1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN văn THẠC sĩ) bảo đảm quyền làm việc của người khuyết tật từ thực tiễn thành phố hồ chí minh

115 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bảo Đảm Quyền Làm Việc Của Người Khuyết Tật Từ Thực Tiễn Thành Phố Hồ Chí Minh
Tác giả Diệp Thế Dân
Người hướng dẫn PGS. TS. Bùi Nguyên Khánh
Trường học Học viện Khoa học Xã hội
Chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

khuyết tật, Thông tư số 37/2012/ TTLT-BLĐTBXH-BYT-BTC-BGDĐT thông tư liên tịch quy định về việc xác định mức độ khuyết tật do hội đồng xác định mức độ khuyết tật thực hiện… Tuy nhiên, qu

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Mã số: 8.38.01.02

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Bùi Nguyên Khánh

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định

Tác giả

Diệp Thế Dân

Trang 4

MỤC LỤC

Chương 1:

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN LÀM

VIỆC CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT

THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM QUYỀN LÀM VIỆC CỦA NGƯỜI

KHUYẾT TẬT TỪ THỰC TIỄN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ

MINH GIAI ĐOẠN 2015 - 2019

33

2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến bảo đảm quyền làm việc của người

khuyết tật từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh 33 2.2 Kết quả, hạn chế trong bảo đảm quyền làm việc của người

khuyết tật từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh hiện nay 36 2.3 Nguyên nhân hạn chế trong bảo đảm quyền làm việc của người

khuyết tật từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh hiện nay 48

Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUYỀN LÀM

VIỆC CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ

HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY

54

3.1 Phương hướng bảo đảm quyền làm việc của người khuyết tật từ 54

Trang 5

thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh

3.2 Giải pháp bảo đảm quyền làm việc của người khuyết tật từ thực

tiễn thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay 55

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Người khuyết tật được coi là một trong những nhóm người dễ bị tổn thương nhất Vì tình trạng khuyết tật nên họ phải chịu những thiệt thòi trên tất cả phương diện của đời sống xã hội, như sức khỏe kém hơn, học vấn thấp hơn, mức độ tham gia kinh tế ít hơn và nghèo khổ hơn, so với những người không khuyết tật

Trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, phát huy truyền thống nhân ái của dân tộc, Đảng, Nhà nước và xã hội luôn quan tâm chăm sóc và giúp đỡ những người yếu thế trong xã hội, trong đó có người khuyết tật Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991 sửa đổi 2011) đã chỉ rõ:

"Chăm lo đời sống những người cao tuổi, neo đơn, khuyết tật, mất sức lao động và trẻ mồ côi" [18, tr 23] Hiến pháp năm 2013, Điều 59, khoản 2 quy định: "Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội, có chính sách trợ giúp người cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn khác”

Để giúp người khuyết tật có thể vượt qua được những khó khăn, do khiếm khuyết của cơ thể, hòa nhập cộng đồng, ngoài các chính sách xã hội giúp người khuyết tật ổn định cuộc sống như: Trợ cấp xã hội, bảo hiểm y tế, giáo dục… thì việc

hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi trong giải quyết việc làm cho người khuyết tật, đóng vai trò vô cùng quan trọng giúp họ tự tin vươn lên ổn định cuộc sống Đây là, một trong những giải pháp không chỉ mang lại hiệu quả thiết thực mà còn thể hiện tính nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước đối với đối tượng yếu thế, thiệt thòi gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống

Năm 2010 được đánh dấu là năm bước ngoặt trong công tác chăm sóc người khuyết tật bằng việc ra đời Luật Người khuyết tật Luật Người khuyết tật là sự kế thừa của Pháp lệnh về Người tàn tật năm 1998 Ngoài ra, Nhà nước còn có các Nghị định, Thông tư, hướng dẫn trong công tác chăm sóc người khuyết tật như: Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10/4/2012 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người khuyết tật, trong đó quy định rõ về việc làm cho người

Trang 7

khuyết tật, Thông tư số 37/2012/ TTLT-BLĐTBXH-BYT-BTC-BGDĐT thông tư liên tịch quy định về việc xác định mức độ khuyết tật do hội đồng xác định mức độ khuyết tật thực hiện…

Tuy nhiên, quyền làm việc của người khuyết tật tại Việt Nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, chưa được quan tâm đúng mức, một số người khuyết tật mặc dù đã qua đào tạo, có kỹ năng tay nghề nhưng vẫn không có việc làm hoặc bị từ chối nhận vào làm việc, dẫn đến lãng phí nguồn lao động, tạo thêm gánh nặng cho phúc lợi xã hội Một phần do quan niệm xã hội luôn xem thường người khuyết tật, không có khả năng lao động, một số người sử dụng lao động chưa nhận thức được năng lực của người khuyết tật (những đặc điểm hơn hẳn người bình thường như chăm chỉ, tận tuỵ, làm việc hết mình…) và chiến lược sắp xếp và sử dụng người lao động khuyết tật Mặt khác, các chính sách hỗ trợ, khuyến khích, tuyên truyền của Nhà nước chưa thực sự hiệu quả, cộng với tâm lý tự ti của chính bản thân người khuyết tật đã tạo thành rào cản rất lớn trong việc làm

Từ những luận giải trên, vận dụng những kiến thức đã được học cùng với thực tiễn công tác tại địa phương, học viên chọn đề tài "Bảo đảm quyền làm việc của người khuyết tật từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh", để nghiên cứu trong phạm

vi luận văn thạc sĩ, chuyên ngành luật Hành chính

2 Tình hình nghiên cứu

Đảm bảo quyền con người là một trong những nội dung quan trọng đã được các ngành và nhiều tổ chức, cá nhân quan tâm nghiên cứu Đặc biệt, từ khi Ban Bí thư khóa X ban hành Chỉ thị số 44-CT/TW, ngày 20/7/2010 về công tác nhân quyền trong tình hình mới đã có rất nhiều công trình khoa học đề cập đến việc đảm bảo quyền con người nói chung và đảm bảo quyền của người khuyết tật nói riêng, cụ thể như sau:

* Các công trình là đề tài, dự án, báo cáo nghiên cứu:

- "Hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền của các nhóm xã hội dễ bị tổn thương" của Hoàng Thị Kim Quế

Trang 8

- "Báo cáo khảo sát về Đào tạo nghề và Việc làm cho người khuyết tật tại Việt Nam" của Tổ chức Lao động Quốc tế đã cung cấp một cách nhìn riêng cho phụ nữ khuyết tật, Chính phủ Việt Nam chú trọng nhiều đến hòa nhập, đào tạo nghề, việc làm và phát triển doanh nghiệp

- "Báo cáo thường niên về hoạt động hỗ trợ người khuyết tật Việt Nam" của Ban Điều phối các hoạt động hỗ trợ người tàn tật Việt Nam NCCD

- "Báo cáo nghiên cứu về người khuyết tật ở Việt Nam, một số kết quả chủ yếu" của Quỹ Dân số Liên hợp Quốc

* Các công trình nghiên cứu trong phạm vi luận văn, luận án

- Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Thị Báo: "Hoàn thiện pháp luật về quyền của người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay" năm 2008 [4]

- "Việc làm cho người khuyết tật theo pháp luật Việt Nam hiện hành” của Nguyễn Bích Ngọc [28]

- "Pháp luật về việc làm cho người khuyết tật từ thực tiễn Thành phố Hà Nội" của Dương Thị Chung [12]

- "Pháp luật về việc làm cho người khuyết tật" của Hồ Thị Trâm [51]

* Các công trình nghiên cứu đã xuất bản thành sách, đăng trên các tạp chí chuyên ngành:

- "Bảo trợ xã hội cho những nhóm thiệt thòi ở Việt Nam" của Lê Bạch Dương, Đặng Nguyên Anh, Khuất Thu Hồng, Lê Hoài Trung và Robert Leroy Bach [16]

- "Luật người khuyết tật" của Hà Đình Bốn [8]

- "Bảo đảm việc làm và thu nhập cho người khuyết tật" của Đinh Thị Cẩm Hà [21]

- "Bảo đảm quyền lao động của người khuyết tật" của Ngọc Điệp [20]

- "Thực trạng các quy định về việc làm đối với người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay" của Hoàng Kim Khuyên [22]

- "Chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp của thương binh và người khuyết tật: Còn nhiều bất cập" của PV [30] Bài viết đánh giá Doanh nghiệp "tàn nhưng không phế" đó là tên gọi mà giới doanh nhân Việt Nam đặt cho doanh nghiệp của

Trang 9

thương binh và người khuyết tật với bao tình cảm trân trọng và khâm phục Bởi lẽ, lực lượng lao động trong loại hình doanh nghiệp này thiệt thòi đủ thứ: vừa yếu về sức khỏe, thiếu về vốn và kiến thức so với lực lượng lao động bình thường trong

xã hội, song họ lại có nghị lực kiên cường dám vượt lên số phận

- "Bảo đảm quyền lao động và việc làm của người khuyết tật ở Việt Nam và việc gia nhập Công ước 159 của ILO" của Trần Thái Dương [17] Bài viết phân tích khái niệm về quyền lao động và việc làm, bảo đảm quyền lao động và việc làm của người khuyết tật; chính sách và việc thực hiện chính sách bảo đảm quyền lao động

và việc làm của người khuyết tật; việc gia nhập Công ước 159 (Công ước về Phục hồi chức năng lao động và Việc làm của người khuyết tật) của Tổ chức Lao động quốc tế; nêu một số ý kiến đề xuất, kiến nghị bảo đảm quyền lao động và việc làm của người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay

- "Thực trạng các quy định về việc làm đối với người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay" của Hoàng Kim Khuyên [22]

Như vậy, có thể thấy, các công trình nghiên cứu về quyền của người khuyết tật, pháp luật về quyền lao động việc làm của người khuyết tật khá phong phú, đã khái quát một cách có hệ thống các vấn đề bảo đảm quyền của người khuyết tật dưới góc nhìn quyền con người Kết quả nghiên cứu này sẽ là tài liệu bổ ích cho tác giả tham khảo, kế thừa trong quá trình nghiên cứu đề tài của luận văn Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thể về đề tài: "Bảo đảm quyền làm việc của người khuyết tật trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh", do đó đề tài nghiên cứu của luận văn là mới, không trùng lặp với các đề tài đã được công bố

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của Luận văn là nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận

về bảo đảm quyền làm việc của người khuyết tật; phân tích, đánh giá thực trạng bảo đảm quyền làm việc của người khuyết tật từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh; để từ

đó đề xuất các phương hướng, giải pháp bảo đảm quyền làm việc của người khuyết tật ở thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới

Trang 10

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích trên, luận văn có các nhiệm vụ sau đây:

Một là, nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về bảo đảm quyền làm việc của người khuyết tật;

Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng bảo đảm quyền làm việc của người khuyết tật tại thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2015-2020;

Ba là, đề xuất các phương hướng, giải pháp bảo đảm quyền làm việc của người khuyết tật ở thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu về bảo đảm quyền làm việc của người khuyết tật trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: Dưới góc độ pháp luật về quyền con người, đề tài chỉ tập trung

nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn bảo đảm quyền làm việc của người khuyết tật trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay Chỉ tập trung nghiên cứu, đánh giá dựa trên nội dung bảo đảm quyền làm việc của người khuyết tật theo quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia; không đánh giá theo cơ chế bảo đảm quyền làm việc của người khuyết tật

Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng bảo đảm quyền làm

việc của người khuyết tật trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

Về thời gian: Số liệu cập nhật để phân tích thực trạng bảo đảm quyền làm việc

của người khuyết tật trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2015 đến năm

2020

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Liên hợp quốc, quan điểm của Đảng, Nhà

Trang 11

nước Việt Nam về quyền con người, quyền của người khuyết tật và quyền làm việc của người khuyết tật

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: Phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, khảo cứu tài liệu, … Đồng thời, luận văn kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu, số liệu phân tích của các công trình khoa học đã được công bố

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu

- Luận văn có thể được sử dụng làm nguồn tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy, nghiên cứu chuyên ngành pháp luật hiến pháp về quyền con người tại Học viện Khoa học và xã hội, tại các cơ sở đào tạo, nghiên cứu khác

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm có 3 chương, 08 tiết

Trang 12

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN LÀM VIỆC

CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT

1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM BẢO ĐẢM QUYỀN LÀM VIỆC CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT

1.1.1 Khái niệm bảo đảm quyền làm việc của người khuyết tật

1.1.1.1 Khái niệm người khuyết tật

Trên thế giới hiện nay có hai quan điểm về vấn đề khuyết tật Theo quan điểm thứ nhất, cho rằng khuyết tật là ở chính sự phát triển tự nhiên về thể chất của con người đó, hoặc không quan tâm đến các yếu tố về môi trường xã hội xung quanh họ (mô hình khuyết tật dưới góc độ y tế) Ngược lại, quan điểm thứ hai cho rằng, khuyết tật là một sản phẩm của xã hội, bắt nguồn từ việc môi trường vật thể và môi trường xã hội không đáp ứng được những nhu cầu của từng cá nhân hoặc các nhóm đối tượng cụ thể (mô hình xã hội)

Từ hai quan điểm nêu trên, việc phân loại quốc tế về khiếm khuyết, khuyết tật

và tàn tật xuất bản đầu tiên vào năm 1980 bởi Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã có một sự phân biệt quan trọng giữa khiếm khuyết và hai hình thức khác của tình trạng khiếm khuyết được gọi là khuyết tật và tàn tật [55] Theo đó, khuyết tật là bất kỳ giới hạn hoặc mất chức năng bắt nguồn từ sự khiếm khuyết làm ngăn cản việc thực hiện một hoạt động trong khoảng thời gian được coi là bình thường của một người; tàn tật là tình thế bất lợi xuất phát từ sự khiếm khuyết hoặc khuyết tật hạn chế thực hiện một vai trò được coi là bình thường đối với tuổi tác, giới tính và các yếu tố xã hội và văn hóa

Tại Khoản 1, Điều 1 Công ước số 159 của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) về phục hồi chức năng và việc làm (người khuyết tật) năm 1983 có định nghĩa về người có khuyết tật như sau: "Người khuyết tật dùng để chỉ một cá nhân mà khả năng có một việc làm phù hợp, trụ lâu dài với công việc đó và thăng tiến với nó bị

Trang 13

giảm sút đáng kể do hậu quả của một khiếm khuyết về thể chất và tâm thần được thừa nhận" [48]

Theo Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 13/3/2007: Người khuyết tật bao gồm những người có khiếm khuyết lâu dài về thể chất, tâm thần, trí tuệ hoặc giác quan mà khi tương tác với những rào cản khác nhau có thể phương hại đến sự tham gia hữu hiệu và trọn vẹn của họ vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác [26]

Như vậy, Theo Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật thì khái niệm người khuyết tật được hiểu là một khái niệm mở, có sự tiến triển theo thời gian và điều kiện xã hội, là kết quả của sự tương tác giữa những người có khiếm khuyết và những rào cản về thái độ và môi trường mà ở đó hạn chế sự tham gia một cách đầy

đủ và có hiệu quả vào các hoạt động trên cơ sở bình đẳng với các thành viên khác trong xã hội Mặc dù, vẫn còn những quan điểm khác nhau về những thuộc tính cấu thành khái niệm "người khuyết tật", tuy nhiên, đây là lần đầu tiên có một định nghĩa

về "người khuyết tật" được xác định trong luật nhân quyền quốc tế Điều này có ý nghĩa lớn trong việc thúc đẩy và bảo vệ các quyền của người khuyết tật

Ở nước ta, khái niệm về người khuyết tật trước đây chưa có sự thống nhất và tồn tại song song 2 cụm từ "người khuyết tật" và "người tàn tật" Từ năm 2009 thì mới có sự thống nhất gọi chung là "người khuyết tật" trên các phương tiện thông tin đại chúng và trong các văn bản pháp luật

Theo Luật Người khuyết tật năm 2010 khái niệm người khuyết tật được hiểu

là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn [38] Đây là khái niệm tương đối toàn diện về lao động khuyết tật, khắc phục những bất cập trong khái niệm lao động khuyết tật trước đây Khái niệm này thuận lợi cho xây dựng các mục tiêu hỗ trợ về mặt vật chất hoặc tài chính cho lao động khuyết tật, hoặc người sử dụng lao động khuyết tật Điều này mang lại ý nghĩa to lớn, giúp cho việc hoạch định chính sách và thực hiện chính sách đối với lao động khuyết tật được hiệu quả Như vậy, khái niệm người khuyết tật được xây dựng phụ

Trang 14

thuộc rất nhiều vào mục tiêu mà luật hoặc các chính sách pháp luật của mỗi nước theo đuổi, tiêu chí xác định khuyết tật, yếu tố văn hóa, điều kiện về kinh tế, xã hội

Có thể thấy cho đến nay, các nước trên thế giới không có một định nghĩa chung nhất về người khuyết tật Tuy nhiên, từ phân tích nêu trên có thể đưa ra khái niệm người khuyết tật như sau: Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng dẫn đến những hạn chế trong việc tham gia vào các hoạt động của đời sống xã hội trên cơ sở bình đẳng về quyền và nghĩa vụ với những chủ thể khác

1.1.1.2 Khái niệm quyền làm việc

Quyền làm việc hay quyền có việc làm, quyền được làm việc là một yếu tố cơ bản bảo đảm sự tồn tại thực tế của con người, đồng thời bảo đảm nhân phẩm và lòng tự trọng của con người (sống dựa vào năng lực và khả năng của bản thân chứ không dựa dẫm, ỷ lại vào người khác) Quyền làm việc là nhóm quyền cơ bản trong

Bộ Luật Lao động và là một trong rất nhiều quyền khác của người lao động Quyền được làm việc có vị trí rất quan trọng, vì quyền được làm việc là cốt lõi để thực hiện các quyền con người khác và tạo nên một phần quan trọng không thể tách rời tự nhiên của nhân phẩm Quyền làm việc chính là tiền đề, điều kiện quan trọng để thực hiện các quyền khác của người lao động nói riêng và các quyền của con người nói chung, như quyền về nhà ở, quyền về giáo dục, văn hoá Chỉ khi quyền làm việc được đảm bảo thực hiện, thì các quyền khác của con người mới có ý nghĩa

Theo pháp luật quốc tế, tại Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948

đã ghi nhận: Ai cũng có quyền được làm việc, được tự do lựa chọn việc làm, được hưởng những điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi và được bảo vệ chống thất nghiệp; Cùng làm việc ngang nhau, mọi người được trả lương ngang nhau, không phân biệt đối xử; Người làm việc được trả lương tương xứng và công bằng, đủ để bảo đảm cho bản thân và gia đình một đời sống xứng đáng với nhân phẩm, và nếu cần, sẽ được bổ sung bằng những biện pháp bảo trợ xã hội khác [24]

Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội năm 1966 cũng xác định các yếu tố của quyền có việc làm: Các quốc gia thành viên Công ước này thừa

Trang 15

nhận quyền làm việc, trong đó bao gồm quyền của tất cả mọi người có cơ hội kiếm sống bằng công việc do họ tự do lựa chọn hoặc chấp nhận, và các quốc gia phải thi hành các biện pháp thích hợp để đảm bảo quyền này; Các quốc gia thành viên Công ước phải tiến hành các biện pháp để thực hiện đầy đủ quyền này, bao gồm triển khai các chương trình đào tạo kỹ thuật và hướng nghiệp, các chính sách và biện pháp kỹ thuật nhằm đạt tới sự phát triển vững chắc về kinh tế, xã hội và văn hoá, tạo công ăn việc làm đầy đủ và hữu ích với điều kiện đảm bảo các quyền tự do cơ bản về chính trị và kinh tế của từng cá nhân."; "Các quốc gia thành viên Công ước thừa nhận quyền của mọi người được hưởng những điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi, đặc biệt đảm bảo: Thù lao cho tất cả mọi người làm công tối thiểu phải đảm bảo: (i) Tiền lương thoả đáng và tiền công bằng nhau cho những công việc có giá trị như nhau, không có sự phân biệt đối xử nào; đặc biệt, phụ nữ phải được đảm bảo những điều kiện làm việc không kém hơn đàn ông, được trả công ngang nhau đối với những công việc giống nhau, (ii) Một cuộc sống tương đối đầy đủ cho họ và gia đình họ phù hợp với các quy định của Công ước này; Những điều kiện làm việc an toàn và lành mạnh; Cơ hội ngang nhau cho mọi người trong việc được đề bạt lên chức vụ thích hợp cao hơn, chỉ cần xét tới thâm niên và năng lực làm việc; Sự nghỉ ngơi, thời gian rảnh rỗi, giới hạn hợp lý số giờ làm việc, những ngày nghỉ thường

kỳ được hưởng lương cũng như thù lao cho những ngày nghỉ lễ [25]

So với quyền của người lao động thì quyền làm việc hẹp hơn nhưng lại là một quyền cơ bản nhất, quan trọng nhất, bởi vì quyền làm việc chính là tiền đề, điều kiện quan trọng để thực hiện các quyền khác của người lao động nói riêng và các quyền của con người nói chung, như quyền về nhà ở, quyền về giáo dục, văn hoá

Ở Việt Nam, quyền làm việc được ghi nhận là quyền làm việc trong Hiến pháp năm 1959: Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà có quyền làm việc Nhà nước dựa vào sự phát triển có kế hoạch của nền kinh tế quốc dân, dần dần mở rộng công việc làm, cải thiện điều kiện lao động và lương bổng, để bảo đảm cho công dân được hưởng quyền đó [25]

Trang 16

Hiến pháp năm 1980: Lao động là quyền, nghĩa vụ và vinh dự hàng đầu của công dân; Công dân có quyền có việc làm Người có sức lao động phải lao động theo quy định của pháp luật; Nhà nước dựa vào kế hoạch phát triển kinh tế và văn hoá mà tạo thêm việc làm, sắp xếp công việc căn cứ vào năng lực, nguyện vọng cá nhân và yêu cầu của xã hội, nâng cao trình độ nghề nghiệp, bồi dưỡng sức lao động, không ngừng cải thiện điều kiện làm việc của lao động chân tay và lao động trí óc; Nhà nước quy định và bảo đảm thực hiện các chế độ nhằm đề phòng tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp [34]

Hiến pháp năm 1992 quy định: "Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân Nhà nước và xã hội có kế hoạch tạo ngày càng nhiều việc làm cho người lao động" [35] Hiến pháp năm 2013: "Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm" [36]

Công dân có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc; người làm công ăn lương được bảo đảm các điều kiện làm việc công bằng, an toàn; được hưởng lương, chế độ nghỉ ngơi; nghiêm cấm phân biệt đối xử, cưỡng bức lao động, sử dụng nhân công dưới độ tuổi lao động tối thiểu [39], [40]

1.1.1.3 Quyền làm việc của người khuyết tật

Quyền làm việc là một trong những quyền cơ bản của quyền con người,

Quyền làm việc của người khuyết tật là tiền đề tạo ra cơ hội và động lực cho người khuyết tật tìm kiếm việc làm, có cơ hội khẳng định bản thân, tự lập trong cuộc sống, tạo ra thu nhập để không phải dựa dẫm vào gia đình, người thân Do vậy, đảm bảo việc làm cho người khuyết tật được ghi nhận trong Công ước quốc tế và trong pháp luật quốc gia

Tại Điều 27 Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật quy định rõ: Các quốc gia thành viên công nhận quyền được làm việc của người khuyết tật, trên cơ sở bình đẳng với người khác; trong đó bao gồm cả quyền có cơ hội kiếm sống bằng một công việc được tự do lựa chọn hoặc chấp nhận trong thị trường lao động và môi trường làm việc mở, hòa nhập và dễ tiếp cận đối với người khuyết tật [26]

Trang 17

Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), cần thiết phải ban hành chính sách việc làm nhằm đảm bảo cho người khuyết tật được tiếp cận với cơ hội việc làm và nghiêm cấm phân biệt đối xử vì lí do khuyết tật Ngoài ra, cũng theo tổ chức này thì người sử dụng lao động phải có trách nhiệm nhận người khuyết tật vào làm việc

Ở Việt Nam, vấn đề việc làm và đảm bảo quyền làm việc cho người khuyết tật được Nhà nước và xã hội coi trọng, quan tâm thích đáng Các quy định của Luật Người khuyết tật năm 2010 đã nhấn mạnh Nhà nước cần tạo điều kiện để người khuyết tật có việc làm và làm việc phù hợp với sức khoẻ, đặc điểm khuyết tật của người khuyết tật (Điều 33), khuyến khích các cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp nhận người khuyết tật vào làm việc Nếu doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động là người khuyết tật được hưởng chính sách ưu tiên hơn Mặt khác, Nhà nước còn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp sử dụng từ 30% tổng số lao động trở lên là người khuyết tật được hỗ trợ cải tạo điều kiện, môi trường làm việc, được miễn thuế thu nhập cá nhân, được vay vốn với lãi suất ưu đãi, được ưu tiên cho thuê đất, mặt bằng, mặt nước… Ngoài ra, để đảm bảo cho người khuyết tật có cuộc sống và việc làm phù hợp, Luật còn quy định thành lập quỹ hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật Đây là quỹ xã hội từ thiện với mục tiêu huy động nguồn lực trợ giúp người khuyết tật Quỹ được hỗ trợ từ nguồn ngân sách nhà nước hoặc từ các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước đóng góp hoặc từ các khoản thu khác

Năm 2012, sửa đổi năm 2019, Bộ luật Lao động một lần nữa khẳng định việc làm và đảm bảo việc làm cho người khuyết tật là nhiệm vụ quan trọng, trong đó:

"Nhà nước bảo trợ quyền lao động, tự tạo việc làm của lao động là người khuyết tật,

có chính sách khuyến khích và ưu đãi người sử dụng lao động tạo việc làm và nhận lao động là người khuyết tật vào làm việc, theo quy định của Luật Người khuyết tật" (khoản 1 Điều 176) [39], [40]

Như vậy, quyền làm việc là quyền thiêng liêng, cao quý của con người, đã được cộng đồng quốc tế và các quốc gia công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm Đối với người khuyết tật, quyền làm việc lại càng có ý nghĩa quan trọng hơn, bởi lẽ nếu quyền này được tôn trọng và bảo đảm thì mới tạo ra cơ hội thực tế để người

Trang 18

khuyết tật có thể tiếp cận, hoà nhập, bình đẳng với mọi người trong cộng đồng xã hội Việc công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền lao động và việc làm của người khuyết tật phải được thực hiện theo nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt đối xử, đồng thời có sự hỗ trợ, điều chỉnh hợp lý đối với người khuyết tật

1.1.1.4 Bảo đảm quyền làm việc của người khuyết tật

Theo Từ điển Tiếng Việt, "bảo đảm là làm cho chắc chắn thực hiện được, giữ gìn được hoặc có đầy đủ những gì cần thiết" [52, tr.36] Quyền làm việc của mọi người trong đó có người khuyết tật thuộc nhóm quyền kinh tế, xã hội và là quyền hiến định Điều 14, Hiến pháp năm 2013 quy định: "Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, đảm bảo theo Hiến pháp và pháp luật" [41]

Quyền Hiến định về việc làm của người khuyết tật ở Việt Nam đã được ghi nhận và cụ thể hóa trong hệ thống pháp luật Cùng với Luật Người khuyết tật (2010), Bộ luật Lao động (2012, sửa đổi 2019), Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật như Luật Giáo dục nghề nghiệp (2014), Luật Việc làm (2013), Luật An toàn, vệ sinh lao động (2015) đều ghi nhận, bảo đảm quyền làm việc của người khuyết tật Nhà nước cũng đã triển khai những đề án, kế hoạch nhằm trợ giúp người khuyết tật trong tiếp cận việc làm Có thể kể đến một số văn bản quan trọng như Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” (được phê duyệt theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009; Đề án “Trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2012 – 2020” (được phê duyệt theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 1019/QĐ-TTg ngày 5/8/2012); Chỉ thị của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội số 3930/BLĐTBXH-TCDN ngày 21/10/2014 về nâng cao hiệu quả và chất lượng trong thực hiện mục tiêu dạy nghề

và tạo việc làm cho người khuyết tật

Bên cạnh đó, Nhà nước áp dụng các biện pháp để đưa chính sách, pháp luật được thực thi trong thực tiễn như tổ chức tuyên truyền, phổ biến các quy định pháp

Trang 19

luật và chính sách đã được ban hành; về quyền và nghĩa vụ của người khuyết tật, người sử dụng lao động là người khuyết tật, các bên có liên quan được pháp luật quy định; các dịch vụ hỗ trợ về việc làm và cách thức tìm kiếm việc làm…để người khuyết tật quyết định phương thức làm việc phù hợp như tự tạo việc làm hoặc tham gia vào các quan hệ lao động bằng hình thức tuyển dụng…

Từ phân tích trên, dưới góc độ quyền con người có thể hiểu: Bảo đảm quyền làm việc của người khuyết tật là trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc tạo ra các tiền đề, điều kiện về chính trị, pháp lý, kinh tế, xã hội, văn hóa

và tổ chức thực hiện để người khuyết tật có cơ hội bình đẳng để tiếp cận, thụ hưởng đầy đủ quyền làm việc theo quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia Như vậy, bảo đảm quyền làm việc của người khuyết tật trước hết thuộc về trách nhiệm của Nhà nước phải tạo ra các điều kiện và môi trường phù hợp để người khuyết tật có cơ hội tiếp cận, hưởng thụ quyền làm việc của mình một cách bình đẳng, không bị phân biệt đối xử

1.1.2 Đặc điểm, ý nghĩa của bảo đảm quyền làm việc của người khuyết tật

1.1.2.1 Đặc điểm bảo đảm quyền làm việc của người khuyết tật

Thứ nhất, bảo đảm quyền làm việc của người khuyết tật là trách nhiệm của Nhà nước và xã hội

Nhà nước có vai trò hết sức quan trọng trong việc định hướng nghề nghiệp và tạo việc làm cho người khuyết tật, bởi họ cũng là công dân, là lực lượng lao động của xã hội Bộ luật Lao động còn quy định Nhà nước thực hiện bảo trợ quyền lao động, tự tạo việc làm của người lao động khuyết tật

Nhà nước có nghĩa vụ thúc đẩy việc tuyển dụng người khuyết tật trong các khu vực công, tạo ra những cơ hội tự tạo việc làm của người khuyết tật, hỗ trợ việc tiếp cận việc làm của họ ở khu vực tư nhân, bảo đảm có những sự điều chỉnh hợp lý với người khuyết tật ở nơi làm việc, bảo vệ người khuyết tật khỏi bị lao động cưỡng bức, bóc lột hay bị bóc lột sức lao động

Ngoài trách nhiệm của Nhà nước, đảm bảo việc làm cho người khuyết tật còn

là trách nhiệm của toàn xã hội

Trang 20

Pháp luật quy định các cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân không được từ chối tuyển dụng người khuyết tật có đủ điều kiện vào làm việc hoặc hạn chế cơ hội làm việc của họ bằng cách đặt ra tiêu chuẩn tuyển dụng trái pháp luật; có trách nhiệm bố trí, sắp xếp công việc, đảm bảo môi trường và điều kiện làm việc phù hợp đối với lao động là người khuyết tật; phải tham khảo ý kiến lao động là người khuyết tật trước khi quyết định những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích của họ

Các tổ chức giới thiệu việc làm có trách nhiệm tư vấn, giới thiệu việc làm cho người khuyết tật Bên cạnh đó, các cơ sở sản xuất kinh doanh nếu có từ 30% trở lên tổng số lao động là người khuyết tật thì được hỗ trợ cải tạo điều kiện, môi trường làm việc phù hợp, được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp, được vay vốn với lãi suất

ưu đãi theo dự án phát triển sản xuất, kinh doanh; được ưu tiên cho thuê đất, mặt bằng, mặt nước và miễn, giảm tiền thuê đất, mặt bằng, mặt nước phục vụ sản xuất kinh doanh theo tỷ lệ lao động là người khuyết tật, mức độ khuyết tật của người lao động và quy mô doanh nghiệp Doanh nghiệp có sử dụng từ 10 người khuyết tật trở lên làm việc ổn định sẽ được hưởng ưu đãi về cải tạo điều kiện, môi trường làm việc; ưu đãi về vay vốn ưu đãi theo dự án phát triển kinh doanh từ ngân hàng chính sách xã hội Các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp sử dụng từ 10 người khuyết tật trở lên làm việc ổn định được hưởng chính sách về cải tạo điều kiện, môi trường làm việc…

Thứ hai, bảo đảm quyền làm việc của người khuyết tật bao hàm sự bảo đảm cả

về mặt thể chế và về mặt thực tế

Ở Việt Nam, trong thời gian qua Nhà nước ta cũng đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật như Luật Người khuyết tật (2010), Bộ luật Lao động (2012,sửa đổi 2019), Luật Giáo dục nghề nghiệp (2014), Luật Việc làm (2013), Luật Xây dựng (2014), Luật Giao thông đường bộ (2008), Luật Bảo hiểm y tế (2008, sửa đổi

bổ sung năm 2014), Luật An toàn, vệ sinh lao động (2015) đều ghi nhận việc đảm bảo quyền làm việc của người khuyết tật Trên cơ sở pháp luật ghi nhận về quyền làm việc của người khuyết tật, Nhà nước bảo trợ quyền lao động, tự tạo việc làm

Trang 21

của người khuyết tật, khuyến khích và ưu đãi người sử dụng lao động tạo ra việc làm và nhận người lao động khuyết tật vào làm việc

Bên cạnh việc thiết lập một hành lang pháp lý, để hiện thực hóa trong thực tế Nhà nước cũng đã xây dựng và thực hiện nhiều chính sách, chương trình kinh tế -

xã hội nhằm thúc đẩy việc bảo đảm quyền làm việc của người khuyết tật, trong đó tập trung vào việc phát triển các ngành nghề tại các địa phương, hỗ trợ các doanh nghiệp, mở rộng hợp tác quốc tế về đào tạo nghề và xuất khẩu lao động như Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 (Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ); Đề án trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2012 - 2020 (Quyết định số 1019/QĐ-TTg ngày 5/8/2012 của Thủ tướng Chính phủ); Chỉ thị của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội số 3930/BLĐTBXH-TCDN ngày 21/10/2014 về nâng cao hiệu quả và chất lượng trong thực hiện mục tiêu dạy nghề và tạo việc làm cho người khuyết tật

Thứ ba, đảm bảo người khuyết tật có cơ hội tiếp cận, hưởng thụ quyền làm việc của mình một cách bình đẳng thực chất, không bị phân biệt đối xử

Người khuyết tật có những thiệt thòi hơn so với người bình thường trong hoạt động nghề nghiệp bởi những khó khăn mà họ phải gánh chịu do những khiếm khuyết về thể chất hoặc tinh thần Vì vậy, nếu hiểu "đối xử bình đẳng" hay "không phân biệt đối xử" theo nghĩa đối xử cào bằng giữa người khuyết tật với người bình thường sẽ dẫn đến không những máy móc trong nhận thức và hành động mà còn tạo

ra sự bất bình đẳng giữa người khuyết tật và người không khuyết tật Ví dụ, không thể giao cho người bị khiếm thính công việc trực điện thoại như người người bình thường, không thể giao người bị khiếm thị lái xe như người người bình thường… Như vậy, người sử dụng lao động phải có những điều chỉnh nhất định nhằm bảo đảm người lao động là người khuyết tật có khả năng tiếp cận nghề nghiệp, lao động,

cụ thể là:

Sắp xếp lại các vị trí công việc theo hướng phân bổ hợp lý công việc để người khuyết tật có thể đảm nhiệm được một hoặc một số vị trí phù hợp với đặc điểm khuyết tật cá nhân Trong trường hợp, người lao động vì lý do bệnh tật hoặc tai nạn

Trang 22

mà có khuyết tật thì người sử dụng lao động phân bổ lại công việc nhằm bảo đảm người lao động là người khuyết tật có thể làm việc được Ví dụ, phân công người khiếm thính đảm nhận công việc nghiên cứu hồ sơ, tài liệu và lập báo cáo, còn vị trí công việc phải giao tiếp với khách hàng dành cho người có khả năng giao tiếp tốt Mua sắm, thay đổi, bổ sung các thiết bị, dụng cụ phù hợp với đặc điểm khuyết tật của lao động là người khuyết tật Ví dụ, bố trí bàn làm việc thấp cho người lao động phải ngồi xe lăn, mua sắm máy tính phù hợp với người khiếm thị…

Ban hành, sửa đổi, bổ sung các chính sách, quy tắc lao động trong nội bộ doanh nghiệp hoặc tổ chức nhằm bảo đảm có những chính sách, quy tắc lao động phù hợp với đặc điểm riêng của khuyết tật của người lao động Ví dụ, chính sách về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi áp dụng đối với người khuyết tật không có khả năng duy trì cường độ làm việc 8 giờ/ngày

Cần có người chuyển ngữ trong nội bộ doanh nghiệp hoặc tổ chức nhằm giúp người sử dụng lao động với người lao động có khuyết tật (không có khả năng nói, nghe, và/hoặc nhìn) cũng như người lao động có khuyết tật (không có khả năng nói, nghe và/hoặc nhìn) với người lao động khác

Thứ tư, khi tham gia vào quan hệ lao động, ngoài các quyền, nghĩa vụ như mọi người trong tất cả các lĩnh vực, người khuyết tật còn được hưởng các chính sách mang tính chất đặc thù của lao động là người khuyết tật như pháp luật quy định người lao động là người khuyết tật có đủ 12 tháng làm việc cho một người sử dụng lao động thì được nghỉ 14 ngày làm việc (thay vì 12 ngày làm việc đối với lao động

là người không khuyết tật); họ không phải làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại theo danh mục công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội quy định; bị suy giảm khả năng lao động từ 51% trở lên không phải làm thêm giờ, làm việc ban đêm; được người sử dụng lao động tổ chức khám sức khỏe định kỳ ít nhất 6 tháng một lần…

1.1.2.2 Ý nghĩa của việc bảo đảm quyền làm việc của người khuyết tật

Trang 23

Thứ nhất, ý nghĩa của việc bảo đảm quyền làm việc của người khuyết tật xuất phát từ ý nghĩa việc làm và vai trò của mỗi người đối với phát triển kinh tế và xã hội

Việc làm có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, nó không thể thiếu đối với từng cá nhân và toàn bộ nền kinh tế, là vấn đề cốt lõi và xuyên suốt trong các hoạt động kinh tế, có mối quan hệ mật thiết với kinh tế và xã hội, nó chi phối toàn

bộ mọi hoạt động của cá nhân và xã hội

Đối với từng cá nhân thì có việc làm đi đôi với có thu nhập để nuôi sống bản thân mình, vì vậy nó ảnh hưởng trực tiếp và chi phối toàn bộ đời sống của cá nhân Việc làm ngày nay gắn chặt với trình độ học vấn, trình độ tay nghề của từng cá nhân, thực tế cho thấy những người không có việc làm thường tập trung vào những vùng nhất định (vùng đông dân cư khó khăn về điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng,…), vào những nhóm người nhất định (lao động không có trình độ tay nghề, trình độ văn hoá thấp, lao động là người khuyết tật ) Việc không có việc làm trong dài hạn còn dẫn tới mất cơ hội trau dồi, nắm bắt và nâng cao trình độ kỹ năng nghề nghiệp làm hao mòn và mất đi kiến thức, trình độ vốn có

Đối với kinh tế thì lao động là một trong những nguồn lực quan trọng, là đầu vào không thể thay thế đối với một số ngành, vì vậy nó là nhân tố tạo nên tăng trưởng kinh tế và thu nhập quốc dân, nền kinh tế luôn phải đảm bảo tạo cầu và việc làm cho từng cá nhân sẽ giúp cho việc duy trì mối quan hệ hài hoà giữa việc làm và kinh tế, tức là luôn bảo đảm cho nền kinh tế có xu hướng phát triển bền vững, ngược lại nó cũng duy trì lợi ích và phát huy tiềm năng của người lao động

Đối với xã hội thì mỗi một cá nhân, gia đình là một yếu tố cấu thành nên xã hội, vì vậy việc làm cũng tác động trực tiếp đến xã hội, một mặt nó tác động tích cực, mặt khác nó tác động tiêu cực Khi mọi cá nhân trong xã hội có việc làm thì xã hội đó được duy trì và phát triển do không có mâu thuẫn nội sinh trong xã hội, không tạo ra các tiêu cực, tệ nạn trong xã hội, con người được dần hoàn thiện về nhân cách và trí tuệ…Ngược lại khi nền kinh tế không đảm bảo đáp ứng về việc làm cho người lao động có thể dẫn đến nhiều tiêu cực trong đời sống xã hội và ảnh

Trang 24

hưởng xấu đến sự phát triển nhân cách con người Con người có nhu cầu lao động ngoài việc đảm bảo nhu cầu đời sống còn đảm bảo các nhu cầu về phát triển và tự hoàn thiện, vì vậy trong nhiều trường hợp khi không có việc làm sẽ ảnh hưởng đến lòng tự tin của con người, sự xa lánh cộng đồng và là nguyên nhân của các tệ nạn xã hội Ngoài ra khi không có việc làm trong xã hội sẽ tạo ra các hố ngăn cách giàu nghèo là nguyên nhân nảy sinh ra các mâu thuẫn và nó ảnh hưởng đến tình hình chính trị

Vai trò của việc làm đối với từng cá nhân, kinh tế, xã hội là rất quan trọng Vì vậy, để đáp ứng được nhu cầu việc làm của toàn xã hội đòi hỏi Nhà nước phải có những chiến lược, kế hoạch cụ thể đáp ứng được nhu cầu này

Thứ hai, bảo đảm quyền làm việc của người khuyết tật là một trong những chính sách quan trọng của mỗi quốc gia và có sự tác động lớn đến sự phát triển kinh

tế và đời sống xã hội Đối với người khuyết tật, việc làm luôn đóng vai trò quan trọng Việc làm giúp người khuyết tật có thu nhập để nuôi sống bản thân, ổn định cuộc sống Thông qua công việc được làm, người lao động khuyết tật có thể tự khẳng định về bản thân, không phải phụ thuộc vào gia đình, xã hội

Trước đây, người khuyết tật thường được nhìn nhận dưới góc độ đạo đức, là đối tượng cần trợ giúp Thì ngày nay tiếp cận người khuyết tật dưới góc độ về quyền con người thì họ có đầy đủ các quyền, trong đó có quyền làm việc để tạo ra của cải vật chất, nuôi sống bản thân, cống hiến cho xã hội Nếu bảo đảm được quyền làm việc cho người khuyết tật sẽ góp phần thay đổi nhận thức về khả năng lao động của người khuyết tật, có ý nghĩa quan trọng đối với cuộc sống vật chất và tinh thần của người khuyết tật và gia đình họ

Bảo đảm quyền làm việc không chỉ giúp người khuyết tật có thu nhập, ổn định đời sống mà điều quan trọng hơn đó là giúp người khuyết tật được hòa nhập với cộng đồng và tự tin trong cuộc sống

Trong thực tế đã có rất nhiều trường hợp, dù bản thân khuyết tật nhưng họ vẫn ý thức được vai trò, vị trí của mình trong xã hội, họ biết tự vươn lên trong cuộc sống, học tập và lao động như những người không khuyết tật khác, thậm chí là tạo

Trang 25

được việc làm cho những người khác Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một bộ phận không nhỏ người khuyết tật luôn tự ti, mặc cảm với khiếm khuyết của mình, sống khép kín trong gia đình, ngại tiếp xúc xã hội, ngại giao tiếp… chỉ trông chờ vào sự trợ giúp của Nhà nước và xã hội Nếu được làm việc, những người khuyết tật này sẽ

có cơ hội thể hiện năng lực của bản thân mình, họ sẽ ngày càng tự tin hơn để hòa nhập với cuộc sống và môi trường xung quanh

Thứ ba, bảo đảm quyền làm việc là điều kiện tốt để người khuyết tật hoàn thiện và thay đổi bản thân, khai thác được những tiềm năng của họ

Môi trường làm việc tập thể tạo cho người lao động khuyết tật có cơ hội tiếp xúc với những người lao động khác, do đó nhận thức của người khuyết tật về bản thân cũng sẽ có những thay đổi theo hướng tích cực, họ sẽ thấy mình vẩn là người

có ích cho gia đình, xã hội và họ tự xóa bỏ những mặc cảm, rào cản để tự tin hòa nhập với cộng đồng

Do mối quan hệ xã hội của họ được mở rộng, mọi người trong cộng đồng hiểu biết hơn về khả năng của người khuyết tật, uy tín của họ trong cộng đồng được tăng lên, họ tự tin khi có việc làm, có thu nhập, vai trò và vị thế của họ trong gia đình và trong cộng đồng thay đổi Mọi người nể họ hơn vì sự cố gắng của họ trong cuộc sống, họ trở thành tấm gương vượt khó cho mọi người khuyết tật khác trong cộng đồng

Thứ tư, bảo đảm quyền làm việc cho người khuyết tật góp phần phát triển nguồn nhân lực cho xã hội

Với trên 8 triệu người, chiếm 7,8% dân số, người khuyết tật là một bộ phận cấu thành không thể tách rời của xã hội [7].Vì vậy, người khuyết tật cũng có trách nhiệm trong việc tham gia vào các hoạt động của cộng đồng và đóng góp công sức của mình đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia và có quyền được hưởng đầy đủ những thành quả phát triển của xã hội

Xét trên số liệu này, tỷ lệ người khuyết tật ở nước ta khá cao Trong số này, vẫn có nhiều người khuyết tật có khả năng và mong muốn được làm việc Nếu vấn

đề việc làm cho người khuyết tật được bảo đảm thực hiện thì một bộ phận người

Trang 26

khuyết tật sẽ trở thành lực lượng lao động không nhỏ trong các ngành nghề, lĩnh vực, góp phần phát huy nguồn nhân lực rất lớn cho xã hội

Nếu được tạo điều kiện cần thiết, xây dựng được môi trường làm việc phù hợp

và tự mình vươn lên thì người khuyết tật có thể sống, hoạt động và đóng góp cho xã hội theo sức khỏe và năng lực như những người không khuyết tật khác Người khuyết tật sẽ cùng với những người không khuyết tật phát huy khả năng, nguồn nhân lực của chính mình cho sự phát triển kinh tế xã hội đất nước Thực tế cho thấy, người khuyết tật cũng đã có những đóng góp không nhỏ cho nền kinh tế của đất nước

Quan tâm hỗ trợ cho người khuyết tật phát huy khả năng của mình để đáp ứng nhu cầu bản thân; tạo điều kiện để người khuyết tật vươn lên tham gia bình đẳng vào các hoạt động kinh tế - xã hội, góp phần xây dựng cộng đồng và xã hội, trong

đó quan tâm tạo việc làm, bảo đảm việc làm là sự hỗ trợ thiết thực và ý nghĩa nhất

1.2 CƠ CHẾ QUỐC TẾ BẢO ĐẢM QUYỀN LÀM VIỆC CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT

1.2.1 Quan niệm về cơ chế và cơ chế pháp lý bảo đảm quyền làm việc của người khuyết tật

Quan niệm về: “Cơ chế là cách thức, sắp xếp tổ chức để làm đường hướng, cơ

sở theo đó mà thực hiện” [58, tr.133] Như vậy, cơ chế là cách thức, phương thức

để thực hiện một công việc nào đó

Quan niệm về cơ chế pháp lý: “tổ hợp các yếu tố do pháp luật quy định, có mối quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại trong thực tiễn nhằm làm phát sinh một kết quả mong muốn theo ý chí của nhà nước” [54, tr.119] Cơ chế pháp lý gồm các yếu tố cơ bản bao gồm: 1.Chủ thể: cá nhân, tổ chức có thẩm quyền tổ chức thực hiện, 2.Các quy tắc xử sự, quyền nghĩa vụ, trách nhiệm, 3 Trình tự thủ tục thực hiện quan hệ pháp luật

Cơ chế pháp lý bảo đảm quyền làm việc của người khuyết tật là: các tổ chức,

cá nhân có thẩm quyền thực hiện các quy định của pháp luật, theo trình tự, thủ tục thực hiện quyền, nghĩa vụ về việc làm của người khuyết tật

Trang 27

1.2.2 Cơ chế quốc tế bảo đảm quyền làm việc của người khuyết tật

Lao động là hoạt động tạo nên các giá trị vật chất và tinh thần để thỏa mãn nhu cầu của con người Lao động cũng làm nên các giá trị, phẩm giá cho con người Do vậy, lao động và việc làm đã trở thành nhu cầu tất yếu, có tính thống nhất và có ý nghĩa quyết định đối với cuộc sống, địa vị xã hội của tất cả mọi người Quyền làm việc là quyền thiêng liêng, cao quý của con người, đã được cộng đồng quốc tế và các quốc gia công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm Đối với người khuyết tật, quyền làm việc càng ý có nghĩa quan trọng hơn, bởi lẻ một khi quyền này được tôn trọng và bảo đảm thì mới tạo ra cơ hội thực tế để người khuyết tật có thể tiếp cận, hòa nhập bình đẳng với mọi người trong cộng đồng xã hội Việc công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền làm việc cho người khuyết tật phải được thực hiện trên nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt đối xử, đồng thời có sự hỗ trợ, điều chỉnh hợp lý đối với người khuyết tật Việc làm cho người khuyết tật được cả Liên hợp quốc và Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đặc biệt quan tâm

Liên hợp quốc quy định: các quốc gia phải công nhận quyền được làm việc của người khuyết tật, bằng cách thực thi những bước phù hợp, bao gồm cả các biện pháp luật pháp

Tại Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật đã đưa ra 11 biện pháp

mà các quốc gia thành viên cần phải thực hiện để bảo đảm quyền làm việc của người khuyết tật: (a) Nghiêm cấm phân biệt đối xử vì lý do khuyết tật trong các vấn

đề có liên quan đến tất cả các hình thức về việc làm, bao gồm các điều kiện tuyển dụng, thuê và nhận vào làm, duy trì việc làm, thăng tiến trong sự nghiệp, các điều kiện lao động an toàn và bảo đảm sức khỏe; (b) Bảo vệ quyền của người khuyết tật, trên cơ sở bình đẳng với người khác, nhằm bảo đảm điều kiện lao động công bằng

và thuận lợi, bao gồm cơ hội bình đẳng và được trả lương bình đẳng cho những công việc như nhau, có các điều kiện làm việc an toàn và bảo đảm sức khỏe, bao gồm việc bảo vệ khỏi bị quấy rối và được bồi thường cho nỗi bất bình; (c) Bảo đảm người khuyết tật có thể thực hiện quyền lao động và quyền về công đoàn, bình đẳng

Trang 28

với người khác; (d) Bảo đảm người khuyết tật tiếp cận có hiệu quả tới các chương trình chung về hướng dẫn kỹ thuật và dạy nghề, các dịch vụ sắp xếp việc làm, chương trình đào tạo và bổ túc nghề; (đ) Nâng cao cơ hội có việc làm và sự thăng tiến trong nghề nghiệp của người khuyết tật trong thị trường lao động cũng như hỗ trợ trong việc tìm việc làm, nhận được việc làm, duy trì việc làm và trở lại làm việc; (e) Tăng cường khả năng tự tạo việc làm, lập doanh nghiệp, phát triển các hợp tác

xã và bắt đầu tạo dựng sự nghiệp riêng; (g) Tuyển dụng người khuyết tật trong khu vực công; (h) Thúc đẩy việc làm của người khuyết tật trong khu vực tư nhân thông qua các chính sách và biện pháp phù hợp, trong đó có thể bao gồm những chương trình hành động được phê chuẩn, sự khuyến khích và các biện pháp khác; (i) Bảo đảm có sự điều chỉnh hợp lý đối với người khuyết tật tại nơi làm việc; (k) Nâng cao

sự tiếp thu kinh nghiệm làm việc của người khuyết tật trong thị trường lao động mở; (l) Thúc đẩy phục hồi nghề nghiệp và chuyên môn, duy trì việc làm và trở lại làm việc của người khuyết tật Các quốc gia thành viên bảo đảm người khuyết tật không

bị bắt lao động cực nhọc như nô lệ hay khổ sai; và họ được bảo vệ, trên cơ sở bình đẳng với những người khác, trước những công việc lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc [26]

Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) hướng dẫn thúc đẩy cơ hội việc làm bình đẳng cho người khuyết tật không bao gồm việc ngăn cấm phân biệt đối xử vì lý do khuyết tật Theo ILO, cần thiết phải ban hành chính sách việc làm nhằm đảm bảo cho người khuyết tật được tiếp cận với cơ hội việc làm và nghiêm cấm phân biệt đối

xử vì lí do khuyết tật Ngoài ra, cũng theo tổ chức này thì người sử dụng lao động phải có trách nhiệm nhận người khuyết tật vào làm việc [26]

Tổ chức Lao động quốc tế đã ban hành Công ước 159 về phục hồi chức năng lao động và việc làm của người khuyết tật, thông qua ngày 20/6/1983 (Công ước 159) Công ước đưa ra các yêu cầu về phục hồi khả năng lao động và việc làm cho người khuyết tật, quy định về việc điều chỉnh và đánh giá các tài liệu hướng dẫn nghề nghiệp, dạy nghề, bố trí việc làm và dịch vụ thất nghiệp cho người khuyết tật Như vậy, đối với người khuyết tật, bên cạnh việc phục hồi chức năng y tế, sức khoẻ

Trang 29

thì phục hồi chức năng lao động và việc làm có ý nghĩa hết sức quan trọng, điều này thậm chí có tính quyết định cho việc hoà nhập bình đẳng vào cộng đồng xã hội Bởi

lẽ, chức năng lao động và việc làm chỉ có thể được phục hồi trên cơ sở chức năng y

tế, sức khoẻ đồng thời người khuyết tật được trang bị kỹ năng lao động theo nghề nghiệp, có khả năng tìm kiếm, duy trì được việc làm và thăng tiến với nó Nếu được phục hồi về chức năng y tế, sức khoẻ mà người khuyết tật không có khả năng tìm kiếm và duy trì việc làm thì việc hoà nhập hoặc tái hoà nhập với xã hội của họ khó

Xuyên suốt nhiều năm, ASEAN đã liên tục ưu tiên xúc tiến và bảo vệ quyền của người khuyết tật Khung chính sách của ASEAN đối với việc thúc đẩy quyền và phúc lợi của người khuyết tật bắt nguồn từ Tuyên bố Bali (Indonesia) về Tăng cường Vai trò và Sự tham gia của Người khuyết tật trong Cộng đồng ASEAN (2011), trong đó kêu gọi hiện thực hóa sự hòa nhập của người khuyết tật thông qua việc phát triển các kế hoạch hành động quốc gia, đa dạng hóa các dịch vụ xã hội, phát triển các chương trình an sinh xã hội cũng như các cơ hội học tập và làm việc

có thể tiếp cận được Bản Tuyên bố cũng đã công bố và giới thiệu Khung hành động của Thập kỷ ASEAN về Người khuyết tật (2011-2020) nhằm thúc đẩy phát triển hòa nhập cho người khuyết tật trong ASEAN Nguyên tắc hòa nhập, với vai trò là một định hướng chính sách đặc thù của ASEAN, đã thấm nhuần trong tất cả các sáng kiến và chương trình thúc đẩy hiện thực hóa quyền của người khuyết tật trong Cộng đồng ASEAN

Trang 30

Ngoài ra, các công cụ khác của khu vực cũng khẳng định cam kết của ASEAN

và minh họa môi trường chính sách mạnh mẽ trong khu vực nhằm tìm cách nâng cao năng lực cho người khuyết tật Tuyên bố Hà Nội (Việt Nam) về Tăng cường Phúc lợi và Phát triển cho Phụ nữ và Trẻ em ASEAN (2010) nhằm mục đích đảm bảo bình đẳng giới trong giáo dục và tuyển sinh cho trẻ em khuyết tật và có nhu cầu đặc biệt Tuyên bố Kuala Lumpur (Malaysia) về một ASEAN hướng tới con người, tập trung vào con người (2015) kêu gọi thúc đẩy và bảo vệ quyền của người khuyết tật cũng như thúc đẩy quyền và phúc lợi của họ tại các chương trình nghị sự trong tương lai của ASEAN

Tuyên bố ASEAN về tăng cường giáo dục cho trẻ em và thanh niên ngoài trường học (OOSCY) nhận định rằng tiếp cận giáo dục là một ưu tiên nhằm đảm bảo lợi ích tối ưu cho mọi trẻ em và thanh thiếu niên, dù có bị khuyết tật hay không Tuyên bố về xoá bỏ bạo lực đối với phụ nữ và xóa bỏ bạo lực đối với trẻ em tại ASEAN (2013) nhằm bảo vệ phụ nữ và trẻ em khuyết tật khỏi mọi hình thức bạo lực, lạm dụng và bóc lột Tuyên bố ASEAN về Tăng cường An sinh Xã hội (2013) tuyên bố rằng người khuyết tật có quyền tiếp cận công bằng đối với an sinh xã hội

và kêu gọi các Quốc gia Thành viên ASEAN hỗ trợ các chính sách, chiến lược và

cơ chế quốc gia để tăng cường triển khai các chương trình bảo trợ xã hội, cũng như các hệ thống nhắm mục tiêu hiệu quả để đảm bảo rằng các dịch vụ an sinh xã hội sẽ đến được những người có nhu cầu cấp thiết nhất

Các chính sách ASEAN nhằm thúc đẩy quyền và phúc lợi của người khuyết tật được lấy cảm hứng từ sự phát triển toàn cầu, đồng thời cũng đóng góp tích cực cho sự phát triển toàn cầu Mốc chính sách quan trọng nhất trong số đó là Chương trình nghị sự 2030 về Phát triển Bền vững, trong đó chính sách không để ai bị bỏ lại phía sau đã bổ sung cho tầm nhìn của ASEAN về một cộng đồng ASEAN hướng tới con người, tập trung vào con người Chiến lược Incheon (Hàn quốc) nhằm “Hiện thực hóa quyền” cho người khuyết tật châu Á và Thái Bình Dương kêu gọi khuyến khích sự tham gia của người khuyết tật bằng cách loại bỏ rào cản và tăng cường khả

Trang 31

năng tiếp cận, và đảm bảo đáp ứng giới, thông qua các phương thức liên ngành và

Thứ nhất, bảo đảm quyền làm việc của người khuyết tật

Tại khoản 1 Điều 176 Bộ luật Lao động năm 2012, sửa đổi năm 2019 khẳng định:

Nhà nước bảo trợ quyền lao động, tự tạo việc làm của lao động là người khuyết tật, có chính sách khuyến khích và ưu đãi người sử dụng lao động tạo việc làm và nhận lao động là người khuyết tật vào làm việc, theo quy định của Luật Người khuyết tật [39], [40]

Cụ thể: (1) Nhà nước tạo điều kiện để người khuyết tật phục hồi chức năng lao động, được tư vấn việc làm miễn phí, có việc làm và làm việc phù hợp với sức khỏe

và đặc điểm của người khuyết tật; (2) Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân không được từ chối tuyển dụng người khuyết tật có đủ tiêu chuẩn tuyển dụng vào làm việc hoặc đặt ra tiêu chuẩn tuyển dụng trái quy định của pháp luật nhằm hạn chế cơ hội làm việc của người khuyết tật; (3) Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân sử dụng lao động là người khuyết tật tùy theo điều kiện cụ thể bố trí sắp xếp công việc, bảo đảm điều kiện và môi trường làm việc phù hợp cho người khuyết tật; (4) Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân sử dụng lao động là người khuyết tật phải thực hiện đầy đủ quy định của pháp luật về lao động đối với lao động là người khuyết tật; (5) Tổ chức giới thiệu việc làm có trách nhiệm tư vấn học nghề, tư vấn

và giới thiệu việc làm cho người khuyết tật; (6) Người khuyết tật tự tạo việc làm

Trang 32

hoặc hộ gia đình tạo việc làm cho người khuyết tật được vay vốn với lãi suất ưu đãi

để sản xuất kinh doanh, được hướng dẫn về sản xuất, chuyển giao công nghệ, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm theo quy định của Chính phủ; (7) Nhà nước khuyến khích cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp nhận người khuyết tật vào làm việc Doanh nghiệp

sử dụng nhiều lao động là người khuyết tật được hưởng chính sách ưu đãi

Thứ hai, bảo đảm chính sách học nghề, dạy nghề cho người khuyết tật

Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm tới công tác đào tạo nghề và tạo việc làm cho người lao động là người khuyết tật Chính sách đào tạo nghề cho người khuyết tật đã được xã hội hóa, huy động sự tham gia của đông đảo các tầng lớp nhân dân, các doanh nghiệp, các tổ chức của người khuyết tật

Luật Dạy nghề năm 2006 đã dành toàn bộ Chương VII quy định dạy nghề cho người khuyết tật, với mục tiêu giúp đối tượng có năng lực thực hành nghề phù hợp với khả năng lao động của mình để tự tạo việc làm hoặc tìm được việc làm, ổn định đời sống Đồng thời, Nhà nước cũng khẳng định, hỗ trợ về tài chính và các chính sách ưu đãi khác đối với các cơ sở dạy nghề cho người khuyết tật nhằm khuyến khích công tác dạy nghề cho người khuyết tật

Luật Người khuyết tật năm 2010 và Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10/4/2012 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Người khuyết tật đã có những quy định chi tiết về dạy nghề và việc làm đối với người khuyết tật Theo đó: Nhà nước bảo đảm để người khuyết tật được tư vấn học nghề miễn phí, lựa chọn và học nghề theo khả năng, năng lực bình đẳng như những người khác; người khuyết tật học nghề, giáo viên dạy nghề cho người khuyết tật được hưởng chế

độ, chính sách theo quy định của pháp luật

Đa số người khuyết tật sống nhờ vào sự trợ giúp của gia đình, xã hội và cộng đồng nên họ thường gặp khó khăn về tài chính, việc tham gia học nghề là vấn đề khó khăn và đôi khi không thể thực hiện được do còn định kiến nên nhiều gia đình không cho con em mình là người khuyết tật đi học nghề, được tiếp xúc với cộng đồng Chính vì vậy, Nhà nước phải có những chính sách nhằm khuyến khích và hỗ trợ cho người khuyết tật học nghề Cụ thể, Nhà nước bảo đảm để người khuyết tật

Trang 33

được tư vấn học nghề miễn phí, lựa chọn và học nghề theo khả năng, năng lực bình đẳng như những người khác (quy định tại Điều 32 Luật Người khuyết tật 2010); người khuyết tật tham gia học nghề được hưởng học bổng và trợ cấp xã hội, chế độ

cử tuyển, chính sách tín dụng giáo dục, chính sách miễn, giảm phí dịch vụ công cộng cho học sinh, sinh viên theo quy định của Luật Giáo dục; người khuyết tật được tư vấn học nghề miễn phí, được miễn, giảm học phí, đặc biệt người khuyết tật thuộc hộ nghèo còn được miễn học phí, được cấp học bổng và hỗ trợ ăn ở đi lại theo quy định của pháp luật

Bên cạnh đó, Nhà nước ta cũng có những chính sách cụ thể đối với giáo viên dạy nghề cho cho người khuyết tật Giáo viên dạy nghề cho người khuyết tật ngoài các quyền lợi chung đối với giáo viên dạy nghề còn được hưởng phụ cấp đặc thù cho việc giảng dạy người khuyết tật Tùy thuộc vào việc dạy nghề ở các lớp dành riêng cho người khuyết tật hay ở các lớp hoà nhập người khuyết tật mà giáo viên được hưởng chế độ ưu đãi khác nhau Đối với giáo viên chuyên trách dạy nghề trong các cơ sở dạy nghề dành riêng cho người khuyết tật và giáo viên chuyên trách dạy nghề cho các lớp dạy nghề dành riêng cho người khuyết tật, được hưởng mức phụ cấp bằng 70% mức lương hiện hưởng và phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có) Giáo viên tham gia dạy nghề cho người tàn tật, người khuyết tật ở các cơ sở dạy nghề, lớp dạy nghề dành riêng cho người tàn tật, người khuyết tật được hưởng mức phụ cấp 70% mức lương hiện hưởng và phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có) Mức phụ cấp được tính theo số giờ thực tế giảng dạy Giáo viên chuyên trách dạy nghề ở các lớp hoà nhập cho người khuyết tật được hưởng mức phụ cấp đặc thù 35% đến 65% mức lương hiện hưởng và phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có) tùy thuộc vào số lượng sinh viên là người khuyết tật

Thứ ba, bảo đảm về cơ sở dạy nghề cho người khuyết tật, yêu cầu tuyển dụng

và bảo đảm chế độ ưu đãi cho cơ sở sản xuất kinh doanh sử dụng lao động là người khuyết tật

- Bảo đảm cơ sở dạy nghề cho người khuyết tật

Trang 34

Trình độ nghề và kỹ năng nghề là những điều kiện có ý nghĩa tiên quyết để người lao động nói chung, người khuyết tật nói riêng có được việc làm cũng như việc làm ổn định Có được trình độ nghề, người khuyết tật có thể tự tạo việc làm cho mình hoặc tham gia vào quan hệ lao động, thậm chí còn có thể thành lập doanh nghiệp để tạo việc làm cho những người khuyết tật khác Chính vì vậy, dạy nghề đối với người khuyết tật là vấn đề hết sức cần thiết

Theo quy định của Luật dạy nghề năm 2006, cơ sở dạy nghề cho người khuyết tật ngoài những điều kiện của cơ sở dạy nghề nói chung, còn phải đảm bảo các điều kiện sau: cơ sở vật chất, thiết bị dạy nghề; giáo trình, phương pháp và thời gian dạy nghề phù hợp với người khuyết tật; giáo viên có chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng giảng dạy cho người khuyết tật; các công trình xây dựng phục vụ cho người khuyết tật học nghề phải đảm bảo tiêu chuẩn theo quy định của Bộ trưởng Bộ xây dựng Xuất phát từ những yêu cầu trên, các cơ sở dạy nghề phải đầu tư nhiều hơn về

cơ sở vật chất Bởi vậy, Nhà nước có chính sách nhằm khuyến khích các cơ sở dạy nghề tuyển người khuyết tật vào học, khuyến khích các cá nhân, tổ chức thành lập

cơ sở dạy nghề dành cho người khuyết tật như: Nhà nước hỗ trợ về tài chính để đầu

tư cơ sở vật chất, thiết bị dạy nghề, được giao đất không thu tiền hoặc thuê đất ở nơi thuận lợi cho việc học nghề của người khuyết tật Điều này đã khuyến khích các cơ

sở dạy nghề cho người khuyết tật được thành lập đồng thời tạo điều kiện để các cơ

sở này duy trì hoạt động trong quá trình thực hiện việc đào tạo nghề cho người khuyết tật

Ngoài ra Nhà nước quy định các cơ sở dạy nghề có trách nhiệm cấp văn bằng, chứng chỉ, công nhận nghề đào tạo khi người khuyết tật học hết chương trình đào tạo và đủ điều kiện theo quy định của thủ trưởng cơ quan quản lí nhà nước về dạy nghề [37]

- Yêu cầu tuyển dụng và bảo đảm chế độ ưu đãi cho cơ sở sản xuất kinh doanh

sử dụng lao động là người khuyết tật

Luật Người khuyết tật 2010 quy định: Các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân không được từ chối tuyển dụng người khuyết tật có đủ tiêu chuẩn tuyển dụng

Trang 35

vào làm việc hoặc đặt ra tiêu chuẩn tuyển dụng trái quy định của pháp luật nhằm hạn chế cơ hội làm việc của người khuyết tật Việc sử dụng lao động là người khuyết tật phải thực hiện đầy đủ quy định của pháp luật về lao động đối với lao động là người khuyết tật phải tùy theo điều kiện cụ thể để bố trí sắp xếp công việc, bảo đảm điều kiện và môi trường làm việc phù hợp cho người khuyết tật [38]

Bên cạnh đó, Doanh nghiệp sẽ được hưởng nhiều ưu đãi khi sử dụng lao động

là người khuyết tật, cụ thể:

Đối với người khuyết tật tự tạo việc làm hoặc hộ gia đình tạo việc làm cho người khuyết tật sẽ được vay vốn với lãi suất ưu đãi để sản xuất kinh doanh, được hướng dẫn về sản xuất, chuyển giao công nghệ, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm theo những

ưu đãi trên được quy định tại Điều 33 Luật Người khuyết tật 2010

Chính sách thuế: Theo quy định tại khoản 4 Điều 4 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp sửa đổi 2013 thì doanh nghiệp sử dụng từ 30% số lao động bình quân trong năm là người khuyết tật và có số lao động bình quân trong năm từ 20 người trở lên thì được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp (trừ lĩnh vực tài chính, kinh doanh bất động sản) [42]

Hỗ trợ kinh phí cải tạo điều kiện, môi trường làm việc phù hợp cho người khuyết tật theo quy định của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Mức hỗ trợ theo tỷ lệ người khuyết tật làm việc ổn định tại cơ sở sản xuất, kinh doanh, mức độ khuyết tật của người lao động và quy mô của cơ sở sản xuất, kinh doanh theo quy định của Thủ tướng Chính phủ;

Vay vốn ưu đãi theo dự án phát triển sản xuất kinh doanh từ Ngân hàng Chính sách xã hội Điều kiện vay, thời hạn vay, mức vốn vay và mức lãi suất vay thực hiện theo quy định hiện hành áp dụng đối với dự án vay vốn giải quyết việc làm;

Ưu tiên cho thuê đất, mặt bằng, mặt nước theo quy định của pháp luật; Miễn tiền thuê đất, mặt bằng, mặt nước phục vụ sản xuất kinh doanh đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng từ 70% lao động là người khuyết tật trở lên Giảm 50% tiền thuê đất, mặt bằng, mặt nước phục vụ sản xuất kinh doanh đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng từ 30% đến dưới 70% lao động là người khuyết tật

Trang 36

Các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp sử dụng từ 10 người khuyết tật trở lên làm việc ổn định được hưởng chính sách về cải tạo điều kiện, môi trường làm việc…

Nhìn chung, Nhà nước khuyến khích cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp nhận người khuyết tật vào làm việc Doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động là người khuyết tật đều được hưởng những chính sách ưu đãi trên Các doanh nghiệp khi sử dụng lao động là người khuyết tật vừa được hưởng ưu đãi vừa nhận được sự ủng hộ của xã hội bởi đã góp phần giúp người khuyết tật được hòa nhập với cộng đồng

Thứ tư, bảo đảm quỹ việc làm cho người khuyết tật

Với mục đích giúp đỡ người khuyết tật học nghề, tạo việc làm, hỗ trợ cơ sở dạy nghề, cơ sở sản xuất kinh doanh dành riêng cho người khuyết tật; hỗ trợ các doanh nghiệp khác thuộc mọi thành phần kinh tế nhận người khuyết tật vào học nghề và làm việc đạt tỷ lệ cao thì quy định về thành lập và sử dụng quỹ việc làm cho người khuyết tật là một vấn đề quan trọng và cần thiết

Tại Điều 10 Luật Người khuyết tật năm 2010, quy định về Quỹ trợ giúp người khuyết tật Theo đó, quỹ này là quỹ xã hội từ thiện nhằm huy động nguồn lực trợ giúp người khuyết tật và quỹ này được hình thành từ các nguồn như: Đóng góp tự nguyện, tài trợ của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài; Hỗ trợ từ ngân sách nhà nước; Các khoản thu hợp pháp khác Ngoài ra, tại Điều 8 “Khuyến khích người khuyết tật tự tạo việc làm, hộ gia đình tạo việc làm cho người khuyết tật: (1) Người khuyết tật tự tạo việc làm, hộ gia đình tạo việc làm cho người khuyết tật được hưởng chính sách sau đây: a) Vay vốn với lãi suất ưu đãi để sản xuất kinh doanh từ Ngân hàng Chính sách xã hội Điều kiện, thời hạn và mức vốn cho vay thực hiện theo các quy định hiện hành áp dụng đối với các dự án vay vốn giải quyết việc làm; b) Hướng dẫn về sản xuất kinh doanh, hỗ trợ chuyển giao công nghệ sản xuất, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm (2) Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan hướng dẫn về sản xuất kinh doanh, chuyển giao công nghệ, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm do người khuyết tật làm ra” [9]

Trang 37

Tiểu kết chương 1

Với tư cách là một thành viên của cộng đồng nhân loại, dưới góc độ quyền con người, người khuyết tật có tất cả các quyền cơ bản của con người trong đó có quyền làm việc

Trong chương 1, luận văn đã phân tích làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn

về bảo đảm quyền làm việc của người khuyết tật: Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và nội dung bảo đảm quyền làm việc của người khuyết tật theo pháp luật quốc tế và tuyên bố Asean về quyền làm việc của người khuyết tật và pháp luật cơ chế pháp lý

về quyền làm việc của người khuyết tật Việt Nam;

Cơ sở lý luận và thực tiễn đã chỉ ra rằng, cơ chế pháp lý trách nhiệm bảo đảm quyền làm việc của người khuyết tật, trước hết thuộc về Nhà nước ban hành pháp

lý, tạo điều kiện thông qua chính sách, để khuyến khích các doanh nghiệp, các tổ chức trong đó tổ chức Hội của người khuyết tật và bản thân người khuyết tật

Trang 39

Chương 2 THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM QUYỀN LÀM VIỆC CỦA NGƯỜI KHUYẾT

TẬT TỪ THỰC TIỄN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

GIAI ĐOẠN 2015-2019

2.1 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN BẢO ĐẢM QUYỀN LÀM VIỆC CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2.1.1 Khái quát điều kiện kinh tế tự nhiên, kinh tế -xã hội của thành phố

Hồ Chí Minh ảnh hưởng đến bảo đảm quyền làm việc của người khuyết tật

Nằm trong vùng chuyển tiếp giữa Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ, Thành phố

Hồ Chí Minh (TPHCM) ngày nay có 19 quận và 5 huyện, tổng diện tích 2.095,239 km² Năm 2019, tổng sản phẩm nội địa trên địa bàn Thành phố (GRDP) đạt hơn 1,34 triệu tỷ đồng, tăng 8,32%; năng suất lao động năm 2019 ước đạt 299,8 triệu đồng/người, tăng 6,8%, trong khi thu ngân sách đạt 412.474 tỷ đồng, tăng 3,3% so với chỉ tiêu kế hoạch năm 2019 [5]

Hầu hết các ngành kinh tế trọng điểm được đánh giá tăng trưởng khá so với năm 2018 Cơ cấu kinh tế Thành phố tiếp tục tăng dần tỷ trọng các ngành dịch vụ chất lượng cao, giá trị gia tăng lớn, có lợi thế cạnh tranh; tổng mức bán lẻ hàng hóa

và doanh thu dịch vụ tăng 12,3%; khách quốc tế đến TPHCM đạt 8,5 triệu lượt; chỉ

số sản xuất công nghiệp tăng 7,6%; thu hút đầu tư nước ngoài đạt 8,3 tỷ USD; thu ngân sách vượt dự toán 2,7%

Thành phố cũng đạt và vượt 18/20 chỉ tiêu đặt ra trong năm 2019, trong đó chỉ tiêu không đạt được là chỉ mới thực hiện đăng ký 44.000/46.000 doanh nghiệp thành lập theo kế hoạch

Việc triển khai chủ đề “Năm đột phá cải cách hành chính và thực hiện Nghị quyết 54 của Quốc hội” đạt nhiều kết quả tích cực; Đề án xây dựng TPHCM trở thành đô thị thông minh đã hoàn thành giai đoạn 1, tổ chức 14 cuộc hội thảo, hội nghị quốc tế quy mô lớn trong nhiều lĩnh vực nhằm nâng chất lượng môi trường đầu

Trang 40

tư kinh doanh, triển khai những giải pháp thiết thực hỗ trợ doanh nghiệp, nhà đầu tư tạo nền tảng xây dựng các định hướng phát triển lâu dài của Thành phố trong các giai đoạn sắp tới

Bên cạnh đó, công tác quy hoạch và chỉnh trang phát triển đô thị tiếp tục chuyển biến, tạo diện mạo đô thị ngày càng văn minh, hiện đại; các lĩnh vực y tế, giáo dục - đào tạo, văn hóa - xã hội, an toàn thực phẩm được quan tâm Việc giải quyết kiến nghị cử tri, nhất là các vụ khiếu kiện, khiếu nại kéo dài có tiến bộ rõ rệt Quốc phòng - an ninh được giữ vững ổn định…

Là một đô thị đặc biệt, một trung tâm nhiều mặt của cả nước, Thành phố chịu tác động của bối cảnh thế giới, trong nước cả thuận lợi và khó khăn Trong điều kiện đó, để hoàn thành thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, ngay từ tháng đầu, quý đầu của năm 2020, Uỷ ban nhân dân (UBND) Thành phố đã yêu cầu Thủ trưởng các sở - ban - ngành, Chủ tịch UBND các quận - huyện, các doanh nghiệp căn cứ chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực, địa bàn phụ trách, khẩn trương thực hiện các nhiệm vụ

Phấn đấu đưa tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm GRDP năm 2020 đạt 8,3 - 8,5%, cả nhiệm kỳ đạt từ 8-8,5%

Trong năm 2020, thành phố Hồ Chí Minh sẽ tiếp tục triển khai thực hiện nhiều

đề án quan trọng Cụ thể, hoàn thành đề án điều chỉnh tỷ lệ phần trăm (%) các khoản thu phân chia giữa ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương Bên cạnh

đó, triển khai kế hoạch sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã trên địa bàn Thành phố giai đoạn 2019 - 2021

Tiếp tục triển khai kế hoạch thực hiện đề án “Xây dựng thành phố Hồ Chí Minh thành thành phố thông minh giai đoạn 2017 - 2020, tầm nhìn đến năm 2025”;

Đề án xây dựng Khu đô thị sáng tạo phía Đông thành phố Hoàn thành xây dựng Đề

án thí điểm mô hình chính quyền đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh trình cấp thẩm quyền phê duyệt…

Theo kết quả điều tra dân số chính thức vào thời điểm ngày 1 tháng 4 năm

2009, thì dân số Thành phố là 7.162.864 người (chiếm 8,34% dân số Việt Nam),

Ngày đăng: 30/03/2022, 17:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Bí thư Trung ương (2018), Thông báo kết luận số 46-TB/TW ngày 06/02/2018 về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 44-CT/TW ngày 20/7/2010, của Ban Bí thư khóa X về công tác nhân quyền trong tình hình mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông báo kết luận số 46-TB/TW ngày 06/02/2018 về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 44-CT/TW ngày 20/7/2010, của Ban Bí thư khóa X về công tác nhân quyền trong tình hình mới
Tác giả: Ban Bí thư Trung ương
Năm: 2018
2. Ban Bí thư Trung ương (2019), Chỉ thị số 39-CT/TW ngày 1/11/2019, của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác người khuyết tật. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 39-CT/TW ngày 1/11/2019, của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác người khuyết tật
Tác giả: Ban Bí thư Trung ương
Năm: 2019
3. Ban Điều phối các hoạt động hỗ trợ người tàn tật Việt Nam NCCD (2010), Báo cáo thường niên năm về hoạt động hỗ trợ người khuyết tật Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thường niên năm về hoạt động hỗ trợ người khuyết tật Việt Nam
Tác giả: Ban Điều phối các hoạt động hỗ trợ người tàn tật Việt Nam NCCD
Năm: 2010
4. Nguyễn Thị Báo (2008), Hoàn thiện pháp luật về quyền của người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Luật học, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật về quyền của người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thị Báo
Năm: 2008
5. Bộ Kế hoạch và Đầu tư: “Tình hình kinh tế xã hội Thành phố Hồ Chí Minh tháng 12 và năm 2019, tại trang http://www.mpi.gov.vn [truy cập ngày 02/02/2020] Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tình hình kinh tế xã hội Thành phố Hồ Chí Minh tháng 12 và năm 2019
7. Bộ Lao động Thương binh và xã hội (2016), Rà soát pháp luật Việt Nam để tiến tới phê chuẩn Công ước số 159 về phục hồi chức năng lao động và việc làm cho người khuyết tật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rà soát pháp luật Việt Nam để tiến tới phê chuẩn Công ước số 159 về phục hồi chức năng lao động và việc làm cho người khuyết tật
Tác giả: Bộ Lao động Thương binh và xã hội
Năm: 2016
9. Chính phủ (2012), Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10/4/2012 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Người khuyết tật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10/4/2012 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Người khuyết tật
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2012
10. Chính phủ (2015), Nghị định số 61/2015/NĐ-CP ngày 09/7/2015 của Chính phủ quy định về chính sách hỗ trợ tạo việc làm và Quỹ quốc gia về việc làm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 61/2015/NĐ-CP ngày 09/7/2015 của Chính phủ quy định về chính sách hỗ trợ tạo việc làm và Quỹ quốc gia về việc làm
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2015
11. Chính phủ (2019), Nghị định 74/2019/NĐ-CP ngày 23/9/2019 của Chính phủ Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 61/2015/NĐ-CP ngày 09 tháng 7 năm 2015 của Chính phủ quy định về chính sách hỗ trợ tạo việc làm và Quỹ quốc gia về việc làm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 74/2019/NĐ-CP ngày 23/9/2019 của Chính phủ "Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 61/2015/NĐ-CP ngày 09 tháng 7 năm 2015 của Chính phủ quy định về chính sách hỗ trợ tạo việc làm và Quỹ quốc gia về việc làm
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2019
12. Dương thị Chung (2012), Pháp luật về việc làm cho người khuyết tật từ thực tiễn Thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về việc làm cho người khuyết tật từ thực tiễn Thành phố Hà Nội
Tác giả: Dương thị Chung
Năm: 2012
14. Cục Thống kê thành phố Hồ Chí Minh (2019), “Chuyên đề kinh tế thành phố Hồ Chí Minh và vùng kinh tế trọng điểm phía nam, năm 2019”, http://www.pso.hochiminhcity.gov.vn/web/guest/ketquadieutra, cập nhập ngày 24/4/2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề kinh tế thành phố Hồ Chí Minh và vùng kinh tế trọng điểm phía nam, năm 2019”
Tác giả: Cục Thống kê thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2019
15. Mạnh Dũng (2017), Tạo cuộc sống bền vững cho người khuyết tật, tại trang http://giadinhvatreem.vn/LDTBXH/Tao-cuoc-song-ben-vung-cho-nguoi-khuyet-tat-24957, [truy cập ngày 04/02/2020] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạo cuộc sống bền vững cho người khuyết tật
Tác giả: Mạnh Dũng
Năm: 2017

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w