Giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay trung và dài hạn tại NHTM cổ phần Hàng Hải, chi nhánh Đống Đa
Trang 1
TIỂU LUẬN:
Giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay trung và dài hạn tại NHTM cổ phần
Hàng Hải, chi nhánh Đống Đa
Trang 2
LỜI MỞ ĐẦU
Ngân hàng là một trong những mắt xích quan trọng cấu thành nên sự vận động nhịp nhàng của nền kinh tế Cùng với các ngành kinh tế khác, ngân hàng có nhiệm vụ tham gia bình ổn thị trường tiền tệ, kiềm chế và đẩy lùi lạm phát, tạo công ăn việc làm cho người lao động, giúp đỡ các nhà đầu tư, phát triển thị trường vốn, thị trường ngoại hối, tham gia thanh toán và hỗ trợ thanh toán
Với tư cách là trung tâm tiền tệ tín dụng của nền kinh tế, để phù hợp với xu hướng
đa dạng hóa các hoạt động của ngân hàng nhằm phục vụ bổ sung vốn lưu động và vốn
cố định cho doanh nghiệp, hệ thống NHTM Việt Nam cũng đã chủ trương đẩy mạnh hoạt động tín dụng trung, dài hạn đối với các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh
tế bên cạnh hoạt động ngắn hạn truyền thống
Tuy nhiên, cũng như mọi hoạt động kinh doanh khác, hoạt động tín dụng cũng chứa đầy rẫy những rủi ro Do đặc thù kinh doanh tín dụng ngân hàng là kinh doanh chủ yếu dựa vào tiền của người khác, kinh doanh qua tay người khác nên rủi ro trong hoạt động tín dụng cao hơn nhiều so với các doanh nghiệp, vì nó vừa phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của chính bản thân ngân hàng và vừa phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Hậu quả của nó rất dễ lan truyền trong cả hệ thống ngân hàng, gây ra những vụ hoảng loạn và sụp đổ của hàng loạt ngân hàng cùng một loạt hậu quả nghiêm trọng khác về mọi mặt kinh tế xã hội, đặc biệt là lòng tin của người dân vào sự lãnh đạo của Chính phủ bị suy giảm
Vì vậy vấn để đặt ra ở đây là làm sao hạn chế được rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng, trong khi chiến lược phát triển kinh tế-xã hội đến năm 2020 của Đảng, Nhà nước theo hướng CNH-HĐH đòi hỏi việc triển khai nhiều dự án đầu tư.Muốn vậy thì những dự án này phải đảm bảo chất lượng, tức là phải làm tốt công tác chuẩn bị đầu
tư, trong đó có việc lập, thẩm định và phê duyệt dự án.Chính vì vậy vai trò to lớn của công tác thẩm định tín dụng dự án đầu tư, đặc biệt là thẩm định tài chính dự án đầu tư là không thể phủ nhận được
Trang 3
Em hoàn thành chuyên để thực tập : “ Giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định
tài chính dự án trong hoạt động cho vay trung và dài hạn tại NHTM cổ phần Hàng
Hải, chi nhánh Đống Đa ”
Chuyên đề thực tập gồm ba chương:
Chương I :Những vấn đề lý luận chung về chất lượng thẩm định tài chính
dự án trong hoạt động cho vay trung và dài hạn của NHTM
Chương II :Thực trạng chất lượng thẩm định tài chính dự án trong hoạt
động cho vay trung và dài hạn tại NHTM cổ phần Hàng Hải-chi nhánh Đống Đa
Chương III : Giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án trong hoạt
động cho vay trung và dài hạn tại NHTM cổ phần Hàng Hải-chi nhánh Đống Đa
Trang 4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
NHTM : Ngân hàng thương mại
MSB, Maritime bank : Viết tắt của Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng Hải
LNTT : Lợi nhuận trước thuế
TNDN : Thu nhập doanh nghiệp
LNST : Lợi nhuận sau thuế
Trang 5
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I 7
NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN CỦA NHTM 7 1.1.Hoạt động cho vay của NHTM 7
1.1.1.Định nghĩa hoạt động cho vay của NHTM 7
1.1.2 Phân loại cho vay 8
1.2.Hoạt động cho vay trung và dài hạn của NHTM 10
1.2.1.Khái niệm cho vay trung và dài hạn 10
1.2.2.Các phương thức cho vay trung và dài hạn 10
1.3.Hoạt động thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay trung và dài hạn của NHTM 10
1.3.1.Khái niệm về hoạt động thẩm định tài chính dự án 10
1.3.2.Sự cần thiết của công tác thẩm định tài chính trong hoạt động cho vay trung và dài hạn của NHTM 11
1.4.Nội dung công tác thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay trung và dài hạn của NHTM .12
1.4.1.Thẩm định dự toán đầu tư và nguồn tài trợ .12
1.4.2.Thẩm định doanh thu, chi phí, lợi nhuận hàng năm của dự án .14
1.4.3.Thẩm định dòng tiền hàng năm của dự án .15
1.4.4.Thẩm định hiệu quả tài chính của dự án 18
1.5.Phân tích và đánh giá rủi ro của dự án .22
1.5.1.Khái niệm và sự cần thiết phải phân tích rủi ro 22
1.5.2.Các phương pháp phân tích rủi ro 23
1.6.Chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư của NHTM và nhân tố ảnh hưởng 26
1.6.1.Khái niệm về chất lượng thẩm định tài chính dự án đẩu tư 26
Trang 6
1.6.2.Các nhân tố ảnh hưởng 27
CHƯƠNG II 32
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN TẠI NHTM CỔ PHẦN HÀNG HẢI, CHI NHÁNH ĐỐNG ĐA, HÀ NỘI 33
2.1.Khái quát chung về NHTM cổ phần Hàng Hải, Chi nhánh Đống Đa, Hà Nội .33
2.1.1.Tổng quan về NHTM cổ phần Hàng Hải, Chi nhánh Đống Đa 33
2.1.2.Những kết quả đạt được của NHTM cổ phần Hàng Hải-chi nhánh Đống Đa,Hà Nội trong những năm gần đây .35
2.2.Thực trạng chất lượng thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay trung và dài hạn của NHTM cổ phần Hàng Hải, Chi nhánh Đống Đa trong thời gian qua .37
2.2.1.Những quy định chung về công tác thẩm định tài chính dự án trung và dài hạn của NHTM cổ phần Hàng Hải .37
2.2.2.Tình hình thẩm định tài chính dự án đầu tư tại NHTM cổ phần Hàng Hải, chi nhánh Đống Đa, Hà Nội 40
2.2.3.Đánh giá về chất lượng công tác thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay trung và dài hạn tại NHTM cổ phần Hàng Hải ,Chi nhánh Đống Đa .49
CHƯƠNG III 54
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN TẠI NHTM CỔ PHẦN HÀNG HẢI, CHI NHÁNH ĐỐNG ĐA, HÀ NỘI .54
3.1 Định hướng phát triển hoạt động cho vay trung và dài hạn của NHTM cổ phần Hàng hải, Chi nhánh Đống Đa .54
3.1.1.Định hướng phát triển chung 54
3.1.2.Định hướng hoạt động cho vay trung và dài hạn .55
3.1.3 Định hướng công tác thẩm định 55
Trang 7
3.2.Giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay trung và dài hạn tại NHTM cổ phần Hàng Hải, Chi nhánh Đống Đa.56
3.2.1.Giải pháp khi thực hiện thẩm định dự án 56
3.2.2.Giải pháp về thông tin 57
3.2.3.Giải pháp về hỗ trợ thẩm định 58
3.3.Một số kiến nghị 59
3.3.1.Kiến nghị Chính phủ 59
3.3.2.Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước .59
3.3.3.Kiến nghị với NHTM cổ phần Hàng Hải 60
KẾT LUẬN 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
PHỤ LỤC 64
CHƯƠNG I
NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ
ÁN TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN CỦA NHTM
1.1.Hoạt động cho vay của NHTM
1.1.1.Định nghĩa hoạt động cho vay của NHTM
Trang 8
Trải qua nhiều thế kỉ từ khi xuất hiện đến nay hệ thống các ngân hàng thương mại với hàng ngàn chi nhánh ở khắp năm châu đã không ngừng thể hiện tầm quan trọng không thể thiếu của mình đối với sự phát triển nền kinh tế thế giới nói chung, cũng như đối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia riêng biệt Chính hệ thống Ngân hàng với những phương tiện giao dịch hiện đại (Ngân hàng điện tử) đang từng bước xoá bỏ sự ngăn cách về địa lý, không gian và thời gian làm cho các lục địa xích lại gần nhau hơn Ngày nay hoạt động ngân hàng không còn chỉ đơn điệu với những nghiệp vụ đơn giản như nhận tiền gửi, đổi tiền…mà đã trở nên vô cùng phong phú đa dạng với homebanking, thẻ ngân hàng, chuyển tiền điện tử,….Tuy nhiên những khoản dịch vụ hiện đại này mới chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng cơ cấu tài sản của ngân hàng, còn phần tỷ trọng lớn trong cơ cấu tài sản của ngân hàng vẫn là các dịch vụ cho vay Vậy cho vay là gì?
Thực chất cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao
cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời hạn nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi Thời hạn nhất định ở đây chính là thời hạn cho vay Thời hạn cho vay là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng bắt đầu nhận vốn vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi vay đã được thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng và khách hàng
Hoạt động cho vay cũng có mối quan hệ mật thiết với tình hình phát triển kinh tế tại khu vực ngân hàng phục vụ, bởi cho vay thúc đẩy tăng trưởng của các doanh nghiệp, tạo ra sức sống cho nền kinh tế Không những vậy thông qua các khoản cho vay của ngân hàng, thị trường sẽ có thêm những thông tin về chất lượng tín dụng của từng khách hàng và nhờ đó giúp họ có khả năng nhận thêm các khoản tín dụng mới từ những nguồn khác với chi phí thấp hơn Đối với hầu hết các ngân hàng thương mại, đặc biệt ở các nước đang phát triển thì thu nhập từ cho vay chiếm quá nửa tổng giá trị tổng nguồn thu của ngân hàng
1.1.2 Phân loại cho vay
Trang 9
Về cách phân loại có rất nhiều cách khác nhau, tuỳ theo mỗi tiêu thức phân loại
và tuỳ theo từng ngân hàng mà hoạt động cho vay được chia ra làm nhiều loại, nhằm thuận tiện cho quản lý và phù hợp với mục đích vay vốn của khách hàng
*Dựa vào mục đích cho vay- theo tiêu thức này cho vay có thể phân chia thành các loại sau:
- Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh công thương nghiệ
- Cho vay tiêu dùng cá nhân
- Cho vay bất động sản
- Cho vay nông nghiệp
- Cho vay kinh doanh xuất nhập khẩu…
* Dựa vào thời hạn cho vay- theo tiêu thức này cho vay có thể phân chia thành các loại sau:
- Cho vay ngắn hạn
- Cho vay trung hạn
- Cho vay dài hạn
* Dựa vào mức độ tín nhiệm của khách hàng- theo tiêu thức này cho vay có thể phân chia thành các loại sau:
- Cho vay không có đảm bảo
- Cho vay có đảm bảo
* Dựa vào phương thức cho vay- theo tiêu thức này cho vay có thể phân chia thành các loại sau:
- Cho vay theo món
- Cho vay theo hạn mức tín dụng
- Cho vay theo định mức thấu chi
* Dựa vào phương thức thanh toán trả nợ vay- theo tiêu thức này cho vay có thể phân chia thành các loại sau:
- Cho vay chỉ có một kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả nợ một lần khi đáo hạn
- Cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả góp
Trang 101.2.Hoạt động cho vay trung và dài hạn của NHTM
1.2.1.Khái niệm cho vay trung và dài hạn
Quan niệm về cho vay trung và dài hạn tại các nước khác nhau trên thế giới là
không giống nhau Tại thị trường tài chính Việt Nam cho vay trung và dài hạn vẫn
được coi là các khoản cho vay có thời hạn trên 1 năm Trong đó:
Cho vay trung hạn là các khoản cho vay có thời hạn từ 1 đến 3 năm
Cho vay dài hạn là những khoản cho vay có thời hạn trên 3 năm
1.2.2.Các phương thức cho vay trung và dài hạn
Mục đích của cho vay trung và dài hạn là nhằm đầu tư vào tài sản cố định của
doanh nghiệp Dựa vào mục đích cho vay, ngân hàng có thể cho khách hàng vay vốn dài hạn để đầu tư mua sắm tài sản cố định như máy móc, thiết bị hoặc cho khách hàng vay vốn dài hạn để đầu tư vào một dự án đầu tư Cho nên về phương thức cho vay dài hạn
có thể là:
*Cho vay mua sắm máy móc thiết bị
*Cho vay đầu tư dự án
1.3.Hoạt động thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay trung và dài hạn của NHTM
1.3.1.Khái niệm về hoạt động thẩm định tài chính dự án
Đối với bất kỳ một dự án nào khi được đưa vào xem xét để thực hiện thì vấn đề được quan tâm hàng đầu là tính khả thi của dự án Tính khả thi của dự án sẽ được thể hiện thông qua sự phù hợp về mặt kỹ thuật, mặt kinh tế và tài chính của dự án đối với nền kinh tế, với sự quản lý của nhà nước, với nhà đầu tư và với chủ dự án Trong đó tuỳ theo từng dự án được thiết kế phục vụ cho các mục đích khác nhau (như dự án vì cộng đồng, dự án đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, ) mà những tiêu chí về kinh tế, về kĩ thuật hay về tài chính sẽ được đề cao Tuy nhiên cho dù đề cao tiêu chí nào đi chăng
Trang 11
nữa thì sự xem xét thẩm định về mặt tài chính của một dự án trước khi đưa vào thực thi
là không thể xem nhẹ
Thẩm định tài chính dự án là sự rà soát đánh giá một cách khoa học, toàn diện
mọi khía cạnh tài chính của dự án trên giác độ của nhà đầu tư bao gồm doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế khác và các cá nhân
Khác với lập dự án đầu tư, thẩm định tài chính dự án cố gắng phân tích và hiểu được tính chất khả thi thực sự của dự án về mặt kinh tế đứng trên góc độ của Ngân hàng Việc thẩm định tài chính dự án là vô cùng quan trọng trong hoạt động cho vay của ngân hàng Vì trong hoạt động cho vay, các ngân hàng thương mại chính là các nhà tài trợ vốn Ngoài những dự án ngân hàng cho vay theo chỉ định của chính phủ nhằm phục
vụ cộng đồng thì yếu tố lợi nhuận không được đặt nên hàng đầu, còn lại hầu hết cho vay các dự án khác đều nhằm mục đích tạo thu nhập cho ngân hàng
1.3.2.Sự cần thiết của công tác thẩm định tài chính trong hoạt động cho vay trung
và dài hạn của NHTM
Công tác thẩm định tài chính dự án là một hoạt động không thể thiếu Ngân hàng
sẽ dựa vào đó để xem xét và quyết định có cho khách hàng vay hay không Thực tế những giải trình từ phía doanh nghiệp đối với ngân hàng về dự án cần vay vốn thường rất sơ sài, đôi khi có số liệu không đủ căn cứ để chứng minh tính sát thực Do đó ngân hàng cần phải tiến hành kiểm tra chính xác thông tin mà khách hàng đưa ra
* Đối với chủ dự án : Thông thường khi quyết định đầu tư một dự án, chủ đầu tư phải cân nhắc giữa nhiều lựa chọn khác nhau, nghĩa là nhiều dự án khác nhau trong cùng một giai đoạn Mặt khác tuy chủ dự án đã nắm vững những vấn đề, những chi tiết
kỹ thuật của dự án nhưng đôi khi khả năng thu thập nắm bắt những thông tin mới của doanh nghiệp bị hạn chế, nhất là trong xu thế kinh tế xã hội mới, dẫn đến giảm tính chính xác trong phán đoán của họ, công tác thẩm định dự án sẽ đi sâu vào làm rõ vấn đề này, giúp doanh nghiệp lựa chọn phương án tốt nhất mang lại hiệu quả cao nhất cho chủ đầu tư
* Đối với ngân hàng : để ngăn chặn sự đổ bể, sự lãng phí vốn khi ngân hàng tài trợ hay cho vay vốn, thì ngân hàng cần phải thẩm định lại tính hiệu quả của dự án, đặc biệt
Trang 12
là hiệu quả về mặt tài chính Đây là vấn đề rất quan trọng vì nếu để xảy ra bất kỳ rủi ro nào thì sẽ ảnh hưởng lớn đến nguồn vốn cũng như uy tín của ngân hàng
* Đối với xã hội : Mỗi một dự án khi thực hiện nó không chỉ ảnh hưởng đến chủ dự
án, ngân hàng… mà nó còn có ảnh hưởng rất lớn đến môi trường, an sinh xã hội nơi tiến hành dự án Vì vậy ngân hàng cần phải tiến hành thẩm định lại dự án, để xem xét một cách toàn diện khi có chi phí xã hội dự án, hiệu quả tài chính dự án có được đảm bảo hay không, có phù hợp với mục tiêu, chiến lược phát triển của vùng, địa phương không Với sự cần thiết như vậy thì khi ngân hàng thực hiện nội dung thẩm định tài chính
dự án sẽ bao gồm những nội dung gì, các bước thực hiện như thế nào?
1.4.Nội dung công tác thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay trung và dài hạn của NHTM
1.4.1.Thẩm định dự toán đầu tư và nguồn tài trợ
Mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp và nhà đầu tư về ngắn hạn là tối đa hoá vốn chủ sở hữu, còn về dài hạn chính là tối đa hoá giá trị doanh nghiệp
Để đạt được mục tiêu này thì vấn đề quan trọng đưa ra đối với doanh nghiệp là không ngừng đầu tư vào sản xuất kinh doanh Và để đầu tư được người ta đưa ra câu hỏi
về vốn đầu tư Dưới giác độ của dự án thì vốn đầu tư chính là tổng số tiền được chi tiêu
để hình thành nên các tài sản cố định, tài sản lưu động cần thiết và vốn dự phòng
Trong đó vốn đầu tư vào tài sản cố định thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn đầu tư của dự án, đặc biệt là các dự án sản xuất Và là phần để mua sắm, cải tạo, mở rộng tài sản cố định ( như: máy móc thiết bị sản xuất, nhà xưởng, phương tiện vận chuyển…) Phần vốn đầu tư còn lại được đầu tư vào tài sản lưu động ròng Đó là nguồn vốn để hình thành nên các tài sản lưu động ròng cần thiết để thực hiện dự án ( như: nguyên vật liệu, nhiên liệu, tiền thuê nhân công, chi phí quản lý…) Lượng vốn lưu động ròng lớn hay nhỏ phụ thuộc vào đặc điểm của mỗi dự án Ngoài hai phần vốn chính này là phần vốn dự phòng để kịp thời cung cấp khi có phát sinh những chi phí ngoài dự kiến hay khi xảy ra rủi ro dự kiến
Để xác định được lượng vốn cho dự án các nhà lập dự án tiến hành dự toán vốn Thông thường các nhà thẩm định và các nhà lập dự án sẽ căn cứ vào năm tiêu chí cơ
Trang 13
bản là : chính sách kinh tế, tình hình thị trường và sự cạnh tranh, chi phí tài chính, tiến
bộ khoa học kỹ thuật, khả năng tài chính của doanh nghiệp Những tiêu chí này được sử dụng trong các phương pháp dự toán vốn như dự báo theo tỷ phần doanh thu, dự toán tổng thể Nhà thẩm định sẽ xem xét toàn bộ quá trình lập dự toán vốn này để biết được mức vốn chính xác cần thiết cho dự án
Tổng vốn đầu
tư của dự án
Vốn cố định
Vốn lưu động
Vốn dự phòng
Tổng vốn đầu tư được xác định là vậy nhưng sẽ tài trợ bằng nguồn vốn nào? Đây
là câu hỏi không chỉ nhà thẩm định mà chính chủ thực hiện dự án sẽ đặt ra đầu tiên Về mặt lý thuyết và cả thực tế thì mỗi dự án có nhiều hình thức tài trợ vốn khác nhau
Thứ nhất dự án có thể được tài trợ bằng vốn tự có : loại vốn này có được từ các nguồn : từ phát hành cổ phiếu, từ thặng dư vốn, từ lợi nhuận giữ lại
* Từ việc phát hành cổ phiếu : cổ phiếu thường có nhiều ưu thế trong việc phát hành
ra công chũng và trong quá trình lưu hành trên thị trường chứng khoán.Ví dụ như : sau khi phát hành doanh nghiệp có thể tạm thời mua lại, và doanh nghiệp có thể phát hành thêm khi cần thiết…Nên phát hành cổ phiều cũng được sử dụng để tài trợ cho dự án, đặc biệt là các dự án quy mô lớn
* Từ nguồn vốn thặng dư: Đây chính là phần vốn có được từ chênh lệch giữa giá thị trường của cổ phiếu thường và mệnh giá của nó tại thời điểm phát hành.Tùy theo sự đánh giá của thị trường về trị giá cổ phiếu doanh nghiệp mà phần vốn này thu được là lớn hay nhố với phần vốn có được từ phát hành cổ phiếu thường
* Từ lợi nhuận giữ lại : được tài trợ cho dự án chỉ khi quá trình hoạt động sản xuất của doanh nghiệp có hiệu quả.Tài trợ bằng thu nhập giữ lại là một phương thức tạo nguồn tài chính quan trọng và khá hấp dẫn của các doanh nghiệp vì như vậy doanh nghiệp sẽ giảm được chi phí,và giảm bớt sự phụ thuộc vào bên ngoài
Thứ hai : Tài trợ cho dự án bằng nợ : phần vốn này doanh nghiệp có thể có từ nguồn tín dụng ngân hàng, tín dụng thương mại và vay thông qua phát hàng trái phiếu (
Trang 14
Trái phiếu thực chất là một loại giấy vay nợ trung và dài hạn Trên thị trường thường lưu hành nhiều loại trái phiếu doanh nghiệp khác nhau ( trái phiếu có lãi suất cố định, trái phiếu có lãi suất thay đổi, trái phíếu có thể thu hồi, trái phiếu có thể chuyển đi ).Việc doanh nghiệp lựa chọn loại trái phiếu nào để tài trợ cho dự án còn tuỳ thuộc vào những vấn đề liên quan đến chi phí trả lãi, cách thức trả lãi, khả năng lưu hành và tính hấp dẫn của trái phiếu)
Thứ ba : Tài trợ cho dự án bằng hình thức Leasing : thực chất đây là hình thức tài trợ dự án thông qua cho thuê các loại tài sản Doanh nghiệp có thể thuê ngắn hạn tài sản hoặc thuê dài hạn tài sản Đây là hình thức tài trợ rất phổ biến vì nó có nhiều ưu điểm so với các hình thức tài trợ khác Đối với người cho thuê, cũng như người đi thuê và với nền kinh tế
Cuối cùng là tài trợ bằng hình thức kết hợp : đó là nguồn vốn cho dự án được hình thành từ sự kết hợp giữa vốn vay, vốn chủ sỡ hữu với một tỷ lệ nhất định Trong hình thức tài trợ này, chi phí vốn của dự án được đặc biệt quan tâm Bởi vì từ đó mà nhà đầu
tư xác định vay bao nhiêu, bỏ vốn chủ sỡ hữu ra bao nhiêu
Nếu gọi T là thuế suất thu nhập doanh nghiệp
Ke : Chi phí thực của vốn chủ sở hữu
Kd : Chi phí của vốn vay
We : Tỷ trọng của vốn chủ sở hữu trong tổng vốn
Wd : Tỷ trọng của vốn vay trong tổng vốn
Thì ta có : WACC = We.ke + Wd.(1 – T).kd
Đây chính là chi phí vốn bình quân gia quyền của dự án
1.4.2.Thẩm định doanh thu, chi phí, lợi nhuận hàng năm của dự án
*Thẩm định về doanh thu của dự án : đầu tiên của của nhà thẩm định phải tìm hiểu
về thị trường sản phẩm của dự án Cán bộ thẩm định sẽ phải thu thập thông tin về giá cả sản phẩm đã có, hay sản phẩm tương tự của đối thủ cạnh tranh trên thị trường hiện tại là bao nhiêu? Nhu cầu về sản phẩm này hiện tại và xu hướng trong tương lai Rồi đặc tính sản phẩm của dự án có khả năng chiếm lĩnh thị trường hay không? Công suất dự tính
Trang 15* Thẩm định về chi phí dự án : Thông thường phần vốn cố định chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn của dự án Nên những phần vốn chi cho xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm máy mọc thiết bị sản xuất thường được thẩm định kĩ lưỡng Cán bộ thẩm định phải xem xét giá cả nguyên – nhiên vật liệu cho phần xây dựng, cũng như giá cả máy móc sản xuất của dự án bao nhiêu là phù hợp với thị trường của khu vực, chất lượng máy móc ra sao…nhằm đánh giá chính xác cho phần vốn cần bỏ ra ban đầu Và khi dự án đi vào hoạt động thì những chi phí về nguyên nhiên vật liệu, đơn giá tiền công, khấu hao hình thành nên giá thành sản phẩm sẽ là bao nhiêu có phù hợp với dây truyền sản xuất, với thị trường hiện tại không? Phương pháp khấu hao như thế nào cũng đặc biệt được quan tâm bởi nó ảnh hưởng khá lớn đến dòng tiền ròng của dự án Những chi tiết này sẽ được cán bộ thẩm định làm rõ trên cơ sở những nguyên tắc kế toán nhất định để xác định chi phí hợp lý cho từng năm của dự án
* Thẩm định doanh thu dự án : Từ xác định doanh thu và chi phí hàng năm của dự
án nhà thẩm định sẽ xác định được lợi nhuận hàng năm của dự án, từ đó dự tính được dòng tiền của dự án Đây là phần chính yếu để nhà thẩm định biết được tính khả thi của
dự án, cũng như khả năng thu hồi nợ từ kết quả hoạt động của dự án
1.4.3.Thẩm định dòng tiền hàng năm của dự án
1.4.3.1.Nguyên tắc xác định dòng tiền
Theo quan niệm chung hiện nay của các nhà kinh tế, dòng tiền của một dự án là các khoản chi và khoản thu được kì vọng xuất hiện tại các mốc thời gian khác nhau trong suốt thời gian tồn tại của dự án Trong dòng tiền của dự án có dòng tiền ra, dòng tiền vào và dòng tiền ròng ( chênh lệch giữa dòng tiền vào và dòng tiền ra của dự án ) Tuy nhiên dòng tiền ròng được coi là con số chính để xác định giá trị hay hiệu quả trực
Trang 16
tiếp của dự án Khi xác định dòng tiền các nhà phân tích và thẩm định có những nguyên tắc nhất định
-Thứ nhất là loại bỏ chi phí chìm ra khỏi phân tích : Chi phí chìm là những chi phi
mà doanh nghiệp - chủ dự án vẫn phải bỏ ra cho dù dự án có được chấp nhận và thực hiện hay không (chẳng hạn như chi phí tư vấn về dự án, chi phí thiết kế dự án, …) Chi phí này là một khoản chi tất yếu do đó không được đưa vào phần chi đầu tư của dự án -Thứ hai là chi phí cơ hội sẽ được đưa vào để phân tích chi phí của dự án : Có những dự án được thiết kế trong đó có sử dụng một số yếu tố đầu vào sẵn có của doanh nghiệp Mà đáng lẽ ra nếu không sử dụng vào dự án thì nó sẽ được sử dụng vào việc khác và đem lại nguồn thu cho doanh nghiệp Khi sử dụng vào dự án doanh nghiệp đã
bỏ mất phần nguồn thu đó Bởi vậy khoản chi phí này cần được đưa vào nhằm đánh giá chính xác chi phí thực của dự án
-Thứ ba là tài sản lưu động ròng : phần tài sản lưu động ròng đối với hầu hết các
dự án cũng được đầu tư và được chi thực tại năm đầu đi vào hoạt động của dự án Tài sản lưu động ròng là phần chênh lệch giữa tổng tài sản lưu động trừ đi nợ ngắn hạn Đặc tính của tài sản lưu động ròng là nó không được khấu hao và thường được thu hồi vào giai đoạn kết thúc của dự án Do vậy khi tiến hành dự án mới tài sản lưu động ròng cần được tài trợ ở năm đầu của dự án
-Thứ tư là tác động của thuế : Thuế có những ảnh hưởng rất đáng ghi nhận đối với dòng tiền của dự án Thông qua chi phí khấu hao của tài sản cố định thuế doanh nghiệp phải nộp từ dự án sẽ giảm làm cho dòng tiền tăng Hay đối với chi phí lãi vay - một khoản chi phí trước phân bổ trước khi xác định thu nhập ròng, chi phí này cao cũng đồng nghĩa với thu nhập ròng giảm từ đây sẽ tiết kiệm một phần thuế thu nhập cho doanh nghiệp
-Thứ năm là những tác động đến các dự án khác : Phần này đề cập đến tác động của dự án đang xem xét đến các dự án khác của công ty Ví dụ khi công ty dự định đưa
ra một sản phẩm mới thì những khách hàng hiện tại sẽ chuyển sang mua sản phẩm mới ( thay vì mua sản phẩm cũ ) Lợi nhuận từ dự án này là do sự dịch chuyển lợi nhuận từ dự
án trước Dòng tiền tăng thêm cho công ty sẽ nhỏ hơn dòng tiền ròng thu được từ dự án
Trang 17
này Mặt khác sản phẩm mới có thể làm tăng doanh thu từ các sản phẩm đi kèm ( như bàn chải kèm với kem đánh răng ), nên dòng tiền tăng thêm từ việc bán các sản phẩm hiện tại cần được đưa vào dự án mới Vì vậy khi bàn đến tác động ngoại biên, cần tính đến đầy đủ tác động của đự án đang xem xét
-Thứ sáu là khấu hao : khoản tiền đầu tư vào tài sản cố định của dự án thường được phân bổ trong các năm hoạt động của dự án, gọi là chi phí khấu hao, sau đó tài sản
có thể được thanh lý Tuy nhiên khấu hao không phải là khoản chi tiền, nên mức khấu hao cao không làm giảm dòng tiền, mặt khác còn làm tăng vì giảm số thuế phải nộp xuống
1.4.3.2.Cách xác định dòng tiền
Thông thường ở mỗi dự án, các nhà thẩm định cũng như nhà phân tích đều phân định ra các dòng tiền sau : dòng tiền đầu tư ( bao gồm : tiền đầu tư vào tài sản cố định- chi phí lắp đặt, chi phí cơ hội, tiền đầu tư vào tài sản lưu động ròng ) và dòng tiền từ hoạt động kinh doanh ( dòng tiền này được xác định thông qua báo cáo kết quả kinh doanh hàng năm dự tính hàng năm của dự án )
Tổng hợp những dòng tiền này cho ta dòng tiền của dự án Ở đây vấn đề lãi suất chiết khấu được quan tâm hàng đầu khi xác định hiệu quả đầu tư của dư án bởi vì theo nguyên tắc giá trị thời gian của tiền thì các nhà phân tích phải quy nó về một mốc để so sánh
Lãi suất chiết khấu là tỷ lệ sinh lời cần thiết của một dự án mà nhà đầu tư mong đợi Nó chính là tỷ lệ mà nhờ đó các dòng tiền của dư án được quy về hiện tại để xác định giá trị hiện tại ròng của dự án (NPV) Việc lựa chọn lãi suất chiết khấu phụ thuộc vào kết quả phân tích rủi ro, khả năng sinh lời của dự án và cơ cấu vốn Rủi ro của dự
án càng cao thì tỷ lệ lãi suất chiết khấu đòi hỏi càng cao Cơ cấu vốn tài trợ cho dự án
có chi phí vốn càng cao thì đòi hỏi lãi suất chiết khấu tối thiểu phải bằng với tỷ lệ chi phí đó
Từ đây cho thấy việc xác định dòng tiền là vô cùng quan trọng và việc thẩm định dòng tiền của dự án là yếu tố căn bản để đưa đến những kết luận cho công tác thẩm định tài chính dự án
Trang 18
1.4.4.Thẩm định hiệu quả tài chính của dự án
Việc nhà đầu tư ra quyết định có hay không thực hiện dự án chủ yếu dựa trên những kết quả từ các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính dự án này Mỗi chỉ tiêu này cho ta một phương pháp để đánh giá được hiệu quả tài chính dự án
1.4.4.1.Chỉ tiêu giá trị hiện tại ròng -NPV
Khái niêm : Giá trị hiện tại ròng của dự án đầu tư được hiểu là số chênh lệch giữa giá trị hiện tại các nguồn thu nhập ròng trong tương lai với giá trị hiện tại của vốn đầu tư
t
t CF k
CF NPV
n t
n t
t t
t
k
Ct k
Bt k
Ct Bt NPV
Trong đó:
NPV: giá trị hiện tại dòng của dự án
CFt : Dòng tiền xuất hiện ở năm thứ t của dự án ( t = 1n)
CF0 : Vốn đầu tư bỏ ra ở thời điểm ban đầu (giả định vốn bỏ ra một lần ở năm đầu tiên của dự án)
n : số năm thực hiện dự án
Bt : dòng thu của dự án vào năm thứ t
Ct : Dòng chi của dự án vào năm thứ t
Ý nghĩa của chỉ tiêu NPV
-Với những dự án có NPV >0 , thì tỷ lệ lợi nhuận của dự án lớn hơn tỷ lệ sinh lời sẵn có trên thị trường vốn với cùng mức rủi ro (lãi suất chiết khấu), trong khi đó NPV
Trang 19Việc sử dụng NPV các nhà phân tích có thể đo lường trực tiếp lợi nhuận tuyệt đối của dự án đầu tư,từ đây có thể so sánh, lựa chọn các dự án khác nhau Đặc biệt chỉ tiêu này có ưu điểm nổi bật là có xét đến giá trị thời gian của tiền và tính toán hiệu quả toàn
bộ của dự án
Tuy nhiên bên cạnh đó thì chỉ tiêu NPV cũng có một số nhược điểm đó là:
-Phụ thuộc nhiều vào tỷ lệ chiết khấu r được lựa chọn, mà cụ thể là r càng nhỏ thì NPV càng lớn và ngược lại.Trong khi đó việc xác định đúng r là rất khó khăn
- NPV chỉ phản ánh được ( Là số tương đối : hiệu quả của một đồng vốn bỏ ra là bao nhiêu )
- Với các dự án có thời gian khác nhau,dùng NPV để lựa chọn dự án là không có
ý nghĩa Muốn so sánh được, thì cần giả định rằng dự án có thời gian ngắn hơn sẽ được đầu tư bổ sung với số liệu lặp lại như cũ để sao cho các dự án có thời gian bằng nhau Thời kỳ phân tích dự án là bội số chung nhỏ nhất của các dự án Đây là một việc làm rất phức tạp và mất thời gian
1.4.4.2.Chỉ tiêu tỷ lệ hoàn vốn nội bộ - IRR
Khái niệm : IRR của một dự án được định nghĩa là lãi suất chiết khấu làm cho NPV của dựa án bằng không Đó chính là lãi suất I thõa mãn đằng thức sau:
n t
t t t
t
IRR
CF i
CF
0)1
()
1(
Có thể ước tính IRR theo công thức sau:
IRR= i1 +
2 1
1 2
1( )
NPV NPV
i i NPV
Trang 20
Trong đó : i1,i2 là hai lãi suất chiết khấu bất kỳ và i 1 i2
NPV NPV NPV1 , 2, tương ứng với lãi suất chiết khấu i1,i2
Ý nghĩa : của chỉ tiêu IRR : IRR đối với dự án chính là chỉ tiêu sinh lời cần thiết của dự án IRR được coi bằng mức lãi suất tiền vay cao nhất mà nhà đầu tư có thể chấp nhận mà không bị thua thiệt, nếu toàn bộ số tiền đầu tư cho dự án đều là vốn vay (cả gốc và lãi cộng dồn) được trả bằng nguồn tiền thu được từ dự án mỗi khi chúng phát sinh
Ưu điểm : của chỉ tiêu IRR :
-Chỉ tiêu này có xét đến sự biến động của yếu tố thời gian, tính đến hiệu quả cả đời dự án và có tính đến giá trị thời gian của tiền
-Cho biết được khả năng sinh lời của dự án, dễ dàng so sánh với một mức hiệu quả cho phép
- IRR không phụ thuộc vào tỷ lệ chiết khấu do nó được xác định từ nội bộ phương
án Đồng thời có thể sử dụng để so sánh các dự án - phương án khác nhau
Nhược điểm : của chỉ tiêu IRR
-Không đề cập đến độ lớn, quy mô của dự án
- Sử dụng IRR để lựa chọn dự án loại trừ có quy mô, thời gian khác nhau nhiều khi sai lầm Với những dự án có khoản đầu tư thay thế lớn, dòng tiền đổi dấu liên tục dẫn tới hiện tượng IRR đa trị, và dẫn đến việc áp dụng IRR không còn chính xác
- Phương pháp IRR ngầm định rằng thu nhập ròng của dự án được tái đầu tư tại tỷ
lệ lãi suất IRR nghĩa là không giả định đúng tỷ lệ tái đầu tư
Dự án được lựa chọn khi IRR lớn hơn hoặc bằng một lãi suất “ngưỡng” Lãi suất này thường là lãi suất thị trường (lãi suất dùng để tính NPV) Những dựa án khác không thỏa mãn điều kiện này sẽ bị loại bỏ
Khi lựa chọn các dự án : Về mặt toán học, phương pháp tính NPV và IRR luôn cùng đưa đến một quyết định là chấp thuận hoặc bác bỏ đối với những dự án độc lập Tuy nhiên đối với những dự án loại trừ thì có thể có những kết luận trái ngược nhau.Trong trường hợp này thì chỉ tiêu NPV là chỉ tiêu tốt hơn cho việc đánh giá dự án.Bởi vì chỉ tiêu NPV ưu việt hơn chỉ tiêu IRR
Trang 21
1.4.4.3.Chỉ tiêu thời gian hoàn vốn – PP
Thời gian hoàn vốn của một dự án là độ dài thời gian để thu hồi đủ vốn đầu tư ban
Công thức tính là như nhau:
PP = n + Số vốn đầu tư còn lại cần được thu hồi
Dòng tiền ngay sau mốc hoàn vốn
Với n là số năm ngay trước năm thu hồi đủ vốn đầu tư
Với các dự án độc lập, dự án chỉ được chấp nhận khi thời gian hoàn vốn của nó nằm trong khoảng thời gian đã xác định trước (thời gian hoàn vốn tiêu chuẩn) Ngược lại với các dự án loại trừ nhau, các dự án sẽ được sắp xếp theo tốc độ hoàn vốn giảm dần và dự án có thời gian hoàn vốn nhanh nhất nằm trong khoảng thời gian tiêu chuẩn
sẽ được lựa chọn
Ưu điểm : của chỉ tiêu PP :
-Đơn giản, dễ áp dụng và được sử dụng như một công cụ sàng lọc
-Nếu có một dự án nào đó không đáp ứng được kỳ hoàn vốn trong thời gian đã định thì việc tiếp tục nghiên cứu dự án là không cần thiết.Vì luồng tiền mong đợi trong một tương lai xa được xem như rủi ro hơn một luôngg tiền trong tương lai gần.Thời gian thu hồi vốn được sử dụng như một thước đo để đánh giá mức độ rủi ro của dự án
Nhược điểm : của chỉ tiêu PP :
Trang 22
-Thời gian hoàn vốn không chiết khấu, không tính tới những sai biệt về thời điểm xuất hiện luồng tiền, tức là yếu tố giá trị thời gian của tiền không được đề cập đến trong phương pháp này
-Yếu tố rủi ro đối với luồng tiền tương lai của dự án không được xem xét và đánh giá Xếp hạng các dự án không phù hợp với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận của chủ sở hữu
-Phần thu nhập sau thời điểm hoàn vốn bị bỏ qua hoàn toàn, như vậy không đánh giá được hiệu quả tài chính trong cả vòng đời của dự án
1.4.4.4.Chỉ tiêu tỷ lệ thu hổi vốn nội bộ điều chỉnh – MIRR
MIRR giả thiết rằng dòng tiền của dự án được tái đầu tư với lãi suất bằng chi phí
vốn Đây là giả thiết về tái đầu tư tốt hơn, nên MIRR là một chỉ số đáng tin cậy hơn về
khả năng sinh lời thực của dự án, so với IRR
t
t n t n
t
t t
MIRR
i CIF i
COF
0
)1()
1(
Trong đó: COF t: dòng tiền ra năm thứ t
CIF t : dòng tiền vào năm thứ t
Đối với hai dự án loại trừ nhau, nếu hai dự án có cùng vốn đầu tư và cùng số năm hoạt động, NPV và MIRR đưa đến cùng một kết luận về chấp nhận hay loại bỏ dự án Nếu các dự án có cùng quy mô, nhưng khác thời gian hoạt động, MIRR cũng đưa đến kết quả như NPV Nhưng nếu dự án có quy mô vốn khác nhau thì có mâu thuẫn giữa NPV và MIRR
Tuy nhiên sử dụng chỉ tiêu MIRR tốt hơn sử dụng chỉ tiêu IRR đó là chỉ tiêu MIRR chỉ ra được tỷ lệ sinh lời thực sự
Mỗi chỉ tiêu trên chỉ tiêu nào cũng có những ưu, nhược điểm riêng không chỉ tiêu nào là hoàn hảo nên khi thẩm định các cán bộ thẩm định thường sử dụng kết hợp một số chỉ tiêu có thể để có được kết quả chính xác nhất
1.5.Phân tích và đánh giá rủi ro của dự án
1.5.1.Khái niệm và sự cần thiết phải phân tích rủi ro
Trang 23
*Khái niệm và phân loại rủi ro
Bất kỳ một dự án nào ngay từ khâu lập cho đến kết thúc hoạt động luôn luôn chứa đựng trong nó những rủi ro tiềm ẩn
Một cách chung nhất rủi ro của dự án vẫn được hiểu là khả năng xảy ra một sự
kiện không có lợi nào đó làm giảm thu nhập của dự án so với dự kiến
Rủi ro có nhiểu loại nhưng loại rủi ro thị trường là loại rủi ro đáng quan tâm nhất : là rủi ro có ảnh hưởng trực tiếp đối với giá cổ phiếu của doanh nghiệp Đây là loại rủi
ro mà doanh nghiệp không thể loại trừ được.chẳng hạn như rủi ro về tỷ giá, lạm phát… *Khái niệm về phân tích rủi ro và sự cần thiết về phải phân tích rủi ro
Phân tích rủi ro dự án là việc ngiên cứu kết quả dự án dưới nhiều điều kiện khác nhau để xác định những tổn thất hoặc trở ngại mà dự án có thể gặp phải, đồng thời đánh giá mức độ tác động của từng yếu tố tới kết quả dự án để đưa ra các quyết định phù hợp Việc phân tích rủi ro mang lại cho chủ đầu tư cái nhin thấu đáo và sâu sắc hơn về khả năng thu lợi nhuận từ dự án, cũng như các tình huống bất trắc có thể xảy ra đối với
dự án để có biện pháp phòng ngừa và quản lý hữu hiệu, đảm bảo khả năng thu hồi vốn
và sinh lợi của dự án
1.5.2.Các phương pháp phân tích rủi ro
Có nhiều loại rủi ro, nhưng ở đây ta chỉ quan tâm đến loại rủi ro thị trường Rủi ro này được đánh giá bằng các phương pháp sau:
Phương pháp phân tích độ nhạy
Khái niệm và ý nghĩa
Phân tích độ nhạy của dự án là việc lần lượt cho từng yếu tố của dự án thay đổi trong khi các yếu tố khác vấn giữ nguyên, để ngiên cứu tác động của yếu tố đó tới kết quả hay tính khả thi của dự án
Phân tích độ nhạy giúp cho việc đánh giá rủi ro bằng cách xác định những biến
cố có ảnh hưởng nhiều nhất đến lợi ích ròng của dự án, và lượng hóa mức độ ảnh hưởng của chúng
Trang 24
Phân tích độ nhạy có thể cho biết được những điểm yếu của dự án, và chỉ ra sự cần thiết phải thu thập thông tin về một số biến cố Nó cũng cho chúng ta thấy một số ý tưởng về rủi ro của dự án
Phạm vi áp dụng
Phân tích độ nhạy được áp dụng để đánh giá độ rủi ro dài hạn của dự án đầu tư khi dự tính có sự biến động lớn một số thành phần đầu vào quan trọng như : nguyên vật liệu, bán thành phẩm, giá thuê nhân công…Việc phân tích độ nhạy được thực hiện thuận lợi với việc ứng dụng chương trình phần mềm trên máy tính
Phương pháp phân tích độ nhạy
Có hai phương pháp phân tích độ nhạy là phân tích giá trị hoán chuyển và phân tích độ nhạy thông thường
-Phân tích giá trị hoán chuyển : Giá trị hoán chuyển của một biến số là tỷ lệ thay đổi phần trăm của biến sô đó) tăng hoặc giảm sẽ làm cho NPV của dự án bằng không hoặc IRR bằng tỷ suất chiết khấu (các yếu tố khác giữ nguyên)
SV=
)(
)(
2 1
1 2 1 1
NPV NPV
V V NPV V
Trong đó : SV : giá trị hoán chuyển
V1 : là giá trị ban đầu của biến đang xét
NPV1 : là NPV tại giá trị V1
NPV2 : là NPV tại giá trị V2
Phương pháp giá trị hoán chuyển thường được ưa thích dành cho các biến số khác, đặc biệt là phân tích chi tiết các khoản mục chi phí và lợi ích trọng yếu
- Phân tích độ nhạy thông thường :
+Lập danh sách các biến cố nhạy cảm đối với dự án Đưa ra các mức giá trị có thể
có dựa trên dữ liệu về các dự án trước nếu có Cần tính mức % thay đổi từ giá trị ban đầu Mức thay đổi cần được nêu rõ đối với các biến số mà không tính được tỷ lệ % + Tính lại NPV và IRR theo các giá trị nêu trên một cách riêng biệt cho từng yếu tố + Tính tỷ số độ nhạy : tóm lược tác động của thay đổi trong một biến đến NPV
Trang 25
SI=
1
2 1 1
2
V
V V NPV
NPV
Ưu điểm : của phương pháp này là :
Phân tích độ nhạy là một quy trình rất hữu ích để nhận diện các biến số mà những thay đổi của chúng ta có thể gây tác động lớn đến NPV của một dự án Nó cho phép người ta ra quyết định tính toán được những hậu quả của sự ước tính sai lầm và ảnh hưởng của chúng đối với NPV Bởi vậy quá trình này nhấn mạnh sự cần thiết phải cải tiến phương pháp đánh giá và tiến hành những hoạt động nhằm giảm tính không chắc chắn liên quan đến những biến số chủ yếu
Nhược điểm : của phương pháp :
-Các giá trị của biến số được đưa ra dựa trên những phán đoán mang tính chủ quan rất cao Măc dù người ta có thể biện luận rằng mức độ kỳ vọng được nhận xét là rất tốt Song rõ ràng là cần phải đánh giá các biến số dưới trạng thái hai cực cộng thêm phần ước lượng chủ quan để phân tích
-Sự phân tích độ nhạy của NPV với nhiều biến số khác nhau, mỗi biến số tại một thời điểm, bỏ qua mối quan hệ bên trong giữa các biến số khi chúng cùng tác động vào một đối tượng Chẳng hạn như sự cạnh tranh có thể gây ra sự giảm sút số lương đơn vị hàng bán cũng như làm giảm giá bán Bởi vậy khi phân tích cần phải điều chỉnh tùy theo những dự báo bi quan và lạc quan, chỉ rõ viễn cảnh mà trong đó mức kết hợp của tất cả các biến số liên quan được dự báo
-Những kết quả về phân tích độ nhạy không đem lại cho người ta quyết định một giải pháp rõ ràng đối với vấn đề lựa chọn dự án
Nhưng trên thực tế phương pháp này vẫn là một công cụ rất hữu ích khi sử dụng kết hợp với một số hình thức phân tích rủi ro khác
Phương pháp phân tích giả định tình huống
Phương pháp này thường được áp dụng khi đánh giá rủi ro của những dự án lớn, bởi đây là một qui trình đánh giá lợi nhuận và rủi ro của những dự án phức tạp
Trang 26
Bước đầu của phương pháp này là tạo ra một mẫu dòng tiền bằng cách xác định những yếu tố ảnh hưởng đến nó và các mối quan hệ cụ thể giữa các yếu tố thành phần của dòng tiền với nhau, và cả những ảnh hưởng của những yếu tố này đến dòng tiền
Dòng tiền = (doanh thu – chi phí) x (1 - thuế suất) + (thuế suất x khấu hao)
Mỗi thành phần chủ yếu của dòng tiền có thể chỉ ra những yếu tố quyết định của
nó Khi các mối quan hệ của dòng tiền đã được nhận diện, các nhà phân tích có thể dễ dàng đánh giá được phân phối xác suất của mỗi thành phần của nó Và khi tất cả những phân phối xác suất cũng như các mỗi quan hệ giữa các thành phần đã được chỉ rõ thì đã hình thành được mô hình của “ tình huống giả định ” Lúc này kết hợp với việc sử dụng các phần mềm máy tính chuyên biệt, cán bộ phân tích thẩm định lựa chọn ngẫu nhiên dòng tiền cho mỗi năm và cho toàn dự án NPV của dự án sẽ được chiết khấu ở tỷ lệ rủi
ro sinh lời ở mức rủi ro thuần tuý để tránh tình trạng tính hai lần rủi ro NPV ở đây đại diện cho một trong nhiều NPV tiềm tàng có thể xuất hiện Máy tính sẽ thực hiện nhiều lần và dừng lại ở một phân phối xác suất ước tính về NPV của dự án Đồng thời cũng cho kết quả vê phân phối xác suất ước tính của IRR
ưu điểm : của phương pháp là : bắt buộc người ra quyết định phải xem xét cẩn thận các mỗi quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng đến dòng tiền
nhược điểm : của phương pháp này là : việc nhận biết các mỗi quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng đến dòng tiền là rất khó khăn Nó đòi hỏi nhiều kỹ năng chuyên môn, thời gian và chi phí mang kết quả thu được cũng chỉ là những con số dự tính; Ở phương pháp này rủi ro của dự án không tính đến sự đa dạng hoá của nhà đầu tư; Nó tạo ra một
sự phân bố NPV mà nhà quản trị vẫn không có được câu trả lời hoàn toàn rõ ràng trong việc chấp nhận hay từ chối đầu tư- thực hiện dự án
1.6.Chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư của NHTM và nhân tố ảnh hưởng
1.6.1.Khái niệm về chất lượng thẩm định tài chính dự án đẩu tư
Từ trước đến nay một khái niệm thống nhất về chất lượng của thẩm định tài chính
dự án vẫn chưa được đưa ra một cách cụ thể chính xác Đối với mỗi chủ thể nghiên cứu khác nhau lại có quan niệm riêng về chất lượng thẩm định tài chính dự án
Trang 27
Chất lượng của việc thẩm định dự án nói chung và thẩm định tài chính dự án nói riêng có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động cho vay của Ngân hàng, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận và sự an toàn của ngân hàng
Chất lượng thẩm định tài chính dự án dưới góc độ Ngân hàng là xem xét dự án đó
có đáp ứng tốt nhất những yêu cầu của Ngân hàng, thông qua các chỉ tiêu như quy trình thẩm định có khoa học và toàn diện không, thời gian thẩm định nhanh hay chậm, chi phí thẩm định cao hay thấp, việc lựa chọn các phương pháp thẩm định có phù hợp với dự án không,
Một dự án đạt hiệu quả về mặt tài chính khi dự án đó thẩm định phải đủ khả nằng trả nợ (cả gốc và lãi) theo dự kiến, thời gian thẩm định nhanh, có hiệu quả về mặt xã hội, rủi ro tín dụng thấp, không phát sinh các khoản nợ khó đòi,quá hạn, từ đó giúp ngân hàng có lợi nhuận Một dựa án thẩm định kém không có hiệu quả về mặt tài chính không chỉ làm cho ngân hàng không thu được vốn, suy giảm lợi nhuận mà còn có khả năng dẫn đến bờ vực phá sản
1.6.2.Các nhân tố ảnh hưởng
Chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư bị chi phối bởi nhiêu nhân tố, song có thể phân chia thành nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan Nhân tố chủ quan là nhân tố thuộc về nội bộ ngân hàng mà ngân hàng có thể kiểm soát, điều chỉnh Nhân tố khách quan là những nhân tố bên ngoài môi trường tác động nó không thể kiểm mà chỉ khắc phục để thích nghi Việc xem xét, đánh giá các nhân tố đó là rất cần thiết đối với ngân hàng trong việc đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án
1.6.2.1.Nhân tố chủ quan
Năng lực, kiến thức, kinh nghiệm của cán bộ thẩm định
Cán bộ thẩm định đóng vai trò quan trọng mang tính chất quyết định đến chất lượng thẩm định tài chính dự án Kết quả thẩm định tài chính dự án là kết quả của quá trình đánh giá
dự án về mặt tài chính theo nhận định chủ quan của cán bộ thẩm định bởi vì đó là chủ thể trực tiếp tổ chức và thực hiện hoạt động tài chinh thưo phương pháp và kỹ thuật của mình Mọi nhân tố khác sẽ không có ý nghĩa nếu như cán bộ thẩm định không đủ trình độ và phương pháp làm việc khoa học, nghiêm túc, sai lầm của cán bộ thẩm định trong quá trình thẩm định dù vô tình hay cố ý đều dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng ảnh hưởng đến tài sản của ngân hàng
Trang 28tố : kiến thức, kinh nghiệm, năng lực năng lực, năng lực và phẩm chất đạo đức Kiến thức đó là
sự am hiểu chuyên sâu về nghiệp vụ chuyên môn và sự hiểu biết rộng về các lĩnh vực trong đời sống khoa học-kinh tế-xã hội Kinh nghiệm của cán bộ thẩm định cũng ảnh hưởng rất lớn đến quá trình thẩm định,những kinh nghiệm trong hoạt động thực tiễn như tiếp xúc với khách hàng,khảo sát nơi hoạt động của doanh nghiệp, phân tích báo cáo tài chính sẽ giúp cho các quyết định của cán bộ thẩm định chính xác hơn Năng lực là khả năng nắm bắt và xử lý công việc trên cơ sở kiến thức và kinh nghiệm, ngoài ba yếu tố trên thì cán bộ thẩm định phải có tính
kỷ luật cao, phẩm chất đạo đức, lòng say mê và khả năng nhạy cảm trong công việc
Thông tin thu thập phục vụ cho quá trình thẩm định
Với trình độ công nghệ thông tin như hiện nay thì vấn đề thu thập thông tin về khách hàng phục vụ cho quá trình thẩm định không phải là vấn đề khó khăn mà làm sao để các nguồn thông tin thu thập phải được đảm bảo đầy đủ, chính xác kịp thời.Việc lấy tài liệu, thông tin ở đâu, số lượng bao nhiêu phải được cân nhắc tính toán thận trọng trước khi tiến hành phân tích, đánh giá dự án.Thông tin mà ngân hàng có thể thu thập từ rất nhiều nguồn khác nhau : -Từ khách hàng xin vay vốn : Ngân hàng căn cứ vào hồ sơ dự án do chủ đầu tư gửi đến, phỏng vấn trực tiếp người xin vay vốn, điều tra nơi hoạt động kinh doanh của người xin vay vốn, báo cáo tài chính Trong đó nguồn thông tin từ hồ sơ dự án là nguồn thông tin cơ bản nhất
-Từ trung tâm tín dụng của ngân hàng Nhà Nước như sổ sách của các ngân hàng, mà khách hàng vay vốn đã từng có quan hệ để thấy được khả năng trả nợ cũng như uy tín của khách hàng
- Từ các nguồn thông tin bên ngoài về tín dụng
Thông tin là nguồn nguyên liệu chính phục vụ cho quá trình tác nghiệp của cán bộ thẩm định Do đó, số lượng cũng như chất lượng và tính kịp thời của thông tin có tác động rất lớn
Trang 29
đến chất lượng thẩm định Nếu thông tin không chính xác thì mọi quá trình thẩm định từ đầu cho đến cuối đều không có ý nghĩa cho dù ngân hàng sử dụng phương pháp hiện đại như thế nào Thông tin chính xác là điều kiện để đưa ra những đánh giá đúng Thông tin thiếu, không đầy đủ dẫn đến chất lượng thẩm định không tốt hoặc không thẩm định được, nhất là những thông tin không cân xứng có thể dẫn tới lựa chọn đối nghịch, gây rủi ro cho ngân hàng Do đó,việc thu thập thông tin chính xác là rất cần thiết
Ngoài ra bên cạnh việc có được các thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời thì việc lựa chọn phương pháp xử lý, lưu trữ và sử dụng các thông tin đúng mục đích cũng cần được quan tâm
Việc có được thông tin là rất quan trọng trong quá trình thẩm định tài chính dự án , song
để có thể thu thập, xử lý thông tin một cách có hiệu quả thì ngân hàng cần phải có các trang thiết bị và phần mềm hỗ trợ
Hệ thống trang thiết bị phục vụ cho quá trình thẩm định
Yếu tố này ảnh hưởng tới việc thu thập, phân tích và xử lý thông tin của cán bộ thẩm định, từ đó ảnh hưởng tới chất lượng thẩm định Vì hiện nay việc trang bị thiết bị hiện đại công nghệ tiên tiến: máy tính nối mạng toàn cầu, các phần mềm xử lý chuyên dụng, hệ thống cáp truyền nhanh, chính xác… giúp ích rất nhiều cho các hoạt động của cán bộ thẩm định Cán bộ thẩm định không nhất thiết phải tính toán tỉ mỉ hay phải đến tận nơi để thu thập tài liệu nữa mà sẽ được máy tính xử lý và phân tích chính xác cụ thể từng chi tiết Từ đó tiết kiệm thời gian, tăng tính khoa học, khách quan, toàn diện trong quá trình xác minh tính khả thi của dự án
Quy trình, nội dung, phương pháp thẩm định tài chính dự án
Qui trình và phương pháp thẩm định tài chính dự án chính là cơ sở để cán bộ thẩm định tiến hành công việc của mình Trong qui trình thẩm định dự án gồm nhiều nội dung khác nhau, mỗi nội dụng lại chứa đựng một phần về tài chính của dự án Tính khoa học và logic trong qui trình và phương pháp thẩm định sẽ hạn chế khắc phục được những sai sót nhầm lẫn, đảm bảo cho công tác thẩm định tài chính dự án có được kết quả chính xác, tăng thêm ý nghĩa của của việc thẩm định Vì vậy mà có thể nói qui trình
Trang 30
và nội dung phương pháp thẩm định có ảnh hưởng gián tiếp đến chất lượng của thẩm định tài chính dự án
Công tác tổ chức điều hành các hoạt động thẩm định tài chính dự án
Công tác thẩm định là nghiệp vụ đòi hỏi tập hợp nhiều hoạt động khác nhau, liên kết chặt chẽ với nhau Nên đòi hỏi có một sự phân công, sắp xếp, quy định quyền hạn
và trách nhiệm của các cá nhân, bộ phận tham gia thẩm định, trình tự tiến hành cũng như mối liên hệ giữa các cá nhân và các bộ phận trong quá trình thực hiện Việc tổ chức điều hành công tác thẩm định tài chính dự án nếu được xây dựng khoa học, chặt chẽ, phát huy được năng lực, sức sáng tạo của từng cá nhân và sức mạnh tập thể tạo thành một hệ thống đồng bộ sẽ nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án Nhưng đồng thời, ngân hàng phải có cơ chế kiểm tra giám sát chặt chẽ quá trình thẩm định của bộ phận thẩm định Tuy nhiên các quy định trên không được cứng nhắc, gò bó làm mất đi tính chủ động, sáng tạo của từng cá nhân, làm giảm chất lượng thẩm định dự án
Điều kiện kinh tế xã hội
Nhân tố này có ảnh hưởng khá rõ tới chất lượng thẩm định Một nền kinh tế xã hội phát triển lành mạnh, ổn định, thông tin thị trường được phản ánh một cách trung thực đầy đủ sẽ giúp cho cán bộ thẩm định nhanh chóng, kịp thời có được những thông tin cần thiết về thị trường nguyên - nhiên vật liệu của dự án, cũng như những thông tin
về tình hình cung cầu sản phẩm của dự án trên thị trường… từ đó làm tăng độ chính xác trong những thông tin về dự án và tính chính xác, khách quan của kết quả thẩm định Đồng thời thông tin đầy đủ chính xác thì thời gian thẩm định cũng được rút ngắn, làm tăng lợi thế cạnh tranh cho ngân hàng, tiết kiệm thời gian cho chủ dự án
Môi trường pháp lý
Trang 31
Không chỉ đối với hoạt động của ngân hàng nói chung, của công tác thẩm định tài chính dự án nói riêng, mà đối với tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh khác, tác động của môi trường pháp lý là vô cùng lớn Những căn cứ pháp lý là bảng chỉ dẫn cho các hoạt động kinh tế, giúp các hoạt động này đi đúng hướng và đúng mục tiêu của phát triển của cả cộng đồng Do vậy một môi trường pháp lý ổn định, lành mạnh, phù hợp với thông lệ quốc tế sẽ tạo điều kiện cho công tác thẩm định được thực hiện một cách bài bản, đúng quy định, trong khuôn khổ cho phép, thuận tiện cho cả khách hàng lẫn ngân hàng Nhưng nếu môi trường pháp lý không tốt và chưa đồng bộ thì đây là một khó khăn lớn cho cán bộ thẩm định Cán bộ thẩm định sẽ gặp phải những thuẫn có thể phát sinh giữa các văn bản hướng dẫn, giữa những qui định… và điều này thực tế đã diễn ra rất nhiều (chẳng hạn như các quy định về hạch toán kế toán, về khấu hao,… ) các nhà thẩm định sẽ phải mất nhiều thời gian công sức hơn khi thực hiện công việc của mình Đặc biệt sự chồng chéo hoặc khiếm khuyết trong quy định có thể là cơ hội cho những khách hàng (bản chất kinh doanh không tốt) dựa vào đó luồn lách để có được khoản vay mong muốn, nhưng lại không có khả năng hoàn vốn hay lãi dẫn đến thiệt hại cho ngân hàng, và nền kinh tế
Chủ dự án
Có thể nói đây là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng thẩm định Chủ dự án
là những người làm việc trực tiếp với ngân hàng khi muốn vay vốn của ngân hàng và cũng là người nắm rõ về dự án nhất Mà để thẩm định dự án thì vấn đề đầu tiên là ngân hàng phải thu thập thông tin về dự án Những thông tin này không ở đâu khác, chính chủ dự án sẽ là người cung cấp trước tiên cho ngân hàng thông qua hồ sơ vay vốn Do vậy chủ dự án cần cung cấp thông tin trung thực, chính xác, khoa học và đầy đủ sẽ giúp cho việc thẩm định tài chính của dự án rất nhiều Bên cạnh đó sự hiểu biết sâu rộng của chủ dự án, khả năng tổ chức, quản lý, sự nỗ lực của chủ dự án trong việc kết hợp với cán bộ tín dụng khi thẩm định cũng góp phần thúc đẩy quá trình thẩm định dự án diễn ra nhanh chóng, chính xác, làm tăng tính khả thi của dự án Ngược lại chủ dự án thiếu năng lực tổ chức quản lý, trình độ và sự hiểu biết hạn hẹp, thiếu sự trung thực, không sẵn sàng cung cấp những thông tin cần thiết cho việc thẩm định… thì rất dễ làm cho kết
Trang 32
quả thẩm định thiếu chính xác, dẫn đến vốn vay sử dụng không đúng mục đích hay làm thất thoát lãng phí vốn đầu tư của dự án Dẫn đến chất lượng thẩm định thấp ảnh hưởng đến thu nhập của ngân hàng
Điều kiện môi trường tự nhiên
Môi trường tự nhiên cũng tác động một phần nhỏ và quá trình thẩm định dự án
Để thu thập thông tin thì cán bộ thẩm định phải đi khảo sát thực tế tại nơi dự án dự định thực hiện Điều kiện khí hậu, thời tiết cũng ảnh hưởng tới kết quả của việc thu thập thông tin và ảnh hưởng tới việc dự tính các chỉ tiêu của dự án, đặc biệt là đối với những
dự án trong lĩnh vực nông-lâm-ngư nghiệp
CHƯƠNG II
Trang 33
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN TẠI NHTM CỔ PHẦN
HÀNG HẢI, CHI NHÁNH ĐỐNG ĐA, HÀ NỘI
2.1.Khái quát chung về NHTM cổ phần Hàng Hải, Chi nhánh Đống Đa, Hà Nội 2.1.1.Tổng quan về NHTM cổ phần Hàng Hải, Chi nhánh Đống Đa
Là trung tâm kinh tế lớn của cả nước – Hà Nội một thành phố có nhiều điều kiện thuận lợi đối với các hoạt động kinh doanh ngân hàng, đặc biệt về phát triển khách hàng, sản phẩm, dịch vụ mới… NHTM cổ phần Hàng Hải được thành lập theo giấy phép số 0001/NH-GP ngày 08 tháng 06 năm 1991 theo quyết định của Thống đốc Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam, giấy phép số 45/GP-UB do Ủy ban Nhân dân thành phố Hải Phòng cấp ngày 24/12/1991 Ngày 12/7/1991,Ngân hàng chính thức khai trương và đi vào hoạt động
Maritime bank có những cổ đông lớn là những tổ chức và tập đoàn kinh tế lớn, có
uy tín trong lĩnh vực kinh doanh hàng đầu của Việt Nam : Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam(VNPT), tổng công ty Hàng Hải Việt Nam(VINALINES), tập đoàn bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt), cục Hàng Không Việt Nam, Tập đoàn dệt may Việt Nam (VINATEX), công ty vận tải biển Việt Nam (VOSCO)
Trải qua gần 20 năm xây dựng và phát triển, Maritime Bank đã khẳng định được vị thế là một trong những ngân hàng hàng đầu trong lĩnh vực cấp tín dụng trên thị trường Việt Nam Hiện nay mạng lưới hoạt động của Maritime Bank trên khắp cả nước, tập trung tại các tỉnh và các thành phố lớn đó là trung tâm kinh tế trọng điểm trên cả ba miền Bắc, Trung , Nam
Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng Hải, chi nhánh Đống Đa được thành lập vào năm 2004 và chính thức đi vào hoạt động tại địa điểm là số 47 A, Huỳnh Thúc Kháng, Quận Đống Đa, Hà Nội Cùng với sự phát triển và lớn mạnh không ngừng của toàn hệ thống MSB Việt Nam, thì chi nhánh Đống Đa cũng đang dần khẳng định vị thế của mình trong hệ thống các ngân hàng thương mại Việt Nam trên địa bàn Từ khi thành lập cho tới nay MSB Đống Đa luôn luôn là một trong ba chi Các sản phẩm dịch vụ ban đầu
Trang 34
mới chỉ huy động vốn, tiếp nhận vốn ủy thác đầu tư, cho vay, chiết khấu, thì nay đã có thêm rất nhiều sản phẩm như tài trợ thương mại, hùn vốn đầu tư vào các dự án kinh tế, cho vay hợp vốn, các hình thức bảo lãnh, mở L/C,…Cơ sở vật chất ngày càng được hoàn thiện với hệ thống trang thiết bị hiện đại, hệ thống máy tính nối mạng 24/24, trụ sở khang trang
Về khách hàng, thì đối tượng khách hàng chủ yếu của chi nhánh là các doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc các ngành kinh tế trọng điểm của cả nước Trong đó đặc biệt quan tâm tới khách hàng thuộc ngành hàng hải, bưu chính viễn thông, hàng không, bảo hiểm Đồng thời đẩy mạnh việc phát triển khách hàng là cá nhân
Vế cơ cấu tổ chức : Tính đến ngày 31/12/2008 toàn bộ chi nhánh MSB Đống Đa có
87 cán bộ nhân viên Trong đó trên 90% có trình độ đại học và trên đại học Số cán bộ nhân viên nữ chiếm hơn 50%
Dưới đây là mô hình tổ chức của chi nhánh Đống Đa :
Kế toán
trưởng
Bộ máy Giúp việc
Hệ thống kiểm tra kiểm toán nội bộ
Tổng Giám đốc
Các phó Tổng Giám Đốc
Ban kiểm soát
Hội đồng quản trị
Các phòng hoặc ban chuyên môn nghiệp
vụ
Trang 35Đa Tuy nhiên ngân hàng đã vượt qua được những khó khăn đó NHTM cổ phần Hàng Hải phát huy những thế mạnh về khách hàng, nhân lực và sự tăng trưởng trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng đã vượt qua được giai đoạn đầy khó khăn này, và gặt hái được nhiều kết quả đáng khích lệ
2.1.2.1.Tình hình huy động vốn
Tổng nguồn vốn huy động đến 31/12/2008 đạt 1.265,7 tỷ đồng tăng 101% so với
cùng kỳ năm trước và đạt 189.5% kế hoạch đề ra Tuy nhiên lượng vốn huy động bằng ngoại tệ tuy có tăng so với cùng kỳ năm ngoái nhưng vẫn chiếm tỷ lệ thấp so với tổng
nguồn vốn huy động Đây là một kết quả ngoài sự mong đợi của chi nhánh
Tiền gửi không kỳ hạn tăng nhẹ so với năm 2007, đạt 1.036,5 tỷ đồng, tăng gấp 6
lần so với năm 2004 Nguồn vốn huy động từ tiền gửi tiết kiệm có bước tăng trưởng, đạt
135 tỷ đồng và tăng nhẹ so với cùng kỳ năm 2007 Trên cơ sở các sản phẩm tiết kiệm với lãi suất cạnh tranh thì chi nhánh đã đẩy mạnh công tác tiếp thị, hoạt động khuyến mại, quảng cáo để thu hút khách hàng, đạt được hiệu quả cao nhất Vì vậy mà ngân hàng duy trì được các khách hàng truyền thống, và ngày càng có nhiều khách hàng mới tìm đến các sản phẩm của ngân hàng Nguồn tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn chiếm 99% trong tổng tiền gửi tiết kiệm Tiền gửi của các tổ chức tín dụng, chủ yếu là các doanh
Trang 36và dịch vụ bảo lãnh luôn là thế mạnh của Maritime Bank, giao dịch và kinh doanh ngoại
tệ luôn là những mảng kinh doanh truyền thống của Maritime Bank ngay từ ngày thành lập Các hoạt động dịch vụ tiếp tục tăng trưởng vững chắc với tổng thu nhập từ hoạt động dịch vụ Maritime Bank tính đến ngày 31/12/2008 đạt 55,76 tỷ đồng tăng 149% so với cùng
kỳ năm 2007 Đối với chi nhánh Đống Đa thì thu nhập từ phí và dịch vụ đạt 2,347 tỷ đồng,bằng 124% so với cùng kỳ năm 2007 Nhưng nhìn chung sản phẩm dịch vụ của MSB còn chưa phong phú so với các ngân hàng khác trên cùng địa bàn nên khó thu hút được khách hàng cá nhân đến giao dịch, vì vậy nên phí dịch vụ vẫn còn khá khiêm tốn so với các ngân hàng cổ phần khác
2.1.2.2.Tình hình cho vay
Dư nợ cho vay của MSB tính đến ngày 31/12/2008 đạt 467 tỷ đồng,tăng 42,5%
so với cùng kỳ năm 2007 và đạt 86% kế hoạch Trong đó cho vay ngắn hạn chiếm 70% tổng dư nợ, cho vay dài hạn chiếm 30% tổng dư nợ
Đối tượng khách hàng chính của chi nhánh Đống Đa là các doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc các nghành Hàng hải,Bưu chính viễn thông Bằng sự năng động của một ngân hàng cổ phần, với thế mạnh trong hoạt động tài trợ thương mại và thanh toán quốc tế , NHTM cổ phần Hàng Hải, chi nhánh Đống Đa đã tạo điều kiện hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp thông qua các sản phẩm tín dụng truyền thống và hiện đại Dư nợ tập
Trang 37
trung chủ yếu vào một số nghành như là : đóng tàu, các dự án xây dựng nhà ở, cho thuê…Chi nhánh Đống Đa đã đưa ra nhiều chính sách khách hàng phù hợp và đã bước đầu thu hút được các đối tượng khách hàng khác về hoạt động tại chi nhánh
Chất lượng tín dụng ngày càng được nâng cao, nhưng rủi ro là không thể tránh khỏi, trong năm 2008 có một số khoản nợ quá hạn với giá trị là 4,3 tỷ đồng Hiện nay chi nhánh Đống Đa đang thực hiện các biện pháp để thu hồi vốn
2.1.2.3.Tình hình kinh doanh ngoại tệ, thanh toán quốc tế
Trong năm vừa qua, chi nhánh đã thu lãi từ hoạt động kinh doanh ngoại tệ là 908
tỷ đồng
Hoạt động thanh toán quốc tế so với năm 2007 vẫn được duy trì và phát triển tốt Lượng L/C thanh toán qua MSB đã tăng và đạt tới 16,7 triệu USD, tăng 36% Nhưng so với khả năng đáp ứng của ngân hàng thì số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ này vẫn còn ít Nguyên nhân có thể là do quy trình nghiệp vụ của ngân hàng còn chưa phù hợp với điều kiện thực tế, chưa đáp ứng hết được các yêu cầu mà khách hàng đặt ra
2.2.Thực trạng chất lượng thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay trung và dài hạn của NHTM cổ phần Hàng Hải, Chi nhánh Đống Đa trong thời gian qua
2.2.1.Những quy định chung về công tác thẩm định tài chính dự án trung và dài hạn của NHTM cổ phần Hàng Hải
Trên cơ sở những qui định của ngân hàng Nhà nước như về cho vay (quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31-12-2001 của thống đốc NHNN), về bảo đảm tiền vay (quyết định 457)… Kết hợp điều lệ ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam tại quyết định số 219/QĐ-NH5 ngày 10-7-1997 và thực tế công tác cho vay tại ngân hàng ban quản trị ngân hàng đã đưa ra các qui định trong cho vay, bảo lãnh, giao dịch, ….áp dụng tại NHHH Căn cứ vào quyết định số 13/QĐ – HĐQT và quyết định số 187/QĐ – TGĐ6 ngày 8-7-2002 qui trình thẩm định dự án nói chung và qui trình thẩm định tài chính dự
án nói riêng bao gồm:
a) Đánh giá tính pháp lý, địa điểm triển khai và tác động môi trường của dự án đầu
tư theo quy định của pháp luật
Trang 38
b)Phân tích sự cần thiết của đầu tư
-Quy hoạch phát triển kinh tế ngành của dự án, sự phù hợp của dự án trong xu thế phát triển ngành và vùng địa phương;
-Sự cần thiết mở rộng quy mô và nhu cầu phát triển nội tại của khách hàng
-Phân tích và đánh giá vị trí và ảnh hưởng của dự án trong chiến lược phát triển sản xuất kinh doanh của khách hàng
c) Đánh giá các yếu tố đầu vào của dự án: giá cả, nguồn cung cấp và tính ổn định
của những yếu tố này
d) Thị trường tiêu thụ sản phẩm của dự án:
-So sánh chu kỳ dương của sản phẩm dự án với thời gian hoàn vốn của dự án -Khả năng cạnh tranh của sản phẩm dự án
-Mạng lưới tiêu thụ sản phẩm, dự kiến thị phần sản phẩm dự án
e) Kỹ thuật và công nghệ của dự án:
- Hình thức đâu tư và công suất của dự án
-Xem xét việc lựa chọn thiết bị công nghệ và dây truyền công nghệ theo các nội dung: ý kiến của cơ quan chuyên ngành có thẩm quyền hoặc uy tín, tính đồng bộ của các bộ phận trong dây chuyền công nghệ mới và giữa dây chuyền công nghệ mới với hệ thống thiết bị sẵn có của khách hàng; tính tiên tiến của công nghệ và thiết bị
-Xem xét khả năng cung ứng thiêt bị công nghệ của các nhà cung cấp
-Xem xét các giải pháp xây dựng (đối với dự án có phần xây dựng cơ bản)
-Xem xét các vấn đề chuyển giao công nghệ
f)Tổ chức vận hành (khai thác) dự án:
-Xem xét trình độ, kinh nghiệm của đơn vị, cá nhân lập dự án
-Xem xét các tổ chức, cá nhân tham gia thiết kế, thi công về khả năng chuyên môn, kinh nghiệm, uy tín, năng lực thi công và tổ chức quản lý phù hợp với yêu cầu của