- Thứ sáu: Nguyên tắc không áp dụng hình phạt tử hình đối với phụ nữ

có thai, phụ nữ nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi xét xử

Đây chính là nguyên tắc nhân đạo xuất phát từ quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách hình sự nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta đối với phụ nữ Phụ nữ Việt Nam không chỉ được bình đẳng với nam giới trong mọi lĩnh vực mà khi phạm tội hoặc khi xét xử nếu họ mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi thì HĐXX phải loại trừ hình phạt tử hình đối với họ Có thể nói đây là quyền con người đặc biệt mà pháp luật hình sự giành cho họ

- Thứ bảy: Nguyên tắc không áp dụng hình phạt tử hình đối với người

đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử

Cũng như đối với phụ nữ có thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi

Ngày đăng: 30/03/2022, 17:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Ngọc Anh (2007), Hoàn thiện pháp luật về đặc xá, sách chuyên khảo, NXB Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật về đặc xá
Tác giả: Nguyễn Ngọc Anh
Nhà XB: NXB Tư pháp
Năm: 2007
2. Lê Văn Cảm (2015), Sửa đổi các quy định về hình phạt tử hình trong pháp luật hình sự Việt Nam, trang 187 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sửa đổi các quy định về hình phạt tử hình trong pháp luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Lê Văn Cảm
Năm: 2015
2. Vũ Công Giao, Những tranh luận chủ yếu về hình phạt tử hình trên thế giớ”, trang 58-83 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những tranh luận chủ yếu về hình phạt tử hình trên thế giớ
4. Trương Thị Hồng Hà, Hình phạt tử hình và yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay, trang 156-170 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình phạt tử hình và yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay
5. Trương Hồ Hải, Giảm hình phạt tử hình trong dự thảo BLHS sửa đổi, từ góc nhìn của công chúng và chuyên gia, trang 110-136 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giảm hình phạt tử hình trong dự thảo BLHS sửa đổi, từ góc nhìn của công chúng và chuyên gia
6. Nguyễn Văn Hoàn, Chính sách pháp luật của Việt Nam về hình phạt tử hình, trang 171-186 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách pháp luật của Việt Nam về hình phạt tử hình
7. Hội Luật gia Việt Nam “Hình phạt tử hình trong luật quốc tế”, sách tham Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình phạt tử hình trong luật quốc tế
18. Võ Thị Kim Oanh (chủ biên) (2010), Bảo đảm quyền con người trong tư pháp hình sự Việt Nam, sách chuyên khảo, NXB Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo đảm quyền con người trong tư pháp hình sự Việt Nam
Tác giả: Võ Thị Kim Oanh (chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2010
20. Quốc hội, BLHS 1985 21. Quốc hội, BLHS 1999 22. Quốc hội, BLHS 2015 23. Quốc hội, BLTTHS 1988 24. Quốc hội, BLTTHS 2003 25. Quốc hội, BLTTHS 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: BLHS 1985" 21. Quốc hội, "BLHS 1999" 22. Quốc hội, "BLHS 2015" 23. Quốc hội, "BLTTHS 1988" 24. Quốc hội, "BLTTHS 2003" 25. Quốc hội
28. Quyền sống và hình phạt tử hình (Sách tham khảo), Viện chính sách công và pháp luật, liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia sự thật năm 2015 với các bài viết Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viện chính sách công và pháp luật, liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia sự thật năm 2015 với các bài viết
29. Rogen Hood, Hình phạt tử hình và nhân quyền, trang 84-109 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình phạt tử hình và nhân quyền
30. Vũ Thị Thúy (2010), Hình phạt tử hình trong luật Hình sự Việt Nam, sách chuyên khảo, NXB Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình phạt tử hình trong luật Hình sự Việt Nam
Tác giả: Vũ Thị Thúy
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh 2010
Năm: 2010
31. Trịnh Quốc Toản, Hình phạt tử hình trong Luật Hình sự Việt Nam, một số kiến nghị hoàn thiện, trang 137-155 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình phạt tử hình trong Luật Hình sự Việt Nam, một số kiến nghị hoàn thiện
32. Trịnh Quốc Toản (2015), Nghiên cứu hình phạt trong luật hình sự Việt Nam, dưới góc độ bảo vệ quyền con người, sách chuyên khảo, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hình phạt trong luật hình sự Việt Nam, dưới góc độ bảo vệ quyền con người, sách chuyên khảo
Tác giả: Trịnh Quốc Toản
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2015
33. Trung tâm nghiên cứu quyền con người, quyền công dân, Đại học quốc gia Hà Nội - Khoa Luật (2009), Những điều cần biết về hình phạt tử hình, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điều cần biết về hình phạt tử hình
Tác giả: Trung tâm nghiên cứu quyền con người, quyền công dân, Đại học quốc gia Hà Nội - Khoa Luật
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2009
35. Đào Trí Úc, Vũ Công Giao, Quyền sống trong luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, trang 11-42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền sống trong luật quốc tế và pháp luật Việt Nam
3. Chính phủ, Nghị định 82/2011/NĐ-CP ngày 16/9/2011 quy định về Thi hành án Tử hình bằng hình thức tiêm thuốc độc Khác
4. Chính phủ, Nghị định 47/2013/NĐ-CP ngày 13/5/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 82/2011về Thi hành án Tử hình bằng hình thức tiêm thuốc độc Khác
5. Chính phủ, Nghị định 43/2020/NĐ-CP ngày 08/4/2020 quy định về Thi hành án Tử hình bằng hình thức tiêm thuốc độc Khác
6. Công ước quốc tế về quyền dân sự, quyền chính trị - 1966 7. Công ước về quyền trẻ em năm 1999 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w