Khái niệm LTM 2005 không định nghĩa thế nào là hợp đồng thương mại nhưng theo Đ.1 và Đ.2 của LTM 2005 nêu phạm vi điều chỉnh và đối tượng điều chỉnh của LTM 2005 có thể định nghĩa : “Hợ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP.HCM
- -
KHOA SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN LUẬT KINH DOANH HỢP ĐỒNG TRONG KINH DOANH THƯƠN G MẠI (HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI)
Trang 2Trong quan hệ giao dịch hàng ngày, ngoài hợp đồng lao động (xác lập trong quan hệ mua bán sức lao động), từ 01/01/2006, khi áp dụng Bộ luật dân sự 2005 và Luật thương mại 2005, các giao dịch khác đươc xếp vào một trong hai loại hợp đồng: hợp
đồng dân sự và hợp đồng trong kinh doanh thương mại (hợp đồng thương mại)
Theo Đ.4 LTM 2005, đối với các hoạt động thương mại đặc thù được qui định trong luật khác thì áp dụng theo qui định của luật đó Trường hợp hoạt động thương mại không được qui định trong Luật thương mại (2005) và trong các luật khác thì áp dụng qui định của Bộ luật dân sự 2005 Hay cụ thể:
Bộ luật Dân sự là luật chung - Luật Thương mại là luật riêng – Các luật chuyên ngành cụ thể như: Đấu thầu, Giao dịch điện tử, Bảo hiểm…
Hoạt động thương mại giữa thương nhân với thương nhân phải áp dụng luật theo thứ tự ưu tiên như sau:
Luật chuyên ngành nếu có luật chuyên ngành điều chỉnh lĩnh vực đó
Luật Thương mại nếu không có luật chuyên ngành hay luật chuyên ngành không có qui định
Ngoài ra, trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có qui định áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế hoặc có qui định khác với qui
định của Luật thương mại (2005) thì áp dụng theo qui định của điều ước quốc tế đó
Các bên trong giao dịch có yếu tố nước ngoài được thỏa thuận áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế nếu pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam (Đ.5 LTM 2005)
1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM
1.1 Khái niệm
LTM 2005 không định nghĩa thế nào là hợp đồng thương mại nhưng theo Đ.1 và
Đ.2 của LTM 2005 (nêu phạm vi điều chỉnh và đối tượng điều chỉnh của LTM 2005)
có thể định nghĩa : “Hợp đồng thương mại là sự thỏa thuận để thực hiện các hoạt động thương mại trên lãnh thổ Việt Nam và hoạt động thương mại ngoài lãnh thổ Việt Nam
Trang 3nếu các bên thỏa thuận áp dụng luật này hoặc luật nước ngoài, điều ước quốc tế mà
Việt Nam là thành viên có qui định áp dụng luật này.”
Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vu, đầu tư, xúc tiến thương mại (gồm hoạt động khuyến mại, quảng cáo thương mại, trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ và hội chợ triển lãm thương mại) và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác Hàng hóa trong hoạt động thương mại gồm tất cả các loại động sản (kể cả động sản hình thành trong tương lai)
và những vật gắn liền với đất đai
Theo Đ.174 BLDS, bất động sản và động sản được phân biệt như sau:
- Bất động sản là các tài sản bao gồm :
a) Đất đai
b) Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó
c) Các tài sản khác gắn liền với đất đai
d) Các tài sản khác do pháp luật qui định
- Động sản là những tài sản không phải là bất động sản
Trang 41.2.3 Hình thức
Theo LTM 2005, HĐTM đươc thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể Trường hợp pháp luật qui định bằng văn bản thì phải tuân theo hình thức lập thành văn bản (Thí dụ: HĐ mua bán hàng hóa quốc tế, HĐ dịch vụ khuyến mại, HĐ dịch vụ quảng cáo thương mại, HĐ dịch vụ trưng bày, giới thiệu hàng hóa, HĐ ủy thác mua bán hàng hóa, HĐ đại lý thương mại, HĐ gia công, …)
Giao dịch thực hiện bằng thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp
dữ liệu cũng được coi là giao dịch văn bản (Đ.124 BLDS) Luật thương mại 2005 cũng xác định các giao dịch qua điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu (thông tin được tạo, gởi, nhận và lưu giữ bằng phương tiện điện tử) có giá trị giống như hình thức ký kết bằng văn bản (Đ.3 LTM 2005)
Bên cạnh đó, Theo Điều 12 Luật GDĐT khẳng định “Thông điệp dữ liệu có giá trị như văn bản” Không chỉ vậy, Điều 13 của Luật còn khẳng định mạnh mẽ hơn nữa:
“Thông điệp dữ liệu có giá trị như bản gốc” Thông điệp dữ liệu có giá trị như bản gốc khi đáp ứng được các điều kiện sau đây:
Nội dung của thông điệp dữ liệu được bảo đảm toàn vẹn kể từ khi được khởi tạo lần đầu tiên dưới dạng một thông điệp dữ liệu hoàn chỉnh Nội dung của thông
điệp dữ liệu được xem là toàn vẹn khi nội dung đó chưa bị thay đổi, trừ những
thay đổi về hình thức phát sinh trong quá trình gửi, lưu trữ hoặc hiển thị thông
2 1 1 Những nguyên tắc cơ bản trong giao kết hợp đồng thương mại
a ) Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của thương nhân trong hoạt động thương mại (Đ.10, LTM)
Thương nhân thuộc mọi thành phần kinh tế bình đẳng trước pháp luật trong hoạt
động thương mại
Trang 5b) Nguyên tắc tự do, tự nguyện thoả thuận trong hoạt động thương mại (Đ.11, LTM)
- Các bên có quyền tự do thoả thuận không trái với các quy định của pháp luật, thuần phong mỹ tục và đạo đức xã hội để xác lập các quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại Nhà nước tôn trọng và bảo hộ các quyền đó
- Trong hoạt động thương mại, các bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được thực hiện hành vi áp đặt, cưỡng ép, đe doạ, ngăn cản bên nào
c ) Nguyên tắc áp dụng thói quen trong hoạt động thương mại được thiết lập giữa các bên ( Đ.12, LTM) – Giải thích thói quen tại Mục 3, Đ.3 LTM
Trừ trường hợp có thoả thuận khác, các bên được coi là mặc nhiên áp dụng thói quen trong hoạt động thương mại đã được thiết lập giữa các bên đó mà các bên đã biết hoặc phải biết nhưng không được trái với quy định của pháp luật
d ) Nguyên tắc áp dụng tập quán trong hoạt động thương mại ( Đ.13, LTM) – Giải thích thói quen tại Mục 4, Đ.3 LTM
Trường hợp pháp luật không có quy định, các bên không có thoả thuận và không
có thói quen đã được thiết lập giữa các bên thì áp dụng tập quán thương mại nhưng không được trái với những nguyên tắc quy định trong Luật này và trong Bộ luật dân
sự
đ ) Nguyên tắc bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng ( Đ.14, LTM)
- Thương nhân thực hiện hoạt động thương mại có nghĩa vụ thông tin đầy đủ, trung thực cho người tiêu dùng về hàng hoá và dịch vụ mà mình kinh doanh và phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của các thông tin đó
- Thương nhân thực hiện hoạt động thương mại phải chịu trách nhiệm về chất lượng, tính hợp pháp của hàng hoá, dịch vụ mà mình kinh doanh
e ) Nguyên tắc thừa nhận giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu trong hoạt động thương mại ( Đ.15, LTM)
Trong hoạt động thương mại, các thông điệp dữ liệu đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật thì được thừa nhận có giá trị pháp lý tương
đương văn bản
2.1.2 Đại diện ký kết
Trang 6- LTM 2005 không qui định về vấn đề này, vì vậy áp dụng theo qui định của BLDS
2005
- Theo qui định của BLDS 2005, thẩm quyền ký kết trong hợp đồng dân sự là Người
đại diện theo pháp luật và Người đại diện theo ủy quyền Người đại diện theo pháp
luật là Người được chọn đứng đầu tổ chức (tuỳ từng loại tổ chức, người đứng đầu tổ chức là người giữ một chức vụ cụ thể trong tổ chức hoặc người được tổ chức lựa chọn
và ghi trong điều lệ của tổ chức) (Đ.141, BLDS) Nguời đại diện theo ủy quyền là người được Người đại diện theo pháp luật ủy quyền để thực hiện giao dịch (Đ.143,
BLDS)
Việc ủy quyền có thể thực hiện bằng hình thức do các bên thỏa thuận trừ trường hợp pháp luật qui định bằng hình thức văn bản Người được ủy quyền được ủy quyền lại cho người thứ ba nếu được người ủy quyền đồng ý (Đ 583 BLDS)
Đối với giao dịch vượt phạm vi ủy quyền, người ủy quyền không chịu trách nhiệm trừ trường hợp người ủy quyền đồng ý hoặc biết mà không phản đối (Đ 146 BLDS)
2.1.3 Thời điểm giao kết
- Theo đ.403 và 404 BLDS, thời điểm giao kết hợp đồng dân sự và hiệu lực hợp đồng
được xác định như sau:
Hợp đồng được giao kết vào thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết
Thời điểm giao kết hợp đồng bằng lời nói là thời điểm các bên đã thỏa thuận về nội dung của hợp đồng
Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản
2.1.4 Thực hiện hợp đồng
Việc thực hiện hợp đồng phải tuân theo các nguyên tắc sau đây :
Thực hiện đúng hợp đồng, đúng đối tượng, chất lượng, số lượng, chủng lọai, thời hạn, phương thức và các thỏa thuận khác
Thực hiện một cách trung thực theo tinh thần hợp tác và có lợi nhất cho các bên, bảo đảm tin cậy lẫn nhau
2.1.5 Sửa đổi hợp đồng
Trang 7Các bên có thể thỏa thuận sửa đổi hợp đồng và giải quyết hậu quả của việc sửa
đổi, trừ trường hợp pháp luật có qui định khác
Trường hợp hợp đồng được lập thành văn bản, được công chứng, chứng thực,
đăng ký hoặc cho phép thì việc sửa đổi hợp đồng cũng phải tuân theo hình thức đó
2.1.6 Chấm dứt hợp đồng
- Theo Đ.424 BLDS, hợp đồng dân sự chấm dứt trong những trường hợp sau:
+ Hợp đồng đã được hoàn thành
+ Theo thỏa thuận của các bên
+ Cá nhân giao kết hợp đồng chết, pháp nhân hoặc chủ thể khác chấm dứt mà hợp
đồng phải do chính cá nhân, pháp nhân hoặc chủ thể đó thực hiện
+ Hợp đồng bị hủy bỏ, bị đơn phương chấm dứt thực hiện
+ Hợp đồng không thể thực hiện được do đối tượng của hợp đồng không còn và các bên có thể thỏa thuận thay thế đối tượng khác hoặc bồi thường thiệt hại + Các trường hợp khác do pháp luật qui định
- Luật thương mai 2005 không qui định về việc chấm dứt hợp đồng nên áp dụng theo qui định của BLDS
VD: Ông A là PGĐ đại diện cho công ty TNHH SX rau quả ký hợp đồng cung ứng rau quả với GĐ Siêu Thị Big C Để việc ký kết này là hợp pháp, ông A phải có giấy ủy quyền của GĐ cty rau quả với nội dung cho phép ông A có quyền ký kết hợp đồng này hoặc các loại hợp đồng tương tự trong khoảng thời gian phù hợp Các chi tiết của giấy
ủy quyền này (Số, ngày, thời hạn hiệu lực…) phải được thể hiện rõ trong hợp đồng
• Phần nội dung của HĐ
Ghi các thỏa thuận liên quan đến giao dịch Tùy từng loại hợp đồng, các bên thể hiện các thỏa thuận có liên quan Một số nội dung của hợp đồng, nếu pháp luật có qui
định thì trong hợp đồng không được thỏa thuận khác (thí dụ về thời điểm chuyển
Trang 8quyền sở hữu tài sản, trách nhiệm của các bên) Trường hợp pháp luật không qui định hoặc cho phép các bên có quyền thỏa thuận khác thì dựa trên ý chí của mình, các bên thỏa thuận các nội dung có liên quan
2.2.1 Các thỏa thuận chính trong hợp đồng
LTM 2005 không nêu các nội dung cần có trong hợp đồng (tuỳ thuộc thoả thuận của các bên), BLDS 2005 (đ.402) gợi ý các nội dung chính gồm :
- Đối tượng hợp đồng
- Số lượng, chất lượng
- Giá , phương thức thanh toán
- Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện HĐ
- Quyền và nghĩa vụ các bên
- Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng
- Phạt vi phạm hợp đồng
- Các điều khoản khác (điều kiện nghiệm thu, giao nhận, bảo hành, các trường hợp giảm, miễn trách nhiệm, các trở ngại phát sinh và cách giải quyết,…)
2.2.2 Văn bản thỏa thuận khác kèm theo HĐ (phụ lục hợp đồng)
Luật Thương Mại 2005 không qui định các văn bản thỏa thuận khác kèm theo hợp
đồng nhưng BLDS 2005 (đ.408) có nêu văn bản thỏa thuận kèm hợp đồng là “Phụ lục
hợp đồng”
Nội dung phụ lục hợp đồng nhằm chi tiết một số điều khoản của hợp đồng Phụ lục hợp đồng có hiệu lực như hợp đồng
Trường hợp phụ lục có điều khoản trái với nội dung của điều khoản trong hợp
đồng thì điều khoản này không có hiệu lực, trừ trường hợp có thỏa thuận khác Nếu
các bên chấp nhận phụ lục hợp đồng có điều khoản trái với điều khoản trong HĐ thì coi như điều khoản đó trong HĐ đã được sửa đổi
Khi sọan thảo hợp đồng và các phụ lục, cần lưu ý các vấn đề sau :
- Ngôn ngữ trong hợp đồng phải chính xác, cụ thể, đơn nghĩa
- Sử dụng từ thông dụng, phổ biến, tránh dùng các phương ngữ (tiếng địa phương ) hoặc tiếng lóng VD: Trong hợp đồng mua bán chén sứ, không được dùng tiếng địa phương tại một số vùng ở Hà Tĩnh là “đọi” Tránh dùng từ xác định số lượng là “tá”,
vì từ này, tùy từng vùng, có thể có nghĩa tương đương là 12,14,16 đơn vị
Trang 9- Không dùng những chữ thừa, tùy tiện ghép chữ trong hợp đồng
2.3 Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ hợp đồng
Việc xác lập và thực hiện các giao dịch dân sự nói chung cũng như cũng như các hợp đồng thương mại nói riêng trước hết là sự tự giác của các bên Nhưng thực tế, con người có rất nhiều ham muốn, họ luôn tìm sự thoả mãn các ham muốn đó sao cho mình có lợi nhất, thực hiện ít nghĩa vụ mà lại có nhiều quyền lợi nhất Vì vậy, trong giao kết và thực hiện các giao dịch, hợp đồng không phải ai tham gia cũng đều có thiện chí trong việc thực hiện nghiêm chỉnh các nghĩa vụ của mình
Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi của người có quyền nếu người vi phạm nghĩa vụ không có khả năng tài sản để thực hiện nghĩa vụ và tạo cho người có quyền trong các quan hệ nghĩa vụ có thế chủ động trong thực tế hưởng quyền dân sự, các chế định bảo
đảm ra đời
Theo BLDS 2005, các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ gồm : thế chấp, cầm
cố, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lãnh, tín chấp Các qui định này cũng được áp dụng trong hoạt động thương mại
Trong đó, bảo lãnh và tín chấp thuộc loại hình bảo đảm đối nhân, không có chỉ định vật cụ thể đảm bảo, còn các hình thức còn lại là loại hình bảo đảm đối vật, nghĩa là phải có vật đảm bảo
Theo điều 320 BLDS, vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm và được phép giao dịch
2.3.1 Thế chấp tài sản (đ.342, 343 BLDS)
Thế chấp tài sản là việc một bên (gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đối với bên kia (gọi là bên nhận thế chấp) và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp mà do bên thế chấp giữ hoặc thỏa thuận giao cho người thứ ba giữ
VD: Thế chấp nhà để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho chủ nợ
Tiêu chí quan trọng để phân biệt thế chấp với cầm cố và các loại hình bảo đảm đối vật khác là không có sự chuyển giao tài sản dùng để bảo đảm cho bên có quyền, không phân biệt tài sản đó là động sản hay bất động sản
Trường hợp thế chấp tòan bộ bất động sản, động sản có vật phụ thì vật phụ của bất động sản, động sản đó cũng thuộc tài sản thế chấp Trường hợp thế chấp một phần
Trang 10bất động sản, động sản có vật phụ thì vật phụ thuộc tài sản thế chấp trừ trường hợp các
bên có thỏa thuận khác VD: Miếng đất thế chấp có 1 cây lim quý, thì cây lim đó cũng thuộc tài sản thế chấp
Tài sản thế chấp cũng có thể là tài sản hình thành trong tương lai VD: thế chấp khoản vay bằng căn hộ chung cư chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu Tài
sản đang cho thuê cũng có thể được dùng để thế chấp Hoa lợi, lợi tức thu được từ việc cho thuê tài sản thuộc tài sản thế chấp, nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có qui định Trường hợp thế chấp nhiều tài sản để bảo đảm thực hiện một nghĩa vụ dân sự thì mỗi tài sản được xác định bảo đảm thực hiện toàn bộ nghĩa vụ Các bên cũng có thể thỏa thuận mỗi tài sản bảo đảm thực hiện một phần nghĩa vụ
Việc thế chấp tài sản phải được lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính Trong trường hợp pháp luật có qui định thì văn bản thế chấp phải được công chứng, chứng thực hoặc đăng ký
Thời hạn thế chấp do các bên thỏa thuận; nếu không có thỏa thuận thì việc thế chấp có thời hạn cho đến khi chấm dứt nghĩa vụ được bảo đảm bằng thế chấp
Việc thế chấp tài sản chấm dứt trong các trường hợp sau :
- Nghĩa vụ được bảo đảm bằng thế chấp chấm dứt
- Việc thế chấp tài sản được hủy bỏ hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác
Trang 112.3.3 Bảo lãnh (đ.361, 362, 363 BLDS)
Bảo lãnh là việc người thứ ba (gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (gọi
là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện thay cho bên có nghĩa vụ (gọi là bên được bảo lãnh) nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ Các bên cũng có thể thỏa thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình
VD: B bảo lãnh cho A ký hợp đồng với C, Theo đó A có nghĩa vụ phải chuyển giao cho C 500 triệu đồng, sau khi C bàn giao công việc và yêu cầu A thanh toán khoản tiền trên thì A không có khả năng thanh toán Lúc này phát sinh nghĩa vụ của B trong việc trả cho C 500 triệu đồng (nghĩa vụ bảo lãnh)
Có thể thấy quan hệ bảo lãnh là quan hệ đảm bảo thực hiện nghĩa vụ không có chỉ
định tài sản cụ thể đảm bảo, mà biện pháp đảm bảo chính là thực hiện nghĩa vụ thay
cho bên được đảm bảo
Việc bảo lãnh phải được lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính Trong trường hợp pháp luật có qui định thì văn bản bảo lãnh phải được công chứng, chứng thực
Bên bảo lãnh có thể cam kết bảo lãnh một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ cho bên
được bảo lãnh Nghĩa vụ bảo lãnh bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc, tiền phạt, tiền bồi
thường thiệt hại trừ trường hợp có thỏa thuận khác
2.3.4 Đặt cọc
Đặt cọc là việc một bên giao cho bên kia một khoản tiền hoặc kim khí quí, đá quí
hoặc vật có giá trị khác trong một thời gian để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp
đồng
Ví dụ : Khi ta mua 1 lô hàng kim khí điện máy lớn, chúng ta chưa có đủ tiền và cần thời gian để gom tiền, chúng ta lại muốn giữ để người chủ lô hàng không bán cho người khác, ngược lại, người chủ lô hàng cũng muốn chúng ta giữ lời và phải thực hiện hợp đồng mua bán Bên mua sẽ đặt lại 1 khoản tiền để giữ lại lô hàng Số tiền này gọi là tiền đặt cọc
Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc
Trang 12giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc trừ trường hợp có thỏa thuận khác
Có thể thấy cách thức xử lý tài sản đặt cọc là tiêu chí quan trọng để phân biệt đặt cọc với các hình thức đảm bảo đối vật khác
Việc đặt cọc phải được lập thành văn bản
2.3.5 Ký cược
Ký cược là việc bên thuê tài sản là động sản, giao cho bên cho thuê một khoản tiền hoặc kim khí quí, đá quí hoặc vật có giá trị khác trong một thời gian để bảo đảm việc trả lại tài sản thuê
Ví dụ : Khi chúng ta đi mua 1 bình ga du lịch, hay 1 thùng bia chai, nếu chúng
ta không có vỏ bình ga, hoặc vỏ bia Chủ cửa hàng thường bắt chúng ta đặt cược lại tiền vỏ Số tiền cược vỏ do chủ quán qui định Số tiền này sẽ được giữ lại để đảm bảo việc người mua, sẽ phải hoàn trả lại số vỏ kia Số tiền này được gọi là tiền kí cược Trường hợp tài sản thuê được trả lại thì bên thuê được nhận lại tài sản ký cược sau khi trừ tiền thuê; nếu bên thuê không trả lại tài sản thuê thì bên cho thuê có quyền đòi lại tài sản thuê; nếu tài sản thuê không còn để trả lại thì tài sản ký cược thuộc về bên kia
2.3.6 Ký quỹ
Ký quỹ là việc bên có nghĩa vụ gởi một khoản tiền hoặc kim khí quí, đá quí hoặc giấy tờ có giá khác vào tài khoản phong tỏa tại một ngân hàng để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ
Tiêu chí quan trọng để phân biệt ký quỹ với các loại hình bảo đảm đối vật khác là tài sản đảm bảo được giữ bởi ngân hàng
Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên có quyền được ngân hàng nơi ký quỹ thanh toán, bồi thường thiệt hại do bên có nghĩa vụ gây ra sau khi trừ chi phí dịch vụ ngân hàng Thủ tục gởi và thanh toán do pháp luật về ngân hàng qui định
Ví dụ: trong hoạt động đưa người đi xuất khẩu lao động tại nước ngoài doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người đi lao động tại nước ngoài phải thực hiện việc ký