Nâng cao chất lượng bảo đảm trong hoạt động cho vay tại chi nhánh Ngân Hàng Công Thương Thái Nguyên
Trang 1
TIỂU LUẬN:
Nâng cao chất lượng bảo đảm trong hoạt động cho vay tại chi nhánh Ngân Hàng Công Thương
Thái Nguyên
Trang 2
LỜI MỞ ĐẦU
Năm 2007 là năm đã đánh dấu sự thành công rực rỡ của nền kinh tế Việt Nam với tốc độ tăng trưởng kinh tế 8,5% Trong sự thành công đó có sự đóng góp không nhỏ của hệ thống Ngân Hàng Thương Mại
Mặc dù các NHTM nhà nước đang gặp khó khăn do sự lớn mạnh của các NHTM cổ phần hiện nay, tuy nhiên đây vẫn là năm thành công của khối NHTM Nhà nước Họ liên tục tăng vốn điều lệ, lợi nhuận tăng cao, đầu tư vào các công nghệ hiện đại, các dịch vụ đa dạng nhằm thu hút khách hàng
Với sự lớn mạnh của nền kinh tế như hiện nay thì nhu cầu vốn của các doanh nghiệp cũng như các tổ chức kinh tế để thực hiện các dự án đầu tư, mở rộng quy
mô sản xuất kinh doanh là rất lớn và giải pháp tối ưu của họ là tìm đến ngân hàng
để vay vốn Để đảm bảo an toàn cho những khoản cho vay của mình các NHTM thường yêu cầu khách hàng đi vay phải có tài sản bảo đảm(TSBĐ) cho khoản vay
đó nhằm hạn chế rủi ro mất vốn có thể xảy ra
Tài sản bảo đảm là nguồn thu nợ thứ hai của các NHTM khi khách hàng do nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan nào đó mà không có khả năng trả nợ Vì vậy mà việc thẩm định, quản lý TSBĐ là vô cùng quan trọng đối với ngân hàng Ngân hàng cần phải nâng cao chất lượng bảo đảm tài sản
Xuất phát từ việc nhận thấy được tầm quan trọng của TSBĐ trong hoạt động cho vay của NHTM nên trong quá trình thực tập tại chi nhánh NHCT Thái Nguyên,
em đã chọn đề tài : “Nâng cao chất lượng bảo đảm trong hoạt động cho vay tại chi nhánh Ngân Hàng Công Thương Thái Nguyên ’’ để làm bài chuyên đề thực
tập
Với chuyên đề này em xin đưa ra những nhận định tổng quát và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng bảo đảm trong hoạt động cho vay tại Chi Nhánh NHCT Thái Nguyên Bài viết của em được chia thành ba chương như sau :
Trang 3CHƯƠNG 3 : Giải pháp nâng cao chất lượng bảo đảm bằng tài sản trong hoạt
động cho vay tại chi nhánh NHCT Thái Nguyên
Trang 4
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BẢO ĐẢM TRONG HOẠT ĐỘNG CHO
VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 NHTM và hoạt động của NHTM
1.1.1 Khái niệm NHTM
NHTM là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận , góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của Nhà nước Hoạt động ngân hàng gồm các hoạt động như : huy động vốn, hoạt động tín dụng, dịch vụ thanh toán, ngân quỹ và các hoạt động khác
1.1.2 Hoạt động chủ yếu của ngân hàng
1.1.2.1 Hoạt động huy động vốn
Ngân hàng muốn dễ dàng tìm kiếm nguồn vốn thì trước hết phải đa dạng hoá hình thức huy động Hình thức huy động càng phong phú thì ngân hàng càng dễ huy động hơn NHTM có thể huy động bằng cách huy động tiền gửi tiết kiệm trong đó đưa ra nhiều thời hạn khác nhau cho các loại tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn, tiền gửi không kỳ hạn của các tổ chức, cá nhân; huy động bằng cách phát hành kỳ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác; các hình thức huy động vốn khác theo quy định của NHNN Cụ thể như :
Hoạt động huy động tiền gửi không kỳ hạn : đây là loại tiền gửi mà chủ nhân của nó có thể rút tiền hoặc trả cho bên thứ ba bằng cách phát hành séc Vì vậy mà nó còn có tên tiền gửi có thể phát hành séc Ở Việt Nam tiền gửi này được thể hiện dưới hình thức tài khoản tiền gửi không kỳ hạn của các tổ chức kinh tế và tài khoản tiền gửi các nhân Do tỷ trọng thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam còn thấp nên để khuyến khích việc thanh toán quan ngân hàng các NHTM đã tiến hành trả lãi cho loại tiền gửi này Tuy nhiên lãi suất của loại tiền gửi này thấp
Trang 5
Huy động tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm: Đối với tiền gửi có kỳ hạn thì lãi suất có thể cố định hoặc linh hoạt tuỳ theo sự lựa chọn của khách hàng Đối với tiền gửi tiết kiệm gồm có tiền gửi tiết kiệm không
kỳ hạn, có kỳ hạn và tiết kiệm dài hạn Ở Việt Nam chủ yếu là loại hình tiết kiệm có kỳ hạn: 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 7 tháng, 9 tháng, 12 tháng…
Huy động qua phát hành trái phiếu, kỳ phiếu và các giấy tờ có giá khác: đây là các công cụ vay nợ dài hạn trên thị trường vốn dưới hình thức giậy nhận nợ do các tổ chức tín dụng phát hành để huy động trong đó cam kết trả gốc và lãi sau một thời gian nhất định cho người mua Hình thức này giúp các NHTM chủ động trong việc huy động vốn để thực hiện các dẹ án đầu tư dài hạn, nó có tính ốn định cao về thời gian sử dụng và lãi suất Đây là một cách tạo vốn nhanh chóng
Huy động qua việc đi vay như vay ngân hàng nhà nước thường là vay tái chiết khấu, đây là sân sau đối với hoạt động huy động vốn nhằm gia tăng vốn khả dụng trong kinh doang của NHTM; vay các tổ chức tín dụng khác đó là khoản vay thông thường mà các NHTM vay lẫn nhau trên thị trường liên ngân hàng hay thị trường tiền tệ
Trang 6
Một số hoạt động tín dụng của NHTM như: cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn; chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá khác; bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán…Cụ thể như sau:
NHTM được cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước
NHTM cho các tổ chức, các nhân vay vốn dưới các hình thức: Cho vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống Cho vay trung hạn và dài hạn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống
NHTM còn tiến hành các hình thức chiết khấu thương phiếu và các giấy
tờ có giá ngắn hạn khác cho các tổ chức, cá nhân Tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với các tổ chức tín dụng khác
Trong quá trình cho vay các NHTM cần xét duyệt việc cho vay theo một quy trình nhất định: lập hợp đồng tín dụng, thẩm định khách hàng vay vốn, ra quyết định tín dụng, tiến hành giải ngân, giám sát quá trình thực hiện hợp đồng, thu nợ và xử lý nợ
Quá trình thẩm định khách hàng vay vốn ngân hàng sẽ tiến hành yêu cầu khách hàng công khai tình hình tài chính của mình, trình bày phương án,
dự án đầu tư và thu hồi nợ trước hạn khi phát hiện khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm hợp đồng tín dụng
NHTM phải tuân thủ các quy định về bảo đảm tiền vay, chính sách lãi suất, có quyền xử lý tài sản đảm bảo tiền vay của khách hàng vay, tài sản của người bảo lãnh trong việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh để thu hồi nợ theo quy định tại Nghị định của Chính phủ về bảo đảm tiền vay của các
tổ chức tín dụng
Trang 7
Mức cho vay, bảo lãnh đối với một hách hàng và tổng mức cho vay, bảo lãnh của một NHTM không được vượt quá tỷ lệ so với vốn tự có của NHTM do NHNN quy định
1.1.2.3 Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ
Hoạt động thanh toán và ngân quỹ phản ánh quá trình sử dụng vốn vào các mục
đích nhằm bảo đảm an toàn về khả năng thanh toán và thực hiện quy định về dự trữ bắt buộc do ngân hàng nhà nước quy định Các dịch vụ đó như:
Đối với dịch vụ ngân quỹ thì NHTM phải mở tài khoản tiền gửi tại NHNN nơi NHTM đặt trụ sở chính và duy trì tại đó số dư tiền gửi dự trữ bắt buộc theo quy định; được mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng khác theo quy định của NHNN
Các dịch vụ thanh toán của NHTM gồm có: Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước và các dịch vụ thanh toán khác theo quy định của NHNN cho khách hàng , các dịch vụ thanh toán quốc tế, dịch vụ thu hộ và chi hộ, thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống liên ngân hàng trong nước ngoài ra NHTM còn cung ứng các phương tiện thanh toán nhằm đa dạng hoá thu hút khách hàng
1.1.2.4 Các hoạt động khác
Ngoài các hoạt động trên, NHTM còn có một số hoạt động khác như :
NHTM được dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ để góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp và của các tổ chức tín dụng khác trong nước theo quy định của pháp luật Mức góp vốn, mua cổ phần của NHTM trong một doanh nghiệp, tổng mức góp vốn, mua cổ phần của NHTM trong tất cả các doanh nghiệp không được vượt quá mức tối đa theo quy định của NHNN
NHTM được tham gia thị trường tiền tệ theo quy định của NHNN
Trang 8
NHTM được quyền uỷ thác, nhận uỷ thác, làm đại lý trong các lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng kể cả việc quản lý tài sản, vốn đầu tư của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo hợp đồng uỷ thác, đại lý
NHTM được cung ứng dịch vụ bảo hiểm, được thành lập công ty trực thuộc hoặc liên doanh để kinh doanh bảo hiểm theo quy định của pháp luật
NHTM được cung ứng các dịch vụ :Tư vấn tài chính, tiền tệ cho khách hàng dưới hình thức trực tiếp tư vấn cho khách hàng hoặc thành lập công ty trực thuộc theo quy định của pháp luật; bảo quản hiện vật quý, giấy tờ có giá, chi thuê tủ két, cầm đồ và các dịch vụ khác theo quy định của pháp luật
NHTM không được trực tiếp kinh doanh bất động sản
1.2 Tổng quan về bảo đảm trong hoạt động cho vay của NHTM
1.2.1 Nguyên nhân hình thành yêu cầu bảo đảm trong hoạt động cho vay của
NHTM
Trong cho vay kinh doanh, nguồn thu nợ thứ nhất từ doanh tu thực tế đối với cho vay ngắn hạn; từ khấu hao và lợi nhuận đối với cho vay trung và dài hạn Trong cho vay tiêu dùng nguồn thu nợ thứ nhất từ thu nhập cá nhân như tiền lương, các khoản thu nhập tài chính (lãi tiền gửi, cổ tức, trái tức) và các khoản thu nhập khác Các nguồn thu nợ thứ nhất này thể hiện dưới hình thức lưu chuyển tiền tệ của người đi vay Trong hoạt động kinh doanh có muôn ngàn lý do dẫn đến nguồn thu nợ thứ nhất không thực hiện được, nếu không có một nguồn bổ sung tất yếu ngân hàng sẽ gặp rủi ro tín dụng
Vì vậy, để bảo vệ lợi ích của mình các ngân hàng thường yêu cầu người đi vay phải có các bảo đảm cần thiết, ngoại trừ những khách hàng hoạt động tốt và có quan hệ tín dụng thường xuyên Nguồn thu nợ thứ hai chính là đảm bảo nợ vay,
nó giúp ngân hàng phòng ngừa được những diễn biến không thuận lợi trong quá trình kinh doanh
Trang 9
1.2.2 Khái niệm bảo đảm tiền vay
Bảo đảm tiền vay (hay còn gọi là bảo đảm tín dụng) là việc bảo vệ quyền lợi của
người cho vay dựa trên cơ sở thế, cầm cố tài sản thuộc sở hữu của người đi vay hoặc bảo lãnh của bên thứ ba Nhằm tạo cơ sở pháp lý và kinh tế để thu hồi được các khoản nợ đã cho khách hàng vay, lãi vay và các khoản phí nếu có
1.2.3 Các đặc trưng của bảo đảm tiền vay
Xét một cách khái quát thù bất kỳ tài sản hoặc quyền về tài sản được phép giao dịch mà có khả năng tạo ra lưu chuyển tiền tệ đều có thể dùng làm bảo đảm Tuy nhiên từ góc độ của người cho vay bảo đảm phải thể hiện được ba đặc trưng cơ bản sau :
1.2.3.1 Giá trị của bảo đảm phải lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm
Bảo đảm tiền vay không chỉ là nguồn thu nợ của ngân hàng mà còn có nghĩa vụ thúc dục người đi vay phải trả nợ, nếu không họ sẽ mất tài sản Nhưng nếu giá trị của tài sản nhỏ hơn nghĩa vụ được bảo đảm thì người đi vay dễ có động cơ không trả nợ
Nghĩa vụ được bảo đảm bao gồm vốn gốc, lãi (kể cả lãi quá hạn) và các chi phí khác trừ trường hợp các bên có thoả thuận lãi và các loại phí không thuộc phạm
vi bảo đảm được thực hiện nghĩa vụ
Thường thì giá trị của khoản cho vay tối đa bằng 70% so với giá trị của tài sản bảo đảm, tuy nhiên trong những trường hợp nhất định các ngân hàng sẽ có tỷ lệ quy định nhất định đối với từng loại tài sản
1.2.3.2 Tài sản phải có sẵn thị trường tiêu thụ
Đây là điều kiện để ngân hàng có thể bán hoặc phát mại tài sản khi khách hàng không trả được nợ.Mức độ thanh khoản của tài sản có quan hệ đến lợi ích của người cho vay Mức độ thanh khoản thấp hay nói cách khác là tài sản khó bán thường khó được ngân hàng chấp nhận Mức độ thanh khoản có thể chấp nhận được nhưng phải tính đến chi phí do kéo dài thời gian xử lý Vì vậy, khi xem xét
Trang 10
tài sản bảo đảm có thoả mãn nguyên tắc này hay không phải trả lời được các câu hỏi như : Tài sản có tuân theo quy định pháp luật không?
Trên thị trường hiện tại có tài sản đó không?
Tài sản đó có thể bán được dễ dàng hay không? Chi phí cho việc bán tài sản đó như thế nào?
Biến động giá của tài sản đó cao hay thấp?
1.2.3.3 Có đầy đủ cơ sở pháp lý để người cho vay có quyền ưu tiên về xử lý tài
sản
Đặc trưng này phải thể hiện được các mặt sau : tài sản phải thuộc sở hữu hợp pháp của nguời đi vay hoặc người bảo lãnh và được pháp luật cho phép giao dịch, đồng thời phải có đủ các cơ sở pháp lý để ngân hàng - chủ thể cho vay được quyền ưu tiên xử lý tài sản nhằm thu nợ khi người đi vay không thanh toán đúng hạn
1.2.4 Các nguyên tắc của bảo đảm tiền vay
Khách hàng vay phải cầm cố, thế chấp tài sản (gồm cả tài sản hình thành từ vốn vay) hoặc phải được bên thứ ba cầm cố, thế chấp tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng, trừ trường hợp khách hàng vay được ngân hàng cho vay có bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay hoặc cho vay không có
bảo đảm bằng tài sản theo quy định của Nghị định số 181/NĐ-CP về vấn đề bảo
đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng
Ngân hàng và khách hàng vay thoả thuận lựa chọn áp dụng biện pháp bảo đảm tài sản bằng cầm cố, thế chấp của khách hàng vay và/hoặc của bên thứ ba
Ngân hàng có quyền lựa chọn tài sản đủ điều kiện để làm bảo đảm tiền vay; lựa chọn bên thứ ba cầm cố, thế chấp tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho khách hàng vay Trường hợp bên bảo đảm là cá nhân, tổ chức nước ngoài thì ngân hàng được nhận bảo đảm đối với tài sản hợp pháp, hợp lệ ở Việt Nam Đối với tài sản đủ điều kiện làm bảo đảm tiền vay nhưng đang được bên bảo đảm cho
Trang 11
thuê; ngân hàng chỉ được nhận thế chấp khi đảm bảo xử lý được tài sản cho thuê trong trường hợp xử lý để thu hồi nợ; hợp đồng thuê tài sản giữa bên cho thuê và bên thuê có điều khoản quy định: Bên cho thuê phải giao tài sản cho ngân hàng
và hợp đồng thuê tài sản sẽ chấm dứt (kể cả trường họp hợp đồng cho thuê chưa hết hiệu lực) nếu tài sản cho thuê bị ngân hàng xử lý để thu hồi nợ Khi thế chấp tài sản gắn liền với đất, khách hàng vay phải thế chấp cả giá trị quyền sử dụng đất cùng với tài sản đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác
Sau khi xử lý tài sản, nếu khách hàng vay, bên vay, bên bảo lãnh vẫn chưa thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ / trả thay thì khách hàng vay, bên bảo lãnh có trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ / trả thay đã cam kết
Trường hợp giao dịch bảo đảm tiền vay bị coi là vô hiệu từng phần hay toàn bộ thì không ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng tín dụng mà giao dịch bảo đảm
đó là một điều kiện
1.2.5 Các hình thức bảo đảm trong hoạt động cho vay của NHTM
1.2.5.1 Bảo đảm tiền vay bằng tài sản
Khái niệm : Bảo đảm tiền vay bằng tài sản là việc cho vay của ngân hàng cho
vay theo đó nghĩa vụ trả nợ của khách hàng vay được bảo đảm thực hiện bằng tài sản của bên cầm cố, bên thế chấp, tài sản hình thành từ vốn vay của khách hàng vay hoặc của bảo lãnh của bên thứ ba
Tài sản đảm bảo tiền vay là tài sản được dùng để bảo đảm thực
hiện nghĩa vụ trả nợ gồm tài sản thuộc quyền sở hữu, giá trị quyền sử dụng đất của bên cầm cố, bên thế chấp
Bảo đảm tiền vay có các hình thức sau : cầm cố, thế chấp bằng tài sản của khách hàng vay, bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba
1.2.5.2 Bảo đảm tiền vay không bằng tài sản
Ngân hàng chủ động lựa chọn khách hàng vay để cho vay không có bảo đảm bằng tài sản nếu đáp ứng đủ các điều kiện để cho vay không có bảo đảm bằng tài
Trang 12
sản như : điều kiện cho vay, mức cho vay và thẩm quyền quyết định cho vay không có bảo đảm bằng tài sản được quy định tại các văn bản quy định cho vay hiện hành của các NHTM
Trường hợp cho vay không có bảo đảm bằng tài sản đối với khách hàng vay để thực hiện các dự án đầu tư thuộc chương trình kinh tế đặc biệt, chương trình kinh
tế trọng điểm của Nhà nước, chương trình KT-XH và đối với một số khách hàng thuộc đối tượng đang được hưởng các chính sách tín dụng ưu đãi về điều kiện vốn vay theo quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ hoặc của Thủ Tướng Chính phủ thì ngân hàng hực hiện theo các quy định cho vay và hướng dẫn hiện hành của NHTM
Các biện pháp bảo đảm tiền vay trong trường hợp không có TSBĐ gồm có bảo lãnh của Chính Phủ, bảo lãnh bằng tín chấp của tổ chức chính trị - xã hội
1.3 Bảo đảm bằng tài sản trong hoạt động cho vay của NHTM
1.3.1 Khái niệm bảo đảm bằng tài sản
Bảo đảm bằng tài sản là việc ngân hàng cho khách hàng vay với điều kiện
khách hàng phải có tài sản để làm đảm bảo rằng nếu khách hàng không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng sẽ có quyền xử lý tài sản ấy để thu hồi nợ Đối với cho vay có bảo đảm NHTM cần quan tâm tới biện pháp bảo đảm tiền vay, loại tài sản bảo đảm, giá trị TSBĐ cho hoạt động tín dụng, mức độ biến động của tài sản bảo đảm tiền vay trong thời gian vay vốn
1.3.2 Các hình thức của bảo đảm bằng tài sản
1.3.2.1 Cầm cố bằng tài sản của khách hàng vay vốn
Khái niệm : Cầm cố tài sản là hình thức theo đó khách hàng vay, bên thứ ba (bên
cầm cố) chuyển quyền kiểm soát tài sản bảo đảm sang cho ngân hàng cho vay trong thời gian cam kết để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ
Tài sản cầm cố là động sản do cầm cố thích hợp với những tài sản ngân hàng có thể kiểm soát và bảo quản tương đối chắc chắn, đồng thời việc ngân hàng nắm
Trang 13
giữ không ảnh hưởng đến quá trình hoạt động của khách hàng Các tài sản này gọn nhẹ, dễ quản lý, không chịu ảnh hưởng của các yếu tố môi trường tự nhiên Đối với hàng hoá ngân hàng thường chấp nhận các loại ít chịu tác động của môi trường trong thời gian cầm cố
Các tài sản có thể được cầm cố như :
Tài sản thực như xe cộ, máy móc, hàng hoá, vàng, tàu biển, máy bay…
Tiền gồm tiền mặt, tiền trên tài khoản
Giấy tờ có giá như cổ phiếu, trái phiếu, hối phiếu…
Quyền tài sản phát sinh từ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đòi nợ, quyền được nhận số tiền bảo hiểm…
Lợi tức và các quyền phát sinh từ tài sản cầm cố
Ngân hàng yêu cầu cầm cố khi xét thấy việc khách hàng nắm giữ tài sản bảo đảm
là không an toàn cho ngân hàng Thường đó là các tài sản mà khách hàng dễ bán,
dễ chuyển nhượng
Khi tài trợ dựa trên bảo đảm bằng cầm cố, ngân hàng kiểm tra tính hợp pháp, hợp
lệ, an toàn của vật cầm cố như quyền sở hữu của khách hàng, khả năng chi trả của người cam kết đối với vật cầm cố, giá trị thị trường khi phát mại…Ngân hàng cùng với khách hàng định giá vật cầm cố, kí hợp đồng cầm cố, quy định quyền và nghĩa vụ đối với các bảo đảm cầm cố như chuyển giao vật cầm cố, nghĩa vụ của ngân hàng trong việc quản lý, giữ gìn vật cầm cố, quyền của ngân hàng phát mại vật cầm cố khi khách hàng vi phạm các cam kết trong hợp đồng tài trợ…
Có nhiều hình thức cầm cố bằng tài sản của khách hàng vay, tuy nhiên sau đây
em chỉ nêu ra một số hình thức cho vay cầm cố bằng tài sản chủ yếu như :
Cho vay cầm cố bằng chứng khoán: là hình thức cho vay mà khách hàng có thể dùng một hay nhiều chứng khoán để bảo đảm cho một khoản nợ Các loại chứng khoán mà ngân hàng có thể nhận để cầm cố cho một khoản nợ là: Công trái nhà nước phát hành để vay vốn, trái phiếu do các công ty xí
Trang 14
nghiệp phát hành để vay nợ dài hạn, tín phiếu kho bạc, cổ phiếu do các công ty cổ phần phát hành khi thành lập hoặc tăng vốn Những chứng khoán mà ngân hàng nhận cầm cố là những chứng khoán có thể lưu thông
tự do được và giá cả tương đối ổn định
Cho vay cầm cố bằng thương phiếu: Thương phiếu là giấy nợ được lập trên
cơ sở quan hệ thương mại Khả năng thanh toán của thương phiếu rất lớn bởi vì ngoài yếu tố thương phiếu được bảo đảm bằng một lượng ở người mua còn có một yếu tố khác là theo luật định tất cả những người có ký tên chuyển nhượng trên thương phiếu đều phải chịu trách nhiệm liên đới về việc thanh toán thương phiếu đấy
Cho vay cầm cố bằng hợp đồng thầu khoán: Các công ty xây dựng hoặc các doanh nghiệp trong các lĩnh vực kinh doanh khác sau khi trúng thầu đòi hỏi phải ứng vốn ra ban đầu với một khối lượng lớn để tiến hành xây lắp hay cung cấp máy móc, thiết bị và các loại hàng hoá theo hợp đồng thầu khoán Sau khi hoàn thành toàn bộ hay từng hạng mục thì họ sẽ được các
cơ quan tổ chức thầu khoán thanh toán Trong trường hợp này các doanh nghiệp đó có thể cầm cố hợp đồng thầu khoán như một vật đảm bảo để vay vốn ngân hàng Nếu được ngân hàng chấp thuận thì các doanh nghiệp ấy ký kết với ngân hàng một văn tự về cầm cố hợp đồng thầu khoán Đây là hình thức bảo đảm tương đối chắc chắn
Cho vay cầm cố bằng hàng hoá: Đây là hình thức tín dụng ngắn hạn mà việc cấp tín dụng được xác định căn cứ vào giá trị của hàng hoá thuọc quyền sở hữu của người vay vốn đã được cầm cố cho ngân hàng Cho vay
có cầm cố bằng hàng hoá là một nghiệp vụ tín dụng có đảm bảo được áp dụng phổ biến ở các NHTM
1.3.2.2 Thế chấp bằng tài sản của khách hàng vay vốn
Trang 15
Khái niệm : Thế chấp tài sản là hình thức theo đó khách hàng vay phải chuyển
các giấy tờ chứng nhận sở hữu hoặc sử dụng các tài sản bảo đảm sang cho ngân hàng nắm giữ trong thời gian cam kết để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với ngân hàng cho vay
Nhiều tài sản của khách hàng trở thành bảo đảm cho các khoản tài trợ của ngân hàng song vẫn phải tham gia vào quá trình hoạt động Những tài sản này khách hàng không thể cầm cố Ví dụ như máy móc, trang thiết bị, nhà đất đang trong quá trình sử dụng, hàng hoá đang trong quá trình luân chuyển Các loại tài sản này thường cồng kềnh, phân tán Hơn nữa việc bán hay chuyển nhượng cũng không đơn giản Trừ các ngân hàng, các công ty tài chính có thể nắm giữ nhiều chứng khoán, tài sản chủ yếu của doanh nghiệp là hàng hoá và tài sản cố định Vì vậy, bảo đảm bằng thế chấp rất phổ biến, đặc biệt đối với doanh nghiệp và người tiêu dùng Do giá trị của loại tài sản này thường lớn nên doanh nghiệp có thể vay ngân hàng với quy mô lớn
Đảm bảo bằng thế chấp cho phép người nhận tài trợ sử dụng tài sản đảm bảo phục vụ cho hoạt động kinh doanh, đó là một thuận lợi Tuy nhiên, quá trình sử dụng sẽ làm biến dạng tài sản, hơn nữa do khả năng kiểm soát của tài sản bảo đảm của ngân hàng bị hạn chế, khách hàng có thể lợi dụng phân tán, làm giảm giá trị của tài sản, gây thiệt hại cho ngân hàng
Khi tài trợ dựa trên bảo đảm bằng thế chấp, ngân hàng phải xem xét kỹ vật thế chấp Trong hợp đồng thế chấp ký cùng với hợp đồng tài trợ phải có phần mô tả vật thế chấp như : diện tích, các mốc đánh dấu, giấy tờ sở hữu đối với đất, giá trị thị trường, công dụng, loại công nghệ, quyền sỡ hữu…đối với máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển, năm tuổi, khả năng sinh trưởng…đối với cây trồng, vật nuôi, các sản phẩm gắn với đất…Do đó, ngân hàng cần phải có các nhà chuyên môn đủ khả năng đánh giá tài sản bảo đảm Nếu định giá quá cao, quy mô tài trợ
có thể lớn (tài trợ theo tỷ lệ % trên giá trị bảo đảm), có thể gây rủi ro cho ngân
Trang 16
hàng Ngược lại nếu định giá thấp sẽ ảnh hưởng đến khả năng vay của khách hàng Sau khi định giá, ngân hàng và khách hàng phải thoả thuận về nội quy sử dụng bảo đảm, phát mại bảo đảm khi khách hàng vi phạm hợp đồng tài trợ
1.3.2.3 Bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba
Khái niệm: Bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba là việc bên thứ ba (gọi là bên
bảo lãnh) cam kết với tổ chức tín dụng cho vay về việc sử dụng tài sản thuộc sở hữu của mình để thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho khách hàng vay, nếu đến hạn trả nợ mà khách hàng vay không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ
Bên bảo lãnh chỉ được bảo lãnh bằng tài sản thuộc sở hữu của mình Tổ chức tín dụng và bên bảo lãnh có thể thoả thuận biện pháp cầm cố, thế chấp tài sản của bên bảo lãnh để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh Nếu bên bảo lãnh là tổ chức tín dụng thì thực hiện bảo lãnh theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng
và quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Các nhân tố ảnh hưởng gồm: uy tín của người bảo lãnh, tài sản bảo đảm của người bảo lãnh
1.3.2.4 Bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay
Khái niệm : Tài sản hình thành từ vốn vay là tài sản của khách hàng vay mà giá
trị tài sản được tạo nên bởi một phần hoặc toàn bộ khoản vay của ngân hàng cho vay
Bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay là việc khách
hàng vay dùng tài sản hình thành từ vốn vay để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho chính khoản vay đó đối với ngân hàng cho vay
Tài sản hình thành từ vốn vay dùng làm bảo đảm tiền vay có các điều kiện sau :
Xác định được quyền sở hữu hoặc quyền quản lý, sử dụng
Có căn cứ để xác định được giá trị, số lượng và phải dễ chuyển nhượng
Phải được phép giao dịch, chuyển nhượng theo quy định của pháp luật
Trang 17
Với tài sản mà pháp luật có quy định phải mua bảo hiểm thì khách hàng vay phải mua bảo hiểm trong suốt thời gian vay vốn khi tài sản đã được hình thành đưa vào sử dụng
1.3.3 Ưu và nhược điểm của bảo đảm bằng tài sản trong hoạt động cho vay của
NHTM
1.3.3.1 Ưu điểm
Việc các ngân hàng yêu cầu khách hàng của mình phải có tài sản bảo đảm khi đi vay là nhằm đảm bảo món tiền cho vay có thể thu hồi về được nhiều nhất và tránh rủi ro tín dụng có thể xảy ra do mất vốn Tức nó là biện pháp để bảo đảm quyền lợi của nguời cho vay
Nâng cao trách nhiệm thực hiện cam kết trả nợ của bên vay Tài sản bảo đảm bảo cũng có ý nghĩa tác động đến việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ của khách hàng,
nó giúp nhắc nhở khách hàng đi vay phải có kế hoạch trả nợ cụ thể và phải chịu trách nhiệm về món vay của mình
Bảo đảm bằng tài sản còn giúp phòng ngừa gian lận
1.3.3.2 Nhược điểm
Do tài sản bảo đảm thường xuyên thay đổi giá trị theo sự biến động của thị trường, nếu giá trị của TSBĐ đến khi xử lý giảm so với giá trị định giá ban đầu sẽ dẫn đến việc ngân hàng bị thiệt hại về vốn, không thu hồi đủ nợ
Một số cán bộ ngân hàng do dựa vào TSBĐ của khách hàng nên đã không để ý đến tình hình tài chính, khả năng thanh toán của khách hàng dẫn đến nhiều rủi ro
có thể xảy ra TSBĐ không phải là điều kiện duy nhất để cho vay
Nhiều TSBĐ trong thời gian được dùng làm bảo đảm cho khoản vay của khách hàng có thể bị hỏng, hao mòn…làm giảm giá trị của tài sản
1.4 Chất lượng bảo đảm bằng tài sản trong hoạt động cho vay của NHTM
1.4.1 Khái niệm
Trang 18
Khi khách hàng vay vốn có sử dụng tài sản bảo đảm thì các ngân hàng luôn quan tâm đến chất lượng bảo đảm bàng tài sản đó, xem TSBĐ đó có giúp ngân hàng bảo toàn được vốn khi xảy ra rủi ro hay không Việc xem xét này diễn ra trong một quá trình từ khi cán bộ ngân hàng tiến hành thẩm định dự án, giám sát quá trình sử dụng vốn của khách hàng vay, theo dõi việc sử dụng và bảo quản các tài sản bảo đảm
Vì vậy có thể hiểu chất lượng bảo đảm bằng tài sản trong hoạt động cho vay của NHTM là thước đo phản ánh những tài sản mà ngân hàng chấp nhận làm bảo
đảm cho khoản vay của khách hàng có khả năng thực hiện đúng chức năng là nguồn thu nợ thứ hai cho ngân hàng hay không, có giúp ngân hàng bảo toàn vốn khi xảy ra rủi ro hay không Trong hoạt động cuả ngân hàng thì chất lượng bảo đảm bằng tài sản trong hoạt động cho vay là rất cần được quan tâm đầy đủ và phải có kế hoạch ngay từ đầu năm
1.4.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng bảo đảm bằng tài sản của NHTM
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng có bảo đảm bằng tài sản bảo đảm của ngân hàng tuy nhiên có một số nhân tố ảnh hưởng chính như sau:
1.4.2.1 Nhân tố thuộc về ngân hàng
1.4.2.1.1 Trình độ cán bộ tín dụng
Trình độ cán bộ tín dụng ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng bảo đảm bằng tài sản của ngân hàng Từ việc thẩm định và đánh giá tài sản bảo đảm, phân tích và dự báo được biến động giá trị của TSBĐ đến việc lập và tiến hành các giao dịch bảo đảm, thực hiện công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm để bảo đảm nợ vay, định kỳ tái thẩm định TSBĐ, đề xuất các biện pháp xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh để bảo đảm an toàn tín dụng Tất cả các quy trình này chỉ cần cán bộ tín dụng mắc sai sót ở một khâu nào đó sẽ dẫn đến hậu quả nghiêm trọng đến khoản cho vay với khách hàng
Trang 19
Ngoài ra cán bộ tín dụng phải có đạo đức, nhạy bén trong phân tích sự việc để thẩm định được chính xác, hợp lệ và khách quan Phải có kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, nắm vững và vận dụng tốt các quy định của nhà nước và của ngân hàng để đánh giá chính xác, kịp thời tính pháp lý, giá trị, tính chuyển nhượng, các yếu tố ảnh hưởng của tài sản được thẩm định Ngày nay ở trong các ngân hàng thì vấn đề đạo đức của cán bộ ngân hàng luôn được đặt lên hàng đầu
Không phải cán bộ tín dụng nào cũng đưa ra một kết luận giống nhau, vì vậy mà cán bộ tín dụng là nhân tố rất quan trọng trong việc ảnh hưởng đến chất lượng của tài sản bảo đảm
1.4.2.1.2 Công tác giám sát khách hàng
Giám sát khách hàng cũng rất quan trọng, xem xét tình hình kinh doanh của tổ chức kinh tế, phương án kinh doanh, phương án trả nợ cho ngân hàng Thường thì cán bộ ngân hàng thường căn cứ vào báo cáo tài chính khách hàng đưa cho để theo dõi, tuy nhiên ngoài ra các cán bộ ngân hàng cũng thường xuyên phải xuống đơn vị để nắm được hoạt động của doanh nghiệp
Giám sát khách hàng cũng có nghĩa là theo dõi xem khách hàng có ý đồ xấu gì không như có hiện tượng lừa đảo, chây lỳ không chịu trả nợ, để có phương án giải quyết kịp thời
1.4.2.1.3 Một số công tác khác
Như công tác định giá TSBĐ, công tác quản lý TSBĐ Để đảm bảo cho khoản tiền của ngân hàng phát ra cho vay có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi khi đến hạn, thì khoản vay đo phải được bảo đảm bằng tài sản của người vay Với điều kiện giá trị của tài sản đó phải lớn hơn giá trị của khoản vay và giá cả của tài sản đó phải tương đối ổn định Nếu trường hợp đến hạn người vay không trả được
nợ, ngân hàng phát mại tài sản thu hồi nợ thì tiền thu về bán tài sản đủ để ngân hàng thu nợ gốc, lãi và các chi phí khác…Vì vậy, giá trị tài sản đưa ra làm bảo đảm càng lớn thì mức độ đảm bảo của khoản tín dụng phát ra càng chắc chắn
Trang 20
Trong quá trình quản lý TSBĐ những tài sản như máy móc, thiết bị…thường bị hao mòn theo thời gian vì vậy cần phải bảo quản tốt các TSBĐ Công việc bảo quản không tốt rất dễ dẫn đến giá trị bán tài sản không đủ để thu hồi lại vốn ban đầu, gây ra tổn thất cho ngân hàng Một điều mà các ngân hàng không bao giờ muốn
1.4.2.2 Nhân tố thuộc về khách hàng
1.4.2.2.1 Đạo đức, uy tín của khách hàng vay vốn
Uy tín của khách hàng thể hiện ở khả năng tài chính của khách hàng mạnh, sản xuất kinh doanh có hiệu quả tạo ra nhiều lợi nhuận, quan hệ vay vốn và trả nợ ngân hàng của khách hàng sòng phẳng không có nợ quá hạn Uy tín của khách hàng còn thể hiện ở vị trí của khách hàng trên thị trên thị trường và mối quan hệ của khách hàng với bạn hàng
Ta thấy khi ngân hàng phân tích khách hàng thấy được rằng uy tín của khách hàng là tốt thì tài sản bảo đảm mà khách hàng đưa ra để bảo đảm cho món vay cũng được an toàn hơn Ngoài ra, uy tín của khách hàng cao cũng giúp ngân hàng yên tâm hơn về khả năng đảm bảo tài chính của khách hàng Chất lượng tài sản đảm bảo cũng được nâng cao
Đạo đức của khách hàng thể hiện ở việc khách hàng có chây ỳ trong việc trả nợ hay không, có hành vi lừa đảo không Có nhiều khách hàng vay vốn của ngân hàng song không có ý thức trả nợ khi đến kỳ hạn trả nợ và lãi Ngân hàng cần nhìn thấy trước được tình hình của khách hàng nếu không rất dễ gặp rủi ro
1.4.2.2.2 Tài chính của khách hàng
Tài chính của khách hàng cũng là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng bảo đảm bằng tài sản của ngân hàng Vì dù khách hàng vẫn có ý thức trả nợ
Trang 21
cho ngân hàng song tình hình tài chính của khách hàng không ổn định hoặc đang gặp khó khăn không có khả năng trả nợ cho ngân hàng thì cũng tác động mạnh đến chất lượng bảo đảm bằng tài sản của ngân hàng
Thường thì các cán bộ ngân hàng thu thập thông tin tài chính của khách hàng mình dựa vào các báo cáo tài chính mà khách hàng mang tới, tuy nhiên để nắm rõ được cụ thể hơn các cán bộ cần phải đi xuống thực tế đơn vị
1.4.2.3 Nhân tố thuộc về môi trường
Hàng năm có hàng nghìn văn bản được ban hành : quyết định, nghị định, thông
tư, công văn, chỉ thị…Tuy nhiên không phải văn bản nào cũng đi vào cuộc sống được, các văn bản chồng chéo lên nhau, thiếu sự thống nhất, đồng bộ Trong khi
đó ngân hàng là lĩnh vực phức tạp, nhạy cảm, liên quan đến hầu hết các văn bản pháp luật Nếu môi trường pháp lý không tốt sẽ gây khó khăn cho ngân hàng và các chủ thể kinh tế khác trong xã hội, sẽ tạo ra những khe hở pháp luật để cho những đối tượng xấu lợi dụng, luồn lách
Có những bộ luật tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng như: Luật các tổ chức tín dụng, Luật Ngân hàng nhà nước…Những luật này quy định tỷ lệ huy động vốn vủa ngân hàng so với vốn tự có, quy định việc phát hàng trái phiếu, kỳ phiếu, quy định mức cho vay của NHTM đối với một khách hàng, quy định về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng…
Vì vậy mà để nâng cao được chất lượng bảo đảm bằng tài sản của NHTM thì cần phải làm cho môi trường pháp lý tốt hơn nữa, ý thức chấp hành pháp luật tốt các văn bản ban hành cần phải được đồng bộ, thống nhất, đồng thời, minh bạch,
có tính thực tế
Ngoài môi trường pháp lý thì môi trường kinh tế cũng là một trong những nhân
tố ảnh hưởng đến chất lượng bảo đảm bằng tài sản trong hoạt động cho vay của NHTM Do nền kinh tế càng phát triển thì doanh nghiệp càng phải hoàn thiện
Trang 22
mình hơn, phải có những dự án sản xuất có hiệu quả hơn, và muốn làm được điều
ấy cần phải có một số vốn lớn Vốn tự có của doanh nghiệp chỉ đáp ứng được phần nào, còn lại phải đi vay của ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác Khi đó càng phải quan tâm đến TSBĐ và chất lượng của nó
1.4.3 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng bảo đảm bằng tài sản của NHTM
1.4.3.1 Chỉ tiêu về tỷ lệ dư nợ có tài sản bảo đảm trên tổng dư nợ
Công thức :
Chỉ tiêu về tỷ lệ Dư nợ có TSBĐ
dư nợ có TSBĐ = x 100%
trên tổng dư nợ Tổng dư nợ
Chỉ tiêu này có ý nghĩa nói lên có bao nhiêu % dư nợ của tổ chức tín dụng được bảo đảm bằng tài sản Chỉ tiêu này càng cao càng tốt vì khi đó khoản vay sẽ được đảm bảo an toàn hơn Thường tỷ lệ này trong khoảng 60% đến 80% là tốt
Các ngân hàng luôn muốn tỷ lệ dư nợ có TSBĐ trên tổng dư nợ cao vì tỷ lệ này càng cao thì càng bảo đảm khoản vốn mà ngân hàng đã cho vay sẽ thu hồi được nhiều nhất, giảm tỷ lệ rủi ro xuống mức thấp nhất
Tuy nhiên, với tình hình phát triển nền kinh tế của đất nước như hiện nay thì không phải lúc nào tỷ lệ này cao cũng là tốt Vì nó sẽ hạn chế khả năng kinh doanh của ngân hàng Đánh mất những khách hàng tiềm năng Đây chính là trở ngại lớn của các ngân hàng có chính sách kinh doanh thận trọng
Tỷ lệ này cao hay thấp còn tuỳ thuộc vào tổng dư nợ có tài sản bảo đảm, nếu tổng dư nợ có TSBĐ cao thì tỷ lệ này sẽ cao và ngược lại
Trang 23
Chỉ tiêu này phụ thuộc vào các yếu tố như: chính sách tín dụng của ngân hàng trong từng thời kỳ, lĩnh vực ưu tiên của ngân hàng trong từng thời kỳ, cơ cấu cho vay trong sản xuất hay trong tiêu dùng…, quy định của Chính phủ và của NHNN
1.4.3.2 Chỉ tiêu về giá trị khoản vay so với giá trị của tài sản bảo đảm
Công thức :
Chỉ tiêu về giá trị Giá trị của khoản vay
khoản vay so với =
giá trị của TSBĐ Giá trị của TSBĐ
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ bù đắp vốn của một tài sản bảo đảm trong trường hợp khách hàng không thực hiện được nghĩa vụ của mình Thường thì tuỳ loại tài sản bảo đảm sẽ cho chỉ tiêu khác nhau, chỉ tiêu này thay đổi theo thời gian do tác động của nhiều yếu tố Chỉ tiêu này thường từ 0.5 đến 0.7 là tốt
Theo quy định của NHNH và chính sách hoạt động của từng ngân hàng thì giá trị của khoản vay đều được quy định tỷ lệ đối với mỗi tài sản bảo đảm Nếu TSBĐ có tính thanh khoản cao, dễ tiêu thụ trên thị trường, ít bị hao mòn vô hình thì sẽ có tỷ lệ cao hơn những TSBĐ khác
Chỉ tiêu về giá trị khoản vay so với giá trị của TSBĐ phụ thuộc vào một số yếu
tố như: tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, loại hình TSBĐ, biến động giá trị của TSBĐ…
1.4.3.3 Chỉ tiêu tỷ trọng dư nợ cho vay không có bảo đảm bằng tài sản so với
dư nợ cho vay có tài sản bảo đảm
Công thức :
Chỉ tiêu tỷ trọng dư nợ cho Dư nợ cho vay không có BĐ bằng TS
Trang 24
vay không có BĐ bằng TS so =
với dư nợ cho vay có TSBĐ Dư nợ cho vay có TSBĐ
Chỉ tiêu này phản ánh tỷ lệ giữa việc cho vay không có bảo đảm bằng tài sản so với cho vay có TSBĐ, thường thì tỷ lệ này thấp vì ngân hàng chỉ cho những khách hàng uy tín, có truyền thống và có khả năng đảm bảo tài chính tốt cho vay không có bảo đảm bằng tài sản, còn lại hầu hết đều là cho vay có TSBĐ để giúp ngân hàng có nguồn thu nợ thứ hai chắc chắn và chịu ít rủi ro nhất
Từ chỉ tiêu này mà ta có thể nhận biết được chính sách mà NHTM đang sử dụng
là chính sách thận trọng hay chính sách mở rộng nhóm khách hàng vay Nhưng thông thường các ngân hàng chỉ cho vay không có bảo đảm bằng tài sản trong trường hợp khách hàng vay để thực hiện các dự án đầu tư thuộc chương trình kinh
tế đặc biệt, chương trình kinh tế trọng điểm của Nhà nước, chương trình KT-XH
và đối với một số khách hàng thuộc đối tượng đang được hưởng các chính sách tín dụng ưu đãi về điều kiện vốn vay theo quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ hoặc của Thủ Tướng Chính phủ
Hiện tại một số ngân hàng đang mở rộng cho vay không có bảo đảm bằng tài sản để tiêu dùng vì vậy mà chỉ tiêu này còn phụ thuộc vào chính sách của từng ngân hàng
1.4.3.4 Chỉ tiêu về tỷ lệ dư nợ quá hạn cho vay có tài sản bảo đảm so với tổng
dư nợ cho vay có tài sản bảo đảm
Công thức :
Chỉ tiêu về tỷ lệ dư nợ quá hạn Dư nợ quá hạn cho vay có TSBĐ cho vay có TSBĐ so với tổng =
dư nợ cho vay có TSBĐ Tổng dư nợ cho vay có TSBĐ
Chỉ tiêu này phản ánh có bao nhiêu % nợ quá hạn có TSBĐ so với tổng dư nợ cho vay Tỷ lệ này càng thấp thì càng tốt
Trang 25
Mỗi NHTM đều có những chính sách kinh doanh riêng của mình tuy nhiên họ đều có điểm chung là không muốn có nợ quá hạn đối với khoản cho vay của mình Đối với khoản cho vay có tài sản bảo đảm mà vẫn có nợ quá hạn điều đó chứng tỏ rằng ngân hàng đã sử dụng TSBĐ làm nguồn thu nợ thứ hai, song vẫn chưa thu hồi được hết nợ và tình hình tài chính của doanh nghiệp đi vay đang gặp khó khăn
Từ việc chỉ tiêu này cao hay thấp mà ngân hàng có thể tự điều chỉnh chính sách cho vay cho phù hợp đồng thời đưa ra những quyết định xử lý đối với phần nợ quá hạn
1.4.3.5 Một số chỉ tiêu khác
Ngoài các chỉ tiêu cơ bản trên đây còn có một số chỉ tiêu khác cũng đánh giá chất lượng bảo đảm bằng tài sản của NHTM như chỉ tiêu về xếp hạng tín dụng khách hàng chỉ tiêu này mỗi ngân hàng có một cách đánh giá khác nhau; hay chỉ tiêu về tỷ trọng các loại tài sản bảo đảm được khách hàng mua bảo hiểm so với tổng TSBĐ thường thì các loại TSBĐ của khách hàng trong quá trình bảo đảm có hao mòn hay những tài sản có thể gặp rủi ro thì ngân hàng thường yêu cầu khách hàng phải mua bảo hiểm
Chỉ tiêu mức cho vay so với giá trị tài sản bảo đảm, còn tuỳ thuộc vào loại tài sản bảo đảm thuộc tài sản nào sẽ có mức cho vay tương ứng Nhưng thông thường mức cho vay của các NHTM tối đa là 70% giá trị TSBĐ
Trang 26
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM BẰNG TÀI SẢN TRONG HOẠT ĐỘNG CHO
VAY TẠI CHI NHÁNH NHCT THÁI NGUYÊN 2.1 Tổng quan về chi nhánh NHCT Thái Nguyên
2.1.1 Khái quát về NHCT Việt Nam
Ngân hàng Công Thương Việt Nam (Vietinbank) được thành lập từ năm 1988 sau khi tách ra từ ngân hàng Nhà Nước Việt Nam Là một trong bốn NHTM nhà nước lớn nhất tại Việt Nam, Vietinbank có tổng tài sản chiếm hơn 25% thị phần trong toàn bộ hệ thống ngân hàng Việt Nam Nguồn vốn của Incombank luôn tăng trưởng qua các năm tăng mạnh kể từ năm 1996, đạt bình quân hơn 20%/năm, đặc biệt có năm tăng 35% so với năm trước Có mạng lưới kinh doanh trải rộng toàn quốc với 2 Sở Giao dịch, gần 140 chi nhánh và trên 700 điểm giao dịch Có
03 Công ty hạch toán độc lập là Công ty Cho thuê Tài chính, Công ty TNHH Chứng khoán, Công ty Quản lý Nợ và Khai thác Tài sản và 02 đơn vị sự nghiệp là Trung tâm Công nghệ thông tin và Trung tâm đào tạo Hoạt động bên ngoài lãnh thổ Việt Nam của Vietinbank tiếp tục duy trì và được triển khai mạnh mẽ thông qua một mạng lưới giao dịch quốc tế với trên 730 ngân hàng đại lý tại hơn 60 quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới
Năm 2007 cùng với công cuộc phát triển kinh tế, đổi mới và hội nhập thành công của đất nước, hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Công thương Việt Nam cũng hết sức thành công và đạt được nhiều kết quả to lớn Quy mô tài sản tăng 24%, tổng nguồn vốn tăng 19%, cho vay nền kinh tế tăng 28%, chất lượng đầu tư tiếp tục được cải thiện tích cực, lành mạnh, nợ xấu cuối năm ở mức 1.02% (đầu
Trang 27
năm là 1,38%), hệ thống mạng lưới được củng cố, kinh doanh an toàn, chất lượng
và hiệu quả, đầu tư hiện đại hóa ứng dụng công nghệ ngân hàng tiến tiến được chú trọng, các mặt hoạt động nghiệp vụ, dịch vụ ngân hàng đều có mức tăng trưởng khá
Lợi nhuận năm 2007 cũng đạt kết quả cao Năm 2007 sau khi trích dự phòng rủi
ro và bù đắp các chi phí thì con số này đạt mức tăng 30% so với 2006 Ngân Hàng đã sử dụng nguồn lực này để đầu tư vào cơ sở vật chất, công nghệ cũng như chiến lược hiện đại hóa ngân hàng Nhờ đó, thu nhập của cán bộ công nhân viên
2007 tăng 35% so với 2006 Hiệu quả, chất lượng kinh doanh đạt cao đã góp phần tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội, thực hiện Công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, xây dựng hệ thống Ngân hàng Công thương Việt Nam lớn mạnh
Hệ thống tổ chức của NHCT Việt Nam được tổ chức một cách khoa học và có
hệ thống Sau đây là sơ đồ hệ thống tổ chức, cơ cấu của NHCT Việt Nam:
Sơ đồ : Hệ thống tổ chức của NHCT Việt Nam
TRỤ SỞCHÍNH
CHI NHÁNH CẤP I
VP ĐẠI DIỆN
ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP
CTY TRỰC THUỘC
CHI NHÁNH CẤP II
PHÒNG GIAO DỊCH
QUỸ TIẾT KIỆM
CN PHỤ THUỘC
PHÒNG GIAO DỊCH
QUỸ TIẾT KIỆM
Trang 28
Sơ đồ : Cơ cấu tổ chức bộ máy và điều hành của Trụ sở chính
2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của chi nhánh NHCT Thái Nguyên
Chi nhánh NHCT Thái Nguyên là chi nhánh cấp 1 thuộc NHCT Việt Nam, có địa chỉ tại 62 Hoàng Văn Thụ, Tỉnh Thái Nguyên Từ năm 1988 NHCT Bắc Thái nay là Chi nhánh NHCT Thái Nguyên đã tách ra khỏi NHNN tỉnh Bắc Thái nay
là NHNH tỉnh Thái Nguyên Chi nhánh tiếp tục hoạt động và phát triển cho đến giữa năm 2006 thì hai chi nhánh cấp 2 của chi nhánh NHCT TN là chi nhánh Sông Công và chi nhánh Lưu Xá đã được tách ra hoạt động riêng và trực tiếp chịu
sự quản lý của NHCT Việt Nam
Hiện nay Chi nhánh NHCT Thái Nguyên gồm có 2 phòng giao dịch là phòng giao dịch Núi Voi tại huyện Đồng Hỷ và phòng giao dịch Đán tại Đán Đồng thời cũng có 8 điểm giao dịch và các quỹ tiết kiệm trên địa bàn tỉnh TN
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
TỔNG GIÁM ĐỐC
KẾ TOÁN
TRƯỞNG
CÁC PHÓ TỔNG GĐ
HTHỐNG KT K’T NỘI BỘ
CÁC PHÒNG, BAN CM-NV
BỘ MÁY GIÚP VIỆC BAN KIỂM SOÁT
Trang 29
2.1.3 Cơ cấu, tổ chức của chi nhánh NHCT Thái Nguyên
Do chi nhánh NHCT Thái Nguyên là chi nhánh cấp 1 của NHCT Việt Nam nên
cơ cấu, tổ chức của chi nhánh NHCT TN được tổ chức theo sơ đồ sau:
Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy điều hành của chi nhánh NHCT TN
Theo quyết định số 368/QĐ – NHCT ngày 9/5/2006 của Giám đốc chi nhánh NHCT Thái Nguyên về việc ban hành chức năng nhiệm vụ của các phòng ban tại chi nhánh thì chi nhánh NHCT TN gồm có các phòng chuyên môn :
Phòng khách hàng doanh nghiệp : Là phòng nghiệp vụ trực tiếp giao dịch
với khách hàng là các DN, để khai thác vốn : VND và ngoại tệ, thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến tín dụng, quản lý các sản phẩm tín dụng phù hợp với chế độ , thể lệ hiện hành và hướng dẫn của NHCT VN Trực tiếp quảng cáo, giới thiệu và bán các sản phẩm dịch vụ NH cho các DN lớn ,vừa và nhỏ.Tham mưu cho Giám đốc chi nhánh dự kiến kế hoạch kinh doanh, tổng hợp, phân tích đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh, thực hiện báo cáo các hoạt động hàng năm của chi nhánh
GIÁM ĐỐC
PHÒNG GIAO DỊCH
QUỸ TIẾT KIỆM
Trang 30
Phòng khách hàng cá nhân : Là phòng nghiệp vụ trực tiếp giao dịch với
khách hàng là các cá nhân để khai thác vốn : VND và ngoại tệ, thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến tín dụng ,quản lý các sản phẩm tín dụng phù hợp với chế độ , thể lệ hiện hành và hướng dẫn của NHCT VN Trực tiếp quảng cáo, giới thiệu và bán các sản phẩm dịch vụ NH cho các cá nhân
Phòng quản lý rủi ro : Tham mưu cho giám đốc chi nhánh về công tác
quản lý rủi ro của chi nhánh, quản lý giám sát thực hiện danh mục cho vay, đầu tư đảm bảo tuân thủ các giới hạn tín dụng cho từng khách hàng Thẩm định hoặc tái thẩm định khách hàng, dự án, phương án đề nghị cấp tín dụng Thực hiện chức năng đánh giá, quản lý rủi ro trong toàn bộ các hoạt động ngân hàng theo chỉ đạo của NHCT VN Chịu trách nhiệm về quản lý
và xử lý các khản nợ có vấn đề (gồm các khoản nợ : cơ cấu lại thời hạn trả
nợ, nợ quá hạn, nợ xấu) Quản lý, khai thác và xử lý tài sản đảm bảo nợ vay theo quy định của Nhà nước nhằm thu hồi các khoản nợ gốc và lãi tiền vay Quản lý, theo dõi và thu hồi cá khoản nợ đã được xử lý rủi ro
Phòng kế toán giao dịch : Là phòng nghiệp vụ thực hiện các giao dịch trực
tiếp với khách hàng, các nghiệp vụ và các công việc liên quan đến công tác quản lý tài chính, chi tiêu nội bộ tại chi nhánh, cung cấp các dịch vụ ngân hàng liên quan đến nghiệp vụ thanh toán, xử lý hạch toán các giao dịch quản lý và chịu trách nhiệm đối với hệ thống giao dịch trên máy, quản lý quỹ tiền mặt đến từng giao dịch viên theo đúng quy định của nhà nước và NHCT VN Thực hiện nhiệm vụ tư vấn cho khách hàng về sử dụng các sản phẩm của ngân hàng
Phòng thanh toán XNK : Là phòng nghiệp vụ tổ chức thực hiện nghiệp vụ
thanh toán về Xuất Nhập Khẩu và kinh doanh ngoại tệ tại chi nhánh theo quy định của NHCT VN
Trang 31
Phòng tiền tệ kho quỹ : : Là phòng nghiệp vụ quản lý quỹ an toàn kho quỹ,
quản lý quỹ tiền mặt theo quy định của NHNN và NHCT VN Ứng và thu tiền cho các quỹ tiết kiệm, các điểm giao dịch trong và ngoài quầy thu chi tiền mặt cho các doanh nghiệp có thu, chi tiền mặt lớn
Phòng tổ chức hành chính : Là phòng nghiệp vụ thực hiện công tác tổ chức
cán bộ, đào tạo tại chi nhánh theo đúng chủ trương chính sách của Nhà nước và quy định của NHCT VN Thực hiện công tác quản trị và văn phòng phục vụ hoạt động kinh doanh tại chi nhánh, thực hiện công tác bảo
vệ an ninh an toàn chi nhánh
Phòng thông tin điện toán : Thực hiện công tác quản lý, duy trì hệ thống
thông tin điện tử tại chi nhánh, bảo trì bảo dưỡng máy tính đảm bảo thông suốt hoạt động của hệ thống mạng, máy tính của chi nhánh
Mỗi phòng đều có chức năng nhiệm vụ khác nhau, tuy nhiên chúng luôn hỗ trợ nhau trong quá trình làm việc Hiện nay Chi nhánh NHCT Thái Nguyên gồm có 2 phòng giao dịch là phòng giao dịch Núi Voi tại huyện Đồng Hỷ và phòng giao dịch Đán tại Đán Đồng thời cũng có 8 điểm giao dịch trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
2.1.4 Tình hình hoạt động kinh doanh của chi nhánh NHCT Thái Nguyên trong
thời gian vừa qua
2.1.4.1 Tình hình hoạt động huy động vốn tại chi nhánh
Trong năm 2007 chi nhánh NHCT Thái Nguyên đã hoạt động rất hiệu quả với
lợi nhuận tăng 140% so với năm 2006 Đạt được kết quả trên là do Ban Giám
Đốc và các phòng nghiệp vụ đã đưa ra những chính sách, chiến lược kinh doanh kịp thời, hợp lý trước những nguy cơ bị chiếm mất thị phần khi ngày càng có nhiều các NHTM cổ phần được thành lập trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
BẢNG 1: TỶ TRỌNG HUY ĐỘNG VỐN TĂNG SO VỚI KẾ HOẠCH
NĂM 2007
Trang 32(Nguồn: Báo cáo của chi nhánh NHCT Thái Nguyên năm 2007)
Hoạt động huy động vốn là hoạt động chính của chi nhánh để sử dụng nhằm thu lợi nhuận bao gồm nghiệp vụ huy động tiền gửi và từ nguồn đi vay, nguồn uỷ thác, nguồn trong thanh toán Năm 2007 là một năm thành công của chi nhánh NHCT Thái Nguyên với tổng huy động vốn đạt 101,46% so với kế hoạch năm
2007 đã đề ra Trong đó nguồn vốn nội tệ đạt 104,45% so với kế hoạch, nguồn vốn ngoại tệ mà chủ yếu là đồng USD đạt 92,16% so với kế hoạch Đây thực sự