(Luận văn thạc sĩ) Tình hình sử dụng ngôn ngữ của người Arem ở huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình(Luận văn thạc sĩ) Tình hình sử dụng ngôn ngữ của người Arem ở huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình(Luận văn thạc sĩ) Tình hình sử dụng ngôn ngữ của người Arem ở huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình(Luận văn thạc sĩ) Tình hình sử dụng ngôn ngữ của người Arem ở huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình(Luận văn thạc sĩ) Tình hình sử dụng ngôn ngữ của người Arem ở huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình(Luận văn thạc sĩ) Tình hình sử dụng ngôn ngữ của người Arem ở huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình(Luận văn thạc sĩ) Tình hình sử dụng ngôn ngữ của người Arem ở huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình(Luận văn thạc sĩ) Tình hình sử dụng ngôn ngữ của người Arem ở huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình(Luận văn thạc sĩ) Tình hình sử dụng ngôn ngữ của người Arem ở huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình(Luận văn thạc sĩ) Tình hình sử dụng ngôn ngữ của người Arem ở huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình(Luận văn thạc sĩ) Tình hình sử dụng ngôn ngữ của người Arem ở huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình(Luận văn thạc sĩ) Tình hình sử dụng ngôn ngữ của người Arem ở huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình(Luận văn thạc sĩ) Tình hình sử dụng ngôn ngữ của người Arem ở huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình(Luận văn thạc sĩ) Tình hình sử dụng ngôn ngữ của người Arem ở huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình(Luận văn thạc sĩ) Tình hình sử dụng ngôn ngữ của người Arem ở huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình(Luận văn thạc sĩ) Tình hình sử dụng ngôn ngữ của người Arem ở huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình(Luận văn thạc sĩ) Tình hình sử dụng ngôn ngữ của người Arem ở huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình(Luận văn thạc sĩ) Tình hình sử dụng ngôn ngữ của người Arem ở huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình(Luận văn thạc sĩ) Tình hình sử dụng ngôn ngữ của người Arem ở huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình(Luận văn thạc sĩ) Tình hình sử dụng ngôn ngữ của người Arem ở huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình(Luận văn thạc sĩ) Tình hình sử dụng ngôn ngữ của người Arem ở huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình(Luận văn thạc sĩ) Tình hình sử dụng ngôn ngữ của người Arem ở huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình
Trang 1Thái Nguyên, năm 2021
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Nguyễn Thu Quỳnh
Thái Nguyên, năm 2021
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Thu Quỳnh Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này hoàn toàn trung thực và chưa từng được công
bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Xác nhận của người hướng dẫn khoa học Tác giả luận văn
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn “Tình hình
sử dụng ngôn ngữ của người Arem ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình”, tôi đã
nhận được sự giúp đỡ, chỉ bảo nhiệt tình của các thầy, cô giáo trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên để hoàn thành luận văn này
Trước tiên, tôi xin bày tỏ sự biết ơn đặc biệt đến TS Nguyễn Thu Quỳnh – người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ về kiến thức, tài liệu và phương pháp để tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học này
Với tình cảm chân thành, tôi bày tỏ lòng biết ơn đối với Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo (bộ phận Sau Đại học), Khoa Ngữ văn – Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, các thầy giáo, cô giáo đã tham gia quản lý, giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn:
- Lãnh đạo, cán bộ và nhân dân xã Tân Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
- Lãnh đạo, cán bộ các phòng, ban: Phòng Văn hóa Thông tin huyện Bố Trạch, Phòng Dân tộc – Lao động Thương binh và Xã hội huyện Bố Trạch
- Đặc biệt, cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, thầy cô đã động viên, cổ vũ, khích lệ và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong suốt quá trình thực hiện đề tài, tuy nhiên cũng không thể tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp
và sự chỉ dẫn của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp!
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Đóng góp của luận văn 4
6 Bố cục của luận văn 5
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 6
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 6
1.1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về cảnh huống ngôn ngữ, tình hình sử dụng ngôn ngữ 6
1.1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu về dân tộc Chứt, ngôn ngữ và tộc người Arem
1.2 Cơ sở lí luận và thực tiễn 12
1.2.1 Một số vấn đề lí luận có liên quan đến đề tài 12
1.2.2 Cơ sở thực tiễn 20
1.3 Tiểu kết 24
CHƯƠNG 2 VẤN ĐỀ SỬ DỤNG NGÔN NGỮ CỦA NGƯỜI AREM Ở HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH 25
2.1 Dẫn nhập 25
2.2 Thực trạng lưu truyền ngôn ngữ giữa các thế hệ của người Arem 25
2.2.1 Kết quả khảo sát 25
2.2.2 Miêu tả, phân tích 26
2.3 Thực trạng về khả năng sử dụng ngôn ngữ của người Arem trong môi trường đa ngữ 28
2.3.1 Khả năng sử dụng ngôn ngữ của người Arem nói chung 28
Trang 52.3.2 Khả năng sử dụng ngôn ngữ ở người Arem theo sự phân biệt về giới tính 30
2.3.3 Khả năng sử dụng ngôn ngữ ở người Arem theo sự phân biệt về độ tuổi 33 2.3.4 Khả năng sử dụng ngôn ngữ của người Arem theo sự phân biệt về học vấn 36
2.3.5 Khả năng sử dụng ngôn ngữ của người Arem theo sự phân biệt về nghề nghiệp 40
2.4 Thực trạng về phạm vi sử dụng ngôn ngữ của người Arem 43
2.4.1 Phạm vi sử dụng trong gia đình 43
2.4.2 Phạm vi sử dụng ngoài cộng đồng 48
2.5 Thực trạng về chức năng/ vị thế của các ngôn ngữ được người Arem sử dụng 52
2.5.1 Kết quả khảo sát 52
2.5.2 Miêu tả, phân tích 53
2.6 Tiểu kết 55
CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO TỒN TIẾNG MẸ ĐẺ VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC SỬ DỤNG TIẾNG VIỆT CHO NGƯỜI AREM Ở HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH 57
3.1 Nguyện vọng, thái độ của người Arem trong việc sử dụng ngôn ngữ 57
3.1.1 Kết quả khảo sát 57
3.1.2 Miêu tả, phân tích 57
3.2 Đề xuất giải pháp bảo tồn tiếng mẹ đẻ của người Arem ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình 61
3.2.1 Tác động nhận thức, ý thức tự giác cộng đồng 61
3.2.2 Tác động vào ngôn ngữ 62
3.2.3 Tác động vào môi trường sử dụng ngôn ngữ 66
3.3 Đề xuất giải pháp nâng cao năng lực sử dụng tiếng Việt cho người Arem ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình 71
3.3.1 Tác động nhận thức của đồng bào Arem về vị trí, vai trò, chức năng của TV 71
3.3.2 Tác động vào ngôn ngữ 71
3.3.2 Tác động vào môi trường sử dụng ngôn ngữ 72
3.4 Tiểu kết 77
KẾT LUẬN 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Thực trạng lưu truyền ngôn ngữ của người Arem 255
Bảng 2.2 Khả năng sử dụng ngôn ngữ của người Arem 288
Bảng 2.3 Khả năng sử dụng ngôn ngữ ở người Arem theo sự phân biệt về giới tính 300
Bảng 2.4 Khả năng sử dụng ngôn ngữ ở người Arem theo sự phân biệt về độ tuổi 333
Bảng 2.5 Khả năng sử dụng ngôn ngữ của người Arem theo sự phân biệt về học vấn 366
Bảng 2.6 Khả năng sử dụng ngôn ngữ của người Arem theo sự phân biệt về nghề nghiệp …400
Bảng 2.7 Các ngôn ngữ được sử dụng khi nói chuyện trong gia đình của người Arem 444
Bảng 2.8 Các ngôn ngữ được sử dụng trong ghi chép hàng ngày, cầu cúng và kể chuyện, ca hát của người Arem 466
Bảng 2.9 Các ngôn ngữ được sử dụng khi nói chuyện ngoài cộng đồng của người Arem 48
Bảng 2.10 Chức năng/vị thế các ngôn ngữ được người Arem sử dụng 522
Bảng 3.1 Nguyện vọng, thái độ của người Arem trong sử dụng ngôn ngữ 577
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Trong văn hóa dân tộc, ngôn ngữ là một thành tố đặc biệt Nếu ngôn ngữ
cùng với người lao động, đã tạo nên con người thì cũng chính ngôn ngữ, cùng với lao động, là cội nguồn của mọi nền văn hóa Đối với đời sống của con người, ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp đồng thời nó cũng là công cụ của tư duy Ngôn ngữ là đại diện đặc trưng cho văn hóa, đời sống và phong tục tập quán của một dân tộc cụ thể Việc nghiên cứu về cảnh huống ngôn ngữ và tình hình sử dụng ngôn ngữ của quốc gia, một địa phương hoặc một tộc người cụ thể sẽ giúp cho các chính sách ngôn ngữ của mỗi quốc gia phải thay đổi phù hợp với tình hình thực tế Từ đó, có những bổ sung, điều chỉnh cần thiết đối với chính sách bảo tồn và phát triển ngôn ngữ của dân tộc
1.2 Dân tộc Chứt ở Việt Nam với số dân là 7.513 (người) chiếm 0,0078% so
với dân số Việt Nam [27] Đây là một trong mười sáu dân tộc rất ít người ở Việt Nam Người Chứt phân chủ yếu ở các tỉnh: Quảng Bình, Hà Tĩnh Theo thống kê mới nhất về số người DTTS theo từng dân tộc, giới tính và đơn vị hành chính cấp xã, đến thời điểm 01/4/2019 của tỉnh Quảng Bình, dân tộc Chứt ở Quảng Bình có số dân là 6.572 (người), phân bố chủ yếu ở các xã miền núi, gần biên giới thuộc 3 huyện Minh Hoá, Tuyên Hoá và Bố Trạch [60]
Arem là một trong năm nhóm cư dân thuộc dân tộc Chứt Bốn nhóm còn lại là nhóm Mày, nhóm Rục, nhóm Sách và nhóm Mã Liềng Sống biệt lập với các nhóm khác thuộc dân tộc Chứt nhưng người Arem lại lọt thỏm giữa 4.000 người Ma Coong
ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình và họ buộc phải sử dụng tiếng Ma Coong - một ngôn ngữ có vị thế lấn át tiếng Arem Trạng thái ngôn ngữ của người Arem là trạng thái đa ngữ Vậy nên để hiểu rõ hơn về bức tranh ngôn ngữ của người Arem, tác giả
luận văn đã lựa chọn nghiên cứu về “Tình hình sử dụng ngôn ngữ của người Arem ở
huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình”
1.3 Ngôn ngữ có nguy cơ mai một ở Việt Nam là một vấn đề đã được các nhà
khoa học quan tâm Tuy nhiên, còn nhiều vấn đề về lí luận và thực tiễn các ngôn ngữ mai một ở Việt Nam chưa được giải quyết Trong bối cảnh đó, đề tài cấp quốc gia:
Trang 9Nghiên cứu chính sách và giải pháp bảo tồn những ngôn ngữ dân tộc thiểu số có nguy
cơ mai một ở Việt Nam (Mã số: ĐTĐLXH - 01/18) đã được thực hiện trong kế hoạch
trong giai đoạn 2018 - 2020 Đề tài do Bộ Khoa học và Công nghệ quản lí, Trường Đại học Sư phạm, thuộc Đại học Thái Nguyên là cơ quan thực hiện đề tài Đề tài tập trung điều tra nghiên cứu 33 ngôn ngữ được dự báo có nguy cơ tiêu vong Một trong 33 ngôn ngữ đó là ngôn ngữ Arem Nội dung nghiên cứu của luận văn giúp cho việc xác định được thực trạng và phạm vi sử dụng ngôn ngữ của người Arem Từ đó đánh giá được chức năng và vị thế của ngôn ngữ Arem đối với các ngôn ngữ khác Cuối cùng,
có cơ sở thực tế để đánh giá khái quát về mức độ mai một của ngôn ngữ Arem Qua
đó, đóng góp một phần nhỏ ngữ liệu cho các công trình nghiên cứu về tộc người Arem
Từ những lí do trên, đề tài“Tình hình sử dụng ngôn ngữ của người Arem ở
huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng bình” đã được lựa chọn để thực hiện trong luận văn này
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Từ việc tìm hiểu và khảo sát tình hình sử dụng ngôn ngữ của người Arem ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, luận văn nhằm mô tả những đặc điểm về thực trạng sử dụng ngôn ngữ của người Arem và đề xuất những giải pháp bảo tồn tiếng mẹ
đẻ, nâng cao năng lực sử dụng tiếng Việt cho người Arem ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình Tác giả mong muốn kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ cung cấp những căn cứ ban đầu cho việc đưa ra những giải pháp thỏa đáng nhằm bảo tồn ngôn ngữ của người Arem nói riêng và các ngôn ngữ DTTS có nguy cơ mai một ở Việt Nam nói chung
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lí luận và thực tiễn liên quan đến đề tài
- Khảo sát, miêu tả, giải thích và phân tích thực trạng sử dụng ngôn ngữ của người Arem ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
- Đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn tiếng mẹ đẻ và nâng cao năng lực sử dụng tiếng Việt cho người Arem, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
Trang 103 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu và mẫu điều tra
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tình hình sử dụng ngôn ngữ của người Arem
ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
Số lượng mẫu điều tra được chọn là 115 người Arem ở xã Tân Trạch, huyện Bố Trạch Đây là địa phương được cho là quê hương của người Arem, đồng thời cũng là nơi có số lượng người Arem cư trú đông và tập trung nhiều nhất (so với các địa phương khác có đồng bào Arem sinh sống)
Tiêu chí lựa chọn mẫu điều tra được luận văn đặt ra là đối tượng phải đảm bảo
độ phủ về giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp và trình độ văn hóa Cụ thể là:
+ Về giới tính: Số mẫu điều tra phải cân bằng về giới tính nam, nữ
+ Về độ tuổi: Số mẫu điều tra đa dạng về độ tuổi: dưới 18 tuổi, từ 18 đến 30 tuổi, từ 31 đến 60 tuổi và trên 60 tuổi
+ Về nghề nghiệp: Số mẫu điều tra có độ phủ khắp các nhóm nghề nghiệp: Nông dân, công nhân, trí thức, học sinh
+ Về học vấn: Luận văn cần lựa chọn mẫu điều tra ở các trình độ: không có học vấn (không đi học), TH, THCS, THPT, Trung cấp, Cao đẳng
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi đối tượng nghiên cứu: Để tìm hiểu về tình hình sử dụng ngôn ngữ của người Arem, luận văn tập trung nghiên cứu một số vấn đề như: thực trạng lưu truyền ngôn ngữ giữa các thế hệ của người Arem, thực trạng về khả năng sử dụng tiếng mẹ
đẻ của người Arem trong môi trường đa ngữ, thực trạng về phạm vi sử dụng ngôn ngữ của người Arem, thực trạng về chức năng - vị thế của các ngôn ngữ được người Arem sử dụng
Từ kết quả thu được, luận văn đề xuất một số giải pháp trong việc bảo tồn và phát triển TMĐ của người Arem, nâng cao năng lực sử dụng tiếng Việt trong các hoạt động giáo dục và đời sống xã hội của đồng bào Arem ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
Phạm vi không gian khảo sát: Bản Arem, xã Tân Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
Trang 11Phạm vi thời gian khảo sát: Thời gian khảo sát tại địa bàn diễn ra trong 2 tuần (từ 01/5/2020 đến 15/5/2020) Sau thời gian khảo sát trực tiếp tại địa bàn, trong quá trình viết luận văn, tác giả tiếp tục liên lạc với cộng tác viên để cập nhật thông tin cần thiết, phục vụ cho việc nghiên cứu
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp ngôn ngữ học điền dã
Phương pháp ngôn ngữ học điền dã được sử dụng trong việc thu thập tư liệu bao gồm các thao tác: điều tra bằng bảng hỏi (anket), điều tra bằng thảo luận nhóm, phỏng vấn sâu, quan sát, ghi chép, ghi âm, ghi hình để nhận xét, đánh giá thông tin cần thu thập Bảng phỏng vấn sâu và nội dung trò chuyện đã được chuẩn bị sẵn với các phần chính hỏi về thực trạng sử dụng ngôn ngữ của người Arem, tìm hiểu về nguyện vọng của người dân để đề xuất giải pháp bảo tồn ngôn ngữ Arem, đồng thời nâng cao năng lực sử dụng tiếng Việt cho đồng bào Arem
4.2 Phương pháp miêu tả
Phương pháp miêu tả (gồm các thủ pháp giải thích bên trong và thủ pháp giải thích bên ngoài) được sử dụng khi trình bày thực trạng, mô tả những đặc điểm về tình hình sử dụng ngôn ngữ của người Arem ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình Từ đó luận văn phân tích về cảnh huống ngôn ngữ của tộc người Arem Trên cơ sở đó, phân tích, đề xuất những giải pháp nhằm bảo tồn, nâng cao năng lực sử dụng TV, TMĐ của người Arem
Ngoài ra, đề tài còn sử dụng một số thủ pháp nghiên cứu ngôn ngữ như thủ pháp khảo sát, thống kê để định lượng các yếu tố có liên quan đến tình hình sử dụng ngôn ngữ, từ đó có cơ sở để rút ra các nhận xét, kết luận về đối tượng được khảo sát Dữ liệu thu thập được trong các phiếu điều tra xã hội học được xử lí bằng phần mềm SPSS
5 Đóng góp của luận văn
5.1 Về mặt lí thuyết
Trên thực tế, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về ngôn ngữ DTTS của các nhà ngôn ngữ học Những công trình nghiên cứu này có nhiều đóng góp quan trọng, làm cơ sở cho việc bảo tồn, lưu giữ và xác định thành phần dân tộc của các tộc người
khác nhau Kết quả nghiên cứu của luận văn Tình hình sử dụng ngôn ngữ của người
Arem ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình sẽ cung cấp thêm tài liệu cho nghiên cứu
cảnh huống ngôn ngữ ở một địa phương theo định hướng nghiên cứu của ngôn ngữ học xã hội
Trang 125.2 Về mặt thực tiễn
Từ việc đưa ra những tư liệu về mặt lí thuyết, luận văn Tình hình sử dụng ngôn
ngữ của người Arem ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình sẽ giúp các nhà quản lí giáo
dục, các giáo viên ở vùng dân tộc Arem của huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình có tài liệu tham khảo trong việc xác định phương hướng, các biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học; giúp cho các nhà quản lí, hoạch định chính sách đưa ra các chính sách về ngôn ngữ - xã hội đối với người Arem ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
Ngoài ra, việc tìm hiểu về tình hình sử dụng ngôn ngữ DTTS trong văn hóa các dân tộc Việt Nam, cụ thể là việc tìm hiểu về người Arem ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình cũng được coi là sự đóng góp tư liệu cho việc nghiên cứu về sự phát triển văn hóa,
giáo dục và truyền thông tại vùng DTTS huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, Cơ sở lí luận và thực tiễn;
Chương 2: Vấn đề sử dụng ngôn ngữ của người Arem huyện Bố Trạch, tỉnh
Quảng Bình;
Chương 3: Đề xuất giải pháp bảo tồn tiếng mẹ đẻ và nâng cao năng lực sử
dụng tiếng Việt cho người Arem ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÍ LUẬN
VÀ THỰC TIỄN 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về cảnh huống ngôn ngữ, tình hình sử dụng ngôn ngữ
Từ trước đến nay, đã có không ít những công trình nghiên cứu về cảnh huống ngôn ngữ Đa số các nhà nghiên cứu ở Việt Nam và trên thế giới đều đặt ra và giải quyết những vấn đề liên quan đến ngôn ngữ và tình hình sử dụng ngôn ngữ Một số tên tuổi đi đầu trong lĩnh vực nghiên cứu này là A E Karlinskij, Mikhal’chenko V
Ju với các công trình Những vấn đề dân tộc - ngôn ngữ ở Liên bang Nga; Cảnh huống ngôn ngữ và chính sách ngôn ngữ/Cảnh huống ngôn ngữ và chính sách ngôn ngữ ở các quốc gia đa dân tộc [Dẫn theo 15] Những công trình nghiên cứu
này, tác giả đã đi sâu vào miêu tả về cảnh huống ngôn ngữ và các chính sách ngôn ngữ của quốc gia đa dân tộc là Liên bang Nga Một số tác giả khác cũng đề cập tới vấn đề này: V.Y.U.Mikhailchenko (Nga), V C Rubalkin
Gần đây, có thể kể đến những công trình nghiên cứu về cảnh huống ngôn ngữ
như: Language and space; Language Mapping (Lameli, A.; Kehrein, R.; Rabanus, (2010), Language mapping in the atlas (Moseley, 2010) Các công trình nghiên cứu
cảnh huống ngôn ngữ bằng bản đồ ngôn ngữ số này đã góp phần rất lớn trong việc xác định sự lớn mạnh của tộc người trong các quốc gia khác nhau Việc sử dụng bản
đồ ngôn ngữ số vừa thể hiện sự tích hợp công nghệ trong nghiên cứu ngôn ngữ, vừa
mở ra một hướng tiếp cận mới cho các nhà nghiên cứu ngôn ngữ trong tương lai Ngoài ra, có thể kể đến một số tác giả khác như: F.Dessemont với công trình
Cảnh huống ngôn ngữ và chính sách ngôn ngữ ở Thụy sĩ [Dẫn theo 43] F.Dessemont
đã đưa ra những nhận xét về sự lép vế của tiếng Roman và nhận rằng tiếng Đức là ngôn ngữ có uy lực hơn cả về chính trị, kinh tế Tại các nước đa dân tộc có ngành công nghiệp phát triển như Thụy Sĩ, họ tuân thủ luật ngôn ngữ rất nghiêm ngặt Bởi, ngôn ngữ có vai trò xác định văn hóa và thành phần dân tộc của người Thụy Sĩ, cho nên việc xác định về cảnh huống ngôn ngữ ở Thụy Sĩ của F.Dessemont là rất cần thiết
Trang 14Bên cạnh Thụy Sĩ, Canada cũng là một quốc gia đa dân tộc có nhiều vấn đề về cảnh huống ngôn ngữ đã được nghiên cứu Trong công trình của Kozhemjakina V.A
Cảnh huống ngôn ngữ và quy chế ngôn ngữ ở Canada, tác giả đã chỉ ra những khó
khăn về chính sách ngôn ngữ của chính phủ và đã chỉ ra rằng: Tiếng Anh chiếm ưu thế trong lĩnh vực sản xuất Thậm chí, rất nhiều người nói tiếng Pháp lại thường sử dụng tiếng Anh hơn là sử dụng TMĐ của mình khi giải quyết những vấn đề lớn mang tính toàn cầu
Nhà nghiên cứu T.B Kriuchkova đã nhận định: “cảnh huống ngôn ngữ là một
hiện tượng phức tạp, nhiều tầng bậc, bao gồm một số thông số khách quan và chủ quan nhất định” [Dẫn theo 9, tr.16]
Các thông số khách quan bao gồm [Dẫn theo 9, tr.16]:
(i) Số lượng ngôn ngữ (phương ngữ, biệt ngữ v.v.) có hoạt động hành chức trên một địa bàn lãnh thổ - hành chính
(ii) Số người sử dụng từng ngôn ngữ này, cách phân bố các đối tượng sử dụng, số lượng phạm vi giao tiếp của từng ngôn ngữ, số lượng ngôn ngữ có chức năng ưu thế, đặc tính ngôn ngữ của chúng (biến thể của một ngôn ngữ hay các ngôn ngữ khác nhau)
(iii) Quan hệ cấu trúc loại hình giữa chúng (cùng loại hình hay khác loại hình) Tính bình đẳng/không bình đẳng về chức năng giữa chúng, đặc điểm ngôn ngữ
có ưu thế (bản ngữ “ngôn ngữ nhập”)
Các thông số chủ quan bao gồm:
(i) Sự đánh giá của các đối tượng sử dụng ngôn ngữ về các ngôn ngữ và các hình thức tồn tại các ngôn ngữ tham gia vào cảnh huống
(ii) Các đánh giá tập trung mà khả năng ứng dụng trong giao tiếp, uy tín, văn hóa và thẩm mĩ, của ngôn ngữ
Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ DTTS nói chung và cảnh huống ngôn ngữ nói riêng cũng được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm
Viện Ngôn ngữ học đã cho xuất bản công trình nghiên cứu Cảnh huống và
chính sách ngôn ngữ ở các quốc gia đa dân tộc năm (1997) [52] Đây là một tập bài
viết thực hiện trong khuôn khổ của chương trình hợp tác Việt – Nga về điều tra các
Trang 15vấn đề liên quan đến cảnh huống và chính sách ngôn ngữ ở một số quốc gia đa dân
tộc trên thế giới, như cảnh huống ngôn ngữ, xung đột ngôn ngữ, các đạo luật về ngôn
ngữ, xây dựng luật ngôn ngữ, chính sách ngôn ngữ, kế hoạch hóa ngôn ngữ, sự đảm bảo của pháp luật đối với ngôn ngữ (ở Liên bang Nga, Thái Lan, Lào, Philippin,
Canada, Trung Hoa, Châu Phi) Có thể nói, đây là một tập tài tiệu quý, có giá trị tham khảo quan trọng không chỉ cho những người nghiên cứu ngôn ngữ học, dân tộc học, văn hóa học mà còn cho cả các cơ quan Nhà nước trong việc hoạch định chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay của đất nước [53, tr.8]
Nguyễn Văn Khang với công trình nghiên cứu Ngôn ngữ học xã hội (2012)
[19] đã dành một phần dung lượng khá lớn để trình bày về cảnh huống ngôn ngữ của các DTTS ở Việt Nam Ông đã trích dẫn nhiều khái niệm cảnh huống ngôn ngữ của một số nhà nghiên cứu, từ đó chỉ ra rõ các nội dung của cảnh huống ngôn ngữ nói chung Tác giả cũng đi sâu phân tích các đặc điểm của cảnh huống ngôn ngữ Việt Nam như đặc điểm về các tiêu chí xác định cảnh huống ngôn ngữ, phân loại ngôn ngữ theo cảnh huống ngôn ngữ, đặc điểm về sự hình thành và phát triển của các dân tộc, ngôn ngữ, thái độ ngôn ngữ ở các cộng đồng dân tộc ở Việt Nam, từ đó đưa ra cách nhìn khái quát những vấn đề chung về cảnh huống ngôn ngữ của các DTTS ở Việt Nam và những nét mới về cảnh huống ngôn ngữ ở Việt Nam hiện nay Tuy nhiên, ở phần nghiên cứu này Nguyễn Văn Khang chưa đề cập đến nghiên cứu về cảnh huống ngôn ngữ của một địa phương, một tộc người cụ thể
Nguyễn Đức Tồn (2016), với công trình nghiên cứu Cảnh huống và chính
sách ngôn ngữ ở Việt Nam trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế [45] Công trình này là kết quả thực hiện chương trình khoa học Những vấn đề về chính sách ngôn ngữ của Việt Nam đến năm 2020 (gồm 7 đề tài
nhánh) được Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam giao cho Viện Ngôn ngữ học thực hiện Trong công trình nghiên cứu này, tác giả đã đưa ra đầy đủ tài liệu về cơ sở
lí luận, thực tiễn và kinh nghiệm của Cộng hòa Liên bang Nga trong việc xây dựng chính sách ngôn ngữ Đồng thời, tác giả cũng đưa ra cơ sở lí luận và thực tiễn khi xây dựng chính sách ngôn ngữ của Việt Nam trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế Bên cạnh đó, tác giả cũng đã chỉ ra cảnh huống ngôn
Trang 16ngữ của Việt Nam hiện nay ở vùng Đông Bắc (Cảnh huống ngôn ngữ ở tỉnh Thái Nguyên, tỉnh Hà Giang), Trung Bộ (Cảnh huống ngôn ngữ ở tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, vùng Tây Nguyên), Nam Bộ (Cảnh huống ngôn ngữ ở tỉnh An Giang, tỉnh Sóc Trăng) Tuy nhiên,công trình nghiên cứu trên chưa quan tâm tới nghiên cứu các dân tộc cụ thể cho nên chưa bao quát được toàn cảnh bức tranh về cảnh huống ngôn ngữ của cộng đồng các dân tộc ở Việt Nam
Ngoài ra, có thể kể đến một số luận văn, luận án đã chọn cảnh huống ngôn ngữ ở
một địa phương cụ thể làm đối tượng nghiên cứu như: Cảnh huống ngôn ngữ ở Hà
Giang (Nguyễn Thị Thanh Huyền, 2001) [18]; Đặng Lệ Thuỷ (2009), Tình hình sử dụng TV ở vùng đồng bào Khơ Mú huyện Kì Sơn - tỉnh Nghệ An, Báo cáo nghiên cứu
khoa học[44]; Cảnh huống ngôn ngữ ở Thái Nguyên (Dương Thị Thanh Hoa, 2010) [10]; Cảnh huống ngôn ngữ của người Pà Thẻn ở Hà Giang (Nguyễn Thị Hằng Nga, 2011) [29]; Cảnh huống ngôn ngữ của người Nùng Vẻn ở huyện Hà Quảng - Cao
Bằng (Đoàn Thị Hiền, 2019) [9]; Tình hình sử dụng ngô ngữ của người Na Mẻo ở
huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn (Nguyễn Đức Anh 2019) [1],… Những công trình
nghiên cứu trên nhìn chung đã khái quát được về những khía cạnh khác nhau của cảnh huống ngôn ngữ và tình hình sử dụng ngôn ngữ của một ngôn ngữ cụ thể, của một DTTS cụ thể ở Việt Nam Mỗi DTTS sử dụng ngôn ngữ của dân tộc mình ở những hoàn cảnh và mục đích giao tiếp khác nhau như: trong sinh hoạt hàng ngày ở gia đình; trong sinh hoạt cộng đồng ở nhà văn hóa thôn, bản, xã; ở huyện; trong công tác truyền thông, bản tin, trong trường học, Mặc dù có những cách tiếp cận khác nhau đối với từng DTTS, song hầu hết các tác giả đều đưa ra những thông tin và thu thập được những số liệu cụ thể Từ đó, có thể khẳng định tình hình sử dụng ngôn ngữ
ở các DTTS ở nước ta hiện nay khá phức tạp, cần tiếp tục có nhiều công trình nghiên cứu để đưa ra những giải pháp cụ thể, thích hợp với từng vùng miền, từng dân tộc,
Qua phần tổng quan về tình hình nghiên cứu cảnh huống ngôn ngữ, tình hình
sử dụng ngôn ngữ trên thế giới và ở Việt Nam, có thể thấy, vấn đề này trước đây và hiện nay vẫn đang rất được quan tâm Ở mỗi công trình nghiên cứu, các tác giả đã đưa ra những đánh giá quý báu, tạo cơ sở cho những công trình nghiên cứu về sau Trong luận văn này, tác giả cũng tập trung vào nghiên cứu về tình hình sử dụng ngôn
Trang 17ngữ, cụ thể là tình hình sử dụng ngôn ngữ của người Arem ở xã Tân Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình Nội dung mà luận văn hướng tới là tìm hiểu về thực trạng, phạm vi sử dụng các ngôn ngữ của người Arem Môi trường ngôn ngữ của người Arem là môi trường đa ngữ Vì vậy, luận văn có thể xác định chức năng - vị thế của ngôn ngữ Arem so với các ngôn ngữ khác
1.1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu về dân tộc Chứt, ngôn ngữ và tộc người Arem
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về dân tộc Chứt trên các lĩnh vực khác nhau như văn hóa học, lịch sử học, ngôn ngữ học, Các công trình nghiên cứu tiêu
biểu có thể kể đến như: Trần Trí Dõi, (1983), Góp phần phân chia phương ngôn tiếng
Chứt [3]; Nguyễn Văn Mạnh (1982), Người Chứt ở Bình Trị Triện, Tạp chí thông tin
Đại học Tổng hợp Huế, số 2 [26]; Nguyễn Văn Mạnh, (1996), Người Chứt ở Việt
Nam [27]; Thái Văn Sinh (2000), Người Chứt dưới chân núi Giăng màn, Tạp chí
người làm báo, số xuân Canh Thìn [36]; Nguyễn Thị Tuyết Nga, (2003), Thực trạng
và giải pháp bảo tồn văn hóa dân tộc Chứt ở miền núi Quảng Bình [28]; Nguyễn Thị
Ngân, (2017), Nhận diện di sản văn hóa dân tộc Chứt ở Quảng Bình [30] Các công
trình trên đã cho thấy thực trạng về bức tranh đời sống văn hóa truyền thống của dân tộc Chứt, đưa ra những giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển văn hóa của đồng bào Qua đó, cung cấp tư liệu cần thiết cho các công trình nghiên cứu trên các lĩnh vực khác về người Chứt
Trong đợt hợp tác nghiên cứu (năm 2013 - 2014) Viện Hàn lâm khoa học Nga, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, các nhà khoa học đã nghiên cứu dân tộc Chứt tại hai huyện Minh Hóa và Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình Về phía Nga có: GS Samarina Irina, GS.Ivchenko Taras và GS.Babaev Kirin Về phía Việt Nam có PGS.TS Tạ Văn Thông, PGS.TS Phạm Văn Hảo, TS Lê Văn Trường, CN.Tạ Quang Tùng và CN.Nguyễn Thị Trà My Các tác giả đã tìm hiểu rõ về nguồn gốc của dân tộc Chứt, tìm hiểu về văn hóa phong tục tập quán thông qua việc ghi chép lại cuộc sống sinh hoạt, điều tra về thực trạng sử dụng TMĐ của họ trong sinh hoạt gia đình
và ngoài cộng đồng Từ đó đưa ra cái nhìn toàn diện về thái độ ngôn ngữ của dân tộc này Những tư liệu nghiên cứu này sẽ giúp Nhà nước Việt Nam đưa ra những chính sách phù hợp nhằm lưu giữ, bảo tồn và phát triển dân tộc Chứt
Trang 18Bên cạnh những công trình nghiên cứu tìm hiểu về dân tộc Chứt nói chung thì có rất ít những công trình nghiên cứu riêng về các tộc người thuộc nhóm dân tộc Chứt Cụ
thể: Tìm hiểu người Rục ở miền núi tỉnh Quảng Bình (Mạc Đường, 1961) [5]; Dân tộc
Arem và dân tộc Rục (Nguyễn Bình, 1961), Vỏ cây trong đời sống của người Rục ở Quảng Bình (Võ Xuân Trang, 1991) [2]; Võ Xuân Trang (1987) [47]; Tình trạng đáng
lo ngại của người Rục ở Bình Trị Thiên [46], Các tác giả đã nghiên cứu về các tộc
người khác nhau thuộc dân tộc Chứt ở Quảng Bình ở nhiều lĩnh vực, nhưng nhìn chung
số lượng công trình nghiên cứu vẫn còn hạn chế và chưa nhận được sự quan tâm thích đáng và sâu rộng của các nhà nghiên cứu khoa học
Arem là một trong số năm tộc người thuộc dân tộc Chứt ở Quảng Bình Tộc người Arem chủ yếu sinh sống tập trung ở xã Tân Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng
Bình Nhà báo Nguyễn Thế Thịnh từng viết về tộc người này với nội dung:“Tiếng
Arem là cả một bí mật đầy thú vị giúp tôi hiểu rõ hơn lịch sử tiếng Việt và nhiều vấn
đề thuyết của vùng Đông Nam Á” [55]
Một số nhà nghiên cứu đã quan tâm tới tộc người Arem có thể kể đến như: Phạm Phú Phong, người Việt quốc tịch Pháp, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu quốc gia Pháp, giáo sư Đại học Paris VII Ông là người nước ngoài đầu tiên đến với tộc ngườiArem vào tháng 5/1985 Tiếp đó là đoàn nghiên cứu ngôn ngữ Việt – Xô, ( sự hợp tác giữa Viện Ngôn ngữ của Việt Nam và Viện Đông phương của Liên Xô cũ) Người nước ngoài thứ
ba đến với tộc người Arem ở nơi cư trú là Kasuga Atsushi, quốc tịch Nhật Bản, nghiên cứu sinh của Đại học Ngoại ngữ Tokyo Người thứ tư là Michel Ferlus, Giám đốc nghiên cứu tại Trung tâm Nghiên cứu quốc gia Pháp Đối với Michel Ferlus, tiếng Arem là cả một bí mật đầy thú vị giúp ông hiểu rõ hơn lịch sử tiếng Việt và nhiều vấn đề lí thuyết của vùng Đông Nam Á [55]
Ở trong nước, Trần Trí Dõi cũng là một nhà nghiên cứu dành nhiều thời gian
và tâm huyết để tìm hiểu về tộc người Arem Những kết quả nghiên cứu của ông
bước đầu đưa đến những kết luận rằng: “Tiếng Arem là hình ảnh tiếng Việt thời cổ
xưa Điều này là một thực tế thú vị không chỉ dành riêng cho các nhà ngôn ngữ học
mà cả những nhà văn hóa học của Việt Nam và khu vực Đông Nam Á [55] Và điều
quan trọng hơn là ông đã đưa ra những cứ liệu thuyết phục để khẳng định ba tộc
Trang 19người Arem, Rục và Mã Liềng là ba nhóm dân tộc khác nhau chứ không phải là một như lâu nay nhầm tưởng Điều này đã giúp cho những người làm công tác dân tộc -
miền núi ở Quảng Bình có giải pháp đúng để bảo vệ ba tộc người đang “có nguy cơ
biến mất” này
Như vậy, có thể thấy, việc nghiên cứu về dân tộc Chứt, tộc người Arem và ngôn ngữ của tộc người Arem đã được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Các khía cạnh được nhìn nhận về dân tộc Chứt và tộc người Arem chủ yếu thuộc lĩnh vực dân tộc học và ngôn ngữ học Chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu tìm hiểu về tình hình sử dụng ngôn ngữ của người Arem trong môi trường đa ngữ ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình Tiếp thu những thành tựu nghiên cứu của các nhà khoa học
đi trước, cùng với các tư liệu điền dã đã thu thập được, tác giả luận văn hi vọng sẽ cung cấp cái nhìn toàn cảnh, đa diện về thực trạng sử dụng ngôn ngữ của người Arem trong bối cảnh hiện nay, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm bảo tồn tiếng mẹ đẻ của người Arem và nâng cao năng lực sử dụng tiếng Việt cho tộc người này
1.2 Cơ sở lí luận và thực tiễn
1.2.1 Một số vấn đề lí luận có liên quan đến đề tài
1.2.1.1 Cảnh huống ngôn ngữ và tình hình sử dụng ngôn ngữ
Cảnh huống ngôn ngữ là một trong những khái niệm cơ bản của ngôn ngữ học
xã hội Vấn đề này đã được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới và trong nước nhắc đến Có thể chỉ ra một số quan niệm cơ bản như sau:
Theo V.Yu Mikhal’chenko:“Cảnh huống ngôn ngữ là sự phân bố đã được hình
thành trong suốt thời gian dài trên một lãnh thổ nhất định những hình thức tồn tại khác nhau (ngôn ngữ văn học, khẩu ngữ, các phương ngữ) và những hình thức thể hiện khác nhau (nói và viết) của các ngôn ngữ đang hành chức trên lãnh thổ này” [54, tr.138]
Cảnh huống ngôn ngữ là “khái niệm thuộc văn hoá tinh thần (hay văn hoá phi
vật thể) của cộng đồng tộc người hay liên cộng đồng tộc người, định hình trong tiến trình lịch sử lâu dài trên một vùng lãnh thổ (một quốc gia hay một khu vực) phản ánh trạng thái tồn tại và các hình thái thể hiện sự hành chức của ngôn ngữ, quan hệ giữa các ngôn ngữ về mặt cội nguồn và loại hình, sự tiếp xúc và tác động qua lại giữa các ngôn ngữ với nhau” [53, tr.7]
Trang 20Nguyễn Văn Khang (2014) đưa ra nhận định: “Cảnh huống ngôn ngữ là tình
hình tồn tại và hành chức của các ngôn ngữ hoặc các hình thức của ngôn ngữ trong phạm vi cộng đồng xã hội hay lãnh thổ” [20, tr.34]
Như vậy, có thể hiểu, cảnh huống ngôn ngữ là các hình thái tồn tại và hành chức của các ngôn ngữ trong mối quan hệ với các yếu tố xã hội trong một cộng đồng nhất định Cảnh huống ngôn ngữ chỉ giới hạn trong phạm vi của một ngôn ngữ hay một biến thể của ngôn ngữ (phương ngữ địa lí hay phương ngữ xã hội) cũng có thể là của nhiều ngôn ngữ hoặc nhiều biến thể
Để tạo tiền đề về cơ sở lí luận cho đề tài, chúng tôi xác định lựa chọn quan
điểm của Nguyễn Văn Lợi về cảnh huống ngôn ngữ như sau: "Cảnh huống ngôn ngữ
là toàn bộ các hình thái tồn tại (bao gồm cả các phong cách) của một ngôn ngữ, hay toàn bộ các ngôn ngữ trong mối quan hệ tương hỗ về lãnh thổ - xã hội và sự tương tác về mặt chức năng, trong giới hạn của một khu vực địa lí, hay một lãnh thổ hành chính - chính trị nhất định" [23, tr.35]
Với cách tiếp cận này, chúng ta có thể hiểu cảnh huống ngôn ngữ chỉ được hình thành trong một giới hạn ở một khu vực địa lí, hay một lãnh thổ nhất định trong phạm vi của một ngôn ngữ
Nguyễn Văn Khang [20, tr.34] đã chỉ ra ba tiêu chí tổng hợp về cảnh huống ngôn ngữ, đó là: tiêu chí về lượng, tiêu chí về chất và tiêu chí về thái độ
a) Tiêu chí về lượng gồm các thông số như: số ngôn ngữ trong xã hội đa ngữ;
số lượng biến thể ngôn ngữ trong xã hội đa phương ngữ; số lượng người sử dụng từng ngôn ngữ; biến thể ngôn ngữ; phạm vi giao tiếp của từng ngôn ngữ, của biến thể ngôn ngữ; số lượng ngôn ngữ, biến thể ngôn ngữ nổi trội về mặt chức năng
b) Tiêu chí về chất bao gồm các thông số như: các ngôn ngữ trong xã hội đa ngữ có ngôn ngữ thực sự (ngôn ngữ độc lập) hay chỉ là biến thể của ngôn ngữ và ngược lại; quan hệ giữa các ngôn ngữ, biến thể ngôn ngữ về cấu trúc – cội nguồn; quan hệ giữa các ngôn ngữ, biến thể ngôn ngữ có ngang bằng về chức năng hay không; đặc điểm ngôn ngữ nổi trội trong phạm vi quốc gia
c) Tiêu chí về thái độ ngôn ngữ, bao gồm các chỉ số đánh giá của người bản ngữ, của người phi bản ngữ; trong nội bộ cộng đồng cũng như từ cộng đồng khác đối với các vấn đề ngôn ngữ
Trang 21Tình hình sử dụng ngôn ngữ (language use) là việc hành chức của các ngôn ngữ được sử dụng trong các phạm vi giao tiếp, phong cách chức năng, đồng thời là chức năng giao tiếp, chức năng xã hội của các ngôn ngữ ấy ở một địa phương nhỏ Bởi vậy, muốn tìm hiểu về tình hình sử dụng ngôn ngữ của một dân tộc và đặc biệt là DTTS, chúng ta cần phải nắm rõ về đặc điểm của đối tượng sử dụng ngôn ngữ trong mọi hoàn cảnh giao tiếp khác nhau gắn với bối cảnh của cộng đồng xã hội
Việc tìm hiểu về tình hình sử dụng ngôn ngữ cũng giống như việc nghiên cứu
về cảnh huống ngôn ngữ của một quốc gia đa dân tộc qua đó chúng ta có thể đưa ra nhận định đúng đắn về hiện tượng song ngữ/đa ngữ trong một cộng đồng DTTS
Công trình nghiên cứu về tình hình sử dụng ngôn ngữ của người Arem ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình cũng đã đề cập đến vấn đề cảnh huống ngôn ngữ ở địa phương này Đó là việc điều tra về tình hình dân số và phân bố dân cư, số lượng các ngôn ngữ và chức năng các ngôn ngữ, hiện tượng song ngữ - đa ngữ trong cộng đồng đa dân tộc, khả năng sử dụng các ngôn ngữ, thái độ của tộc người DTTS Arem đối với các ngôn ngữ, tình hình giáo dục ngôn ngữ của vùng đồng bào DTTS Arem
1.2.1.2 Song ngữ/đa ngữ
Song ngữ và rộng hơn là đa ngữ phổ biến khắp các quốc gia đa dân tộc trên thế giới Đây là hiện tượng ngôn ngữ - xã hội liên quan đến chính sách ngôn ngữ của nhà nước, đặc biệt là những nước, những vùng lãnh thổ có nhiều dân tộc cùng chung sống nhưng nói bằng những ngôn ngữ khác nhau Chính vì vậy, vấn đề song ngữ và
đa ngữ luôn được quan tâm nghiên cứu để cung cấp những luận cứ khoa học cho việc
hoạch định chính sách ngôn ngữ của một quốc gia Nguyễn Đức Tồn trong “Thuật
ngữ song ngữ (bilingualism) chỉ hai ngôn ngữ của một cá nhân Còn hai ngôn ngữ trong xã hội được biểu thị bằng thuật ngữ lưỡng ngữ” [45, tr.30]
Trong công trình nghiên cứu ngôn ngữ học xã hội, Nguyễn Văn Khang đã chỉ
ra “truyền thống ngôn ngữ học sử dụng thuật ngữ song ngữ (bilingualism) để chỉ
hiện tượng sử dụng hai hay trên hai ngôn ngữ của người song ngữ (bilingual speaker)” [19, tr.113] Việc nghiên cứu song ngữ tập trung chủ yếu vào hai ngôn ngữ
(trong sự đối lập với đơn ngữ) vì thời đó người biết hai ngôn ngữ chiếm tuyệt đại đa
số (so với người biết nhiều ngôn ngữ - đa ngữ)
Trang 22Thuật ngữ đa ngữ có nghĩa rộng hơn song ngữ Bởi, trong quá trình phát triển của lịch sử - xã hội, số người biết không chỉ hai ngôn ngữ mà có thể là trên hai ngôn ngữ tăng lên đáng kể, vì vậy thuật ngữ “đa ngữ” đã được sử dụng rộng rãi và dần
thay thế thuật ngữ “song ngữ”, trong cuốn Từ điển ngôn ngữ học (Lexikon der sprachwissenschaft) của Hadumd BuBmannd (1990, 2005) đã coi song ngữ là “hiện
tượng đặc thù của đa ngữ” [19, tr.113]
Nguyễn Văn Khang đã chỉ ra, truyền thống ngôn ngữ học khi nghiên cứu hiện tượng đa ngữ (multilingualism) chỉ tập trung vào đa ngữ cá nhân, tức là năng lực sử dụng các ngôn ngữ để biểu đạt của từng cá nhân Lấy biến thể là đơn vị để nghiên cứu ngôn ngữ trong sử dụng gắn với bối cảnh xã hội, ngôn ngữ học xã hội cho rằng, hiện tượng đa ngữ không chỉ ở các cá nhân đa ngữ mà quan trọng hơn, đó là cộng đồng (hay xã hội) đa ngữ [19, tr.113.114] Nguyễn Văn Khang cũng đưa ra khái niệm
đa ngữ gồm hai nội dung:
(1) Hiện tượng một cá nhân có thể biết và sử dụng được hai hoặc trên hai ngôn ngữ để biểu đạt Nói cách khác, đó là nâng lực sử dụng hai hoặc trên hai ngôn ngữ của một cá nhân
(2) Hiện tượng trong một cộng đồng xã hội sử dụng hai hoặc trên hai ngôn ngữ để giao tiếp Nói cách khác, đó là hiện tượng các ngôn ngữ cùng hành chức trong một xã hội Như vậy, song ngữ/đa ngữ là hiện tượng đang diễn ra phổ biến ở các quốc gia
đa dân tộc Vì vậy, trong công trình nghiên cứu Tình hình sử dụng ngôn ngữ của
người Arem ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng bình, tác giả của luận văn cũng quan tâm
tới hiện tượng đặc biệt này Thực tế cho thấy ngoài TMĐ, người Arem sử dụng cả tiếng Ma Coong, tiếng Việt
1.2.1.3 Năng lực sử dụng ngôn ngữ
Theo Colin Baker, năng lực ngôn ngữ là “một thuật ngữ rộng và chung chung,
đặc biệt dùng để miêu tả sự thể hiện bên trong, có tính chất trí tuệ, của ngôn ngữ, một cái gì đó tiềm tàng hơn là sự thể hiện Khả năng như thế thường được quy cho hệ thống cơ bản, được suy ra từ sự hành ngôn” [7, tr.31] Khi bàn về năng lực ngôn ngữ
của một cá nhân thì điều hiển nhiên là không thể tách rời ngôn ngữ với ngữ cảnh Như vậy, năng lực sử dụng ngôn ngữ có thể hiểu đó là việc vận dụng ngôn ngữ để thực hiện năng lực giao tiếp của mỗi cá nhân trong hoàn cảnh giao tiếp nhất định
Trang 23Xung quanh khái niệm năng lực sử dụng ngôn ngữ, một số tác giả đã nhắc đến những khái niệm như: khả năng ngôn ngữ, kĩ năng ngôn ngữ, sự hành ngôn, sự thành thạo ngôn ngữ, năng lực giao tiếp
Khi nói về song ngữ cá nhân (indiviual bilingualism) Nguyễn Đức Tồn chỉ ra
cần phải phân biệt khả năng ngôn ngữ và việc sử dụng ngôn ngữ [45]
Theo Colin Baker, kĩ năng ngôn ngữ (language skill) “chỉ những thành tố có
thể được định nghĩa một cách rõ ràng, có thể quan sát được và có mức độ chuyên biệt cao, ví dụ: kĩ năng viết” [Dẫn theo 7]
Năng lực ngôn ngữ (language competence) là “sự thể hiện bên trong, có tính chất
trí tuệ, của ngôn ngữ, một cái gì đó tiềm tàng hơn là sự thể hiện Khả năng như thế thường được quy cho hệ thống cơ bản, được suy ra từ sự hành ngôn” [Dẫn theo 7]
Sự hành ngôn (language performance) là “sự biểu hiện bên ngoài của năng lực ngôn ngữ” [Dẫn theo 7]
Khả năng ngôn ngữ (language ability) và sự thành thạo ngôn ngữ (language proficiency): hai khái niệm này được các nhà khoa học hiểu khác nhau Một số người
hiểu là công cụ để xác định mức độ thành công sau cùng của ngôn ngữ; một số người khác lại hiểu là kết quả giống như khái niệm kĩ năng ngôn ngữ Sự thành thạo ngôn ngữ đôi khi được dùng đồng nghĩa với năng lực ngôn ngữ, nhưng cũng có khi lại được xem là một kết quả cụ thể và có thể đo được từ một cuộc kiểm tra năng lực ngôn ngữ [Dẫn theo 7] Như vậy, khả năng ngôn ngữ và việc sử dụng ngôn ngữ là hai thành tố quan trọng góp phần xác định hiện tượng giao thoa ở các cá nhân song ngữ,
từ đó có cái nhìn khái quát về hiện tượng song ngữ xã hội
Nguyễn Văn Khang cho rằng: "Năng lực giao tiếp có thể được hiểu là năng
lực vận dụng ngôn ngữ để tiến hành giao tiếp xã hội" [19, tr.183] Theo đó thì năng
lực giao tiếp là sự kết hợp linh hoạt của ba tham tố là: cấu trúc ngôn ngữ, vận dụng ngôn ngữ và đời sống xã hội
Năng lực giao tiếp của con người có được là nhờ quá trình xã hội hóa Quá trình
đó diễn ra xuyên suốt cuộc đời của mỗi con người Bất kì một cá nhân tồn tại trong xã hội thì nhất thiết phải học hỏi các tri thức, kĩ năng, chuẩn mực mà xã hội có được nhờ tích lũy theo thời gian Sự học hỏi và nắm vững quy ước những điều mang tính xã hội sẽ
là điều kiện để mỗi cá nhân thích ứng và khẳng định tư cách trong xã hội
Khi đưa ra quan điểm về năng lực giao tiếp, các tác giả đều xuất phát từ góc nhìn ngôn ngữ học Đối với Richard Ohmann, năng lực giao tiếp được xem xét dưới
Trang 24góc độ xã hội nhiều hơn là ngôn ngữ Richard Ohmann đã đưa ra nhận xét rằng: Sự khác biệt về năng lực giao tiếp có liên quan đến sự bình đẳng hay không bình đẳng của xã hội [Dẫn theo 19, tr.185]
Như vậy, năng lực giao tiếp của người nói bao hàm cả việc tìm hiểu địa vị vốn
có và hệ thống vai của người giao tiếp ở trong một xã hội nhất định Tóm lại, năng lực sử dụng ngôn ngữ sẽ là điều kiện để một cá nhân thực hiện năng lực giao tiếp của mình, hay nói cách khác năng lực sử dụng ngôn ngữ sẽ đánh giá khả năng giao tiếp
và sự hiểu biết của mỗi con người
1.2.1.4 Thái độ ngôn ngữ
“Thái độ ngôn ngữ có thể được hiểu là sự đánh giá về giá trị và khuynh hướng
hành vi của một cộng đồng hay cá nhân đối với một ngôn ngữ hoặc một hiện tượng ngôn ngữ nào đó” [20, tr.469]
Biết được thái độ ngôn ngữ, chúng ta có thể dự đoán về hành vi ngôn ngữ của
cá nhân hay cộng đồng Sự hình thành thái độ ngôn ngữ là kết quả của sự tổng hợp nhiều nhân tố xã hội Đó là các nhân tố như địa vị xã hội, bối cảnh văn hóa, quan hệ
xã hội, sự phát triển kinh tế, giáo dục, số lượng nhân khẩu, tuổi tác, nghề nghiệp, trình độ văn hóa,
Thái độ ngôn ngữ, theo góc nhìn tâm lí học xã hội, thường tập trung vào lí giải việc các cá nhân tham gia giao tiếp nghĩ gì về ngôn ngữ và làm gì với ngôn ngữ Thái
độ ngôn ngữ thường được nghiên cứu theo hai khuynh hướng: khuynh hướng tinh thần luận và khuynh hướng hành vi luận
Khuynh hướng tinh thần luận cho rằng thái độ là “trạng thái bên trong do một
loại kích thích nào đó gây nên và trạng thái đó có thể làm trung gian cho những phản ứng của cơ thể xảy ra sau đó” [Dẫn theo Fasold 6] Theo đó, thái độ của cá
nhân với đối tượng sẽ quy định sự ứng xử của cá nhân với đối tượng ấy, nghĩa là thái
độ sẽ dẫn đến hành vi và hành vi là kết quả của thái độ Hạn chế của hướng tiếp cận này là ở phương pháp thí nghiệm, bởi nếu thái độ được xem như một trạng thái bên trong hơn là những phản ứng có thể quan sát bên ngoài thì chúng ta phải dựa vào những biểu hiện gián tiếp của những trạng thái đó và những biểu hiện này không dễ
phát hiện Còn theo hành vi luận, “thái độ được nhìn thấy một cách giản đơn từ
những phản ứng của con người đối với cảnh huống xã hội, nghĩa là thái độ của cá nhân nằm ngay ở hành vi của cá nhân đó, và vì vậy, muốn biết thái độ, chỉ cần quan
Trang 25sát hành vi Ưu điểm này khiến cho khuynh hướng hành vi luận được nhiều nhà nghiên cứu áp dụng” [Dẫn theo Fasold 6] Đây cũng là cách tiếp cận chúng tôi áp
dụng cho nghiên cứu này
Việc hình thành thái độ ngôn ngữ chịu sự ảnh hưởng của nhiều nhân tố xã hội như tuổi tác, giới tính, trình độ giáo dục, nghề nghiệp Ngược lại, rất nhiều những hành vi ứng xử ngôn ngữ lại chịu ảnh hưởng trực tiếp của thái độ ngôn ngữ Trong giao tiếp đa ngữ, thái độ ngôn ngữ có thể ảnh hưởng tới việc nhìn nhận tích cực hay không tích cực về một biến thể ngôn ngữ nào đó, và vì vậy, nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc lựa chọn biến thể nào để giao tiếp
Thông qua sự nhìn nhận đối với các biến thể, cùng với ảnh hưởng của một số nhân tố xã hội khác, thái độ ngôn ngữ có thể hướng tới sự biến đổi hay bảo lưu trong ứng xử ngôn ngữ, hướng tới việc nhìn nhận tích cực hay không tích cực đối với sự biến đổi hay bảo lưu đó
1.2.1.5 Vấn đề giáo dục ngôn ngữ ở vùng đồng bào DTTS
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, với 54 dân tộc và nhiều ngôn ngữ khác nhau Mỗi cộng đồng DTTS đều có tiếng nói riêng và tiếng Việt được sử dụng với tư cách là ngôn ngữ toàn dân
Trước áp lực của những ngôn ngữ vùng có vị thế cao hơn và tiếng Việt, nhiều cộng đồng DTTS đang đứng trước nguy cơ mai một về ngôn ngữ Giáo dục thế nào
để đáp ứng được nhu cầu nâng cao dân trí, đồng thời bảo tồn và phát triển vốn văn hóa truyền thống của các DTTS trong đó có ngôn ngữ của họ là nỗi trăn trở của những người làm công tác giáo dục
Tạ Văn Thông trong bài viết Giáo dục ngôn ngữ ở vùng đồng bào các DTTS Việt Nam đã đưa ra các mô hình về giáo dục ngôn ngữ ở vùng đồng bào các DTTS Việt Nam [42] như sau:
Mô hình thứ nhất: “giáo dục thả nổi”: Học sinh DTTS (có TMĐ không phải
là tiếng Việt) và học sinh người Kinh (có TMĐ là tiếng Việt) đều chỉ được giáo dục bằng một cách : dạy – học tiếng Việt và dạy – học bằng tiếng Việt
Mô hình thứ hai: dạy và học “bơi” trong tiếng Việt lúc ban đầu trước khi “thả
nổi”: dạy tập nói tiếng Việt cho học sinh DTTS trước khi vào Tiểu học, trong các lớp
Trang 26Mẫu Giáo, bằng cách làm quen với các từ ngữ, câu của tiếng Việt, có thể với sự trợ giúp “có chừng mực” của TMĐ của học sinh
Mô hình thứ ba: dạy – học TMĐ và bằng TMĐ của học sinh trước, sau đó chuyển dần sang dạy – học tiếng Việt và bằng tiếng Việt, còn TMĐ của học sinh lùi xuống vị trí là một môn học
Mô hình thứ tư: bắt đầu dạy – học tiếng Việt và bằng tiếng Việt, TMĐ của học sinh chỉ được dạy - học như một môn học (có thể ở giai đoạn bất kì trong từng cấp học)
Trước tình hình sử dụng ngôn ngữ của học sinh Arem ở Bố Trạch – Quảng Bình, luận văn mong muốn hướng tới một trạng thái đa ngữ có văn hóa cho đồng bào dân tộc nơi đây để phù hợp với cảnh huống ngôn ngữ
1.2.1.6 Vấn đề truyền thông ở vùng đồng bào DTTS
Vấn đề truyền thông dân tộc cũng như tôn giáo đã được giới lí luận truyền thông bàn thảo đến từ khoảng đầu thế kỉ trước Những vấn đề lí luận đó một mặt nằm trong tổng thể của truyền thông đại chúng, mặt khác chúng đã có tác dụng đáng kể trong việc hoạch định và tác nghiệp ở những nền truyền thông thuộc những quốc gia
đa tôn giáo, đa dân tộc
Đáng tiếc, trong nhiều thập kỉ qua lí luận về truyền thông đại chúng ở Việt Nam đã
bỏ ngỏ vấn đề lí luận lớn này Vũ Quang Hào đã đưa ra: “về bản chất, truyền thông đại
chúng mang thông tin đến một số lượng công chúng mà họ vốn khác nhau về rất nhiều phương diện: Độ tuổi, nghề nghiệp, trình độ, giới tính, tôn giáo, dân tộc ” [8, tr.18] Tuy
nhiên, ở mỗi phương diện như vậy, công chúng lại tự hình thành một nhóm đối tượng riêng của truyền thông.Vấn đề là ở chỗ đã đến lúc công chúng truyền thông cần phải được nhìn nhận theo các nhóm đối tượng chuyên biệt Mỗi nhóm đối tượng chuyên biệt lại có những nét đặc thù riêng: tập quán, phong tục, lối sống, địa bàn cư trú, lối canh tác, đặc trưng văn hóa, thói quen đọc - nghe - xem, lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, trình độ,
Thông qua truyền thông, đồng bào DTTS được tiếp cận với các kiến thức trong sản xuất, áp dụng quy trình canh tác mới, chủ động đầu tư thâm canh, đưa các giống cây trồng, vật nuôi có năng suất và hiệu quả kinh tế cao vào sản xuất, chăn nuôi trở thành nhân tố điển hình trong phong trào sản xuất kinh doanh giỏi ở địa phương Qua đó, khơi dậy trong mỗi người dân ý thức tự giác vươn lên, tương trợ lẫn
Trang 27nhau, xây dựng cộng đồng dân cư no ấm, góp phần đưa chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đi vào đời sống, xây dựng cuộc sống ngày một văn minh, tiến bộ
Có thể khẳng định, công tác truyền thông DTTS là vô cùng cần thiết và quan trọng Đây là nhiệm vụ cấp bách của cơ quan truyền thông trung ương, cũng như cơ quan truyền thông tại các tỉnh, huyện và các cấp địa phương có DTTS sinh sống Việc tìm hiểu về tình hình sử dụng ngôn ngữ của người Arem ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình trong truyền thông DTTS cũng chính là nội dung quan trọng sẽ được đề cập tới trong luận văn này
có đồng bào DTTS sinh sống là Tân Trạch, Thượng Trạch, Sơn Trạch và thị trấn Nông Trường - Việt Trung; với 22 bản (Thượng Trạch 18 bản, Tân Trạch 02 bản, Sơn Trạch
01 bản và thị trấn Nông Trường Việt Trung 01 bản); tổng số hộ đồng bào DTTS là 807
hộ, 3.618 khẩu; chủ yếu là đồng bào dân tộc: Bru - Vân Kiều (695 hộ) và Chứt (72 hộ), còn lại là một số tộc người khác như Sách, Khùa, Mường, Thái, Trì,
Tình hình kinh tế tại huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình phát triển ổn định, cơ cấu kinh tế chuyển mạnh sang hướng tăng dịch vụ, giảm tỉ trọng nông nghiệp Tiềm năng, thế mạnh được xác định và khai thác hợp lí đã đưa lại hiệu quả kinh tế ngày càng cao Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới đạt kết quả bước đầu, bộ mặt nông thôn có nhiều khởi sắc Các loại hình dịch vụ phát triển khá nhanh Du lịch từng bước khẳng định là ngành kinh tế chiến lược Các loại hình kinh
tế tiếp tục có bước phát triển, các cơ sở sản xuất đã giải quyết việc làm cho nhiều lao động mỗi năm, góp phần nâng cao thu nhập, giảm nghèo bền vững
Trang 28Tình hình văn hóa - xã hội tại huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình có nhiều tiến
bộ, tạo sự chuyển biến tích cực trong các mặt đời sống và an sinh xã hội Giáo dục và
đào tạo tiếp tục phát triển, chất lượng mũi nhọn tiếp tục được khẳng định, chất lượng đại trà có tiến bộ Công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm có bước tiến đáng kể đã tạo thuận lợi cho nhiều lao động nông thôn học nghề và tạo việc làm, tăng thu nhập Nhiệm vụ chăm sóc sức khoẻ nhân dân có tiến bộ, cơ bản đã làm tốt công tác khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân Tỉ lệ hộ nghèo giảm còn 4,3% vào cuối năm 2015 Thu nhập bình quân đầu người hàng năm tăng nhanh Cần quan tâm thực hiện đầy đủ, kịp thời và đúng quy định các chính sách an sinh xã hội
Bên cạnh đó, Quốc phòng - An ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, chất lượng hoạt động của lực lượng vũ trang có nhiều tiến bộ, góp phần giữ vững ổn định chính trị, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Các lực lượng quân sự, công an thường xuyên nắm chắc tình hình, giải quyết kịp thời, có hiệu quả các vụ việc liên quan đến
an ninh chính trị ngay từ cơ sở
Có thể thấy rằng huyện Bố Trạch bước đầu khẳng định sự quyết tâm nhằm đạt mục tiêu phát triển, đưa tỉ lệ những hộ dân là DTTS như dân tộc Chứt, Bru -Vân Kiều,… thoát nghèo, giúp người dân có cuộc sống ổn định, an tâm phát triển kinh tế
và bảo tồn các giá trị về văn hóa và ngôn ngữ của chính dân tộc mình Với những kết quả đạt được, cán bộ và nhân dân huyện Bố Trạch tự hào và vinh dự được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương lao động hạng Nhì trong thời kỳ đổi mới
1.2.2.2 Khái quát về dân tộc Chứt, tộc người Arem và tiếng Arem ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
Tại Quảng Bình dân tộc Chứt định cư với 5 nhóm địa phương, còn gọi là 5 tộc người: Sách, Mày, Rục, Arem, Mã Liềng với 1.591 hộ với 6.417 khẩu (chiếm 26% dân số dân tộc thiểu số, tính đến tháng 31 - 12 - 2016), [59] Địa bàn cư trú của dân tộc Chứt phân bố ở 29 bản, 9 xã, thuộc 3 huyện: Minh Hoá, Tuyên Hoá và Bố Trạch thuộc các xã miền núi, vùng cao, biên giới, nơi có địa hình chia cắt, hiểm trở Đây cũng là nơi có thời tiết, khí hậu khắc nghiệt, ngập lụt về mùa mưa, hạn hán, thiếu nước về mùa khô
Người Chứt là một dân tộc ít người sinh sống tại miền trung Việt Nam và Lào Tại Việt Nam, người Chứt được công nhận là một trong 54 dân tộc Việt Nam Ngôn
Trang 29ngữ mà đồng bào dân tộc Chứt đang sử dụng, theo các nhà ngôn ngữ học, thuộc nhóm Việt - Mường, nhánh các ngôn ngữ Môn – Khơ me (Tiếng Việt, Mường, Thổ, Chứt), hệ ngữ Nam Á
Trong danh mục thành phần các dân tộc công bố năm 1979, tiếng Chứt của dân tộc Chứt bao gồm những nhóm địa phương khác nhau: Mày, Rục, Sách, Mã Liềng và Arem Cả năm nhóm này được coi là thành viên địa phương của tiếng Chứt [61] Tuy nhiên, gần đây các tác giả M.Ferlus, Nguyễn Văn Lợi, Trần Trí Dõi đã nghiên cứu và chứng minh rằng trong thực tế năm nhóm địa phương mà trước đây được coi là những bộ phận của tiếng Chứt ấy có thể là những ngôn ngữ khác biệt nhau, tức là chúng có thể là những ngôn ngữ riêng lẻ chứ không phải là các phương ngữ của một ngôn ngữ Cái gọi là tiếng Chứt chỉ có thể bao gồm các nhóm Mày, Rục, Sách Hai nhóm còn lại, tiếng Arem và tiếng Mã Liềng là những ngôn ngữ riêng lẻ có bà con họ hàng với tiếng Chứt [61] Theo đó, các tác giả đề nghị nên xem cộng đồng được gộp vào dân tộc Chứt nói trên bao gồm ba ngôn ngữ riêng lẻ là:
- Tiếng Chứt chỉ gồm các nhóm: Sách, Mày và Rục
- Tiếng Arem là nhóm Arem ở Bố Trạch, Quảng Bình
- Tiếng Mã Liềng bao gồm các nhóm Mã Liềng ở Quảng Bình và Hà Tĩnh Tuy nhiên, dù tiếng Chứt là một ngôn ngữ thống nhất hay là tổ hợp của một
số ngôn ngữ độc lập cũng không thể tạo nên sự bất bình đẳng trong việc tiếp cận
TV và phát triển song ngữ Chứt/Việt của cộng đồng người Chứt, bởi tất cả các phương ngữ trong tiếng Chứt đều cùng một nguồn gốc Việt - Mường với TV Ngôn ngữ Chứt không có chữ viết cổ và hiện nay chưa có chữ viết
Arem là một nhóm cư dân hiện tại sống tập trung ở xã Tân Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình Theo số liệu do anh Hoàng Ngọc Thức cung cấp, ở xã Tân Trạch có 95/100 hộ người Arem (5 hộ còn lại là người Ma Coong) với dân số xấp xỉ
500 người Ngoài xã Tân Trạch, ở xã Thượng Trạch (xã giáp với biên giới Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào) cũng thuộc huyện Bố Trạch có hai hộ người Arem và huyện Minh Hóa có một hộ (di cư từ Tân Trạch sang) Tổng số người của ba hộ này khoảng dưới 20 người Như vậy dân số người Arem khoảng dưới 520 người Nếu so sánh với
số liệu của Ban Dân tộc tỉnh Quảng Bình năm 2008, người Arem chỉ có 156 người
Trang 30Sau 11 năm, người Arem tăng gấp 3,2 lần Đây là điều đáng mừng đối với một nhóm đồng bào DTTS có số lượng rất ít [Dẫn theo 2]
Đời sống của đồng bào Arem trong những năm gần đây đã có nhiều đổi thay Đặc biệt, đồng bào tiếp cận phát triển được các mô hình kinh tế, đồng thời áp dụng khoa học - kĩ thuật vào chăn nuôi, sản xuất mang lại hiệu quả kinh tế Đáng kể nhất là đàn bò và dê trong làng tăng trưởng ổn định, phát triển được 130 con bò; đàn dê tăng lên trên 50 con Huyện Bố Trạch cũng đã có chủ trương, hỗ trợ đồng bào mở thêm
mô hình nuôi dê sinh sản, hỗ trợ cho 10 hộ đồng bào thí điểm, với số lượng 20 con nữa Hiện đồng bào Arem hiện còn sở hữu rừng huê, với diện tích gần 8,5ha, tuổi đời gần 20 năm Trong thời gian chờ rừng huê cho khai thác, bà con trong làng được giao bảo vệ 4.000ha rừng thuộc vùng lõi Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, mỗi năm kinh phí hỗ trợ khoảng 200 triệu đồng để có thêm thu nhập cải thiện cuộc sống [59] Đời sống của tộc người Arem tuy được quan tâm nhiều hơn, nhưng vẫn còn nhiều khó khăn, thiếu thốn Theo thực thế khảo sát, tác giả luận văn và đoàn nghiên cứu đã được chứng kiến cảnh sống thiếu nguồn nước sinh hoạt của người Arem (cả bản Arem chỉ có một đến hai chiếc bể chứa nước sạch dùng trong sinh hoạt, các hộ gia đình phải mang thùng đựng đến bể nước, xếp hàng lấy nước phục vụ cho hoạt động sinh hoạt, còn nước vệ sinh cá nhân người Arem sử dụng nhiều ở nguồn nưới suối, nước thác), nguồn điện hạn chế, không có mạng (người Arem chỉ có điện và mạng vào khoảng từ 17h00 đến 21h00 tối khi mà cán bộ phụ trách xã sử dụng thiết bị phát điện và sóng cho toàn bản) Người dân sống trong nhưng ngôi nhà hẹp được các mạnh thường quân hỗ trợ xây dựng bằng chất liệu gỗ Nhà của họ không có đồ vật đáng giá mà chỉ có một số vật dụng phục vụ cho làm nương rẫy và một số đồ dùng trong sinh hoạt hàng ngày
Những trình bày trên đây cho thấy bức tranh đời sống của tộc người Arem có phần đáng báo động, cần sự quan tâm kịp thời của chính quyền tỉnh Quảng Bình và các chính sách đầu tư của Đảng, Nhà nước Việc tăng dân số người Arem sau hơn mười năm là tín hiệu đáng mừng nhưng lại tỉ lệ nghịch với sự phát triển bản ngữ - tiếng Arem Và một sự thật rất hiển nhiên sẽ xảy ra: Khả năng mai một dẫn đến tiêu vong của tiếng Arem chỉ còn là vấn đề thời gian
Trang 311.3 Tiểu kết
Ở chương này, luận văn đã trình bày một số vấn đề mang tính tổng quan, cơ
sở lí luận và thực tiễn Có thể khái quát những vấn đề lí luận đã được trình bày là: Cảnh huống ngôn ngữ và tình hình sử dụng ngôn ngữ, năng lực sử dụng ngôn ngữ, song ngữ / đa ngữ, vấn đề giáo dục ngôn ngữ ở vùng đồng bào DTTS, vấn đề giáo dục ngôn ngữ vùng đồng bào DTTS, vấn đề truyền thông ở vùng đồng bào các DTTS Những vấn đề liên quan đến cơ sở thực tiễn đã được luận văn trình bày là: Khái quát về địa lí - tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội - dân cư ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình; Khái quát về dân tộc Chứt, tộc người Arem và tiếng Arem ở huyện
Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
Qua chương 1 của luận văn, chúng tôi cũng nhận thấy rằng: khi nghiên cứu về tình hình sử dụng ngôn ngữ của một dân tộc / một nhóm tộc người ở một địa phương cần chú ý phân tích rõ đặc điểm và cách thức sử dụng ngôn ngữ của họ trong các hoàn cảnh khác nhau (trong sinh hoạt hàng ngày, trong hoạt động xã hội và trong hoạt động truyền thông, ) Từ đó, có thể nhìn nhận, đánh giá rõ nét về khả năng sử dụng ngôn ngữ, thái độ, nguyện vọng trong sử dụng ngôn ngữ của một nhóm tộc người thuộc DTTS; đề xuất những chính sách, giải pháp cụ thể góp phần bảo tồn ngôn ngữ - văn hóa DTTS; phát triển tiếng Việt với tư cách là ngôn ngữ quốc gia
trong cộng đồng dân tộc đó
Trang 32CHƯƠNG 2 VẤN ĐỀ SỬ DỤNG NGÔN NGỮ CỦA NGƯỜI AREM
Ở HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH
2.1 Dẫn nhập
Ở chương 2, luận văn tập trung tìm hiểu về thực trạng sử dụng ngôn ngữ của người Arem ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình trên các phương diện: sự lưu truyền ngôn ngữ, khả năng ngôn ngữ, phạm vi sử dụng ngôn ngữ, chức năng, vị thế của ngôn ngữ Trong
đó, thực trạng về khả năng sử dụng ngôn ngữ sẽ được khai thác và phân tích theo các biến phụ thuộc như: giới tính, độ tuổi, học vấn, nghề nghiệp Thực trạng về phạm vi sử dụng ngôn ngữ sẽ được khai thác theo các biến trong gia đình và ngoài xã hội
2.2 Thực trạng lưu truyền ngôn ngữ giữa các thế hệ của người Arem
Học từ thầy cô
ở trường
Học từ người lớn trong nhà
Học từ bạn bè, người quen
Học từ thầy cô ở trường
Học từ người lớn trong nhà
Học từ bạn bè, người quen
Học từ thầy cô
ở trường
0/23 (0%)
0/23 (0%)
0/23 (0%)
23/23 (100%)
18/23 (78,3%)
5/23 (21,7%)
0/23 (0%) 5/115
(4,3%)
0/115 (0%)
0/115 (0%)
0/115 (0%)
0/115 (0%)
23/115 (20%)
18/115 (15,7%)
5/115 (4,3%)
0/115 (0%) 18-30
0/32 (0%)
0/32 (0%)
12/32 (37,5%)
20/32 (62,5%)
18/32 (56,3%)
14/32 (43,7%)
0/32 (0%) 12/115
(10,4%)
8/115 (6,9%)
0/115 (0%)
0/115 (0%)
12/115 (13,0%)
20/115 (17,4%)
18/115 (15,7%)
14/115 (12,1%)
0/115 (0%) 31-60
0/48 (0%)
0/48 (0%)
27/48 (56,3%)
21/48 (43,7%)
19/48 (39,6%)
29/48 (60,4%)
0/48 (0%) 22/115
(19,1%)
8/115 (6,9%)
0/115 (0%)
0/115 (0%)
27/115 (23,5%)
21/115 (18,3%)
19/115 (16,5%)
29/115 (25,2%)
0/115 (0%)
Trang 330/12 (0%)
0/12 (0%)
10/12 (83,3%)
2/12 (16,7%)
0/12 (0%)
12/12 (100%)
0/12 (0%) 12/115
(10,4%)
0/115 (0%)
0/115 (0%)
0/115 (0%)
10/115 (8,7%)
2/115 (1,7%)
0/115 (0%)
12/1115 (10,4%)
0/115 (0%)
Lưu ý: Tỉ lệ được tính theo số mẫu trong nhóm độ tuổi và theo tổng số mẫu điều tra
* Nhận xét
Việc lưu truyền TMĐ từ việc học ở người lớn trong nhà khi xét trong nhóm độ tuổi, với nhóm dưới 18 tuổi chiếm tỉ lệ thấp nhất với 21,7%, nhóm trên 60 chiếm tỉ lệ cao nhất đạt 100% Tuy nhiên, so với toàn bộ mẫu điều tra, tỉ lệ ở các nhóm tuổi đều thấp: nhóm độ tuổi dưới 18 tuổi thấp nhất chỉ đạt 4,3%, và nhóm tuổi từ 31 đến 60 tuổi đạt ở mức cao nhất chỉ đạt 19,5% Ở phạm vi lưu truyền TMĐ thông qua việc học từ bạn bè, người quen, trong nhóm độ tuổi từ 18 đến 30 chiếm mức trung bình – khá 25%, từ 31 đến
60 tuổi chỉ chiếm tỉ lệ rất thấp với 16,6%, nhưng khi xét trong toàn bộ mẫu điều tra nhóm
từ 31 đến 60 và từ 31 đến 60 tuổi chỉ chiếm tỉ lệ rất thấp với 6,9%
Thực trạng lưu truyền TV của người Arem ở phạm vi trường học trong nhóm độ tuổi dưới 18 tuổi đạt tỉ lệ cao 100%, nhưng so với toàn bộ mẫu điều tra thì chỉ ở mức thấp với 20% Và ở phạm vi học từ bạn bè người quen ở độ tuổi trên 60 tuổi đạt tỉ lệ cao với 83,3%, nhưng khi xét trong toàn bộ mẫu điều tra cũng chỉ đạt tỉ lệ rất thấp 8,7%
Thực trạng lưu truyền tiếng Ma Coong của người Arem cũng diễn ra chủ yếu trên hai phạm vi đó là học từ bạn bè, người quen đạt tỉ lệ cao là 100% ở nhóm độ tuổi trên 60 tuổi, nhưng so với toàn bộ mẫu điều tra thì chỉ ở mức thấp 10,4% và ở phạm
vi học từ người lớn trong nhà đối với nhóm độ tuổi dưới 18 tuổi đạt mức cao chiếm 78,3%, nhưng khi xét trong toàn bộ mẫu điều tra cũng ở mức thấp 15,7%
2.2.2 Miêu tả, phân tích
Từ bảng khảo sát có thể nhận thấy, thực trạng lưu truyền TMĐ, tiếng Kinh, tiếng Ma Coong của người Arem ở xã Tân Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình được thể hiện ở từng độ tuổi khác nhau, ở từng phạm vi và hoàn cảnh cụ thể:
Tính chất lưu truyền TMĐ của người Arem mang tính tự phát và có sự đứt gãy giữa các thế hệ, chủ yếu trong giao tiếp gia đình, người Arem học từ người lớn trong nhà là chủ yếu và số lượng ít học từ bạn bè người quen Bởi, tiếng Arem không có chữ viết và số người nghe được, nói được chiếm tỉ lệ rất ít chủ yếu là người cao tuổi,
Trang 34như các già làng, thầy thuốc Thực trạng lưu truyền TMĐ của người Arem ở ngoài cộng đồng như giao tiếp với bạn bè, người quen cũng rất hạn chế Những người già làng, những người cao tuổi trong bản với khả năng lưu truyền tới thế hệ trẻ còn thấp Thực trạng đó là do người Arem sử dụng chủ yếu tiếng Ma Coong trong giao tiếp, tiếng Arem ít được sử dụng hơn, và đặc biệt đối với thế hệ trẻ hầu như họ không được tiếp xúc nhiều với tiếng Arem Bên cạnh đó, khả năng truyền lại TMĐ của những người cao tuổi là hạn chế, trí nhớ của họ kém, phát âm không còn chuẩn Nếu xét trong nhóm có số người cao tuổi thì thực trạng lưu truyền TMĐ ở nhóm này cao, tuy nhiên khi đối chiếu với toàn bộ mẫu điều tra thì đó chỉ là một phần rất nhỏ với 4,3% trong tổng số 115 mẫu điều tra là người Arem biết TMĐ, chỉ một số người già làng, thầy cúng cao tuổi họ sử dụng TMĐ khi gặp nhau, khi cầu cúng và họ chưa phát huy được khả năng lưu truyền lại cho thế hệ sau
TV là ngôn ngữ chính thống của quốc gia, TV có sự lưu truyền chủ yếu bằng hình thức giảng dạy từ thầy, cô giáo ở các cấp học trong trường học như: TH, THCS
TV được sử dụng trong giao tiếp cộng động và cả trong sinh hoạt gia đình Tuy nhiên, người Arem ở mọi lứa tuổi, mọi nghề nghiệp và ở các trình độ học vấn đều sử dụng
TV chủ yếu trong sinh hoạt ngoài cộng đồng Đây là ngôn ngữ mà hầu hết nhiều người Arem có khả năng nói được, biết đọc và biết viết chữ, tỉ lệ đạt 73,9% theo sự phát triển của đất nước Việc sử dụng thành thạo TV cũng là một lợi thế giúp người Arem có thể phát triển kinh tế, phát triển du lịch, hiểu được tầm quan trọng của TV trong đời sống của người Arem, cho nên việc tự giác học giao tiếp và học chữ viết TV là một phương pháp tối ưu của người dân Arem trong thời kì 4.0 như hiện nay
Tính chất lưu truyền tiếng Ma Coong của người Arem cũng theo hình thức tự phát, nhưng tỉ lệ lưu truyền cao trong cả sinh hoạt gia đình và ngoài cộng đồng Tiếng Ma Coong được coi là ngôn ngữ được dùng phổ biến tại bản Arem, xã Tân Trạch, huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình Người Arem chưa tự lưu truyền TMĐ của dân tộc mình cho thế hệ sau Để đảm bảo cho việc mưu sinh, phát triển kinh tế, phục
vụ cho nhu cầu trao đổi, buôn bán hàng hóa và thực hiện tốt công tác giao lưu văn hóa cộng đồng Vì vậy, người Arem cần giao tiếp tốt với các DTTS bằng ngôn ngữ của dân tộc họ Tiếng Ma Coong được người Arem học và lưu truyền nhanh nhất ở nhóm tuổi dưới 18, vì đây là nhóm tuổi trí tuệ đang phát triển, ham học hỏi nên chỉ
Trang 35cần nghe người khác giao tiếp bằng tiếng Ma Coong nhiều thì sẽ tự tiếp thu và thực hành sử dụng rất nhanh Nhưng khi xem xét đối chiếu với toàn bộ mẫu điều tra, thì tiếng Ma Coong ở độ tuổi trung niên được sử dụng và lưu truyền ở mức cao nhất, vì
họ là những người lớn có vợ hoặc chồng là người Ma Coong, họ giao tiếp với nhau bằng tiếng Ma Coong trong cả nói chuyện hàng ngày, khi đi làm nương rẫy họ cũng thường xuyên nói tiếng Ma Coong
2.3 Thực trạng về khả năng sử dụng ngôn ngữ của người Arem trong môi trường đa ngữ
Khi đi nghiên cứu về thực trạng sử dụng ngôn ngữ của người Arem, ngoài việc khảo sát về thực trạng sử dụng TV và TMĐ, thì tiếng Ma Coong cũng được đoàn nghiên cứu xác định đây là một ngôn ngữ có vị trí quan trọng và được người Arem sử dụng nhiều trong giao tiếp ở đời sống sinh hoạt hàng ngày
2.3.1 Khả năng sử dụng ngôn ngữ của người Arem nói chung
nghe được, không nói được
không nghe được, không nói được
91/115 (79,1%)
115/115 (100%)
(100%)
85/115 (73,9%)
30/115 (26,1%)
(94,0%)
7/115 (6,0%)
115/115 (100%)
* Nhận xét
Từ bảng khảo sát chúng ta có thể nhận xét về khả năng sử dụng ngôn ngữ của người Arem như sau: Khả năng nghe được, nói được TV của người Arem chiếm tỉ lệ cao nhất 100% và thấp nhất là TMĐ chỉ chiếm 10,4% Khả năng nghe được, không nói được TMĐ với 10,4% và tiếng Ma Coong chiếm 6,0% Khả năng nghe được, không nói được
Trang 36của người Arem chỉ xuất hiện ở TMĐ với tỉ lệ cao 79,1% Tỉ lệ người Arem biết viết chữ TV chiếm 73,9%, tỉ lệ người Arem không biết chữ TV chiếm 26,1%
b Miêu tả, phân tích
Khả năng sử dụng ngôn ngữ của người Arem phổ biến ở những khả năng nghe được, nói được; nghe được, không nói được; không nghe được, không nói được và khả năng biết chữ, không biết chữ
TMĐ của người Arem hiện tại được sử dụng ít và ở phạm vi hẹp Số lượng người Arem nghe được, nói được và nghe được, không nói được tiếng Arem chủ yếu
là những người cao tuổi nhưng chiếm số lượng ít, những người cao tuổi chỉ giao tiếp được TMĐ khi họ gặp và nói chuyện với nhau Tuy nhiên, trong sinh hoạt hàng ngày với con, cháu họ lại chủ yếu sử dụng tiếng Ma Coong chứ không sử dụng ngôn ngữ của dân tộc mình Bên cạnh đó, khả năng không nghe được, không nói được TMĐ lại chiếm tỉ lệ cao với 79,1% chủ yếu ở nhóm người trẻ tuổi và trung niên, như đã nói ở trên, do không được ai dạy lại TMĐ và họ đã tiếp xúc với tiếng Ma Coong thường xuyên từ lúc bé, cho nên họ chưa có khả năng nghe được, nói được ngôn ngữ của dân
tộc mình Chúng ta có thể dễ dàng nhận ra rằng ngôn ngữ cộng đồng của người Arem
đang bị chính những người gốc Arem lãng quên dần theo thời gian nếu không có chính sách lưu giữ và bảo tồn kịp thời
Khả năng sử dụng TV của người Arem ngày càng phổ biến TV được sử dụng với tư cách là ngôn ngữ quốc gia và TV được coi như ngôn ngữ chính trong sinh hoạt ngoài cộng đồng của người Arem Người Arem sử dụng TV tương đối tốt Tình trạng thường gặp là nói được nghe được TV chiếm 100%, tỉ lệ người Arem không biết chữ chiếm 26,1% Thực tế, theo khảo sát, dù họ nghe và nói TV tốt, nhưng cách phát âm
bị mắc nhiều lỗi sai ở các âm khác nhau Từ đó dẫn đến tình trạng nhiều từ bị sai nghĩa và nghe không rõ Bên cạnh đó, qua khảo sát bằng phiếu hỏi, ở cuối mỗi phiếu
có phần kí tên người được phỏng vấn thì có rất nhiều người không kí được tên của họ (chúng tôi phải dùng đến hộp dấu lăn tay), hoặc kí tên còn sai về mặt chữ, có một số thì chỉ biết kí mỗi tên của mình không biết viết những từ ngữ khác Những người này
đã từng biết chữ (tham gia lớp xóa mù chữ), nhưng lâu không viết nên hiện tại đã
Trang 37quên mặt chữ Như vậy, tình trạng tái mù chữ ở người Arem còn khá nhiều, và trong
quan niệm của họ kí được là “biết chữ”
Khả năng sử dụng tiếng Ma Coong của người Arem là rất tốt, tiếng Ma Coong được người Arem sử dụng với tần suất thường xuyên, trong cuộc sống hàng ngày họ chủ yếu sử dụng tiếng Ma Coong với 94,0% Người Arem có khả năng nghe và nói được tiếng Ma Coong rất tốt So với các nhóm khác thuộc dân tộc Chứt, người Arem sống trong cộng đồng số đông người Ma Coong tại huyện Bố Trạch Vì vậy, họ buộc phải sử dụng tiếng Ma Coong – một ngôn ngữ có vị thế lấn át tiếng Arem Tiếng Ma Coong đã len vào từng gia đình của dân tộc Arem, qua sự khảo sát thực tế, hiện tại thanh niên và trẻ em người Arem không nói được tiếng Arem, trẻ em khi ở trường sẽ nói với thầy cô bằng tiếng Kinh, học tập bằng tiếng Kinh, nhưng khi nói chuyện với bạn trên lớp thì sử dụng cả TV và tiếng Ma Coong, về nhà trong sinh hoạt gia đình
sử dụng toàn bộ là tiếng Ma Coong
Nhìn một cách tổng quát, ngôn ngữ của cộng đồng người Arem đang đứng trước nguy cơ bị lãng quên, pha trộn, bị giảm thiểu chức năng xã hội chỉ được sử dụng ở phạm vi hẹp trong gia đình, trong bản - làng TMĐ của người Arem có xu hướng giảm dần theo mức độ sử dụng ở các thế hệ, nhất là đối với thế hệ trẻ Họ chủ yếu sử dụng tiếng Việt và tiếng Ma Coong, còn đối với TMĐ họ ít sử dụng hoặc không sử dụng được
2.3.2 Khả năng sử dụng ngôn ngữ ở người Arem theo sự phân biệt về giới tính
biết chữ
Trang 38không biết chữ 70/70 (100%) 45/45 (100%)
nghe được, không nói được không nghe được, không nói được
Ma Coong
không nghe được, không nói được biết chữ
Với TV 100% cả nam và nữ đều nghe được, nói được TV Khả năng biết chữ
TV của nam chiếm 75,7% cao hơn của nữ Ngược lại tỉ lệ không biết chữ ở nữ chiếm 35,6% cao hơn của nam Không có người nào là không nghe được, không nói được
TV ở cả hai nhóm giới tính
Với tiếng Ma Coong 100% cả nam và nữ đều không biết chữ Tuy nhiên, khả năng nghe được nói được tiếng Ma Coong ở nữ chiếm 95,5% cao hơn của Nam Và ngược lại khả năng nghe được không nói được tiếng Ma Coong ở nam chiếm 7,1% cao hơn của nữ Cũng giống TV ở cả hai nhóm giới tính nam và nữ người Arem không có ai không có khả năng không nghe được, không nói được tiếng Ma Coong
b Miêu tả, phân tích
Trạng thái ngôn ngữ của tộc người Arem chủ yếu ở 2 dạng song ngữ (TV - Ma Coong; TMĐ – Ma Coong) và đa ngữ (TV – TMĐ – Ma Coong) chứ không có ai ở
Trang 39trạng thái đơn ngữ Tuy nhiên trong việc sử dụng ngôn ngữ của người Arem lại có sự chênh lệch khá rõ ràng qua khả năng sử dụng các ngôn ngữ của người Arem ở sự phân biệt giới tính
Khả năng sử dụng TMĐ người Arem dù thuộc giới tính nào thì khả năng nghe được, nói được; nghe được, không nói được tiếng dân tộc mình là hạn chế, chỉ xuất hiện ở một số ông/bà là những người cao tuổi Khả năng nghe được nói được ở nữ chiếm tỉ lệ cao hơn ở nam, do TMĐ chỉ được sử dụng ở phạm vi hẹp và ở bản Arem
như đã khảo sát chỉ có cô Y Vơ là người sử dụng thành thạo tiếng Arem hơn cả, qua
đó việc cô dạy lại cho những người con, cháu và những người xung quanh chủ yếu là
nữ vì họ thường xuyên đi làm nưng rẫy và nói chuyện giao tiếp với nhau thường xuyên Tuy nhiên, khả năng không nghe được, không nói được TMĐ của người Arem chiếm mức cao ở cả nam và nữ, điều này xảy ra là kết quả đương nhiên của việc lưu truyền TMĐ của người Arem thế hệ trước cho thế hệ sau là rất thấp Ngoài
ra, do người Arem chưa có tinh thần tự giác bồi dưỡng, tiếp thu và học hỏi về văn hóa và ngôn ngữ dân tộc mình của đa số người Arem ở mọi lứa tuổi, ở mọi ngành nghề và trình độ học vấn
Đối với TV, người Arem có khả năng sử dụng TV tốt, với 100% cả nam và nữ đều nghe được, nói được TV thành thạo Tuy nhiên con số này không đạt tuyệt đối ở khả năng viết Tỉ lệ nữ giới Arem biết chữ thấp hơn so với nam giới Thực tế nữ giới tại bản Arem ít được đi học và học chỉ đến lớp 8,9 là bậc học cao nhất chiếm số lượng thấp, có những bạn nghỉ học từ lớp 3,4 chiếm số lượng cao Qua đó cho thấy, phụ nữ Arem chưa được quan tâm đúng mức về quyền học tập của mình Điều này cũng là một minh chứng cho sự bất bình đẳng giới đang xảy ra tại địa phương này đối với những người phụ nữ Arem
Cũng như TV, người Arem có khả năng sử dụng rất tốt tiếng Ma Coong Tuy nhiên, tỉ lệ nghe được, nói được ở cả hai giới khá cao, nhưng nhìn cụ thể, nữ giới Arem chiếm tỉ lệ cao hơn nam giới ở khả năng này và tỉ lệ nghe được, không nói được tiếng
Ma Coong ở nam giới lại cao hơn nữ giới Qua việc khảo sát thực tế những nam giới ở Arem, hầu như lấy vợ là người Ma Coong và khi chung sống cả gia đình nói tiếng Ma Coong trong sinh hoạt hàng ngày, chứ ít nói TV và không nói được TMĐ Mặc dù, sự
Trang 40chênh lệch của những con số này không cao nhưng cũng cho thấy được phần nào năng lực tiếng phổ thông vùng ở người Arem theo sự phân biệt về giới
2.3.3 Khả năng sử dụng ngôn ngữ ở người Arem theo sự phân biệt về độ tuổi
a Kết quả khảo sát
Kết quả khảo khả năng sử dụng ngôn ngữ ở người Arem theo sự phân biệt
về độ tuổi được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2.4 Khả năng sử dụng ngôn ngữ ở người Arem theo sự phân biệt về độ tuổi
0/115 (0%)
12/115 (10,4%)
nghe được, không nói được
2/23 (8,7%)
4/32
0/12 (0%) 2/115
(1,7%)
4/115
0/115 (0%)
không nghe được, không nói được
21/23 (91,3%)
28/32
0/12 (0%)
21/115 (18,3%)
28/115 (24,3%)
42/115 (36,5%)
0/115 (0%) biết chữ
không biết chữ
23/23 (100%)
32/32
12/12 (100%)
23/23 (100%)
32/32
12/12 (100%) 23/115
(20%)
32/115 (27,8%)
48/115 (41,7%)
12/115 (10,4%) nghe được, không nói
được không nghe được, không nói được