tiêu thụ hết; mức xử lý vi phạm còn chưa phù hợp với quy mô của cơ sở.Ngoài tình trạng chồng chéo và thiếu thống nhất, vấn đề quan trọng là hiệuquả quản lý thấp, không đi vào cuộc sống.T
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐINH THÀNH TRUNG
BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG LĨNH VỰC AN TOÀN THỰC PHẨM THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
HÀ NỘI, năm 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐINH THÀNH TRUNG
BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG
TRONG LĨNH VỰC AN TOÀN THỰC PHẨM THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 8.38.01.07
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS DƯƠNG QUỲNH HOA
HÀ NỘI, năm 2019
Trang 3Những lời cảm ơn sau cùng xin dành cho bạn bè và người thân tronggia đình đã tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Tác giả luận văn
Đinh Thành Trung
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của tôi có sự hỗtrợ và hướng dẫn từ Cô hướng dẫn Các kết quả nêu trong Luận văn do tôinghiên cứu chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Trong quátrình làm tác giả có tham khảo các tài liệu liên quan nhằm khẳng định thêm sựtin cậy và cấp thiết của đề tài, việc tham khảo các nguồn tài liệu, các số liệu,
ví dụ đã được thực hiện trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tincậy, trung thực và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định
Tác giả
Đinh Thành Trung
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG LĨNH VỰC AN TOÀN THỰC PHẨM 8
1.1 Khái quát về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm 8
1.1.1 Khái niệm bảo vệ người tiêu dùng 8
1.1.2 Khái niệm an toàn vệ sinh thực phẩm 9
1.1.3 Khái niệm, đặc điểm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm 12 2
1.1.4 Vai trò của bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm trong đời sống xã hội 15 5
1.1.5 Các yếu tố tác động đến việc bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm 17 7
1.2 Pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm 221
1.2.1 Khái niệm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm 21
1.2.2 Nội dung pháp luật bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm 22
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG LĨNH VỰC
AN TOÀN THỰC PHẨM TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 30
2.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội của Thành phố Hồ Chí Minh liên quan đến bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm 30 2.2 Quyền và nghĩa vụ của người tiêu dùng thực phẩm 31 1
2.3 Nghĩa vụ và trách nhiệm của nhà sản xuất, kinh doanh thực phẩm 35 5
Trang 62.3.1 Trách nhiệm chung của nhà sản xuất, kinh doanh thực phẩm đối với người tiêu dùng thực phẩm 35 5
2.3.2 Quy định trách nhiệm thu hồi hàng hoá có khuyết tật và bồi thường thiệt
hại do hàng hoá có khuyết tật gây ra 37
2.4 Các hành vi bị cấm trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng về an toàn thực phẩm 40 0 2.5 Giải quyết tranh chấp với người tiêu dùng 44
2.6 Chế tài xử phạt hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm 46
2.6.1 Chế tài dân sự 47
2.6.2 Chế tài hành chính 47
2.6.3 Chế tài hình sự 48
2.7 Thiết chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thực phẩm 49
2.7.1 Cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thực phẩm 49
2.7.2 Tổ chức xã hội về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thực phẩm 49
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG LĨNH VỰC AN TOÀN THỰC PHẨM 52
3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm 52
3 1.1 Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng; phát huy vai trò tiên phong, giám sát của chi bộ, đảng viên trong công tác bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm . 52
3.1.2 Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, tổ chức bộ máy chuyên trách, nâng cao năng lực thực thi pháp luật, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm . 53
Trang 73.1.3 Đẩy mạnh xã hội hóa, nâng cao vai trò, trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và tổ chức xã hội trong công tác
bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 54
3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm 54
3.2.1 Giải pháp hoàn thiện quyền và nghĩa vụ của người tiêu dùng 54
3.2.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và trách nhiệm của nhà sản xuất, kinh doanh thực phẩm 55
3.2.3 Giải pháp hoàn thiện phương thức giải quyết tranh chấp với người tiêu dùng 56
3.2.4 Giải pháp hoàn thiện chế tài xử phạt hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm 57
3.2.5 Giải pháp hoàn thiện thiết chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thực phẩm 58
3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm 58
3.3.1 Giải pháp từ phía Nhà nước 58
3.3.2 Giải pháp từ phía các cơ quan tổ chức 61
3.3.3 Giải pháp từ phía các doanh nghiệp 64
3.3.4 Giải pháp từ phía người tiêu dùng 65
KẾT LUẬN 70 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8Luật số 59/2010/QH12 của Quốc hội - Luật Bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng
Nghị định
99/2011/NĐ-CP
Nghị định số 99/2011/NĐ-CP ngày 27-10-2011quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một sốđiều của Luật Bảo vệ quyền lợi của người tiêudùng
WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại
thế giới
WHO World Health Organization Tổ chức Y tế Thế giới
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
An toàn thực phẩm (ATTP) là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt đốivới sức khỏe của mỗi cá nhân và cộng đồng ATTP có tác động đến sức khỏecủa người dân và làm ảnh hưởng đến phát triển du lịch, thương mại, kinh tế
và an sinh xã hội Vấn đề này được xem như một nguy cơ, thách thức lớntrong tình hình hiện nay
Trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh những năm qua, việc triển khaithi hành pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thựcphẩm đã được lãnh đạo các cấp, các ngành đặc biệt quan tâm, coi trọng Các
sở, ban ngành có liên quan đã có nhiều nỗ lực, cố gắng trong thực hiện chứcnăng quản lý nhà nước về ATTP Điển hình là đã thành lập và kiện toàn BanChỉ đạo đảm bảo ATTP; trung bình mỗi năm tổ chức hơn 400 đoàn kiểm traliên ngành, liên tuyến thanh tra, kiểm tra chất lượng ATTP cho hơn 5.500 cơ
sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm, từng bước chấn chỉnh, khắc phục và xử lýcác sai phạm của người sản xuất, tiểu thương… Tuy nhiên, tình hình mất vệsinh, ATTP có thời điểm vẫn còn diễn biến phức tạp Tình trạng sử dụng tùytiện kháng sinh, hóa chất trong nuôi trồng; dư lượng kháng sinh, chất tăngtrưởng tồn dư trong thực phẩm, hoá chất bảo vệ thực vật trong sản xuất tráicây, rau quả vẫn là vấn đề nhức nhối cho các nhà quản lý, bất an cho ngườitiêu dùng Việc sử dụng chất cấm trong chăn nuôi gia súc, gia cầm còn xảy rakhá phổ biến Các cơ sở sản xuất rau, thịt sử dụng nguyên liệu, nguồn nướckhông đảm bảo vệ sinh an toàn; một số địa điểm kinh doanh thực phẩm tươisống chưa được cấp giấy chứng nhận vệ sinh ATTP; một số cơ sở giết mổ giasúc, gia cầm không có giấy chứng nhận vệ sinh thú y gây ảnh hưởng tới sứckhỏe và quyền lợi của người tiêu dùng… Ý thức của một số người sản xuất,kinh doanh thực phẩm còn thấp, người tiêu dùng tiêu thụ thực phẩm theo thói
Trang 10quen… đã gây khó khăn cho công tác thực thi pháp luật bảo về người tiêudùng trong lĩnh vực ATTP Theo thống kê, từ 2013 đến nay đã xảy ra 17 vụvới 266 trường hợp bị ngộ độc thực phẩm, có 01 người chết Kết quả kiểm trahằng năm cho thấy số cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm có vi phạm vềATTP còn cao (3.412/28.124 lượt cơ sở) [4].
Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên chính là từ sự bấtcập của các văn bản pháp luật trong lĩnh vực này Mặc dù đã được Quốc hộithông qua Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010; Luật An toàn thựcphẩm 2010; Nghị định 38/2012/NĐ - CP, ban hành 25 tháng 04 năm 2012 quyđịnh chi tiết một số điều của Luật An toàn thực phẩm; Nghị định91/2012/NĐ-CP, ban hành ngày 08 tháng 11 năm 2012 quy định xử phạt hànhchính về ATTP cùng nhiều văn bản khác như Luật Chất lượng sản phẩm,hàng hóa; Luật Tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; sửa đổi, bổ sung một số điều
về vi phạm ATTP trong Bộ luật hình sự … cùng hệ thống cơ quan quản lýnhà nước về ATTP được hình thành từ trung ương đến cơ sở Song khả năng
áp dụng còn hạn chế, nội dung điều chỉnh chưa thực sự phù hợp với quan hệ
xã hội đang tồn tại
Hệ thống các quy phạm pháp luật còn có tình trạng nội dung một sốđiểm còn chưa rõ, chồng chéo, không phân định rõ trách nhiệm quản lý giữacác bộ, ngành; còn những thiếu sót, chưa phủ hết các lĩnh vực, có khoảngtrống giữa các khâu trong trách nhiệm quản lý Một số lĩnh vực mới phát sinhchưa được hướng dẫn quản lý cụ thể, chi tiết nên địa phương rất khó thựchiện Bên cạnh đó, có những quy định không phù hợp với thực tế như: hiệntuyến xã không thể nào có đủ cán bộ chuyên môn để thực hiện việc khám sứckhỏe, thẩm định cơ sở, cấp giấy phép theo quy định; những thử nghiệm chokết quả ngay thì không đủ cơ sở pháp lý để xử phạt và xử lý ngay, nhằm tránhngộ độc thực phẩm xảy ra, còn chờ kết quả chính thức thì thực phẩm đã được
Trang 11tiêu thụ hết; mức xử lý vi phạm còn chưa phù hợp với quy mô của cơ sở.Ngoài tình trạng chồng chéo và thiếu thống nhất, vấn đề quan trọng là hiệuquả quản lý thấp, không đi vào cuộc sống.
Thực trạng trên cho thấy, việc nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện
cả về cơ sở lý luận và thực tiễn pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùngtrong lĩnh vực ATTP dưới góc độ Luật Kinh tế nhằm đánh giá những ưuđiểm, hạn chế, vướng mắc, đồng thời đưa ra các giải pháp góp phần nâng caohơn nữa hiệu lực, hiệu quả pháp luật bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vựcATTP là rất cần thiết và khách quan, đáp ứng yêu cầu bảo vệ, chăm sóc vànâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới Vì vậy, tác giả chọn nghiêncứu đề tài: “Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thựcphẩm theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh”làm đề tài nghiên cứu Luận văn thạc sĩ luật học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu Pháp luật vềbảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nhưng nhìn chung, những công trình được
đề cập trên đã tập trung nghiên cứu một số quy định cũng như việc tổ chứcthực hiện pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng và pháp luật về ATTP, phântích, làm rõ những hạn chế, bất cập trong thực thi pháp luật về hai lĩnh vựctrên Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình khỏe học nào đi sâu nghiêncứu một cách cơ bản và có hệ thống pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng tronglĩnh vực ATTP từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh
Công tác bảo đảm quyền lời người tiêu dùng trong lĩnh vực ATTP tuyđóng vai trò rất quan trọng, song pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêudùng trong lĩnh vực ATTP ở nước ta mới chỉ được quan tâm đúng mức và bắtđầu có một số nghiên cứu quy mô trong thời gian gần đây, được thể hiện
Trang 12trong nhiều công trình khỏe học công bố trên sách, báo, tạp chí chuyên ngành
và các Luận văn Thạc sỹ, Luận án Tiến sỹ
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích như trên, luận văn phải làm rõ những nhiệm vụ
cụ thể sau:
- Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lí luận pháp luật về bảo vệ ngườitiêu dùng trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm; như: những vấn đề lýluận khái quát về bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm vàkhái quát về pháp luật bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thựcphẩm
- Đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành về bảo vệ người tiêudùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm;
- Đánh giá việc thực hiện, bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực vệsinh an toàn thực phẩm trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh; nêu lên nhữnghạn chế, bất cập và nguyên nhân của nó
- Làm sáng tỏ các luận cứ khoa học cho các giải pháp nhằm góp phầnhoàn thiện pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực vệ sinh an toànthực phẩm và nâng cao hiệu quả thực thi trên thực tế
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 134.1 Đối tượng nghiên cứu
- Luận văn đặt vào mục tiêu tìm hiểu về việc thực thi pháp luật bảo vệngười tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm trên địa bàn thành phố HồChí Minh
- Cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thi hành vàchịu sự điều chỉnh bởi pháp luật bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toànthực phẩm trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu trên địa bàn thành phố
Hồ Chí Minh
- Về thời gian: từ năm 2014 đến hết năm 2018.
5 Phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên cơ sở quan điểm Chủ nghĩa Mác –Lênin với phương pháp luận biện chứng để xem xét về thực trạng thi hànhpháp luật bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm; quanđiểm trong đường lối, chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam về quản lý xãhội trong nền kinh tế thị trường
Trong quá trình viết luận văn, một số phương pháp nghiên cứu như sau:
- Phương pháp phân tích văn bản, phân tích quy phạm: Làm rõ các kháiniệm, quy định hiện hành về bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toànthực phẩm …
- Phương pháp phân tích quy phạm pháp luật và so sánh pháp luật: Chủyếu sử dụng trong chương 1 và chương 2 để đánh giá thực trạng pháp luật bảo
vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm và thực tiễn thihành trên thực tế
- Phương pháp quan sát và phương pháp phân tích số liệu thứ cấp: Chủyếu sử dụng trong chương 2 nhằm làm sáng tỏ thực trạng và những bất cập
Trang 14trong thực tiễn thi hành pháp luật bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh sinh an toàn thực phẩm.
- Phương pháp diễn giải, phương pháp dự báo khoa học: Chủ yếu được
sử dụng trong Chương 3 để đưa ra định hướng và các giải pháp nhằm hoànthiện pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm
6 Ý nghĩa khoa học, thực tiễn của luận văn
- Về mặt lý luận: Những kết quả thu được thông qua thực hiện đề tài sẽ
bổ sung cơ sở thực tiễn để đánh giá chung về pháp luật liên quan đến bảo vệngười tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm Đồng thời, bổ sung, hoànthiện những quy định về pháp luật của nhà nước, địa phương về thực thi phápluật bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm đảm bảo chặtchẽ, hiệu quả
- Về thực tiễn: Góp phần hoàn thiện pháp luật, chính sách về bảo đảmbảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm, nâng caohiệu quả thực thi; góp phần hạn chế, giải toả những vướng mắc về pháp lý,chế độ, chính sách về bảo đảm bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực vệ sinh
an toàn thực phẩm tại địa bàn thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, cả nước nóichung
7 Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm có: Mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và được bố cụcthành 03 chương như sau:
Chương 1 Những vấn đề lý luận cơ bản của pháp luật bảo vệ quyền lợingười tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm trên địa bànthành phố Hồ Chí Minh
Trang 15Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng caohiệu quả việc thực thi pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực antoàn thực phẩm.
Trang 16Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ
QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG LĨNH VỰC
AN TOÀN THỰC PHẨM 1.1 Khái quát về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực
an toàn thực phẩm
1.1.1 Khái niệm bảo vệ người tiêu dùng
1.1.1.1.Quyền lợi người tiêu dùng
Quyền lợi NTD trong lĩnh vực ATTP bao gồm những quyền năng cơbản và phát sinh của người tiêu dùng khi họ tham gia vào quan hệ mua bántrong lĩnh vực ATTP và có thể kéo dài trong suốt quá trình sử dụng sản phẩm,dịch vụ Theo điều 8 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 quyđịnh có tám quyền cơ bản: Quyền được bảo đảm; Quyền được cung cấp thôngtin; Quyền được lựa chọn; Quyền được góp ý; Quyền được tham gia xây dựng
và thực thi; Quyền được yêu cầu; Quyền được khiếu nại; Quyền được tư vấn
1.1.1.2 Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Chính vì người tiêu dùng yếu thế trong các mối quan hệ với các nhà sảnxuất, kinh doanh cho nên người tiêu dùng không thể đưa ra các chọn lựa phùhợp và đúng đắng với lợi ích của họ Vì lý do đó, Nhà nước phải can thiệp đểbảo vệ lợi ích của người tiêu dùng Có hai cách tiếp cận chủ đạo trên thế giới
mà thông qua đó Nhà nước bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng [11, tr.10-11]:
Một là, xây dựng một hệ thống pháp luật trong đó quy định trách nhiệmpháp luật đối với các bên sau khi đã xảy ra vi phạm; Đây là cách tiếp cận màtheo đó các bên liên quan phải bồi thường thiệt hại sau khi xảy ra thiệt hạithực sự Theo cách tiếp cận này, các cơ quan phân xử, trong đại đa số cáctrường hợp là các toà án, bao gồm cả các toà chuyên biệt, sẽ quyết định mức
độ bồi thường thiệt hại, căn cứ trên bản chất và thực tế vụ việc Các bên liên
Trang 17quan phải chịu bồi thường thiệt hại do sai sót mà đã họ gây ra, nhưng chỉ saukhi bên bị thiệt hại đã kiện ra toà hoặc khiếu nại đến các cơ quan chức năng
có thẩm quyền khác, với đầy đủ căn cứ và bằng chứng chứng minh thiệt hạicủa mình và hành vi vi phạm của bên kia có mối quan hệ nhân quả với nhau
Hai là, xây dựng hệ thống pháp luật hoàn thiện điều chỉnh, ngăn chặntrước các hành vi vi phạm để giảm thiểu tối đa vi phạm Cách tiếp cận thứ hainày mang tính ngăn chặn, phòng ngừa Theo cách tiếp cận này, một hệ thốngquy chuẩn phải được thiết lập, không liên quan đến việc có xảy ra thiệt hạithực sự cho người tiêu dùng hay không Các vụ việc, hay cả một nhóm cácvấn đề, đều có thể được điều chỉnh bởi các quy định chuẩn chung này, giảmthiểu khả năng xảy ra việc phải phân định đúng sai, hay giúp tránh các phánquyết không nhất quán và thiếu công bằng trên cơ sở vụ việc Và trong đại đa
số các trường hợp, các cơ quan chức năng sẽ sử dụng các thủ tục hành chính
để xem xét các thông tin kỹ thuật có liên quan, nhằm đi đến kết luận cuốicùng
1.1.2 Khái niệm an toàn vệ sinh thực phẩm
Đảm bảo an toàn thực phẩm (ATTP) luôn được Đảng và Nhà nước tađặc biệt quan tâm vì xuất phát từ tầm quan trọng của nó; bảo đảm ATTP trướchết là chăm lo sức khỏe của nhân dân, phát triển kinh tế, an sinh xã hội vàphục vụ cho tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta Đảng và Nhànước ta thường xuyên chỉ đạo và đưa ra nhiều giải pháp nhằm không ngừnghoàn thiện pháp luật về ATTP, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước
về ATTP Nhiều văn bản quy phạm pháp luật về ATTP đã được ban hànhnhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực ATTP Các cấp, các ngành
đã vào cuộc và tạo được sự chuyển biến tích cực đã được ghi nhận ở nhiều địaphương, đơn vị, đặc biệt ở những thành phố lớn Tuy nhiên, nhìn về tổng thể,công tác bảo đảm ATTP vẫn là vấn đề thách thức to lớn ở nước ta Ngộ độc
Trang 18thực phẩm và các mối nguy đe dọa mất an toàn thực phẩm tiếp tục là nhữngvấn đề quan tâm hàng đầu đối với sức khỏe cộng đồng, an sinh xã hội và tăngtrưởng kinh tế Các giải pháp giải quyết vấn đề này đang được đặt ra rất cấpbách, nhất là việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về ATTP Do vậy cầnthiết phải có các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung do nhà nước đặt ra vàbảo đảm thực hiện, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnhvực an toàn thực phẩm, tạo lập trật tự, ổn định xã hội.
An toàn thực phẩm là toàn bộ những vấn đề cần xử lý đến việc đảm bảo
an toàn vệ sinh đối với thực phẩm nhằm bảo đảm sức khỏe cho người tiêudùng Đây là một vấn đề lớn lớn mà các nước phát triển và đang phát triểnphải đối mặt hằng ngày và trong đó có Việt Nam
An toàn thực phẩm là việc chế biến, xử lý, lưu trữ và bảo quản các loại
thực phẩm bằng các phương pháp phòng chống, phòng ngừa bệnh tật do thựcphẩm gây ra An toàn thực phẩm cũng gồm các thói quen, thao tác khi chếbiến cần phải được thực hiện để tránh các nguy cơ sức khỏe đến người tiêudùng
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã tiến hành nhiều nghiên cứu công phu
và đi đến kết luận, thực phẩm không an toàn có thể gây ra những vấn đề rấtlâu dài với sức khỏe của người dùng Khái niệm thực phẩm an toàn (hay thựcphẩm sạch) khá rộng và trừu tượng, nên có nhiều quan niệm khác nhau TheoWHO, thực phẩm đạt mức an toàn là khi không chứa hoặc chứa hàm lượng ởmức chấp nhận được các chất ô nhiễm hay vi khuẩn mà bình thường có thểgây nhiễm độc, hoặc bất kỳ chất nào khác có thể khiến thực phẩm trở nên cóhại cho sức khỏe Nói cách khác, thực phẩm an toàn là loại thực phẩm cungcấp các chất dinh dưỡng phù hợp, thiết yếu mà không gây hại cho sức khỏecủa người sử dụng do các loại ô nhiễm hóa chất, ô nhiễm sinh học hay cáchình thức ô nhiễm khác gây ra
Trang 19Gắn liền với khái niệm thực phẩm an toàn là khái niệm an toàn thựcphẩm WHO định nghĩa, an toàn thực phẩm có nghĩa là bảo đảm thực phẩm sẽkhông gây hại cho con người cả trong quá trình chuẩn bị và/hoặc khi đã sửdụng Nhằm thống nhất ý chí và hành động của các quốc gia trong việc bảođảm an toàn thực phẩm, kể từ năm 1962, Tổ chức Lương thực và Nôngnghiệp của Liên Hợp Quốc (FAO) đã xây dựng nên Bộ quy tắc về thực phẩm
và thành lập Ủy ban Tiêu chuẩn thực phẩm quốc tế - cơ quan liên chính phủvới 165 nước thành viên, nhằm xác lập các tiêu chuẩn quốc tế về thực phẩmcũng như tổ chức thực hiện các hoạt động bảo đảm an toàn thực phẩm trênphạm vi toàn cầu
Theo quy định tại Điều 2 – Luật An toàn thực phẩm năm 2010 [An toànthực phẩm là việc bảo đảm để thực phẩm không gây hại đến sức khỏe, tínhmạng con người] Vì vậy, an toàn thực phẩm cũng bao gồm một số thói quen,thao tác trong khâu chế biến cần được thực hiện để tránh các nguy cơ sức ảnhhưởng nghiêm trọng đến sức khỏe
Do vậy, để đảm bảo an toàn thực phẩm, các chủ thể cần tuân theonhững quy định, điều kiện cụ thể mới có thêm đảm bảo thực phẩm không gâyhại đến sức khỏe cơn người Điều kiện để đảm bảo an toàn thực phẩm là quychuẩn về kỹ thuật đối với các nhà sản xuất, kinh doanh thực phẩm do cơ quanquản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm mục đích đảm bảo thựcphẩm an toàn đối với sức khỏe, tính mạng con người [39]
Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm năm 2003 là văn bản luật đầu tiênquy định toàn diện các vấn đề về vệ sinh, an toàn thực phẩm trong quá trìnhsản xuất, kinh doanh thực phẩm, phòng ngừa, khắc phục ngộ độc thực phẩm
và truyền bệnh qua thực phẩm Trên cơ sở đó, Chính phủ quy định chi tiếtcách thức kiểm tra, xử lý các vi phạm trong lĩnh vực thực phẩm Qua 06 nămthực hiện cho thấy, Pháp lệnh này đã thật sự là một công cụ quan trọng để
Trang 20Nhà nước quản lý công tác vệ sinh an toàn thực phẩm Tuy nhiên, trong quátrình triển khai thực hiện, Pháp lệnh vệ sinh an toàn thực phẩm tồn tại một sốbất cập cần phải được nghiên cứu sửa đổi, hoàn chỉnh như: cùng một vấn đềnhưng quá nhiều văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh (134 văn bản của cácngành, các cấp) nên có sự chồng chéo, mâu thuẫn, trùng lặp, có vấn đề nảysinh nhưng chưa có văn bản quy định điều chỉnh; việc phân công trách nhiệm
và mối quan hệ phối hợp giữa Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nôngthôn, Bộ Công thương và các Bộ, ngành liên quan chưa được rõ ràng (đặc biệt
là đối với việc quản lý thực phẩm tươi sống) nên dẫn đến những khó khăntrong quá trình triển khai, phối hợp thực hiện, cũng như đùn đẩy trách nhiệmkhi sự việc xảy ra Các quy định về hệ thống thanh tra chuyên ngành về vệsinh an toàn thực phẩm hiện mới được nêu tại Nghị định số 79/2008/NĐ-CPngày 18/7/2008 của Chính phủ mà chưa được luật hoá nên hiệu lực pháp lýchưa cao Mặt khác, các quy định trong Nghị định về hệ thống thanh trachuyên ngành ATTP cũng chưa đồng nhất với pháp luật về thanh tra hiệnhành…những hạn chế, bất cập trên đã được nhìn nhận, sửa đổi, tiếp tục tăngcường quản lý, kiểm soát chặt chẽ, có hiệu quả hơn về ATTP và từng bướchoàn thiện hệ thống pháp luật về ATTP Do đó ngày 28/06/2010 Quốc hội đãthông qua dự thảo Luật An toàn thực phẩm và có hiệu lực thi hành từ ngày01/07/2011 Luật An toàn thực phẩm có 11 chương, 72 điều quy định mộtcách toàn diện về vấn đề an toàn thực phẩm
1.1.3 Khái niệm, đặc điểm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm
ATTP là một lĩnh vực có yêu cầu cao về điều kiện chất lượng và tiêuchuẩn của thực phẩm Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tronglĩnh vực ATTP rất chú trọng về tiêu chuẩn, an toàn của người tiêu dùng thực
Trang 21phẩm Lĩnh vực đặc biệt này còn liên quan đến các luật chuyên ngành về chấtlượng sản phẩm và an toàn thực phẩm trong chế biến, sản xuất, bảo quản.
Từ những phân tích trên về khái niệm an toàn thực phẩm, người tiêudùng và khái niệm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Chúng ta có thể đưa racách hiểu khái quát về khái niệm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng về an toàn
vệ sinh thực phẩm như sau: [Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực
an toàn vệ sinh thực phẩm là việc Nhà nước bảo vệ quyền năng cơ bản vàphát sinh của người tiêu dùng khi họ tham gia vào quan hệ mua bán thựcphẩm và có thể kéo dài trong suốt quá trình sử dụng sản phẩm, dịch vụ liênquan đến thực phẩm nhằm bảo đảm để thực phẩm không gây hại đến sứckhỏe, tính mạng con người]
Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực ATTP là việc bảo đảmcho người tiêu dùng có được đầy đủ các quyền cơ bản nói chung nhưng trướctiên là “Quyền được an toàn” Khi người tiêu dùng bị thiệt hại liên quan đếnATTP thì phải được nhanh chóng bù đắp và bồi thường các tổn thất về tinhthần và sức khỏe Đây là đặc trưng của việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùngtrong lĩnh vực ATTP, vì liên quan đến các quyền cơ bản của con người nhưquyền được tự do, quyền được sống, an toàn cá nhân; quyền được có mộtcuộc sống với sức khoẻ cho bản thân và gia đình trong Tuyên ngôn Quốc tếNhân quyền của Liên Hợp Quốc [25, Điều 3, Điều 25]
Từ khái niệm về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng về an toàn vệ sinhthực phẩm như trên, có thể thấy việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng về antoàn vệ sinh thực phẩm có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn vệ
sinh thực phẩm quy định các quy tắc xử sự chung cho mọi người trong nhữnghoạt động ở lĩnh vực thực phẩm
Trang 22Về mặt này, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn vệsinh thực phẩm điều chỉnh khá đầy đủ những hành vi, hoạt động liên quan đếnđiều kiện đảm bảo ATTP; điều kiện đảm bảo chất lượng trong sản xuất, kinhdoanh thực phẩm; xuất – nhập khẩu thực phẩm; quảng cáo, ghi nhãn sảnphẩm; kiểm nghiệm thực phẩm, phân tích nguy cơ đối với ATTP, phòng ngừangăn chặn và khắc phục sự cố về ATTP; đưa ra những hành vi bị cấm.
Thứ hai, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn vệ
sinh thực phẩm quy định các chế tài ràng buộc con người thực hiện những yêucầu của pháp luật để đảm bảo quyền lợi người tiêu dùng trong ATTP
Trong thực tế các chủ thể khi tham gia hoạt động kinh doanh, sản xuấtthực phẩm thường chỉ chú ý tới lợi ích của mình mà bỏ qua lợi ích của ngườikhác, của chung cộng đồng, bỏ qua hoặc không tự giác thực hiện nghĩa vụ vàtrách nhiệm phải thực hiện với việc bảo đảm ATTP Chẳng hạn, khi thực hiệnnghĩa vụ đánh giá thực phẩm tiêu chuẩn, các chủ sản xuất kinh doanh thườngkhông thấy trước được lợi ích của mình do đó luôn tìm cách lẩn tránh nghĩa
vụ pháp lý với thực phẩm
Thứ ba, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn vệ sinh
thực phẩm quy định các tiêu chuẩn bảo đảm ATTP, đồng thời công nhậnnhững thực phẩm đạt chuẩn bảo đảm an toàn
Nhằm đánh giá được mức độ bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tronglĩnh vực an toàn vệ sinh thực phẩm trước khi đến tay người tiêu dùng, phápluật Việt Nam hiện nay đã đặt ra những tiêu chuẩn nhất định cho thực phẩm
và cả quá trình chế biến, phân phối thực phẩm an toàn Những tiêu chuẩn nàythường do Bộ Y tế ban hành và được gọi là các quy chuẩn kỹ thuật quốc giaATTP
Nhờ đặt ra những quy chuẩn này, việc đánh giá mức độ an toàn củathực phẩm, mức độ bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn
Trang 23vệ sinh thực phẩm trở nên thuận tiện hơn rất nhiều Cũng từ đó có thể côngnhận danh hiệu cho những sản phẩm thực phẩm đạt chuẩn để chúng tạo dựngđược niềm tin với người tiêu dùng; đẩy lùi những thực phẩm không rõ nguồngốc, kém an toàn và có thể gây nguy hại đến sức khoẻ con người.
Thứ tư, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn vệ sinh
thực phẩm quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của các cơ quanquản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn
vệ sinh thực phẩm.
Như ta đã biết, tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội đều cần phải có sựquản lý của nhà nước và thực phẩm cũng không là ngoại lệ Hơn thế, bảo vệquyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn vệ sinh thực phẩm còn làmột hoạt động, nhiệm vụ quan trọng bởi thực phẩm là vấn đề tương đối phứctạp nên rất cần có hệ thống tổ chức quản lý phù hợp, hiệu quả
Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩmViệt Nam hiện nay đã ngày càng thể hiện vai trò to lớn trong việc tạo ra cơchế hoạt động cho các tổ chức, cơ quan bảo đảm ATTP Cụ thể, do nhận thấynhững bất cập từ việc phân công quản lý theo từng nhóm sản phẩm và quátrình
1.1.4 Vai trò của bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm trong đời sống xã hội
Để đảm bảo thực hiện các chính sách, kế hoạch của Đảng và Nhà nướctrong công tác bảo đảm ATTP thì pháp luật trong việc bảo vệ quyền lợi ngườitiêu dùng trong lĩnh vực ATTP đã trở thành một công cụ hữu hiệu để quản lýlĩnh vực này Nhìn chung có thể đánh giá vai trò của pháp luật trong việc bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực ATTP ở Việt Nam hiện nay quanhững mặt như sau:
Đối với chính trị - xã hội:
Trang 24Trong nền kinh tế thị trường, NTD là đối tượng được hướng tới củangười sản xuất và kinh doanh, là động lực phát triển của sản xuất và kinhdoanh nói riêng và của toàn bộ nền kinh tế và xã hội nói chung Tất cả mọingười đều cần trao đổi, mua bán để có những hàng hóa, dịch vụ đáp ứng cácnhu cầu của mình, tiếp đó là đáp ứng nhu cầu của gia đình và tổ chức củamình Như vậy có thể thấy rằng, NTD là tất cả mọi người, không phân biệttuổi tác, thành phần, dân tộc, giới tính, địa vị xã hội Hơn nữa NTD có mặt ởkhắp mọi nơi, từ thành thị đến nông thôn, vùng sâu, vùng xa, hải đảo…
Bảo vệ NTD không những chỉ là công việc có tính chất xã hội mà còn
có tính chất kinh tế, chính trị rõ rệt Một khi NTD, lực lượng xã hội đông đảonhất, bao gồm toàn thể mọi người, được tôn trọng, được bảo vệ, được nângcao cuộc sống vật chất và tinh thần, họ sẽ trở thành một động lực phát triển xãhội rất to lớn, đóng góp cho sự nghiệp phát triển xã hội nói chung Quyền lợicủa NTD bị xâm phạm sẽ khiến cho sự phát triển của xã hội bị kìm hãm Việcbảo vệ NTD là một công việc có tính chất xã hội rộng lớn và sâu sắc và đượcđông đảo mọi người trên toàn thế giới quan tâm
Việc bảo vệ NTD là một nhiệm vụ quan trọng của Nhà nước và các cơquan quản lý Nhà nước, là nhiệm vụ của các tổ chức, cá nhân sản xuất kinhdoanh chân chính.Thực tế, trong nền kinh tế thị trường, thị trường chủ yếu dotiêu dùng điều tiết NTD có ảnh hưởng to lớn đến những quyết sách về kinh
tế, dù là của khu vực nhà nước hay của khu vực tư nhân và NTD cũng là đốitượng chịu ảnh hưởng nhiều nhất của các quyết định về kinh tế Chính phủ ởcác nước đều rất quan tâm đến vấn đề NTD và nếu giải quyết tốt vấn đề này
sẽ làm cho kinh tế phát triển, xã hội chính trị ổn định Ngược lại, sẽ làm chokinh tế chậm phát triển thậm chí khủng hoảng xã hội, rối loạn và mất ổn địnhchính trị Bảo vệ NTD là một trong những hoạt động nhằm thực hiện một xãhội công bằng, dân chủ, văn minh, đồng thời cũng là duy trì và bồi dưỡng cho
Trang 25một động lực kinh tế quan trọng Khi nền kinh tế thị trường càng phát triển thìvấn đề NTD và bảo vệ NTD càng cần đề ra và thực hiện một cách nghiêm túc.
Đối với kinh tế:
Bảo vệ NTD giúp củng cố niềm tin cho NTD đối với hàng hóa, dịch
vụ, từ đó khuyến khích tiêu dùng Niềm tin của NTD là mong muốn của tất cảcác nhà sản xuất, cung ứng hàng hóa, dịch vụ Nó đảm bảo cho sự ổn định vàphát triển của doanh nghiệp đó Khi không có niềm tin vào sản phẩm, dịch vụ,NTD sẽ hạn chế thậm chí chấm dứt việc tiêu dùng sản phẩm đó Phản ứng củaNTD không chỉ gây khó khăn cho sự tồn tại phát triển của riêng doanh nghiệp
đó mà nếu phản ứng đó diễn ra trên diện rộng, cùng lúc thách thức nhiềudoanh nghiệp thì cả nền kinh tế có nguy cơ bị ảnh hưởng
Bảo vệ quyền lợi NTD giúp đảm bảo công bằng cho NTD Trong khithực hiện hành vi tiêu dùng, NTD có những quyền lợi chính đáng nhất định.Việc bảo vệ những quyền lợi đó là yêu cầu khách quan để đảm bảo công bằngcho NTD, cũng là góp phần thực hiện công bằng xã hội Từ đó, bảo vệ quyềnlợi NTD góp phần quản lý thị trường, giúp thị trường hoạt động lành mạnh,công bằng Bảo vệ quyền lợi NTD thực chất là ngăn chặn những hành vi xâmphạm quyền lợi NTD của nhà sản xuất cung ứng hàng hóa dịch vụ
1.1.5 Các yếu tố tác động đến việc bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm
Nhà nước và các cơ quan có thẩm quyền Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Nhà nước và các cơ quan có thẩm quyền Bảo vệ quyền lợi NTD là mộttrong những nhiệm vụ quan trọng của quản lý nhà nước và được thực hiện hóabởi một hệ thống quy định pháp lý cụ thể Việc chờ đợi ý thức trách nhiệmcủa các cơ sở sản xuất kinh doanh nếu thiếu vắng một hệ thống quy
Trang 26định pháp lý là điều không thể bởi họ còn bị chi phối bởi nhiều yếu tố liênquan đến lợi nhuận, cạnh tranh…
Những quy định pháp lý sẽ là cơ sở cho các nhà sản xuất kinh doanh ýthức được vấn đề quyền lợi NTD và trách nhiệm của mình trong việc bảo vệquyền lợi NTD Bên cạnh đó, NTD cũng có cơ sở để thực hiện quyền lợi củamình Trong trường hợp các doanh nghiệp không tuân thủ đúng quy định củapháp luật liên quan đến bảo vệ quyền lợi NTD thì hệ thống pháp lý sẽ tạokhung quy định những biện pháp xử phạt và cưỡng chế đối với những doanhnghiệp đó 15 Vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD không chỉ thể hiện trong các vănbản pháp luật mà còn trong thiết chế thực thi pháp luật như các cơ quan Nhànước, cơ quan hành chính, hệ thống tòa án các cấp, các tổ chức bảo vệ quyềnlợi NTD Nhà nước ở bất cứ quốc gia nào cũng luôn có vai trò to lớn trongbảo vệ NTD Đó là cơ quan lập ra các chính sách, tổ chức thực hiện các chínhsách và kiểm tra giám sát việc thực hiện các chính sách bảo vệ NTD ở nướcmình Các tổ chức phi chính phủ như Hiệp hội bảo vệ NTD và các cơ quanquản lý của nhà nước như Cục Quản lý cạnh tranh, Cục quản lý thị trường phải tham gia đôn đốc, kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ sở sản xuấtkinh doanh hàng hóa và dịch vụ để họ có ý thức hơn về việc đảm bảo quyềnlợi NTD Nhờ đó, kịp thời phát hiện, ngăn chặn những hành vi gây tổn hạiđến quyền và lợi ích hợp pháp của NTD Chính quyền và các đoàn thể cótrách nhiệm tuyên truyền giáo dục kiến thức về tiêu dùng, cung cấp thông tin
về chất lượng hàng hóa, giám sát thị trường, kịp thời can thiệp những hành vi
vi phạm quyền lợi NTD, cũng như chấn chỉnh, kiểm tra về chuyên môn theo từng lĩnh vực sản xuất để bảo đảm độ an toàn cao cho NTD
Người sản xuất - kinh doanh:
Người sản xuất, kinh doanh muốn phát triển vững thay vì chỉ quan tâm đến lợi ích của riêng mình thì phải hơn nữa đến quyền và lợi ích chính đáng
Trang 27của NTD Họ phải có trách nhiệm đối với NTD về sự an toàn khi sử dụng sảnphẩm, phải phục vụ tốt NTD, hướng dẫn NTD trong việc sử dụng sản phẩm,phải lắng nghe tiếng nói của NTD để nâng cao chất lượng sản phẩm Bêncạnh đó, nhà sản xuất kinh doanh nên có trách nhiệm cung cấp thông tin kịpthời và chính xác về hàng hóa và dịch vụ, trách nhiệm bảo đảm tiêu chuẩn đolường và chất lượng, trách nhiệm bảo hành, trách nhiệm bảo đảm an toàn choNTD và trách nhiệm tiếp nhận khiếu nại cũng như đền bù thỏa đáng choNTD.
Bản thân người tiêu dùng:
Bản thân NTD phải có trách nhiệm tự bảo vệ mình, phải có hiểu biết để
sử dụng đồng tiền của mình một cách hợp lý, đồng thời phải quan tâm đếnmọi người, 16 môi trường xung quanh, phải cảnh giác, phối hợp với các bên
có liên quan trong việc ngăn chặn và trừng trị những vấn đề tiêu cực trong xãhội NTD có khả năng tự bảo vệ chính mình thông qua việc ý thức đượcquyền lợi chính đáng và trách nhiệm của mình Khi quyết định tiêu dùng, đểđảm bảo quyền lợi của mình, việc nghiên cứu, tìm hiểu kỹ về chất lượng, xuất
xứ, thông tin chính xác về sản phẩm là một công việc không thể thiếu Từ đóNTD có thể bảo vệ chính mình tránh khỏi các thông tin sai lệch, hiểu lầm vàrủi ro, thiệt hại khi tiêu dùng sản phẩm
NTD có quyền bày tỏ ý kiến đối với nhà sản xuất kinh doanh, đối vớicác cơ quan có thẩm quyền NTD có quyền được khiếu nại và bồi thường nếukhiếu nại hợp lý NTD có quyền chọn lựa không dùng hàng kém chất lượng,tẩy chay hàng giả, hàng nhái, điều này cũng giúp các nhà sản xuất chân chínhđược bảo vệ NTD góp ý, phản ảnh về chất lượng sản phẩm, nhà sản xuất thấyđược khuyết điểm, khắc phục, sửa chữa, sẽ giúp cho hàng hóa tốt hơn, chínhđiều này lại tạo lợi thế cho NTD khi được sử dụng sản phẩm tốt, còn nhà sản
Trang 28xuất có lợi là được tín nhiệm bán được nhiều hàng hóa, thu lợi nhuận nhiềuhơn….
NTD nên phải tự bảo vệ mình, có ý thức chọn lựa hàng tốt, tẩy chaykhông mua hàng giả, hàng nhái, và có ý thức trách nhiệm góp phần bảo vệquyền lợi chung của cả cộng đồng bằng hành động thiết thực như đóng góp ýkiến về chất lượng hàng hóa, lên tiếng báo động xã hội đối với những vấn đềlàm thiệt hại lợi ích chung Sức mạnh to lớn của NTD là thái độ với các nhàsản xuất kinh doanh và quyền tẩy chay sản phẩm Quyền này chỉ được pháthuy khi NTD ý thức được sức mạnh của mình và đoàn kết lại Khi hội NTD
đã phát triển thành một lực lượng đông đảo, sẵn sàng tham gia tổ chức bảo vệquyền lợi của chính mình thì vấn đề xâm hại quyền lợi NTD sẽ có xu hướnggiảm
NTD là một lực lượng đông đảo của xã hội và dư luận xã hội cũng làmột trong “vũ khí” hiệu quả mà hộtạo ra trong việc bảo vệ quyền lợi củachính mình Do đó, dư luận xã hội có ý nghĩa lớn trong việc khuyến khích cáchành động góp phần bảo vệ NTD, đồng thời lên án, phê phán những hànhđộng xâm phạm quyền lợi của NTD Vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD hiện nayđược toàn thể xã hội quan tâm và được cơi là một trong những vấn đề quantrọng nhằm bảo đảm tốc độ tăng trưởng luôn đi đôi với chất lượng tăngtrưởng Bảo vệ quyền lợi NTD là trách nhiệm chung của toàn xã hội Mọiquyền và lợi ích hợp pháp của NTD phải được tôn trọng và bảo vệ Mọi hành
vi vi phạm quyền và lợi ích chính đáng của NTD phải được xử lý kịp thời vànghiêm minh, nếu gây thiệt hại phải bồi thường theo quy định của pháp luật.Như vậy, bảo vệ quyền lợi NTD là một vấn đề rất đang được chú ý và là tráchnhiệm của mọi người, của toàn xã hội Hiệu quả của hoạt động bảo vệ này cóđược khi có sự tham gia và phối hợp hành động của mọi người, từ người làm
Trang 29công tác quản lý nhà nước đến các doanh nhân, doanh nghiệp, từ các tổ chứcbảo vệ quyền lợi NTD đến chính bản thân NTD.
Việc xây dựng luật bảo vệ NTD hay thành lập các tổ chức, uỷ ban đạidiện bảo vệ NTD đều cần thiết trong việc dẫn dắt NTD tiếp cận thông tin, tiếpcận pháp luật bảo vệ quyền lợi của mình; hướng dẫn NTD tạo thói quen thiếtlập chứng cứ; quy rõ trách nhiệm cho đơn vị quản lý nhà nước và liên kết cáclực lượng xã hội để cùng giải quyết các vấn đề bảo vệ NTD Để quyền và lợiích chính đáng của NTD được bảo vệ thì cần có một chiếc “kiềng ba chân”trong đó, Nhà nước cùng các cơ quan chức năng, người sản xuất kinh doanh
và người tiêu dùng đóng vai trò là ba chiếc chân vững chắc
1.2 Pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm
1.2.1 Khái niệm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm
1.2.1.1 Pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Trong xã hội dân chủ, pháp luật luôn được xem là cơ chế hữu hiệu nhấtbảo đảm quyền lợi của các chủ thể khi tham gia vào bất cứ hoạt động nào.Mặc khác, Nhà nước đặt ra pháp luật nhằm đòi hỏi chủ thể hành động trongmột phạm vi nhất định, mà vượt quá nó, họ sẽ phải chịu những điều chỉnh vàchế tài tương ứng
Nhà nước ban hành các quy phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi ngườitiêu dùng và điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa cá nhân với người tiêudùng và các nhà sản xuất, kinh doanh để bảo vệ quyền, lợi ích của người tiêudùng, nhà sản xuất, kinh doanh và lợi ích xã hội Đồng thời, đây cũng là cơ sở
để xử lý các vi phạm của nhà sản xuất, kinh doanh, các cá nhân, khi họ thựchiện hành vi xâm phạm đến quyền lợi của người tiêu dùng đã được luật định
Trang 30Luật Bảo vệ người tiêu dùng, chủ yếu bao gồm các điều khoản quytrách nhiệm pháp luật, và được bổ sung bởi quy định của các văn bản quyphạm pháp luật khác, nhu quy định về an toàn thực phẩm, sức khỏe Cáchtiếp cận này giúp đảm bảo tính chuyên biệt của từng lĩnh vực pháp luật khácnhau, giúp các cơ quan thực thi tập trung vào chuyên môn của mình, tuy cómặt trái là tính rời rạc, đôi khi có thể dẫn đến không nhất quán, hay xung độtpháp luật Trong các lĩnh vực chuyên ngành, hệ thống tư pháp thường không
có khả năng thành công cao, do thiếu hiểu biết chuyên sâu về các vấn đề kỹthuật liên quan đến sức khỏe và an toàn, không đủ nhân lực hay các thủ tụckhông chuyên Do đó, đối với các quy định về tiêu chuẩn, an toàn của ngườitiêu dùng hiện đang được điều chỉnh tại các văn bản pháp luật khác thì sẽ quyđịnh theo hướng dẫn chiếu
1.2.1.2 Pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực antoàn vệ sinh thực phẩm
Lĩnh vực bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực ATTP là toàn
bộ nội dung của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và dẫn chiếu đếnmột lĩnh vực đó là lĩnh vực ATTP gồm các luật như: Luật chất lượng sảnphẩm, hàng hoá năm 2007; Luật an toàn thực phẩm năm 2010; Luật Bảo vệquyền lợi người tiêu dùng năm 2010; Các chế định bồi thường thiệt hại ngoàihợp đồng các chế tài xử phạt liên quan đến hành chính hoặc hình sự … Tất cả
đã tạo thành khung pháp lý nhằm bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng tronglĩnh vực ATTP
1.2.2 Nội dung pháp luật bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực vệ sinh
an toàn thực phẩm
Pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thựcphẩm là một trong những vấn đề mà Đảng, Nhà nước Việt Nam từ lâu đã đặcbiệt quan tâm và coi đây là một vấn đề có ý nghĩa lớn về kinh tế - xã hội, về
Trang 31an toàn xã hội, sức khoẻ cộng động, về bảo vệ môi trường và cũng là vấn đề
có ảnh hưởng lớn đến tiến trình hội nhập của Việt Nam Do vậy, Đảng và Nhànước đã và đang thường xuyên chỉ đạo và đưa ra các giải pháp nhằm khôngngừng nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong quản lý nhà nước về an toàn thựcphẩm, bảo vệ sức khoẻ nhân dân Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 25 tháng 02năm 2005 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nângcao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới, Kết luận số 43-KL/TW của BộChính trị về 03 năm thực hiện Nghị quyết số 46-NQ-TW, Nghị quyết số34/2009/NQ-QH12 ngày 19 tháng 6 năm 2009 của Quốc hội về đẩy mạnhthực hiện chính sách pháp luật về quản lý chất lượng, vệ sinh an toàn thựcphẩm là những văn bản quan trọng, tiêu biểu của Đảng và Nhà nước để chỉđạo, đưa ra những biện pháp quan trọng nhằm bảo đảm thực hiện có hiệu quảcông tác an toàn thực phẩm trong toàn xã hội
Pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực ATTP có đầy
đủ những nội dung của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nói chung,
và được chuyện biệt hoá bởi các quy định chuyên ngành về đảm bảo chấtlượng, an toàn về sinh thực phẩm Do đó, tác giả sẽ phân tích nội dung chungnhất của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Từ đó sẽ bổ sung thêmnhững đặc trưng riêng biệt trong lĩnh vực ATTP Về cơ bản, pháp luật bảo vệquyền lợi người tiêu dùng sẽ phải có những nội dung chính sau:
1.2.2.1 Nguyên tắc bảo vệ người tiêu dùng thực phẩm
Nguyên tắc BVQLNTD là: trách nhiệm chung của Nhà nước và toàn xãhội; quyền lợi của NTD được tôn trọng và bảo vệ theo quy định của pháp lụât;BVQLNTD phải được thực hiện kịp thời, công bằng, minh bạch, đúng phápluật và hoạt động BVQLNTD không được xâm phạm đến lợi ích của Nhànước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch
vụ và tổ chức, cá nhân khác
Trang 32Các văn bản của Liên Hợp Quốc và Tổ chức Quốc tế người tiêu dùngluôn có liên đến các quy định nhằm bảo đảm ATTP cần được quan tâm làHiệp định về ATTP và Kiểm dịch động thực vật của WTO Hiệp định baogồm các điều khoản về quá trình kiểm soát, kiểm tra và chấp thuận, đưa ranhững quy định trong việc áp dụng các biện pháp kiểm dịch động thực vật -các quy định về sức khỏe cây trồng, vật nuôi, và an toàn thực phẩm[34].Hiệpđịnh SPS liên quan chủ yếu đến hoạt động thương mại quốc tế nhưng nhữngtiêu chuẩn, biện pháp được nêu trong Hiệp định nhằm mục đích bảo vệ ngườitiêu dùng thực phẩm.Đây là cơ sở quan trọng cho việc xây dựng các quy định
về ATVSTP trong pháp luật của mỗi quốc gia thành viên WTO Trong đó,nguyên tắc bảo vệ người tiêu dùng nói chungcó nguyên tắc cụ thể như sau:
Thứ nhất, Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực ATTP làtrách nhiệm chung của Nhà nước và toàn xã hội
Thứ hai, Quyền lợi của người tiêu dùng trong lĩnh vực ATTP được tôntrọng và bảo vệ theo quy định của pháp luật
Thứ ba, Bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng trong lĩnh vực ATTPphải được thực hiện kịp thời, công bằng, minh bạch, đúng pháp luật
Thứ tư, Hoạt động bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vựcATTP không được xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợppháp của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và tổ chức, cá nhânkhác
Đây là một trong những quy định có ý nghĩa quan trọng đối với bảo vệngười tiêu dùng trong lĩnh vực ATTP, xác định quan điểm quản lý về ATTPphải xuất phát từ khâu sản xuất đến sản phẩm Đó là cả một quy trình cần có
sự chung tay và phối hợp đồng bộ của các cơ quan ban ngành có liên quan,thay đổi quan điểm quản lý như trước đây về tiêu chuẩn sản phẩm cuối cùng,từng bước đi vào giải quyết tận gốc của các vấn đề về ATTP Bên cạnh đó,
Trang 33doanh nghiệp phải có trách nhiệm trước sản phẩm mà mình sản xuất, kinhdoanh và phải chịu trách nhiệm cho các vi phạm.
1.2.2.2 Quyền và nghĩa vụ của người tiêu dùng thực phẩm
Quyền của người tiêu dùng:
Quyền của người tiêu dùng thực phẩm là một trong những nội dungquan trọng của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Bản hướng dẫn vềbảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của Liên Hợp Quốc nêu ra các nguyên tắcbảo vệ người tiêu dùng nói chung, bảo vệ người tiêu dùng thực phẩm nóiriêng Bản hướng dẫn đã vạch ra tám lĩnh vực cơ bản có thể phát triển cácchính sách bảo vệ người tiêu dùng thực phẩm, nay được chuyển thành támquyền cơ bản của người tiêu dùng thực phẩm
“Quyền được an toàn” của người tiêu dùng trong lĩnh vực ATVSTPđặc biệt được chú trọng vì thực phẩm luôn là hàng hóa phải được bảo đảm vệsinh trước khi đến tay người tiêu dùng để tránh ảnh hưởng đến sức khỏe tinhthần thể chất của người tiêu dùng thực phẩm
Nghĩa vụ của người tiêu dùng thực phẩm:
Người tiêu dùng phải kiểm tra, xem nguồn gốc xuất xứ hàng hóa phải
rõ ràng trước khi nhận để tránh gây cho chính mình và cho cộng đồng xã hội.Khi phát hiện hàng hóa không bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm có thể gâynguy hại đến sức khỏe, tinh thần, tính mạng người tiêu dung phải thông tinngay cho tổ chức, cơ quan quản lý nhà nước Đối đối các cơ sở sản xuất kinhdoanh thực phẩm thì pháp luật quy định khi cung cấp hàng hóa ra thị trườngphải đảm bảo tính an toàn, tiêu chuẩn chất lượng của hàng hóa và phải chịutrách nhiệm đối với hàng hoá của mình nếu có sai sót xảy ra gây ảnh hưởngđến người tiêu dùng
1.2.2.3 Điều kiện bảo đảm an toàn với thực phẩm, bảo đảm an toàntrong sản xuất, kinh doanh thực phẩm
Trang 34Để quản lý đối với sản phẩm, dù là sản phẩm ở dạng nào cũng phải bảođảm các điều kiện chung nhất Chính vì vậy, một số điều kiện mà sản phẩmphải đáp ứng nhằm bảo đảm an toàn cho sản phẩm.
Ngoài các điều kiện chung, đối với các nhóm thực phẩm cụ thể, đặc thùnhư: thực phẩm tươi sống, thực phẩm đã qua chế biến; thực phẩm tăng cường
vi chất dinh dưỡng; thực phẩm chức năng; thực phẩm biến đổi gen; thựcphẩm đã qua chiếu xạ; phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến; bao gói, chứađựng thực phẩm cần phải bảo đảm thêm một số điều kiện riêng khác nữa
Đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm cũng có những điềukiện chung, ngoài ra còn có thêm những điều kiện riêng đối với từng sảnphẩm và từng quá trình như: sản xuất, kinh doanh thực phẩm tươi sống, điềukiện trong sơ chế, chế biến, kinh doanh thực phẩm đã qua chế biến, điều kiệntrong kinh doanh dịch vụ ăn uống Bên cạnh đó, do thức ăn đường phố là mộtloại hình kinh doanh đặc biệt và hiện là đối tượng gây ngộ độc thực phẩm caonhất, chính vì vậy đưa ra một mục riêng quy định về điều kiện bảo đảm antoàn trong kinh doanh thức ăn đường phố
1.2.2.4 Các hành vi bị cấm
Lĩnh vực pháp luật về ATTP cũng quy định những điều cấm trong kinhdoanh về thực phẩm, như các quy định về: Sử dụng nguyên liệu; Sử dụng phụgia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm; Sản xuất, kinh doanh thựcphẩm; Sử dụng phương tiện gây ô nhiễm thực phẩm… Những quy định phápluật về các điều cấm về an toàn thực phẩm trong an toàn thực phẩm có vai tròhết sức quan trọng nhằm răn đe, chất chỉnh các chủ thể tham gia quan hệ phápluật bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm
1.2.2.5 Giải quyết tranh chấp với người tiêu dùng thực phẩm
Quan hệ giữa người tiêu dùng thực phẩm và người kinh doanh thựcphẩm là quan hệ tư Vì vậy, các tranh chấp giữa người tiêu dùng thực phẩm
Trang 35với thương nhân kinh doanh thực phẩm sẽ được giải quyết theo trình tự luậttư.
Trong khi đó, lĩnh vực tiêu dùng thực phẩm, với tính chất cá nhânngười tiêu dùng và thương nhân thường không ký kết với nhau một hợp đồngmua bán nào, nên việc tồn tại một thoả thuận về điều khoản trọng tài là khôngthể
1.2.2.6 Chế tài xử phạt hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ quyền lợingười tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn vệ sinh thực phẩm
Việc quy định về các chế tài xử phạt vi phạm pháp luật về bảo bệ NTDtrong lĩnh vực ATTP yêu cầu phải vừa đảm bảo được tính giáo dục, hiệu quảcho các quy định của pháp luật nhưng phải tránh xung đột, trùng lắp giữa cácloại chế tài với nhau Các quy định này tạo ra khung chế tài có khả năng điềuchỉnh, xử lý hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD trong lĩnhvực ATTP
tổ chức vi phạm và họ phải chịu các hình thức xử phạt hành chính
Thứ ba, chế tài hình sự
Trang 36Chế tài hình sự là biện pháp nghiêm khắc và chỉ áp dụng đối với nhữngtrường hợp gây hậu quả nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng của người tiêudùng và toàn xã hội Chế tài này được quy định trong bộ luật hình sự năm
2015 và được tòa án áp dụng, trong khi đó chế tài hành chính và chế tài dân
sự chủ yếu được sử dụng giải quyết các vụ việc bồi thường thiệt hại cho ngườitiêu dùng trong pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực antoàn thực phẩm Vì chế tài hình sự có tính nghiêm khắc cho nên các nhà sảnxuất kinh doanh thực phẩm cũng có ý thức hơn trong việc làm của mình đểtránh phải chịu chế tài nặng nề mà pháp luật đã đặt ra
1.2.2.7 Thiết chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thực phẩm
Thiết chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thực phẩm phải tuân thủnguyên tắc: Bảo đảm các nguyên tắc chung về quản lý nhà nước và hoạt động
tư pháp; Bảo đảm quyền lợi người tiêu dùng với tư cách là chủ thể yếu thếtrong quan hệ pháp luật với thương nhân; và Trên thế giới có hai mô hình cơquan nhà nước chuyên trách về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng: Hệ thống
cơ quan hạt nhân; Hệ thống cơ quan hình chóp Hệ thống các cơ quan bảo vệngười tiêu dùng đuợc tổ chức thành hệ thống với một cơ quan dạng Ủy banhoặc Hội đồng trực thuộc Chính phủ hoặc Quốc hội
Kết Luận Chương 1
Từ việc phân tích các lý thuyết, khái niệm liên quan về pháp luật bảo vệquyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực ATTP, tác giả đưa ra kết luận sauđây:
Các nhà sản xuất kinh doanh thực phẩm đóng vai trò quan trọng việcđưa các loại sản phẩm an toàn tới tay người tiêu dùng Do vậy, khi thực hiệncác quy định của pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD trong lĩnh vực ATTP,các nước trên thế giới đều ghi nhận nó trong nhiều đạo luật khác nhau và lấyLuật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng làm nền tảng Những nội dung pháp
Trang 37luật của các quốc gia và các tổ chức trên thế giới là kinh nghiệm bổ ích để làmlàm cơ sở trong việc hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùngtrong lĩnh vực ATTP tại Việt Nam.
Những lý luận cơ bản về pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùngtrong lĩnh vực ATTP mà tác giả đã tìm hiểu ở chương 1 là cơ sở, tiền đề đểtác giả phân tích thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật bảo vệquyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực ATTP tại chương 2 của luận văn
Trang 38Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP
LUẬT
VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG LĨNH VỰC
AN TOÀN THỰC PHẨM TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội của Thành phố Hồ Chí Minh liên quan đến bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm
Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố trực thuộc trung ương và cũngthành phố lớn nhất Việt Nam, đồng thời cũng là một trong những trung tâm
kinh tế, chính trị, văn hóa và giáo dục quan trọng nhất của Việt Nam Theobáo cáo kết quả năm 2019 thì tổng diện tích thành phố hơn 2.095 km2, dân số
là 8.993.082 người Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm mua sắm lớn
và có nhiều các quán bar, vũ trường, sân khấu, các khu vui chơi giải trí
Theo báo cáo, TP Hồ Chí Minh có nhiều kênh phân phối và cung cấpsản phẩm thực phẩm đến người dân như chợ đầu mối, 240 chợ truyền thống
có kinh doanh ngành hàng thực phẩm, dịch vụ ăn uống; 186 siêu thị và hơn
880 cửa hàng tiện lợi Ngoài ra, TP còn có 46.950 cơ sở kinh doanh dịch vụ
ăn uống và khoảng 19.000 cơ sở kinh doanh thức ăn đường phố…[24]
Theo thống kê, trên địa bàn thành phố hiện có khoảng 20.013 cơ sởkinh doanh thức ăn đường phố với trên 24.522 người tham gia kinh doanhthức ăn đường phố [24] Thức ăn đường phố TPHCM là một nét đặc trưngtrong văn hóa của người dân thành phố, các món ăn đa dạng, phong phú, làmột trong những điểm thu hút khách du lịch Việc đảm bảo ATTP thức ăn
Trang 39đường phố là nhiệm vụ quan trọng của các cơ quan chức năng, của các ngành,các cấp.
Qua khảo sát thực tế tại thị trường Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy:
Có đến 51,4% người tiêu dùng (đặc biệt là giới trẻ) đang ưa chuộng đồ hộp,thức ăn chế biến sẵn Nhiều người thích ăn bánh snack, khoai tây chiên vìcho rằng có cảm giác vui vẻ khi ăn; khi uống nước ngọt có ga cảm thấy mìnhhiện đại; ăn thức ăn nhanh chứng tỏ được mình theo kịp tiến độ Thành phố
Hồ Chí Minh được ghi nhận là thị trường lớn về tiêu dùng hàng thực phẩmchế biến sẵn, có tốc độ phát triển rất nhanh Dù chỉ có 24% người tiêu dùngtin tưởng vào những thông tin quảng cáo ghi trên bao bì các loại thực phẩmđóng hộp, nhưng chỉ có 30% cho rằng thực phẩm đó có ảnh hưởng xấu tớimình, so với 45% người tiêu dùng ở các nước trong khu vực Với các nướckhác, khi có một nhãn hiệu thực phẩm mới xuất hiện trên thị trường mà chưabiết rõ chất lượng, chỉ có trên 55% dám mua dùng thử, trong khi đó ở Thànhphố Hồ Chí Minh con số lên tới 73% [17]
Những đặc điểm và thói quen tiêu dùng, mua sắm, ăn uống như trêncủa người dân Thành phố Hồ Chí Minh ảnh hưởng lớn đến quá trình đảm bảo
an toàn thực phẩm nói chung, còn ảnh hưởng đến hoạt động bảo đảm quyềnlợi người tiêu dùng về an toàn thực phẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh nóiriêng
2.2 Quyền và nghĩa vụ của người tiêu dùng thực phẩm.
Quyền của người tiêu dùng thực phẩm:
Căn cứ theo Điều 8 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010,người tiêu dùng có tám quyền sau đây: Quyền được an toàn; Quyền đượcthông tin; Quyền được lựa chọn; Quyền được lắng nghe; Quyền được thamgia xây dựng chính sách, pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;
Trang 40Quyền được yêu cầu bồi thường;Quyền được khiếu nại, tố cáo, khởi kiện;Quyền được giáo dục, đào tạo về tiêu dùng.
Đáng chú ý, quyền được sử dụng thực phẩm sạch của nhân dân chưađược đảm bảo, chẳng hạn, theo báo cáo kết quả triển khai thực hiện Chỉ thịcủa Thủ tướng Chính phủ về tăng cường trách nhiệm quản lý nhà nước về antoàn thực phẩm trên địa bàn TP.HCM quý 1 năm 2019 cho thấy Thành phố
Hồ Chí Minh đã kiểm tra 22.530 cơ sở và phát hiện 8.505 cơ sở vi phạm(chiếm tỉ lệ 37,75 %) Đặc biệt, trong quá trình hậu kiểm việc đảm bảo antoàn thực phẩm đối với 345 hồ sơ tự công bố sản phẩm, có đến 304 hồ sơkhông đạt trong số 1.990 mẫu thực phẩm được lấy mẫu để kiểm tra các chỉtiêu an toàn thực phẩm, chỉ có 1.885 mẫu đạt, còn 105 mẫu không đạt [28]
Thành phố Hồ Chí Minh đã và đang thực hiện nhiều giải pháp để kiểmsoát, phát hiện kịp thời thực phẩm không bảo đảm chất lượng Cùng với đó,thành phố tiếp tục triển khai những giải pháp lâu dài nhằm xây dựng chuỗichế biến, cung ứng thực phẩm sạch nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng caocủa người tiêu dùng
Đơn cử, tại chợ đầu mối nông sản thực phẩm Hóc Môn đang gặp không
ít trở ngại trong việc kiểm soát chất lượng an toàn thực phẩm, thường xuyênlấy mẫu giám sát, đánh giá nguy cơ ô nhiễm, kiểm tra các chỉ tiêu an toànthực phẩm, tiến hành truy xuất và xử lý đúng quy định các mẫu không đạt,ngăn chặn thực phẩm không bảo đảm chất lượng lưu thông ngoài thị trường.Hiện nay, Ban Quản lý an toàn thực phẩm thành phố có hai đội quản lý antoàn thực phẩm đặt tại chợ đầu mối nông sản thực phẩm Hóc Môn và BìnhĐiền nhằm quản lý trực tiếp trên địa bàn, bảo đảm xử lý các vấn đề về an toànthực phẩm kịp thời và nhanh nhất
Cùng với việc kiểm soát nguồn thịt tại các lò giết mổ, chợ đầu mối, thờigian tới, thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục khuyến khích tiểu thương, doanh