Để thực hiện luận văn “Phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt của các ngân hàng Việt Nam”, tác giả đã đi sâu vào nghiên cứu những vấn đề tổng quan nhất về phát triển dịch vụ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
-o0o -
LUẬN VĂN THẠC SĨ
PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT CỦA CÁC NGÂN HÀNG VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
LÊ TRẦN THANH THƯƠNG
Hà Nội - 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc
rõ ràng Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi trong phần tài liệu tham khảo Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng, cũng như kết quả luận văn của mình
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Lê Trần Thanh Thương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin được bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới Tiến sỹ Nguyễn Thị Thanh An đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và chỉ bảo cho tác giả trong quá trình hoàn thành luận văn Đồng thời, tác giả cũng xin đươc gửi lời cảm ơn chân thành tới toàn bộ các thầy cô giáo đã hết lòng giảng dạy, hướng dẫn tác giả trong quá trình học tập tại trường Đại học Ngoại thương
Bên cạnh đó, tác giả cũng xin cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Trung tâm thanh toán Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam, lãnh đạo Kiểm toán Nhà nước chuyên ngành VII và gia đình, đồng ngiệp và bạn bè đã tạo điều kiện thuận lợi để tác giả hoàn thành luận văn này cũng như trong suốt quá trình học tập
Với những hiểu biết còn hạn chế của mình cùng giới hạn về thời gian nghiên cứu nên luận văn vẫn còn nhiều điểm thiếu sót cần khắc phục Kính mong nhận được lời nhận xét và chỉ bảo của các thầy cô trong trường để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn.!
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Lê Trần Thanh Thương
Trang 5MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG, BIỂU
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN
MỞ ĐẦU……….………… 1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT CỦA NGÂN HÀNG 5
1.1 Tổng quan về dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt của ngân hàng 5
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm thanh toán không dùng tiền mặt 5
1.1.1.1 Khái niệm thanh toán không dùng tiền mặt 5
1.1.1.2 Đặc điểm thanh toán không dùng tiền mặt 5
1.1.2 Vai trò của thanh toán không dùng tiền mặt 6
1.1.2.1 Đối với nền kinh tế 6
1.1.2.2 Đối với ngân hàng 6
1.1.2.3 Đối với khách hàng 7
1.1.3 Các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt của ngân hàng 7
1.1.3.2 Thanh toán bằng Ủy nhiệm chi 10
1.1.3.3 Thanh toán bằng Ủy nhiệm thu 11
1.1.3.4 Thanh toán bằng Thẻ 13
1.1.3.5 Các dịch vụ thanh toán qua Ngân hàng điện tử 14
1.1.4 Hệ thống thanh toán giữa các ngân hàng 15
1.1.4.1 Hệ thống thanh toán liên hàng 15
1.1.4.2 Hệ thống thanh toán liên ngân hàng 16
1.1.4.3 Hệ thống thanh toán bù trừ 17
1.1.4.4 Hệ thống thanh toán qua tài khoản tiền gửi ở các ngân hàng khác 17 1.2 Phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt của ngân hàng 18
1.2.1 Quan điểm về phát triển thanh toán không dùng tiền mặt 18
1.2.2 Các tiêu chí đánh giá sự phát triển thanh toán không dùng tiền mặt của ngân hàng 18
1.2.2.1 Mở rộng quy mô dịch vụ TTKDTM 18
1.2.2.2 Hợp lý hóa cơ cấu sản phẩm 19
1.2.2.3 Phát triển công nghệ thông tin trong ngân hàng 20
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển thanh toán không dùng tiền mặt của ngân hàng 20
Trang 61.2.3.1 Nhân tố chủ quan 20
1.2.3.2 Nhân tố khách quan 21
1.2.4 Cơ hội và thách thức của phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt của các ngân hàng Việt Nam 23
1.3 Kinh nghiệm phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt của một số nước trên Thế giới 25
1.3.1 Kinh nghiệm của Mỹ 25
1.3.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc 27
1.3.3 Kinh nghiệm của Australia 28
1.3.4 Bài học kinh nghiệm với các ngân hàng Việt Nam 29
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT CỦA CÁC NGÂN HÀNG VIỆT NAM 32
2.1 Cơ sở pháp lý cho dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt của ngân hàng……… 32
2.2 Thực trạng thanh toán không dùng tiền mặt của các ngân hàng Việt Nam hiện nay 33
2.2.1 Tình hình chung 33
2.2.2 Thực trạng phát triển các phương tiện TTKDTM của ngân hàng 37
2.2.3 Thực trạng phát triển hệ thống thanh toán giữa các ngân hàng ở Việt Nam… 47
2.3 Đánh giá về hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt của hệ thống ngân hàng ở Việt Nam hiện nay 55
2.3.1 Những kết quả đạt được 55
2.3.2 Những hạn chế 59
2.3.3 Nguyên nhân 62
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT CỦA CÁC NGÂN HÀNG VIỆT NAM 67
3.1 Mục tiêu phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt của ngân hàng Việt Nam đến năm 2020 67
3.1.1 Mục tiêu tổng thể 67
3.1.2 Một số chỉ tiêu về hoạt động thanh toán đến năm 2020 67
3.2 Định hướng phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt của ngân hàng Việt Nam đến năm 2020 68
3.3 Giải pháp phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt của ngân hàng Việt Nam 68
Trang 73.3.1 Các giải pháp về chính sách pháp luật cho dịch vụ thanh toán không
dùng tiền mặt của ngân hàng 69
3.3.2 Các giải pháp về đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật và ứng dụng công nghệ
thanh toán 71
3.3.3 Các giải pháp phát triển nguồn nhân lực cho hoạt động thanh toán 74 3.3.4 Các giải pháp tăng cường nhận thức và thói quen của các chủ thể
tham gia thanh toán 75
3.3.5 Các giải pháp về xây dựng các hệ thống thanh toán của ngân hàng 77
3.3.5.1 Nâng cấp, mở rộng Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế và yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế 77 3.3.5.2 Xây dựng trung tâm thanh toán bù trừ tự động phục vụ cho các giao dịch bán lẻ 78 3.3.5.3 Thực hiện kết nối hệ thống thanh toán bù trừ và quyết toán chứng khoán với hệ thống thanh toán liên ngân hàng quốc gia 79 3.3.5.4 Về hệ thống thanh toán nội bộ của các ngân hàng thương mại 80
3.3.6 Tăng cường quản lý, giám sát hoạt động thanh toán và chuyển tiền quốc tế…… 81 3.3.7 Giám sát và áp dụng các tiêu chuẩn cho các hệ thống thanh toán theo các tiêu chí và chuẩn mực quốc tế 81 3.3.8 Tăng cường cơ chế phối hợp thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt
83
3.3.9 Các giải pháp khác 84
KẾT LUẬN……… ………91 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Phụ lục
Trang 8DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG, BIỂU
I Danh mục sơ đồ
II Danh mục bảng
1 Bảng 2.1: Tỷ trọng cung ứng dịch vụ TTKDTM các hệ thống
2 Bảng 2.2: Cơ cấu tổng phương tiện thanh toán từ năm 2001 – 2016 35
3 Bảng 2.3: Số liệu giao dịch các phương tiện TTKDTM ở Việt Nam
6 Bảng 2.6: Kết quả điều tra khảo sát dịch vụ thanh toán không dùng
III Danh mục biểu đồ
1 Biểu đồ 2.1: Tỷ trọng tiền mặt trong tổng phương tiện thanh toán ở
2 Biểu đồ 2.2: Số liệu tài khoản thanh toán của khách hàng cá nhân
3 Biểu đồ 2.3: Cơ cấu doanh số các phương tiện TTKDTM từ năm
9 Biểu đồ 2.9: Số liệu giao dịch qua IBPS từ năm 2013 - 2016 48
10 Biểu đồ 2.10: Số liệu giao dịch qua hệ thống TTBT điện tử từ năm
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT STT Nguyên nghĩa Viết tắt
1 Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
3 Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát
6 Ngân hàng Thương mại và Công nghiệp Trung
15 Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương
16 Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương
Trang 10TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN
Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ thanh toán bằng tiền mặt lớn Việc sử dụng tiền mặt trong thanh toán dẫn đến nhiều thiệt hại cho cả cơ quan quản
lý và người dân, như: tốn kém chi phí, không an toàn, tạo nhiều cơ hội cho kinh tế ngầm, trốn thuế và tham nhũng; khó quản lý, kiểm soát chính xác thu nhập đối với những người có thu nhập cao để tính thuế thu nhập cá nhân Chính vì thế, khi các ngân hàng phát triển các dịch vụ Thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) sẽ là động lực quan trọng góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo hướng hiện đại hóa
Để thực hiện luận văn “Phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt của các ngân hàng Việt Nam”, tác giả đã đi sâu vào nghiên cứu những vấn đề tổng quan
nhất về phát triển dịch vụ TTKDTM ở chương 1 với ba nội dung chủ yếu sau: Tổng quan về dịch vụ TTKDTM của ngân hàng; Phát triển dịch vụ TTKDTM của ngân hàng và Kinh nghiệm phát triển dịch vụ TTKDTM của một số nước trên Thế giới,
từ đó rút ra bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
Trên cơ sở những nội dung đã được làm rõ ở chương 1, chương 2 của luận văn tập trung phân tích, đánh giá thực trạng phát triển dịch vụ TTKDTM của các ngân hàng Việt Nam hiện nay, trong đó đi sâu và cụ thể vào quá trình phát triển của các phương tiện thanh toán phổ biến và các hệ thống thanh toán giữa các ngân hàng, chỉ
ra một số hạn chế còn tồn tại của dịch vụ này và những nguyên nhân của hạn chế đó cũng như đưa ra những đánh giá về dịch vụ TTKDTM của các ngân hàng Việt Nam
Từ kết quả của chương 1 và chương 2, chương 3 của luận văn đã làm rõ thêm về sự cần thiết của phát triển dịch vụ TTKDTM của các ngân hàng Việt Nam, những mục tiêu
và định hướng phát triển cũng như những giải pháp để phát triển dịch vụ này một bền vững, hiệu quả và lâu dài
Trang 11MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Tiền mặt đã có lịch sử khá lâu đời và là một phương thức thanh toán không thể thiếu với mọi quốc gia Tuy nhiên trong xã hội hiện đại, con người sống trong một thế giới phẳng thì các hoạt động giao dịch thương mại, dịch vụ luôn diễn ra mọi lúc mọi nơi, vượt qua cả giới hạn về không gian và thời gian Khi đó hoạt động thanh toán bằng tiền mặt sẽ dẫn đến nhiều bất lợi và rủi ro như: chi phí xã hội để tổ chức hoạt động thanh toán là rất tốn kém, dễ bị lợi dụng để gian lận trốn thuế…Vấn đề an ninh luôn tiềm ẩn nhiều nguy hiểm và tạo điều kiện cho việc lưu hành tiền giả, đe dọa trực tiếp đến lợi ích của tổ chức, cá nhân và an ninh quốc gia
Để giải quyết những hạn chế và tổn thất của phương thức thanh toán bằng tiền mặt,
có rất nhiều phương thức thanh toán nhanh chóng, tiện dụng và hiện đại hơn phục vụ nhu cầu của các cá nhân và tổ chức ra đời như: thanh toán trực tuyến, thanh toán chuyển khoản, thanh toán bằng thẻ, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu… và được gọi chung là thanh toán không dùng tiền mặt Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, hoạt động TTKDTM đã trở nên vô cùng quan trọng đối với các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và cũng xuất hiện ngày càng nhiều trong các giao dịch cá nhân
Trong những năm gần đây, mặc dù Chính phủ và ngành ngân hàng đã có nhiều nỗ lực trong việc hoàn thiện và phát triển về cơ sở hạ tầng, hành lang pháp lý, mô hình tổ chức, phương tiện cũng như các dịch vụ TTKDTM, song tiền mặt vẫn là phương tiện thanh toán phổ biến chiếm tỷ trọng khá lớn trong các giao dịch thanh toán Nền kinh tế Việt Nam vẫn bị coi là “nền kinh tế tiền mặt” Điều này đã góp phần dẫn tới thực trạng là
sự minh bạch của nền kinh tế được đánh giá chưa cao, hiệu quả trong hoạt động thanh toán nói chung và hiệu quả của việc sử dụng TTKDTM vẫn còn thấp, hoạt động tham nhũng trong nền kinh tế có điều kiện hơn để phát triển
Trước thực trạng đó, việc phát triển dịch vụ TTKDTM của các ngân hàng là yêu cầu tất yếu để đưa nền kinh tế hướng tới nền kinh tế thị trường hiện đại, tạo ra sự thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng của người dân Chính trong tình hình đó, chúng ta cần có những công trình nghiên cứu làm rõ vai trò của dịch vụ TTKDTM đối với
Trang 12hệ thống ngân hàng, các tổ chức, cá nhân và nền kinh tế, tìm ra những hạn chế của dịch vụ TTKDTM tại Việt Nam và đưa ra các giải pháp nhằm phát triển dịch vụ TTKDTM Vì vậy, trong quá trình học tập, làm việc thực tế trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ thanh toán
của ngân hàng, em quyết định lựa chọn đề tài “Phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt của các ngân hàng Việt Nam” để làm tên đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ với
mong muốn mở rộng và phát triển dịch vụ TTKDTM tại Việt Nam
tháng 10 năm 2012)…
Còn ở Việt Nam, do dịch vụ TTKDTM là nghiệp vụ khá phức tạp và mới mẻ nên mới chỉ có một số tác phẩm, các bài viết của các học giả nghiên cứu, phân tích, đánh giá về
thực trạng dịch vụ TTKDTM của ngân hàng như:
- “Kinh nghiệm của bạn và giải pháp của Việt Nam”, Tác giả Nguyễn Ngọc Lâm, Tạp chí Tin học ngân hàng, số 7/ 2005; “Thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam”,
TS Trần Minh Ngọc, ThS Phan Thuý Nga, Tạp chí Ngân hàng số 13- 2006; “Phương hướng và giải pháp thanh toán không dùng tiền mặt trong khu vực dân cư ở Việt Nam đến năm 2020”, PGS.TS Lê Đình Hợp, Kỷ yếu các công trình khoa học ngành Ngân hàng,
NXB Thống kê năm 2004
Nội dung chính của các bài viết này đề cập đến thực trạng thanh toán bằng tiền mặt ở nước ta, các hình thức TTKDTM chưa thuận tiện, nguyên nhân của thực trạng này và một
số kiến nghị góp phần mở rộng phương tiện TTKDTM, cải thiện tình trạng thanh toán
bằng tiền mặt hiện đang rất phổ biến ở nước ta hiện nay
- “Phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt cho khu vực dân cư ở Việt Nam” Tác giả Đặng Công Hoàn, Luận án tiến sỹ, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội năm
Trang 13Luận án trên đã góp phần hoàn thiện thêm cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ TTKDTM cho khu vực dân cư và lợi ích của phát triển dịch vụ TTKDTM dân cư với nền kinh tế thị trường; Đánh giá được tình hình phát triển hiện nay của dịch vụ TTKDTM cho khu vực dân cư tại Việt Nam cũng như làm rõ hơn vai trò của các chính sách của Nhà nước trong việc thúc đẩy và phát triển dịch vụ TTKDTM cho khu vực dân cư; Đề xuất
một số giải pháp phát triển hiệu quả dịch vụ TTKDTM cho dân cư tại Việt Nam
- “Phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt trong thanh toán nội địa tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam, chi nhánh Hai Bà Trưng, Hà Nội”, Tác
giả Vũ Thị Kim Thanh, Luận văn Thạc sỹ, Trường đại học Quốc gia Hà Nội năm 2015
Luận văn đã khái quát, hệ thống hóa cơ sở lý luận về hoạt động TTKDTM trong thanh toán nội địa; Đưa ra các nhân tố chủ quan và khách quan ảnh hưởng đến hoạt động TTKDTM trong thanh toán nội địa của ngân hàng thương mại (NHTM), phân tích kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu trong lĩnh vực này trước đây; Đánh giá thực trạng phát triển dịch vụ TTKDTM trong thanh toán nội địa của Ngân hàng TMCP Đầu tư
và Phát triển Việt Nam, chi nhánh Hai Bà Trưng, phân tích, đánh giá sự ảnh hưởng của các nhân tố đến hoạt động TTKDTM tại Chi nhánh; Đề xuất một số giải pháp phát triển dịch
vụ TTKDTM trong thanh toán nội địa tại BIDV Hai Bà Trưng trên cơ sở các kết quả
nghiên cứu thu được
Những công trình nghiên cứu và bài viết trên đã góp phần giải đáp những đòi hỏi cấp bách về việc phát triển dịch vụ TTKDTM của các ngân hàng Việt Nam Tuy nhiên, cho tới nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào phân tích đánh giá một cách toàn thể những thành tựu, hạn chế và những giải pháp cụ thể để phát triển dịch vụ TTKDTM của các ngân hàng Việt Nam đặc biệt là trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực
Trang 14Luận văn tập trung nghiên cứu về thực trạng phát triển dịch vụ TTKDTM của các NHTM tại Việt Nam từ năm 2012 đến 2016 Song đây là một hoạt động phức tạp và bao gồm rất nhiều nghiệp vụ Vì vậy, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu tình hình sử dụng các công cụ TTKDTM của các NHTM và hệ thống thanh toán giữa các ngân hàng trong phạm
vi lãnh thổ Việt Nam, không nghiên cứu sâu từng nghiệp vụ cụ thể và nghiệp vụ thanh toán quốc tế
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây: Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết, phương pháp phân loại, hệ thống hóa lý thuyết, phương pháp lịch sử; Phương pháp khảo sát bằng bảng câu hỏi, phương pháp quan sát, phân tích và tổng kết kinh nghiệm, phương pháp tổng hợp số liệu,
so sánh đối chiếu và phân tích dữ liệu
1.6 Những đóng góp mới của luận văn
Sau khi hoàn thành, luận văn có những đóng góp quan trọng sau:
Luận văn khái quát một cách có hệ thống cơ sở lý luận và phân tích thực trạng phát triển dịch vụ TTDKTM của các ngân hàng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay;
Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển dịch vụ TTKDTM của các ngân hàng Việt Nam trong thời gian tới
1.7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục các từ viết tắt, danh mục bảng biểu
sơ đồ, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được thể hiện trong 3 chương: Chương 1: Lý luận chung về phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt của ngân hàng;
Chương 2: Thực trạng phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt của các ngân hàng Việt Nam;
Chương 3: Giải pháp phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt của các ngân hàng Việt Nam
Trang 15CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT CỦA NGÂN HÀNG
1.1 Tổng quan về dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt của ngân hàng
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm thanh toán không dùng tiền mặt
1.1.1.1 Khái niệm thanh toán không dùng tiền mặt
TTKDTM xuất hiện từ lâu trong lịch sử loài người nhưng chỉ được phát triển và hoàn thiện trong nền kinh tế thị trường Tuy nhiên, TTKDTM lại là nhân tố thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển, do đó nó vừa được coi là “đứa con” sinh ra của kinh tế thị trường lại được xem như “bà đỡ” của nền kinh tế hàng hoá Ngày nay, TTKDTM được áp dụng phổ biến trong lĩnh vực tài chính đối nội cũng như đối ngoại và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chu chuyển tiền tệ TTKDTM là một khái niệm tương đối, có thể được định
nghĩa như sau: “TTKDTM của ngân hàng là sự vận động của tiền tệ, qua chức năng
phương tiện thanh toán, được thực hiện qua bút toán ghi sổ bằng cách trích chuyển tiền từ tài khoản này sang tài khoản khác hoặc bằng cách bù trừ lẫn nhau thông qua vai trò trung gian của ngân hàng” (PGS.TS Phan Thị Thu Hà 2015, tr.194)
TTKDTM là một phạm trù vừa mang tính chất lý thuyết trừu tượng vừa mang tính chất công nghệ cụ thể Đứng về mặt phạm trù lý luận, TTKDTM là một hình thức vận động của tiền tệ - vừa là công cụ kế toán vừa là công cụ để chuyển hóa giá trị của hàng hóa, dịch vụ Đứng về mặt công nghệ thì TTKDTM là những nghiệp vụ phải thông qua nhiều giai đoạn liên hoàn đòi hỏi những thao tác về kỹ thuật thanh toán tinh vi và phức tạp
1.1.1.2 Đặc điểm thanh toán không dùng tiền mặt
TTKDTM có các đặc điểm như sau:
- Trong TTKDTM, sự vận động của tiền tệ độc lập với sự vận động của hàng hóa cả
về thời gian lẫn không gian và thường không ăn khớp với nhau
- TTKDTM sử dụng tiền ghi sổ hay còn gọi là bút tệ Trong TTKDTM, vật trung gian trao đổi không xuất hiện như thanh toán bằng tiền mặt theo kiểu H-T-H mà chỉ xuất hiện dưới dạng tiền kế toán hay tiền ghi sổ
- Trong TTKDTM, mỗi khoản thanh toán ít nhất có ba bên tham gia đó là:
Trang 16+ Người trả tiền: có thể là người mua hàng, người nhận dịch vụ, người nộp thuế, trả
nợ hoặc là người chuyển nhượng một khoản tiền nào đó do thiện chí cho người khác hay
do pháp luật quy định Người trả tiền đóng vai trò quyết định trong quá trình thanh toán + Người nhận tiền: còn gọi là người thụ hưởng, là người được hưởng một khoản tiền
do đã giao hàng, cung ứng dịch vụ hoặc do luật quy định hoặc do thiện chí của người khác + Trung gian thanh toán: Là các tổ chức tài chính như ngân hàng, kho bạc Trong TTKDTM, ngân hàng vừa là người tổ chức vừa là người thực hiện các khoản thanh toán
- TTKDTM phải sử dụng các chứng từ thanh toán riêng làm căn cứ để thực hiện việc chi trả Những chứng từ này phục vụ cho việc xử lý kế toán của các trung gian thanh toán
1.1.2 Vai trò của thanh toán không dùng tiền mặt
Trong nền kinh tế hàng hóa, TTKDTM là bộ phận cấu thành trong tổng chu chuyển tiền tệ và có vai trò quan trọng với nền kinh tế và các bên tham gia thanh toán, cụ thể:
1.1.2.1 Đối với nền kinh tế
- TTKDTM thúc đẩy nhanh sự vận động của vật tư, tiền vốn trong nền kinh tế quốc dân góp phần giảm chi phí sản xuất và lưu thông, tăng tích lũy cho quá trình tái sản xuất
- TTKDTM của ngân hàng góp phần giảm thấp tỷ trọng tiền mặt trong lưu thông, từ
đó giảm chi phí lưu thông như chi phí in ấn, vận chuyển, bảo quản tiền, chi phí về thời gian thanh toán… tạo ra sự chuyển hóa thông suốt giữa tiền mặt và tiền chuyển khoản góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho công tác kế hoạch hóa và điều hòa lưu thông tiền tệ
- TTKDTM tạo điều kiện tập trung một nguồn vốn lớn của xã hội vào tín dụng để tái đầu tư vào nền kinh tế, phát huy vai trò điều tiết, kiểm tra của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vào hoạt động tài chính ở tầm vĩ mô và vi mô, qua đó kiểm soát được lạm phát
1.1.2.2 Đối với ngân hàng
- TTKDTM tạo khả năng tập trung nguồn vốn vào hệ thống ngân hàng để đầu tư cho phát triển kinh tế Đây là một nguồn vốn lớn, nếu có kế hoạch sử dụng tốt sẽ không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế rất lớn cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân mà còn bảo đảm sự an
Trang 17- TTKDTM tạo điều kiện cho hoạt động huy động vốn của ngân hàng Qua hoạt động mở tài khoản thanh toán của các tổ chức và cá nhân, ngân hàng có thể tận dụng một lượng tiền tạm thời nhàn rỗi nhất định để tăng khả năng huy động vốn mà không cần phải lao vào cuộc đua tăng lãi suất, góp phần giảm giá đầu vào của việc “đi vay để cho vay”
- TTKDTM thúc đẩy quá trình cho vay, tăng cường nhu cầu vốn cho xã hội Trên cơ
sở nguồn vốn huy động từ lượng tiền nhàn rỗi của khách hàng, ngân hàng sẽ có điều kiện
mở rộng cho vay, tăng vốn cho nền kinh tế
- TTKDTM giúp cho ngân hàng thực hiện chức năng tạo tiền Thực chất của cơ chế tạo tiền của hệ thống ngân hàng là việc tổ chức thanh toán qua ngân hàng và cho vay bằng chuyển khoản Vì vậy, khi TTKDTM càng phát triển thì khả năng tạo tiền càng lớn
- TTKDTM thúc đẩy phát triển các hoạt động kinh doanh khác và tăng thu nhập cho ngân hàng TTKDTM là một mắt xích quan trọng trong việc chắp nối và thúc đẩy phát triển các hoạt động khác như kinh doanh ngoại tệ, bảo lãnh ngân hàng Phí thu từ dịch vụ TTKDTM cũng tạo ra lợi nhuận kinh doanh góp phần tăng thu nhập cho ngân hàng
1.1.3 Các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt của ngân hàng
Quá trình trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các tác nhân trong nền kinh tế rất phong phú và đa dạng với những điều kiện và tính chất khác nhau Vì vậy cần phải thiết lập nhiều phương tiện chi trả khác nhau nhằm giúp các chủ thể thanh toán thực hiện tốt quy trình thanh toán Các phương tiện TTKDTM phổ biến gồm có:
Trang 181.1.3.1 Thanh toán bằng Séc
Séc ra đời từ chức năng phương tiện thanh toán của tiền tệ và được sử dụng rộng rãi
ở hầu hết các nước trên thế giới Séc là giấy tờ có giá, do người trả tiền ký phát, được dùng
để thanh toán cho người thụ hưởng Do vậy, thực chất Séc là lệnh của chủ tài khoản đối với ngân hàng, được lập trên mẫu in sẵn, yêu cầu Ngân hàng trích tiền từ tài khoản của mình trả cho người thụ hưởng (PGS.TS Phan Thị Thu Hà 2015, tr.199)
Việc thanh toán bằng Séc được tiến hành theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của NHNN về phát hành và sử dụng Séc Người phát hành Séc (chủ tài khoản hoặc người được chủ tài khoản ủy quyền) có nghĩa vụ đảm bảo khả năng thanh toán cho tờ Séc mà mình ký phát Đặc điểm của dịch vụ thanh toán bằng Séc là:
• Thứ nhất, Séc có tính thời hạn, nghĩa là chỉ có giá trị thanh toán trong thời hạn có hiệu lực được quy định và tùy theo từng loại Séc sẽ có phạm vi thanh toán khác nhau
• Thứ hai, Séc có nhiều loại và được phân chia theo các tiêu thức khác nhau, cụ thể:
- Căn cứ vào mục đích sử dụng có: Séc chuyển tiền, Séc lĩnh tiền mặt, Séc du lịch
- Căn cứ vào hình thức thanh toán có các loại Séc sau:
+ Séc tiền mặt là loại Séc mà chủ tài khoản chỉ dùng để nhận tiền mặt tại ngân hàng
từ tài khoản tiền gửi của mình
+ Séc chuyển khoản là loại Séc được dùng để thanh toán giữa các chủ thể mở tài khoản tại cùng một ngân hàng hoặc tại các ngân hàng khác nhau có tham gia thanh toán bù trừ trên cùng địa bàn tỉnh, thành phố bằng cách trích tài khoản của người phải trả sang tài khoản của người được hưởng Séc chuyển khoản được thanh toán theo sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1: Quy trình thanh toán Séc chuyển khoản
Ngân hàng phục vụ
bên trả tiền
Ngân hàng phục vụ bên thụ hưởng
1 4b
4a
3
2
5
Trang 19(1) Bên trả tiền ký phát hành Séc và giao tờ Séc cho bên thụ hưởng
(2) Bên thụ hưởng lập bảng kê nộp Séc và nộp cùng tờ Séc vào Ngân hàng phục vụ mình để thanh toán
(3) Ngân hàng phục vụ bên thụ hưởng chuyển tờ Séc cùng bảng kê nộp Séc cho Ngân hàng phục vụ bên trả tiền để thanh toán
(4a) Ngân hàng phục vụ bên trả tiền ghi Nợ tài khoản tiền gửi thanh toán của bên trả tiền và báo Có cho Ngân hàng phục vụ bên thụ hưởng (4b) Ngân hàng phục vụ bên trả tiền báo Nợ cho bên trả tiền
(5) Ngân hàng phục vụ bên thụ hưởng ghi Có và gửi giấy báo Có cho bên thụ hưởng + Séc gạch chéo là loại Séc mà trên mặt trước của nó có hai đường gạch chéo song song từ góc này sang góc kia và chỉ được dùng trong thanh toán chuyển khoản không được dùng để rút tiền mặt
+ Séc bảo chi là loại Séc được ngân hàng đảm bảo khả năng chi trả bằng cách trích tiền từ tài khoản tiền gửi của bên trả tiền sang tài khoản riêng nhằm đảm bảo khả năng thanh toán cho tờ Séc đó Séc bảo chi được sử dụng để thanh toán giữa các chủ thể mở tài khoản tại các ngân hàng trong phạm vi cả nước Quy trình thanh toán Séc bảo chi như sau:
Sơ đồ 1.2: Quy trình thanh toán Séc bảo chi
(1) Bên trả tiền làm thủ tục bảo chi Séc
(2) Bên trả tiền giao Séc cho Bên thụ hưởng
(3) Bên thụ hưởng nộp Séc vào Ngân hàng phục vụ mình
(4) Ngân hàng phục vụ bên thụ hưởng ghi Có và gửi giấy báo Có cho bên thụ hưởng
Ngân hàng phục vụ
bên trả tiền
Ngân hàng phục vụ bên thụ hưởng
2
1
5
Trang 20(5) Ngân hàng phục vụ bên thụ hưởng lập giấy báo liên hàng gửi đòi tiền Ngân hàng phục vụ bên trả tiền
Đến nay Séc vẫn là phương tiện thanh toán dựa trên cơ sở chứng từ, với chi phí cao hơn và mất nhiều thời gian hơn so với một phương tiện thanh toán có thể ứng dụng công nghệ tin học Do đó, hình thức thanh toán bằng Séc ngày càng có xu hướng giảm dần
1.1.3.2 Thanh toán bằng Ủy nhiệm chi
Ủy nhiệm chi (UNC) hay lệnh chi đã ra đời khá lâu và được sử dụng phổ biến trong
quan hệ thanh toán hàng hóa và phi hàng hóa UNC là yêu cầu của người trả tiền đối với ngân hàng của mình, nhờ ngân hàng trích từ tài khoản tiền gửi của mình chuyển trả cho địa chỉ xác định (PGS.TS Phan Thị Thu Hà 2015, tr 197)
Đặc điểm của dịch vụ thanh toán bằng UNC là:
• Thứ nhất, phạm vi thanh toán của UNC khá rộng, không phân biệt trong cùng hệ thống hoặc khác hệ thống ngân hàng
• Thứ hai, UNC không có nghĩa là ủy nhiệm cho ngân hàng chi hộ mà phải do khách hàng lập để yêu cầu ngân hàng nơi mình mở tài khoản tiền gửi trích một số tiền nhất định từ tài khoản tiền gửi của mình để trả cho người thụ hưởng về tiền mua hàng hoá, dịch vụ… hoặc chuyển vào tài khoản khác của chính mình Ngân hàng không được phép tự động trích tài khoản của khách trừ trường hợp đã có thỏa thuận trước bằng văn bản
• Thứ ba, UNC dưới dạng chứng từ giấy phải lập đúng và đủ số liên theo mẫu của ngân hàng UNC dưới dạng chứng từ điện tử phải đáp ứng chuẩn dữ liệu theo quy định tại quy chế lập, sử dụng, kiểm soát, xử lý, bảo quản và lưu trữ chứng từ điện tử
Quy trình thanh toán bằng UNC được thể hiện theo sơ đồ dưới đây:
Ngân hàng phục vụ
bên trả tiền
Ngân hàng phục vụ bên thụ hưởng
1
4a
4b
Trang 21(1) Bên thụ hưởng và bên trả tiền có mối quan hệ thương mại hoặc phi thương mại (2) Bên trả tiền lập UNC (theo mẫu) gửi Ngân hàng phục vụ mình trích tài khoản thanh toán để chuyển tiền cho bên thụ hưởng
(3) Ngân hàng phục vụ bên trả tiền kiểm tra UNC, nếu hợp lệ thì trích tài khoản tiền gửi và báo Nợ bên trả tiền
(4a) Nếu bên thụ hưởng có tài khoản tại ngân hàng khác, Ngân hàng phục vụ bên trả tiền chuyển tiền trả cho Ngân hàng phục vụ bên thụ hưởng; (4b) Nếu bên thụ hưởng và bên trả tiền đều có tài khoản tại cùng ngân hàng thì Ngân hàng phục vụ bên trả tiền ghi Có vào tài khoản và báo Có bên thụ hưởng
(5) Ngân hàng phục vụ bên thụ hưởng ghi Có và gửi giấy báo Có cho bên thụ hưởng Thanh toán bằng UNC có hạn chế là dễ gây thiệt hại về vốn cho bên bán nếu bên mua chậm trả hay cố tình không thực hiện thanh toán do không quy định hiệu lực trong thời hạn thanh toán Tuy nhiên, với thủ tục nhanh chóng, đơn giản, dễ quản lý, UNC vẫn là phương tiện thanh toán đang được sử dụng phổ biến hiện nay
1.1.3.3 Thanh toán bằng Ủy nhiệm thu
Uỷ nhiệm thu (UNT) hay nhờ thu là thể thức thanh toán được tiến hành trên cơ sở các chứng từ hoá đơn và giấy UNT do người bán lập theo mẫu và chuyển đến ngân hàng
để yêu cầu thu hộ tiền người mua về hàng hoá đã giao, dịch vụ đã cung ứng phù hợp với
những điều kiện thanh toán đã ghi trong hợp đồng kinh tế Do đó, có thể định nghĩa UNT
là yêu cầu của người bán đối với ngân hàng, nhờ ngân hàng thu hộ tiền hàng hóa dịch vụ
đã cung ứng cho người mua (PGS.TS Phan Thị Thu Hà 2015, tr.198)
Đặc điểm của dịch vụ thanh toán bằng UNT là:
• Thứ nhất, vì là giấy ủy nhiệm cho ngân hàng thu hộ tiền nên UNT thường được
sử dụng khi có quan hệ thương mại, trên cơ sở có thoả thuận hoặc hợp đồng về các điều kiện thu hộ giữa bên trả tiền và bên thụ hưởng và phải thông báo bằng văn bản cho ngân hàng về việc áp dụng thể thức UNT để ngân hàng làm căn cứ thực hiện thanh toán
• Thứ hai, để đảm bảo UNT lập ra là chính xác, ngân hàng luôn yêu cầu khách hàng của mình khi nộp UNT phải kèm theo cả hóa đơn hàng hóa - dịch vụ đã cung ứng
Trang 22cho người mua và không chịu trách nhiệm về mọi sự tranh chấp giữa người mua và người bán
• Thứ ba, điều kiện, thủ tục thanh toán, thời hạn thực hiện UNT do ngân hàng thoả thuận với người sử dụng dịch vụ và phù hợp với quy định của NHNN Trường hợp số dư tài khoản của bên mua không đủ để thực hiện giao dịch thì ngân hàng phục vụ người chi trả phải thông báo cho người trả tiền biết và theo dõi đến khi tài khoản có đủ tiền mới thực hiện thanh toán đồng thời tính thêm số tiền phạt để chuyển cho bên bán
Quy trình thanh toán bằng UNT thực hiện theo sơ đồ dưới đây:
Sơ đồ 1.4: Quy trình thanh toán ủy nhiệm thu
(1) Căn cứ vào hợp đồng kinh tế, bên bán cung ứng hàng hóa, dịch vụ cho bên mua (2a) Căn cứ vào các hóa đơn chứng từ, bên bán lập UNT gửi tới Ngân hàng phục vụ mình hoặc gửi trực tiếp đến Ngân hàng phục vụ người mua (2b) nhờ thu hộ tiền
(3) Ngân hàng phục vụ bên bán kiểm tra bộ chứng từ UNT, nếu hợp lệ và khớp đúng thì chuyển chứng từ đến cho Ngân hàng bên mua
(4) Ngân hàng phục vụ bên mua kiểm tra bộ chứng từ UNT, nếu hợp lệ và khớp đúng thì ghi Nợ tài khoản và báo Nợ cho bên mua
(5) Ngân hàng phục vụ bên mua chuyển trả tiền cho Ngân hàng phục vụ bên bán
(6) Ngân hàng phục vụ bên bán ghi Có vào tài khoản và báo Có cho bên bán
Trong thanh toán bằng UNT, nếu bên mua và bên bán mở tài khoản ở các ngân hàng khác nhau thì thủ tục luân chuyển chứng từ phức tạp, thanh toán chậm, dễ gây ứ đọng vốn Tuy nhiên, UNT có ưu điểm là quy định rõ ràng điều kiện và thời hạn thanh toán
Ngân hàng phục vụ
bên mua
Ngân hàng phục vụ bên bán
Trang 231.1.3.4 Thanh toán bằng Thẻ
Thẻ là phương tiện thanh toán do ngân hàng phát hành cấp cho khách hàng sử dụng theo hợp đồng ký kết giữa ngân hàng phát hành thẻ và chủ thẻ để họ sử dụng thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ qua máy chấp nhận thanh toán thẻ (POS)… hoặc rút tiền mặt tại các ngân hàng đại lý hay các máy rút tiền tự động (ATM) Thẻ có các đặc điểm sau:
• Thứ nhất, Thẻ không hoàn toàn là tiền tệ mà là biểu tượng về sự cam kết của ngân hàng đảm bảo thanh toán những khoản tiền do chủ thẻ sử dụng bằng tiền của ngân hàng cho chủ thẻ vay hoặc tiền của chính chủ thẻ đã gửi tại ngân hàng
• Thứ hai, có nhiều cách phân loại Thẻ nhưng thông thường chia thành các loại sau:
- Thẻ ký quỹ: Thẻ này áp dụng rộng rãi cho mọi khách hàng với điều kiện khách hàng phải lưu ký một số tiền nhất định vào tài khoản đảm bảo thanh toán (được hưởng lãi) tại ngân hàng và được sử dụng Thẻ có giá trị bằng số tiền đó để thanh toán
- Thẻ ghi nợ: Người sử dụng thẻ này không phải lưu ký tiền vào tài khoản đảm bảo thanh toán thẻ mà thanh toán dựa trên số dư tài khoản tiền gửi thanh toán không kỳ hạn của chủ thẻ tại ngân hàng Thẻ này áp dụng với những khách hàng có tín nhiệm với ngân hàng, do Giám đốc ngân hàng phát hành thẻ quyết định hạn mức thanh toán tối đa
- Thẻ tín dụng: Là loại Thẻ áp dụng cho những khách hàng có đủ điều kiện được ngân hàng phát hành thẻ cấp một hạn mức tín dụng nhất định Chủ thẻ chỉ được phép sử dụng trong hạn mức tín dụng đó và phải có nghĩa vụ trả đầy đủ khoản gốc và lãi cho ngân hàng phát hành thẻ tại thời hạn thoả thuận Như vậy, việc sử dụng thẻ tín dụng chính là hình thức vay tiền ngân hàng theo hạn mức đã thoả thuận để thanh toán
Quy trình thanh toán thẻ thực hiện như sau:
Sơ đồ 1.5: Quy trình thanh toán thẻ
Ngân hàng phát hành thẻ
Ngân hàng đại lý thanh toán thẻ
Trang 24(1) Khách hàng (chủ sở hữu thẻ) theo nhu cầu giao dịch thanh toán, liên hệ với Ngân hàng phát hành thẻ, ký quỹ hoặc xin vay để được sử dụng thẻ thanh toán
(2) Ngân hàng phát hành thẻ phát hành và cung cấp thẻ thanh toán cho khách hàng theo từng loại phù hợp với đối tượng và điều kiện đã qui định
(3) Chủ sở hữu thẻ mua hàng hoá, dịch vụ của đơn vị tiếp nhận thanh toán thẻ và giao thẻ cho cơ sở tiếp nhận thẻ để thanh toán bằng máy chuyên dùng trừ vào giá trị của thẻ, sau đó người tiếp nhận thẻ trao lại thẻ và 1 liên biên lai cho chủ sở hữu thẻ
(4a,4b) Chủ thẻ cũng có quyền đề nghị Ngân hàng đại lý cho rút tiền mặt hoặc tự mình rút tiền mặt tại ATM
(5) Cơ sở tiếp nhận thẻ lập bảng kê thanh toán kèm theo các hoá đơn hàng hoá có liên quan và gửi cho Ngân hàng đại lý thanh toán thẻ để thanh toán
(6) Sau khi kiểm tra đủ điều kiện thanh toán, Ngân hàng đại lý thanh toán có trách nhiệm thanh toán cho cơ sở tiếp nhận thẻ
(7) Ngân hàng đại lý thanh toán thẻ, lập bảng kê và chuyển biên lai đã thanh toán cho Ngân hàng phát hành thẻ
(8) Ngân hàng phát hành thẻ hoàn lại số tiền mà Ngân hàng đại lý đã thanh toán trên
cơ sở các biên lai hợp lệ
Thẻ là phương tiện thanh toán phổ biến ở các nước có nền kinh tế phát triển và gắn với kỹ thuật tin học cao ứng dụng trong ngân hàng Vì thẻ là hình thức thanh toán hiện đại nên nó có nhiều khác biệt và ưu điểm hơn so với các phương tiện thanh toán truyền thống
1.1.3.5 Các dịch vụ thanh toán qua Ngân hàng điện tử
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường và yêu cầu của người sử dụng ngày càng cao và đặc biệt là do sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin (CNTT), dịch
vụ TTKDTM qua Ngân hàng điện tử đã ra đời để hỗ trợ khách hàng thực hiện các giao dịch như nộp thuế, chuyển khoản, thanh toán tiền điện, nước, điện thoại, tra cứu thông tin giao dịch… Một số dịch vụ TTKDTM qua Ngân hàng điện tử điển hình như sau:
Trang 25• Home banking: Là dịch vụ ngân hàng tại nhà bao hàm nhiều loại dịch vụ chuyển
tiền điện tử Nó được cung cấp bởi các định chế tài chính, và là dịch vụ rất phổ biến của các ngân hàng, thông thường là qua Intranet (mạng nội bộ) do ngân hàng xây dựng Đặc điểm nổi bật và cũng là ưu điểm chủ yếu của Home banking là khách hàng có thể sử dụng dịch vụ của ngân hàng mà không cần rời khỏi ngôi nhà hoặc văn phòng của mình
• Phone banking: Dịch vụ này cho phép khách hàng thực hiện giao dịch thông qua
các phương tiện viễn thông (như điện thoại cố định và điện thoại di động) được kết nối với tổng đài viên hoặc hệ thống trả lời bán tự động của ngân hàng Sau khi hệ thống xác minh người gọi điện là chủ tài khoản, khách hàng có thể thực hiện các giao dịch thanh toán Phone banking không chỉ giúp giảm bớt thời gian chờ đợi cho khách hàng mà còn đáp ứng nhu cầu của tất cả các khách hàng cùng truy vấn tại một thời điểm
• Internet banking: Là dịch vụ ngân hàng trực tuyến giúp khách hàng quản lý và
thực hiện tất cả các giao dịch thông qua tài khoản thanh toán tại ngân hàng chỉ với một thiết bị đầu cuối (máy tính bàn, máy tính xách tay) có hỗ trợ kết nối Internet Sản phẩm này giúp khách hàng có thể thực hiện ngay lập tức các giao dịch một cách đơn giản và tiện lợi
ở bất cứ thời gian nào và bất cứ nơi đâu có Internet
• Mobile banking: Là phương tiện thanh toán trực tuyến qua điện thoại di động, ra
đời nhằm giải quyết nhu cầu thanh toán các giao dịch giá trị nhỏ hoặc những khoản thanh toán hóa đơn dịch vụ Muốn tham gia dịch vụ này, khách hàng phải đăng ký và cung cấp các thông tin cơ bản như: số điện thoại di động, tài khoản cá nhân dùng trong thanh toán Đây là loại hình dịch vụ dễ sử dụng, an toàn và thiết thực với những khách hàng hiện đại
1.1.4 Hệ thống thanh toán giữa các ngân hàng
Khi thực hiện nghiệp vụ TTKDTM, các ngân hàng không những phải thanh toán cho khách hàng mà còn phải thanh toán vốn với nhau TTKDTM giữa các ngân hàng thể hiện chức năng tập trung thanh toán của ngân hàng đối với nền kinh tế và điều hoà vốn trong nội bộ ngân hàng Các hệ thống thanh toán giữa các ngân hàng hiện nay gồm:
1.1.4.1 Hệ thống thanh toán liên hàng
Là hệ thống thanh toán nội bộ giữa các chi nhánh trong cùng hệ thống ngân hàng phát sinh trên cơ sở các nghiệp vụ TTKDTM giữa các khách hàng có mở tài khoản tại các
Trang 26chi nhánh khác nhau hoặc các nghiệp vụ điều hòa vốn trong hệ thống Thanh toán liên hàng gồm hai hình thức:
- Thanh toán liên hàng truyền thống: là phương thức xử lý chứng từ và kỹ thuật hạch
toán bằng phương pháp thủ công và luân chuyển chứng từ giấy thông qua bưu điện dưới hai hình thức: chuyển tiền thường và chuyển tiền điện (điện tín)
- Thanh toán liên hàng điện tử (còn gọi là chuyển tiền điện tử nội bộ): Là thanh toán
vốn giữa các chi nhánh ngân hàng trong cùng một hệ thống bằng chương trình phần mềm chuyển tiền với sự trợ giúp của hệ thống máy và hệ thống mạng điện tử nội bộ
Việc kiểm soát và đối chiếu liên hàng được thực hiện bằng hai phương pháp, cụ thể:
- Tổ chức kiểm soát phi tập trung: Thực hiện theo mô hình 2 tầng (Trung tâm thanh toán và các chi nhánh ngân hàng đầu/cuối) hoặc mô hình 3 tầng (Trung tâm thanh toán, trung tâm xử lý tỉnh, các chi nhánh ngân hàng đầu/cuối) Phương pháp này được sử dụng phổ biến hiện nay vì nó phát hiện, kiểm soát và xử lý sai sót nhanh gọn và kịp thời
- Tổ chức kiểm soát tập trung: Theo phương pháp này, toàn bộ tài khoản khách hàng tập trung về Hội sở chính và không còn ranh giới địa lý trong hệ thống Phương pháp này hiện nay ít sử dụng vì nó đòi hỏi điều kiện kỹ thuật CNTT phải đạt trình độ phát triển cao
1.1.4.2 Hệ thống thanh toán liên ngân hàng
Hệ thống thanh toán liên ngân hàng là phương thức thanh toán giữa các ngân hàng không cùng địa bàn tỉnh (Thành phố) Hệ thống này gồm hai hình thức thanh toán sau:
• Thanh toán liên ngân hàng truyền thống: Là hình thức dùng chứng từ giấy để
thanh toán Để thanh toán theo hình thức này, các ngân hàng nằm trên địa bàn tỉnh (thành phố) nào phải mở tài khoản tiền gửi thanh toán tại chi nhánh NHNN tỉnh (thành phố) đó Việc thanh toán giữa các ngân hàng được thực hiện thông qua tài khoản tiền gửi thanh toán tại các chi nhánh NHNN tỉnh (Thành phố)
chứng từ giữa các ngân hàng được thực hiện qua mạng điện tử của NHNN Hình thức này
an toàn và nhanh chóng hơn loại hình thanh toán truyền thống Hệ thống thanh toán điện tử
Trang 27- Tiểu hệ thống Thanh toán giá trị cao/khẩn: thực hiện quyết toán tổng tức thời cho các Lệnh thanh toán giá trị cao và khẩn Khi tài khoản của các ngân hàng đủ số dư được thanh toán ngay Khi tài khoản thiếu số dư, hệ thống sẽ liên tục cập nhật đến khi đủ số dư
- Tiểu hệ thống Thanh toán giá trị thấp: thực hiện thanh toán theo hạn mức nợ ròng Nếu ngân hàng thiếu hạn mức tín dụng thì bắt buộc phải vay để thực hiện thanh toán và sẽ
bị phạt và loại ra khỏi hệ thống nếu thiếu nhiều lần
- Tiểu hệ thống Xử lý tài khoản tiền gửi thanh toán: thực hiện kiểm tra, hạch toán Lệnh thanh toán giá trị cao và xử lý kết quả thanh toán giá trị thấp
1.1.4.3 Hệ thống thanh toán bù trừ
Hệ thống thanh toán bù trừ (TTBT) là phương thức thanh toán giữa các ngân hàng được thực hiện bằng cách bù trừ tổng số phải thu, phải trả để thanh toán số chênh lệch (kết quả bù trừ) TTBT phát sinh giữa các ngân hàng khác nhau hoặc thanh toán vốn của bản thân ngân hàng và thường diễn ra trong cùng địa bàn tỉnh (thành phố)
Trung tâm chủ trì bù trừ là NHNN giữ tài khoản tiền gửi của các thành viên bù trừ và thực hiện quyết toán thanh toán qua tài khoản tiền gửi của các thành viên và tài khoản thanh toán bù trừ mở tại trung tâm chủ trì bù trừ Các thành viên bù trừ là các ngân hàng chuyển tiền đi, nhận tiền về qua tài khoản tiền gửi tại trung tâm bù trừ và tài khoản thanh toán bù trừ của đơn vị thành viên Tuỳ thuộc vào phương pháp trao đổi chứng từ và truyền
số liệu mà có hai hình thức TTBT:
- Thanh toán bù trừ giấy: Các ngân hàng trực tiếp chuyển cho nhau chứng từ giấy
vào từng phiên trong ngày tại địa điểm giao nhận chứng từ do ngân hàng chủ trì quy định
- Thanh toán bù trừ điện tử: Việc TTBT được tiến hành qua mạng tin học nội bộ
Các ngân hàng thành viên truyền chứng từ điện tử đến trung tâm TTBT để thực hiện thanh toán theo chương trình phần mềm TTBT điện tử
1.1.4.4 Hệ thống thanh toán qua tài khoản tiền gửi ở các ngân hàng khác
Để thanh toán theo qua hệ thống này, các ngân hàng phải mở tài khoản tiền gửi thanh toán không kỳ hạn ở các ngân hàng khác để thuận tiện cho việc thanh toán cho khách hàng Hệ thống này có thể được tổ chức theo hai hình thức:
Trang 28- Thanh toán song biên: Hệ thống thanh toán được thiết lập giữa hai ngân hàng để truyền và nhận các điện thanh toán hai chiều giữa hai bên theo yêu cầu của khách hàng
- Thanh toán đa biên: Các ngân hàng sẽ thanh toán vốn với nhau thông qua ngân hàng trung tâm Với hệ thống này, tất cả các giao dịch thanh toán sẽ được xử lý tự động tại Trung tâm thanh toán đa phương của ngân hàng trung tâm
1.2 Phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt của ngân hàng
1.2.1 Quan điểm về phát triển thanh toán không dùng tiền mặt
Từ khái niệm và những tiện ích nêu trên của hoạt động TTKDTM, ta có thể thấy phát triển dịch vụ TTKDTM của các ngân hàng vừa là xu thế khách quan vừa là yêu cầu cấp thiết đặt ra cho mọi nền kinh tế Vậy phát triển TTKDTM là gì, có quan điểm như sau: Phát triển TTKDTM là việc sử dụng các biện pháp nhằm tăng tỷ lệ TTKDTM trong tổng phương tiện thanh toán, trong đó quan trọng nhất là tăng cường việc sử dụng các công cụ TTKDTM của ngân hàng
Quan điểm này có thể được hiểu là phải tìm các biện pháp đa dạng hóa và nâng cao chất lượng dịch vụ TTKDTM của Ngân hàng nhằm thay thế hoạt động thanh toán bằng tiền mặt, giảm lượng tiền mặt trong lưu thông
1.2.2 Các tiêu chí đánh giá sự phát triển thanh toán không dùng tiền mặt của ngân hàng
Hiện chưa có một tiêu chuẩn chính thức nào được đưa ra nhằm đánh giá hay phản ánh mức độ phát triển TTKDTM của ngân hàng Tuy nhiên, qua nghiên cứu tình hình phát triển TTKDTM của ngân hàng ở một số quốc gia trên thế giới, chúng ta có thể đưa ra một
số tiêu chí có thể đánh giá được mức độ phát triển TTKDTM như sau:
1.2.2.1 Mở rộng quy mô dịch vụ TTKDTM
Các chỉ tiêu phản ánh sự mở rộng quy mô dịch vụ TTKDTM là:
• Tỷ trọng TTKDTM trong tổng phương tiện thanh toán
TTKDTM là phương thức khắc phục được hầu hết các nhược điểm của thanh toán
Trang 29lớn trong tổng phương tiện thanh toán và có xu hướng ngày càng tăng lên Hiện nay, tỷ lệ này thông thường chiếm hơn 90% Nếu một nền kinh tế có tỷ trọng TTKDTM trong tổng phương tiện thanh toán bằng hoặc lớn hơn tỷ lệ này thì được coi là nền kinh tế phi tiền mặt
và đây cũng chính là sự vận dụng các hình thức chu chuyển tiền tệ một cách hợp lý
• Số lượng sản phẩm dịch vụ TTKDTM
Số lượng sản phẩm dịch vụ TTKDTM là một trong những tiêu chí quan trọng phản ánh sự đa dạng của dịch vụ TTKDTM của các ngân hàng Song song với các dịch vụ TTKDTM truyền thống như Séc, UNC, UNT… các ngân hàng phải không ngừng nghiên cứu học hỏi và phát triển các sản phẩm dịch vụ mới nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu của khách hàng, đáp ứng được càng nhiều nhóm khách hàng nhằm gia tăng số lượng khách hàng từ đó gia tăng thu nhập Căn cứ vào số lượng sản phẩm dịch vụ TTKDTM mà các ngân hàng cung cấp có thể đánh giá được sự phát triển hoạt động TTKDTM tại đó
• Doanh số TTKDTM
Doanh số TTKDTM là tổng số tiền giao dịch được khách hàng thực hiện thông qua các công cụ TTKDTM của ngân hàng Bởi vậy, doanh số của mỗi công cụ TTKDTM có tác động trực tiếp đến sự phát triển hoạt động TTKDTM tại ngân hàng đó Đây là chỉ tiêu phản ánh sự phát triển TTKDTM của ngân hàng, chỉ tiêu này có giá trị càng lớn chứng tỏ hoạt động TTKDTM tại ngân hàng đó càng phát triển mạnh
1.2.2.2 Hợp lý hóa cơ cấu sản phẩm
Một cơ cấu sản phẩm hợp lý cũng góp phần quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng phát triển của dịch vụ TTKDTM của ngân hàng Các chỉ tiêu phản ánh sự hợp lý hóa cơ cấu sản phẩm là thị phần từng sản phẩm TTKDTM của ngân hàng, tốc độ gia tăng thị phần, sự phát triển của hệ thống ATM, POS…Trước kia, các ngân hàng tập trung vào việc thu hút khách hàng sử dụng thẻ ATM, thẻ tín dụng hay các điểm POS thông qua các chiến dịch marketing như miễn phí phát hành thẻ, miễn thu phí thường niên trong năm đầu tiên, chiết khấu khi thanh toán qua POS… Gần đây, khi khoa học công nghệ ngày càng phát triển, các ngân hàng hợp lý hóa thị phần sản phẩm bằng cách đẩy mạnh nghiên cứu và phát triển các dịch vụ mới như Internet banking, Mobile banking…
Trang 301.2.2.3 Phát triển công nghệ thông tin trong ngân hàng
Phát triển CNTT được xếp ngang hàng với kế hoạch cải cách thể chế, phát triển nguồn lực và được coi là một trong những trụ cột của chiến lược phát triển tổng thể ngành ngân hàng CNTT chính là hạ tầng để các ngân hàng đổi mới dịch vụ, gia tăng tiện ích, mở rộng phạm vi hoạt động TTKDTM Do đó, để triển khai và phát triển tất cả các sản phẩm dịch vụ TTKDTM cần phải đầu tư vốn vào trang thiết bị công nghệ hiện đại
Bên cạnh đó, một trong những nhược điểm lớn nhất của dịch vụ TTKDTM qua Ngân hàng điện tử là rủi ro cao Ngày nay, tin tặc với nhiều thủ đoạn tinh vi thường xuyên đánh cắp thông tin của khách hàng, chiếm đoạt tài sản gây tổn thất cho khách hàng và làm giảm uy tín ngân hàng Các ngân hàng phải đầu tư rất nhiều công sức, tiền bạc nhằm gia tăng mức độ an toàn và kiểm soát rủi ro cũng như khả năng bảo mật thông tin của hệ thống
mà họ đang cung cấp
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển thanh toán không dùng tiền mặt của ngân hàng
1.2.3.1 Nhân tố chủ quan
• Nhân tố con người
Trong dịch vụ TTKDTM của ngân hàng, chất lượng sản phẩm dịch vụ mà khách hàng cảm nhận được là sự tổng hợp của nhiều yếu tố khác nhau, trong đó có yếu tố quan trọng thuộc về nhân tố con người - chính là đội ngũ cán bộ, nhân viên trực tiếp thực hiện thanh toán cho khách hàng Nhân tố này trực tiếp vận hành hệ thống thanh toán, xử lý các giao dịch Bởi vậy, con người là yếu tố tiên quyết có ảnh hưởng đến sự phát triển hoạt động TTKDTM nói riêng và hoạt động chung của ngân hàng Để phát triển TTKDTM, ngân hàng cần xây dựng được một đội ngũ không chỉ giỏi về chuyên môn, nắm chắc nghiệp vụ, sử dụng thành thạo công nghệ mà phải có phẩm chất đạo đức tốt, thái độ phục
vụ nhanh nhẹn, nhiệt tình Vì vậy, việc thường xuyên tổ chức đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ nhân viên là việc làm hết sức cần thiết và khẩn trương
• Hạ tầng kỹ thuật CNTT
Trang 31Quá trình phát triển và ứng dụng CNTT vào hoạt động TTKDTM đã tạo ra nhiều sản phẩm tiện ích như: Chuyển tiền điện tử; thanh toán thẻ… mang lại hiệu quả rất lớn đối với ngân hàng, khách hàng và nền kinh tế Có thể nói, trong thời đại ngày nay, CNTT đã trở thành yếu tố quyết định chất và lượng của việc cung ứng dịch vụ TTKDTM: CNTT và dịch vụ TTKDTM là hai mặt thống nhất, không thể tách rời nhau Cơ sở hạ tầng kỹ thuật CNTT không chỉ là điều kiện để thực hiện được các giao dịch TTKDTM mà còn là tiền đề
để áp dụng các hình thức TTKDTM mới với nhiều tính năng hơn, đảm bảo cho hoạt động TTKDTM diễn ra theo đúng quy trình, tiết kiệm, nhanh chóng và chính xác
• Quản trị rủi ro trong hoạt động TTKDTM của ngân hàng
Bên cạnh các lợi ích của dịch vụ TTKDTM, sự phát triển nhanh chóng của loại hình dịch vụ này cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro Nếu các ngân hàng chỉ chạy đua làm thế nào triển khai nhiều sản phẩm dịch vụ đa dạng mà bỏ qua vấn đề quản trị rủi ro thì khi có sự cố xảy
ra sẽ làm giảm uy tín của mình, khiến khách hàng mất lòng tin về chất lượng sản phẩm do ngân hàng cung cấp Do đó, các ngân hàng cần xác định, xử lý và quản lý các rủi ro một cách cẩn trọng phù hợp đối với hoạt động cung cấp dịch vụ TTKDTM
• Hoạt động kinh doanh chung của ngân hàng
Ba chức năng của ngân hàng là trung gian tài chính, trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền có mối quan hệ chặt chẽ và hỗ trợ cho nhau Sự phát triển của mỗi chức năng
sẽ thúc đẩy các chức năng khác phát triển theo Do đó, khi hoạt động kinh doanh chung của ngân hàng phát triển vững mạnh sẽ thúc đẩy chức năng trung gian thanh toán phát triển để hỗ trợ cho các hoạt động khác của ngân hàng và ngược lại, khi hoạt động kinh doanh của ngân hàng rơi vào tình trạng yếu kém, không phát triển thì cũng kìm hãm sự
phát triển của hoạt động TTKDTM tại ngân hàng đó
1.2.3.2 Nhân tố khách quan
• Môi trường kinh tế - xã hội
Sự phát triển ổn định của nền kinh tế - xã hội là điều kiện thuận lợi để phát huy các dịch vụ TTKDTM của ngân hàng đồng thời tác động mạnh mẽ đến nhu cầu và cách thức
sử dụng dịch vụ ngân hàng của khách hàng Khi nền kinh tế phát triển, thu nhập của các
Trang 32chủ thể trong nền kinh tế càng cao thì đòi hỏi các ngân hàng phải có phương thức thanh toán mới hiện đại hơn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng Các cá nhân, doanh nghiệp sẽ có khuynh hướng ưa chuộng việc sử dụng ngân hàng như là một trung gian thanh toán bởi các tiện ích của dịch vụ TTKDTM giúp tiết kiệm thời gian, chi phí đồng thời làm cho quá trình thanh toán được nhanh chóng, chính xác và an toàn hơn
• Môi trường pháp lý
Các hình thức TTKDTM ngày càng đa dạng và mang tính vô hình nên cơ sở pháp lý cho hoạt động này trở nên rất cần thiết Là hoạt động thanh toán có nhiều chủ thể tham gia, mỗi chủ thể lại có quyền lợi, chức năng và mục đích khác nhau nên cần phải có cơ sở pháp
lý đầy đủ nhằm đảm bảo cho TTKDTM diễn ra an toàn, thuận lợi Hơn nữa, cũng như các hoạt động khác trong nền kinh tế, TTKDTM chịu ảnh hưởng rất lớn của pháp luật Chỉ một thay đổi nhỏ của pháp luật sẽ tạo cơ hội và thách thức lớn cho ngân hàng Nếu ngân hàng không kịp thời thay đổi sẽ mất uy tín với khách hàng từ đó hoạt động kinh doanh cũng bị ảnh huởng và kém hiệu quả Vì vậy dịch vụ TTKDTM của ngân hàng phải tuân thủ nghiêm ngặt các qui định, chế độ, thể lệ đặt ra do các cơ quan có thẩm quyền ban hành
• Thói quen và tâm lý
TTKDTM chịu ảnh hưởng sâu sắc của các yếu tố tâm lý, tập quán, thói quen và trình
độ dân trí Tâm lý hình thành nên thói quen, tập quán của mỗi cá nhân và có ảnh hưởng lớn đến hành vi của con người Thói quen và sự yêu thích dùng tiền mặt cũng như tính ì của khách hàng trước các dịch vụ mới có thể là những trở ngại chính cho việc phát triển các dịch vụ TTKDTM của ngân hàng Trình độ dân trí ở đây được hiểu là khả năng tiếp cận của công chúng cũng như sự nhận thức được những tiện ích của dịch vụ TTKDTM Nếu người dân ít hiểu biết về các dịch vụ TTKDTM của ngân hàng, họ sẽ không thấy được lợi ích từ việc sử dụng các dịch vụ này từ đó làm hạn chế quá trình phát triển dịch vụ TTKDTM của ngân hàng Khi trình độ dân trí và thu nhập được nâng lên, nhu cầu mở rộng trao đổi sẽ tăng theo, người dân có điều kiện tiếp cận với khoa học kỹ thuật hiện đại, lúc đó việc sử dụng dịch vụ TTKDTM là tất yếu
Trang 331.2.4 Cơ hội và thách thức của phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt của các ngân hàng Việt Nam
Trong thời gian vừa qua, dịch vụ TTKDTM của ngân hàng đã thể hiện vai trò tích cực trong việc đáp ứng các lợi ích của các tổ chức tham gia thanh toán, cũng như phục vụ các hoạt động của nền kinh tế Cùng với những kết quả đã đạt được, do xu thế hội nhập và phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thì yêu cầu phát triển dịch vụ TTKDTM của ngân hàng vẫn được đặt ra nhằm:
- Đáp ứng nhu cầu về dịch vụ thanh toán của nền kinh tế
Hoạt động thanh toán ngày càng trở nên quan trọng trong sự phát triển kinh tế đất nước và trong xu thế hội nhập toàn cầu hoá hiện nay Với thực trạng hoạt động thanh toán hiện nay, các loại hình dịch vụ và phương tiện TTKDTM mới chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu của nền kinh tế, xét cả về mặt khối lượng cũng như sự đa dạng về các sản phẩm Tuy nhiên, nhu cầu về dịch vụ thanh toán lại không ngừng tăng lên cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế Sự lựa chọn các phương tiện TTKDTM đối với những chủ thể tham gia giao dịch khá hạn chế, chỉ một bộ phận người sử dụng dịch vụ có khả năng thay thế tiền mặt bằng các phương tiện TTKDTM và trong một phạm vi nhất định
Hiện số người tham gia lao động tại Việt Nam là 54,6 triệu người, trong đó số lao động đang làm việc tại khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 41,9%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 24,7%; khu vực dịch vụ chiếm 33,4% Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc tại khu vực thành thị chiếm 31,9%; khu vực nông thôn chiếm 68,1%, tuy nhiên vẫn còn 35% lao động Việt Nam bao gồm khối nhà nước và tư nhân còn thực hiện trả lương bằng tiền mặt Về khả năng phát triển các công cụ TTKDTM, thị trường Việt Nam có tiềm năng rất lớn chưa được khai thác: 41% trong tổng số hơn 94 triệu người Việt Nam ở lứa tuổi dưới 25 và 86% dân số ở lứa tuổi dưới 54; Số người sử dụng Internet đạt 52% dân số; Số thuê bao di động là 128 triệu thuê bao; Số người thanh toán các loại dịch
vụ công cộng như điện, điện thoại, nước là hơn 24 triệu hộ gia đình Với sự phát triển như vậy, nếu tiền mặt vẫn được coi là phương tiện thanh toán chủ yếu hiện nay thì trong một vài năm tới, đây sẽ trở thành yếu tố ngăn cản sự phát triển của nền kinh tế
Trang 34Vì vậy, phát triển TTKDTM cần được nhìn nhận như một yêu cầu thiết yếu vì lợi ích của những người sử dụng dịch vụ thanh toán, đó là các chủ thể thực hiện giao dịch thương mại trên thị trường
- Nâng cao năng lực giám sát của các cơ quan quản lý Nhà nước, minh mạch hoá nền kinh tế
Từ nhiều năm nay, việc buông lỏng quản lý tiền mặt đã gây không ít khó khăn cho các cơ quan quản lý Nhà nước trong việc thực hiện các chức năng của mình như: phòng chống hoạt động rửa tiền, kiểm soát các giao dịch kinh tế ngầm, phòng chống tham nhũng
Từ giác độ quản lý chi tiêu ngân sách nhà nước, việc sử dụng các phương tiện TTKDTM còn có ý nghĩa rất lớn Tỷ lệ chi tiêu ngân sách nhà nước, chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng thu nhập quốc dân, Tổng chi ngân sách nhà nước giai đoạn 2011 - 2016 đạt mức bình quân khoảng 28,3% GDP Việc quản lý chi tiêu ngân sách thông qua việc sử dụng các phương tiện TTKDTM không chỉ giúp quản lý chi tiêu một cách hữu hiệu mà còn tạo ra một nguồn lợi lớn cho nền kinh tế nếu các luồng chi tiêu này được thực hiện chủ yếu qua các phương tiện TTKDTM Do đó, phát triển TTKDTM được xem như một công
cụ hiệu quả giúp các cơ quan quản lý Nhà nước tăng cường năng lực quản lý của mình, góp phần làm giảm những chi phí dành cho các hoạt động phòng chống tham nhũng, tội phạm kinh tế
- Đáp ứng lợi ích của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán là các ngân hàng
Khi phát triển dịch vụ TTKDTM, các ngân hàng sẽ có khả năng huy động nguồn vốn trong thanh toán mà không cần dựa trên lãi suất Bởi khi đó, nhờ cung cấp các dịch vụ ngân hàng phong phú, đa dạng, ngân hàng có khả năng thu hút nguồn vốn sử dụng cho mục đích thanh toán trôi nổi trong lưu thông với chi phí thấp Hơn nữa, khi đã tập trung được một lượng khách hàng mở tài khoản thanh toán, ngân hàng còn có cơ hội cung cấp các dịch vụ hỗ trợ khác cho khách hàng và hưởng doanh thu từ phí dịch vụ mà không phải chịu thêm những rủi ro tín dụng Phát triển dịch vụ TTKDTM còn giúp các ngân hàng đa dạng hoá các hình thức hoạt động và phân tán rủi ro, tăng khả năng huy động vốn của cả
Trang 35hệ thống ngân hàng, bảo đảm sự an toàn và ổn định hoạt động của hệ thống tài chính tiền
tệ quốc gia
- Thúc đẩy đầu tư nước ngoài
Phát triển dịch vụ TTKDTM có thể đáp ứng những điều kiện sau đây trong việc thu hút đầu tư nước ngoài:
+ Lành mạnh hoá môi trường tài chính, do khả năng đa dạng hoá loại hình dịch vụ
và phân tán rủi ro, qua đó góp phần tăng cường sự ổn định của hệ thống ngân hàng và khu vực tài chính Đây sẽ là điều kiện bảo đảm cho sự an toàn về vốn của các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
+ Tăng cường hiệu quả sử dụng vốn của nền kinh tế nói chung, tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư nói riêng trong việc điều chuyển vốn đầu tư giữa các khu vực kinh tế hoặc giữa các loại hình đầu tư
+ Phát triển thị trường vốn và thị trường tiền tệ, làm tăng tính thanh khoản của các công cụ giao dịch trên thị trường và là yếu tố thuận lợi cho việc thu hút đầu tư
- Đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế
Trong quá trình gia nhập WTO, Việt Nam dần gỡ bỏ các rào cản thương mại, trong
đó có những phần liên quan đến các dịch vụ tài chính, ngân hàng mà trong đó bao gồm các dịch vụ thanh toán Quá trình này đòi hỏi hệ thống ngân hàng Việt Nam phải nhanh chóng cải thiện các dịch vụ của mình để phù hợp với thông lệ quốc tế, đồng thời chất lượng dịch
vụ phải được hoàn thiện theo các chuẩn mực chung áp dụng trên thế giới nhằm tạo được lợi thế cạnh tranh trước khi đến giai đoạn dỡ bỏ hoàn toàn các rào cản thương mại, đồng thời hỗ trợ một cách tích cực cho cuộc chiến chống các hoạt động rửa tiền trên thế giới trong quá trình hội nhập quốc tế
1.3 Kinh nghiệm phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt của một số nước trên Thế giới
1.3.1 Kinh nghiệm của Mỹ
Theo khảo sát của Bank for International Settlements năm 2015 về tỷ trọng TTKDTM tại các nước phát triển thì Mỹ là nước có tỷ trọng lớn và tăng trưởng ổn định
Trang 36Có được sự tin dùng của khách hàng vào dịch vụ TTKDTM như vậy là do các ngân hàng tại Mỹ đã nghiên cứu và tìm ra định hướng chiến lược riêng biệt cho chính mình ví dụ như:
Là ngân hàng đầu tiên trên thế giới ra mắt dịch vụ TTKDTM qua Ngân hàng điện tử, Wells Fargo đã có nhiều phát minh tiến bộ như Thẻ điện tử Mondex, Ngân hàng trực tuyến, WebTV, Trung tâm kinh doanh và các cửa hàng ảo Ngân hàng cũng thực hiện
“may đo” sản phẩm, dịch vụ phù hợp với từng khách hàng trong quá trình cung cấp sản phẩm, dịch vụ với mục tiêu hướng tới những đối tượng khách hàng cụ thể, riêng biệt
Để thực hiện chiến lược này, Wells Fargo đẩy mạnh quản lý quan hệ khách hàng, nghiên cứu dữ liệu, phân tích các mô hình kinh doanh, những yếu tố ảnh hưởng tới quyết định của từng khách hàng như thu nhập, chi phí…Wells Fargo luôn tận dụng mọi lợi thế của hệ thống CNTT hiện đại để giảm tối đa chi phí sử dụng dịch vụ của khách hàng nhằm cạnh tranh với các ngân hàng đối thủ Hơn nữa, Wells Fargo cũng nghiên cứu kỹ nhu cầu từng thị trường, từ đó cung cấp những sản phẩm tinh tế và phù hợp nhất cho khách hàng
Citibank
Citibank là ngân hàng cung cấp thẻ tín dụng lớn nhất thế giới và được bình chọn xếp
ở vị trí thứ hai về cung cấp dịch vụ TTKDTM Để vươn lên được tầm cao đó, Citbank đã
có những chính sách, biện pháp đúng đắn nhằm nâng cao chất lượng TTKDTM Ngay từ những năm 1960, Citibank đã đẩy mạnh dịch vụ thẻ định hướng theo chiến lược luôn lấy khách hàng làm trung tâm, tạo sự liên kết, hợp tác chặt chẽ với các tổ chức ở các nước bản địa như Carlton (Câu lạc bộ bóng bầu dục nổi tiếng của Úc), hoặc các nhân vật nổi tiếng như Elton John để đưa ra các sản phẩm thẻ Footbal Visa Card là loại thẻ tín dụng đầu tiên được Citibank tung ra năm 1998 và được Carlton, Collingwood Geelong, St Kilda chấp nhận như thẻ chính thức của họ The Link Golf Card là thẻ tín dụng được thiết kế cho các tay chơi golf và trở thành loại thẻ chính thức của The Australian Golf Link
Bên cạnh đó, Citibank còn tận dụng hệ thống mạng lưới ở 160 quốc gia và xây dựng trung tâm thanh toán ở các châu lục (Trung tâm TAMPA phụ trách châu Mỹ; Trung tâm
Trang 37PEANANG phụ trách Nam Á) để cung cấp dịch vụ TTKDTM với nhiều loại ngoại tệ tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng trong thanh toán Vì vậy, giới tài chính trên thế giới biết đến Citibank như ngân hàng dẫn đầu thị trường về tỉ giá hối đoái và tỉ giá chung Citibank cũng rất quan tâm đến việc cải tiến CNTT đặc biệt là hệ thống giao dịch trực tuyến để đảm bảo xử lý kịp thời chính xác với mục đích giảm thiểu rủi ro cho khách hàng và chính bản thân Ngân hàng Watchfire GosmezPro (Công ty cung cấp các giải pháp quản lý thương mại điện tử lớn trên thế giới) đã thực hiện cuộc khảo sát Scorecard năm 2009 và bình chọn website của Citibank là một trong những website phong phú nội dung và thân thiện với người sử dụng nhất
1.3.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc
Nhận thức được tầm quan trọng của phát triển dịch vụ TTKDTM, Trung Quốc đã tập trung đẩy mạnh hoạt động này từ đầu thập kỷ 90 Để hạn chế tiền mặt trong lưu thông, Chính phủ Trung Quốc xác định phát triển ngành công nghiệp thẻ là mũi nhọn ưu tiên trong khu vực chi tiêu công (Bộ Tài chính phối hợp với Ngân hàng Trung ương ban hành
“Biện pháp chi tiêu công bằng thẻ chi dịch vụ công”) và khu vực dân cư (Ngân hàng Trung ương phối hợp với 9 Bộ, ngành ban hành biện pháp đẩy mạnh phát triển dịch vụ thẻ trên toàn quốc) Bên cạnh đó, Trung quốc luôn quan tâm việc đảm bảo an toàn cho hoạt động thanh toán thẻ qua việc xây dựng bộ tiêu chuẩn thẻ CHIP, bộ tiêu chuẩn kỹ thuật thiết
bị thanh toán thẻ, các quy định đảm bảo an toàn cho ATM, POS, phòng chống tội phạm… Ngân hàng Trung ương Trung Quốc còn thiết lập hệ thống thanh toán phục vụ TTKDTM gồm: Hệ thống bù trừ thanh toán giá trị cao (HVPS), hệ thống thanh toán điện tử bù trừ theo lô giá trị thấp (BESP), hệ thống bù trừ tự động giao dịch bán lẻ (ACH) và hệ thống
TTBT thẻ liên ngân hàng và chuyển mạch thẻ (CUP)
Năm 1996, mặc dù người dân vẫn chưa thành thạo với việc sử dụng Internet, các ngân hàng Trung Quốc đã bắt đầu phát triển TTKDTM qua Ngân hàng điện tử Tuy nhiên, với việc các ngân hàng nước ngoài tham gia ngày càng nhiều vào thị trường tài chính Trung Quốc, các ngân hàng Trung Quốc có thể sẽ gặp phải bất lợi lớn do hạn chế về công nghệ, dịch vụ ngân hàng Để đối phó với sự cạnh tranh của các ngân hàng nước ngoài, các ngân hàng Trung Quốc đã xây dựng chiến lược “xi măng và con chuột” nghĩa là mở rộng TTKDTM qua Ngân hàng điện tử kết hợp với khả năng bảo mật an toàn cao Ngân hàng
Trang 38Thương mại và Công nghiệp Trung Quốc (ICBC) là nơi đầu tiên triển khai chiến lược này
Để có được sự thông minh, lanh lợi như “con chuột”, ICBC đã thực hiện TTKDTM qua Ngân hàng điện tử từ năm 2000 và nâng cấp hệ thống của mình lên gấp hai lần trong hai năm 2001 và 2002 ICBC cũng dẫn đầu trong việc cung cấp các dịch vụ thanh toán trực tuyến cước điện thoại cố định và di động tại thị trường nội địa hay việc ứng dụng phiên bản 3G trong quy trình tái cấu trúc hệ thống Mobile Banking với nhiều tiện ích mới như: chuyển khoản, thanh toán hóa đơn… và luôn đưa ra các chuẩn mực và tiêu chí cho Mobile Banking đồng thời kết hợp Mobile Banking với mạng xã hội để quảng bá dịch vụ này Enfodesk - Hãng phân tích dữ liệu nổi tiếng tại Trung Quốc - tháng 9/2013 đã thu thập dữ liệu các trang web được tải về nhiều nhất từ phần mềm Iphone và Android, kết quả
là ICBC xếp thứ hai với 34 triệu lượt tải về
Nhằm củng cố sự tin tưởng và bảo mật của dịch vụ TTKDTM, ICBC đã tiến hành nhiều biện pháp khác nhau trong chiến lược “xi măng” Một trong số đó là “lưu dấu vết” đối với các giao dịch TTKDTM qua Ngân hàng điện tử giúp tăng cường vai trò kiểm soát nội bộ của ngân hàng kết hợp với biện pháp bảo mật thông tin dịch vụ Với ICBC, bảo mật nghĩa là giữ cho thông tin không bị rò rỉ và không bị truy cập trái phép Nhờ sự cẩn trọng
và vững chắc như “xi măng” của mình, ICBC đã bảo vệ được dữ liệu của khách hàng, tạo tâm lý thoải mái cho khách hàng khi sử dụng dịch vụ Kết quả là phần lớn trong số 10 tập đoàn môi giới bảo hiểm lớn nhất cả nước và một số tổ chức tài chính đa quốc gia, trong đó
có Citibank, hiện là khách hàng của ICBC Đây là lúc mà “xi măng” chứng tỏ sự hữu ích trong việc phát triển dịch vụ TTKDTM qua Ngân hàng điện tử của ICBC
1.3.3 Kinh nghiệm của Australia
Australia là một quốc gia có nền kinh tế hiện đại và phát triển với hệ thống ngân hàng hoạt động lành mạnh, ổn định và đạt lợi nhuận cao nhất kể cả thời điểm khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 Đạt được kết quả này là do ngay từ năm 1980, Chính phủ Australia đã tiến hành một loạt các biện pháp thay đổi sâu sắc hoạt động ngân hàng, trong
đó sự chuyển biến rõ rệt nhất là giảm đáng kể các chi nhánh hoạt động không hiệu quả và
nỗ lực sử dụng CNTT trong cung ứng dịch vụ TTKDTM của ngân hàng Thời kỳ
1986-2001 chứng kiến sự tăng trưởng mạnh mẽ của dịch vụ TTKDTM thay thế chi nhánh như:
Trang 39của hệ thống ngân hàng Úc cho phép khách hàng thực hiện giao dịch thanh toán tại bưu
điện), Internet banking… Tuy nhiên, từ năm 2001 đến nay, hệ thống ngân hàng Australia
lại chứng kiến một xu hướng khác Mặc dù các kênh TTKDTM điện tử được sử dụng rất rộng rãi nhưng các nhà quản lý nhận thức được rằng nên kết hợp TTKDTM hiện đại với chi nhánh truyền thống, sẽ tạo nên một mạng lưới phân phối dịch vụ hoàn hảo hơn cho khách hàng Mặc dù số lượng chi nhánh tăng lên, số lượng ATM và EFTPOS không
những không giảm đi mà vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng so với thời kỳ trước
Commonwealth là tổ chức tài chính hàng đầu của Úc cung cấp các dịch vụ ngân hàng, đầu tư, bảo hiểm và các dịch vụ tài chính khác Từ tháng 9/1993, theo định hướng chung của các ngân hàng Úc, Commonwealth bắt đầu tái cơ cấu mạng lưới chi nhánh, tập trung hoàn toàn vào dịch vụ khách hàng bán lẻ với phương châm “dịch vụ tuyệt vời dành cho khách hàng, sự tham gia của người dân và thủ tục đơn giản” Để cung cấp dịch vụ
“tuyệt vời” cho khách hàng, Commonwealth đã thay đổi mạnh mẽ hệ thống CNTT Tháng 5/1992 chương trình ASSIST ra đời nhằm hỗ trợ khách hàng thanh toán trực tuyến bất cứ lúc nào có nhu cầu Sau đó là CommSee - hệ thống dịch vụ khách hàng mới của Commonwealth hỗ trợ khách hàng cao cấp và phát triển như một mô hình dịch vụ quản lý quan hệ nhằm cung cấp một gói dịch vụ hoàn hảo cho khách hàng cá nhân cao cấp có thể thực hiện giao dịch thanh toán bất cứ nơi nào trên thế giới có chi nhánh Commonwealth Các dịch vụ Maestro và Cirrus được giới thiệu vào tháng 4/1993 giúp EFTPOS và thẻ tín dụng phủ sóng toàn cầu Năm 1995, NetBank được đưa ra nhằm cung cấp các dịch vụ TTKDTM trên Internet 24 giờ/ngày Để bắt kịp với xu hướng sử dụng smartphone hiện nay, Commonwealth đã phát hành ứng dụng TTKDTM cho thiết bị di động của Samsung vào cuối năm 2013 Cụ thể, Commonwealth đã triển khai hình thức thanh toán PayPass của MasterCard trên điện thoại Samsung Galaxy S4 cho phép khách hàng thanh toán chỉ với việc vẫy điện thoại qua màn hình tại 220.000 điểm thanh toán không tiếp xúc ở Úc và 1,6 triệu điểm thanh toán trên toàn cầu
1.3.4 Bài học kinh nghiệm với các ngân hàng Việt Nam
Qua việc nghiên cứu kinh nghiệm phát triển dịch vụ TTKDTM của một số ngân hàng trên thế giới, Việt Nam cần quan tâm một số vấn đề trong việc phát triển dịch vụ TTKDTM của các ngân hàng, cụ thể như sau:
Trang 40Một là, cần có sự chỉ đạo tập trung của Chính phủ và phối hợp đồng bộ với các Bộ,
ngành từ Trung ương đến địa phương trong việc triển khai dịch vụ TTKDTM Nhà nước cần ban hành chính sách khuyến khích và bắt buộc sử dụng dịch vụ TTKDTM của ngân hàng, ví dụ như: Giảm thuế thu nhập cho các đơn vị lắp đặt POS; Giảm thuế giá trị gia tăng cho người thanh toán bằng thẻ; Tăng phí giao dịch tiền mặt trong thanh toán…
Hai là, NHNN phải xây dựng và vận hành ổn định hệ thống thanh toán quốc gia có
khả năng kết nối với các hệ thống thanh toán khác trong nước, khu vực và trên thế giới; đảm bảo hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho chức năng giám sát các hệ thống thanh toán
Ba là, tại Việt Nam, có thể chọn hai công cụ TTKDTM để đẩy mạnh phát triển bên
cạnh những phương tiện thanh toán truyền thống, đó là: Thẻ ngân hàng đối với các giao dịch mua bán lẻ qua hệ thống POS, thẻ chi tiêu công đối với các đơn vị trong lĩnh vực công
và thanh toán qua điện thoại di động cho các giao dịch nhỏ lẻ, kể cả khu vực nông thôn
Bốn là, để phát triển TTKDTM, các ngân hàng phải quan tâm những nội dung sau:
- Về công nghệ: Nền tảng khoa học công nghệ hiện đại là một trong những điều kiện
quan trọng để phát triển dịch vụ TTKDTM ICBC muốn phát triển TTKDTM phải đầu tư gấp đôi cho công nghệ, Wells Fargo cũng thu hút khách hàng nhờ phần mềm lưu trữ và phân tích thông tin, Citibank hay Commonwealth cũng vậy Vì thế con đường thành công
để phát triển TTKDTM là phải đi qua được cánh cổng khoa học công nghệ Việc đầu tư vào công nghệ phải có trọng điểm, thích hợp, tránh lãng phí để đạt hiệu quả cao nhất Mặt khác, khi ứng dụng CNTT vào các dịch vụ TTKDTM, vấn đề an toàn và bảo mật thông tin
là rất quan trọng, mang ý nghĩa quyết định đến sự tồn tại và phát triển của mỗi ngân hàng
- Về quản trị rủi ro: Vấn đề quản trị và phòng ngừa rủi ro phải gắn liền với quá trình
phát triển các dịch vụ TTKDTM Đó là quá trình đổi mới phương pháp quản lý, quản trị ngân hàng, bộ máy tổ chức và cơ cấu hoạt động, hệ thống quản trị rủi ro Do đó, các ngân hàng cần phân tích, xem xét kinh nghiệm của một số ngân hàng trên thế giới để học tập tham khảo và xây dựng dịch vụ TTKDTM phù hợp với thông lệ quốc tế và pháp luật Việt
Nam, đảm bảo hoạt động lành mạnh phát triển bền vững, an toàn và hiệu quả
- Về chất lượng dịch vụ: Khi cung cấp các dịch vụ TTKDTM mới, ngân hàng phải