1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN văn THẠC sĩ) ứng dụng công nghệ tài chính trong hoạt động kinh doanh ngân hàng tại việt nam theo xu thế cách mạng 4 0

114 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

  • DANH MỤC CÁC BẢNG

  • DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

  • TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN

  • LỜI NÓI ĐẦU

  • CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHỆ TÀI CHÍNH (FINTECH) VÀ VIỆC ỨNG DỤNG FINTECH TRONG KINH DOANH NGÂN HÀNG TRONG BỐI CẢNH CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0

    • 1.1. Tổng quan về công nghệ tài chính

      • 1.1.1. Định nghĩa về công nghệ tài chính và quá trình phát triển

      • 1.1.2. Vai trò của công nghệ tài chính

      • 1.1.3. Hệ sinh thái Fintech và các yếu tố tác động đến ứng dụng công nghệ tài chính trong kinh doanh ngân hàng

      • Fintech là viết tắt của từ financial technology (công nghệ trong tài chính), là một thuật ngữ rộng được sử dụng chung cho tất cả các công ty sử dụng công nghệ thông tin và viễn thông để cung cấp dịch vụ tài chính. Fintech có thể được xem như là sản ph...

    • 1.2. Kinh doanh ngân hàng trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0

      • 1.2.1. Tổng quan về Kinh doanh ngân hàng

      • 1.2.2. Bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0

      • 1.2.3. Kinh doanh ngân hàng trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0

    • 1.3. Ứng dụng công nghệ tài chính trong kinh doanh ngân hàng

      • 1.3.1. Điện toán đám mây (Cloud Computing)

      • 1.3.2. Robot và Trí tuệ nhân tạo (AI – Artificial Intelligence)

      • 1.3.3. Dữ liệu lớn (BigData) và Internet kết nối vạn vật (IoT - Internet of Things)

      • 1.3.4. Công nghệ chuỗi khối (Blockchain và Sổ cái phân tán)

      • 1.3.5. Giao diện chương trình ứng dụng

    • 1.4. Kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới trong việc ứng dụng công nghệ tài chính trong hoạt động kinh doanh ngân hàng

      • 1.4.1. Singapore

      • 1.4.2. Ấn Độ

      • 1.4.3. Hàn Quốc

  • CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ TÀI CHÍNH TRONG KINH DOANH NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM TRONG XU THẾ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0

    • 2

    • 2.1. Kinh doanh ngân hàng tại Việt Nam trong xu thế cách mạng công nghiệp 4.0

      • 2.1.1. Cơ hội của Kinh doanh ngân hàng tại Việt Nam trong xu thế cách mạng công nghiệp 4.0

      • 2.1.2. Rủi ro, thách thức

    • 2.2. Các nhân tố tác động đến ứng dụng công nghệ tài chính trong kinh doanh ngân hàng tại Việt Nam

      • 2.2.1. Khuôn khổ pháp lý

      • 2.2.2. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật công nghệ

      • 2.2.3. Nguồn nhân lực

      • 2.2.4. Tiếp cận vốn

    • 2.3. Thực trạng ứng dụng công nghệ tài chính trong kinh doanh ngân hàng tại Việt Nam

      • 2.3.1. Điện toán đám mây

      • 2.3.2. Tự động hóa và trí tuệ nhân tạo

      • Ngân hàng số tại Việt Nam nhìn chung đang ở giai đoạn khởi đầu của sự phát triển. Trên thị trường hiện nay, chưa có ngân hàng số toàn diện như Digibank, Kakaobank,... Hai đại diện tiêu biểu cho việc tiên phong ứng dụng công nghệ trong dịch vụ tài chín...

      • Tiên phong trong lĩnh vực phát triển ngân hàng số chính thống tại Việt Nam, ngân hàng số Timo của NHTMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) đã mang lại cho người tiêu dùng những trải nghiệm giao dịch tài chính hiện đại nhất. Ngân hàng số Timo hiện đã có we...

      • Timo hạn chế tối đa việc khách hàng phải đến văn phòng giao dịch. Nếu phải đến thì không gian phòng giao dịch của Timo cũng khác biệt so với các phòng giao dịch khác. Timo mang đến “chi nhánh thông minh” (Timo Hangout) với không gian và phong cách phụ...

      • Dựa trên nền tảng số hoá, ngân hàng cũng đã cải tiến và số hóa rất nhiều các tính năng của các sản phẩm và dịch vụ truyền thống, giúp tiết kiệm thời gian và tiền bạc cho khách hàng, đồng thời dịch vụ của ngân hàng dễ dàng tiếp cận đến khách hàng hơn, ...

      • Theo đó, VIB là ngân hàng đầu tiên ra mắt tính năng Live Chat trên website và Facebook năm 2014 và đến nay đã là một kênh tư vấn và bán hàng hiệu quả. Ngay sau đó, nhiều ngân hàng cũng đã lần lượt triển khai ứng dụng này như Vietinbank, VCB, TPBank, S...

      • 2.3.3. Công nghệ dữ liệu lớn và Internet vạn vật

      • 2.3.4. Công nghệ chuỗi khối

      • 2.3.5. Giao diện ứng dụng API mở

    • 2.4. Đánh giá thực trang ứng dụng công nghệ tài chính trong kinh doanh ngân hàng tại Việt Nam

      • 2.4.1. Đánh giá chung về thực trạng và xu hướng đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin

      • 2.4.2. Đánh giá mức độ tác động của các nền tảng công nghệ CMCN 4.0 đến hoạt động ngân hàng

      • 2.4.3. Ưu điểm và hạn chế trong việc ứng dụng công nghệ tài chính trong kinh doanh ngân hàng

  • CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ TÀI CHÍNH TRONG KINH DOANH NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM

    • 3

    • 3.1. Xu hướng phát triển công nghệ tài chính trong kinh doanh ngân hàng

      • 3.1.1. Thay đổi mô hình kinh doanh dịch vụ

      • 3.1.2. Thay đổi phương thức cạnh tranh về sản phẩm, dịch vụ

      • 3.1.3. Giảm giá thành sản phẩm dịch vụ ngân hàng

      • 3.1.4. Phát triển kênh phân phối sản phẩm, dịch vụ ngân hàng qua các thiết bị thông minh

      • 3.1.5. Ứng dụng rộng rãi sinh trắc học (vân tay, nhận diện giọng nói) trong phê chuẩn và xác thực giao dịch

      • 3.1.6. Kinh tế chia sẻ được phổ biến ở hầu hết mọi lĩnh vực thuộc cơ sở hạ tầng tài chính hỗ trợ cho sản phẩm, dịch vụ ngân hàng

      • 3.1.7. Sản phẩm dịch vụ tùy biến hơn theo nhu cầu của khách hàng

      • 3.1.8. Dịch vụ thông minh hơn

      • 3.1.9. Tăng cường an ninh, an toàn bảo mật

      • 3.1.10. Thay đổi về phương thức chuyển giao công nghệ và tri thức giữa các quốc gia

    • 3.2. Định hướng ứng dụng công nghệ tài chính trong hoạt động kinh doanh ngân hàng

    • 3.3. Một số giải pháp nhằm tăng cường ứng dụng công nghệ tài chính trong kinh doanh ngân hàng tại các NHTM

      • 3.3.1. Đầu tư về cơ sở hạ tầng CNTT, kỹ thuật hiện đại và ứng dụng công nghệ ngân hàng tạo nền tảng cho phát triển ngân hàng số.

      • 3.3.2. Đầu tư mạnh mẽ hệ thống CNTT tiên tiến gắn chặt với chiến lược kinh doanh của NHTM

      • 3.3.3. Giải pháp về nguồn nhân sự chuyên môn cao để ứng dụng, triển khai và vận hành CNTT

    • 3.4. Khuyến nghị với các Cơ quan quản lý Nhà nước:

      • 3.4.1. Xây dựng khuôn khổ pháp lý để tiếp cận và ứng dụng thành công các thành tựu của CMCN 4.0 trong phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng một cách an toàn, hiệu quả

      • 3.4.2. Công tác thanh tra, giám sát đảm bảo an toàn hoạt động của các TCTD và hệ thống các TCTD trước thực tế tiếp cận, ứng dụng các thành tựu CMCN 4.0 trong phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng

      • 3.4.3. Xây dựng, hoàn thiện cơ sở hạ tầng công nghệ hỗ trợ phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng

      • 3.4.4. Đào tạo nguồn nhân lực

      • 3.4.5. Hỗ trợ đổi mới sáng tạo

  • KẾT LUẬN

  • TÀI LIỆU THAM KHẢO

Nội dung

Luận văn đã kết hợp sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu như cứu định tính, phương pháp thống kê, so sánh biện chứng, phân tích mô tả các ứng dụng công nghệ tài chính đang áp dụng tại ng

TỔ NG QUAN V Ề CÔNG NGH Ệ TÀI CHÍNH (FINTECH) VÀ

T ổ ng quan v ề công ngh ệ tài chính

1.1.1 Định nghĩa về công nghệ tài chính và quá trình phát triển

FinTech là viết tắt của cụm từ financial technology (công nghệ tài chính), được hiểu theo nghĩa là việc áp dụng các công nghệ đổi mới, sáng tạo và hiện đại cho lĩnh vực tài chính (bao gồm ngân hàng, bảo hiểm, quỹđầu tư, quỹhưu trí, dịch vụ thanh toán và các cơ sở hạ tầng tài chính ), nhằm mang tới cho khách hàng các giải pháp, dịch vụ tài chính minh bạch, hiệu quả và thuận tiện với chi phí thấp hơn so với các dịch vụ tài chính truyền thống

FinTech là một phân khúc năng động tại điểm giao cắt của ngành dịch vụ tài chính và công nghệ, nơi những công ty công nghệ mới thành lập và những thành phần mới tham gia thị trường đang nỗ lực phát triển các sản phẩm và dịch vụ sáng tạo cho người tiêu dùng, trong khi dịch vụ tài chính truyền thống (ngân hàng) không thể vươn tới Trên thực tế, FinTech đã và đang có những ảnh hưởng nhất định vào chuỗi giá trị truyền thống của các tổ chức tài chính trên toàn cầu.

Mặc dù thuật ngữ FinTech mới xuất hiện và trở nên quen thuộc trong một vài năm trở lại đây, tuy nhiên nếu xét về bản chất của thuật ngữ là ứng dụng công nghệ để thay đổi dịch vụ tài chính này thì Fintech đã xuất hiện từ cách đây hơn một thế kỷ Lịch sử hình thành Fintech được đánh dấu vào năm 1865 khi Giovanni Caselli phát minh ra công nghệ pantelegraph để xác minh chữ ký trong giao dịch ngân hàng và được áp dụng tại Paris và Lyon Từ đó đến nay, Fintech đã có sự phát triển khá nhanh thông qua các dấu mốc lịch sửnhư sau:

Bảng 1.1- Lịch sử hình thành Fintech

1950  Thẻ tín dụng đầu tiên trên thế giới được ra mứt bởi Diners Club

1960  Hệ thống điện tử QuoTron ra mắt với chức năng cung cấp thông tin thịtrường chứng khoán cho các nhà môi giới thông qua các thiết bị máy tính

1966  Mạng lưới viễn thông toàn cầu cung cấp thông tin liên lạc cho hoạt động ngân hàng đi vào hoạt động

1967  Ngân hàng Barclays ra mắt máy ATM đầu tiên trên thế giới với tên gọi là “Thu ngân tựđộng” cho phép khách hàng rút tiền bất ký thời điểm nào trong ngày

1970  Trung tâm bù trừthanh toán liên ngân hàng được thiết lập để truyền lệnh và thanh toán với đồng đô la Mỹ cho một số ngân hàng lớn trên thế giới

1971  Nasdaq – sàn giao dịch chứng khoán Mỹđược thành lập, sàn giao dịch chứng khoán điện tửđầu tiên được thiết lập

1973  Hệ thống SWIFT ra đời giúp giải quyết vấn đề cho các giao dịch xuyên biên giới

1982  Môi giới chứng khoán online được giới thiệu trên thịtrường bởi các nhà đầu tư cá nhân

1983  Dịch vụngân hàng điện tửđầu tiên được ra mắt bởi hiệp hội cho vay mua nhà Nottingham (Anh)

1984  Sàn thương mại điện tửđầu tiên trên thế giới ra đời tại Mỹ

1987  Ngày thứ2 đen tối của thịtrường chứng khoán diễn ra trên phạm vi toàn cầu bởi tác động của công nghệ

1993  Thuật ngữ Fintech được chính thức sử dụng bởi Citigroup, đồng thời Citigroup thành lập trung tâm nghiên cứu fintech

1988  Dịch vụ ngân hàng điện tửđược cung cấp bởi hầu hết các ngân hàng tại Mỹ

2009  Phiên bản đầu tiên của tiền ảo Bitcoin và công nghệ Blockchain ra đời

2011  Ví điện tử của Google ra mắt, cho phép khách hàng sử dụng điện thoại thông minh thực hiện thanh toán bằng công nghệ mạng tương tác gần

2015  Các ứng dụng công nghệtrong tài chính ra đời giúp thay thế các hoạt động tài chính truyền thống

Nguồn: Georgetown Journal of International Law (2015)

Fintech là sự giao thoa giữa tài chính và công nghệ, sự phát triển mạnh mẽ của các công nghệ trong lĩnh vực tài chính như dữ liệu lớn, Blockchain, tư vấn tự động, cho vay ngang hàng… cho thấy Fintech đóng một vai trò quan trọng tới không chỉ hệ thống tài chính mà còn có ảnh hưởng lớn tới toàn bộ xã hội Hiện tại, Fintech đã mở rộng bao gồm bất kỳ sự đổi mới công nghệ trong lĩnh vực tài chính, gồm cả những đổi mới về giáo dục và đào tạo về tài chính, ngân hàng bán lẻ, đầu tư, các loại tiền tệ như Bitcoin, sổ cái điện tử, ví điện tử, robot tư vấn, công nghệ dữ liệu lớn, các phần mềm quản lý tài chính…

Theo báo cáo năm 2016 về hoạt động của Fintech trên toàn cầu của SparkLabs Global Ventures, các công ty Fintech trên thế giới hiện đang cung cấp các dịch vụ trong nhiều lĩnh vực khác nhau như công nghệ ngân hàng, thanh toán, tài chính doanh nghiệp, tài chính cá nhân, các loại tiền kỹ thuật số, các dịch vụ thay thế dịch vụ lõi của hệ thống tài chính - ngân hàng (alternative cores)… với các sản phẩm/dịch vụ công nghệ đa dạng như ví điện tử, công nghệ sổ cái phân tán (DLT) trên nền tảng blockchain, thương mại trực tuyến B2C, mPOS… (xem Bảng 1.2)

Bảng 1.2 – Một số sản phẩm, dịch vụ chính do Fintech cung ứng

STT Loại hình hoạt động Một số sản phẩm dịch vụ chính

1 Công nghệ ngân hàng - Công cụ phân tích số liệu (Analytics)

- Quản lý quan hệ khách hàng

2 Thanh toán - Thương mại trực tuyến B2C

- Thiết bị chấp nhận thẻ/ví di động

- Chuyển tiền ngang hàng (P2P money transfer)

- Các giải pháp về thanh toán

3 Tiền kỹ thuật số - Công nghệ blockchain

- Ví kỹ thuật số (digital wallets)

- Các sàn giao dịch tiền kỹ thuật số

4 Tài chính doanh nghiệp - Cho vay hàng ngang giữa doanh nghiệp (P2P

- Cấp hạn mứctín dụng cho doanh nghiệp

5 Tài chính cá nhân - Cho vay tiêu dùng hàng ngang (P2P Consumer

- Dịch vụ tư vấn tài chính tự động (Robo Advisors)

- Quản lý tài chính cá nhân (Personal Finance Management)

6 Các dịch vụ thay thế dịch vụ lõi - Bảo hiểm sức khỏe/ô tô/tài sản thaythế

- Ngân hàng kỹ thuật số

Nguồn: Fintech Industry Overview, SparkLabs Global Venture (2016)

Trong lĩnh vực ngân hàng, sự phát triển mạnh mẽ của các công ty Fintech những năm trở lại đây, đặc biệt trong lĩnh vực thanh toán và cho vay, cũng là một vấn đề được nhiều ngân hàng thực sự quan tâm Tuy nhiên, công ty Fintech và ngân hàng đều có những ưu điểm riêng biệt mà cả hai bên đều có thể khai thác lẫn nhau. Đối với các công ty Fintech, việc tự do sử dụng những công nghệ hiện đại nhất để xây dựng các giao diện thân thiện với người sử dụng là một trong những thế mạnh nổi trội Các công ty Fintech không sở hữu các cơ sở hạ tầng thị trường tài chính cơ bản, do đó, mục tiêu của họ là giúp người sử dụng có trải nghiệm tốt hơn những dịch vụ hiện có của ngân hàng Các công ty này, cũng làm tốt hơn các ngân hàng trong việc nắm bắt các giá trị cốt lõi của khách hàng từ lượng dữ liệu lớn nhằm cung cấp những dịch vụ tốt hơn, nhanh hơn (chẳng hạn như trong lĩnh vực cho vay)

Ngược lại, với các công ty Fintech, các ngân hàng vẫn giữ được những lợi thế cạnh tranh nhất định, đó là những mối quan hệ từ lâu với khách hàng, hành lang pháp lý quy định cụ thể, chặt chẽ, kinh nghiệm trong quản trị rủi ro và sự kết nối liên thông với hạ tầng thị trường tài chính trong nước và quốc tế Điều quan trọng

11 hơn cả là việc họ có am hiểu sâu sắc với hạ tầng tài chính hiện hành để có thể cung cấp các dịch vụ tài chính tới khách hàng một cách toàn diện, đầy đủ nhất.

Do thế mạnh của các công ty Fintech là điểm yếu của các ngân hàng và ngược lại, nên ngày nay, ngân hàng và các công ty Fintech đều hướng tới việc hợp tác trong triển khai cung ứng các dịch vụ tài chính nhằm tận dụng tốt nhất những lợi thế mà bên đối tác có được Việc hợp tác này hiện là xu hướng nổi trội trên toàn thế giới dưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng đều hướng tới một mục tiêu chung là mang lại những dịch vụ tài chính và trải nghiệm tốt nhất cho khách hàng (xem Biểu đồ 1.1)

Biểu đồ 1.1 – Các phương thức kết hợp giữa công ty Fintech và ngân hàng

Theo báo cáo của SparkLabs, hiện nay, thanh toán vẫn đang là một trong những lĩnh vực được các công ty Fintech đặc biệt chú trọng do việc ứng dụng công nghệ trong lĩnh vực này mang lại rất nhiều lợi ích cho người tiêu dùng Trong năm

2015, lượng giao dịch thanh toán kỹ thuật số chiếm tỷ trọng rất lớn (93,6%) so với các lĩnh vực khác như tài chính doanh nghiệp và tài chính cá nhân Tuy nhiên, báo cáo cũng dự báo rằng trong những năm tới, các giao dịch Fintech trong mảng thanh toán sẽ có chiều hướng giảm đi, nhường chỗ cho các dịch vụ khác thuộclĩnhvực tài

12 chính cá nhân và tài chính doanh nghiệp như cho vay doanh nghiệp, cho vay cá nhân, đầu tư tự động (xem Bảng 1.3)

Bảng 1.3–Lượng giao dịch toàn cầu của các giao dịch kỹ thuật số

Thanh toán quỹ thuật số

Nền tảng cho vay doanh nghiệp 0,9% 6,8%

Dịch vụ đầu tư tự động 2,7% 8,3%

Nền tảng cho vay cá nhân 0,5% 3,0%

Nguồn: Statista (2015) 1.1.2 Vai trò c ủa công nghệ tài chính

Sự phát triển, tiến bộ của công nghệ từ cuộc CMCN 4.0 đã và đang đóng vai trò tích cực trong việc phát triển sản phẩm, dịch vụ tài chính - ngân hàng Nhờ sự hỗ trợ của công nghệ, cách thức tiếp cận các nguồn vốn tín dụng trở nên đơn giản hơn với chi phí thấp hơn; dòng vốn dịch chuyển giữa các khu vực địa lý từ phạm vi trong một quốc gia tới giữa các quốc gia, giữa các châu lục dễ dàng hơn Đối với hoạt động thanh toán, các giải pháp sáng tạo đang thay đổi nhanh chóng giữa người tiêu dùng tham gia vào các giao dịch tài chính, giúp giao dịch giữa các cá nhân (đôi khi là giữa các nền kinh tế) trở nên dễdàng hơn, nhanh hơn và rẻ hơn so với trước đây Xuất hiện thêm những hình thức cho vay và huy động vốn mới như cho vay ngang hàng (P2P lending), gọi vốn cộng đồng (crowdfunding) Các hoạt động tài chính ngân hàng khác như đầu tư, tư vấn cũng được tựđộng hóa và ứng dụng phân tích dữ liệu lớn để phân tích hành vi khách hàng, đưa ra quyết định nhanh và hiệu quả

Trong những làn sóng công nghệ tràn qua ngành Ngân hàng, làn sóng công nghệđầu tiên tập trung vào việc tối ưu hóa các sản phẩm và dịch vụ hiện hành; làn sóng tiếp theo chú trọng tới việc tăng cường thu thập và phân tích dữ liệu để cải thiện dịch vụ khách hàng hiện có Những tiến bộ trong bảo mật và xác thực cho phép thực hiện hiệu quả tất cả các phương thức bán hàng, giao hàng có thể tiến hành trực tuyến Công nghệ giúp khách hàng dễ dàng hơn trong việc rời bỏ ngân hàng này để chuyển sang ngân hàng khác, khiến cho mối quan hệ gắn bó giữa khách hàng và ngân hàng trở nên lỏng lẻo hơn Điều này sẽthúc đẩy làn sóng thứ ba: các ngân hàng cùng đối tác của họ sẽ cùng tạo lập và phát triển những hồ sơ chi tiết về mỗi khách hàng của mình dựa trên Dữ liệu lớn Sựđổi mới sẽ còn tiếp tục tăng tốc, và các ngân hàng đi đầu sẽ hoặc là người tận dụng sự đổi mới này để có được lợi thế cạnh tranh trên thịtrường dịch vụtài chính đầy sôi động

Kinh doanh ngân hàng trong b ố i c ả nh cách m ạ ng công nghi ệ p 4.0

1.2.1 T ổng quan về Kinh doanh ngân hàng

1.2.1.1 Khái niệm và đặc điểm của hoạt động kinh doanh ngân hàng

Kinh doanh ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán

Các ngân hàng vẫn còn đóng vai trò quan trọng trong hệ thống tài chính, mặc dù tầm quan trọng của các định chế trung gian tài chính khác đang tăng lên Trước hết, ngân hàng có vai trò sống còn đối với hoạt động kinh tế, bởi vì ngân hàng tái phân bổ tiền, hay tín dụng, từ người tiết kiệm - những người có thặng dư tiền tạm thời, tới người đi vay - những người có thể sử dụng tiền một cách tốt hơn.Thứ hai, ngân hàng nằm ở trung tâm của hệ thống thanh toán bù trừ Bằng cách phối hợp để thanh toán, các ngân hàng giúp cá nhân và công ty thực hiện các giao dịch Các hình thức thanh toán có thể là lệnh trả tiền, séc hay chuyển khoản thông thường, chẳng

18 hạn như lệnh thanh toán thường trực (standing orders) và các chức năng ghi nợ trực tiếp (direct debit) Các ngân hàng nhận tiền dưới dạng các khoản tiền gửi, và đôi khi trả lãi suất cho các khoản tiền gửi này Sau đó, ngân hàng cho người đi vay vay tiền Những người đi vay sử dụng khoản tiền này để đầu tư hoặc tiêu dùng Các ngân hàng cũng có thể vay tiền theo những cách khác, thường là từ các ngân hàng khác tại nơi được gọi là thị trườngliên ngân hàng Các ngân hàng kiếm lợi nhuận từ mức chênh lệch, được gọi là “margin” hay “spread”, giữa lãi suất phải trả và lãi suất nhận được Vì mức chênh lệch lãi suất bị giảm xuống do có thông tin tốt hơn và do mức độ tinh vi ngày càng tăng của các thị trường vốn, nên các ngân hàng cố gắng đẩy lợi nhuận của mình lên bằng các hoạt động kinh doanh thu phí, như bán chứng chỉ quỹ đầu tư chứng khoán Giờ đây, những khoản thu nhập như vậy chiếm tới 40% lợi nhuận ngân hàng ở Mỹ Các khoản tiền gửi là tài sản nợ của ngân hàng Các khoản tiền này có hai dạng Thứ nhất là tài khoản vãng lai (ở Mỹ gọi là tài khoản séc) Đối với loại tài khoản này, người ta có thể ghi séc và các khoản tiền có thể được rút ra ngay lập tức theo yêu cầu Thứ hai là tài khoản tiền gửi hay tài khoản tiết kiệm Một số tài khoản tiền gửi đòi hỏi phải có thời gian thông báo trước khi tiền có thể được rút ra: những tài khoản này được gọi là tài khoản tiền gửi có kỳ hạn hay tài khoản thông báo trước Lãi suất trả cho những tài khoản như vậy nói chung là cao hơn so với các tài khoản vãng lai, tức là những tài khoản mà tiền có thể được rút ngay lập tức.

Tài sản có của ngân hàng bao gồm các hạng mục từ tín dụng ngắn hạn, chẳng hạn như các khoản thấu chi hay khoản tín dụng - những khoản mà ngân hàng có thể thu hồi lại mà hầu như không cần thông báo trước, tới các khoản cho vay dài hạn, ví dụ như để mua nhà hay máy móc thiết bị - những thứ có thể hoàn trả trong vòng hàng chục năm Phần lớn các tài sản nợ của ngân hàng đều có kỳ hạn ngắn hơn so với tài sản có Do đó, kỳ hạn giữa hai tài sản này bị lệch nhau Điều này làm nảy sinh rắc rối, nếu như người gửi tiền trở nên lo lắng về chất lượng của các khoản cho vay của ngân hàng đến nỗi họ đòi rút tiền tiết kiệm của mình về Mặc dù một số khoản thấu chi hay khoản tín dụng có thể dễ dàng thu hồi lại, song các khoản cho vay dài hạn hơn có tính thanh khoản thấp hơn nhiều Sự “chuyển đổi kỳ hạn” này có

19 thể làm cho ngân hàng phá sản Một nguy cơ phổ biến hơn là rủi ro tín dụng: khả năng người đi vay không thể hoàn trả nợ Rủi ro này có xu hướng tích tụ trong những giai đoạn thịnh vượng, khi ngân hàng nới lỏng các tiêu chí cho vay, và những khó khăn chỉ lộ rõ khi suy thoái xảy ra Ví dụ như vào cuối thập niên 80, các ngân hàng Nhật Bản, bị cám dỗ bởi sức mạnh kinh tế rõ rành rành của quốc gia, đã cho các công ty có rủi ro cao vay những khoản tiền lớn, sau đó nhiều công ty trong số này đã bị phá sản Một số ngân hàng cũng theo chân các công ty mà phá sản; số còn lại thì vẫn còn khó khăn Mối đe dọa thứ ba đối vớicác ngân hàng là rủi ro lãi suất Đây là khả năng ngân hàng trả lãi cho các khoản tiền gửi cao hơn là số tiền lãi mà ngân hàng có thể thu được từ các khoản cho vay Sở dĩ có hiện tượng này bởi vì lãi suất trên các khoản cho vay thường được ấn định ở một mức cố định, trong khi đó lãi suất trên các khoản tiền gửi thì nói chung là khả biến Sự bất cân bằng lãi suất này đã phá hủy phần lớn ngành tiết kiệm - cho vay (quỹ tiết kiệm) của Mỹ Khi lãi suất tăng mạnh vào năm 1979, các hội tiết kiệm - cho vay nhận thấy mình đang trả cho những người gửi tiền nhiều hơn số tiền kiếm được trên các khoản cho vay Cuối cùng thì Chính phủ phải ra tay cứu hoặc đóng cửa phần lớn các tổ chức trong lĩnh vực này Một cách để tránh tình trạng này là cho vay ở mức lãi suất khả biến hay thả nổi, để tương ứng với các khoản tiền gửi có lãi suất thả nổi Tuy nhiên, người vay tiền thường thíchcác khoản vay có lãi suất cố định hơn, vì như vậy họ có thể dự trù trước được tiền trả lãi Gần đây, các ngân hàng và người vay tiền có thể “hoán đổi” các tài sản có lãi suất cố định để lấy các tài sản có lãi suất thả nổi trên thị trường hoán đổi lãi suất (interest-rate swap)

1.2.1.2 Các thách thức ngân hàng đang đối mặt trong hoạt động kinh doanh

Thứ nhất , ứng dụng và phát triển công nghệ trong hoạt động của các NHTM đang là xu hướng tất yếu Các NHTM cần xây dựng và phát triển công nghệ thông tin hiện đại, ứng dụng công nghệ thông tin đạt hiệu quả cao qua nâng cấp các phần mềm ứng dụng quản lý, tăng khả năng vận dụng công nghệ thông tin vào các kênh phân phối của ngân hàng như internet banking, mobile banking, tablet banking, social network/media Thực tế cho thấy dịch vụ ngân hàng di động đang phát triển mạnh mẽ, góp phần không nhỏ trong việc mang lại tiệních và sự hài lòng của khách

20 hàng, từ đó có thể mở rộng được khách hàng, giảm chi phí giao dịch cho ngân hàng

Tuy nhiên, Hiện nay, các kênh phân phối truyền thống như qua chi nhánh/phòng giao dịch, ATM, POS, phone banking, home banking, call center… vẫn được sử dụng rất phổ biến Điều đó cho thấy, quản trị công nghệ đang là một thách thức lớn trước sức ép hộinhập quốc tế của hệ thống NHTM.

Thứ hai, An ninh mạng là vấn đề khá nhức nhối đối với hoạt động ngân hàng hiện nay Lĩnh vực ngân hàng thường xuyên là mục tiêu bị tấn công nhiều nhất bởi đây là lĩnh vực có khối lượng tài sản có giá trị rất lớn cần phải được bảo vệ Ngoài ra thông tin dữ liệu của khách hàng tại các ngân hàng cũng là một tài sản vô giá Do đó, mỗi cuộc tấn công xâm nhập mang lại nhiều tiền bạc cho hacker và ngược lại thì khách hàng và ngân hàng thiệt hại rất lớn Con số thiệt hại tiền của về an ninh mạng ngày càng lớn Con số thống kê đến 3.700 domain của các ngân hàng khác nhau đã bị tấn công như Bank of America, Citibank… mà mỗi ngân hàng này chỉ có vài domain Như vậy, với 3.700 domain bị tấn công thì sẽ có nhiều ngân hàng trên toàn cầu đang bị tấn công Phương thức tấn công của các hacker là gửi email mang danh của ngân hàng gửi tới nhân viên của ngân hàng đánh lừa họ mở các tài liệu từ đó xâm nhập vào hệ thống Đó có thể là tấn công dịch chuyển trong hệ thống ngân hàng hoặc có thể truy cập vào hệ thống swift lấydữ liệu chuẩn bị cho cuộc tấn công khác Trong lịch sử gần đây có những vụ tấn công lớn thông qua truy cập hệ thống swift như ở Bangladesh vào năm 2016 khiến cho ngân hàng nước này mất 1 tỷ USD

Thứ ba, thách thức trong việc hoàn thiện hành lang pháp lý phục vụ hoạt động thanh toán điện tử, trong đó, khuôn khổ pháp lý và cơ chế chính sách liên quan đến các dịch vụ, phương tiện thanh toán trực tuyến, điện tử mới, hiện đại, tiền ảo, thẻ ảo, tiền điện tử là những vấn đề mới, phức tạp, cần được tiếp tục nghiên cứu, đánh giá, sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu thực tế và sự phát triển nhanh của công nghệ thông tin và viễn thông

Thứ tư, thách thức đối với các tổ chức tín dụng là việc mô hình kinh doanh, mô hình quản trị, thanh toán có thể phải được xem xét lại để phù hợp với xu hướng quản trị thông minh AI, mô hình ngân hàng di động, ngân hàng không giấy,

21 ngân hàng số, thanh toán điện tử; hay thách thức trong việc phải nghiên cứu, tối đa hóa trải nghiệm của khách hàng trong lĩnh vực thanh toán để đáp ứng nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của khách hàng thời đại CMCN 4.0.

Thứ năm, Lợi ích của công nghệ 4.0 là không thể phủ định, nhưng nó cũng không thể phát triển nếu bỏ qua sự an toàn và lành mạnh của các định chế ngân hàng Các ngân hàng và các cơ quan giám sát ngân hàng có thể xem xét duy trì sự quan tâm tới việc quản lý rủi ro, kiểm soát các chuẩn mực và bảo vệ trước các kênh phân phối mới xuất hiện cùng các dịch vụ đi kèm được các định chế tài chính giới thiệu thông quan các fintech Tuy nhiên, nhiều chuẩn mực và quy tắc quy định, đã được phát triển trước khi nhiều công nghệ ra đời và đưa vào sử dụng ngày nay, có thể tạo ra những rào cản không mong muốn.

1.2.2 B ối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0

Thuật ngữ "Cách mạng công nghiệp lần thứ tư" đã được áp dụng cho sự phát triển công nghệ quan trọng một vài lần trong 75 năm qua, và là để thảo luận về học thuật Khái niệm Công nghiệp 4.0 hay nhà máy thông minh lần đầu tiên được đưa ra tại Hội chợ công nghiệp Hannover tại Cộng hòa Liên bang Đức vào năm 2011 Công nghiệp 4.0 nhằm thông minh hóa quá trình sản xuất và quản lý trong ngành công nghiệp chế tạo Sự ra đời của Công nghiệp 4.0 tại Đức đã thúc đẩy các nước tiên tiến khác như Mỹ, Nhật, Trung Quốc, Ấn Độ thúc đẩy phát triển các chương trình tương tự nhằm duy trì lợi thế cạnh tranh của mình.

Năm 2013, một từ khóa mới là "Công nghiệp 4.0" (Industrie 4.0) bắt đầu nổi lên xuất phát từ một báo cáo của chính phủ Đức đề cập đến cụm từ này nhằm nói tới chiến lược công nghệ cao, điện toán hóa ngành sản xuất mà không cần sự tham gia của con người Tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) lần thứ 46 đã chính thức khai mạc tại thành phố Davos-Klosters của Thụy Sĩ, với chủ đề “Cuộc CMCNlần thứ 4”, Chủ tịch Diễn đàn Kinh tế Thế giới đã đưa ra một định nghĩa mới, mở rộng hơn khái niệm Công nghiệp 4.0 của Đức Nhân loại đang đứng trước một cuộc cách mạng công nghiệp mới, có thể thay đổi hoàn toàn cách chúng ta sống, làm việc và quan hệ với nhau Quy mô, phạm vi và sự phức tạp của lần chuyển đổi này không

22 giống như bất kỳ điều gì mà loài người đã từng trải qua Cụ thể, đây là “mộtcụm thuật ngữ cho các công nghệ và khái niệm của tổ chức trong chuỗi giá trị” đi cùng với các hệ thống vật lý trong không gian ảo, Internet kết nối vạn vật (IoT) và Internet của các dịch vụ (IoS) Hiện nay, Công nghiệp 4.0 đã vượt ra khỏi khuôn khổ dự án của Đức với sự tham gia của nhiều nước và trở thành một phần quan trọng của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Đặc trưng thứ nhất của cuộc CMCN 4.0, được xây dựng trên nền tảng cuộc

Ứ ng d ụ ng công ngh ệ tài chính trong kinh doanh ngân hàng

1.3.1 Điện toán đám mây (Cloud Computing) Định nghĩa Điện toán đám mây là việc sử dụng mạng trực tuyến ("đám mây") của bộ xử lý lưu trữ để tăng quy mô và tính linh hoạt của năng lực máy tính Mô hình này cho phép truy cập mạng một cách thuận tiện theo nhu cầu tới tài nguyên điện toán cấu hình (ví dụ mạng, máy chủ, phương tiện lưu trữ, ứng dụng và dịch vụ) mà những tài nguyên này có thể được giải phóng nhanh chóng chỉ với nỗ lực quản lý tối thiểu hoặc chỉ cần tương tác với nhà cung cấp dịch vụ 1 Đại bộ phận hạ tầng cơ sở của điện toán đám mây hiện nay là sự kết hợp của những dịch vụ đáng tin cậy được phân phối thông qua các trung tâm dữ liệu (data center) được xây dựng trên những máy chủ với những cấp độ khác nhau Những dịch vụ này có thể được truy cập từ bất kỳđâu trên thế giới, trong đóĐám mây là

28 một điểm truy cập duy nhất cho tất cả các máy tính có nhu cầu của khách hàng Đặc điểm Điện toán đám mây mang những đặc điểm chính:

(i) Giảm chi phí: Doanh nghiệp sẽ có khảnăng cắt giảm chi phí để mua bán, cài đặt và bảo trì tài nguyên Thay vì phải cử một chuyên gia đi mua máy chủ, cài đặt máy chủ, bảo trì máy chủ thì với điện toán đám mây, doanh nghiệp chỉ phải xác định chính xác lượng tài nguyên mình cần và yêu cầu;

(ii) Giảm độ phức tạp trong cơ cấu của doanh nghiệp thông qua việc thuê ngoài hoặc khoán ngoài các công việc liên quan đến vận hành công nghệ và bảo trì máy chủ;

(iii) Tăng khảnăng sử dụng tài nguyên do không phải lo ngại về thời gian hết khấu hao khi đầu tư tài nguyên hoặc tình trạng lỗi thời khi sử dụng tài nguyên trên đám mây. Đối với các công ty Fintech, các giải pháp về điện toán đám mây giúp các ngân hàng dễ dàng tiếp cận hạ tầng công nghệ thông tin, dữ liệu mà chúng đã phải mất hàng thập kỷ để xây dựng; tiết giảm chi phí; giảm rào cản tham gia vào các dịch vụ tài chính do việc quản lý dữ liệu lớn và ứng dụng phân tích phức tạp được đơn giản hóa; cho phép tập trung vào lĩnh vực kinh doanh chính và gia tăng quy mô tương ứng khi doanh nghiệp tăng trưởng

Các ngân hàng truyền thống sử dụng điện toán đám mây để phát triển các giải pháp mới mà không phải đầu tư trang thiết bị, triển khai, nâng cấp, bảo trì, từđó tiết giảm chi phí Theo đó, các ngân hàng thường sẽ sử dụng các dịch vụđiện toán đám mây từ nhà cung cấp (Public Clound) thay vì đầu tư ứng dụng điện toán đám mây riêng (Private Clound) Đối với việc sử dụng các dịch vụđiện toán đám mây từ nhà cung cấp, cho dù tất cả các hoạt động có được thuê ngoài, các ngân hàng vẫn phải chịu trách nhiệm quản lý rủi ro và giám sát mọi hoạt động Do đó, lo ngại về an toàn và bảo mật (khó khăn trong việc kiểm soát, bảo đảm an toàn thông tin mạng, bảo vệ dữ liệu, nguy cơ bị tấn công mạng gia tăng…) là một rào cản ngăn các ngân hàng sử dụng điện toán đám mây như một cơ sở hạ tầng chủđạo

Vì vậy, để cân bằng lợi ích và rủi ro, các ngân hàng có xu hướng vừa sử dụng hạ tầng công nghệ thông tin của riêng mình đểđảm bảo an toàn cho các nghiệp vụ ngân hàng quan trọng, vừa khai thác các dịch vụ đám mây từ nhà cung cấp cho các nghiệp vụ không thường xuyên, ít có yêu cầu về an ninh và bảo mật dữ liệu Điều này giải thích lý do vì sao ngày càng nhiều các định chế tài chính sử dụng ứng dụng phần mềm SaaS 2 cho các cấu phần xửlý kinh doanh được xem là không phải cốt lõi trong hoạt động của mình

Như vậy, các ngân hàng sẽ ngày càng phụ thuộc vào hệ thống công nghệ phức tạp, kể cả việc sử dụng điện toán đám mây cùng các hạ tầng công nghệ khác Điều này đặt ra yêu cầu các cơ quan quản lý phải tăng cường kỹnăng công nghệđể hiểu biết và và thanh tra giám sát hiệu quả Nếu như ngân hàng thuê ngoài những cấu phần quan trọng trong quy trình xử lý của họ, đặc biệt là từ những tổ chức quốc tế, thì sẽ việc giám sát cần phải quan tâm nhiều hơn tới những quy trình thuê ngoài như vậy

1.3.2 Robot và Trí tu ệ nhân tạo (AI – Artificial Intelligence) Định nghĩa

Trí tuệ nhân tạo (AI) được định nghĩa là hệ thống CNTT thực hiện các chức năng đòi hỏi ở khảnăng của con người AI có thểđặt câu hỏi, khám phá và kiểm tra các giả thuyết và tự động đưa ra quyết định dựa trên hoạt động phân tích nâng cao các bộ tệp dữ liệu mở rộng Học máy (Machine Learning -ML) là một loại hình của

Trí tuệ nhân tạo (AI) là lĩnh vực mô phỏng các quá trình trí tuệ của con người bằng máy móc, đặc biệt là hệ thống máy tính Các quá trình bao gồm học tập (thu thập các thông tin và quy tắc sử dụng thông tin), lập luận (sử dụng các quy tắc để đạt được kết luận gần đúng hay xác định) và tựđiều chỉnh Các ứng dụng đặc trưng

2 Phần mềm dịch vụ SaaS (hay Software-as-a-Service) là một dạng phần mềm chạy trên nền Web có thể truy cập từ xa (như máy tính, smartphone, ), cho phép người dùng mua dịch vụ và sử dụng mà không cần phải duy trì một bộ phận công nghệ thông tin Thường gặp nhất là Hệ thống quản lý quan hệ khách hàng (Customre Relationship Management – CRM), hệ thống Email Marketing, hệ thống quản trị nội dung (Content Management System – CMS), hệ thống HelpDesk, v.v… Thông thường những dịch vụ này sẽ được

“nằm trên mây” (on the Cloud), tức là đưa vận hành và lưu trữ tập trung một cách trực tiếp từ điện toán đám mây

30 của trí tuệ nhân tạo bao gồm: hệ thống chuyên gia, các hệ thống tự điều khiển hay các hệ thống tương tác tựđộng Đặc điểm, lợi ích của việc ứng dụng robot và AI

Trên thực tế, việc ứng dụng các robot và trí tuệ nhân tạo vào dịch vụ ngân hàng đã được tiến hành từ lâu Các ATM chính là robot đời đầu Chúng rất đơn giản và là những robot được tạo ra cho một mục đích nhất định, cung cấp dịch vụ cho khách hàng một cách ổn định, thuận tiện, chi phí thấp và ngày càng được tin cậy Nguyên lý này đồng thời được áp dụng cho các dịch vụ tài chính khác, tinh vi hơn như việc áp dụng quy trình quản lý tài sản bằng các robot được lập trình sẵn, áp dụng tại các quầy giao dịch để giao tiếp, tư vấn được với khách hàng… Đối với việc sử dụng robot thay thế cho các giao dịch viên ngân hàng, một số khả năng sau sẽ được xem xét đưa vào ứng dụng:

(i) Nhận biết - khả năng robot nắm bắt, thông hiểu, lên kế hoạch và hành động trong một tế giới thực: Khả năng nhận thức tốt hơn nghĩa là robot có thể làm việc một cách tựđộng trong một môi trường đa dạng, năng động và phức tạp hơn;

(ii) Thao tác - khảnăng kiểm soát chính xác và khéo léo thao tác vật thể trong môi trường: Với sự cải thiện về khảnăng thao tác, các robot có thểlàm được nhiều công việc đa dạng hơn và được sử dụng trong nhiều trường hợp;

(iii) Tương tác - khả năng học hỏi và cộng tác với con người: Những tiến bộ gần đây, như hỗ trợ giao tiếp qua đối thoại hoặc không đối thoại, quan sát và sao chép hành vi con người, đã khiến cho robot ngày càng có khả năng làm việc cùng con người Tuy nhiên, chi phí đầu tư ban đầu cao và việc kiểm soát, vận hành hệ thống để không phát sinh các rủi ro do hệ thống tự động tạo ra là các thách thức trong quá trình ứng dụng công nghệ này

Kinh nghi ệ m m ộ t s ố qu ố c gia trên th ế gi ớ i trong vi ệ c ứ ng d ụ ng công

Đểđáp lại những thách thức từ bối cảnh môi trường thanh toán thay đổi mạnh mẽ theo xu hướng số hóa và sự nổi lên của Fintech cũng như tận dụng cơ hội và phát huy lợi thế từ xu hướng này, NHTW/Cơ quan quản lý dịch vụ thanh toán tại một sốnước và khu vực đã ban hành cơ chế, chính sách hay tạo lập khuôn khổ quản lý, hạ tầng thanh toán theo hướng thúc đẩy thanh toán số và/hoặc thích ứng với bối cảnh số Mục tiêu chính sách chủ yếu là nhằm thúc đẩy cạnh tranh, đổi mới sáng tạo trong khi vẫn hướng tới bảo vệngười tiêu dùng trước những rủi ro, mối đe dọa tiềm tàng trong kỷ nguyên số

1.4.1 Singapore Ở cấp độ quốc gia, Singapore đặt tầm nhìn trở thành một Quốc gia Thông minh (Smart Nation), tích cực đổi mới và khai thác công nghệ để thúc đẩy năng suất lao động và nâng cao chất lượng cuộc sống Một Quốc gia Thông minh cần một Trung tâm Tài chính Thông minh (Smart Financial Centre) Năm 2015, Cơ quan Quản lý tiền tệ Singapore (MAS) đã có ý tưởng về xây dựng trung tâm tài chính thông minh với không khí đổi mới lan tỏa và sử dụng rộng rãi công nghệ để gia tăng hiệu quả, cải thiện quản lí rủi ro và tạo ra các cơ hội mới

Chính sách hỗ trợ phát triển

MAS đã giới thiệu cơ chế Đổi mới Công nghệ Khu vực Tài chính (FSTI) trị giá 225 triệu SGD để hỗ trợ sáng tạo và phát triển Cơ chế này được sử dụng để hỗ trợ thiết lập các trung tâm sáng tạo, các dự án toàn ngành và các thử nghiệm chứng minh (POC) Các trung tâm sáng tạo sẽ là cầu nối quan trọng giữa các tổ chức tài chính và công ty fintech, giúp tiến hành thử nghiệm các giải pháp sáng tạo đột phá đối với khách hàng trong và ngoài nước MAS, công ty Singapore Exchange và 8

38 ngân hàng cũng đã bắt tay triển khai dự án thử nghiệm công nghệ chuỗi khối (blockchain) trong thanh toán liên hàng

Năm 2016, MAS đã triển khai các quy định được điều chỉnh riêng để hỗ trợ các tổ chức tài chính cũng như các công ty fintech thử nghiệm sản phẩm sáng tạo trong môi trường thật (“regulatory sandbox”) MAS và các bên yêu cầu sẽ cùng xác định phạm vi tiến hành đề án thí điểm, sau đó MAS sẽ xác định các yêu cầu pháp lí cụ thể được nới lỏng trong khoảng thời gian triển khai đề án thuộc phạm vị này

Chính sách hoàn thiện hạ tầng hỗ trợ

MAS đang khuyến khích phát triển giao diện lập trình ứng dụng (API) mở giữa các tổ chức tài chính để cho phép chia sẻ dữ liệu hiệu quả Tháng 11/2016, cẩm nang API đã được biên soạn bởi MAS và Hiệp hội Ngân hàng Singapore (ABS) để hướng dẫn triển khai API cho các đối tượng quan tâm Cẩm nang đã đề xuất các tiêu chuẩn về trao đổi dữ liệu, bảo mật thông tin và yêu cầu kĩ thuật tổng quát cho mỗi API E-payment (thanh toán điện tử) là một trong các lĩnh vực ưu tiên trong chương trình quốc gia Smart Nation của Singapore Để thực hiện tầm nhìn về

“xã hội thanh toán điện tử”, MAS đã thông báo thành lập Hội đồng Thanh toán bao gồm 20 nhà lãnh đạo từ các tổ chức tài chính, trung gian thanh toán, doanh nghiệp và hiệp hội Có thể thấy dù có các giải pháp thanh toán tốt, việc hoạt động riêng rẽ và thiếu liên kết của các hệ thống đã khiến Singapore trở thành “nạn nhân của chính thành công của mình” (Vivian B., 2017) Kết quả là, hoạt động thanh toán ở Singapore vẫn chủ yếu dựa vào tiền mặt (đối với cá nhân) và séc (đối với doanh nghiệp) Ravi Menon, Chủ tịch của Hội đồng Thanh toán, cho biết “Chúng tôi có các giải pháp thanh toán tốt của Singapore Chúng tôi cần khiến chúng trở nên liên kết với nhau và tích hợp chúng tốt hơn cho nhu cầu sử dụng cá nhân và doanh nghiệp để có nhiều người chấp nhận thanh toán điện tử hơn.”

Dù lưu thông tiền mặt trong nền kinh tế vẫn còn cao (tương đương 8,8% GDP so với 4,4% ở Australia và 2.1% ở Thụy Điển), Singapore đã có các thành tựu trong cơ sở hạ tầng thanh toán Năm 2014, Singapore trở thành 1 trong các quốc gia đầu tiên xây dựng hệ thống chuyển tiền FAST giữa các ngân hàng theo thời gian thực và

39 hoạt động 24/7 Cổng chấp nhận thẻ thống nhất (UPOS) được đã được ABS xây dựng để các tất cả các thương hiệu thẻ khác nhau, bao gồm cả thẻ ảotrên điện thoại thông minh, có thể sử dụng được tại bất kì POS tại Singapore. Để giảm thiểu việc cung cấp các thông tin cá nhân, Chính phủ Singapore vừa xây dựng và hoàn thiện nền tảng dữ liệu số hóa cá nhân MyInfo Với nền tảng này, các công dân chỉ cần cung cấp thông tin cá nhân 1 lần duy nhất cho Chính phủ thay vì phải lặp lại việc này trong mỗi giao dịch điện tử MyInfo trích xuất thông tin từ cơ quan nhà nước liên quan để tạo ra hồ sơ cơ bản của công dân chỉ trong 1 ngày Các công dân có thể sử dụng hồ sơ trên MyInfo để điền vào các mẫu biểu trong các giao dịch khác nhau, trong đó có giao dịch ngân hàng, vô cùng nhanh chóng và tiện lợi Hiện tại, có 4 ngân hàng đã sử dụng cơ sở dữ liệu này để hỗ trợ khách hàng điền sẵn vào các mẫu mởtài khoản cá nhân, và sắp tới sẽ mở rộng ra các hồ sơ phát hành thẻ tín dụng hay vay mua bất động sản.

Hệ thống Địa chỉ Tập trung (CAS) là một sáng kiến khác được thúc đẩy bởi Chính phủ Singapore thông qua BAS để giúp thanh toán điện tử trở nên hấp dẫn hơn với người dân CAS sẽ kết nối số điện thoại, số chứng minh nhân dân (NRIC) của khách hàng với tài khoản ngân hàng của họ Dựa trên thông tin kết nối này, việc chuyển tiền giữa các ngân hàng sẽ được tiến hành dễ dàng như gửi tin nhắn điện thoại Có 7 ngân hàng đã tích hợp tính năng chuyển tiền mới vào ứng dụng di động của mình.

Singapore cũng đang phát triển định danh số hóa cho mỗi công dân Tháng 7/2017, Cơ quan Công nghệ Chính phủ (GovTech) đã giao cho công ty chuyên triển khai hệ thống bảo mật điện tử Gemalto thử nghiệm hệ thống số hóa di động trong lĩnh vực y tế và tài chính để định danh bảo mật các cá nhân sử dụng Internet - giống như số căn cước công dân trong thế giới thực ID ảosẽ giúp bảo vệ các thông tin cá nhân tốt hơn trước nguy cơ gian lận và lừa đảo tăng cao Đặc biệt, chúng sẽ giúp khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng không phải nhớ quá nhiều username và password ở các ngân hàng khác nhau.

MAS có quan điểm rằng các quy định không được chạy trước sự sáng tạo. Đưa ra các quy định nóng vội có thể kìm kẹp sáng tạo và ngăn cản việc ứng dụng các công nghệ hữu ích Tuy nhiên, các cơ quan quản lí cần phải đồng hành cùng sự sáng tạo và cập nhật đầy đủ các thông tin về các buớc phát triển cùng các rủi ro liên quan MAS áp dụng nguyên tắc công bằng và trọng yếu - tức là chỉ ban hành quy định khi công nghệ mới trở nên trọng yếu hay vuợt quá giới hạn, đồng thời sự khắt khe của quy định phải cân xứng với mức độ rủi ro (Sopnendu M., 2017).

Khung pháp lí hiện tại cho hoạt động thanh toán bao gồm Luật kinh doanh chuyển tiền, đổi tiền (MCRBA) và Luật hệ thống thanh toán (PSA) điều chỉnh 2 nhóm sản phẩm tuơng ứng là chuyển tiền và thẻ trả trước (ví điện tử) Các dịch vụ tài chính hiện đại, tuy nhiên, không đượcphân loại rõ ràng vào 1 trong 2 nhóm này và chịu điều chỉnh bởi cả 2 luật Điều này gây ra các khó khăn và bất tiện cho các ngân hàng và công ty fintech Nắm được bất cập này, MAS sẽ tiến hành kết hợp 2 luật cũvào 1 bộ luật duy nhất Để hạn chế các rủi ro liên quan đến tội phạm CNTT, MAS cũng sẽ bổ sung các quy định về an ninh mạng để bảo vệ khách hàng MAS đơn giản hóa việc cấp phép dịch vụ thanh toán: chỉ cần 01 giấy phép để thực hiện các hoạt động thanh toán khác nhau, và chỉ cần đáp ứng các quy định liên quan đến hoạt động dự kiến triển khai, chứ không cần tuân thủ đầy đủ các quy định về thanh toán

Tháng 6/2017, MAS đã quyết định nới lỏng chính sách tách biệt hoạt động kinh doanh tài chính và phi tài chính được đưa ra vào năm 2001 để đảm bảo các ngân hàng tập trung vào hoạt động cơ bản của mình Nhận thấy sự phát triển của công nghệ tạo ra các cơ hội mới, MAS đã cho các ngân hàng thêm nhiều linh hoạt để đáp ứng nhu cầu của khách hàng Các ngân hàng sẽ không phải xin phép truớc khi đầu tuvào các dịch vụ phi tài chính liên quan hoặc bổ trợ cho hoạt động cơ bản của ngân hàng trong giới hạn 10% tổng tài sản MAS cũng cho phép các ngân hàng tham gia vận hành các nền tảng số hóa kết nối nguời mua và nguời bán hay kinh doanh trực tuyến, đặc biệt trong thanh toán điện tử.

Chính sách phát triển kĩ năng, năng lực

Cách mạng trong công nghệ chắc chắn sẽ thay đổi nhu cầu việc làm Có nhiều công việc hiện tại có thể vẫn được duy trì, song chắc chắn chúng sẽ đòi hỏi các kĩ năng và năng lực mới Có thể thấy nhu cầu về khả năng phân tích dữ liệu, giao diện số hóa/di động và phát triển ứng dụng đã và đang tăng lên trong thời gian gần đây trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng MAS đang bắt tay xây dựng các kĩ năng và năng lực cần thiết trong thế giới tài chính mới, bắt đầutừ giáo trình trong các truờng đại học, các chuơng trình thực tập và mở rộng ra các chuơng trình đào tạo lại giữa sự nghiệp và học tập suốt đời Ngày 3/10/2016, MAS và 5 trường đại học bách khoa đã kí kết Biên bản Ghi nhớ về việc trang bị cho các cử nhân bộ kĩ năng cần thiết để đảm nhận được các công việc liên quan đến fintech Tháng 1/2017, MAS đã khởi động chương trình hội thảo Tech Talks tại các trường đại học để lôi kéo sự quan tâm của sinh viên đến công nghệ tài chính Học viện CNTT Tài chính (FITA) đã phát triển chương trình chuyển đổi số hóa dành cho các cá nhân đang ở giữa sự nghiệp của mình với các kiến thức về phân tích dữ liệu và phát triển phần mềm.

Chính phủ Ân Độ trong thời gian vừa qua đã có các bước đi chính sách mạnh mẽ để hạn chế trao đổi tiền mặt và thúc đẩy thanh toán điện tử trong các chương trình mục tiêu để thực hiện tầm nhìn về xã hội số hóa và kinh tế tri thức Ân Độ Đồng thời, Ngân hàng Trung ương Ân Độ (RBI) đã và đang đóng vai trò định hướng quan trọng trong việc xây dựng hệ thống chính sách cũng như cung cấp các khuyến nghị để đạt được các mục tiêu số hóa trong hệ thống ngân hàng.

Về chính sách hoàn thiện hạ tầng hỗ trợ:

THỰ C TR Ạ NG Ứ NG D Ụ NG CÔNG NGH Ệ TÀI CHÍNH

GIẢ I PHÁP NH ẰM TĂNG CƯỜ NG Ứ NG D Ụ NG CÔNG

trong phát tri ển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng

Ngày đăng: 30/03/2022, 10:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Báo cáo chuyên đề : “Phát tri ể n s ả n ph ẩ m, d ị ch v ụ ngân hàng trên n ề n t ả ng công ngh ệ ngân hàng hi ện đạ i - xu th ế và ti ềm năng” tác giả Đào Minh Tuấ n - Phó T ổng Giám đố c Ngân hàng TMCP Ngo ại thương Việ t Nam. – T ạ p chí tài chính k ỳ 1 tháng 7/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng trên nền tảng công nghệ ngân hàng hiện đại - xu thế và tiềm năng
1. Fintech: Đặc trưng củ a h ệ sinh thái và mô hình kinh doanh – Hà Văn Dương và Hà Phạ m Di ễ m Trang – Th ị trườ ng tài chính ti ề n t ệ s ố 10(499) - 2018 Khác
2. Kinh nghi ệ m phát tri ể n h ệ sinh thái Fintech t ạ i các qu ố c gia – Nguy ễ n Minh Nh ậ t – Th ị trườ ng tài chính ti ề n t ệ - s ố 10 - 2018 Khác
3. Fintech v ớ i Vi ệt Nam: Cơ hộ i và thách th ứ c – Đỗ Hoài Linh - Th ị trườ ng tài chính ti ề n t ệ - s ố 10 - 2018 Khác
4. Báo cáo chuyên đề Phát tri ể n s ả n ph ẩ m d ị ch v ụ trong ngành ngân hàng Vi ệ t Nam thích ứ ng v ớ i CMCN 4.0 – Vi ệ n chi ến lượ c ngân hàng – Tháng 11/2018 Khác
5. Fitech: H ệ sinh thái ở các nướ c và v ậ n d ụ ng t ạ i Vi ệ t Nam - Hà Văn Dương, Hà Phạ m Di ễ m Trang, Nguy ễ n Hoàng M ỹ L ệ (2018)-T ạ p chí Ngân hàng, s ố 1 Khác
7. Thúc đẩ y phát tri ển Ngân hàng điệ n t ử ở Vi ệ t nam - T ạ p chí Tin h ọ c Ngân hàng s ố 4/2017 ; ThS. Đỗ Văn Hữ uB. Tài liệu tiếng Anh Khác
8. Australia Securities & Investment Commissions 2016, Fintech: Opportunities, Risks and Challenges, Australia Khác
9. Basel Committee on Banking Supervision, Sound Practice: Implications of Fintech Developments for banks and bank supervisors, February 2018 Khác
10. Committee on Payment and Market Infrastructure, Digital Currencies, November 2015 Khác
11. Committee on Payment and Market Infrastructure, Central Bank digital Currencies, March 2018 Khác
12. Citi GPS 2016, Disruptive Finance: How Fintech is forcing bank to a Khác
13. Corbett, J. 2017, Thailand launches regulatory sandbox for fmtech services, Asia Business Law Journal Khác
14. Dorfleitner, G., Hornuf,L. 2016, The Fintech Market in Germany, Final Report, Germany Khác
15. Ernst and Young 2016, UK Fintech on the cutting edge: An evaluation of the international Fintech sector, United Kingdom Khác
16. European Parliament 2017, Report on Fintech: The influence of Fintech on the future of the financial sector, Committee on Economic and Monetary Affairs Khác
17. Frost and Sullivan 2016, The Fintech in Australia - Trends, Forecasts and Analysis 20152020, State Government of Australia Khác
18. Financial Services Development Council 2016, The Future of Fintech in Hong Kong, FSDC Paper No.29, Hong Kong Khác
19. Financial Stabilitv Board 2017, Financial Stability Implications from Fintech: Supervisory and Regulatory Issues that Merits Authorities ’ Attentions, FSB Khác
20. Harris, K., and Murphv, J., 2016, Peer to Peer Lending: Structure, Risks and Regulation, Australia Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w