1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Cục thuế thành phố Hà Nội

85 765 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Cục thuế thành phố Hà Nội
Trường học Học Viện Tài Chính
Chuyên ngành Quản lý Thuế
Thể loại Tổng luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 717,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Cục thuế thành phố Hà Nội

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Toàn cầu hoá kinh tế đang trở thành xu hướng tất yếu khách quan của quá trình phát triển nền kinh tế thị trường Hội nhập kinh tế khu vực và trên thế giới đang là xu hướng chung của các nước Trong xu thế hội nhập hiện nay, các nhà đầu tư nước ngoài rất quan tâm đến thị trường Việt Nam với những lợi thế so sánh với các nước trong khu vực Dòng vốn đầu tư vào trong nước đang ngày càng tăng mạnh

Từ thực tế hội nhập kinh tế khu vực và thế giới đang diễn ra với tốc độ ngày càng cao càng đặt ra cho chúng ta yêu cầu phải đổi mới cơ chế, chính sách sao cho phù hợp với sự vận hành của nền kinh tế thị trường trong điều kiện hội nhập Thực hiện công cuộc cải cách thuế trong những năm gần đây, ngành thuế nói chung và Cục thuế

Hà Nội nói riêng đã không ngừng hoàn thiện hệ thống các sắc thuế một cách hiệu quả nhất nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thuế

Tuy nhiên trong quá trình quản lý của nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng đang phát sinh nhiều vấn đề như tình trạng trốn thuế, gian lận thương mại, quy trình quản lý thuế còn nhiều bất hợp lý ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường đầu tư Các nhà đầu tư nước ngoài có nhiều kinh nghiệm đầu tư trên thị trường quốc tế nên rất dễ lợi dụng kẽ hở của chính sách, pháp luật của nước ta để gian lận thuế thu nhập doanh nghiệp Bên cạnh đó là việc các nhà đầu tư nước ngoài thiếu hiểu biết

về Pháp luật Việt Nam cũng là một hạn chế không nhỏ

Trong những năm qua, công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã đạt được nhiều những kết quả to lớn song cũng vẫn còn thể hiện những nhược điểm cả trong hệ thống chính sách, tổ chức quản lý cũng như tình trạng thất thu thuế thu nhập doanh nghiệp ở các doanh nghiệp có vốn ĐTNN diễn ra khá phổ biến

Chính vì vậy, đi sâu nghiên cứu để tìm ra các giải pháp hữu hiệu nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là một vấn đề cần được quan tâm hàng đầu Xuất phát từ những thực tế trên,

đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh

Trang 3

nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Cục thuế thành phố Hà Nội” đã được

chọn làm đề tài nghiên cứu của luận văn

Thông qua việc vận dụng phương pháp duy vật biện chứng, phân tích tổng hợp, đối chiếu so sánh, logic…đề tài sẽ hệ thống lại một số vấn đề lý luận về thuế nói chung

và thuế thu nhập doanh nghiệp nói riêng Đề tài bước đầu tổng kết những thành quả đã đạt được cũng như đánh giá thực trạng quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, trọng tâm nghiên cứu giới hạn tại Cục thuế Thành phố Hà Nội (sau đây gọi tắt là Cục thuế Hà Nội) Từ đó đề xuất một số giải pháp, nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong thời gian tới, góp phần động viên nguồn thu cho ngân sách nhà nước

Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, đề tài được chia làm 3 chương:

Chương 1: Thuế thu nhập doanh nghiệp và quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp

đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với

doanh nghiệp có vốn đầu tư trục tiếp nước ngoài tại Cục thuế Hà Nội

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp

đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trục tiếp nước ngoài

Trang 4

CHƯƠNG 1 THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP VÀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

1.1 DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRONG NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN

1.1.1 Khái niệm và các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam

Đầu tư trực tiếp nước ngoài hiện nay không còn là một thuật ngữ mới lạ đối với kinh tế Việt Nam Có thể nói trong giai đoạn phát triển nền kinh tế thị trường, thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm vị trí vô cùng quan trọng Theo Luật đầu

tư của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 59/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005:

 Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư

 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài được quy định trong Luật này là:

 Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài: là tổ chức kinh tế thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài do nhà ĐTNN thành lập tại Việt Nam tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh

 Thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài: là tổ chức kinh tế được thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh được ký giữa hai bên hoặc nhiều bên để tiến hành hoạt động kinh doanh tại Việt Nam

 Đầu tư theo hợp đồng BCC, BOT, BTO, BT

- Hợp đồng hợp tác kinh doanh (hợp đồng BCC): là hình thức đầu tư được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh, phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm làm ra mà không thành lập pháp nhân

Trang 5

- Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT): là hình thức đầu tư được ký giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời gian nhất định; hết thời hạn nhà đầu tư chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho nhà nước Việt Nam

- Hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh (BTO) là hình thức đầu tư được

ký giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong nhà đầu tư chuyển giao công trình cho Nhà nước Việt Nam, Chính phủ dành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó trong một thời gian nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận

- Hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT): là hình thức đầu tư được ký giữa các

cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng sau khi xây dựng xong nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam; Chính phủ sẽ tạo điều kiện cho nhà đầu tư thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư

và lợi nhuận hoặc thanh toán cho nhà đầu tư theo thoả thuận trong hợp đồng BT

 Đầu tư phát triển kinh doanh

 Góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư

 Đầu tư thực hiện sáp nhập và mua lại doanh nghiệp

 Các hình thức đầu tư trực tiếp khác như đầu tư vào khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao…

1.1.2 Đặc điểm doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp được thành lập tại Việt Nam do cơ quan nhà nước có thẩm quyền Việt Nam cấp giấy phép thành lập hoặc hoạt động kinh doanh theo các hợp đồng hợp tác kinh doanh

- Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thường là thành viên của các công ty

đa quốc gia (công ty mẹ đặt tại một quốc gia và các công ty con được thành lập ở nhiều nơi trên thế giới) Đặc điểm này khiến cho mối liên kết giữa các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các bộ phận khác của công ty đa quốc gia tương đối chặt chẽ và

Trang 6

phức tạp Vì vậy, khiến cho các cơ quan chức năng của ta khó tập trung quản lý, việc can thiệp và kiểm soát các giao dịch tương đối khó khăn

- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được tổ chức quản lý chịu sự chi phối gián tiếp của luật pháp nước cư trú của công ty mẹ nhưng cũng phải chịu sự quản lý của nước sở tại (nước nhận đầu tư) nên việc kiểm soát và theo dõi sẽ gặp nhiều khó khăn Các công ty này đã có kinh nghiệm lâu năm kinh doanh trên thị trường quốc tế nên có rất nhiều những biện pháp tinh vi đối phó với cơ quan chức năng

- Các doanh nghiệp nước ngoài trong quá trình đầu tư, tiến hành sản xuất kinh doanh vào nước khác thường sử dụng nguồn nguyên liệu, dây truyền công nghệ từ chính quốc nên rất phức tạp trong việc xác định được giá trị thị trường trong quá trình góp vốn liên doanh ảnh hưởng đến việc xác định chi phí

- Sản phẩm được sản xuất ra thường chịu sự chi phối, bao tiêu của công ty mẹ nên gây cản trở cho các cơ quan chức năng trong việc xác định doanh thu

Chính từ thực tế đặc thù của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, để có thể chủ động trong việc quản lý, kiểm soát một cách chặt chẽ và có hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp thì các cơ quan chức năng cần có những biện pháp cụ thể, có sự tính toán chặt chẽ và lâu dài

1.1.3 Vai trò của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong nền kinh tế quốc dân

Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm huy động tối đa mọi nguồn lực, tạo sức bật mới cho nền kinh tế là chủ trương, chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta

Quá trình vận động tồn tại và phát triển cùng với sự đóng góp ngày càng to lớn

có hiệu quả của thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài cho sự ổn định, phát triển nền kinh tế của nước ta trong 20 năm qua đã khẳng định vị trí và vai trò tầm quan trọng của thành phần kinh tế này

Ngày nay thu hút mạnh mẽ đầu tư nước ngoài trở thành nhu cầu thiết yếu của mọi quốc gia Theo số liệu của ngân hàng thế giới thì tổng số FDI của thế giới năm

Trang 7

1980 là 191.595 triệu USD; năm 1996 là 314.696 triệu USD và tăng lên rất nhanh qua các năm Theo công bố ngày 2/8/2001 của tổ chức thương mại và phát triển liên hiệp quốc phòng FDI tăng nhanh trong những năm qua, hầu hết các nước đều thực hiện chính sách đầu tư thông thoáng và cải thiện môi trường đầu tư nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài

Các nước đang phát triển muốn đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế của mình cần có lượng vốn lớn trong khi khả năng huy động nguồn lực từ trong nước có hạn do nhiều nguyên nhân khác nhau, cho nên hầu như họ đều tìm mọi cách thu hút nguồn vốn

từ bên ngoài, mà nguồn vốn FDI là rất quan trọng bởi tính ưu việt của nó so với các nguồn huy động khác Cạnh tranh thu hút nguồn vốn này giữa các quốc gia không kém phần quyết liệt, nhất là các nước trong khu vực Bằng nhiều hình thức ưu đãi thu hút đầu tư hấp dẫn mang tính lợi thế so sánh, trong đó thuế cũng là một công cụ mà hầu như quốc gia nào cũng sử dụng để khuyến khích đầu tư

Đối với Việt Nam: Một quốc gia đang trong giai đoạn chuyển đổi từ nền kinh tế

tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN thì tăng trưởng kinh tế là mục tiêu số một để tránh nguy cơ tụt hậu xa hơn, và thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội khác như: chống lạm phát, gia tăng xuất khẩu, giải quyết công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo Nhưng để tăng trưởng kinh tế thì yếu tố vật chất quyết định là gia tăng vốn đầu tư Cùng với việc đẩy mạnh khai thác nguồn vốn đầu tư trong nước thì việc tăng cường thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài có ý nghĩa rất quan trọng cần phải được quan tâm đặc biệt

Những vai trò nổi bật của doanh nghiệp có vốn ĐTNN:

* Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ đáp ứng một lượng vốn lớn cho nền kinh tế Đặc biệt như với nước ta lượng vốn còn hạn chế, nguốn vốn bổ sung từ đầu tư nước ngoài sẽ đáp ứng lượng vốn đầu tư mua sắm trang thiết bị, mở rộng sản xuất và phát triển mọi mặt cho các ngành kinh tế Hơn nữa sự có mặt của các doanh nghiệp có vốn ĐTNN còn thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, góp phần hình thành và phát triển trong cả nước hệ thống các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao tương đối đồng bộ và hiện đại, đem lại hiệu quả cao

Trang 8

* Sự có mặt của các doanh nghiệp có vốn ĐTNN sẽ làm tăng sức cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong nước Khi có các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, muốn tốn tại và phát triển các doanh nghiệp trong nước phải có những triến lược phát triển của mình, cải thiện chất lượng và mẫu mã sản phẩm, tăng sức cạnh tranh Các doanh nghiệp trong nước cần mở rộng thị phần, gia tăng cả về chất lượng và số lượng sản phẩm

* Các doanh nghiệp có vốn ĐTNN trong quá trình đầu tư vào Việt Nam sẽ đem theo những dây truyền công nghệ mới, điều này sẽ cải thiện tình trạng công nghệ lạc hậu của các doanh nghiệp Việt Nam Đây là bước đầu cải thiện và đổi mới hoàn toàn công nghệ trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực Từ đây phát triển một số ngành kinh tế quan trọng có hàm lượng kỹ thuật cao mà Việt Nam còn nhiều tiềm năng như viễn thông, thăm dò và khai thác, chế biến dầu khí, hoá chất, cơ khí chế tạo điện tử, tin học,

ô tô, xe máy

* Một vai trò không kém phần quan trọng là việc các doanh nghiệp có vốn ĐTNN hoạt động tại Việt Nam sẽ góp phần nâng cao năng lực trình độ quản lý của các nhà quản lý Việt Nam Với những nước đang phát triển như nước ta doanh nghiệp có vốn ĐTNN sẽ là trường đào tạo các bộ quản lý tốt nhất bởi lẽ với yêu cầu ngày càng cao của công việc, của hội nhập kinh tế lực lượng cán bộ quản lý doanh nghiệp sẽ có môi trường để thực tập, cọ sát và học tập không ngừng nâng cao trình độ của mình

* Môi trường làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng sẽ tạo cho người lao động tác phong công nghiệp trong lao động, góp phần đào tạo và nâng cao trình độ tay nghề cho mỗi lao động Điều này sẽ gián tiếp làm tăng năng suất lao động, tạo việc làm và tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao

* Ở tầm vĩ mô, doanh nghiệp có vốn ĐTNN còn tạo điều kiện cân bằng cán cân thanh toán quốc tế Tạo điều kiện để Việt Nam hội nhập sâu rộng hơn vào đời sống kinh

tế quốc tế

Trang 9

1.2 THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP VÀ QUẢN LÝ THUẾ TNDN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

1.2.1 Thuế thu nhập doanh nghiệp

1.2.1.1 Bản chất, sự ra đời và phát triển của thuế thu nhập doanh nghiệp

 Khái niệm về thuế

Thuế là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước Thuế xuất hiện, tồn tại và phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của Nhà nước Khi Nhà nước ra đời đòi hỏi phải có nguồn lực của cải để trang trải chi phí hoạt động của bộ máy Nhà nước, thực hiện các chức năng của Nhà nước Bằng quyền lực của mình, Nhà nước quy định các khoản đóng góp bắt buộc đối với dân chúng và các chủ thể khác trong xã hội

Trong các sách báo kinh tế trên thế giới, cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất tuyệt đối khái niệm về thuế Nhiều quan điểm đưa ra mới nhìn nhận từ những khía cạnh khác nhau của thuế nên chưa phản ánh đầy đủ bản chất chung nhất của phạm trù này

Theo các nhà kinh điển thì thuế được quan niệm rất đơn giản Mác đã chỉ rõ: “Để duy trì quyền lực công cộng đó, cần có ngay những sự đóng góp của những người công dân của nước đó là thuế ” (Mác – Ăng ghen TT T2 – NXB Sự thật – Hà Nội – 1962 trang 522)

Theo nhà kinh tế học Gaston Jeze, trong cuốn “Tài chính công” đã đưa ra một

định nghĩa tương đối cổ điển nhất: “Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho Nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của nhà nước”.(Gaston Jeze

“Finances Publiqué”, 1934)

Trên góc độ phân phối thu nhập, người ta định nghĩa: Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước

Trang 10

Trên góc độ người nộp thuế, thuế được coi là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi

tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theo Luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước

Trên góc độ kinh tế học, thuế được xem xét như là một biện pháp đặc biệt, theo

đó, Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế – xã hội của Nhà nước

Một cách chung nhất thuế là hình thức huy động tài chính cho Nhà nước Khi Nhà nước ra đời, thuế là công cụ để Nhà nước có nguồn thu nhằm trang trải các chi tiêu của Nhà nước Nhà nước dùng quyền lực của mình ban hành các luật thuế để bắt buộc dân cư và các đối tượng khác trong nền kinh tế đóng góp cho Nhà nước

Thuế là hình thức đóng góp theo luật định của các pháp nhân và thể nhân cho Nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước

Thuế là hình thức động viên mang tính chất bắt buộc trên nguyên tắc luật định Đặc điểm này được thể chế hoá trong hiến pháp của mỗi quốc gia Nhà nước dùng quyền lực và sức mạnh để ấn định các thứ thuế, bắt buộc các tổ chức kinh tế và công dân thực hiện các nghĩa vụ thuế để nhà nước có nguồn thu ổn định, thường xuyên đảm bảo trang trải các khoản chi trong hoạt động thường xuyên của Nhà nước mà vẫn ổn định được Ngân sách Nhà nước Tổ chức hoặc cá nhân nào không thực hiện đúng nghĩa

vụ nộp thuế của mình tức là họ đã vi phạm pháp luật của quốc gia đó Đặc điểm này phân biệt sự khác nhau giữa các khoản thuế với các khoản đóng góp mang tính tự nguyện cho Ngân sách Nhà nước và thuế đối với các khoản vay mượn khác của Chính Phủ

Thuế là khoản đóng góp không mang tính hoàn trả trực tiếp Thuế vận động một chiều, trên cơ sở các số thuể thu được Nhà nước sẽ sử dụng cho những chi tiêu công cộng, phục vụ cho nhu cầu của Nhà nước và mọi cá nhân trong xã hội Số thuế mà các đối tượng phải nộp cho Nhà nước được tính toán không dựa trên khối lượng lợi ích công cộng họ nhận được mà dựa trên những hoạt động cụ thể và thu nhập của họ Đặc điểm này cũng phân bịêt giữa thuế với phí và lệ phí

Trang 11

Như vậy, Thuế là một khoản đóng góp có tính bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước, được quy định bằng các văn bản pháp luật và không có tính hoàn trả trực tiếp

 Bản chất, sự ra đời và phát triển của thuế TNDN

Thuế thu nhập doanh nghiệp là một loại thuế trực thu đánh vào lợi nhuận của các doanh nghiệp Nó có vai trò điều tiết thu nhập từ kết quả sản xuất kinh doanh

* Bản chất của thuế TNDN

Thuế TNDN là một loại thuế trực thu Tính chất trực thu biểu hiện sự đồng nhất giữa đối tượng nộp thuế theo luật và đối tượng chịu thuế trên phương diện kinh tế Nếu thuế gián thu luôn được cấu thành trong giá cả hang hoá, dịch vụ mà người tiêu dung phải trả qua hành vi mua hang hoá và dịch vụ được cung cấp, người nộp thuế là các nhà sản xuất và trung gian thương mại, thì thuế TNDN lại điều tiết trực tiếp vào thu nhập của các nhà sản xuất, các nhà đầu tư và người cung cấp dịch vụ Chính điều tiết trực tiếp vào thu nhập của các pháp nhân nên thuế TNDN phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, lợi nhuận đạt được của các nhà đầu tư

Nhà nước thường sử dụng thuế TNDN để thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội

đề ra Do vậy các yếu tố kỹ thuật của thuế TNDN như: các khoản thu nhập thuộc đối tượng chịu thuế thu nhập (phạm vi điều chỉnh), các chi phí được khấu trừ, thuế suất, các hình thức miễn, giảm thuế TNDN đều phản ánh chính sách của Nhà nước trong từng thời kỳ nhất định

* Sự ra đời và phát triển:

Ở Việt Nam, cùng với công cuộc cải cách thuế bước I năm 1990, Luật thuế lợi tức đã được ban hành Tuy nhiên qua 8 năm thực hiện, Luật thuế lợi tức dần dần bộc lộ nhiều nhược điểm và không còn phù hợp với tình hình kinh tế Việt Nam trong giai đoạn mới: giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế Nhận thức được vai trò của thuế trong chính sách tài chính công, mà cụ thể là cải cách thuế nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là yêu cầu phù hợp với quy luật chung, nhằm đáp ứng kịp thời sự biến đổi khách quan của tình hình phát triển kinh tế trong nước cũng như quốc tế trong từng thời

Trang 12

kỳ Để tiến tới một đạo luật ngày càng hoàn chỉnh phù hợp với xu thế hội nhập, nâng cao khả năng thu hút và sử dụng hiệu quả vốn ĐTNN Luật thuế thu nhập doanh nghiệp

đã được ban hành Sự hoàn chỉnh và phù hợp của Luật thuế TNDN được thể hiện qua

xu hướng cải cách cụ thể như sau:

Thứ nhất: Thuế TNDN luôn có xu hướng cắt giảm thuế xuất nhưng phải đảm bảo

nguồn thu cho NSNN Chính vì lẽ đó, lộ trình xây dựng và hoàn thiện Luật thuế TNDN

đã được Quốc hội thông qua: Luật thuế thu nhập doanh nghiệp được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 10/5/1997 và có hiệu lực thi hành

từ ngày 01/01/1999 thay cho Luật thuế lợi tức, có mức thuế suất phổ thông là 32% Cho đến nay trong tình hình mới, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa

XI, kỳ họp thứ 3 đã ban hành Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp sửa đổi, được thông qua vào ngày 17/6/2003, có mức thuế suất là 28% Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 1 năm 2004 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp ngày 10 tháng 5 năm 1997 hết hiệu lực thi hành kể từ ngày Luật mới này có hiệu lực Tiếp tục đến 2008, sau 4 năm

đi vào áp dụng, trước những đòi hỏi mới, Chính phủ đã giao cho Bộ Tài Chính dự theo Luật sửa đổi Luật thuế TNDN, và lần này dự kiến mức thuế suất thuế TNDN là 25%các

cơ quan chức năng lại đang tiếp tục có những điều chỉnh sao cho phù hợp với tình hình mời Dự thảo Luật thuế thu nhập doanh nghiệp sửa đổi đang tiếp tục được Bộ Tài chính trình lên quốc hội

Thứ hai: Về kỹ thuật hành thu, thuế thu nhập doanh nghiệp không khác thuế lợi

tức là mấy song về quan điểm kinh tế, thuế thu nhập doanh nghiệp có cái nhìn cởi mở hơn về hoạt động sản xuất kinh doanh cả trong nước và đầu tư nước ngoài thuế thu nhập doanh nghiệp mở rộng hơn về cơ sở tính thuế và xoá bỏ dần sự phân biệt thuế suất đối với các loại thu nhập Sự chuyển đổi cách nhìn thể hiện rõ trong việc thuế Lợi tức đánh theo các mức khác nhau trên lợi nhuận tuỳ theo phân ngành kinh tế quốc dân theo

cơ chế kế hoạch hoá ví như doanh nghiệp chịu thuế suất 30% nếu chỉ hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp nặng, xây dựng, chịu thuế suất 50% nếu hoạt động trong lĩnh vực thương mại, dich vụ Còn thuế suất thuế thuế thu nhập doanh nghiệp áp dụng một mức thuế suất phổ thông đánh trên thu nhập không phân biệt ngành nghề kinh doanh, trừ khai thác và thăm dò dầu khí do Chính phủ qui định

Trang 13

Thứ ba: Thuế TNDN luôn được cải cách theo hướng mang lại hiệu quả cao nhất,

đảm bảo công bằng nhất, rõ ràng minh bạch và đơn giản nhất, nhưng cũng thể hiện tính linh hoạt, thích ứng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường có định hướng XHCN ở Việt nam

1.2.1.2 Mối quan hệ giữa thuế TNDN với các loại thuế khác

Hệ thống thuế là tổng hợp các hình thức thuế khác nhau mà giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau để thực hiện các nhiệm vụ nhất định của Nhà nước trong từng thời kỳ Hệ thống thuế gồm nhiều hình thức thuế khác nhau nhưng sự hình thành từng hình thức thuế do cơ sở thuế quyết định Trong nền kinh tế thị trường, thuế suy cho cùng đều lấy từ thu nhập Do yêu cầu của quá trình tái sản xuất mà thu nhập được vận động trong một chu kỳ khép kín và luôn luôn thay đổi hình thái biểu hiện của nó Chính sự biến đổi đa dạng đó đã làm nảy sinh các cơ sở thuế khác nhau, tạo ra khả năng đáng thuế của Chính phủ trên sự luân chuyển của dòng thu nhập khép kín và hình thành các hình thức thuế khác nhau

Hệ thống thuế của một quốc gia được hình thành tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh tế

xã hội, cấu trúc và quan điểm thực thi chính sách của từng quốc gia Mỗi loại thuế đảm nhận những sứ mệnh khác nhau nhưng mục đích cuối cùng vẫn là động viên nguồn thu cho ngân sách nhà nước

Với tất cả các nền kinh tế trên thế giới: “Doanh nghiệp là trái tim của nền kinh tế” chính vì vậy thuế TNDN đóng vai trò vô cùng quan trọng Có ý kiến cho rằng, thuế TNDN là loại thuế trung tâm của hệ thống thuế Sự vận động của thuế TNDN có tác động rất lớn lên các loại thuế khác và ngược lại sự vận động của từng sắc thuế cũng tác động trở lại đối với thuế TNDN

Thu nhập sau thuế = Thu nhập trước thuế - Thuế TNDN phải nộp

Thuế TNDN phải nộp = Thu nhập chịu thuế trong kỳ x Thuế suất (%)

Trang 14

Thu nhập Doanh thu tính Chi phí hợp Thu nhập

chịu thuế trong = thuế thu nhập - lý trong kỳ + chịu thuế

kỳ tính thuế trong kỳ tính thuế khác

Như vậy, bất cứ sự thay đổi nào của thuế TNDN sẽ làm ảnh hưởng đến thu nhập

sau thuế nhận được Thu nhập thay đổi ảnh hưởng đến cầu tiêu dùng, điều này sẽ điều

tiết hành vi tiêu dùng trong xã hội vì vậy gián tiếp tác động tới thuế gián thu trong nền

kinh tế như GTGT, tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu Sự tương quan tác động của

các loại thuế còn thể hiện ở chỗ, khi nguồn thu nhập của mỗi cá nhân bị điều tiết một

phần thông qua thuế TNCN thì cũng ảnh hưởng không nhỏ tới cầu tiêu dùng gián tiếp

ảnh hưởng trở lại cung hàng hóa của doanh nghiệp, doanh thu thay đổi tất yếu số thu

của thuế TNDN sẽ có những biến đổi nhất định Bên cạnh đó, để xác định thu nhập chịu

thuế TNDN trong kỳ tính thuế thì việc xác định chi phí hợp lý, hợp lệ là yếu tố vô cùng

quan trong Cấu thành nên chi phí trong kỳ cũng cần đưa vào đây các loại thuế gián thu

khác như thuế XNK, thuế TTĐB…

Có thể thấy rằng, dù mục đích ra đời, đối tượng chịu sự điều tiết của mỗi loại

thuế là khác nhau song mọi sắc thuế đều có những mối tương quan nhất định và có sự

tác động qua lại với nhau rất chặt chẽ Sự tác động này diễn ra nhiều chiều, vận hành

liên tục tạo ra sự gắn bó giữa các sắc thuế tạo nên hệ thống thuế thống nhất Từ đây đặt

ra yêu cầu cho các nhà hoạch định chính sách cần nghiên cứu thật đầy đủ mối tương

quan giữa các sắc thuế để tạo một động lực tốt, tăng hiệu quả quản lý nguồn thu từ thuế

và thực hiện được mục tiêu tạo sự công bằng trong xã hội Hơn nữa các chính sách thuế

được áp dụng cần lưu ý đến khả năng nuôi dưỡng nguồn thu, phải tạo ra động lực thúc

đẩy nền kinh tế phát triển

1.2.1.3 Thuế TNDN đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Luật đầu tư nước ngoài ra đời là một bước ngoặt trong qua trình cải cách hành

chính, cải cách đầu tư ở nước ta Ngay từ khi có Luật ĐTNN, thành phần kinh tế có vốn

đầu tư nước ngoài đã có chỗ đứng vững chác trong nền kinh tế Điều này cũng đòi hỏi

Trang 15

những chính sách thuế phải được xây dụng sao cho minh bạch và rõ ràng hơn cho phù hợp với những đặc thù riêng có của loại hình doanh nghiệp này

- Đứng trước yêu cầu về thu hút vốn đầu tư nước ngoài đã đặt ra cho môi trường quản lý thuế có những quy định cởi mở hơn so với doanh nghiệp trong nước Cụ thể là thuế suất 15%, 20%, 25% cho các doanh nghiệp có vốn ĐTNN thì doanh nghiệp trong nước là 30%, 50% và sau này là 32%, 28% Hơn nữa chúng ta cũng đã xây dựng những điều kiên ưu đãi miến giảm thông qua chính sách khuyến khích đầu tư (XNK 50, 80% trở lên; sử dụng trên 500 lao động ) Cho đến này, khi chúng ta đã áp dụng mức thuế TNDN phổ thông 28% không phân biệt doanh nghiệp trong hay ngoài nước thì những doanh nghiệp được cấp giấy phép hoạt động trước năm 2004, nay vẫn còn hiệu lực thì vẫn tiếp tục được hưởng các ưu đãi trong giấy phép đầu tư ví như thuế suất vẫn duy trì

ở mức 25% nếu thời gian miễn, giảm thuế vẫn còn thì vẫn tiếp tục được miễn, giảm

- Yêu cầu về hội nhập thuế quốc tế lại đạt ra các vẫn đề về tranh chấp quyền đánh thuế với doanh nghiệp nước ngoài từ đây phát sinh các hiệp định song phương và

đa phương về thuếm như Hiệp định tránh đánh thuế hai lần Đến thời điểm này chúng

ta cũng đã ký kết khoảng 48 hiệp định song phương và hiệp định đa phương về thuế Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho ngành thuế Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế và cũng tạo hành lang pháp lý thuận lợi, minh bạch cho các nhà ĐTNN đến với Việt Nam

- Mặt khác do có sự đầu tư về vốn và công nghệ từ bên ngoài vào, nên chính sách thuế cũng có những điều chỉnh riêng cá biệt với các doanh nghiệp nước ngoài hoạt động ở Việt Nam như quy định về hình thức kinh doanh không có pháp nhân tại Việt Nam thông qua chính sách về thuế nhà thầu, bản quyền

1.2.2 Quản lý thuế TNDN đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 1.2.2.1 Quản lý thuế TNDN và nội dung của quản lý thuế TNDN đối với doanh nghiệp có vốn ĐTNN

 Quản lý thuế

 Khái niệm Quản lý thuế

Trang 16

Quản lý thuế là hoạt động quản lý gắn liền với cơ quan thuế - một tổ chức nhà

nước có tư cách pháp nhân Do đó, quản lý thuế là một hình thức quản lý công Quản lý thuế chủ yếu thực hiện khâu hành pháp về thuế

Quản lý thuế gồm những hoạt động có tổ chức trong bộ máy nhà nước, chủ yếu thuộc lĩnh vực hành pháp về thuế của cơ quan thuế các cấp, với các chức năng nhiệm vụ quyền hạn do luật định, nhằm thực hiện chính sách thuế đã được cơ quan có thẩm quyền thông qua Nói cách khác, quản lý thuế là khâu tổ chức thực hiện chính sách thuế của cơ quan thuế các cấp, là việc định ra một hệ thống các tổ chức, phân công trách nhiệm cho các tổ chức này, xác lập mối quan hệ phối hợp giữa các bộ phận một cách hữu hiệu trong việc thực thi các chính sách thuế nhằm đạt các mục tiêu đã đề ra, trong điều kiện môi trường quản lý luôn biến động

Quản lý thuế quan tâm trước hết tới việc thực thi chính sách thuế Để thực hiện tốt công tác quản lý thuế cần có một chính sách thuế hợp lý Sau khi chính sách thuế được hoạch định và được thông qua, chính sách đó được thực thi trong thực tế Quản lý

thuế có vai trò quyết định trong việc đưa chính sách thuế vào cuộc sống Hoạt động

quản lý thuế là sự tác động có tổ chức, tuân theo những quy tắc nhất định và mang tính quyền lực nhà nước Đây cũng có thể coi là hoạt động quản lý hành chính – kinh tế trong lĩnh vực thuế

 Nội dung quản lý thuế

Hoạt động quản lý thuế bao hàm nhiều nội dung được quy định cụ thể trong luật Quản lý thuế Nó bao gồm

- Đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế

- Thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế

- Xoá nợ tiền thuế, tiền phạt

- Quản lý thông tin về người nộp thuế

- Kiểm tra thuế, thanh tra thuế

- Cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế

Trang 17

- Xử lý vi phạm pháp luật về thuế

- Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế

Quản lý thuế được thực hiện bằng các quy chế, quy trình kỹ thuật nghiệp vụ nhất định với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn do luật quy định

Do vậy, xét về khía cạnh hành chính thuế, nội dung chính của quản lý thuế sẽ là các trình tự và thủ tục thuế của các đối tượng có liên quan (đối tượng nộp thuế, cơ quan thuế và các đối tượng khác) Các trình tự và thủ tục thuế - hay là các "quy tắc ứng xử" này được xây dựng trong mọi lĩnh vực của công tác quản lý thuế: kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế với mục đích nhằm làm cho các đối tượng liên quan thực hiện đúng các nghĩa vụ luật định về thuế Thông qua công tác quản lý thuế, các "quy tắc ứng xử" này sẽ được xây dựng, ban hành, hướng dẫn và kiểm tra bằng "sức cưỡng chế" của cơ quan thuế

 Quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp

 Nội dung quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có vốn ĐTNN

 Đối tượng chịu thuế: Tất cả các khoản phải thu nhập thu được từ bất kỳ

hoạt động kinh tế nào của doanh nghiệp có vốn ĐTNN đều là đối tượng chịu thuế thu

nhập doanh nghiệp

Các doanh nghiệp là đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp (nếu là hợp đồng hợp tác kinh doanh thì thuế TNDN được tính cho từng hợp đồng hợp tác kinh doanh)

 Đối tượng nộp thuế

* Công ty nước ngoài hoạt động kinh doanh thông qua cơ sở thường trú tại Việt Nam

Cơ sở thường trú của công ty nước ngoài tại Việt Nam là cơ sở kinh doanh mà thông qua cơ sở này công ty nước ngoài thực hiện một phần hay toàn bộ hoạt động kinh doanh của mình tại Việt Nam mang lại thu nhập Cơ sở thường trú của công ty nước ngoài tại Việt Nam bao gồm các hình thức sau:

Trang 18

- Công ty đó có tại Việt Nam: chi nhánh, trụ sở điều hành, văn phòng (trừ văn

phòng đại diện thương mại không được phép kinh doanh theo pháp luật Việt Nam), nhà

máy, xưởng sản xuất, kho giao nhận hàng hoá, phương tiện vận tải, hầm mỏ, mỏ dầu

hoặc khí đốt, địa điểm thăm dò hoặc khai thác tài nguyên thiên nhiên hay các thiết bị,

phương tiện phục vụ cho việc thăm dò tài nguyên thiên nhiên

- Hoặc có tại Việt Nam: địa điểm xây dựng, công trình xây dựng, lắp đặt hoặc

lắp ráp; các hoạt động giám sát xây dựng, công trình xây dựng, lắp đặt, lắp ráp

- Thực hiện việc cung cấp dịch vụ ở Việt Nam thông qua nhân viên của công ty

hay một đối tượng khác được công ty ủy nhiệm thực hiện dịch vụ cho một dự án hay

nhiều dự án

- Tổ chức tại Việt Nam đại lý môi giới, đại lý hưởng hoa hồng hoặc bất kỳ một

đại lý nào khác

- Công ty đó ủy nhiệm cho một đối tượng tại Việt Nam có thẩm quyền ký kết các

hợp đồng đứng tên công ty hoặc không có thẩm quyền ký kết hợp đồng đứng tên công

ty nhưng có quyền thường xuyên đại diện cho công ty giao hàng hoá, cung ứng dịch vụ

tại Việt Nam

* Cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam hoặc có thu nhập phát sinh tại

Việt Nam

 Căn cứ tính thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có vốn đầu

tư nước ngoài

Thuế thu nhập doanh nghiệp được xác định dựa trên 2 căn cứ: thu nhập chịu thuế và

thuế suất

Thuế TNDN phải nộp = Thu nhập chịu thuế trong kỳ x thuế suất (%)

Thu nhập Doanh thu tính Chi phí hợp Thu nhập chịu thuế trong = thuế thu nhập - lý trong kỳ + chịu thuế

kỳ tính thuế trong kỳ tính thuế khác

Trang 19

 Thu nhập chịu thuế

Thu nhập chịu thuế bao gồm thu nhập chịu thuế của hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ kể cả thu nhập chịu thuế từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ở nước ngoài và thu nhập chịu thuế khác

* Doanh thu tính thuế

 Ðối với hàng hóa, dịch vụ do cơ sở sản xuất, kinh doanh bán ra là toàn bộ tiền bán hàng, tiền cung ứng dịch vụ kể cả trợ giá, phụ thu, phụ trội mà cơ sở sản xuất, kinh doanh được hưởng Nếu cơ sở sản xuất, kinh doanh nộp thuế giá trị gia tăng theo phương thức trực tiếp trên giá trị gia tăng, doanh thu để tính thu nhập bao gồm cả thuế giá trị gia tăng

 Ðối với hàng hoá bán theo phương thức trả góp là doanh thu của hàng hóa bán tính theo giá bán trả một lần, không bao gồm lãi trả chậm

 Ðối với hàng hoá, dịch vụ dùng để trao đổi, biếu, tặng thì doanh thu tính thuế theo giá bán của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại thời điểm trao đổi, biếu, tặng

 Ðối với sản phẩm tự dùng, doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là chi phí để sản xuất ra sản phẩm đó

 Ðối với hoạt động gia công hàng hoá là tiền thu về gia công bao gồm cả tiền công, nhiên liệu, động lực, vật liệu phụ và chi tiết khác phục vụ cho việc gia công hàng hoá

 Ðối với hoạt động cho thuê tài sản là số tiền thuê thu được từng kỳ theo hợp đồng thuê Trường hợp bên thuê trả tiền trước cho nhiều tháng, nhiều năm thì doanh thu

là toàn bộ số tiền thu được

 Ðối với hoạt động tín dụng là tiền lãi cho vay thực thu được trong kỳ tính thuế

 Ðối với hoạt động khác do Bộ tài chính quy định

* Chi phí

Trang 20

Thông tư 134/2007/TT-BTC ra đời đã có bước thay đổi rõ rệt trong việc quy định các khoản chi phí không tính vào chi phí hợp lý thay cho việc quy định cả các khoản chi phí hợp lý, hợp lệ và các khoản chi không hợp lý, hợp lệ Điều này tiến tới đơn giản hơn trong việc xử lý và xác định thu nhập chịu thuế trong kỳ, tạo ra tính minh bạch, dễ thực hiện trong quá trình quản lý thuế của cơ quan chức năng cũng như việc thực hiện nghĩa vụ thuế của NNT

Những khoản chi phí sau đây không tính vào chi phí hợp lý:

 Chi phí khấu hao tài sản cố định thuộc một trong các trường hợp sau:

Chi phí khấu hao đối với tài sản cố định không sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ

Chi phí khấu hao đối với tài sản cố định không có giấy tờ chứng minh được thuộc quyền sở hữu của cơ sở kinh doanh (trừ tài sản cố định thuê mua tài chính)

Chi phí khấu hao đối với tài sản cố định không được quản lý, theo dõi, hạch toán trong sổ sách kế toán của cơ sở kinh doanh theo chế độ quản lý tài sản cố định và hạch toán kế toán hiện hành

Phần trích khấu hao vượt mức quy định hiện hành của Bộ Tài chính về chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định Trường hợp áp dụng phương pháp khấu hao đường thẳng, khấu hao nhanh để đổi mới công nghệ là phần trích khấu hao vượt quá 02 lần mức khấu hao theo quy định

Chi phí khấu hao đối với tài sản cố định đã khấu hao hết giá trị

Chi phí khấu hao đối với công trình trên đất vừa sử dụng cho sản xuất kinh doanh vừa sử dụng cho mục đích khác thì không được tính khấu hao vào chi phí hợp lý đối với giá trị công trình trên đất tương ứng phần diện tích không sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh

 Chi phí nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu, năng lượng, hàng hoá phần vượt mức tiêu hao hợp lý, bị tổn thất hoặc bị hư hỏng đã được các tổ chức, cá nhân bồi thường

 Chi phí tiền lương, tiền công thuộc một trong các trường hợp sau:

Trang 21

Chi phí tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp phải trả cho người lao động nhưng hết thời hạn nộp hồ sơ quyết toán thuế năm thực tế chưa chi

Chi phí tiền lương, tiền công do cơ sở kinh doanh chi ngoài hợp đồng lao động hoặc thoả ước lao động tập thể

Các khoản tiền thưởng cho người lao động không mang tính chất tiền lương, không được ghi trong hợp đồng lao động hoặc thoả ước lao động

Tiền lương, tiền công của chủ doanh nghiệp tư nhân, chủ hộ cá thể, cá nhân kinh doanh Thù lao trả cho các sáng lập viên, thành viên của hội đồng thành viên, hội đồng quản trị không trực tiếp tham gia điều hành sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch

vụ

 Chi phí của cơ sở kinh doanh mua hàng hoá, dịch vụ không có hoá đơn, được phép lập Bảng kê thu mua hàng hoá, dịch vụ mua vào nhưng không lập Bảng kê kèm theo chứng từ thanh toán cho cơ sở, người bán hàng, cung cấp dịch vụ

 Phần chi phí tiền ăn giữa ca hàng tháng cho mỗi người lao động vượt quá mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định đối với công chức Nhà nước

 Phần chi phí tiền ăn định lượng chi trả cho người lao động làm việc trong một số ngành đặc biệt vượt quá mức chế độ Nhà nước quy định

 Chi thưởng sáng kiến, cải tiến mà cơ sở kinh doanh không có quy chế quy định

cụ thể về việc chi thưởng sáng kiến, cải tiến, không có hội đồng nghiệm thu sáng kiến, cải tiến

 Chi tài trợ cho giáo dục không đúng đối tượng quy định

 Phần chi bồi thường, trợ cấp cho người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp vượt quá mức quy định Chi mua bảo hiểm nhân thọ cho người lao động

 Chi phí trả tiền điện, nước đối với những hợp đồng điện nước do chủ sở hữu cho thuê địa điểm sản xuất, kinh doanh ký trực tiếp với đơn vị cung cấp điện, nước không

có đủ chứng từ

Trang 22

 Phần chi phí thuê tài sản cố định vượt quá mức phân bổ theo số năm mà bên đi thuê trả tiền trước

Đối với chi phí sửa chữa tài sản cố định đi thuê mà trong hợp đồng thuê tài sản quy định bên đi thuê có trách nhiệm sửa chữa tài sản trong thời gian thuê thì chi phí sửa chữa tài sản cố định đi thuê được phép hạch toán vào chi phí hoặc phân bổ dần vào chi phí nhưng thời gian tối đa không quá 3 năm

Trường hợp chi phí để có các tài sản không thuộc tài sản cố định: chi về mua và

sử dụng các tài liệu kỹ thuật, bằng sáng chế, giấy phép chuyển giao công nghệ, nhãn hiệu thương mại, lợi thế kinh doanh được phân bổ dần vào chi phí kinh doanh nhưng tối đa không quá 3 năm

 Chi phụ cấp tàu xe đi nghỉ phép không đúng theo quy định của Bộ Luật Lao động

 Các khoản chi cho lao động nữ không đúng đối tượng và mức chi vượt quá quy định

 Phần chi trang phục bằng tiền cho người lao động vượt quá 1.000.000 đồng/năm

 Phần trích nộp quĩ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn vượt mức quy định Phần chi đóng góp hình thành nguồn chi phí quản lý cho cấp trên, chi đóng góp vào các quỹ của hiệp hội vượt quá mức quy định của cơ sở kinh doanh, hiệp hội

 Phần chi phí lãi tiền vay vốn sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức tín dụng, các tổ chức tài chính vượt mức lãi suất thực tế căn cứ vào hợp đồng vay

 Trích, lập và sử dụng không đúng chế độ về trích lập và sử dụng Quỹ nghiên cứu phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp

 Trích, lập và sử dụng các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng tổn thất các khoản đầu tư tài chính, dự phòng nợ phải thu khó đòi và dự phòng bảo hành sản phẩm, hàng hoá, công trình xây lắp không theo đúng hướng dẫn của Bộ Tài chính

Trang 23

 Trích, lập và sử dụng quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm và chi trợ cấp thôi việc cho người lao động không theo đúng chế độ hiện hành

 Các khoản chi phí trích trước mà thực tế không chi gồm: trích trước về sửa chữa lớn tài sản cố định và các khoản trích trước khác

 Các khoản chi phí của hoạt động kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh xổ số kiến thiết, kinh doanh chứng khoán và một số hoạt động kinh doanh đặc thù khác không thực hiện đúng theo văn bản hướng dẫn riêng của Bộ Tài chính

 Khoản lỗ chênh lệch tỷ giá hối đoái do đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ cuối năm tài chính; lỗ chênh lệch tỷ giá phát sinh trong quá trình đầu tư xây dựng cơ bản (giai đoạn trước hoạt động sản xuất kinh doanh)

 Chi phí quản lý kinh doanh do công ty ở nước ngoài phân bổ cho cơ sở thường trú tại Việt Nam phần vượt mức chi phí được tính theo công thức:

Căn cứ để xác định chi phí và doanh thu của công ty ở nước ngoài là báo cáo tài chính của công ty ở nước ngoài đã được kiểm toán bởi một công ty kiểm toán độc lập

 Các khoản tiền phạt về vi phạm hành chính như: vi phạm luật giao thông, vi phạm chế độ đăng ký kinh doanh, vi phạm chế độ kế toán thống kê, vi phạm pháp luật

về thuế và các khoản phạt về vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật

 Chi về đầu tư xây dựng cơ bản; chi ủng hộ các đoàn thể, tổ chức xã hội và ủng

hộ địa phương; chi từ thiện

[Doanh thu tính thuế của cơ

sở thường trú tại Việt Nam trong kỳ tính thuế - Tổng doanh thu của công ty

ở nước ngoài, bao gồm cả doanh thu của các cơ sở thường trú ở các nước khác trong kỳ tính thuế

x

Tổng số chi phí quản lý kinh doanh của công ty ở nước ngoài trong kỳ tính thuế

Trang 24

 Các khoản thuế:

Thuế GTGT của cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ

đã được khấu trừ hoặc hoàn thuế;

Thuế thu nhập doanh nghiệp;

Thuế chuyển quyền sử dụng đất;

Thuế thu nhập cá nhân

 Chi phí không hợp lý khác theo quy định của pháp luật

* Thu nhập khác

 Chênh lệch về mua, bán chứng khoán

 Thu nhập về quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản:

· Thu nhập về cho thuê tài sản

· Thu nhập từ việc cho sử dụng hoặc quyền sử dụng sở hữu trí tuệ

· Thu nhập khác về quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản

 Lãi từ chuyển nhượng, thanh lý tài sản

 Lãi tiền gửi, cho vay vốn

 Chênh lệch do bán ngoại tệ

 Kết dư cuối năm các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng giảm giá chứng khoán, dự phòng bù đắp các khoản phải thu khó đòi

 Thu các khoản thu khó đòi đã xoá sổ kế toán nay đòi lại được

 Thu các khoản nợ phải trả không xác định được chủ nợ

 Các khoản thu nhập từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của những năm trước bị bỏ sót mới phát hiện ra

 Các khoản thu nhập nhận được từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ở nước ngoài

Trang 25

Trường hợp nhận được khoản thu nhập đã nộp thuế thu nhập ở nước ngoài thì cơ

sở kinh doanh phải xác định số thu nhập trước khi nộp thuế thu nhập ở nước ngoài để tính thuế thu nhập doanh nghiệp Khi xác định số thuế thu nhập cả năm sẽ được trừ số thuế thu nhập đã nộp ở nước ngoài nhưng số thuế được trừ không vượt qúa số thuế thu nhập tính theo Luật thuế thu nhập doanh nghiệp cho khoản thu nhập nhận được đó

· Các khoản thu nhập liên quan đến việc tiêu thụ hàng hoá, cung cấp dịch vụ không tính trong doanh thu, sau khi đã trừ các khoản chi phí theo quy định của Bộ tài chính để tạo ra khoản thu nhập đó

· Các khoản thu nhập khác

· Cơ sở kinh doanh nhận được thu nhập do cơ sở kinh doanh nhận góp vốn cổ phần, liên doanh liên kết kinh tế chia cho (sau khi đã nộp thuế) thì không phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp đối với khoản thu nhập đó nhưng phải gộp vào phần thu nhập sau thuế để xác định thuế thu nhập bổ sung

 Thuế suất

Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp áp dụng đối với doanh nghiệp có vốn đầu

tư nước ngoài và bên nước ngoài tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh theo Luật đầu

tư nước ngoài tại Việt Nam như sau:

 Thuế suất chung là 28% Còn đối với những doanh nghiệp thành lập và hoạt động tại Việt Nam trước năm 2004 nếu giấy phép đầu tư còn hiệu lực thì sẽ áp dụng thuế suất 25% hoặc thuế suất ưu đãi ghi trong giấy phép đầu tư

 Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp đối với cơ sở kinh doanh tiến hành tìm kiếm thăm dò, khai thác dầu khí và tài nguyên quí hiếm khác từ 28% đến 50% phù hợp với từng dự án, từng cơ sở kinh doanh

Trong từng trường hợp cụ thể, với những đối tượng được hưởng ưu đãi, miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp nhà nước sẽ có những quy định cụ thể Mức miễn giảm cụ thể và thời gian được ghi trong giấy phép đầu tư

 Quy trình quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Trang 26

 Đăng ký và cấp mã số thuế

Các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế có vốn ĐTNN do cục thuế trực tiếp quản lý Việc quản lý thu thuế phải thực hiện theo đúng trình tự quy định của quy trình quản lý thu thuế

Sau khi nhận được giấy phép đầu tư do cấp có thẩm quyền phê duyệt, doanh nghiệp đến liên hệ trực tiếp với cục thuế để nhận tờ khai đăng ký thuế theo mẫu quy định Doanh nghiệp có trách nhiệm kê khai đầy đủ các chỉ tiêu trên tờ khai, sau đó gửi

tờ khai cùng với bản sao giấy phép đầu tư (đã công chứng) cho cơ quan thuế Cục thuế tiến hành kiểm tra đầy đủ chính xác các chỉ tiêu trên tờ khai, thực hiện việc cấp mã số thuế cho doanh nghiệp (mã số thuế này được tồn tại trong suốt đời sống của doanh nghiệp); đây là bước khởi đầu nhưng có ý nghĩa rất quan trọng, các chứng từ mua bán, trao đổi hàng hóa - dịch vụ của doanh nghiệp phải được ghi đầy đủ mã số thuế này

 Xử lý tờ khai chứng từ nộp thuế

Theo quy trình này doanh nghiệp có thể lấy được mẫu tờ khai thông qua phần mềm hỗ trợ tự khai tự nộp trên trang Web của Tổng cục thuế Thông qua bộ phận một cửa, doanh nghiệp sẽ nộp tờ khai hàng tháng Phòng Kê khai - Kế toán thuế sẽ tiến hành nhập tờ khai chuyển về các phòng Kiểm tra để tiến hành ra soát, đối chiếu và quản lý Trên cơ sở số liệu kê khai, các doanh nghiệp sẽ tự động trích chuyển phần thuế phát sinh phải nộp vào tài khoản của cơ quan quản lý thuế mở tại kho bạc Nhà nước

 Xử lý miễn thuế, giảm thuế

NNT thuộc diện được miễn thuế, giảm thuế theo luật thuế tự xác định mức ưu đãi thuế và kê khai thuế theo quy định, trừ những trường hợp pháp luật về thuế có quy định phải lập hồ sơ đề nghị miễn thuế, giảm thuế gửi cơ quan thuế Đối với các trường hợp phải ra quyết định miễn, giảm, các bộ phận chức năng trong cơ quan thuế cũng phải tiến hành các bước thẩm định nhằm xem xét một cách thận trọng việc miễn, giảm thuế

có đúng đối tượng không, căn cứ miễn giảm, thời hạn miễm giảm, thuế suất áp dụng…

đã đúng chưa? Cơ quan thuế phải kiểm tra kỹ lưỡng trước khi ban hành quyết định Quyết đinh miễn giảm thuế được lưu vào "hồ sơ miễn giảm thuế của NNT" tại bộ phận

Trang 27

lưu trữ theo quy định Việc sử lý miễn, giảm còn căn cứ vào các hiệp định song, đa phương ký kết với các quốc gia khác Bên cạnh các doanh nghiệp có vốn ĐTNN có pháp nhân tại Việt Nam còn phát sinh hoạt động kinh doanh không pháp nhân như nhà thầu, hợp đồng… Để xét miễn, giảm thuế cho những đối tượng này còn căn cứ vào một

số luật bổ sung khác như Luật thuế nhà thầu, Hiệp định tránh đánh thuế hai lần…

 Quyết toán thuế

Đối với thuế thu nhập doanh nghiệp thì NNT kê khai tạm nộp theo quý, tự quyết toán theo năm Đây là công việc rất quan trọng và chiếm thời gian nhiều nhất trong công tác quản lý thu thuế, nếu doanh nghiệp và cơ quan thuế làm tốt khâu này thì tác dụng rất lớn trong quản lý thu thuế Đồng thời góp phần tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Theo quy định của chế độ tài chính hiện hành thì: Các doanh nghiệp đang hoạt động trong thời hạn 90 ngày kể từ khi kết thúc năm dương lịch (trường hợp đặc biệt có thể là năm tài chính đã đăng ký với Bộ Tài Chính) hoặc trước khi chia, tách sát nhập, giải thể trong vòng 45 ngày NNT phải lập và gửi báo cáo quyết toán thuế, báo cáo tài chính đã được cơ quan kiểm toán lập và xác nhận với cơ quan thuế

 Lập hồ sơ người nộp thuế

Phòng Kiểm tra thuế có trách nhiệm tập hợp và quản lý có hệ thống hồ sơ của NNT hàng năm nhằm phục vụ tốt cho công tác quản lý NNT, phòng Kê khai - kế toán thuế, phòng tổng hợp - nghiệp vụ - dự toán có trách nhiệm lưu giữ các tờ khai, bảng kê, chứng từ nộp thuế, quyết định hoàn thuế, phiếu điều chỉnh quyết toán thuế theo đúng chức năng của mình

Thực hiện đầy đủ quy trình quản lý thuế chính là nội dung cơ bản của công tác hành thu, một quy trình khoa học hợp lý sẽ là công cụ tốt để nhà nước thực hiện tốt chức năng quản lý thuế, nâng cao hiệu quả ngành thuế và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình

 Thanh tra, kiểm tra thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Trang 28

Thanh tra, kiểm tra thuế được thực hiện bằng bộ máy của thuế Nhà nước được cụ thể hóa trong Luật thể hiện uy lực, tính nghiêm minh trong việc chấp hành pháp luật về thuế

- Trước hết các phòng Kiểm tra thuế sẽ tiến hành kiểm tra việc chấp hành những quy định về kê khai, nộp thuế của doanh nghiệp Nhiệm vụ của kiểm tra thuế là soát xét đánh giá tính đúng đắn, chính xác của tờ khai của doanh nghiệp với tình hình thực tế kinh doanh tại cơ sở, phát hiện những sai sót và những điều bất thường trong tờ khai của các doanh nghiệp

- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành chế độ thống kê - kế toán, hoá đơn chứng

từ Trong thực tế có rất nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài lợi dụng hoá đơn chứng từ và đặc thù kinh doanh đưa trở về công ty mẹ bao tiêu sản phẩm để trốn lậu thuế, gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước Đồng thời thanh tra thuế sẽ giúp kiểm tra tính chính xác của các số liệu kế toán làm căn cứ tính thuế

- Thanh tra việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nước Quá trình thanh tra đối với những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ giúp phát hiện những trường hợp nộp thiếu, nộp chậm số thuế

- Công tác thanh tra thuế với doanh nghiệp có vốn ĐTNN còn có vai trò trong việc tuyên truyền phổ biến và mang tính răn đe đối với các đối tượng nộp thuế Soát xét

và phát hiện những yếu kém và bất cập, hướng dẫn, sửa chữa kịp thới những sai sót còn tồn tại trong công tác kê khai và nộp thuế của từng doanh nghiệp

- Một nhiệm vụ cũng rất quan trọng của thanh tra, kiểm tra thuế thu nhập doanh nghiệp là giải quyết và xử lý kịp thới những khiếu kiện về thuế Làm tăng tính công bằng và nghiêm minh cho tất cả các đối tượng nộp thuế

Để công tác thanh tra, kiểm tra thuế được hiệu quả thì việc thường xuyên tiến hành kiểm tra, theo dõi mọi biến động của các doanh nghiệp kết hợp thanh tra đột xuất hoặc định kỳ là một việc làm cần thiết

Công tác thanh tra, kiểm tra chỉ có thể đạt được hiệu quả khi nó đảm bảo tính khách quan, trung thực, rõ ràng, sâu sát khi đưa ra kết luận và đặc biệt phải dựa trên cơ

Trang 29

sở các văn bản pháp quy của nhà nước, tuyệt đối không được gây phiền hà, sách nhiễu

cho các doanh nghiệp được thanh tra, kiểm tra

1.2.2.2 Sự cần thiết của quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Quản lý thuế chính là việc thực hiện quá trình hành pháp về thuế Chính vì vậy,

sự cần thiết của quản lý thuế Thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có vốn đầu

tư nước ngoài cũng xuất phát từ chính vai trò của thuế Thu nhập doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân Và ảnh hưởng của thuế TNDN tới sự phát triển của nền kinh tế

mà trong đó khoản thuế từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là một thành phần

 Thuế thu nhập doanh nghiệp là nguồn thu quan trọng của ngân sách Nhà nước

Phạm vi áp dụng của thuế thu nhập doanh nghiệp rất rộng, gồm cá nhân, nhóm kinh doanh, hộ cá thể và các tổ chức kinh tế có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có phát sinh lợi nhuận Nền kinh tế thị trường nước ta ngày càng phát triển

và ổn định, tăng trưởng kinh tế được giữ vững ngày càng cao, các chủ thể hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ngày càng mang lại nhiều lợi nhuận thì khả năng huy động nguồn tài chính cho ngân sách Nhà nước thông qua thuế TNDN ngày càng dồi dào

Trang 30

 Thuế thu nhập doanh nghiệp là công cụ quan trọng để góp phần khuyến khích, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển theo chiều hướng kế hoạch, chiến lược, phát triển toàn diện của Nhà nước

Nhà nước ưu đãi, khuyến khích đối với các chủ thể đầu tư, kinh doanh vào những ngành, lĩnh vực và những vùng, miền mà Nhà nước có chiến lược ưu tiên phát triển trong từng giai đoạn nhất định

 Thuế thu nhập doanh nghiệp còn là một trong những công cụ quan trọng của Nhà nước trong việc thực hiện chức năng điều tiết các hoạt động kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ phát triển kinh tế nhất định

Thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế có vai trò quan trọng trong hệ thống pháp luật thuế của Việt Nam, song để phát huy một cách có hiệu qủa vai trò của thuế thu nhập doanh nghiệp, chúng ta cần phải xem xét nó dưới nhiều khía cạnh, kể cả những kinh nghiệm xử lý của nước ngoài Nếu chúng ta làm tốt các công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì vai trò của thuế đối với loại hình doanh nghiệp này sẽ thực sự phát huy trong thực tế

 Thuế thu nhập doanh nghiệp tạo điều kiện thực hiện mục tiêu công bằng và bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước Đồng thời cũng khuyến khích và thu hút đầu tư

Trong thời kỳ hội nhập kinh tế sâu rộng như hiện nay, không thế tiếp tục thực hiện

cơ chế bao cấp, bảo hộ cho các doanh nghiệp như trước đây Các doanh nghiệp trong và ngoài nước cần được cạnh tranh bình đẳng để vừa thu hút được đầu tư, mở rộng thị trường vừa thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước tự nâng cao khả năng cạnh tranh của mình

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP

NƯỚC NGOÀI TẠI CỤC THUẾ HÀ NỘI

Trang 31

2.1 KHÁI QUÁT SỰ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở HÀ NỘI

2.1.1 Sự hình thành và phát triển các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Luật đầu tư nước ngoài được ban hành năm 1987 Có thể coi đây chính là dấu mốc quan trọng đánh dấu cho sự phát triển của thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam Sự ra đời của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 đã tạo môi trường pháp lý cao hơn để thu hút vốn ĐTNN vào Việt Nam Luật này đã bổ sung

và chi tiết hoá các lĩnh vực cần khuyến khích kêu gọi đầu tư cho phù hợp với hoàn cảnh mới theo phương châm đa dạng hoá, đa phương hoá các quan hệ kinh tế đối ngoại; góp phần thực hiện chủ trương phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế

Có thể thấy, trước đây chúng ta không thừa nhận thành phần kinh tế tư bản nước ngoài, nên thành phần kinh tế này không được quan tâm đúng mức Sau cải cách những năm 1986, trước đòi hỏi của tình hình mời, cũng như để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chúng ta cũng đã có những điểu chỉnh để phát triển và thu hút đầu tư nước ngoài Sự ra đời của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 đã tạo môi trường pháp lý cao hơn để thu hút vốn ĐTNN vào Việt Nam Trong hơn 20 năm qua, Luật đầu tư nước ngoài đã 4 lần được sửa đổi vào các năm 1990, 1992, 1996, 2000 và năm 2006 được hợp nhất với Luật khuyến khích đầu tư trong nước thành Luật đầu tư Cho đến nay chúng ta cũng đã xây dựng một khung pháp lý chung dựa trên Luật đầu tư điều chỉnh tất

cả các loại hình doanh nghiệp trong cả nước không có sự phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước

Từ năm 1988 tính đến hết năm 2007, cả nước có 8.684 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 85,05 tỷ USD; vốn thực hiện (của các dự án còn hoạt động) đạt gần

30 tỷ USD (Nếu tính cả các dự án đã hết hiệu lực thì tổng vốn thực hiện đạt hơn 43 tỷ USD) FDI vào Việt Nam đã đóng góp cho nền kinh tế rất lớn Vốn FDI chiếm tỷ trọng 18% tổng vốn đầu tư xã hội, đóng góp 16,2% GDP, chiếm 19,78% kim ngạch xuất khẩu (chưa kể dầu thô) và 37% giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước

Trang 32

* Phân theo ngành: Lĩnh vực công nghiệp và xây dựng chiếm tỷ trọng lớn nhất

chiếm 67% về số dự án và 60% tổng vốn đầu tư đăng ký Tiếp theo là lĩnh vực dịch vụ chiếm 22,3% về số dự án và 34,3% (tăng từ mức 30,7% đến hết năm 2006) về số vốn đầu tư đăng ký Số còn lại thuộc lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp

* Phân theo hình thức đầu tư:- Hình thức 100% vốn nước ngoài chiếm 77,6%

về số dự án và 61,6% về tổng vốn đăng ký; Liên doanh chiếm 18,8% về số dự án và 28,8% về tổng vốn đăng ký Số còn còn lại đầu tư theo hình thức Hợp doanh, BOT, công ty cổ phần và công ty quản lý vốn

* Phân theo nước: Đã có 82 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt

Nam, trong đó các nước châu Á chiếm 66% tổng vốn đăng ký; các nước châu Âu chiếm 29% tổng vốn đăng ký; các nước châu Mỹ chiếm 4% vốn đăng ký Riêng 4 nền kinh tế đứng đầu trong đầu tư vào Việt Nam theo thứ tự: Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan và Nhật Bản đã chiếm 55% tổng vốn đăng ký Riêng Hàn Quốc đã có 1.837 dự án với tổng vốn đầu tư 13,5 tỉ USD Tuy nhiên trong vài năm gần đây, lượng vốn đầu tư của các quốc gia Tây Âu và Bắc Mĩ cũng đã tăng lên nhanh chóng

*Phân theo địa phương: Hiện nay đã có 52 tỉnh, thành phố của nước ta thu hút

nguồn vốn ĐTNN Các thành phố lớn, có điều kiện kinh tế xã hội thuận lợi thuộc các vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và phía Bắc vẫn là những địa phương dẫn đầu thu hút ĐTNN, trong đó 5 địa phương dẫn đầu :

(1) TP Hồ Chí Minh chiếm 27,6% về số dự án và 20% tổng vốn đăng ký;

(2) Hà Nội chiếm 11,6% về số dự án; 14,9% tổng vốn đăng ký;

(3) Đồng Nai chiếm 10,5% về số dự án; 13,7% tổng vốn đăng ký;

(4) Bình Dương chiếm 18,2% về số dự án; 10,0% tổng vốn đăng ký;

(5) Bà Rịa –Vũng Tàu chiếm 1,8% về số dự án; 7,2% tổng vốn đăng ký;

Tình hình đầu tư nước ngoài năm 2007

Sau một năm gia nhập WTO, thu hút đầu tư nước ngoài (FDI) của Việt Nam đã

có những bước phát triển vượt Theo Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư),

Trang 33

hoạt động đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong năm 2007 tiếp tục có bước đột phá về lượng và có sự chuyển biến mạnh mẽ về chất Trong năm 2007 tổng vốn đăng ký đạt 21,3 tỷ USD vượt 1 tỷ USD so với báo cáo ban đầu (20,3 tỷ USD) Tổng vốn thực hiện

đã đạt hơn 8 tỷ USD (trong đó dầu khí đạt 2,89 tỷ USD), vượt 4 tỷ USD so với báo cáo ban đầu (4,6 tỷ USD) Tính chung, thu hút FDI đạt 21,3 tỷ USD, tăng gần 70% so với năm 2006, gần bằng tổng mức đầu tư nước ngoài của 5 năm 2001-2005 và chiếm tới gần 20% tổng vốn đầu tư nước ngoài trong 20 năm qua

* Theo ngành nghề: Trong năm 2007, vốn đầu tư đăng ký (cấp mới và tăng vốn)

tiếp tục tập trung trong lĩnh vực công nghiệp, chiếm 54,9% tổng vốn đầu tư đăng ký Tiếp theo là lĩnh vực dịch vụ, chiếm 44,5% Số còn lại thuộc lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp

* Theo đối tác đầu tư: Trong năm 2007 có 55 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư

tại Việt Nam, trong đó Hàn Quốc tiếp tục giữ vị trí đứng đầu với số vốn đăng ký (cấp mới và tăng vốn) 5,3 tỷ USD, chiếm 25,2% về tổng vốn đăng ký British Virgin Islands đứng thứ 2, chiếm 20,6%; Singapore đứng thứ 3, chiếm 12,04%; Đài Loan đứng thứ 4, chiếm 11,6%; Nhật Bản đứng thứ 5, chiếm 6,4%; Malaysia đứng thứ 6, chiếm 5,5% ; Trung Quốc đứng thứ 7, chiếm 2,6% (cộng cả Hồng Kông sẽ chiếm 5,5%) và Hoa Kỳ (không tính các dự án đầu tư qua nước thứ 3) đứng thứ 8, chiếm 1,8%; Thái Lan đứng thứ 10 chiếm 1,3% tổng vốn đăng ký

* Về cơ cấu vùng: Trừ dầu khí, trong năm 2007 cả nước có 56 địa phương thu

hút được dự án ĐTNN, trong đó 10 địa phương dẫn đầu Đó là: Hà Nội đứng đầu với số vốn đăng ký 2,5 tỷ USD, chiếm 11,8% tổng vốn đầu tư đăng ký; Đồng Nai đứng thứ 2, chiếm 11,3%; TP Hồ Chí Minh đứng thứ 3, chiếm 10,6% ; Bình Dương đứng thứ 4, chiếm 10,5% về tổng vốn đầu tư đăng ký; Phú Yên đứng thứ 5, chiếm 7,9%; Bà Rịa-Vũng Tàu đứng thứ 6, chiếm 5,2%; Vĩnh phúc đứng thứ 7, chiếm 4,9%; Đà Nẵng đứng thứ 8, chiếm 4,4%; Long An đứng thứ 9 chiếm 3,8% và Hậu Giang đứng thứ 10, chiếm 2,9%

Vốn đăng ký trong thời gian qua tập trung chủ yếu vào kinh doanh bất động sản, bao gồm: xây dựng căn hộ, văn phòng, phát triển khu đô thị mới, kinh doanh hạ tầng

Trang 34

khu công nghiệp (42% tổng vốn đầu tư nước ngoài trong khu vực dịch vụ), du khách sạn (24%), giao thông vận tải-bưu điện (18%) Trong số các ngành dịch vụ, lĩnh vực dịch vụ du lịch đang nổi lên là điểm sáng đáng chú ý của nền kinh tế Việt Nam với

lịch-số lượng các dự án lớn đang tìm hiểu và xúc tiến đầu tư tăng mạnh Chỉ tính riêng năm

2007, số liệu thống kê của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch cho thấy: ngành du lịch Việt Nam đã thu hút 47 dự án FDI với tổng số vốn đăng ký lên đến trên 1,86 tỷ USD, tăng 19,57% so với năm 2006

Một thành công nữa là Việt Nam đã thu hút được các tập đoàn lớn vào kinh doanh tại Việt Nam Điều đó đã tạo ra uy thế cho Việt Nam cũng như giá trị sản phẩm trên trường quốc tế Hiện có trên 110 các tập đoàn đa quốc gia (TNCs) trong danh sách

500 tập đoàn đa quốc gia lớn nhất thế giới (do tạp chí uy tín Fortune 500 công bố) đã đầu tư vào Việt Nam với tổng vốn đăng ký là 11,09 tỉ USD, chiếm một tỉ trọng lớn, 20% tổng vốn FDI của cả nước

Ba tháng đầu năm nay, tổng vốn FDI vào Việt Nam ước đạt 5,4 tỷ USD và vốn thực hiện đạt 1,6 tỷ USD, tăng 31% so với cùng kỳ năm ngoái Mỹ đã thay thế Hàn Quốc trở thành nhà đầu tư số một vào Việt Nam trong thời điểm này

Tình hình doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên dịa bàn Hà Nội

Hà Nội là một thành phố lớn, là trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa của cả nước, có điều kiện kinh tế xã hội thuận lợi, thuộc các vùng kinh tế trọng điểm nên vẫn luôn là địa phương dẫn đầu thu hút ĐTNN Đứng thứ 2 trong cả nước về thu hút vốn ĐTNN chiếm 11,6% về số dự án; 14,9% tổng vốn đăng ký Trong đó có mặt đầy đủ cả

82 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào đa dạng các lĩnh vực

Ước tính đến hết tháng 3/2008, Hà Nội thu hút được 72 dự án cả cấp mới và tăng vốn với tổng vốn đăng ký là 574,8 triệu USD Trong đó:

- Dự án cấp mới là 67 dự án với vốn đầu tư đăng ký là 542 triệu USD; trong đó

có một số dự án đầu tư lớn là Công ty đầu tư xây dựng hạ tầng Khu công nghệ sinh học

Hà Nội- 250 triệu USD (Irland), Công ty TNHH Khách sạn 5 sao Hoa Sen - 250 triệu

Trang 35

USD (X2- Riviera/CSK); Công ty TNHH Honda Trading Việt nam với vốn đầu tư 5 triệu USD

- Dự án tăng vốn là 5 dự án với vốn đầu tư đăng ký là 32,8 triệu USD; trong đó

có 3 dự án tăng vốn nhiều nhất là Công ty cổ phần Vina Power –tăng 15,6 triệu USD, Công ty bảo hiểm nhân thọ Prevoir Việt nam- tăng 13 triệu USD, Công ty TNHH dịch

vụ xây dựng và phát triển phần mềm Okada Harmony- tăng 4 triệu USD So với cùng

kỳ năm trước số dự án ước bằng 100% (72/72), còn số vốn đầu tư tăng gấp 2,6 lần (574,8/218,9)

Bảng 2.1 : Tổng vốn đăng ký kinh doanh mời và bổ sung của doanh nghiệp

có vốn ĐTNN ( giai đoạn 2003 – 2007) trên địa bàn Hà Nội

Đơn vị : Triệu USD

Nguồn : Sở Kế hoạch đầu tư Hà Nội

Bảng 2.2 : Vốn đầu tư theo thành phần kinh tế trên địa bàn Hà Nội (2005 –

2007)

Đơn vị : Triệu USD, %

Trang 36

Nguồn : Sở Kế hoạch đầu tư Hà Nội

2.1.2 Những đặc điểm về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Cục thuế Hà Nội

Khác với các địa phương trên cả nước, quản lý thuế nói chung và thuế TNDN nói riêng, Hà nội có những điểm riêng về tổ chức bộ máy và cơ chế chính sách quản lý thuế ở mỗi giai đoạn phát triển của nền kinh tế, cũng như ở từng giai đoạn của cải cách

hệ thống thuế

+ Ví dụ như trong giai đoạn thực hiện cơ chế TKN: trong khi cả nước còn thực hiện kê khai và nộp theo thông báo của cơ quan thuế thì Hà Nội đã bắt đầu tiến hành thực hiện doanh nghiệp tự khai, tự chịu trách nhiệm Điều này cũng cho thấy vị trí cũng như vai trò của doanh nghiệp có vốn ĐTNN cũng như bộ máy cơ quan quản lý thuế ở

Hà Nội đối với cả nước

- Địa bàn Hà Nội có đối tượng có vốn ĐTNN đa dạng, hoạt động đa ngành nghề, lĩnh vực chính vì vậy đặt ra yêu cầu quy định quản lý thuế cần rõ ràng, minh bạch, có sự phân loại và điều chỉnh cụ thể cho từng đối tượng những cũng phải mang tính bao quát, bọc lót nguồn thu Hơn nữa do đặc thù các doanh nghiệp có quy lớn, đối tượng lại đa dạng vì vây quy trình quản lý thuế cần đơn giản, dễ thực hiện

- Đối tượng đa dạng, hoạt động kinh doanh đa dạng ngành nghề, lĩnh vực nhất thiết cần có số lượng lớn cán bộ quản lý, lực lượng này cần có chuyên môn tốt, am hiểu

cả pháp luật Việt Nam và cả pháp luật quốc tế Ví dụ như số cán bộ quản lý doanh nghiệp có vốn ĐTNN tại Cục thuế Hà Nôi hiện nay là 32 người trong khi tại Cục thuế

Hà Tây số lượng này là 14 người Một yếu tố không kém phần quan trọng là các cán

Trang 37

bộ thuế phải thông thạo ngoại ngữ không chỉ tiếng Anh mà cần biết và sử dụng thêm những ngoại ngữ khác nữa để hoàn thành tốt được công việc của mình

- Hà Nội là thủ đô kinh tế chính trị văn hóa của cả nước chính vì vậy môi trường chính trị và quản lý hành chính cũng có những đặc thù riêng có so với các địa phương khác điều này gián tiếp ảnh hưởng tới yêu cầu quản lý thuế trên địa bàn Vì vậy ngoài yêu cầu về quản lý nguồn thu về thuế Hà Nội còn phải đảm bảo yêu cầu về an ninh, chính trị, văn hóa, môi trường khắt khe hơn so với các địa phương khác trong cả nước

2.2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI CỤC THUẾ HÀ NỘI

2.2.1 Tổ chức bộ máy quản lý thuế tại Cục thuế Hà Nội

Cơ cấu tổ chức của Cục thuế Hà Nội

Cục thuế thành phố Hà Nội được thành lập theo quyết định 314/TC-QĐ-TCCB ngày 21/8/1990 của Bộ trưởng Bộ Tài Chính và quyết định 1683/QĐ/TCT ngày 14/1/2003 của Tổng cục trưởng Tổng cục thuế Vị trí, chức năng của Cục thuế Hà Nội được quy định cụ thể tại quyết định số 49/2007/QĐ-BTC ngày 15 tháng 6 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Tài chính

Cục Thuế thành phố Hà Nội (sau đây gọi chung là Cục Thuế Hà Nội) là tổ chức trực thuộc Tổng cục Thuế, có chức năng tổ chức thực hiện công tác quản lý thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác của Ngân sách nhà nước (sau đây gọi chung là thuế) trên địa bàn thành phố Hà Nội theo quy định của pháp luật

Bên cạnh nhiệm vụ đảm bảo số thu cho ngân sách Nhà nước, Cục thuế Hà Nội còn phải thực hiện các chương trình, kế hoạch công tác do Tổng cục thuế giao và đảm bảo thông tin đáp ứng yêu cầu quản lý, chỉ đạo của Thành uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội

Cục thuế Hà Nội hiện nay có 1 Cục trưởng và 4 phó cục trưởng giúp Cục trưởng quản lý các công việc chuyên môn Cục thuế Hà Nội có 17 phòng chức năng và 14 chi

Trang 38

cục Thuế trực thuộc (Là các Chi cục thuế quận, huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội) Các phòng chức năng tiếp quản lý và thực hiện những nhiệm vụ Cục trưởng giao cho

Chức năng, nhiệm vụ cụ thể của các phòng

Những năm trở lại đây nhất là từ khi Luật quản lý thuế ra đời, bộ máy quản lý thuế ở cơ quan thuế các cấp được cải cách theo hướng tổ chức tập trung theo các chức năng: tuyên truyền, hướng dẫn cơ sở kinh doanh; theo dõi, xử lý việc kê khai thuế; đôn đốc thu nợ và cưỡng chế thuế; kiểm tra, thanh tra thuế nhằm chuyên môn hoá, nâng cao năng lực quản lý thuế ở từng chức năng

Trên cơ sở tổ chức bộ máy quản lý thuế theo chức năng, cơ quan thuế phân định rõ chức năng nhiệm vụ giữa các phòng, ban, bộ phận, giữa cấp trung ương và cấp địa phương, trong đó tăng cường vai trò của cấp trung ương trong việc xây dựng kế hoạch, chỉ đạo, hướng dẫn giám sát và đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch của các địa phương Tương ứng với việc cải cách về bộ máy tổ chức, cán bộ thuế được đào tạo, có

đủ kiến thức, năng lực để thực hiện kỹ năng quản lý thuế chuyên sâu (tính chuyên nghiệp cao) theo từng chức năng quản lý

Theo Quyết định số 728/QĐ-TCT ngày 18 tháng 6 năm 2007 của Tổng cục

Trưởng Tổng cục Thuế, cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của các phòng thuộc

Cục Thuế được quy định cụ thể như sau:

Phòng Tuyên truyền và hỗ trợ người nộp thuế: Giúp Cục trưởng Cục thuế tổ

chức thực hiện công tác tuyên truyền về chính sách, pháp luật thuế, hỗ trợ người nộp

thuế trong phạm vi Cục Thuế quản lý

Phòng Kê khai và Kế toán thuế: Giúp Cục trưởng Cục thuế tổ chức thực hiện

công tác đăng ký thuế, xử lý hồ sơ kê khai thuế, kế toán thuế, thống kê thuế trong phạm

vi Cục Thuế quản lý

Phòng Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế: Giúp Cục trưởng Cục thuế tổ chức

thực hiện công tác quản lý nợ thuế, đôn đốc thu tiền thuế nợ và cưỡng chế thu tiền thuế

nợ, tiền phạt trong phạm vi quản lý

Trang 39

Phòng Kiểm tra thuế: Giúp Cục trưởng Cục Thuế kiểm tra, giám sát kê khai

thuế; chịu trách nhiệm thực hiện dự toán thu đối với người nộp thuế thuộc phạm vi quản

lý trực tiếp của Cục Thuế

Phòng kiểm tra được chia làm 4 phòng kiểm tra phân theo đối tượng quản lý và lĩnh vực kinh doanh của các doanh nghiệp

 Phòng kiểm tra 1 quản lý các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong thuộc lĩnh vực tài chính, ngân hàng, dầu khí, bảo hiểm, ngoại giao trên địa bàn thủ đô

 Phòng kiểm tra 2 quản lý các doanh nghiệp thuộc khối ngành giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, hàng hải

 Phòng kiểm tra 3 quản lý các doanh nghiệp hoạt động thương mại dịch vụ, văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng, xăng dầu

 Phòng kiểm tra 4 quản lý các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn Thành phố Hà Nội

Phòng Thanh tra thuế: Giúp Cục trưởng Cục thuế triển khai thực hiện công tác

thanh tra người nộp thuế trong việc chấp hành pháp luật thuế; giải quyết tố cáo về hành

vi trốn lậu thuế, gian lận thuế liên quan đến người nộp thuế thuộc phạm vi Cục Thuế quản lý

Ba phòng thanh tra có chức năng chung, nhiệm vụ công tác của mỗi phòng từng năm tuân theo sự phân công của Lãnh đạo cục và có sự luân phiên thay đổi theo từng năm

Phòng Tổng hợp – Nghiệp vụ - Dự toán: Giúp Cục trưởng Cục thuế trong việc

chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ quản lý thuế, chính sách, pháp luật thuế; xây dựng và thực hiện dự toán thu ngân sách nhà nước thuộc phạm vi Cục Thuế quản lý

Phòng Quản lý thuế thu nhập cá nhân: Giúp Cục trưởng Cục thuế tổ chức, chỉ

đạo triển khai quản lý thuế thu nhập cá nhân đối với các cá nhân có thu nhập thuộc diện phải nộp thuế thu nhập cá nhân theo quy định của pháp luật thuộc phạm vi Cục Thuế quản lý;

Trang 40

Phòng Kiểm tra nội bộ: Phòng kiểm tra nội bộ được thành lập để phù hợp với

những quy định của luật Quản lý thuế Có thể coi đây là phòng chức năng mới được thành lập, có chức năng giúp Cục trưởng Cục thuế tổ chức chỉ đạo, triển khai thực hiện công tác kiểm tra việc tuân thủ pháp luật, tính liêm chính của cơ quan thuế, công chức thuế; giải quyết khiếu nại (bao gồm cả khiếu nại các quyết định xử lý về thuế của cơ quan thuế và khiếu nại liên quan trong nội bộ cơ quan thuế, công chức thuế), tố cáo liên quan đến việc chấp hành công vụ và bảo vệ sự liêm chính của cơ quan thuế, công chức thuế trong phạm vi quản lý của Cục trưởng Cục thuế

Phòng Tin học: Giúp Cục trưởng Cục thuế tổ chức quản lý và vận hành hệ thống

trang thiết bị tin học ngành thuế; triển khai các phần mềm ứng dụng tin học phục vụ công tác quản lý thuế và hỗ trợ hướng dẫn, đào tạo cán bộ thuế trong việc sử dụng ứng dụng tin học trong công tác quản lý

Phòng Tổ chức cán bộ: Giúp Cục trưởng Cục thuế tổ chức chỉ đạo, triển khai

thực hiện về công tác tổ chức bộ máy, quản lý cán bộ, biên chế, tiền lương, đào tạo cán

bộ và thực hiện công tác thi đua khen thưởng trong nội bộ Cục thuế

Phòng Quản trị - Tài vụ - Ấn chỉ: Giúp Cục trưởng Cục thuế tổ chức chỉ đạo,

triển khai thực hiện các công tác hành chính, văn thư, lưu trữ; công tác quản lý tài chính, quản lý đầu tư xây dựng cơ bản, quản trị, quản lý và hướng dẫn các nghiệp vụ về

ấn chỉ thuế trong toàn Cục thuế

Phòng Hành chính - Lưu trữ: Giúp Cục trưởng Cục thuế tổ chức chỉ đạo triển

khai thực hiện công tác hành chính, chương trình, kế hoạch công tác của Cục Thuế trong phạm vi toàn Cục Thuế

Phòng Kiểm tra thuế số 1 – Phòng quản lý doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Phòng kiểm tra thuế số 1 tiền thân là Phòng Quản lý doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hay phòng Đầu tư nước ngoài được thành lập theo quyết định số 161 CT/TCCB ngày 17/07/1993 của Cục trưởng cục thuế Hà Nội Phòng được thành lập trên cơ sở tách một bộ phận của phòng thuế các đơn vị kinh tế nông – lâm - thuỷ lợi,

Ngày đăng: 12/02/2014, 22:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Nguyễn Minh Ngọc (Tổng cục Thuế) "Dịch vụ hóa đối tượng nộp thuế - xu hướng cải cách công tác quản lý thuế", Thời báo Tài chính Việt nam, số 143 (884) ngày 29/11/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch vụ hóa đối tượng nộp thuế - xu hướng cải cách công tác quản lý thuế
7. TS Quách Đức Pháp "Tiến trình cải cách hệ thống chính sách thuế ở Việt nam", Tạp chí thuế Nhà nước, số 4/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến trình cải cách hệ thống chính sách thuế ở Việt nam
8. TS Quách Đức Pháp (2000), Những vấn đề cần giải quyết để thực hiện cải cách hành chính về công tác thu thuế, Ban tổ chức cán bộ Chính phủ, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cần giải quyết để thực hiện cải cách hành chính về công tác thu thuế
Tác giả: TS Quách Đức Pháp
Năm: 2000
9. Bộ Tài chính - Tổng cục Thuế (2001), Thuế Việt nam qua các thời kỳ lịch sử (tập I, tập II), Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà nội.Các văn bản quy phạm pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuế Việt nam qua các thời kỳ lịch sử (tập I, tập II)", Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà nội
Tác giả: Bộ Tài chính - Tổng cục Thuế
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
Năm: 2001
10. Luật đầu tư của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 59/2005/QH11 ngày 29/11/2005 và các Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật đầu tư Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật đầu tư của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 59/2005/QH11
Năm: 2005
16. Cục thuế TP Hà nội, Báo cáo tổng kết công tác thuế các năm 2003-2007 17. Phòng Kiểm tra thuế số 1, Báo cáo nhanh số liệu thu thuế năm 2003-2007 18. Báo cáo tài chính hàng năm của Bộ tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác thuế các năm 2003-2007
Tác giả: Cục thuế TP Hà nội
11. Luật thuế thu nhập doanh nghiệp của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 09/2003/QH11 ngày 17/6/2003 và các Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp Khác
12. Luật Quản lý Thuế của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 78/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006 Khác
13. Nghị định 32/2007/NĐ-CP và thông tư 134/2008/TT-BTC hướng dẫn chi tiết thi hành Nghị định 32/2007/NĐ-CP Khác
14. Luật Quản lý Thuế của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 78/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006 và các văn bản hướng dẫn thi hành Khác
15. Danh mục một số văn bản về tổ chức bộ máy cơ quan thuế, quy trình nghiệp vụ và quy chế làm việc Khác
19. Báo cáo số liệu tổng kết của Cục đầu tư nước ngoài - Bộ kế hoạch đầu tư cho những dự án còn hiệu lực tính tới ngày 22/12/2007 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Tổng vốn đăng ký kinh doanh mời và bổ sung của doanh nghiệp có vốn ĐTNN ( giai đoạn 2003 – 2007) trên địa bàn Hà Nội - Hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Cục thuế thành phố Hà Nội
Bảng 2.1 Tổng vốn đăng ký kinh doanh mời và bổ sung của doanh nghiệp có vốn ĐTNN ( giai đoạn 2003 – 2007) trên địa bàn Hà Nội (Trang 35)
Bảng 2.3: Số thu thuế thu nhập doanh nghiệp từ doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Cục thuế Hà Nội (2003 – 2007) - Hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Cục thuế thành phố Hà Nội
Bảng 2.3 Số thu thuế thu nhập doanh nghiệp từ doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Cục thuế Hà Nội (2003 – 2007) (Trang 43)
Bảng 2.4: Chênh lệch số thuế kê kha i- số thực nộp - số kiểm tra thuế TNDN của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (2003 – 2007) - Hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Cục thuế thành phố Hà Nội
Bảng 2.4 Chênh lệch số thuế kê kha i- số thực nộp - số kiểm tra thuế TNDN của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (2003 – 2007) (Trang 45)
(*): Gồm cả nợ khó thu tài chính do tình hình tài chính gặp khó khăn - Hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Cục thuế thành phố Hà Nội
m cả nợ khó thu tài chính do tình hình tài chính gặp khó khăn (Trang 46)
Bảng 2.6: Chênh lệch thuế thu nhập doanh nghệp phổ thông giữa một số nước trên thế giới - Hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Cục thuế thành phố Hà Nội
Bảng 2.6 Chênh lệch thuế thu nhập doanh nghệp phổ thông giữa một số nước trên thế giới (Trang 51)
Bảng 2.7: Tình hình sản xuất kinh doanh và thực hiện nghĩa vụ thuế của công ty X                                                                     Đơn vị: Tỷ đồng - Hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Cục thuế thành phố Hà Nội
Bảng 2.7 Tình hình sản xuất kinh doanh và thực hiện nghĩa vụ thuế của công ty X Đơn vị: Tỷ đồng (Trang 53)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w