Với cách tiếp cận mới hơn, nhóm tác giả Đỗ Minh Cương và Mạc Văn Tiến với đề tài khoa học độc lập cấp nhà nước “Phát triển LĐKT ở Việt Nam giai đoạn 2001-2010” khái niệm “LĐKT theo nghĩa
Trang 1Luận văn Phát triển đội ngũ lao động kỹ thuật ở thành phố Đà Nẵng - Thực trạng và giải pháp
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với các yếu tố quyết định sự phát triển của một nền kinh tế như: ý tưởng, áp dụng công nghệ cao, hạ tầng cơ sở hiện đại, vốn xã hội thì “vốn con người”, xét đến cùng là quyết định nhất, cách mạng nhất Ở Việt Nam, Nghị quyết Đại hội IX của Đảng đã khẳng định: “con người và NNL là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước trong thời kỳ CNH, HĐH”, trong đó LĐKT là bộ phận quan trọng của NNL trở thành lực lượng tiên phong trong
sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Phát triển đội ngũ LĐKT có ý nghĩa quan trọng trong việc tăng trưởng kinh tế, nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế trong xu thế hội nhập và phát triển
Đối với thành phố Đà Nẵng, Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 16 tháng 10
năm 2003 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước đã xác định phương hướng phát triển thành phố đến năm 2020 là: “Xây dựng thành phố Đà Nẵng trở thành một trong những đô thị lớn của cả nước; là trung tâm KT - XH lớn của miền Trung với vai trò là trung tâm công nghiệp, thương mại, du lịch và dịch vụ; là thành phố cảng biển, đầu mối giao thông quan trọng về trung chuyển vận tải
trong nước và quốc tế; trung tâm bưu chính - viễn thông, tài chính - ngân
hàng; một trong những trung tâm văn hoá thể thao, giáo dục đào tạo và KH -
CN của miền Trung; là địa bàn giữ vị trí chiến lược quan trọng về quốc
phòng, an ninh của khu vực miền Trung và cả nước”
Để thực hiện mục tiêu đó, Uỷ ban nhân dân thành phố đã ban hành 12 chương trình hành động trên tất cả các lĩnh vực KT - XH, cải cách hành chính, an ninh, quốc phòng, xây dựng đảng và đã tổ chức thực hiện bước đầu đạt được nhiều kết quả tốt Tuy nhiên, phát triển đội ngũ LĐKT ở thành phố, chìa khoá của mọi vấn đề, đang là một thực tiễn cần được đầu tư nghiên cứu, giải quyết ở nhiều cấp độ khác nhau để góp phần trở thành một chương trình hành động mang tính quyết định, cùng với các giải pháp khác đưa thành
Trang 3phố Đà Nẵng sớm hoàn thành nhiệm vụ trong sự nghiệp CNH, HĐH Vì vậy,
nghiên cứu vấn đề “Phát triển đội ngũ lao động kỹ thuật ở thành phố Đà Nẵng - Thực trạng và giải pháp” là việc có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp thiết
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề lao động là một trong những yếu tố và là nguồn lực cơ bản để tạo ra
sự phát triển của đất nước, đặc biệt là phát triển và sử dụng đội ngũ LĐKT luôn được các nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này, trong đó cần kể đến những công trình sau đây:
- Nhóm tác giả Đỗ Minh Cương và Mạc Văn Tiến với đề tài khoa học
độc lập cấp nhà nước “Phát triển LĐKT ở Việt Nam giai đoạn 2001-2010”
- Nhóm tác giả Nguyễn Mậu Dựng và tập thể tác giả tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (phân viện Đà Nẵng, nay là Học viện Chính trị Khu
vực 3) với đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ “Cơ cấu, chất lượng và xu hướng biến động của đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật vùng kinh tế trọng điểm miền Trung”
- Tác giả Vương Quốc Được với đề tài thạc sĩ “Xây dựng NNL cho CNH, HĐH thành phố Đà Nẵng”
- Tác giả Lê Ngọc Trà với đề tài cấp Sở “Quy hoạch tào tạo NNL tỉnh Bình Thuận giai đoạn 2002-2010”
- Tác giả Nguyễn Đức Tĩnh với đề tài thạc sĩ “Hoàn thiện quản lý nhà
nước về đào tạo nghề ở nước ta hiện nay”
- Tác giả Phạm Kim Sơn với đề tài cấp thành phố “Chính sách phát triển nhân lực và thu hút nhân tài công nghệ thông tin thành phố Đà Nẵng”
- Tác giả Đỗ Thị Xuân Phương với luận án tiến sỹ kinh tế “Phát triển thị trường sức lao động giải quyết việc làm”
- Tác giả Nguyễn Hữu Chí với đề tài thạc sĩ “Những giải pháp về quản lý nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội”
Ở nhiều góc độ, cấp độ nghiên cứu khác nhau, các công trình khoa học nêu trên đã làm rõ những yêu cầu về lý luận cũng như thực tiễn xoay quanh nội dung phát triển NNL
Trang 4Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu nêu trên còn đặt ra cho luận văn cần phải phát triển thêm một số vấn đề:
- Về lý luận: Làm rõ thêm một số vấn đề liên quan về LĐKT, đặc trưng
của LĐKT, phát triển LĐKT và yêu cầu phát triển LĐKT; LĐKT và nền kinh
tế tri thức; đổi mới công tác quản lý nhà nước về đào tạo LĐKT trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
- Về thực trạng: Bổ sung phân tích, đánh giá thực trạng cung - cầu
LĐKT, các yếu tố tác động đến phát triển LĐKT
- Về giải pháp: Bổ sung mô hình, cơ sở dự báo phát triển lao động kỹ thuật
Đề xuất thêm một số giải pháp phát triển LĐKT theo định hướng thị trường
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
3.1 Mục đích
Phân tích, đánh giá tình hình đào tạo, phát triển, sử dụng LĐKT, từ đó đề
ra những giải pháp nhằm phát triển LĐKT của thành phố Đà Nẵng đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH thành phố cũng như toàn vùng và của cả nước
Để đạt được mục đích trên, đề tài phải giải quyết các nhiệm vụ sau:
3.2 Nhiệm vụ
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về phát triển NNL nói chung và
phát triển LĐKT nói riêng
- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển LĐKT ở thành phố Đà Nẵng
- Đề xuất các giải pháp phát triển LĐKT ở thành phố Đà Nẵng đến năm
2010 Những kiến nghị với Đảng, Nhà nước, chính quyền thành phố trong
việc phát triển LĐKT trên địa bàn
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu tập trung vào phát triển nhóm lao động có CMKT ở các cấp trình độ, hình thức đào tạo khác nhau, mang tính thực hành, được đào tạo
trong hệ thống các cơ sở dạy nghề ở thành phố Đà Nẵng từ năm 2001 đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
- Nền tảng là lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các Nghị quyết của Đảng về lao động, giáo dục, đào tạo, DN
Trang 5- Trên cơ sở các tài liệu thống kê, điều tra lao động - việc làm hàng năm, các báo cáo về phát triển LĐKT, các chính sách hiện có của Đảng, Nhà nước
và chính quyền thành phố trong việc phát triển NNL nói chung, phát triển LĐKT nói riêng, luận văn sử dụng phương pháp chủ yếu là phương pháp
phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, đối chiếu
6 Những đóng góp cơ bản của đề tài
- Về mặt lý luận: Làm rõ thêm một số vấn đề lý luận về đào tạo LĐKT;
quan điểm của Đảng và Nhà nước trong đào tạo LĐKT; lý luận về LĐKT và nền kinh tế tri thức; đổi mới công tác quản lý nhà nước về đào tạo LĐKT trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
- Về thực tiễn: Đóng góp những giải pháp để phát triển LĐKT phục vụ sự
nghiệp CNH, HĐH thành phố Đà Nẵng; luận văn làm rõ thêm xu hướng đào tạo LĐKT theo định hướng cầu thị trường
- Là tài liệu nghiên cứu, tham khảo về phát triển LĐKT để ngành Lao
động-Thương binh và Xã hội giúp Uỷ ban nhân dân thành phố nâng cao hiệu
quả quản lý nhà nước về đạo tạo LĐKT, đảm bảo phát triển đội ngũ LĐKT
phục vụ CNH, HĐH thành phố
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 chương, 11 tiết
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về LĐKT và vai trò của nó trong quá
trình CNH, HĐH và hội nhập ở nước ta
Chương 2: Thực trạng đội ngũ LĐKT ở thành phố Đà Nẵng
Chương 3: Phương hướng và những giải pháp chủ yếu để phát triển đội
ngũ LĐKT ở thành phố Đà Nẵng đến năm 2010
Trang 6Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LAO ĐỘNG KỸ THUẬT
VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ,
HIỆN ĐẠI HOÁ VÀ HỘI NHẬP Ở NƯỚC TA
1.1 LAO ĐỘNG KỸ THUẬT VÀ PHÁT TRIỂN LAO ĐỘNG KỸ THUẬT TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ VÀ HỘI NHẬP Ở NƯỚC TA
1.1.1 Khái niệm và đặc trưng của lao động kỹ thuật
Cho đến nay thuật ngữ “LĐKT” còn có những quan niệm khác nhau ở nhiều tài liệu trong thực tế Để làm rõ khái niệm “LĐKT” cần tìm hiểu các khái niệm liên quan:
Trong Từ điển Bách khoa Việt Nam khái niệm: “Lao động giản đơn là lao động không đòi hỏi phải đào tạo về chuyên môn cũng có thể thực hiện được một công việc nào đó” và “Lao động lành nghề là lao động có trình độ chuyên môn được đào tạo, huấn luyện hay qua tích luỹ kinh nghiệm trong thực tiễn để thực hiện công việc phức tạp mà lao động giản đơn không làm được” [50, tr.64]
C Mác đưa ra thuật ngữ “Lao động phức tạp là bội số của lao động giản đơn” Như vậy, LĐKT nằm trong thang, bậc nào từ lao động giản đơn - lao động lành nghề - lao động phức tạp trong các khái niệm nêu trên là vấn đề cần nghiên cứu, thống nhất
Trong điều tra lao động - việc làm thời điểm 01 tháng 7 hàng năm, do Bộ LĐ-TB&XH và Tổng cục Thống kê tổ chức từ năm 1996 đến nay và trong các báo cáo thống kê của nhà nước sử dụng chỉ tiêu “ lao động qua đào tạo”
và “lao động qua đào tạo nghề”
Theo đó, “lao động qua đào tạo” là lao động CMKT, có giải tần rộng, được tính bao gồm lao động được đào tạo từ sơ cấp/học nghề, công nhân kỹ thuật có bằng, không bằng trở lên đến đào tạo THCN, CĐ, ĐH và sau ĐH Còn “lao động qua đào tạo nghề” là một bộ phận của “lao động qua đào tạo”, dùng để thống kê, báo cáo lao động được đào tạo, được cấp bằng nghề,
Trang 7chứng chỉ nghề ở hệ thống giáo dục nghề nghiệp trong hệ thống giáo dục quốc dân, mà giáo dục nghề nghiệp thì bao gồm đào tạo trung cấp chuyên nghiệp và DN [32, tr.2]
Như vậy, LĐKT gần đồng nghĩa với lao động qua đào tạo nghề Nhưng trong nền kinh tế hiện đại, giáo dục nghề nghiệp còn phát triển đào tạo các cấp trình độ cao hơn như CĐ kỹ thuật, ĐH kỹ thuật mang tính thực hành và trong thực tế, công nhân kỹ thuật mặc dù không có bằng nghề, chứng chỉ nghề nhưng lại có kỹ năng nghề nhất định và có kinh nghiệm trong sản xuất kinh doanh thì khái niệm “LĐKT” cũng cần mở rộng ra, nghiên cứu thống nhất trong hệ thống giáo dục quốc dân
Với cách tiếp cận mới hơn, nhóm tác giả Đỗ Minh Cương và Mạc Văn Tiến với đề tài khoa học độc lập cấp nhà nước “Phát triển LĐKT ở Việt Nam giai đoạn 2001-2010” khái niệm “LĐKT (theo nghĩa hẹp) là loại lao động được đào tạo, được cấp bằng hoặc chứng chỉ của các bậc đào tạo trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp của hệ thống giáo dục quốc dân, đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động
và có kỹ năng hành nghề để thực hiện các công việc có độ phức tạp với các công nghệ khác nhau, phù hợp với ngành nghề ở các cấp trình độ khác nhau, trực tiếp tạo ra sản phẩm hàng hoá và dịch vụ phục vụ quốc kế dân sinh” [11, tr.21] Với khái niệm này, LĐKT phải có hai điều kiện:
- Điều kiện 1: Được cấp bằng hoặc chứng chỉ của các bậc đào tạo trong
hệ thống giáo dục nghề nghiệp của hệ thống giáo dục quốc dân
- Điều kiện 2: Đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động và có kỹ năng hành nghề để thực hiện các công việc có độ phức tạp với các công nghệ khác nhau, phù hợp với ngành nghề ở các cấp trình độ khác nhau, trực tiếp tạo ra sản phẩm hàng hoá và dịch vụ phục vụ quốc kế dân sinh
Tuy nhiên, trong thực tế đời sống sản xuất kinh doanh vẫn tồn tại một đội ngũ lao động do nhiều nguyên nhân chưa đáp ứng điều kiện 1, nhưng do tích luỹ kinh nghiệm, họ có thể đáp ứng điều kiện 2 Nếu xem điều kiện 1 là thủ tục để có thể học thêm, được cấp bằng, chứng chỉ, thì khái niệm “LĐKT” có thể nghiên cứu mở rộng thêm cho cả đối tượng này
Trang 8Còn trong “Thuật ngữ LĐ-TB&XH” tiếp cận khái niệm “LĐKT” thực tế hơn “LĐKT sản xuất kinh doanh là người lao động có trình độ kỹ năng và kỹ xảo nhất định thông qua đào tạo hoặc tích luỹ kinh nghiệm thực tế, đảm nhiệm được những công việc phức tạp, đáp ứng được các yêu cầu kỹ thuật - công nghệ, có khả năng truyền nghề và DN” [4, tr.15] Theo khái niệm này, những người có trình độ kỹ năng và kỹ xảo nhất định thông qua tích luỹ kinh nghiệm thực tế (không có bằng, chứng chỉ đào tạo) cũng thuộc nhóm LĐKT Một điều dễ nhận ra trong khái niệm trên là đã tách bạch ra LĐKT và lao động quản lý LĐKT đảm nhiệm những công việc phức tạp, đáp ứng yêu cầu
kỹ thuật - công nghệ, không đề cập đến đáp ứng yêu cầu lãnh đạo, quản lý
Do đó, cách tiếp cận thuật ngữ “LĐKT” này gần với thực tế thị trường lao động hơn, nếu xét ở vị trí của lao động trong quá trình sản xuất
Mặt khác, trong quản trị doanh nghiệp, để định mức hao phí thời gian lao động, thường phân chia lao động thành lao động công nghệ, lao động phụ trợ, phục vụ và lao động quản lý Rõ ràng, LĐKT được xếp vào lao động công nghệ, là những lao động trực tiếp thực hiện nhiệm vụ sản xuất theo quy trình công nghệ nhằm làm biến đổi đối tượng lao động về các mặt hình dáng, kích thước, cơ lý hoá tính…để sản xuất sản phẩm Đây là loại lao động chiếm tỷ trọng lớn nhất trong các doanh nghiệp và cũng đang cần thiết trong thị trường lao động
Như vậy, để tiếp cận với khái niệm “LĐKT” gần nhất vẫn phải gắn với yêu cầu thị trường lao động Thị trường lao động chấp nhận thuật ngữ
“LĐKT” ở góc độ vị trí của nó trong quá trình sản xuất, kinh doanh là loại lao động mang tính thực hành cao, mang tính “chiến đấu” hơn là “chỉ huy”, trực tiếp điều hành máy móc, thiết bị, công nghệ để tạo ra sản phẩm hàng hoá và dịch vụ có ích cho xã hội
Từ những tìm hiểu, phân tích nêu trên và đồng ý với khái niệm của nhóm tác giả Đỗ Minh Cương và Mạc Văn Tiến, có thể nêu khái niệm LĐKT ở một
góc độ khác như sau: “LĐKT là loại lao động được đào tạo và cấp bằng hoặc
Trang 9chứng chỉ một nghề nào đó ở các trình độ đào tạo trong hệ thống dạy nghề của hệ thống giáo dục quốc dân hoặc tích luỹ kinh nghiệm thực tế, có kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ, mà thị trường lao động cần nó chủ yếu là để trực tiếp điều hành máy móc, thiết bị, công nghệ có độ phức tạp khác nhau để tạo ra sản phẩm hàng hoá và dịch vụ có ích cho xã hội”
Thuật ngữ LĐKT theo cách hiểu này cũng rất phù hợp với Quyết định số 201/2001/QĐ-TTG ngày 28 tháng 12 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010, Quyết định số 48/2002/QĐ-TTg ngày 11 tháng 4 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ về việc quy hoạch mạng lưới trường DN giai đoạn 2002-2010 và Luật Giáo dục năm 2005 Theo đó, chủ trương “hình thành hệ thống đào tạo kỹ thuật thực hành đáp ứng nhu cầu phát triển KT - XH, trong đó chú trọng phát triển đào tạo nghề ngắn hạn và đào tạo công nhân kỹ thuật, kỹ thuật viên, nhân viên nghiệp vụ có trình độ cao” và “mở rộng đào tạo công nhân kỹ thuật, kỹ thuật viên và nhân viên nghiệp vụ theo nhiều trình độ; liên thông giữa các ngành nghề, các trình độ đào tạo nghề và với các trình độ đào tạo khác trong hệ thống giáo dục quốc dân”
Ngoài ra, có thể tìm hiểu các khái niệm liên quan trong sơ đồ 1.1
- Lao động chuyên môn: Là loại lao động được đào tạo và cấp bằng một ngành chuyên môn nào đó trong phân hệ giáo dục ĐH và sau ĐH của hệ thống giáo dục quốc dân, có năng lực nghiên cứu, sáng tạo, giải quyết những vấn đề KH - CN ở trình độ cao, mà thị trường lao động cần họ chủ yếu là đảm nhiệm những công việc quản lý, những công việc rất phức tạp, những hoạt động đảm bảo quá trình sản xuất liên tục và hiệu quả (lao động gián tiếp) Họ
là những người quản lý, nghiên cứu, chuyên gia…, được đào tạo mang tính hàn lâm, coi trọng lý thuyết và có khả năng chuyển sang làm các công việc của LĐKT thì phải bổ sung hoặc nâng cao kỹ năng thực hành qua chương trình đào tạo liên thông
Trang 10Sơ đồ 1.1: Phân loại LLLĐ
- Dạy nghề (đào tạo nghề): Hiện nay, trong tất cả các văn bản pháp quy của nhà nước, thuật ngữ “DN” hoặc “đào tạo nghề” được dùng rất phổ biến,
đã có truyền thống, điều này cũng phù hợp với tình hình thực tế đất nước, xã hội đòi hỏi cần phải nhấn mạnh vai trò to lớn của đào tạo nghề nghiệp, trước yêu cầu đào tạo NNL trực tiếp lao động sản xuất có tay nghề, đáp ứng yêu cầu phát triển KT - XH Hơn nữa, cụm từ “đào tạo nghề” thực chất là viết gọn của cụm từ “giáo dục kỹ thuật và DN" đã được sử dụng ở nền giáo dục nước nhà
từ lâu đời và rất quen thuộc với nhà giáo trong hệ thống giáo dục Mới đây,
thuật ngữ “DN” theo Điều 5, Luật DN được khái niệm là “hoạt động dạy và
học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho
LLLĐ
LĐKT
(thực hành)
Lao động không CMKT (giản đơn)
LĐKT (có bằng/chứng chỉ)
LĐKT (chưa bằng/chứng chỉ)
( hàn lâm)
Trang 11người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học”
Còn thuật ngữ “đào tạo LĐKT” tuy mới xuất hiện cách đây khoảng 5 năm, nhưng ngày càng làm sáng tỏ hơn chiến lược phát triển giáo dục nghề nghiệp trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập, phát triển kinh tế tri thức Trong trường hợp còn sử dụng thuật ngữ “DN” hoặc “đào tạo nghề” thì phải hiểu với nội dung mới, đó là “đào tạo LĐKT” trong hệ thống đào tạo kỹ thuật thực hành [11, tr.29]
Như vậy, theo các cách tiếp cận và phân tích nêu trên, LĐKT được “nhận
dạng” bởi một số đặc trưng cơ bản:
Thứ nhất, được đào tạo và cấp bằng hoặc chứng chỉ trong phân hệ giáo
dục nghề nghiệp của hệ thống giáo dục quốc dân thống nhất Thực chất đây là đặc trưng điều kiện để được gọi là LĐKT Vấn đề đặt ra là trong hệ thống giáo dục quốc dân thống nhất cần phải phân hệ và có chức năng, nhiệm vụ rõ ràng cho từng phân hệ Phân hệ giáo dục nghề nghiệp chủ yếu là đào tạo LĐKT thực hành ở nhiều cấp trình độ, có thể bao gồm cả ĐH kỹ thuật, công nghệ, đào tạo ra những kỹ sư thực hành Mặt khác, bằng cấp, chứng chỉ của LĐKT phải được công nhận, đánh giá bởi hệ thống tiêu chuẩn kỹ năng nghề chuyên nghiệp, có giá trị sử dụng trong phạm vi toàn quốc, khu vực và thế giới trong xu thế hội nhập kinh tế sâu hơn hiện nay
Thứ hai, có kiến thức, kỹ năng thực hành kỹ thuật, nghề nghiệp Đây là
đặc trưng cơ bản của LĐKT và cũng là điều kiện cần để LĐKT có thể tìm được việc làm phù hợp trong thị trường lao động Các doanh nghiệp tuyển dụng LĐKT vào làm việc không chỉ biết nghề, mà đòi hỏi LĐKT phải có kỹ năng nghề, thực hành, điều khiển máy móc, thiết bị, công nghệ ở mức độ phức tạp khác nhau trong doanh nghiệp, mà không phải đào tạo lại quá lâu, gây lãng phí cho doanh nghiệp và xã hội
Thứ ba, Có khả năng, năng lực thích ứng với sự biến đổi nhanh chóng
của công nghệ trong thị trường lao động Trong thực tế đời sống xã hội, sự
Trang 12phát triển, biến đổi mạnh mẽ của KH - CN và ứng dụng rộng rãi nó đã cho ra đời nhiều sản phẩm có giá trị, suy cho đến cùng, nhân tố giữ vai trò quyết định là trình độ, năng lực của con người, trong đó đội ngũ LĐKT phải là lực lượng “xung kích”, đón đầu sự biến đổi đó
Thứ tư, Có thể học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề ở các
trình độ cao hơn bằng chính sách học liên thông LĐKT có thể nâng cao trình
độ từ bán lành nghề, đến lành nghề và trình độ cao hoặc có thể bổ sung những phần chưa học để liên thông với phân hệ giáo dục ĐH và trên ĐH trong hệ thống giáo dục quốc dân
1.1.2 Khái niệm và nội dung phát triển lao động kỹ thuật
Như trên đã phân tích, LĐKT là bộ phận quan trọng của NNL Phát triển LĐKT chính là phát triển NNL ở giai đoạn người lao động trưởng thành Phát triển NNL là khái niệm rộng Theo cách hiểu của các nhà kinh tế, là phát triển tổng thể tiềm năng của con người, bao gồm cả giai đoạn giáo dục, đào tạo cho con người chưa trưởng thành và đã trưởng thành LĐKT là bộ phận của NNL, phát triển đội ngũ LĐKT chỉ giới hạn ở giai đoạn đã trưởng thành, bao gồm cả đào tạo mới và đào tạo lại đội ngũ LĐKT theo hướng thực hành, đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động
Nhóm tác giả Đỗ Minh Cương và Mạc Văn Tiến quan niệm: “Phát triển LĐKT là quá trình làm biến đổi về số lượng, chất lượng và cơ cấu LĐKT ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thị trường lao động và của nền KT -
XH trong quá trình CNH, HĐH”[11, tr.37]
Để phát triển LĐKT đáp ứng thị trường lao động hiện nay, một mặt phải nâng cao tính năng động xã hội của nó, mặt khác thông qua chính sách, cơ chế và giải pháp, biện pháp của nhà nước và cộng đồng xã hội để không ngừng giải phóng tiềm năng vô tận của LĐKT, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội Như vậy, khi xem xét quá trình phát triển LĐKT phải được xem xét trong mối quan hệ không thể tách rời với quá trình đào tạo, phân bố,
sử dụng hiệu quả và cả quản lý LĐKT
Trang 13“Phát triển LĐKT là quá trình làm biến đổi về số lượng, chất lượng và cơ cấu LĐKT gắn với phân bố và sử dụng có hiệu quả đội ngũ này trong thị trường, đáp ứng yêu cầu của nền KT - XH trong quá trình CNH, HĐH đất nước và hội nhập nền kinh tế quốc tế”
Phát triển LĐKT phải tác động vào các yếu tố hợp thành của LĐKT, làm cho nó biến đổi theo hướng ngày càng đáp ứng tốt nhất yêu cầu của quá trình phát triển KT - XH Các yếu tố chủ yếu bao gồm: Số lượng, chất lượng, cơ cấu, phân bố và sử dụng LĐKT
Thứ nhất, phát triển về số lượng LĐKT
Đây là nội dung rất quan trọng của phát triển LĐKT trong điều kiện của nước ta tỷ lệ lao động qua đào tạo trong LLLĐ đạt thấp, quy mô đào tạo nhỏ Việt Nam hiện đang thiếu trầm trọng đội ngũ cán bộ chuyên môn, quản lý cung cấp cho các khu công nghiệp, khu chế xuất trong các vùng trọng điểm (chỉ đáp ứng khoảng 5-10% ), đặc biệt là đội ngũ công nhân lành nghề chưa thoả mãn yêu cầu (đáp ứng khoảng 30-40%) [9, tr.43] Rõ ràng, nước ta đang
“thiếu thầy, thiếu thợ”
Phát triển về số lượng LĐKT ở Việt Nam hiện nay, một mặt phải tăng nhanh đội ngũ LĐKT bán lành nghề, lành nghề để cung cấp cho các ngành nghề đang sử dụng công nghệ sử dụng nhiều lao động, mặt khác phải tăng nhanh đội ngũ LĐKT có trình độ cao (nhân viên, kỹ thuật viên tin học, mạng, công nghệ hoá dầu, công nghệ sinh học, vật liệu mới…) để đáp ứng đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH đất nước
Thứ hai, phát triển về chất lượng LĐKT
Đây là nội dung đáng quan tâm của phát triển LĐKT hiện nay Chất lượng giáo dục và đào tạo nói chung, đào tạo LĐKT nói riêng còn nhiều hạn chế “Phát triển giáo dục nghề nghiệp và giáo dục ĐH chưa cân đối với giáo dục THPT Đào tạo nghề còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng” [19, tr.170-171] Trong thực tế, lao động qua đào tạo ở các trường DN, về cơ bản chưa đáp ứng, thoã mãn yêu cầu của các nhà doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài trong các khu công nghiệp, khu chế xuất
Trang 14Phát triển về chất lượng LĐKT không phải đơn thuần là không ngừng nâng cao kỹ năng, khả năng hành nghề của người lao động ở các trình độ tương ứng độ phức tạp công việc trong đời sống sản xuất xã hội mà còn phải trau dồi đạo đức nghề nghiệp, tác phong, kỷ luật lao động Học một nghề ra thực hành được nghề đó trong thị trường lao động đã khó, nhưng hiểu về nghề
đó, say mê nó thì càng khó hơn
Phát triển về chất lượng LĐKT còn phải gắn chặt hệ thống chuẩn mực, đánh giá của thế giới Chất lượng ở đây phải mang tính “sánh vai” cùng với lực lượng LĐKT của khu vực và thế giới và tất nhiên hệ thống văn bằng, chứng chỉ của LĐKT trong nước phải được công nhận ở cấp quốc gia và thế giới
Thứ ba, biến đổi về cơ cấu LĐKT
Sự biến đổi cơ cấu LĐKT gắn liền với chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động Sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, vùng kinh tế đặt ra áp lực chuyển đổi cơ cấu LĐKT cho hợp lý Nghiên cứu biến đổi cơ cấu LĐKT ở Việt Nam hiện nay trong bối cảnh cuộc cách mạng KH - CN bùng nổ, quá trình toàn cầu hoá diễn ra với tốc độ nhanh chưa từng thấy, đất nước lại đứng trước yêu cầu phải rút ngắn quá trình CNH, HĐH, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, vấn đề đặt ra hình thành cơ cấu LĐKT phải thật hợp lý, phù hợp với chiến lược, quy hoạch phát triển KT - XH từng thời kỳ đất nước Mặt khác, xem xét biến đổi cơ cấu LĐKT trong phát triển đội ngũ LĐKT còn phải gắn với phân bố LĐKT cho từng ngành, nghề, vùng kinh tế, mọi sự phân bố không hợp lý đội ngũ LĐKT, gây ra dư thừa ngành này, thiếu hụt LĐKT ngành khác sẽ không mang lại hiệu quả KT - XH lớn nhất và gây lãng phí cho xã hội
Thực trạng đối với nước ta, đội ngũ lao động CMKT hiện phân bố còn bất hợp lý giữa các cấp, ngành, vùng kinh tế, nông thôn, thành thị Đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật lại phân bố không đồng đều, phần lớn làm việc ở các cơ quan trung ương (94,4%); trong các doanh nghiệp số lao động có trình
độ CĐ trở lên chỉ chiếm 32% (trong khi đó ở Hàn Quốc là 48%, Nhật Bản
Trang 1564,4%, Thái Lan 58,2%) Riêng lao động ở nông thôn chiếm 71% cả nước, nhưng chỉ có 10% qua đào tạo, trong đó đào tạo nghề chỉ có 0,44% LLLĐ khoa học kỹ thuật được đào tạo cho ngành nông nghiệp thì 89,9% làm việc ở
cơ quan trung ương, cấp tỉnh chỉ có 8,9%, còn cấp huyện 1,8%, ở cấp xã và cơ
sở hầu như không có Ngành luyện kim hơn 32% công nhân không có tay nghề chuyên môn, ngành xây dựng có tới 63%, hơn 11% chỉ có tay nghề bậc 1 và bậc
2 Số công nhân học hết tiểu học là 12,72%, hết THCS là 39,51%, hết THPT là 30,75% Số nhân viên đã tốt nghiệp ĐH chỉ chiếm 10,18% [9, tr.44-45] Với chất lượng lao động và phân bố như vậy, Việt Nam khó có thể áp dụng thành công những tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất, kinh doanh
Thứ tư, sử dụng hiệu quả LĐKT
Hiệu quả của việc sử dụng LĐKT phải được thể hiện trước hết trong việc giải quyết một cách hài hoà mối quan hệ về cung - cầu lao động trong các ngành, lĩnh vực sản xuất KT-XH Có thể coi đây là vấn đề có tính then chốt trong tổ chức, quản lý và sử dụng LĐKT
Hiệu quả của việc sử dụng LĐKT còn đồng nghĩa với việc phải tạo ra được một tỷ lệ nhất định về lực lượng LĐKT tương ứng với từng ngành, lĩnh vực để có thể đáp ứng được với tính chất và yêu cầu về LĐKT trong từng ngành và lĩnh vực đó Tuỳ vào tính chất công việc của từng ngành, lĩnh vực
mà yêu cầu về tỷ lệ lực lượng LĐKT có thể cao thấp khác nhau Nhìn chung trong xu thế phát triển của các ngành KT-XH hiện nay, để sử dụng có hiệu quả nguồn lao động thì yêu cầu về một đội ngũ những người lao động có CMKT ngày càng cao có thể đáp ứng được các yêu cầu của công việc trong tất cả các ngành nghề, lĩnh vực KT-XH đang đặt ra hết sức bức thiết
Hiệu quả sử dụng LĐKT còn phụ thuộc vào việc bố trí, sử dụng LĐKT Thực chất của bố trí, sử dụng LĐKT là quá trình tổ chức, sắp xếp lại lực lượng LĐKT một cách hợp lý, tạo điều kiện cho người lao động phát huy được trình độ chuyên môn và năng lực sáng tạo của mình trong quá trình sản xuất Ở đây vấn đề cần lưu ý là phải căn cứ vào công việc để xếp người, tức là
Trang 16phải trên cơ sở yêu cầu của công việc để tìm người bố trí, sắp xếp Người có đào tạo ở chuyên ngành nào phải được làm đúng chuyên ngành được đào tạo, người có trình độ tay nghề cao được làm việc ở những khâu, những công đoạn phức tạp, người có trình độ lao động thấp sẽ nhận được khoản thù lao tương xứng với công sức mình bỏ ra Điều đó không những góp phần vào việc nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, mà quan trọng là khuyến khích người lao động có ý thức nâng cao trình độ, người được đào tạo có điều kiện cống hiến, thể hiện năng lực của mình trong quá trình sản xuất
Nói tới vấn đề hiệu quả sử dụng LĐKT còn phải nói tới các chế độ, chính sách đối với người lao động Bởi, thông qua chế độ, chính sách đối với người lao động nếu đặt ra một cách phù hợp, kịp thời sẽ tạo ra khả năng có thể khai thác tính tích cực, năng động, sáng tạo đối với từng người lao động trong từng cương vị của mình Chế độ, chính sách đối với người lao động được thể hiện
ra trên nhiều phương diện như chính sách về tiền lương, các chế độ quyền lợi được hưởng (cả về vật chất và tinh thần) của người lao động Để phát huy tối
đa động lực tích cực trong các hoạt động của người lao động đối với công việc, đòi hỏi các chế độ, chính sách này phải được ban hành đầy đủ, kịp thời, đảm bảo giải quyết hài hoà về mối quan hệ giữa khả năng cống hiến và các quyền lợi chính đáng được hưởng thụ của người lao động
Sử dụng có hiệu quả LĐKT đòi hỏi phải tạo lập thị trường lao động để mọi người có cơ hội lựa chọn việc làm đúng với năng lực, sở trường của mình Nhờ có thị trường lao động mà cung - cầu về LĐKT có điều kiện gặp nhau Thông qua thị trường lao động, người sở hữu sức lao động có thể bán
nó đúng giá trị như nó vốn có, ngược lại người bỏ tiền thuê sức lao động cũng
có thể thuê được sức lao động phù hợp với nhu cầu và khả năng của mình Thông qua thị trường lao động, các nhu cầu về cung - cầu LĐKT được đáp ứng tối đa, mọi sự giao dịch, trao đổi sức lao động không đúng với giá trị vừa chậm đáp ứng vừa gây lãng phí đều được loại trừ
Trang 17Trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường hiện nay, để dụng hiệu quả nguồn LĐKT còn nhất thiết phải tạo lập được hệ thống các thiết bị, các phương tiện lao động (nhà xưởng, máy móc, công nghệ, các trang thiết bị và các phương tiện bảo hộ lao động…) tương ứng để có thể khai thác hết khả năng và năng lực của từng người lao động Thực tế ở nước ta hiện nay nói chung và thành phố Đà Nẵng nói riêng cho thấy việc tạo lập môi trường sản xuất hiện đại (quá trình sản xuất với sự hỗ trợ của hệ thống các phương tiện máy móc, trang thiết bị hiện đại) có một ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc tạo ra năng suất, chất lượng, hiệu quả trong sử dụng LĐKT Bởi nhờ có công nghệ máy móc hiện đại đã góp phần làm cho năng suất lao động hiện có của người lao động được tăng lên, các trang thiết bị, các phương tiện bảo hộ lao động phù hợp sẽ làm cho quá trình lao động của người lao động trở nên an toàn hơn, tránh được sự rủi ro không cần thiết ảnh hưởng tiêu cực tới quá trình lao động Chính vì vậy để đảm bảo tính hiệu quả cho quá trình sử dụng nguồn LĐKT thì việc đầu tư các phương tiện, máy móc, trang thiết bị, tạo môi trường sản xuất, kinh doanh hiện đại trong điều kiện hiện nay là hết sức cần thiết
1.1.3 Vai trò của lao động kỹ thuật và phát triển lao động kỹ thuật trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập
CNH, HĐH ở nước ta là “quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý KT - XH từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại tạo ra năng suất lao
động xã hội cao” [29, tr.502]
LĐKT là là lực lượng to lớn, xung kích của NNL, là nhân tố quan trọng nhất của lực lượng sản xuất trong quá trình đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Để thực hiện mục tiêu đến năm 2020, nước ta cơ bản sẽ trở thành một nước công nghiệp thì phải phát huy, huy động mọi nguồn lực, trong đó nguồn lực con người, đặc biệt là NNL chất lượng cao mà đội ngũ LĐKT là lực lượng đại diện cả về số lượng, chất lượng, cơ cấu và tư duy đóng một vai trò hết sức to lớn
Trang 18Đối với các nước đang phát triển như đất nước ta, muốn rút ngắn quá trình CNH, HĐH phải xem giải pháp phát triển đội ngũ LĐKT là giải pháp mang tính đột phá, đặc biệt trong điều kiện các nguồn lực khác như nguồn lực tài chính còn hạn hẹp Vị trí, vai trò của LĐKT được thể hiện ở tất cả các mặt, lĩnh vực, các quan hệ trong đời sống KT - XH, an ninh, quốc phòng của quốc gia, đặc biệt có vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng hiện đại, nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế trong bối cảnh của toàn cầu hoá kinh tế và của nền kinh
tế tri thức
Thứ nhất, LĐKT với tăng trưởng kinh tế
Bài toán tăng trưởng kinh tế của bất cứ một quốc gia nào, dù nước đó giàu hay nghèo cũng đều được giải đáp bằng việc phát huy, sử dụng có hiệu quả bốn thông số, đó là NNL, nguồn tài nguyên thiên nhiên, vốn và công nghệ Tuỳ theo điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia, sử dụng, phát huy định lượng, tỷ trọng và định tính các nguồn lực trong tăng trưởng kinh tế ở mỗi quốc gia là rất khác nhau và trình độ kết hợp chúng hiệu quả cũng đem lại kết quả tăng trưởng kinh tế khác nhau
Nhiều nhà kinh tế cho rằng, “ vốn, nguyên vật liệu, công nghệ - đều có thể mua hoặc vay được trong nền kinh tế thế giới Một nước có thể mua những thiết bị thông tin viễn thông, máy tính, máy phát điện và máy bay chiến đấu hiện đại nhất Thế nhưng những hàng hoá vốn này chỉ có thể được
sử dụng và duy trì hữu hiệu bởi những người công nhân có kỹ năng và được đào tạo Trình độ văn hoá, sức khoẻ, kỷ luật được nâng cao và gần đây nhất là khả năng sử dụng máy tính đã làm cho năng suất lao động tăng thêm rất
nhiều” [42, tr.311-312]
Nhiều nước phát triển trong khu vực và các nước ASEAN trong thập niên cuối của thế kỷ 20 đã trở thành những “con rồng”, “con hổ”, thực chất là các quốc gia đó đã biết điều chỉnh chiến lược tăng trưởng theo hướng khai thác tối đa nguồn lực con người và coi đào tạo NNL là quốc sách hàng đầu
Trang 19Đối với nước ta, tăng trưởng kinh tế có ý nghĩa cực kỳ to lớn, là điều kiện đi đầu cho việc chống tụt hậu về kinh tế, rút ngắn quá trình CNH, HĐH đất nước Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X khẳng định: “Đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, đạt được bước chuyển biến quan trọng về nâng cao hiệu quả và tính bền vững của sự phát triển, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển Cải thiện rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá và tinh thần của nhân dân Đẩy mạnh CNH, HĐH và phát triển kinh tế tri thức, tạo nền tảng để đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào
năn 2020” [19, tr.185-186]
Song, trong chiến lược tăng trưởng kinh tế, không được xem nhẹ các nguồn lực vật chất khác mà phải lồng ghép để đạt được hiệu quả cao nhất Đây là bài toán kinh tế vĩ mô cần giải quyết, nhất là trong điều kiện cụ thể của nước ta, lao động dư thừa lớn, buộc phải cân nhắc lựa chọn công nghệ hợp lý
Áp dụng công nghệ cao để đẩy nhanh quá trình tăng trưởng và phát triển, nhưng cũng đồng nghĩa với việc nhiều người sẽ không có việc làm do có máy móc, công nghệ tự động thay thế, hệ số co giãn về việc làm do tăng 1% GDP đến mức tiềm năng trong điều kiện áp dụng công nghệ hiện đại thì việc làm sẽ giảm Chính vì vậy, phát triển đội ngũ LĐKT ở nước ta phải đồng thời phát triển nhanh đội ngũ LĐKT ở trình độ cao và đội ngũ LĐKT bán lành nghề, lành nghề để cung cấp cho các ngành kinh tế áp dụng dụng công nghệ sử dụng nhiều lao động
Thứ hai, LĐKT với chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động
Cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động có mối quan hệ biện chứng với nhau
Cơ cấu kinh tế luôn ở trạng thái động, hình thành, biến đổi rất khách quan theo yêu cầu của thị trường, thuộc quyền định đoạt của các chủ thể đầu tư, kinh doanh, sản xuất trực tiếp và đặc biệt chịu sự tác động mạnh của áp dụng công nghệ mới Chính vì vậy, cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh hơn cơ cấu lao động, thị trường lao động cần loại lao động nào, số lượng, chất lượng, cơ cấu đào tạo, tay nghề ra sao trong một thời gian đều do xu hướng chuyển dịch
Trang 20cơ cấu kinh tế quyết định và chi phối, không phải do bất cứ một mệnh lệnh hành chính nào từ phía nhà nước
Tuy nhiên, chuyển dịch cơ cấu kinh tế không thể nhanh và bền vững được theo hướng CNH, HĐH và hội nhập một khi cơ cấu lao động quá lạc hậu và không phù hợp, đây chính là lực cản lớn nhất trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta Chuyển dịch cơ cấu kinh tế đẩy nhanh việc chuyển dịch cơ cấu lao động, mặt khác chuyển dịch cơ cấu lao động tạo điều kiện và tiền đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Thúc đẩy việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế để phát huy tiềm năng, thế mạnh của từng ngành, từng vùng, từng thành phần kinh tế trong sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta với một tư duy mới là nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh, lựa chọn những ngành hàng, những sản phẩm và dịch vụ có thể tạo ra bước đột phá trong tốc độ phát triển nền kinh tế, mà ở đó LĐKT là bộ phận của cơ cấu lao động, là lực lượng nòng cốt, tiên phong; phát triển đội ngũ LĐKT là điều kiện, tiền đề để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế tổng thể Với ý nghĩa đó, đội ngũ LĐKT có vai trò hết sức to lớn với việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế Sự thiếu hụt về số lượng, chất lượng, cơ cấu lao động, bao gồm cả lao động chuyên môn, lao động quản lý, nhà nghiên cứu, các chuyên gia và đặc biệt là đội ngũ LĐKT có trình độ cao là một cản trở lớn đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Thành tựu 20 năm đổi mới đất nước vừa qua là đáng ghi nhận và tự hào, tuy nhiên “cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm”, “tỷ trọng ngành dịch vụ trong GDP còn thấp”, “các vùng kinh tế trọng điểm chưa phát huy được các thế mạnh”, “các
thành phần kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng” [19, tr.164-165] “Năng lực
cạnh tranh của từng sản phẩm, của doanh nghiệp và của toàn bộ nền kinh tế…vẫn còn khá thấp so với các nước trong khu vực và thế giới…chính vì chi phí sản xuất (bao gồm chi phí vật chất và chi phí quản lý và dịch vụ) cho một chu trình sản xuất một sản phẩm còn khá cao; bên cạnh đó, chất lượng lao động và năng suất lao động thấp” [38, tr.173]
Trang 21Rõ ràng, cách nhìn nhận, đánh giá này rất đúng với thực trạng đất nước chúng ta Một mặt chúng ta phải chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế cũ, lạc hậu sang cơ cấu kinh tế mới, hiện đại hơn, nhưng lại đối mặt với cơ cấu lao động lạc hậu, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề còn rất thấp, sự mất cân đối nghiêm trọng
về cơ cấu đào tạo lao động cần phải được điều chỉnh, chuẩn bị kịp thời Theo kinh nghiệm của các nước phát triển, cơ cấu đào tạo lao động phù hợp là 1: 4:
15, tức là 1 lao động CĐ, ĐH, 4 lao động trung cấp và 15 công nhân kỹ thuật
Tuy nhiên, nước ta hiện có cơ cấu đào lao động tương ứng là 1: 0,98: 2,66 [6]
Do vậy, bài toán đặt ra là phải tăng nhanh đào tạo đội ngũ LĐKT để khắc phục sự lạc hậu đó nhưng cũng phải tính đến cung cấp cho các ngành kinh tế mũi nhọn, vùng kinh tế trọng điểm đội ngũ LĐKT có kỹ năng nghề nghiệp cao đáp ứng yêu cầu áp dụng công nghệ cao và sự đến gần của nền kinh tế tri thức
Thứ ba, LĐKT với nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế trong
bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, toàn cầu hoá
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đang ngày càng đi vào chiều sâu, diễn
ra nhanh chóng, khách quan, không một quốc gia nào có thể đứng ngoài Chất lượng nguồn nhân lực nói chung, đội ngũ LĐKT nói riêng đóng vai trò quyết định nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế
Việc chủ động hội nhập kinh tế quốc tế trong thời gian qua đã đem lại cho nền kinh tế Việt Nam những thành quả đáng khích lệ Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 169 nước, đã tham gia vào các tổ chức, diễn đàn quốc tế lớn như: ASEAN, APEC, ASEM, WTO…, mở rộng quan hệ buôn bán với 224/225 thị trường của các nước và vùng lãnh thổ, ký 87 hiệp định thương mại song phương, 350 hiệp định hợp tác phát triển với các nhà tài trợ,
48 hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, 42 hiệp định tránh đánh thuế hai lần, 37 hiệp định hợp tác về văn hoá song phương với các nước và tổ chức quốc tế Việc gia tăng quan hệ kinh tế thương mại, gia tăng kim ngạch xuất khẩu đã góp phần tăng trưởng kinh tế Việt Nam những năm qua Từ một nước
có mức tăng trưởng kém, đến nay, Việt Nam luôn đạt mức tăng trưởng hơn
Trang 227%, đứng thứ hai sau Trung Quốc, kim ngạch xuất khẩu đã đóng góp 50% GDP năm 2004…[46, tr.124-125]
Song, theo đánh giá của thế giới, năng lực cạnh tranh nền kinh tế là vấn
đề thách thức, đáng lo ngại nhất hiện nay Ngày 26 tháng 9 năm 2006, Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) công bố, Việt Nam đứng ở vị trí thứ 77 trên tổng
số 125 quốc gia và nền kinh tế được xếp hạng năm 2006, tụt 3 bậc so với năm
2005 Kết quả này dựa trên kết quả khảo sát đối với 11.000 doanh nghiệp quốc tế và xem xét các nền kinh tế trên 9 tiêu chí: định chế, cơ sở hạ tầng, kinh tế vĩ mô, y tế và giáo dục phổ thông, đào tạo ĐH, hiệu quả thị trường, mức độ sẵn sàng về công nghệ, sự thông hiểu về quản lý kinh doanh, và tính sáng tạo [25] Trong 9 tiêu chí đó, các chỉ tiêu giáo dục ĐH, mức độ hài lòng của doanh nghiệp và đặc biệt là chỉ tiêu độ sẵn sàng về công nghệ cũng như chỉ tiêu hiệu quả của thị trường được xếp thứ hạng thấp
Tuy những chỉ số này để tham khảo, nhưng không được phép coi nó là bình thường Về mặt lượng của một nền kinh tế có thể là tăng trưởng cao, nhưng tụt hạng năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với tụt hậu xa hơn về mặt chất của nền kinh tế
Còn theo báo cáo giám sát giáo dục toàn cầu năm 2005 của UNESCO thì chỉ số đánh giá tổng hợp về chất lượng NNL, Việt Nam chỉ đạt 32/100 điểm, thuộc vào nhóm yếu kém nhất, xếp thứ 11 trong 12 quốc gia Châu Á được so sánh, chỉ đứng trên Inđônêxia và kém xa so với Philíphin, Thái Lan và Malaysia Theo đánh giá chung, các nền kinh tế có chất lượng lao động dưới
35 điểm đều có nguy cơ mất sức cạnh tranh trên thị trường toàn cầu Như vậy, với 32/100 điểm, Việt Nam đang bị giảm về khả năng cạnh tranh trong nền kinh tế thế giới [33]
Như vậy, Việt Nam đang cố gắng trong cải cách giáo dục, môi trường đầu tư, thể chế kinh tế với việc ban hành nhiều luật, văn bản liên quan có chất lượng, cải cách thủ tục hành chính, nâng cao hiệu quả của quản lý kinh tế vĩ
mô, phòng chống tham nhũng…, đó là những nỗ lực tạo ra khả năng cạnh
Trang 23tranh ở cấp quốc gia, nhưng sẽ không có ý nghĩa nhiều trong năng lực cạnh tranh nền kinh tế thế giới, nếu những lĩnh vực khác chưa cải cách hoặc cải cách chậm trễ, nhất là đào tạo nhanh đội ngũ LĐKT có kỹ năng nghề cao, sẵn sàng sáng tạo, áp dụng những thành quả công nghệ hiện đại vào trong sản xuất, tạo ra những sản phẩm, hàng hoá có chất lượng, giá cả rẻ, giá trị gia tăng lớn Muốn cải thiện thứ bậc năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam, thu hẹp được khoảng cách so với các nước trong khu vực và thế giới, không còn con đường nào khác là phải nâng cao chất lượng NNL, nhất là tập trung đào tạo đội ngũ LĐKT có chất lượng cho các ngành, nghề mang tính đột phá (công nghệ thông tin, tự động hoá, công nghệ vật liệu mới…), đảm bảo chi phí lao động trong giá thành sản phẩm, dịch vụ thấp, đủ khả năng cạnh tranh với khu vực và quốc tế
Thứ tư, LĐKT với tiếp cận kinh tế tri thức
Quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam không thể đi theo con đường truyền thống và kéo dài được, một mặt phải có quy trình, trình tự hợp lý nhưng đồng thời phải có bước nhảy vọt, đi tắt, đón đầu hợp lý và mạnh dạn, táo bạo đi ngay vào trình độ hiện đại để có những bước bứt phá mạnh mới khắc phục tình trạng tụt hậu xa hơn về kinh tế, rút ngắn, đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH đất nước theo hướng hiện đại Vì vậy, phát triển kinh tế tri thức được xem là rất cần thiết ở nước ta
Sự phát triển kinh tế tri thức làm tăng nhu cầu cung cấp NNL chất lượng cao, đòi hỏi người lao động phải có kiến thức, kỹ năng, năng lực tiếp thu tri thức mới, có khả năng hội nhập và thích ứng nhanh với môi trường toàn cầu hoá về kinh tế Đào tạo NNL chất lượng cao, mà trong đó phát triển lực lượng LĐKT “cổ trắng” để tạo ra tri thức, sử dụng tri thức vào quá trình sản xuất để tạo ra những sản phẩm có giá trị gia tăng lớn cho xã hội, có sức cạnh tranh nổi trội là động lực chủ yếu của phát triển nền kinh tế tri thức Vì vậy, phải đầu tư mạnh vào giáo dục, đào tạo LLLĐ, đầu tư vào nghiên cứu KH - CN, phát triển con người
Trang 241.2 MỘT SỐ YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN LAO ĐỘNG KỸ THUẬT
Quá trình phát triển LĐKT chịu nhiều yếu tố tác động Một yếu tố tác động đến nhiều nội dung của phát triển LĐKT, một nội dung phát triển LĐKT lại chịu nhiều yếu tố tác động Ở góc độ hẹp, quá trình phát triển LĐKT chịu tác động của các nhân tố như nguồn tuyển chọn, nhu cầu thị trường lao động, mức đầu tư… (đầu vào), cơ sở vật chất nhà trường, đội ngũ giáo viên, chương trình, giáo trình, điều kiện thực hành…(khâu tổ chức quá trình đào tạo), thị trường lao động, lương, thưởng, chính sách đãi ngộ, thu hút nhân tài…(đầu ra) Nhưng ở góc độ bao quát hơn, trước yêu cầu trình độ ngày càng cao của nền KT - XH, trên cơ sở xác định các nội dung của quá trình phát triển LĐKT, quá trình đó chịu tác động của tổng hợp các yếu tố, cả yếu tố nội lực thuộc khả năng bên trong của LĐKT và môi trường KT - XH, nơi LĐKT được đào tạo, duy trì, sử dụng và phát triển
1.2.1 Tác động của yếu tố khoa học - công nghệ
Ngày nay, chúng ta chứng kiến cuộc cách mạng KH - CN mà đại diện đỉnh cao của nó là công nghệ thông tin và tri thức (hay còn gọi là “cách mạng số”) đã làm cho thế giới trở nên thu nhỏ lại, thậm chí siêu nhỏ và trở nên
“phẳng” Thông tin và tri thức trở thành lực lượng sản xuất quan trọng hơn cả yếu tố vốn, tài nguyên và lao động Sự bùng nổ thông tin, công nghệ, đặc biệt
là công nghệ cao như công nghệ thông tin - viễn thông (internet, Hnet…), công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ năng lượng, công nghệ tự động hoá… đã làm kinh tế thế giới phát triển chưa từng có trong lịch sử xã hội loài người Chỉ tính riêng về của cải vật chất, trong 27 năm từ 1970 – 1997, loài người đã làm ra khối lượng bằng 270 năm trước đó [35, tr.32] Có thể nói rằng, KH-CN đã tác động tích cực đến mọi mặt của đời sống KT - XH, đưa đến sự thay đổi không những trong nội tại quá trình sản xuất, kinh doanh mà ngay cả trong tư duy quản lý, cách thức đối xử của các nền kinh tế trên thế giới
Tiến bộ KH - CN đã thúc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, tạo ra nhiều việc làm ở các ngành kinh tế
Trang 25mới, làm thay đổi mối tương quan giữa lao động thủ công và lao động trí óc, giữa lao động trực tiếp và lao động gián tiếp, giữa LĐKT và lao động chuyên môn Các yếu tố KH - CN tác động đến phát triển LĐKT chủ yếu ở các điểm sau:
Thứ nhất, sự gia tăng hàm lượng công nghệ trong sản phẩm cũng đồng
thời giảm hàm lượng lao động sống, lao động có trình độ CMKT thấp, hạn chế số lượng LĐKT trong một số ngành áp dụng công nghệ cao, công nghệ hiện đại do năng suất lao động cao, giảm chỗ làm việc trong một số ngành, nhưng lại gia tăng công nhân trí thức (công nhân cổ trắng) ở các ngành, lĩnh vực
Thứ hai, công nghệ mới, hiện đại sẽ làm cho chu kỳ sản xuất, kinh doanh
rút ngắn, sản phẩm thay đổi liên tục về mẫu mã, chủng loại theo yêu cầu của thị trường, đòi hỏi thao tác của người lao động phải tuyệt đối chính xác, người lao động điều khiển máy móc thiết bị với công nghệ hiện đại phải có một trình độ đào tạo nhất định ở các cấp đào tạo phù hợp với trình độ công nghệ,
có khả năng nắm bắt và áp dụng công nghệ mới vào công việc, có khả năng cập nhật, xử lý thông tin, do vậy đầu tư cho giáo dục nghề nghiệp, hướng vào đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật có chất lượng là yêu cầu cấp thiết
Thứ ba, Tốc độ ứng dụng cũng như phát triển KH - CN luôn đi trước tốc
độ đào tạo LĐKT, thậm chí tốc độ phát triển chóng mặt của một số công nghệ (máy vi tính, công nghệ viễn thông, rôbốt…), nếu không có chiến lược giáo dục nghề nghiệp đón đầu thì chưa kịp tốt nghiệp nghề đã không sử dụng, tiếp cận được những máy móc, thiết bị quá mới, đặc biệt là nhập từ nước ngoài các công nghệ mới chưa từng thấy, điều đó gây lãng phí xã hội rất lớn
Thứ tư, các yếu tố KH - CN làm thay đổi thói quen làm việc của LĐKT,
làm việc trong môi trường đa văn hoá, làm việc theo nhóm, làm việc rất năng động, văn minh hơn, người lao động không được chậm trễ, ỷ lại, trông chờ mệnh lệnh hành chính mà phải theo mệnh lệnh của máy móc, công nghệ, quy trình sản xuất nghiêm ngặt, điều đó yêu cầu LĐKT không chỉ giỏi nghề mà còn phải thay đổi suy nghĩ, phong cách làm việc hiện đại, văn minh
Thứ năm, việc phát triển và ứng dụng rộng rãi KH - CN sẽ làm thay đổi
cấu trúc LĐKT Tốc độ biến đổi cấu trúc, cơ cấu LĐKT tỷ lệ thuận với tốc độ
Trang 26phát triển của KH - CN theo hướng tỷ trọng lao động có trình độ đào tạo kỹ thuật ở các cấp CĐ nghề, ĐH kỹ thuật sẽ tăng lên, trong khi tỷ trọng LĐKT bán lành nghề, lao động có tay nghề thấp ngày càng giảm; tỷ trọng lao động công nhân kỹ thuật công nghiệp giảm, tỷ trọng lao động dịch vụ tăng lên; lao động trực tiếp ngày càng giảm và lao động gián tiếp ngày càng tăng lên Nhìn chung cơ cấu LĐKT biến đổi mạnh do tác động các yếu tố KH - CN, cơ cấu LĐKT sẽ dịch chuyển theo hướng gia tăng hàm lượng chất xám lẫn khả năng thực hành cao, do vậy cần phải có nhận thức và đổi mới việc đào tạo LĐKT
để tương ứng với sự phát triển
1.2.2 Tác động của toàn cầu hoá và hội nhập
Về mặt kinh tế, không một quốc gia nào muốn mình là một ốc đảo trong
xu hướng toàn cầu và hội nhập hiện nay Toàn cầu hoá và hội nhập về kinh tế
là một xu hướng khách quan, những định hướng phát triển KT - XH toàn cầu
sẽ thay thế định hướng quốc gia, những cam kết, những quy định quốc gia phải phù hợp với thông lệ quốc tế, nói chung, về mặt kinh tế sẽ không còn biên giới giữa các quốc gia, chỉ còn ưu thế canh tranh tốt hay không lại phụ thuộc vào mức an toàn về chính trị và trình độ NNL của quốc gia đó
Rõ ràng, NNL cao, mà đội ngũ LĐKT lành nghề là ưu thế cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu Trong toàn cầu và hội nhập kinh tế quốc tế, các dòng chảy đầu tư và KH - CN sẽ đổ về những nơi có hiệu quả cao nhất, chi phí rẻ nhất, chất lượng sản phẩm có tính cạnh tranh cao nhất Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, những nơi đó là rất nhiều, lúc này vấn đề còn lại là ưu thế của đội ngũ LĐKT trong nước có đáp ứng được yêu cầu hay không, đó là vấn đề then chốt trong ưu thế cạnh tranh
Ở hướng khác, sản phẩm của quốc gia muốn du nhập vào các thị trường khó tính, đòi hỏi sản phẩm phải có chất lượng, giá thành rẻ, đảm bảo tính cạnh tranh, đặc biệt là yêu cầu về chuẩn mực, tiêu chuẩn chất lượng quốc tế, thì không thể xuất nguyên liệu thô, hay kéo dài lợi thế giá nhân công rẻ trong nước để gia công sản phẩm mà phải xuất những mặt hàng, sản phẩm tinh, có
Trang 27giá trị, điều đó lại phụ thuộc vào sự đột phá của ứng dụng KH - CN, sự làm việc sáng tạo của đội ngũ công nhân lành nghề đã được đào tạo bài bản trong
hệ thống giáo dục nghề nghiệp phát triển
Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế tác động đến thị trường lao động trong nước nói chung và LĐKT nói riêng, đó là: Cung LĐKT cao cho các khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu chế xuất, những ngành kinh tế mũi nhọn, đột phá, vùng kinh tế trọng điểm, những ngành nghề mới liên quan đến công nghệ thông tin, tự động hoá, công nghiệp ô tô, xe máy, điện tử…Cung LĐKT cho các ngành, nghề mà Việt Nam đang có ưu thế như dệt may, gia dày, thủ công mỹ nghệ, chế biến nông - lâm - thuỷ sản… và cung LĐKT và chuyên gia cho thị trường ngoài nước (xuất khẩu lao động)
1.2.3 Tác động của xu hướng tri thức hoá nền kinh tế
Cơ cấu kinh tế của các nước trên thế giới gần đây thay đổi nhanh theo hướng tăng nhanh các ngành dựa trên tri thức và sử dụng công nghệ cao, các ngành đó ngày càng chiếm vai trò quan trọng trong tổng sản phẩm xã hội (GDP) Theo đánh giá của Hội thông tin giáo dục quốc tế (ISE), trong các nước thuộc Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OCED), ngành công nghiệp dựa trên tri thức như công nghệ cao, thông tin, tài chính, bảo hiểm…đã đóng góp trên 40% GDP Ở Xingapo các ngành này đóng góp 57,3%, Mỹ là 55,3%, Nhật là 53%, Canada là 51% Úc và Canada có 50% số người sử dụng điện thoại di động, 40% có máy vi tính, 30% sử dụng internet, thương mại điện tử phát triển hết sức nhanh chóng, mức tăng trưởng của nó lên đến vài trăm phần trăm/năm ở Mỹ, Úc, Canada [64, tr.419] Như vậy, quá trình đó làm thay đổi
cơ cấu LĐKT, LĐKT ở các ngành dịch vụ tăng lên, đòi hỏi đào tạo ở các cấp trình độ CĐ, ĐH công nghệ phải được chú trọng ở các lĩnh vực như công nghệ thông tin, nhân viên kỹ thuật quản trị mạng…
Mặt khác, xu hướng tri thức hoá nền kinh tế còn tác động mạnh đến LĐKT phát triển theo hướng tri thức hoá đội ngũ lao động Nếu trước đây hai thập kỷ, ở Mỹ, nông dân chiếm 5%, công nhân cổ xanh chiếm 20%, công
Trang 28nhân cổ trắng chiếm 60-70%, thì hiện nay, nông dân Mỹ chỉ còn dưới 3%, công nhân cổ xanh giảm xuống còn 10%, công nhân cổ trắng tăng lên đến 85% và theo dự đoán ở Mỹ sẽ tiếp tục tăng tỷ lệ công nhân cổ trắng, họ là những người có học vấn, có trình độ nghề nghiệp cao [35, tr.32]
Xu hướng trí thức hoá nền kinh tế tất yếu dẫn đến sự chuyển dịch cơ cấu lao động, trong đó có sự biến động của đội ngũ LĐKT, lao động tri thức sẽ tăng lên, tỷ lệ lao động được giáo dục nghề nghiệp cao, có kiến thức ngày càng chiếm tỷ lệ lớn trong LLLĐ quốc gia và đóng góp rất lớn vào GDP, giải quyết rất nhiều việc làm cho người lao động Ở Ấn Độ, công nghệ phần mềm phát triển vào bậc nhất thế giới đã tạo ra 50 vạn cơ hội việc làm có thu nhập cao, Trung quốc tạo ra 2 triệu việc làm ở các khu khai thác kỹ thuật cao [64, tr.419] Đối với nước ta, rút ngắn quá trình CNH, HĐH là một nhiệm vụ lớn trong bối cảnh toàn cầu và hội nhập Trong quá trình đó cần phải biết tận dụng những thành tựu KH - CN của các nước đi trước thông qua tiến trình thu hút vốn FDI vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, đồng thời lựa chọn công nghệ mới, không ngại áp dụng, chuyển giao vào trong nước để hấp thụ những tri thức mới Điều đó, đặt vấn đề nâng cao chất lượng NNL, đặc biệt là đội ngũ LĐKT tri thức để hấp thụ được khoa học - kỹ thuật tiên tiến và chính sự hấp thụ tốt này lại là chất kích thích đội ngũ LĐKT sáng tạo, nghiên cứu KH -
CN, tích luỹ tri thức, tri thức lại đẩy nhanh tiến bộ KH - CN, đảm bảo chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng CNH, HĐH phù hợp với xu thế toàn cầu và hội nhập kinh tế quốc tế
1.2.4 Tác động của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
“Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” đã được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng tiếp tục khẳng định và làm rõ, với những hướng cơ bản là: Phát triển nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân Thực hiện tiến bộ và công bằng xã
Trang 29hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển; tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với phát triển văn hoá, y tế, giáo dục…giải quyết tốt các vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người [19, tr.77]
Như vậy, với chủ trương phát triển nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế ở nước ta hiện nay nhằm giải phóng mọi tiềm năng phát triển, phát huy tối đa nội lực trong mỗi thành phần kinh tế, mỗi cá nhân, vùng miền
để tạo ra sự phát triển nhanh về kinh tế Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, tạo lập khung khổ pháp lý, quản lý tất cả các loại thị trường đang tồn tại trong kinh tế nước ta, trong đó có thị trường sức lao động
Kinh tế thị trường là một trong những yếu tố tác động mạnh đến phát triển LĐKT ở các điểm sau:
Thứ nhất, cũng như các thị trường khác, sức lao động trong thị trường lao
động là hàng hoá, được mua, bán theo quy luật cung - cầu, tuy nhiên đây là loại hàng hoá đặc biệt Người lao động tham gia thị trường lao động cũng chịu quy luật cạnh tranh, thậm chí rất quyết liệt trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập sâu hơn về kinh tế thế giới, đặc biệt là công nghệ mạng toàn cầu trở nên phổ biến, thí dụ như một nhân viên kế toán phần mềm ở tại Ấn Độ được thuê chuyên làm thủ tục hải quan cho một doanh nghiệp đang ở Mỹ, bởi vì thuê người Ấn Độ làm công việc đó rẻ hơn là thuê người Mỹ Như vậy, việc làm ở trong nước bị cạnh tranh và mất ngay ở nước ngoài
Rõ ràng, trong kinh tế thị trường, cơ hội việc làm chỉ đến với những lao động có năng lực nghề nghiệp, phẩm chất vượt trội Cạnh tranh việc làm trong thị trường sức lao động buộc người lao động phải tự thay đổi bản thân mình,
tự học hỏi để không ngừng nâng cao trình độ về mọi mặt, nhu cầu đào tạo LĐKT ngày càng tăng, nhất là nhu cầu học ngoại ngữ, tin học, kỹ năng làm việc theo nhóm
Thứ hai, trong kinh tế thị trường, tiền công, tiền lương là giá cả sức lao
động Biểu hiện của tiền lương, tiền công đối với cung - cầu LĐKT là một biểu hiện phức tạp, đầy mâu thuẫn, theo nhiều hướng khác nhau Nhưng ở một góc phân tích nhỏ, có thể nhận xét như sau: Nếu giá cả của một mặt hàng
Trang 30nào đó (không phải sức lao động) tăng lên thì cầu về hàng hoá đó sẽ giảm, người tiêu dùng sẽ tìm hàng hoá khác thay thế (theo quy luật cung - cầu), nhưng trong kinh tế thị trường hiện đại dựa trên nền tảng kỹ thuật và công nghệ cao, tiền lương có xu hướng tăng lên sẽ không làm giảm cầu LĐKT, ngược lại xu hướng cầu LĐKT cao sẽ tăng nhanh, chỉ giảm cầu lao động không có trình độ kỹ thuật Bởi vì LĐKT cao, có kỹ năng nghề nghiệp vững vàng sẽ làm tăng năng suất lao động vượt trội, tỷ trọng chi phí tiền lương trong giá thành sản phẩm giảm, sản phẩm có sức cạnh tranh hơn, dẫn đến lợi nhuận cao, có lợi nhuận thì lại trả lương cao để duy trì và phát triển đội ngũ LĐKT Điều này, khách quan dẫn đến nhu cầu đào tạo LĐKT cao sẽ tăng tương ứng ở các cấp trình độ
Thứ ba, ở nước ta, đặc điểm thị trường lao động hiện có sự phân mảng
lớn Sự khác biệt rõ ràng nhất là giữa lao động ở khu vực thành thị và nông thôn, giữa lao động ở các vùng, miền khác nhau, giữa lao động chính quy và phi chính quy, giữa lao động trong khu vực nhà nước và lao động ngoài khu vực nhà nước, giữa lao động hiện đại và lao động truyền thống, giữa lao động trong cùng một ngành, nghề…[9, tr.102] và thường xuyên biến động, dịch chuyển, đặc biệt là quá trình đô thị hoá diễn ra nhanh chóng, tốc độ chuyển dịch nông dân thành công nhân tăng cả về tương đối lẫn số tuyệt đối đã tác động mạnh đến đào tạo và đào tạo lại đội ngũ LĐKT nhằm cân đối cung - cầu lao động trên thị trường Đào tạo LĐKT trong điều kiện như vậy cần phải thực sự linh động, bám sát yêu cầu, nhu cầu của thị trường, xã hội hoá đào tạo LĐKT, vai trò của Nhà nước trong công tác đào tạo LĐKT cần phải có một dự báo tốt
Thứ tư, trong kinh tế thị trường, nhà sản xuất quyết định sản xuất ra hàng
hoá nào, số lượng bao nhiêu, sản xuất như thế nào là do yêu cầu của thị trường, do thị trường quyết định Trong thị trường lao động hoạt động trong
cơ chế thị trường cũng như vậy, đào tạo LĐKT với số lượng, chất lượng, cơ cấu như thế nào cũng do yêu cầu của thị trường Hệ thống giáo dục nghề nghiệp không phải đào tạo những ngành, nghề mà mình có năng lực, khả năng hiện có, mà phải đào tạo theo định hướng cầu của thị trường, đảm bảo sử
Trang 31dụng hiệu quả đội ngũ lao động sau khi được đào tạo Kinh tế thị trường và các quy luật khách quan của nó có tác động bao phủ lên toàn bộ hệ thống giáo dục nói chung và giáo dục nghề nghiệp nói riêng, đặc biệt Việt Nam đã gia nhập WTO, thì đào tạo được coi là một hoạt động dịch vụ trong lộ trình cam kết, lúc này đào tạo LĐKT không chỉ là việc làm của riêng nhà nước, mà đã được xã hội hoá, có sự tham gia của các tổ chức xã hội nghề nghiệp, chính trị
xã hội và phi chính phủ, của tư nhân và của các nhà đầu tư nước ngoài
1.2.5 Tác động của chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH ở nước ta có tác động đến phát triển LĐKT trên các mặt sau:
Thứ nhất, đối với ngành nông nghiệp
Đại hội đại biểu lần thứ X của Đảng đã nhấn mạnh: “ Tạo chuyển biến mạnh mẽ trong sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn và nâng cao đời sống nhân dân”, trong đó “…Xây dựng các vùng sản xuất nông sản hàng hoá tập trung gắn với việc chuyển giao công nghệ sản xuất, chế biến và bảo quản…”,
“…Đẩy mạnh phát triển công nghiệp và dịch vụ nông thôn, nhất là những ngành, nghề sử dụng nhiều lao động, coi đây là hướng chính để tạo ra nhiều việc làm mới…”, “ Tạo điều kiện thuận lợi để giúp nông dân chuyển sang làm ngành, nghề ngoài nông nghiệp và dịch vụ” và “ Chú trọng đào tạo nghề, tạo việc làm cho nông dân và cho lao động nông thôn, nhất là các vùng nhà nước thu hồi đất để xây dựng kết cấu hạ tầng và phát triển các cơ sở phi nông nghiệp Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu lao động ở nông thôn, giảm nhanh tỷ trọng làm nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao động làm công nghiệp và dịch vụ Tạo điều kiện cho lao động nông thôn có việc làm, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, tại chỗ và ngoài nông thôn, kể cả ở nước ngoài” [19, tr.190-195] Như vậy chủ trương này tác động rất lớn đến phát triển đội ngũ LĐKT, phải đào tạo một đội ngũ LĐKT rất lớn do có sự chuyển đổi ngành, nghề ở nông thôn, do quá trình đô thị hoá Chiến lược đào tạo cùng lúc phải đáp ứng hai yêu cầu là vừa đào tạo hoàn toàn mới, chuyển đổi ngành nghề đối với lao
Trang 32động trước đây họ là nông dân, để cung ứng cho các nhà máy, dịch vụ công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp nông thôn, đồng thời phải đào tạo đội ngũ LĐKT
có trình độ cao để đáp ứng, tiếp cận các ngành nghề mới xuất hiện áp dụng công nghệ sinh học, các loại giống mới…và đào tạo nghề để xuất khẩu lao động
Thứ hai, đối với ngành công nghiệp
“Phát triển nhanh hơn công nghiệp và xây dựng theo hướng nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh và hiện đại hoá” [19, tr.196] đã làm thay đổi rất căn bản xu hướng phát triển cơ cấu LĐKT hiện nay trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập Rõ ràng, sản phẩm công nghiệp do gia công, sử dụng nhiều lao động hoặc sản phẩm công nghiệp xuất khẩu thô trong tương lai không phải là ưu thế vì tính hiệu quả kinh tế và tính cạnh tranh rất thấp trên thị trường thế giới Do vậy, một mặt phải nâng cao chất lượng các ngành công nghiệp có lợi thế cạnh tranh, sử dụng nhiều lao động, như: chế biến nông, lâm, thuỷ sản, may mặc, giày da, đồ nhựa…, mặt khác đi nhanh vào một số ngành, lĩnh vực có công nghệ hiện đại, công nghệ cao, sử dụng nhiều vốn Phát triển đội ngũ LĐKT cũng đồng thời uyển chuyển theo xu hướng đó
Thứ ba, đối với ngành dịch vụ
Đối với ngành dịch vụ trong kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta có sự chuyển biến lớn Các loại hình dịch vụ mới sẽ hình thành từ nhu cầu trong nước và có sự du nhập nhanh các loại hình dịch vụ từ nước ngoài như ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, chứng khoán, dịch
vụ pháp luật, kiểm toán, giáo dục và đào tạo, y tế, văn hoá…Nếu như LĐKT trong ngành công nghiệp cần thành thạo nghề, kỹ năng thực hành các công việc có độ phức tạp khác nhau, thì các ngành dịch vụ cao cấp cần người lao động ở kỹ năng tinh tế trong giao tiếp (phục vụ du lịch, nhà hàng, khách sạn, vận tải hàng không…), khả năng tư vấn, maketing, quan hệ khách hàng…, đặc biệt trong các ngành dịch vụ có ưu thế của Việt Nam như dịch vụ vận tải, bưu chính viễn thông cần đội ngũ LĐKT có trình độ nhất định để thực hiện các công việc theo tiêu chuẩn quốc tế
Trang 331.2.6 Tác động của các chính sách vĩ mô của nhà nước
Mục tiêu của chính sách vĩ mô của nhà nước Việt Nam là hướng vào sự phát triển toàn diện của con người, với quan điểm lấy con người và đặt con người vào trung tâm của sự phát triển Hay nói cách khác, các chính sách vĩ
mô của nhà nước là công cụ điều tiết của nhà nước vào nền KT - XH để nhằm mục tiêu cuối cùng là đạt được tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững hơn, việc làm đầy đủ hơn, giảm thất nghiệp và lạm phát nền kinh tế Các chính sách vĩ mô của nhà nước càng hợp lý càng chứng tỏ sự điều tiết hợp lý của nhà nước vào nền kinh tế, quyết định không nhỏ đến xu hướng biến đổi số lượng, chất lượng, cơ cấu cũng như việc sử dụng LĐKT Các Luật như Luật đầu tư, Luật doanh nghiệp, Luật giáo dục, Luật Dạy nghề ra đời cùng với các chính sách phù hợp với điều kiện cụ thể của nước ta đã tác động không nhỏ đến việc tăng giảm, điều chỉnh cung - cầu lao động trong thị trường lao động, trong đó có sự thay đổi trong cơ cấu đào tạo LĐKT
Tóm lại, những tác động của các yếu tố nêu trên đến phát triển đội ngũ
LĐKT ở nước ta là rất lớn Các yếu tố đó tác động làm thay đổi căn bản, nhiều khía cạnh, nhiều chiều về phát triển đội ngũ LĐKT, mà ở cấp quốc gia, cấp doanh nghiệp và toàn xã hội cần phải nhận thức đầy đủ, sâu sắc và kịp thời để có
giải pháp tối ưu nhất phát triển LĐKT phục vụ phát triển KT - XH đất nước
1.3 NHỮNG YÊU CẦU CƠ BẢN VỀ ĐÀO TẠO LAO ĐỘNG KỸ THUẬT CHO NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ ĐẤT NƯỚC VÀ HỘI NHẬP
1.3.1 Mở rộng quy mô đào tạo lao động kỹ thuật
Theo báo cáo của Tổng cục DN - Bộ LĐ-TB&XH, thời gian qua, sự nghiệp DN đã được phục hồi, ổn định và đang từng bước phát triển Quy mô đào tạo LĐKT trong thời gian qua không ngừng tăng lên nhưng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu về số lượng cho nền kinh tế, DN trình độ cao trong một số ngành nghề sử dụng kỹ thuật, công nghệ tiên tiến còn nhỏ bé (chiếm khoảng 15%) [49] Quy mô còn rất thấp so với nhiều nước trong khu vực Mặt khác, hiện
Trang 34nay quan hệ giữa đào tạo ĐH - DN dài hạn là 8-1, quan hệ giữa đào tạo ĐH -
DN (cả ngắn hạn và dài hạn) là 10-8, DN dài hạn là đào tạo công nhân lành nghề, còn ngắn hạn là bán lành nghề Nếu tiếp tục đào tạo như thế này thì số công nhân bán lành nghề chiếm tỷ trọng lớn (gấp 5 lần công nhân lành nghề) rất khó cải thiện cơ cấu đào tạo trên đây [15, tr.168]
Trong Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 xác định mục tiêu nâng
tỷ lệ lao động đã qua đào tạo ở các trình độ vào năm 2010 đạt 40%, trong đó công nhân kỹ thuật 26% Như vậy mở rộng quy mô đào tạo LĐKT được xác định ở đây là tăng nhanh đội ngũ LĐKT cho các ngành kinh tế mũi nhọn, vùng kinh tế trọng điểm, các khu công nghiệp, khu công nghệ cao, cho xuất khẩu lao động Để giải quyết vấn đề này cần phải thực hiện có hiệu quả công tác quy hoạch hệ thống cơ sở DN đã được Chính phủ phê duyệt, đồng thời điều chỉnh hợp lý quy mô tuyển sinh và đào tạo LĐKT theo 3 cấp trình độ,
tăng nhanh tuyển sinh và đào tạo LĐKT có trình độ CĐ nghề
1.3.2 Nâng cao chất lượng đào tạo lao động kỹ thuật ở các cấp trình độ
Cuộc cách mạng KH - CN hiện nay đang đặt ra những yêu cầu rất cao về trí tuệ của nguồn nhân lực - những người lao động Họ không những phải có khả năng tiếp thu tri thức mới, vận dụng có hiệu quả nó vào sản xuất mà còn phải biết thường xuyên tự đổi mới tri thức để không bị lạc hậu trước sự phát triển như vũ bão của cách mạng KH - CN Vì vậy, nguồn nhân lực cần thiết cho CNH, HĐH phải bao gồm những người lao động có sự phát triển cao về năng lực trí tuệ, đủ sức làm chủ và tiếp thu công nghệ mới, có khả năng làm việc chủ động, linh hoạt và sáng tạo
Xuất phát từ yêu cầu đó, tiến hành CNH, HĐH nhất thiết phải nâng cao chất lượng chung của nguồn nhân lực và con đường cơ bản nhất để phát huy tiềm năng nhân lực là biến dân tộc đó thành xã hội có học vấn Điều đó giải thích vì sao cuộc chạy đua về kinh tế giữa các quốc gia hiện nay chủ yếu là cuộc chạy đua về phát triển giáo dục - đào tạo dựa trên nền tảng mặt bằng dân trí của nguồn nhân lực, cần xây dựng và phát triển những người lao động có
Trang 35năng lực cao về trí tuệ Họ phải có khả năng áp dụng khoa học để sáng chế ra những kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, có khả năng nhạy bén, thích ứng nhanh và làm chủ được kỹ thuật, công nghệ hiện đại, có kỹ năng nghề nghiệp, có năng lực tổ chức thực hiện và quản lý sản xuất, kinh doanh trong điều kiện kinh tế hàng hoá, cơ chế thị trường và phân công lao động quốc tế Đây là những yêu cầu rất cơ bản về nguồn nhân lực cần thiết cho CNH, HĐH trong điều kiện hiện nay và vì vậy phải phát triển giáo dục và đào tạo, đặc biệt là đào tạo LĐKT
1.3.3 Tạo ra cơ cấu lao động phù hợp với cơ cấu kinh tế
Xem xét cơ cấu nguồn lao động, cái quan trọng nhất là phải xem xét cơ cấu đào tạo và cơ cấu ngành, nghề Xuất phát từ yêu cầu phát triển kinh tế, từ nhu cầu sử dụng mà những người lao động phải được đào tạo, phân bổ và sử dụng theo cơ cấu hợp lý, đảm bảo tính hiệu quả cao nhất trong sử dụng Một quốc gia tuy có lực lượng lao động đông đảo nhưng nếu phân bổ không hợp
lý giữa các ngành, các vùng, cơ cấu đào tạo không phù hợp với nhu cầu sử dụng thì nguồn lao động đông đảo đó không những không trở thành nguồn lực để phát triển mà nhiều khi còn là gánh nặng cản trở sự phát triển
Theo xu hướng chung của quá trình CNH và sự tác động của cuộc cách mạng KH - CN, cơ cấu nguồn lao động sẽ chuyển dịch theo hướng: lao động dịch vụ, công nghiệp tăng cả về tương đối lẫn tuyệt đối, tỷ trọng lao động nông nghiệp ngày càng giảm trong cơ cấu lao động tổng thể Cùng với quá trình đó, cấu trúc của nguồn nhân lực cũng biến đổi theo hướng: tỷ trọng lao động thành thạo ngày càng tăng lên trong khi tỷ trọng lao động có tay nghề thấp ngày càng giảm; tỷ trọng lao động trí lực ngày càng cao trong chi phí lao động, tỷ trọng lao động thể lực ngày càng giảm Đây là vấn đề hết sức quan trọng cần phải tính tới trong quá trình phát triển và sử dụng nhân lực cho CNH, HĐH
1.3.4 Đào tạo lao động kỹ thuật gắn với phân bố, sử dụng và giải quyết việc làm
Đào tạo LĐKT theo định hướng cầu trên thị trường lao động là yêu cầu quan trọng nhất đối với sự nghiệp giáo dục nghề nghiệp nước ta trong bối
Trang 36cảnh hiện nay Đào tạo - Giải quyết việc làm là một hệ thống thống nhất, quan
hệ biện chứng với nhau, xét cả về ý nghĩa kinh tế và ý nghĩa xã hội:
Về kinh tế, đào tạo LĐKT là khâu hoạt động đầu tiên, trang bị cho người lao động kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp để người lao động có nhiều cơ hội tìm việc làm thông qua các chương trình phát triển kinh tế, là yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất Để bảo đảm tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, các chương trình kinh tế phải sử dụng công nghệ cao, hiện đại, đặt ra nhiệm vụ cho công tác đào tạo LĐKT phải đáp ứng yêu cầu về số lượng, chất lượng LĐKT ở trình độ lành nghề, trình độ cao Đào tạo LĐKT ở khía cạnh này mang ý nghĩa về kinh tế
Về xã hội, đào tạo, đào tạo lại đội ngũ LĐKT dôi dư, bị sa thải, thất nghiệp, thiếu việc làm, để các đối tượng yếu thế này tự tạo việc làm hoặc tìm việc làm thích hợp, giảm thiểu tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm, tăng thu nhập, góp phần ổn định và an toàn xã hội Đào tạo LĐKT ở khía cạnh này mang ý nghĩa về xã hội
Tuy nhiên, để đào tạo và giải quyết việc làm thật sự phù hợp nhau là vấn đề đặt ra cho công tác định hướng, phân luồng đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân; sự lớn mạnh của hệ thống đào tạo LĐKT và phải có một hệ thống thông tin thị trường lao động, giới thiệu việc làm chuyên nghiệp để nhận biết, thông báo các tín hiệu của thị trường lao động cho công tác đào tạo LĐKT
1.4 KINH NGHIỆM CỦA CÁC NƯỚC VÀ MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG TRONG NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN LAO ĐỘNG KỸ THUẬT
Phát triển NNL nói chung, LĐKT nói riêng được xem là biện pháp thuyết phục, quyết định sự phát triển của mỗi quốc gia, nhất là khi xuất hiện cách mạng công nghệ, nền kinh tế tri thức Các quốc gia, ở mỗi giai đoạn phát triển, đều có những kinh nghiệm tốt về vấn đề này mà Việt Nam có thể suy nghĩ, lựa chọn
1.4.1 Kinh nghiệm của Nhật Bản và Trung Quốc
Sở dĩ chọn Nhật Bản và Trung Quốc để học hỏi kinh nghiệm là vì hai quốc gia này có những điểm tương đồng về văn hoá so với Việt Nam và họ đã khá thành công trong phát triển NNL, trong đó có phát triển đội ngũ LĐKT
Trang 37Nhật Bản là nước có năng suất lao động vượt trội ở Châu Á và thế giới Trong bối cảnh đất nước có ít tài nguyên thiên nhiên, giáo dục và đào tạo là vấn đề được nhà nước Nhật Bản đặc biệt quan tâm ngay từ khi trẻ em chưa đến trường Chi phí cho giáo dục trong tổng chi tiêu của Chính phủ là rất lớn Điều đáng chú ý là ở Nhật Bản, đào tạo tại chỗ (vừa học vừa làm) giữ vai trò quan trọng nhất trong số các phương pháp đào tạo vì loại hình này ít tốn kém, vừa học vừa làm và rất linh hoạt, cho phép điều chỉnh để đáp ứng yêu cầu cũng như tập trung được sự chú ý phát triển các kỹ năng, tri thức nghề ngay trong lúc làm việc Có thể nói, phát triển LĐKT ngay tại doanh nghiệp như một định hướng chiến lược phát triển LĐKT ở Nhật Bản
Về đào tạo bên ngoài xí nghiệp, đặc biệt chú ý đến hệ thống các trường
ĐH kỹ thuật hệ 1 năm và 2 năm đào tạo các kỹ sư thực hành rất được quan tâm phát triển
Khu vực tư nhân ở Nhật Bản cũng tham gia rất tích cực vào phát triển giáo dục, đào tạo theo hướng phát triển con người như giáo dục phong cách,
kỷ luật lao động, đào tạo người lao động cần mẫn, nghiêm túc, gắn bó doanh nghiệp, trung thực, lịch sự; giáo dục các kiến thức rất thực tế gắn với từng công đoạn, quy trình sản xuất; đặc biệt là giáo dục, đào tạo người lao động biết làm việc theo nhóm, tinh thần tập thể
Ở Nhật Bản, chế độ sử dụng lao động rất thích hợp Đó là phổ biến hiện tượng đổi chỗ làm ngay trong phạm vi nội bộ doanh nghiệp Điều này là kết quả của sự luân phiên trong làm việc, tạo ra cho người lao động một sự năng động, kỹ năng rộng, đồng thời tạo sự chủ động và linh hoạt trong thay đổi nghề nghiệp của doanh nghiệp, tạo ra một đội ngũ công nhân đa năng, công nhân ít rời khỏi doanh nghiệp mà chỉ thay đổi chỗ làm việc trong phạm vi doanh nghiệp Một đặc trưng nữa là luân chuyển lao động giữa các công ty có làm ăn, quan hệ với nhau Theo đó, công ty đang thừa lao động nhượng lại số lao động đó cho các công ty đang cần Điều này làm giảm chi phí tìm việc mới của người lao động, mặt khác công ty mới tiếp nhận được lao động đã qua đào tạo, qua thực tế làm việc với một lý lịch rõ ràng
Trang 38Đào tạo theo định hướng cầu ở Nhật Bản thể hiện rõ ở chỗ là giáo viên của các trường học nhận được các thông tin từ cơ quan đảm bảo việc làm công
và đào tạo, giáo dục, khuyến nghị học sinh vào làm việc các công ty rất cụ thể Còn các sinh viên các trường chuyên nghiệp phải gởi đơn với đầy đủ các thông tin vào năm cuối để các doanh nghiệp kiểm tra, phỏng vấn, lựa chọn
Đối với Trung Quốc, xuất phát từ quan niệm “sự nghiệp hưng suy mấu chốt là ở con người”, nên Trung Quốc rất quan tâm đến phát triển NNL, trong
đó phát triển đội ngũ LĐKT được Trung Quốc tập trung đổi mới
Với mục tiêu xây dựng một hệ thống giáo dục nghề nghiệp và kỹ thuật, đào tạo toàn diện nhiều cấp độ, Trung Quốc đang phát triển các trường đào tạo nghề và kỹ thuật bậc ĐH, các trường trung học nghề và trung học kỹ thuật, các trường trung học bách khoa, các trường kỹ thuật, các trung tâm đào tạo nghề, các tổ chức đào tạo nghề do cộng đồng đảm nhiệm và các trung tâm đào tạo nghề tại nơi làm việc do các doanh nghiệp đảm nhận, do đó đã tăng cường công tác đào tạo cho những lao động mới vào nghề, những người đang phải làm việc và cả những người bị thôi việc Các khoá đào tạo từ 1 đến 3 năm được tổ chức cho những học sinh tốt nghiệp phổ thông, những người không đỗ vào ĐH Các trường kỹ thuật và các trung tâm đào tạo nghề đang được điều chỉnh và tổ chức lại thành những cơ sở đào tạo có chất lượng Một
cơ chế mà căn cứ vào đó “ thị trường dẫn dắt việc đào tạo và đào tạo thúc đẩy việc làm” đang được hình thành Một hệ thống danh mục nghề đang được giới thiệu và một hệ thống cấp trình độ nghề đã được xây dựng cho những người lao động ở mọi trình độ, từ lao động ở trình độ cơ bản tới những người ở trình
độ cao [11, tr.120-121]
Có một điều đặc biệt là mô hình xí nghiệp tạo việc làm của Trung Quốc Người bị mất việc làm có thể tự đứng ra thành lập xí nghiệp, doanh nghiệp của mình và được bảo trợ từ phía doanh nghiệp nhà nước, hoặc của chính quyền địa phương Hoạt động của các doanh nghiệp này rất rộng và đa dạng: tạo việc làm, tổ chức đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng, tay nghề, trả tiền trợ cấp thất nghiệp, giúp đỡ các doanh nghiệp trong việc tìm kiếm lao động…Mô
Trang 39hình này có thế mạnh ở chỗ là tạo ra sự hợp tác với các công ty nhà nước, tận dụng được các nguồn nhàn rỗi từ các công ty này, đặc biệt là chia sẻ nhiệm vụ dịch vụ việc làm với các cơ quan dịch vụ việc làm, chống tập trung hoá dịch
vụ việc làm, tạo ra sự cạnh tranh để hoạt động dịch vụ việc làm phát triển
1.4.2 Kinh nghiệm của thành phố Hà Nội
Là thành phố lớn, thủ đô của cả nước, Hà Nội là trung tâm văn hoá, chính trị, kinh tế của cả nước Với dân số gần 3 triệu người, LLLĐ chiếm 77% dân
số, những tiềm năng, thế mạnh về nhân lực khoa học và nhân văn của Hà Nội
đã tác động đến quá trình phát triển NNL, nhân tài, đặc biệt là đội ngũ LĐKT
có trình độ cao, lành nghề để phục vụ cho sự nghiệp CNH, HĐH thủ đô theo hướng văn minh, hiện đại
So với các tỉnh, thành trong cả nước, Hà Nội là nơi có tiềm lực KH - CN cao nhất với 44 trường ĐH, CĐ dân lập và công lập, chiếm 60% số trường
ĐH, CĐ cả nước, có 112 viện nghiên cứu với trên 10,3 ngàn cán bộ có trình
độ trên ĐH, gần 20,3 vạn người có trình độ ĐH, CĐ chiếm 11,1% so với tổng nguồn lao động Cơ cấu ĐH/CĐ - THCN - công nhân kỹ thuật là 1 - 0,8 - 1 Mạng lưới cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn không ngừng tăng lên Nếu như năm 1996, có 55 cơ sở đào tạo nghề thì đến năm 2002 đã có 155 cơ sở Số cơ
sở tăng lên chủ yếu là ngoài công lập, chứng tỏ đã thực hiện tốt chủ trương xã hội hoá công tác đào tạo nghề trên địa bàn Quy mô học sinh học nghề không ngừng tăng lên, năm 2002 có 54 ngàn học sinh học nghề (Đà Nẵng: 14 ngàn),
số học sinh tốt nghiệp so với đầu vào đạt 90%, có việc làm trên 90% Tỷ lệ qua đào tạo nghề của thành phố đạt 37,54% năm 2002 (cả nước: 11,76%), thành phố Đà Nẵng mới chỉ đạt 27,5% vào năm 2005 [10, tr.52]
Thành phố Hà Nội thực hiện có hiệu quả việc xây dựng quy hoạch và triển khai quy hoạch hệ thống các cơ sở DN trên địa bàn Quy hoạch hệ thống
cơ sở DN ở thành phố Hà Nội đã bám sát quy hoạch chung của trung ương và mục tiêu phát triển KT - XH của địa phương Quy hoạch đã hướng mạnh ra ngoại thành, đa dạng hình thức đào tạo Quan tâm đầu tư các cơ sở DN cho
Trang 40lao động chuyển đổi ngành nghề do tốc độ đô thị hoá diễn ra nhanh chóng Cấp thẻ học nghề miễn phí cho lao động bị mất việc do chuyển đổi mục đích
sử dụng đất Thành phố cũng đã dành quỹ đất trong các khu đô thị mới, khu công nghiệp để dãn các trường DN, phân bố hợp lý các cơ sở DN
Chất lượng đào tạo nghề ở thành phố Hà Nội rất được quan tâm Thành phố thường xuyên tổ chức thi thợ giỏi, tăng cường công tác thanh kiểm tra các trường nghề, sửa đổi nội dung chương trình đào tạo, tăng ngân sách để nâng cấp, trang thiết bị DN
Kinh nghiệm đáng kể của thành phố Hà Nội là bước đầu quản lý có hiệu quả lao động nhập cư vào thành phố Đây là vấn đề rất khó của cả nước nói chung và các thành phố lớn nói riêng Hà Nội đã có Đề án quản lý lao động nhập cư với nhiều chính sách hợp lý, tạo điều kiện cho lao động nhập cư, trong đó có LĐKT vào học tập, làm việc, tìm kiếm việc làm, góp phần phát triển thành phố văn minh, hiện đại
1.4.3 Kinh nghiệm của thành phố Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố lớn nhất đất nước Việt Nam, là đầu tàu về kinh tế Việt Nam, là địa phương đi đầu trong cả nước về tốc độ phát triển kinh tế, do đó nhu cầu về phát triển đội ngũ LĐKT trên địa bàn là hết sức lớn Trong những năm qua, thành phố đã thực hiện rất tốt chủ trương xã hội hoá, đa dạng hoá hoạt động đào tạo LĐKT, đáp ứng một phần yêu cầu về LĐKT cho đại bộ phận doanh nghiệp trên địa bàn và các tỉnh trong vùng kinh
tế trọng điểm khu vực Phía Nam Thành phố Hồ Chí Minh hiện có trên 300 cơ
sở DN, được phân bố ở hầu hết 24 quận, huyện, với quy mô đào tạo hàng năm gần 30.000 LĐKT lành nghề và hơn 300.000 lượt học viên học nghề ngắn hạn với nhiều hình thức đa dạng và phong phú Tỷ lệ lao động qua qua đào tạo nghề của thành phố đạt trên 40%, trong đó có 20% có tay nghề bậc 3/7 và tương đương [37]
Xã hội hoá DN ở thành phố được thực hiện có hiệu quả Các nguồn lực đầu tư ngoài ngân sách cho công tác DN rất lớn, hợp tác quốc tế trong DN