1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PT Pháp luật về quyền kinh tế, xã hội và văn hoá.10.NVG

18 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 30,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của 54 dân tộc anh em cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam; Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển... Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước. Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều quyết sách về phát triển kinh tế - xã hội nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển chung của đất nước cũng như giải quyết những vấn đề bức xúc của đồng bào DTTS trong đó có vùng DTTS. Nhờ đó mà vùng DTTS đã có sự phát triển mạnh mẽ hơn, từng bước ổn định, đời sống dần được cải thiện, nhất là các quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa. Tuy nhiên, so với thành tựu phát triển của triển của đất nước sau gần 30 năm đổi mới, hiện tại vùng DTTS còn nhiều khó khăn như, còn có 21 dân tộc có thu nhập bình quân đầu người từ 13,68 triệu đến 29,13 triệu đồng/người/năm; có 22 dân tộc có thu nhập bình quân đầu người từ 10,9 triệu đến 13,53 triệu đồng/người/năm; có 10 dân tộc có thu nhập bình quân đầu người từ 7,49 triệu đến 10,8 triệu đồng/người/năm. Với lí do nêu trên, sau khi nghiên cứu em lựa chọn chủ đề: “Phân tích pháp luật về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa đối với đồng bào dân tộc thiểu số, vận dung xây dựng chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2021 – 2025, định hướng 2030” làm tiểu luận kết thúc môn học Lý luận và pháp luật về quyền con người trong chương trình hoàn chỉnh cao cấp lý luận chính trị.

Trang 1

BÀI TIỂU LUẬN

MÔN LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CON NGƯỜI

CHỦ ĐỀ: PHÂN TÍCH PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN KINH TẾ, XÃ

HỘI VÀ VĂN HÓA ĐỐI VỚI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU

SỐ, VẬN DUNG XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ GIAI ĐOẠN

2021 – 2025, ĐỊNH HƯỚNG 2030

Trang 2

Mở đầu ………3

I KHÁI QUÁT VỀ QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN CÔNG DÂN

……….4

……….4

……… 5

……….6

II KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỂN KINH TẾ, XÃ HỘI VÀ VĂN HOÁ ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ

……… 7

2.1 Khái niệm quyền kinh tế, xã hội và văn hóa

……….7

2.2 Đặc điểm của quyền kinh tế, xã hội và văn hóa ………

8

III VẬN DUNG XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ GIAI ĐOẠN 2021 – 2025, ĐỊNH HƯỚNG 2030 ……

11

3.1 Kết quả thực hiện phát triển kinh tế xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai

……… 11

3.2 Vận dụng lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học xây dựng chính sách phát triển kinh

tế xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến 2045

3.3 Chính sách phát triển kinh tế xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn

……… 14

……….16

Trang 3

Danh mục tài liệu tham khảo

……….17

MỞ ĐẦU

Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của 54 dân tộc anh em cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam; Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều quyết sách về phát triển kinh tế - xã hội nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển chung của đất nước cũng như giải quyết những vấn đề bức xúc của đồng bào DTTS trong đó có vùng DTTS Nhờ đó

mà vùng DTTS đã có sự phát triển mạnh mẽ hơn, từng bước ổn định, đời sống dần được cải thiện, nhất là các quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa

Tuy nhiên, so với thành tựu phát triển của triển của đất nước sau gần 30 năm đổi mới, hiện tại vùng DTTS còn nhiều khó khăn như, còn có 21 dân tộc có thu nhập bình quân đầu người từ 13,68 triệu đến 29,13 triệu đồng/người/năm; có 22 dân tộc có thu nhập bình quân đầu người từ 10,9 triệu đến 13,53 triệu đồng/người/năm; có 10 dân tộc có thu nhập bình quân đầu người từ 7,49 triệu đến 10,8 triệu đồng/người/năm Với

lí do nêu trên, sau khi nghiên cứu em lựa chọn chủ đề: “Phân tích pháp luật về quyền

kinh tế, xã hội và văn hóa đối với đồng bào dân tộc thiểu số, vận dung xây dựng chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2021 – 2025, định hướng 2030” làm tiểu luận kết thúc môn học Lý luận và pháp luật về quyền con

người trong chương trình hoàn chỉnh cao cấp lý luận chính trị

Trang 4

NỘI DUNG

I KHÁI QUÁT VỀ QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN CÔNG DÂN

1.1 Khái niệm quyền con người

Quyền con người (Human rights) là nhũng giá trị thiêng liêng, cao quý kết tinh

từ nhiều nền văn hóa, văn minh của các dân tộc trên thế giới Trải qua quá trình đấu tranh của loài người nhằm cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội, cùng với sự phát triển của xã hội, tư tưởng về tự do, về bình đẳng, ý thức về quyền con người, quyền làm người đã trở thành động lực to lớn trong các cuộc đấu tranh chống áp bức, bóc lột và bất công

xã hội Tuy nhiên, quyền con người là khái niệm đa diện, có nhiều cách hiểu và tiếp cận khác nhau

Dưới góc độ tôn giáo, đạo đức, khái niệm về quyền con người được hiểu không chỉ bắt đầu với bản Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (UDHR, 1948), mà ý thức, tư tưởng về quyền con người đã xuất hiện sớm trong lịch sử, thuộc nhiều truyền thống vãn hóa, tôn giáo khác nhau

Dưới góc độ pháp lý, quyền con người đã được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp lý quan trọng như: Bộ luật Hammurabi (khoảng năm 1700 tr.CN), Hiến chương Magna Carta (1215), Bộ luật về các quyền của Anh (1689), Tuyên ngôn Nhân quyền

và Dân quyền của Pháp (1789) và Hiến pháp của Mỹ năm 1791 Tuy nhiên, ngành luật quốc tế về quyền con người chỉ mới xuất hiện trong thế kỷ XX, mà khởi đầu là

Trang 5

Hiến chương Liên hợp quốc (1945) và Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (UDHR, 1948)

Do sự khác biệt về hoàn cảnh lịch sử, trình độ phát triển kinh tế, xã hội, chế độ chính trị, giá trị truyền thống, văn hóa dân tộc, nên khái niệm quyền con người/nhân quyền còn có nhiều cách hiểu khác nhau và đến nay chưa có một định nghĩa chính thức nào về quyền con người đúng cho mọi quốc gia, dân tộc và đúng cho mọi thời đại

Trong Tuyên bố Viên và Chương trình hành động (1993) định nghĩa: “Quyền con người và tự do cơ bản là quyền bẩm sinh của mọi người được hưởng; việc thúc đẩy và bảo vệ các quyền đó là trách nhiệm trước tiên của Chính phủ”

Tài liệu Hỏi đáp về quyền con người của Liên hợp quốc quan niệm: “Quyền con người là những gì bẩm sinh, vốn có của con người mà nếu không được bảo đảm thi chúng ta sẽ không thể sống như một con người”

Theo Văn phòng Cao ủy Liên họp quốc về quyền con người (OHCHR): “Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người”

Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, quan niệm: “Quyên con người là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia

và các thỏa thuận pháp lý quốc tế”

Các định nghĩa nêu trên mặc dù còn có những điểm khác nhau về nội dung và phương pháp tiếp cận, song đã phản ánh một so đặc điểm chung, của khái niệm quyền con người như sau:

Một là, quyền con người là các quyền bẩm sinh thuộc sở hữu vốn có của mọi người, nó gắn liền với hành động công nhận, thừa nhận chứ không phải là ban phát, từ chối hay tước đoạt vô cớ

Hai là, trung tâm của khái niệm quyền con người là khái niệm về phẩm giá vốn

có của mọi thành viên trong gia đình nhân loại

Ba là, quyền con người là các quyền đưực áp dụng bình đẳng cho tất cả mọi người mà không có sự phân biệt nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến, quan điểm, nguồn gốc dân tộc hoặc địa vị xã hội

Trang 6

Bổn là, quyền con người là các quyền được bảo đảm minh bạch về pháp lý nhằm giúp cá nhân, các nhóm xã hội đạt đưực nhu cầu, lợi ích một cách độc lập trên các lĩnh vực

Nãm là, quyền con người xác lập nghĩa vụ tôn trọng, bảo đảm của nhà nước và

xã hội

Từ sự phân tích trên, có thể hiểu: Quyền con người là các đặc quyền tự nhiên, bắt nguồn từ phẩm giá vốn có của tất cả mọi người, được cộng đồng quốc tế và quốc gia thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm bằng hệ thong pháp luật quốc gia và quổc

tế

1.2 Khái niệm quyền công dân

Khái niệm quyền con người có mối quan hệ gắn bó và phân biệt với khái niệm quyền công dân về mặt lịch sử, sự hình thành khái niệm quyền công dân gắn liền với chủ nghĩa lập hiến của cách mạng tư sản và được ghi nhận trong các Tuyên ngôn, Hiến pháp của một số quốc gia Tây Âu và Mỹ thời kỳ cận đại Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Phập((1789) ghi nhận: Trong bất kỳ xã hội nào mà các quyền của con người và của công dân không được bảo đảm, và sự phân chia quyền lực không được thực hiện, thì xã hội đố sẽ không có Hiến pháp

Cơ sở cho sự hình thành khái niệm quyền công dân bắt nguồn từ các xu hướng chính trị - xã hội chủ yểu sau đây : a) Cách mạng tư sản giải phóng con người từ địa vị thần dân thành thành viên của xã hội công dân, thành công dân nhà nước; b) Nội dung các quyền con người, đặc biệt là quyền tham gia vào đời sống chính trị của mỗi cáhhân

là phạm trù cốt lõi của khái niệm quyền công dân, hay nói cách khác, quyền tham gia vào đời sống chính trị (rihư quyền bầu cử, quyền ứng cử, quyền bỏ phiếu trong các cuộc trưng cầu ý dân ) trở thành nội dung chủ yếu của quyền công dân; c) Mối quan

hệ vê quyền và nghĩa vụ giữa các công dân với nhau và giữa công dân với nhà nước được thực hiện thông qua hệ thống pháp luật Đây là các xu hướng tất yếu của quá trình hình thành một chế độ xã hội mới tiến bộ, theo đó, địa vị pháp lý 5 của công dân chính thức được ghi nhận trong Hiến pháp và luật quốc gia; chế định quốc tịch ra đời; nguyên tắc mọi người bình đẳng trước pháp luật được công nhận Tóm lại, quyền công dân chính là sự thừa nhận địa vị pháp lý về chính trị của cá nhân theo Hiến pháp và pháp lúật; hiến pháp và pháp luật trở thành công cụ hữu hiệu trong bảo vệ quyền và tự

do I cơ bản của công dân trong phạm vi lãnh thổ quốc gia

Các xu hướng trên đây được phát triển và cụ thể hóa trong nhiều quan niệm hiện đại về quyền công dân, chẳng hạn: “Quyền công dân là các quyền cơ bản được đặc biệt bảo đảm cho các công dân của một quốc gia cụ thể; ví dụ như quyền bầu cử,

Trang 7

ứng cử hay quyền tiếp cận với các dịch vụ công tại một quốc gia nào đỏ” Hoặc:

“Quyền công dân có thể phát sinh trực tiếp từ quyền tự nhiên hay gián tiếp thông qua các sắp xếp chính trị trong một xã hội được xây dựng với sự thỏa thuận của người dân thể hiện trong các Hiến pháp và các luật lệ” Từ nửa sau thế kỷ XX, Hiến pháp của các quốc gia đều xây dụng chế định quyền cổng dân, tức là các quyền áp dụng cho những người có quốc tịch một quốc gia

Từ sự phân tích trên, có thể hiểu: Quyền cồng dần là tổng hợp các quyển và tự

do cơ bản của mỗi cá nhân, tạo nên địa vị pháp lý của cá nhân trong mối quan hệ với nhà nước thông qua chế định quốc tịch, được thừa nhận và bảo đảm bằng Hiến pháp

và pháp luật của quốc gia

1.3 Bản chất của quyền con người

Quyền con người có nội dung rộng lớn, bao quát hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội từ lĩnh vực chính trị, dân sự, kinh tế, xã hội và văn hóa ; phản ánh nhu cầu, lợi ích của các nhóm yểu thế trong xã hội; do vậy xét về bản chất, quyền con người là bảo vệ cá nhân, công dân và các nhóm yếu thế, trước quyền lực nhà nước Trong mối quan hệ với quyền lực nhà nước, quyền con người vừa cần đến quyền lực nhà nước để tổ chức, quản lý và duy trì trật tự xã hội, bảo vệ khỏi các hành vi xâm hại, nhưng ngược lại quyền con người lại chính là công cụ để kiềm chế, kiểm soát sự lạm dụng quyền lực, do đó 6 trong mối quan hệ hai chiều giữa Nhà nước với cá nhân, công dân và các nhóm xã hội; thì cá nhân, công dân hay các nhóm yếu thế là chủ thể của quyền con người (rights - holders), còn nhà nước là chủ thể nghĩa vụ (duty - bearers)

có trách nhiệm tôn trọng, bảo vệ và thực hiện quyền con người

Trên phương diện các quan hệ của quyền, quyền con người chính là các “giá trị, tiêu chuẩn hay luật lệ được sự đồng thuận trên bình diện quốc tế, nhằm điều chỉnh hành vi của nhà nước đối với công dân của nó và với những người không phải công dân của nó” Quyền con người là các quyền không thể bị từ chối, rủt bỏ hoặc tùy tiện tước đoạt; nhà nước công nhận, thừa nhận, tái khẳng định nó trong các đạo luật, chứ không tạo ra nó một cách chủ quan, tùy tiện Từ thời kỳ cận đại, tôn trọng, bảo vệ quyền con người đã trở thành nguyên tắc của quyền lực nhà nước và là tiêu chuẩn mới trong đánh giá tính chính danh chính trị Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp (1789) đã ghi nhận: Mục đích của các tổ chức chính trị là gìn giữ các quyền tự nhiên không thể bị tước bỏ của con người; các quyền này bao gồm quyền tự do, quyền

sở hữu, quyền được bảo đảm an ninh và chống áp bức (Điều 2) Từ nửa sau thế kỷ XX, bảo đảm quyền con người được thừa nhận là nghĩa vụ hàng đầu của các quốc gia Tuyên bố Viên và Chương trình hành động (1993) khẳng định: Trách nhiệm của tất cả

Trang 8

các quốc gia, phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc, phải thực hiện và khuyến khích việc tôn trọng các quyền và tự do cơ bản cho mọi người, không phân biệt chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ hay tôn giáo

II KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỂN KINH TẾ, XÃ HỘI VÀ VĂN HOÁ ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ

2.1 Khái niệm quyền kinh tế, xã hội và văn hóa

Quyền con người có nội dung rộng lớn, bao gồm các quyền dân sự, chính trị các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa Là một trong hai nhóm quyền cơ bản của con người, quyền kinh tế, xã hội và văn hóa được ra đời và ghi nhận trong Luật nhân quyền quốc tế trong bối cảnh sau khi kết thúc hai cuộc đại chiến thế giới, nhân loại lâm vào tình trạng mất việc làm và nạn nghèo đói tràn lan Do đó, ngày càng có nhiều người cho rằng con người phải được bảo đảm các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa không chỉ cho chính mình mà còn để duy trì tự do, bảo vệ phẩm giá cá nhân và dân chủ, từ đó chúng ta có thể hiểu khái niệm quyền kinh tế, xã hội và văn hóa như sau:

Quyền kinh tế xã hội và văn hóa là nhu cầu thiết yếu về nhân phẩm và giá trị của con người được pháp luật quốc gia và quốc tế ghi nhận là điều kiện bảo đảm cho

sự tự do và phát triển của con người, bao gồm các quyền sở hữu, quyền có việc làm, quyền được giáo dục, quyền chăm sóc sức khỏe, quyền an sinh xã hội, quyền được duy trì và bảo tồn bản sắc văn hóa

Như vậy, nhóm quyền kinh tế, xã hội và văn hóa hàm chứa trong đó ba nhóm quyền liên kết lại là:

- Nhóm quyền kinh tế (economic rights) bao gồm:

+ Quyền sở hữu

+ Quyền được hưởng và duy trì tiêu chuẩn sống thích đáng + Quyền lao động việc làm - Nhóm quyền xã hội (social rights), nhóm này bao gồm: + Quyền được hưởng an sinh xã hội Quyền được hỗ trợ về gia đình +Quyền được chăm sóc sức khỏe về thể chất và tinh thần - Nhóm quyền văn hóa (cultural rights) nhóm này bao gồm:

+ Quyền giáo dục

+ Quyền được tham gia vào đời sống văn hóa Việc ghi nhận các quyền kinh tế,

xã hội và văn hóa trong luật quốc tế ngay cả trong thời kỳ khủng hoảng, cho thấy sự cần thiết của quyền kinh tế, xã hội và văn hóa đối với tất cả mọi người và đã được ICESCR năm 1966 ghi nhận Việc thừa nhận các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, tồn

Trang 9

tại song song, liên quan mật thiết với các quyền về dân sự, chính trị trong Luật nhân quyền quốc tế là một thành công lớn của các nước theo hệ thống XHCN

Vì vậy, có thể khẳng định các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa gắn liền với tự

do và sự giải phóng con người Điều này được tái khẳng định trong Hội nghị thế giới

về nhân quyền lần thứ II được tổ chức tại Viện (Áo) vào tháng 6 năm 1993 và đã được khẳng định trong Chương trình hành động: "quyền con người là phổ biến, không thể chia cắt, phụ thuộc lẫn nhau và liên quan đến nhau"

Như vậy, việc "chia cắt" hoặc "đối lập" các loại quyền cũng như việc hạ thấp bất cứ loại quyền nào, dù là quyền dân sự, chính trị hay quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, đều là sai lầm, không phản ánh đúng bản chất của QCN Quyền kinh tế, xã hội và văn hóa là một trong hai nhóm quyền cơ bản trong hệ thống QCN, do vậy nó vừa mang những đặc tính chung của QCN mà chúng ta vừa phân tích ở trên và mang những đặc điểm riêng của nhóm quyền này

2.2 Đặc điểm của quyền kinh tế, xã hội và văn hóa

Thứ nhất, tính đặc thù của các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, trước hết do sự phát triển kinh tế không đồng đều giữa các khu vực, các quốc gia và vùng lãnh thổ Do

đó các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa không chỉ được ghi nhận trong các văn kiện nhân quyền quốc tế mà còn được ghi nhận cả trong các văn kiện nhân quyền khu vực như: Hiến chương xã hội châu Âu, Nghị định thư bổ sung Công ước châu Mỹ về QCN trên lĩnh vực quyền kinh tế, xã hội và văn hóa; Hiến chương châu Mỹ về nhân quyền

và quyền dân tộc Trong các văn kiện quốc tế về QCN gần đây nhất như Công ước về quyền trẻ em; Tuyên ngôn về quyền phát triển các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa được quy định song song với các quyền Dân sự, chính trị Điều đó chứng tỏ sự tồn tại khách quan và phổ biến của các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa và càng khẳng định

vị trí vô cùng quan trọng của nó trong hệ thống QCN

Thứ hai, việc thực hiện quyền kinh tế, xã hội và văn hóa trực tiếp gắn liền và phụ thuộc rất nhiều vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội và nguồn lực của mỗi quốc gia thành viên Chẳng hạn, thực hiện quyền không bị tra tấn nhục hình" (nằm trong nhóm quyền dân sự, chính trị) thì không gây ra sự tốn kém nào, trong khi đó, muốn thực hiện các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa như quyền có việc làm, quyền chăm sóc sức khỏe, quyền học tập thì đòi hỏi nhà nước phải có nguồn lực về kinh tế nhất định

để xây dựng trường học, bệnh viện Do vậy sự phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia khác nhau thì mức độ bảo đảm thực hiện các quyền này cũng khác nhau (mang tính chất đặc thù khi thực hiện)

Trang 10

Không thể bảo đảm thực hiện nhóm quyền kinh tế, xã hội và văn hóa khi mà nền kinh tế kém phát triển, thu nhập bình quân đầu người thấp Bởi nhóm quyền kinh

tế, xã hội và văn hóa có liên quan đến việc hoạch định chính sách, pháp luật, các chương trình hành động và nguồn lực của Chính phủ Việc bảo đảm nhóm quyền này đang là một thách thức toàn cầu Vì vậy, ở nước ta hiện nay trong các điều kiện bảo đảm thực hiện quyền kinh tế, xã hội và văn hóa nói chung và đối với người DTTS nói riêng thì yếu tố quyết định là bảo đảm quyền lợi về kinh tế

Thứ ba, nghĩa vụ của các quốc gia thành viên theo ICESCR sẽ bị coi là vị phạm trong các trường hợp sau:

- Không nhanh chóng xóa bỏ các trở ngại với việc bảo đảm các quyền mà theo công ước cần phải xóa bỏ ngay;

- Không tổ chức thực hiện kịp thời các quyền mà công ước yêu cầu phải thực hiện ngay

- Chú ý không bảo đảm các tiêu chuẩn tối thiểu đã được cộng đồng quốc tế chấp thuận trong điều kiện có thể bảo đảm được

- Đưa ra hạn chế với một số quyền được ghi nhận trong công ước mà không phù hợp với quy định của công ước

- Trì hoãn hoặc đình chỉ việc bảo đảm một quyền, trừ khi việc đó phù hợp với những giới hạn cho phép trong công nước hoặc do thiếu nguồn lực

- Không nộp báo cáo quốc gia về thực hiện công ước lên ủy ban giám sát Thứ

tư, về các quyền kinh tế, xã hội và hóa đã xác định vi phạm hoàn toàn có thể được đem

ra xem xét tại các cơ quan tài phán bao gồm: - Sự phân biệt đối xử trong việc hưởng thụ các quyền (Điều 3 ICESCR)

- Vi phạm các nguyên tắc về trả công thích đáng và bình đẳng, đặc biệt là nguyên tắc trả công như nhau cho các công việc như nhau (Điều 7 ICESCR)

- Quyền được thành lập các nghiệp đoàn và quyền được đình công - Việc bảo

vệ trẻ em khỏi bị bóc lột về kinh tế và xã hội - Việc thực hiện giáo dục tiểu học phổ cập miễn phí và bắt buộc (Điều 13K2) - Quyền của các bậc cha mẹ được chọn trường cho con cái họ (Điều 13K3)

Từ sự phân tích trên, cho thấy các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa có những tiêu chí để các cơ quan tài phán có thể xem xét xử lý những vi phạm các quyền này Muốn bảo đảm thực hiện các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, thì các nhà nước và cộng đồng quốc tế cần có những nguồn lực vật chất mà chỉ có thể có được nhờ sự tăng

Ngày đăng: 30/03/2022, 14:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.1995, t.l, 2 Khác
2. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Nghiên cứu quyền con người: Giáo trình Lỷ luận về quyền con người, Nxb.Chính trị - Hành chính, H.2010 Khác
3. Viện Nghiên cứu quyền con người: Tài liệu tham khảo luật quổc tế về quyền con người, Nxb.Lý luận chính trị, H.2005 Khác
4. Wolfgang Benedek (Chủ biên): Tìm hiểu về quyền con người, Nxb.Tư pháp, H.2008 Khác
5. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Trung tâm Nghiên cứu quyền con người: Quyền con người ở Trung Quốc và Việt Nam, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2003 Khác
6. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Giáo trình Lỷ luận và pháp luật về quyền con người (Dùng cho hệ đào tạo Cao cấp lý luận chính trị), Nxb.Lý luận chính trị, H.2021 Khác
7. Ban Chỉ đạo nhân quyền của Chính phủ, Văn phòng Thường trực: Tài liệu tổng kết Chỉ thị sổ 12 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về vấn đề quyền con người và quan điểm, chủ trương của Đảng ta, Nxb.Chính trị - Hành chính, H.2012 Khác
8. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh: Giáo trình Cao cấp lý luận chính trị: Lý luận và Pháp luật về quyền con người, Nxb.Lý luận chính trị, H.2021 Khác
9. Nghị quyết số 88/2019/NQ-QH14 về việc Phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030 Khác
10. Ủy ban Dân tộc, Tổng cục Thống kế: Kết quả điều tra thực trạng kinh tế xã hội 53 dân tộc thiểu số năm 2019, Nxb. Thống kê, 2020 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w