Bản thân tôi nhiều năm đi sâu tìm hiểu tư tưởng biên soạn sách sử của Trung Quốc, nên rất hứng thú nghiên cứu bộ quốc sử nổi tiếng của Việt Nam, ĐVSKTT, với chủ hướng là đi sâu nghiên cứ
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
YE SHAO FEI
NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP VIẾT SỬ CỦA SỬ GIA VIỆT NAM QUA BỘ QUỐC SỬ
THỜI LÊ ĐẠI VIỆT SỬ KÝ TOÀN THƯ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ HÁN NÔM
HÀ NỘI-2022
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ HÁN NÔM
Người hướng dẫn khoa học: 1 GS.TS Đinh Khắc Thuân
2 PGS.TS Nguyễn Tuấn Cường
HÀ NỘI-2022
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan luận án đã được tiến hành nghiên cứu một cách hết sức nghiêm túc Tôi xin cam đoan kết quả của các nhà nghiên cứu đi trước đã được tiếp thu một cách chân thực, cẩn trọng, có trích nguồn dẫn cụ thể trong luận án
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn tới GS.TS Đinh Khắc Thuân và PGS.TS Nguyễn Tuấn Cường là hai người thầy hướng dẫn khoa học, đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo cho tôi nhiều kiến thức hết sức quý báu
Cho phép tôi bày tỏ lời cảm ơn tới Học viện Khoa học Xã hội, Ban lãnh đạo Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Khoa Hán Nôm và các thày cô, cơ quan của tôi là Học viện Hồng Hà, Trung Quốc đã tạo điều kiện thuận lợi trong thời gian tôi nghiên cứu và hoàn thành luận án
Cám ơn gia đình và bạn bè đã động viên khích lệ, tạo điều kiện và động lực để tôi hoàn thành luận án này
Hà Nội, ngày tháng năm 2022
Tác giả luận án
YE SHAO FEI
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ của luận án 2
3 Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu của luận án 3
4 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu 4
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án 5
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 5
7 Cấu trúc của Luận án 6
Chương 1: TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 7
1.1 Về Mục lục học và Thư tịch học 7
1.2 Về Văn bản 9
1.3 Về mối quan hệ của các bộ sách sử với ĐVSKTT 13
1.4 Về phương pháp và tư tưởng viết sử 15
1.5 Về nội dung sử liệu 19
1.6 Về các sử gia 21
1.7 Về các văn bản chỉnh lý đã công bố 23
1.8 Nhận xét đánh giá và định hướng nghiên cứu 24
Tiểu kết chương 1 26
Chương 2: KHẢO SÁT VĂN BẢN VÀ TRUYỀN BẢN ĐVSKTT 27
2.1 Vấn đề văn bản bản ĐVSKTT 27
2.1.1 Tổng quan về văn bản ĐVSKTT và quan điểm của học giới 27
2.1.2 Về bài ―Phàm lệ tục biên‖ của Lê Hy 32
2.2 Vấn đề văn bản bản NCQB 38
2.2.1 Văn bản bản NCQB của Paul Démiville 38
2.2.2 Văn bản VHv.2330-2336 tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm 51
2.2.3 Vấn đề bản khắc in NCQB 52
Tiểu kết chương 2 65
Trang 6Chương 3: CÁC THỂ BIÊN SOẠN CỦA ĐVSKTT 66
3.1 Thể biên soạn của Lê Văn Hưu 66
3.2 Thể biên soạn của Ngô Sĩ Liên 69
3.2.1 Về việc biên soạn ĐVSKTT của Ngô Sĩ Liên 69
3.2.2 Kỷ 70
3.2.3 Ngoại kỷ và Bản kỷ 76
3.2.4 Bản kỷ thực lục 81
3.2.5 Toàn thư 84
3.3 Thể tài Bản kỷ thực lục và bản kỷ tục biên của Phạm Công Trứ và Lê Hy 85
3.4 Thể tài Cương mục: Đại thư 大書 và Phân chú 分注 89
Tiểu kết chương 3 97
Chương 4: TƯ TƯỞNG VIẾT SỬ TRONG BỘ ĐVSKTT 98
4.1 Tư tưởng viết sử của các sử gia trước thời Lê sơ 98
4.1.1.Tư tưởng viết sử của Lê Văn Hưu 98
4.2 Tư tưởng viết sử của các sử gia thời Lê sơ 114
4.2.1 Phan Phu Tiên 114
4.2.2 Ngô Sĩ Liên 115
4.2.3 Vũ Quỳnh 127
4.3 Tư tưởng viết sử của các sử gia thời Lê Trung hưng 130
Tiểu kết chương 4: 135
KẾT LUẬN 136
DANH MỤC BÀI VIẾT LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 140
TÀI LIỆU THAM KHẢO 142
PHỤ LỤC 151
Trang 7Kí hiệu sách và trang đƣợc trích dẫn ở Tài liệu tham khảo
Kí hiệu bia đƣợc dẫn ở Phụ lục Danh mục văn bia
Kí hiệu sách, trang đƣợc trích dẫn ở Tài liệu tham khảo và
số thứ tự của văn bia trong ở Phụ lục Danh mục văn bia Nghiên cứu sinh
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 1.1: Bố cục Thiên chương trong bộ sử của Phạm Công Trứ và Lê Hy 35
Bảng 1.2: Điểm khác nhau giữa bản ĐẠI VIỆT SỬ KÝ TOÀN THƯ và bản Việt SỬ 40
Bảng 1.3 Chính văn quyển 12 của Bản Démiville [42, tr.379] 46
Bảng 1.4 Chính văn quyển 13, Bản Démiville [42, tr.416] 47
Bảng 1.5: 56
Bảng 3.1 72
Trang 9DANH MỤC ẢNH MINH HỌA
Ảnh 1.1: Bản Démiville, lưu trữ tại Hội Á Châu ở Paris 29
Ảnh 1.2: Bản dịch tiếng Việt và chụp ảnh chữ Hán NCQB dựa trên bản của Démiville, 31
Ảnh 1.3 : Văn bản ĐVSKTT do Trần Kinh Hòa chỉnh lý (Hiếu hợp bản) 38
Ảnh 1.4 : Bản tâm của bản Đại Việt sử ký toàn thư có khắc chữ là Đại Việt sử ký toàn thư [42, tr.58] 39 Ảnh 1.5 : Bản tâm của bài Việt sử có khắc chữ là Việt sử [42, tr.275] 40
Ảnh 1.6: Đinh Hợi 丁亥 ĐVSKTT, nguyên văn chữ Hán [42, tr.391] 47
Ảnh 1.7: Bản NCQB số kí hiệu 322/10, lưu trữ tại Văn khố Tư Đạo, tương tự bản Démiville 49
Ảnh 1.8 : Hai bản khắc in lưu trữ tại Văn khố Tư Đạo 49
Ảnh 1.9 : bản khắc in là số 321/4 tại Văn khố Tư Đạo 50
Ảnh 1.10: VHv.2332 quyển 5 khuyết bản Ảnh 1.11: Bản Quốc tử giám khắc bản bổ sung 52
Ảnh 1.12:VHv.2336, quyển 15, khuyết bản Ảnh 1.13: Bản Quốc tử giám bổ sung khắc lại 52 Ảnh 1.14:Cục Lưu trữ Trung ương I, Châu bản triều Tự Đức tập 11, tờ 355 55
Ảnh 1.15,1.16: Bản Quốc tử giám lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, 57
kí hiệu thư viện A.3/1 57
Ảnh 1.17, 1.18: Bản Hội Bảo tồn di sản chữ Nôm Việt Nam, Hoa Kỳ 57
Ảnh 1.19,1.20,1.21: Từ trái sang phải: Bản Démiville; VHv.2336 bản bổ chưa khoét; Bản Hội Bảo tồn Di sản chữ Nôm Việt Nam có khoét chữ húy 58
Ảnh 1.22:VHv.2332 quyển 5, bản bị khoét chữ Ảnh 1.23: Bản Quốc tử giám bổ sung 59 Ảnh 1.24:VHv.2336 quyển 15 chữ bị khoét Ảnh 1.25 : Bản Quốc tử giám bổ sung và khắc lại 59
Ảnh 1.26, 1.27, 1.28, từ trái đến phải: 60
Ảnh 1.29:Bản Thư viện Quốc gia Ảnh 1.30:Bản Quốc tử giám Hội Bảo 62
tồn Di sản chữ Nôm Việt Nam 62
Ảnh 1.31: Bản khoét bổ bản khắc của bản Thư viện Quốc gia Ảnh 1.32: Bản Démiville[42, tr 330] 62
Ảnh 1.33, 1.34: Bản Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV in năm 2006 63
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Đại Việt sử ký Toàn thư là bộ quốc sử có vai trò quan trọng trong lịch sử Việt
Nam, đồng thời có ý nghĩa to lớn trong việc nghiên cứu lịch sử Việt Nam Vào năm Nhâm Thân niên hiệu Thiệu Long thứ 15 (1272) đời vua Trần Thánh Tông, bộ quốc
sử đầu tiên được Lê Văn Hưu biên soạn và đặt tên là Đại Việt sử ký, ghi chép lịch
sử từ Triệu Vũ Đế đến Lý Chiêu Hoàng Sau đó, đến năm 1445, vua Lê Nhân Tông sai Phan Phu Tiên tiếp tục soạn Đại Việt sử kí từ đời Trần Thái Tông đến khi người
Minh rút về nước (1427) Năm 1479, Ngô Sĩ Liên tiếp thu bộ sử của Lê Văn Hưu và
Phan Phu Tiên để biên soạn thành bộ Đại Việt sử ký toàn thư (ĐVSKTT) gồm 15
quyển Vì chiến tranh và có lẽ còn do nhiều nguyên nhân khác, hai bộ sử của Lê Văn Hưu và Phan Phu Tiên bị thất lạc, nhưng rất may mắn là nội dung và tư tưởng
của hai bộ sử trên đã được Ngô Sĩ Liên kế thừa và lưu lại trong bộ ĐVSKTT
Đến năm 1665, trong giai đoạn triều Lê Trung hưng, Phạm Công Trứ được giao biên soạn lịch sử giai đoạn triều Lê, ông đã chỉnh lý và thay đổi kết cấu lại
cuốn ĐVSKTT của Ngô Sĩ Liên, chép thêm một phần nội dung do ông biên soạn, nhưng vẫn gọi tên là ĐVSKTT Năm 1697, Lê Hi tiếp tục công việc biên soạn của
các sử gia đời trước, cuối cùng bộ sách này hoàn thành gồm 24 quyển, được khắc in cùng năm, tức bản Chính Hòa-bản có ảnh hưởng rất lớn đối với hậu thế
Sau bản Chính Hòa đã có nhiều bản tục biên và bản chỉnh lý ra đời Tiêu biểu
trong số Bản tục biên là bản Đại Việt sử ký tục biên (ĐVSKTB), bản chỉnh lý tiêu biểu là bộ Đại Việt sử ký tiền biên của triều Tây Sơn, được khắc in năm 1800 Quá trình biên soạn bộ ĐVSKTT được tiến hành trong một thời gian dài và phức tạp, vì
có nhiều sử gia sống trong nhiều thời đại khác nhau tham gia biên soạn, nên dĩ nhiên đã thể hiện nhiều hệ tư tưởng khác nhau
Thực tế, ĐVSKTT không chỉ là bộ sách quý đối với việc nghiên cứu tư tưởng
của lịch sử của Việt Nam, mà còn là nguồn sử liệu quan trọng nghiên cứu Việt Nam đối với học giả nước ngoài Bộ sử này tuy đã được nhiều đề tài, nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam và quốc tế quan tâm, nghiên cứu và đã đạt được thành tựu đáng kể, nhưng
Trang 11hiện còn để lại không ít vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu Nhất là sau khi công bố văn
bản ĐVSKTT bản in Chính Hòa, Nội các quan bản, đặt ra không ít vấn đề cần thảo
luận, trong đó có vấn đề mộc bản và in ấn bộ sử này
Bản thân tôi nhiều năm đi sâu tìm hiểu tư tưởng biên soạn sách sử của Trung
Quốc, nên rất hứng thú nghiên cứu bộ quốc sử nổi tiếng của Việt Nam, ĐVSKTT, với chủ hướng là đi sâu nghiên cứu văn bản bộ ĐVSKTT, thông qua tư tưởng viết sử của
các tác giả bộ quốc sử này Vì những lí do nêu trên, tôi chọn đề tài: ―Nghiên cứu
phương pháp viết sử của sử gia Việt Nam qua bộ quốc sử thời Lê Đại Việt sử ký Toàn thư”, làm đề tài cho luận án Tiến sĩ chuyên ngành Hán Nôm của mình
Khái niệm phương pháp viết sử ở đây sẽ không bao hàm những thao tác, kỹ thuật biên soạn sử cụ thể, mà chủ yếu ở cách thức, thể tài, tư tưởng viết sử của các
sử gia bộ ĐVSKTT
2 Mục đích và nhiệm vụ của luận án
Bộ sách ĐVSKTT được các sử gia sống ở nhiều thời đại đời nối nhau biên soạn
trong vòng hơn 400 năm như: Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên, Phạm Công Trứ, Lê Hi, Vì họ sống ở nhiều thời đại khác nhau lại cùng biên soạn một bộ sách, chắc chắn sẽ thể hiện nhiều tư tưởng khác nhau Sau đó, sách còn được nhiều sử gia
đời sau soạn lại, hoặc biên soạn tiếp, tuy nhiên vẫn kế thừa tư tưởng của ĐVSKTT
Tuy nhiên, vấn đề quá trình biên soạn và tư tưởng của các sử gia vẫn chưa được đề cập một cách rõ nét Đơn cử như ảnh hưởng quyền lực chính trị đối với việc biên soạn sách sử ở các thời đại khác nhau, thì sẽ diễn ra khác nhau như thế nào?
Vì vậy, mục đích luận án là làm rõ các lớp văn bản của bộ ĐVSKTT, quan
điểm của từng sử gia tham gia biên soạn, chỉnh lý và hoàn chỉnh bộ sử này, cũng như quan điểm của các sử gia thời Lê nói riêng và sử gia Việt Nam nói chung Trên cơ sở đó, luận án nhằm làm rõ tư tưởng biên soạn của các sử gia và tìm
hiểu quá trình phát triển của bộ sách sử ĐVSKTT, cũng như lý luận phát triển sử học
của cổ đại Việt Nam
Nhiệm vụ luận án: Sưu tập và hệ thống các văn bản bộ ĐVSKTT, nhất là bản
in năm Chính Hòa Trên cơ sở đó, so sánh, khảo cứu và chọn bản nền để nghiên
Trang 12cứu Đó là ĐVSKTT bản Nội các quan bản lưu trữ tại Hội Á Châu (Société Asiatique), Pháp, được in thành tập IV bộ ĐVSKTT bản dịch do Nhà xuất bản Khoa
học xã hội, năm 1998 và 2011, cùng bản chính lý của Trần Kinh Hòa (Nhật Bản) Ngoài ra còn sử dụng các văn bản khác hiện được lưu tại kho sách Hán Nôm Viện nghiên cứu Hán Nôm
Luận án làm rõ diễn tiến văn bản ĐVSKTT, phân tích các thể biên soạn của
ĐVKSTT, cũng như tư tưởng viết sử của các sử gia của bộ ĐVSKTT
3 Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng chính của luận án là phương pháp viết sử của các tác giả bộ
ĐVSKTT, cũng như các sử gia Việt Nam Vì tính phức hợp của văn bản bộ sử ĐVSKTT nói chung, văn bản ĐVSKTT bản Nội các quan bản nói riêng, nên cần lấy
việc nghiên cứu văn bản học làm đối tượng nghiên cứu Đồng thời, nghiên cứu tư tưởng của các sử gia sống ở từng thời đại khác nhau, cũng như nghiên cứu về sự kế thừa trong việc biên soạn bộ sử này
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu các văn bản khác nhau của bộ ĐVSKTT và các sách sử có liên quan, đó là các bộ; Đại Việt sử ký, Đại Việt sử lược, An Nam chí lược, Đại Việt
Thông sử, Khâm định Việt sử thông giám cương mục v.v, qua đó luận án sẽ nghiên
cứu sự khác nhau về tư tưởng của các sử gia khi tham gia biên soạn công trình
ĐVSKTT Ngoài ra, luận án còn nghiên cứu về tư tưởng của các bộ sử đó có ảnh
hưởng như thế nào đối với ĐVSKTT
Luận án nghiên cứu bắt đầu từ giai đoạn triều Lý (1010 - 1225) đến triều Lê trung hưng cuối thế kỷ XVII, trong đó đi sâu nghiên cứu về lịch sử biên soạn qua
các thời đại, cũng như tầm ảnh hưởng của bộ ĐVSKTT
Trên cơ sở tiếp thu những thành quả nghiên cứu của các học giả đi trước, trong bản luận án này, chúng tôi sẽ đi sâu nghiên cứu về hệ thống tư tưởng viết sử của các
sử gia sống ở nhiều thời đại khác nhau Tiếp đó luận án sẽ nghiên cứu tới tư tưởng
thống nhất được thể hiện trong bộ sử ĐVSKTT, để tìm hiểu toàn bộ tư tưởng viết sử
của bộ quốc sử thời Lê
Trang 134 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý thuyết
Đề tài này thuộc lĩnh vực sử học, yêu cầu cần nắm chắc tư tưởng sử học cổ đại Trung Quốc và Việt Nam, đồng thời vận dụng thành thạo phương pháp luận Sử học
và Ngữ văn học để nghiên cứu các văn bản và so sánh quan điểm khác nhau của các
học giả Thực tế, ĐVSKTT là bộ sử có vị trí lớn, đã được nhiều học giả trong và
ngoài nước nghiên cứu, nên cần tìm hiểu kỹ những kết quả nghiên cứu này, cũng như những vấn đề còn thảo luận Đề tài cũng liên quan đến lĩnh vực triết học, do vậy cũng cần vận dụng tốt phương pháp nghiên cứu triết học để lý giải quan điểm
của các sử gia cổ đại đối với ĐVSKTT
Sử học là một cơ quan có vai trò quan trọng trong bộ máy Nhà nước, nhất là trên lĩnh vực văn hóa, cũng như thể hiện tư tưởng và quan điểm của mình về xã hội
và chính trị qua ngòi bút của mình Phương pháp luận sử học của Hà Văn Tấn đã định hướng cho cơ sở phương pháp luận sử học Việt Nam [26] Qua quan điểm của
Hà Văn Tấn, NCS học tập, kế thừa để vận dụng vào việc phân tích các quan điểm
và tư tưởng của sách sử và sử gia đời trước Tìm hiểu tư tưởng viết sử là hướng theo phương pháp nghiên cứu sử học và lý giải quan điểm và tư tưởng sử học trong
ĐVSKTT và các sử gia của bộ sử đó [27]
4.2 Phương pháp nghiên cứu
+ Phương pháp văn hiến học: là phương pháp nghiên cứu về tư liệu văn hiến, với thao tác cụ thể là hiệu đính, chỉnh lý nguồn gốc tư liệu, giải thích nghĩa chữ (義
字), văn pháp (文法), lịch sử (歷史), tư tưởng (思想) chứa đựng bên trong tư liệu văn hiến
+ Phương pháp văn bản học: Vận dụng phương pháp văn bản học, so sánh và
nghiên cứu các vấn đề Sưu tập các dị bản của ĐVSKTT và kế thừa các thành quả
nghiên cứu của bộ sách này đối với lịch sử cổ đại Việt Nam
+ Vận dụng một số thao tác của lý luận sử học nhằm làm rõ các mối quan hệ liên
quan tới ĐVSKTT Trên cơ sở đó, luận án so sánh các quan điểm của các nhà nghiên cứu liên quan đến ĐVSKTT cũng như nội dung cụ thể của bộ sách
Trang 14+ Phương pháp khảo sát điền dã: Nghiên cứu sưu tập tư liệu như gia phả, văn bia, đồng thời tìm hiểu trực tiếp quê hương của từng sử gia tham gia biên soạn bộ ĐVSKTT
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Bộ quốc sử ĐVSKTT phản ánh văn hoá và tư tưởng cơ sở của Việt Nam thời cổ,
do sử gia nhiều đời làm nên và có tư tưởng biên soạn sử học rất phong phú Luận án
làm rõ hơn một số vấn đề về văn bản ĐVSKTT bản Nội các quan bản, mà cụ thể là
khảo sát hệ thống các văn bản ĐVSKTT, trên cơ sở đó xác định bản NCQB của Paul Démiville là bản có dấu tích mộc bản thời Lê, chọn làm bản nền, đồng thời xác định được bản kí hiệu VHv 2330 -2336 tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm gần với bản
NCQB Ngoài ra, luận án cũng chỉ ra phương pháp viết sử nổi bật của bộ ĐVSKTT
này, cũng như quan điểm viết sử của các sử gia thời Lê Trên cơ sở đó lý giải quá trình phát triển của tư tưởng văn hoá của dân tộc Việt Nam
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa lý luận
Bộ ĐVSKTT là bộ sách lịch sử quan trọng trong kho tàng di sản Hán Nôm Việt
Nam, có ảnh hưởng rất lớn với việc biên soạn sử các đời sau Phương pháp viết sử của bộ sử này thể hiện ở quan điểm sử học và tư tưởng viết sử của các sử gia thời
Trần, Lê tham gia chỉnh lý, hoàn chỉnh bộ ĐVSKTT Nghiên cứu phương pháp viết
sử của bộ sách sử ĐVSKTT của thời Lê giúp chúng ta tìm hiểu về bộ sách này và tư
tưởng thời đại trước
6.2 Giá trị thực tiễn
Nghiên cứu sâu sắc về tư tưởng viết sử ĐVSKTT, từ đó giúp chúng ta lý giải
tinh thần và tư tưởng của tiền nhân, tiếp đó kế thừa và phát huy giá trị của các sử gia, xây dựng nên tinh thần của dân tộc Việt Nam hiện nay Đồng thời học tập và vận dụng kinh nghiệm, phương pháp viết sử của sử gia trước đây trong việc biên soạn sách sử ngày nay
Trang 157 Cấu trúc của Luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Danh mục các công trình công bố của tác giả và Phụ lục Nội dung luận án được chia thành 4 chương:
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
CHƯƠNG 2: Khảo sát văn bản và truyền bản ĐVSKTT
CHƯƠNG 3: Các Thể biên soạn của ĐVSKTT
CHƯƠNG 4: Tư tưởng viết sử trong bộ ĐVSKTT
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 16Chương 1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Về giá trị của ĐVSKTT, trước nay, đã có nhiều thành tựu nghiên cứu của các
học giả ở Việt Nam và nước ngoài Vì đây là bộ sử có nguồn tư liệu phong phú và hết sức quan trọng đối với việc nghiên cứu lịch sử Việt Nam, nên bằng phương pháp trực tiếp hay gián tiếp mà các học giả Việt Nam và nước ngoài đã khai thác khá triệt để ở nhiều lĩnh vực khác nhau Tuy nhiên, do khuôn khổ luận án, nên chúng tôi chỉ đi sâu giới thiệu những công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp đến
bộ ĐVSKTT, thuộc các lĩnh vực sau đây
1.1 Về Mục lục học và Thư tịch học
Trong quá trình nghiên cứu học thuật từ cổ đại đến hiện đại, các học giả Hán học tinh thông Hán tự đã chịu ảnh hưởng sâu sắc của mục lục học và thư tịch học, trường hợp cụ thể về mục lục học và thư mục học của thư tịch cổ Việt Nam là bộ
ĐVSKTT
Năm 1904, hai học giả người là Pháp Léopold Cadière và Paul Pelliot trong bài
―Première étude sur les sources annamites de l'histoire d'Annam‖, khi khảo sát
nguồn sách cổ của Việt Nam, đã giới thiệu về quá trình phát triển của sách sử Việt
Nam Trong đó, các tác giả nêu rõ quá trình biên soạn bộ ĐVSKTT và các mối quan
hệ đối với các sách lịch sử khác [108]
Năm 1934, một học giả người Pháp khác là Emile Gaspardone đã công bố bài
―Bibliographie Annamite”, viết về quá trình diễn tiến của các loại sách cổ của Việt
Nam, và phân thành nhiều loại khác nhau Đồng thời, giới thiệu về tiểu sử cũng như các tác phẩm của những học giả cổ đại, tác giả cho rằng, các tác phẩm của Việt Nam ít nhiều đều có sự ảnh hưởng từ Trung Quốc Tác giả đã nghiên cứu tương đối
toàn diện quá trình biên soạn của các sử gia đối với bộ ĐVSKTT, bao gồm từ bộ Đại
Việt sử ký đến bộ Đại Việt sử ký tiền biên, để qua đó giới thiệu về tư tưởng viết sử
cũng như môi trường soạn sử và tác dụng của sử liệu đối với văn bản Nội các quan bản [109]
Trang 17Năm 1936, Trần Văn Giáp đã phiên dịch thiên Nghệ văn chí trong Đại Việt
thông sử của Lê Qúy Đôn và Thư tịch chí trong Lịch triều hiến chương loại chí của
Phan Huy Chú sang tiếng Pháp có tên là ―Les Chapitres bibliographiques de Phan
Huy Chú”, [110] sau đó 黃軼球 Hoàng Dật Cầu đã dịch bài nghiên cứu này sang
chữ Hán có tên gọi là ―Việt Nam điển tịch khảo/越南典籍考‖, được công bố tại
Năm 1964, Trần Văn Giáp có bài Lược khảo về bộ ĐVSKTT cùng tác giả của
nó, [5] trong đó, tác giả bài viết đã trình bày rất rõ về quá trình hình thành văn bản
của tác phẩm này Tác giả cũng đưa ra nhận định rằng: ngoài sử gia Ngô Sĩ Liên, còn có Phạm Công Trứ, Lê Hi, Nguyễn Quý Đức là những sử gia sau này đã tiếp tục biên soạn và chính thức cho khắc in vào năm 1697, bản mà chúng ta hiện đang dùng thuộc hệ thống văn bản này
Năm 1970, tác giả Trần Văn Giáp lại tiếp tục công bố tác phẩm Tìm hiểu kho
sách Hán Nôm - Nguồn tư liệu văn học sử học Việt Nam, tập I, đây là một tập đại thành trong lĩnh vực mục lục học và thư tịch học của Việt Nam Bài viết cho biết rõ
hơn về tác giả Lê Văn Hưu, cũng như các bộ quốc sử Đại Việt sử ký [6, tr 35-39],
Sử ký tục biên của Phan Phu Tiên; trong đó cho biết bộ ĐVSKTT của Ngô Sĩ Liên
có 15 quyển [6, tr 69-73], bản khắc ĐVSKTT có 24 quyển [6, tr 73-84] Tác giả
cũng giới thiệu về quá trình hình thành, cũng như số tác giả liên có quan đến
ĐVSKTT, theo đó tác giả đã rút ra nhiều kết luận rất quan trọng và ảnh hưởng đến
các học giả sau
Năm 2008, Lưu Ngọc Quân công bố tác phẩm Nghiên cứu văn hiến học cổ tịch
Hán Nôm Việt Nam/越南漢喃古籍的文獻學研究, giới thiệu tình hình lưu truyền
bộ sử của Việt Nam, nhưng mới chỉ giới thiệu bản Đại Việt sử ký tiền biên mà chưa giới thiệu đến bản ĐVSKTT được lưu truyền ở Trung Quốc [75]
Trang 18Ngoài các tác phẩm mục lục học trên, một số học giả đã công bố một số thư mục đơn giản hơn Năm 1932, học giả Trung Quốc là Phùng Thừa Quân 冯承钧
biên soạn cuốn An Nam thư mục/ 安南书目 của Viễn đông Bác cổ Pháp tại Hà Nội
giới thiệu quá trình phát triển sách sử nói chung và bộ sử ĐVSKTT nói riêng [52] Năm 1934, học giả Nhật Bản Matsumoto Nobuhiro 松本信广 biên soạn Thư
mục chữ Hán của Viện Viễn Đông bắc cổ Pháp ở Hà Nội/ 河內佛國極東學院所藏
安南本書目同追记 và công bố tại Nhật [98] Năm 1937 học giả Nhật Bản Yamaoto
Tasturo tiếp tục biên soạn thư mục Sách chữ Hán bản An Nam và sách cổ chữ Nôm
tàng trữ tại Học viện Viễn Đông (EFEO) ở Hà Nội/河内佛國極東學院所藏字喃本
及び安南版漢籍書目[104] ĐVSKTT đều được nhắc tới trong 2 cuốn thư mục trên Năm 1984, Trần Nghĩa và François Gos (đồng chủ biên) biên soạn Di sản Hán
Nôm Thư mục đề yếu, bộ thư mục đầy đủ về kho sách cổ hiện được lưu trữ tại Viện
nghiên cứu Hán Nôm bằng hai thứ tiếng Việt và Pháp Trong đó có giới thiệu về
các dị bản của ĐVSKTT Lưu Xuân Ngân 刘春银, Vương Tiểu Thuẫn 王小盾 và
Trần Nghĩa đồng chủ biên giới thiệu Thư mục Hán Nôm tại Viện Nghiên cứu Hán
Nôm bằng tiếng Trung, có tên là Việt Nam Hán Nôm văn hiến mục lục đề yếu/越南
漢喃文獻目錄提要, được xuất bản ở Đài Loan năm (2002) Công trình này rất hữu ích cho việc tra cứu, đồng thời cũng khiến các học giả quốc tế có thể hiểu rõ tình
hình lưu trữ của thư tịch Việt Nam nói riêng, bộ ĐVSKTT nói chung
Năm 2008, Lưu Ngọc Quân trong tác phẩm Nghiên cứu văn hiến học cổ tịch
Hán Nôm Việt Nam vừa nêu ở trên, giới thiệu quá trình biên soạn mục lục văn hiến
Hán Nôm Việt Nam và công bố các công trình về mục lục đã được biên soạn [75, tr 8-13] Loại thư mục giản lược chỉ trình bày thông tin của sách cổ và khác rất nhiều với tác phẩm mục lục học
Các công trình mục lục học và thư mục giản lược trên đã giới thiệu chính là cơ
sở để nghiên cứu về loại thư mục cổ Việt Nam nói chung và bộ quốc sử ĐVSKTT
nói riêng
1.2 Về Văn bản
Trên cơ sở nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước, năm 1983 Phan Huy Lê mang về một bản khắc in từ Thư viện Hội Á Châu ở Paris Sau đó, đã cho
Trang 19công bố bài ĐVSKTT: Tác giả - văn bản - tác phẩm, đăng trên tạp chí Nghiên cứu
lịch sử [13] Bài viết cho biết rõ hơn về các bản khắc in, cũng như quá trình hình
thành bản Nội các quan bản Qua đó, còn cho biết thêm về quan điểm của các học giả nước ngoài như: Nga, Nhật Bản, Pháp, Trung Quốc… họ đã căn cứ vào nhan đề,
chữ kiêng húy, niên đại để đi sâu nghiên cứu về ĐVSKTT Quan điểm của Phan Huy
Lê đã có ảnh hưởng lớn đến các nghiên cứu sau này
Bài khảo cứu này của Phan Huy Lê được Đặng Quảng Sâm dịch ra tiếng Trung
và Đặng Thủy Chính hiệu đính 鄧廣森譯 鄧水正校 đăng trên Tạp chí Ấn Độ Chi
Na số 1 và số 2 năm 1985 ở Trung Quốc bài viết với nhan đề Tác giả và quá trình biên soạn của ĐVSKTT [114]
Năm 1986, Vũ Thượng Thanh học giả Trung Quốc công bố bài Từ Đại Việt sử
ký đến ĐVSKTT [60] Năm 1987, tác giả lại tiếp công bố bài Quá trình phát triển và hoàn thành của ĐVSKTT, [61] đây là công trình đầu tiên giới thiệu một cách toàn
diện về văn bản và nội dung của bộ ĐVSKTT ở Trung Quốc.Tác giả cho rằng chữ
viết có hai ý nghĩa đó là nói 曰 và viết soạn 写 Phan Huy Lê trong bài nghiên cứu
này đã lí giải cụm từ Lê Văn Hưu viết/黎文休曰 tức là Lê Văn Hưu viết sử Cũng như thế cụm từ Phan Phu Tiên viết/潘孚先曰 nghĩa là Phan Phu Tiên viết sử Nhưng thực tế là Lê Văn Hưu nói và bình luận lịch sử, Phan Phu Tiên vẫn nói và bình luận lịch sử Tuy nhiên, khi khảo sát nguyên văn bài viết của Phan Huy Lê ở
mục "Lê Văn Hưu viết” và mục “Phan Phu Tiên viết”, [13, tr.29-30] có đoạn lời
bình của Lê Văn Hưu và Phan Phu Tiên, thì Nghiên cứu sinh cho rằng quan điểm của Vũ Thượng Thanh chưa thực sự hợp lý
Ngày 16 tháng 4 năm 1988, Ủy ban Khoa học Xã hội (nay là Viện Hàn lâm
Khoa học xã hội Việt Nam) tổ chức Hội thảo về bộ ĐVSKTT Sau đó, 16 bài trong
số các tham luận của Hội thảo này được công bố trên tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số
5-6, năm 1988 Nội dung các bài tham luận này đi sâu nghiên cứu về các nhóm vấn
đề sau:
- Vấn đề niên đại: Nhóm này gồm các bài của Lê Trọng Khánh, Phan Huy Lê, Nguyễn Tài Cẩn, Trần Nghĩa, Nguyễn Quang Hồng, Vũ Minh Giang, Ngô Thế Long
Trang 20- Vấn đề Nội các, gồm: Đỗ Văn Ninh, Phan Đại Doãn, Nguyễn Gia Phu đi sâu
bàn về cơ quan Nội các ở Việt Nam và Trung Quốc Trong đó, nhóm phản biện của Bùi Thiết cho rằng Nội các là cơ quan thuộc thời Nguyễn
- Về ấn chương, nhóm này gồm: Phạm Thị Tâm, Trần Bá Chí, Chu Quang Trứ
đi sâu nghiên cứu về ấn chương và bìa của bản Nội các
Cuối cùng hội nghị đi đến khẳng định về kết quả giám định niên đại khắc in bộ Đại
Việt sử kí Toàn thư của bản Nội các quan bản: Đây là bản khắc in rất cổ theo hệ thống
bản 1697, và được in lại trong giai đoạn Lê - Trịnh, bản này rất có giá trị [9]
Năm 1988, Ngô Thế Long trong bài ―Về bản ĐVSKTT in ván gỗ của Phạm Công
Trứ mới được tìm thấy‖ đã giới thiệu về một bản Tục biên do Nguyễn Văn Huyên lưu giữ Ngô Thế Long xác định đây là nguyên bản khắc in của soạn giả Phạm Công Trứ, đồng thời cho rằng có thể Lê Hi đã sửa lại bản của Phạm Công Trứ, bản này rất có giá trị đối với giới nghiên cứu [16]
Năm 1989, học giả Trung Quốc gọi Quách Chấn Đạc 郭振铎 công bố bài Đại
Việt sử ký tục biên sơ thám/《大越史记续编》初探, giới thiệu quá trình biên soạn và
nội dung bản của Phạm Công Trứ, tác giả cũng thừa nhận bản thân đã bị thuyết
phục rằng ĐVSKTT của Lê Hi [62] Bài viết này được dịch sang tiếng Việt với nhan
đề Bước đầu tìm hiểu Đại Việt sử ký tục biên và được công bố trên Tạp chí Hán
Quốc tiếp tục nghiên cứu ĐVSKTT một cách sâu sắc hơn
Năm 2003, học giả Nhật Bản là Hasuda Takashi 蓮田隆志 công bố bài Vấn đề
nghiên cứu Đại Việt sử ký tục biên『大越史記本紀続編』研究ノート[97] giới thiệu
và khảo sát Đại Việt sử ký Bản kỷ tục biên, tức là bản của Nguyễn Văn Huyên mà
①
Thuật ngữ Tục biên ở đây, ý chỉ Bản kỷ tục biên 本紀續編 trong ĐVSKTT, khác với bộ Đại Việt sử ký tục biên bộ sử chép tiếp từ 1676 đến 1789 thời Lê Trịnh
Trang 21học giả Ngô Thế Long đã giới thiệu Qua so sánh với hai bản chép lưu trữ ở Viện Viễn Đông bác cổ Pháp, tác giả cho rằng không thể xác định được bản Nguyễn Văn Huyên thuộc niên hiệu Cảnh Trị mà cho rằng bản này của soạn giả Phạm Công Trứ, thuộc cuối giai đoạn Lê Trung hưng
Năm 2008, học giả người Nga là A.L.Fedorin đã cho ra mắt chuyên khảo
Những cứ liệu mới về việc viết sử Việt Nam, được Tạ Tự Cường dịch sang tiếng
Việt, ấn hành vào năm 2011 Công trình này chủ yếu khảo cứu về vấn đề văn bản
học của bộ quốc sử ĐVSKTT Bằng phương pháp định lượng và nghiên cứu về hình
thức đã cho phép có cách nhìn mới về vấn đề biên soạn và lưu giữ bộ sử gốc này Đặc biệt là đã chứng minh được rằng bộ ván in đầu tiên của nó đã xuất hiện ngay ở thế kỷ thứ XV, tức sớm hơn 200 năm so với điều mọi người vẫn nghĩ trước đây
Tác giả đã dành riêng một chương viết về Lịch sử khảo cứu ĐVSKTT ở Việt Nam và
nước ngoài, chương này giới thiệu toàn bộ các công trình của học giả Pháp, Nga,
Nhật Bản và Việt Nam có liên quan đến nghiên cứu văn bản của bộ ĐVSKTT [111] Năm 2015, tác giả Trần Kim Đỉnh có bài ĐVSKTT (bản in 1697): quá trình
biên soạn và nội dung cơ bản, in trong Một số vấn đề lịch sử sử học Việt Nam,
nghiên cứu trên cơ sở tài liệu của các học giả Việt Nam, bài viết đi sâu giới thiệu quá trình hoàn thành cũng như phản ánh tư tưởng của thời đại [4]
Năm 2016, NCS Tạ Vinh Toàn ở Trung Quốc công bố bài ―Lược thuật về
này chủ yếu dùng tài liệu nghiên cứu của học giả Việt Nam, để từ đó đi đến phân tích quan điểm của mình Tuy nhiên, tác giả tuy là người am hiểu tiếng Việt, nhưng có lẽ chưa biết đến công trình của học giả A.L.Fedorin đã giới thiệu, nên thiếu phần tham khảo công trình này
Năm 2021, NCS công bố bài ―Quá trình biên soạn và truyền bản bộ Đại Việt sử ký
toàn thư‖ giới thiệu các bản khắc in của ĐVSKTT và truyền bản khắc in các thời đại
lưu trữ đến hiện nay [22]
Trang 221.3 Về mối quan hệ của các bộ sách sử với ĐVSKTT
Năm 1952, học giả Nhật Bản là Yamamoto Tatsuro 山本达郎 công bố bài
“Việt sử lược và Đại Việt sử ký” /「越史略と大越史記」 Bài viết đã đi sâu nghiên
cứu về mối quan hệ văn bản của hai bộ sách sử này Tác giả cũng đưa ra một số
nhận định như, bộ Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu được kế thừa từ bộ Việt chí của Trần Chu Phổ; bên cạnh đó cũng khẳng định soạn giả sách Việt sử lược là Hồ Tông Thốc sống ở cuối thời Trần, tức là Việt sử lược là Việt sử cương mục, các bộ sách sử khác đã có ảnh hưởng rất lớn tới bộ ĐVSKTT.[105]
Năm 1970, Trần Văn Giáp trong công trình Tìm hiểu kho sách Hán Nôm đã đưa ra một giả thuyết, tác giả của Đại Việt sử lược có thế là Trần Chu Phổ, và việc
soạn sử riêng chưa phổ biến [6, tr.37-38]
Năm 1980, Trần Kinh Hòa công bố bài Soạn giả và nội dung của Đại Việt sử
lược『大越史略』-その內容と編者 bằng tiếng Nhật, công trình này không đồng ý
với quan điểm của Yamamoto Tasturo [99] Theo An Nam chí lược tác giả đưa ra nhận định tác giả của Đại Việt sử lược là Trần Chu Phổ, gọi được Việt chí, tức sau khi Lê Văn Hưu sửa lại nhan đề Đại Việt sử ký Năm 1983 học giả Lý Tháp Na dịch
công trình này sang tiếng Trung [113]
Phan Huy Lê trong tác phẩm ĐVSKTT: Tác giả - văn bản - tác phẩm, đăng trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử, sau khi trình bày và so sánh quan điểm của Yamamoto Tasturo và Trần Kinh Hòa đã viết: ―tất cả những chủ trương thuộc hai
khuynh hướng trên đây đều là những giả thuyết khoa học đáng lưu ý, nhưng trong tình trạng sử liệu hiện nay, thì chưa thể coi đó là những kết luận khoa học có đủ sức thuyết phục‖[13, tr.28]
Năm 1982, Nguyễn Đổng Chi trong bài Tìm hiểu văn bản sách ĐVSKTT tục
biên hay là những phần cuối của bộ ĐVSKTT, đã nghiên cứu về toàn bộ các bản Tục biên được xuất hiện sau thời Lê Hi và Nguyễn Quý Đức Các bộ Tục biên thể
hiện rõ lập trường và tư tưởng phong kiến trong quá trình biên soạn, vì các sử thần
của các bản Tục biên đều là trung thần của họ Trịnh, do vậy còn thấy rõ tư tưởng đề
cao chúa Trịnh và phê phán chúa Nguyễn [1]
Trang 23Năm 1997, học giả Trung Quốc là Trương Tiếu Mai 張笑梅 và Quách Chấn
Đạc 郭振鐸 cho công bố bài Vấn đề biên soạn sách sử Việt sử lược của Việt Nam,
công trình này không đồng ý với quan điểm của Yamamoto Tasturo và Trần Kinh
Hòa, tác giả cho rằng Việt sử lược và Đại Việt sử ký là hai bộ sách sử khác nhau và không có liên quan đến nhau, nhưng không cho biết tác giả của Việt sử lược là ai.[63] Năm 2009, Nguyễn Hữu Tâm bảo vệ luận án Tiến sĩ sử học với tiêu đề Quốc
sử quán triều Nguyễn (1820 - 1945) đi sâu giới thiệu cơ cấu soạn sử của các đời
trước và Quốc sử quán nhà Nguyễn Đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu về cơ quan soạn sử có giá trị nghiên cứu [34]
Năm 2009, Ngô Thu Yến hoàn thành luận án thạc sĩ ở Đài Loan, nhan đề
Nghiên cứu Hán tịch Việt Nam lưu trữ ở thời Minh, Trung Quốc /明代中國所見越
南漢籍研究, tác giả cho rằng tác giả của Việt sử lược là Trần Chu Phổ, tức là sách
Việt chí ghi chép trong An Nam chí lược Quan điểm này hoàn toàn thống nhất với
quan điểm của Trần Kinh Hòa [77]
Năm 2013, Nguyễn Thị Oanh đã giới thiệu 9 bản Đại Việt sử ký bằng chép tay
đang lưu trữ tại Viên Nghiên cứu Hán Nôm[19], trong đó tập trung nghiên cứu bản A.1486/1-5 và A.1272/1-4, cho rằng, hai bản này giống nhau và có quan hệ nhiều
với Đại Việt sử ký tiền biên và Đại Việt sử ký toàn thư Đây là bản Tập Hiền Viện 集
賢院 nhà Nguyễn biên soạn và kế thừa nhiều nội dung và tư tưởng với NCQB [20]
Năm 2015, học giả Trung Quốc là Ngưu Quân Khải công bố bài Bước đầu tìm
hiểu Tục biên của ĐVSKTT/《大越史記全書》“續編”初探, tác giả nghiên cứu về
các bộ sử sau năm 1675, tức là bản Chính Hòa Từ đó, nghiên cứu về quá trình biên
soạn ở cuối thời Lê trung hưng và thái độ của nhà Nguyễn đối với các bản Tục biên,
và cho rằng có ảnh hưởng lớn về mặt chính trị [86]
Năm 2020, NCS công bố bài về quan hệ NCQB với Đại Việt sử ký bản kỷ tục
biên là bản khắc của Nguyễn Văn Huyên, rút ra nhận xét rằng, bộ sử này đã phát
triển tư tưởng tôn sùng chúa Trịnh [90]
Trang 241.4 Về phương pháp và tư tưởng viết sử
Năm 1962, Nguyễn Phương cho công bố bài Những sai lầm của ĐVSKTT, bài viết chỉ rõ Lê Văn Hưu chính là tác giả quan trọng của ĐVSKTT, đồng thời cũng là
sử gia đầu tiên của Việt Nam, không phải chỉ có Ngô Sĩ Liên [23] Tiếp đó, tác giả
lại cho công bố bài Phương pháp sử của Lê Văn Hưu và Ngô Sĩ Liên, cho rằng
Trung忠 và Hiếu孝 là quan niệm căn bản của hai sử gia Sau đó, tác giả lại so sánh về sử liệu, mục đích và cách dùng sử liệu, đó chính là một phương pháp viết
sử quan trọng [24]
Năm 1972, học giả O.W.Wolters công bố bài Historians and emperors of
Vietnam and China: Comments arising of Le Van Huu`s history, bài viết nghiên cứu
về hoàn cảnh biên soạn của bộ Đại Việt sử ký, từ đó đưa ra nhận định rằng việc Nho
học chiếm vị trí quan trọng trong thời nhà Trần, đã tạo điều kiện tốt cho Lê Văn
Hưu hoàn thành bộ quốc sử Đại Việt sử ký [106]
Năm 1984, Nguyễn Duy Hinh với bài Lê Văn Hưu với ĐVSKTT đi sâu nghiên cứu về các tác giả của ĐVSKTT và giới thiệu nội dung khái quát của bộ sử này
Trong đó, nghiên cứu tương đối sâu về tư tưởng soạn sử, tư tưởng Phật giáo, Nho giáo trong từng lời bàn của Lê Văn Hưu, qua đó so sánh với lời bàn của Ngô Sĩ Liên Ví dụ, tác giả đã phê phán một số quan điểm của Lê Văn Hưu như Triệu Vũ
Đế không phải là vua đầu tiên mở nước…[7]
Năm 1997, hướng tới kỉ niệm tròn 300 năm bộ ĐVSKTT được khắc in (1697-1997), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia đã cho ra mắt cuốn Ngô Sĩ Liên và
ĐVSKTT, năm 1998, do Phan Đại Doãn chủ trì [2] Công trình này chia thành ba
phần, thứ nhất là Cuộc đời và sự nghiệp của Ngô Sĩ Liên (gồm 9 bài), trong đó Phan
Đại Doãn có bài Mấy khía cạnh triết học lịch sử của Ngô Sĩ Liên Bài viết cho rằng Ngô Sĩ Liên đã kế thừa quan điểm sử học của Tư Mã Thiên và bộ sách sử Sử Ký, khi đi vào phân tích và gọi Mã sử馬史, bên cạnh đó cũng cho rằng thể loại của
ĐVSKTT là thể Biên niên, vì phần Bản kỷ trong Sử ký cũng là thể Biên niên Tác giả
còn chỉ ra tư tưởng biên soạn của Ngô Sĩ Liên chịu sự ảnh hưởng lớn dưới thời đại
Lê Thánh Tông.[2, tr.27-45]
Trang 25Bài Danh nhân Ngô Sĩ Liên - khí phách cương trực chính đại của ông sống
cùng quốc sử của Đặng Văn Tu nói về khí phách, tinh thần trực bút của sử gia qua
lời bình luận của Ngô Sĩ Liên.[2, tr.46-57]
Ngoài ra, trong cuốn Ngô Sĩ Liên và ĐVSKTT, do Nhà xuất bản Chính trị Quốc
gia, ấn hành năm 1998, còn có nhiều bài viết khá sâu sắc như:
Bài Đọc những lời bình sử của Ngô Sĩ Liên của Nguyễn Hải Kế [2, tr.58- 91],
nghiên cứu về sử luận và đánh giá về tư tưởng viết sử của Ngô Sĩ Liên Qua thao tác nghiên cứu tỉ mỉ, tác giả đã có những lời bình rất xác đáng về Lê Văn Hưu và Ngô
Sĩ Liên
Bài Tư tưởng sử học của Ngô Sĩ Liên của Hoàng Hồng [2, tr.92- 108] đi sâu phân tích về Ngoại kỷ và Bản kỷ Tác giả đưa ra nhận định rằng, trước Ngô Sĩ Liên
chưa có sử gia nào sử dụng phương pháp với mục đích viết sử làm gương răn dạy
đời sau như Ngô Sĩ Liên Tác giả cũng cho rằng đối với Ngô Sĩ Liên thì Nho đạo là
Sử đạo từ đó đi vào phân tích tư tưởng Nho giáo của Ngô Sĩ Liên được thể hiện cụ
thể trong phần chính văn và phần lời bình
Hà Văn Tấn trong bài Một vài suy nghĩ tản mạn về Ngô Sĩ Liên [2, tr.111-121],
thông qua biểu văn, lời bình và phần chính văn trong 15 quyển do Ngô Sĩ Liên soạn
để tìm hiểu về tư tưởng sử học của ông Tác giả cho rằng Ngô Sĩ Liên soạn ra Kỉ Kinh Dương Vương - Hùng Vương - An Dương Vương là tìm về cội nguồn quốc sử,
đó cũng là kế thừa và phát triển tư tưởng sử học của Lê Văn Hưu và Phan Phu Tiên vậy
Tìm hiểu Ngô Sĩ Liên và tài năng và sử bút của Trần Bá Chí [2, tr.111-121],
nghiên cứu về các khái niệm sử tài, sử học, sử thực của Lưu Tri Cơ người thời Đường Tác giả cũng cho rằng Ngô Sĩ Liên rất tài năng về sử bút, ngoài ra còn chuẩn xác về sử thể, đây nội dung rất quan trong của tư tưởng viết sử ở Việt Nam
Ý thức hệ tư tưởng chính thống và tính khách quan lịch sử trong ĐVSKTT của
Nguyễn Danh Phiệt [2, tr.111-121], đi sâu trình bày về tư tưởng chính thống của các
sử gia, theo quan điểm này thì các sử gia phải chịu sự ảnh hưởng một cách khách quan từ lịch sử Vì quan điểm chính thống của đời sau sẽ khác với đời trước, qua đó
Trang 26các sử gia phải sửa lại sự kiện lịch sử hoặc soạn lại sách sử, trong quá trình thời thế thay đổi đã có sự ảnh hưởng nhất định đến chính trị và đất nước
Bài viết Học giả Pháp nghiên cứu về Ngô Sĩ Liên và ĐVSKTT của tác giả
Nguyễn Thừa Hỷ tổng kết và giới thiệu toàn bộ quá trình nghiên cứu, cũng như những thành tựu và quan điểm của học giả người Pháp này khi nghiên cứu về Ngô
Sĩ Liên và ĐVSKTT [2, tr.212-220]
Nghiên cứu ĐVSKTT tại Nhật Bản của Momoki Shiro là tác giả người Nhật
Bản, đi sâu trình bày về thành tựu nghiên cứu của ĐVSKTT ở Nhật Tác giả chú
trọng giới thiệu công trình văn bản học của cố Trần Kinh Hòa, ghi lại công việc và
quá trình hiệu chỉnh bản ĐVSKTT và ấn hành trong các năm năm 1984-1986 Tác giả còn giới thiệu các công trình khác liên quan ĐVSKTT, giúp giới học giả thêm
hiểu biết về thành tựu nghiên cứu vấn đề này ở Nhật Bản [2, tr.221-229]
Khuynh hướng trở về với cội nguồn dân tộc thời kỳ văn minh Đại Việt và sự ra đời của Đại Việt sử ký Ngoại kỷ Toàn thư (quyển 1), [2, tr.183-211] của Nguyễn
Quang Ngọc tiến hành khảo sát cụ thể về diên cách quốc sử từ cuốn Việt sử lược đến
ĐVSKTT (quyển 1) của Ngô Sĩ Liên, từ đó đi đến nhận định Ngô Sĩ Liên có kế thừa
các sử gia đời trước Qua phần so sánh diên cách quốc sử, rồi đi đến kết luận Ngô Sĩ
Liên đã chịu ảnh hưởng sâu sắc từ Việt sử lược, đó là quyển 1, tức Hồng Bằng kỷ và
Thục kỷ Nhưng chưa đề cập đến vấn đề Ngô Sĩ Liên có tham khảo từ Việt sử lược Luận án còn cho rằng tài liệu của Việt sử lược có thể giống với Đại Việt sử ký, vì vậy tác giả nhận định Ngô Sĩ Liên đã chịu ảnh hưởng sâu sắc từ Việt sử lược
Năm 1999, tác giả Hoàng Văn Lâu trong bài Lối viết truyện trong bộ sử biên
niên ĐVSKTT, [12] phân tích khái niệm về Truyện trong tác phẩm sử học Trung
Quốc và nhận định rằng ĐVSKTT biên soạn truyện cho nhân vật lịch sử, và cho rằng đây là một nét đặc sắc của Toàn thư, và cũng là "nét riêng" của sử học Việt Nam so với sử học Trung Quốc Tác giả đề xuất vấn đề trong Sử biên niên có sử thể truyện, tức là sáng tạo trong quá trình biên soạn và vận dụng tổng hợp của các sử thể Kỷ
truyện và Biên niên
Trang 27Năm 2000, Đinh Quang Trung, trường Đại học Nam Khai đã hoàn thành luận
án của mình với đề tài Luận Sử ký và ĐVSKTT Tác giả đã thuật lại đầy đủ quá trình sáng tác và các đặc điểm chính của hai bộ sử này Cùng với đó, tác giả cho rằng Sử
ký đã ảnh hưởng rất lớn đến ĐVSKTT, nhưng phân tích rất đơn giản, chưa thể hiện
được quan điểm rằng Ngô Sĩ Liên đã kế thừa một cách sâu sắc từ Tư Mã Thiên.[73]
Năm 2006, một học giả Hàn Quốc là Yu InSun công bố bài Lê Văn Hưu and
Ngô Sĩ Liên, A Comparison of Their Perception of Vietnamese History, công trình
này đi sâu nghiên cứu quan điểm chính thống của hai sử gia thời Trần và thời Lê sơ, tiếp đó còn so sánh quan niệm sử học của hai sử gia ở hai thời đại khác nhau.[107]
Năm 2008, Văn Tạo có bài ĐVSKTT”: nghĩ về viết và sử học, đi sâu thảo luận
về trách nghiệm của sử quan, đó là tinh thần Thực lục, mong muốn sử học phải thể
hiện rõ tinh thần dân tộc, nhưng bài viết chưa triển khai luận thuật phương pháp sử
học Thực lục.[29]
Năm 2010, Vương Phượng Hoa thuộc Trường Đại học Trịnh Châu đã hoàn
thành luận văn Thạc sỹ của mình với đề tài Phân tích sử luận của ĐVSKTT/試析<
大越史記全書>的史論 Luận văn nghiên cứu cụ thể về tư tưởng như: Chính thống quan, Thiên mệnh quan và Hoa Di quan Tuy nhiên, tác giả chưa đi sâu giải quyết vấn đề, những kết luận còn rất đơn giản, chưa phản ánh hết tư tưởng sâu sắc của các
sử gia các đời [79]
Ngoài những công trình, bài viết của các tác giả nêu trên, bản thân NCS cũng
đã bước đầu nghiên cứu về Đại Việt sử kí Toàn thư, thông qua 5 bài viết, gồm:
Năm 2011, công bố bài Lược luận ĐVSKTT 15 quyển của Ngô Sĩ Liên/吳士連
《大越史記全書》十五卷略論 [80] Bài viết nghiên cứu về quá trình hoàn thành bộ
Đại Việt sử kí Toàn thư (bản 15 quyển) do Ngô Sĩ Liên soạn, qua đó đi sâu phân
tích về mối liên quan giữa tư tưởng và tâm lý viết sử của Tư Mã Thiên và Ngô Sĩ Liên Từ đó, NCS đưa ra nhận định rằng Ngô Sĩ Liên ảnh hưởng nhiều phương
pháp viết sử của Tư Mã Thiên
Năm 2012, NCS công bố bài Tích luận quyển Hồng Bàng Kỷ và Thục Kỷ trong
ĐVSKTT [81] Bài viết chỉ rõ Ngô Sĩ Liên đã kế thừa phương pháp và tư tưởng viết
Trang 28sử từ Ngũ Đế bản kỷ của Tư Mã Thiên Trong đó, Ngô Sĩ Liên đã sử dụng tài liệu huyền thoại trong Lĩnh Nam chích quái để soạn ra Hồng Bàng Kỷ và Thục Kỷ Năm 2014, NCS tiếp tục công bố bài Lược luận thể lệ biên soạn của ĐVSKTT
Bản Chính Hòa [84] Bài viết nghiên cứu về phương pháp viết sử của các sử gia
gồm; Ngô Sĩ Liên, Phạm Công Trứ, Lê Hi để từ đó đi đến nhận định bộ ĐVSKTT được chia thành Ngoại kỷ, Bản bỷ, Bản kỷ Thực lục, Bản kỷ Tục biên là theo tư tưởng viết sử của Tư Mã Quang trong tác phẩm Tư trị thông giám, đồng thời cũng chịu ảnh hưởng từ Tư trị thông giám Cương mục của Chu Hy Điều đó cho thấy, các
sử gia sống ở thời đại khác nhau thì có các tiếp cận lịch sử khác nhau
Năm 2015, NCS công bố bài viết thứ 4 của mình với nhan đề Sử luận và sử học trong Việt sử thông khảo Tổng luận của Lê Tung [85] Bài viết nghiên cứu về quá trình
Lê Tung kế thừa tư tưởng sử học của Ngô Sĩ Liên và Vũ Quỳnh vào sáng tác của mình Trong đó, đã đi sâu so sánh để đưa ra nhận định Ngô Sĩ Liên chịu ảnh hưởng soạn sử
từ Tư Mã Thiên và Tư Mã Quang Còn Lê Tung thì chịu ảnh hưởng soạn sử của Chu
Hy trong Tư trị thông giám Cương mục, vì Lê Tung vâng theo sắc chỉ của vua Lê Tương
Dực để soạn, cho nên tư tưởng của bộ sử này chịu sự ảnh hưởng từ chính quyền Lê sơ
Năm 2016, NCS lại công bố bài Việc biên soạn và tư tưởng trong Đại Việt sử
ký của Lê Văn Hưu [87] Từ lời bình của Lê Văn Hưu trong ĐVSKTT để đưa ra
nhận định Lê Văn Hưu đã có những quan điểm riêng trong khi soạn sử, và những quan điểm đó có ảnh hưởng lớn đến các sử gia đời sau Thí dụ, trong lời bình về các nhân vật lịch sử ông thường dẫn viện quan điểm của đức Khổng Tử, đó là điểm khác với Ngô Sĩ Liên
Năm 2019, trong bài ―Phương pháp biên soạn ―Kỷ‖ trong Đại Việt sử ký toàn thư
của Ngô Sỹ Liên‖, NCS xác định việc Ngô Sĩ Liên sáng tác thể tài trong bộ sử đó, đồng thời trình bày quan hệ giữa các thể biên soạn và tư tưởng kế thừa sử giả đời trước [21]
1.5 Về nội dung sử liệu
Năm 1966, Văn Tân với bài Vài sai lầm về tài liệu của bộ ĐVSKTT [28] đã khảo đính một số vấn đề về địa lý, thời gian, nhân vật trong bộ sử ĐVSKTT, đồng thời còn đưa
ra ý kiến phê phán của mình đối với việc phân tích về lĩnh vực sử liệu của bộ sử
Trang 29Năm 1978, học giả Nhật Bản là Wada Hironori công bố bài viết Quan hệ giữa
Việt Nam và các anh hùng cuối thời Nguyên: sự ghi chép trong ĐVSKTT /元末の群
雄とベトナム: 陳友諒・朱元璋に関する大越史記全書の記事, [103] tác giả
đi sâu khảo cứu tư liệu viết về hai nhân vật trong ĐVSKTT, đó là Trần Hữu Lượng
và Trần Ích Tắc Trong đó, tác giả nghiên cứu kĩ về mối quan hệ cha con của hai nhân vật sống ở thời nhà Trần này, có mối liên hệ và từng tham gia nổi dậy ở cuối thời Nguyên
Năm 1988, Lê Thành Lân công bố bài Một vài ghi chú về niên đại nhà Mạc
cho bộ ĐVSKTT.[11] Theo tác giả bài viết, căn cứ vào những sử liệu ghi chú niên
đại nhà Mạc, từ đó đưa ra nhận định rất có thể sử gia Lê Trung hưng do thiếu sử liệu nên đã dùng tài liệu quốc sử của nhà Mạc, trên cơ sở đó có sửa chữa thêm để
đưa vào bộ ĐVSKTT.
Năm 1989, tác giả Trần Nghĩa có bài ĐVSKTT bản “Nội các quan bản” không
phải là không kiêng húy, [17] được đăng trên Tạp chí Hán Nôm số 2/89 Bài viết đã
cung cấp cho những người có cùng mối quan tâm đến Đại Việt sử kí Toàn thư một thông tin hết sức quý giá: ĐVSKTT bản – bản Nội các quan bản có xuất hiện chữ
húy, đó là trường hợp chữ Trừ 除 Điều này làm thay đổi quan niệm của các nhà
nghiên cứu trước nay cho rằng Đại Việt sử kí Toàn thư, không có chữ kiêng húy Năm 2009 tác giả Nguyễn Hữu Sơn có bài Mối quan hệ Văn - Sử nhìn từ tương
quan Nam ông mộng lục và ĐVSKTT [25] Tác giả bài viết cho rằng hai bộ sách này
được soạn hoàn toàn độc lập, nhưng lại có nhiều chi tiết giống nhau, từ đó đưa ra nhận định hai bộ sách này có chung nguồn tư liệu gốc
Năm 2010, Nguyễn Công Việt có bài Về bài Thiên đô chiếu trong ĐVSKTT, từ việc so sánh các dị bản của Thiên đô chiếu, tác giả đưa ra nhận định rằng bản Thiên
đô chiếu trong ĐVSKTT là hoàn bị nhất [35]
Năm 2013, NCS công bố bài Chiếu thư thảo Giao Châu của Tống Thái Tông
trong ĐVSKTT đăng trên Tập san nghiên cứu Hán tịch ngoại vực xác định, bản Chiếu thư thảo Giao Châu của Tống Thần Tông trong ĐVSKTT không phải là
Trang 30nguyên bản Bản này do Nho sinh Vương Vũ Xứng 王禹偁 viết có nhan đề là Dụ
Giao Chỉ văn 諭交阯文, Dụ Giao Chỉ văn sau khi sang Việt Nam được ghi vào Việt
sử lược và ĐVSKTT Còn chiếu bản chiếu thư gốc lại được nằm trong bộ Tống đại chiếu lệnh tập 宋大詔令集 [82]
Năm 2014, Lương Mậu Hoa công bố bài Xương công ngư” và “Hầu ngư”
trong ĐVSKTT [8] Tác giả bài viết đã khảo cứu và thích nghĩa về hai loài cá là
―Xương công ngư‖ và ―Hầu ngư‖ vốn được ghi trong ĐVSKTT, và cho biết đây là
hai loài cá heo biển, vì cho rằng ―heo‖ là âm Hán Việt của chữ ―Hầu‖ trong tiếng Khách gia miền Nam - Trung Quốc
Năm 2014, Thạc sĩ Giả Cái Đông đã hoàn thành Luận án Nghiên cứu tục tự
trong bộ sách chữ Hán ĐVSKTT/越南漢籍《大越史記全書》俗字研究 [83] Luận
án đi sâu khảo cứu về nguồn gốc và việc phân loại tục tự, trong đó phân chia rõ ràng loại chữ do Việt Nam sáng tạo và loại chữ được kế thừa từ Trung Quốc Nghiên cứu
này có giá trị cao trong nghiên cứu về phương diện văn tự của ĐVSKTT
Năm 2016, các học giả Trung Quốc là Phùng Tiểu Lộc và Trương Hoan đã cho
công bố bài Khảo luận các bài thơ của người Minh được chép trong sách ĐVSKTT/
《大越史記全書》載明人詩考論 [91] Nội dung bài viết nghiên cứu về quá trình lưu truyền và việc sử dụng các bài thơ của các tác giả đời nhà Minh được chép trong bộ sử này, trong đó, có một số thơ của người Minh đã thất truyền ở Trung
Quốc Tác giả còn khảo sát nguyên nhân của các bài thơ được chép vào ĐVSKTT có
phản ánh về quan hệ giữa nhà Lê và nhà Minh
1.6 Về các sử gia
Năm 1959, Trần Huy Liệu có bài Kỷ niệm Lê Văn Hưu, sử gia đầu tiên của
Việt Nam, số 1, Tập san nghiên cứu Lịch sử.[15] Tác giả bài viết giới thiệu về công trình của Lê Văn Hưu và tinh thần của sử gia trong việc biên soạn bộ sử này Đồng
thời, xác định rõ giá trị của ĐVSKTT cùng vai trò quan trọng của Lê Văn Hưu, qua
đó gợi ý các hướng nghiên cứu tiếp theo cho các học giả đời sau
Trang 31Năm 1964, các tác giả Nguyễn Kha và Trần Huy Bá đăng bài Phát hiện những
tài liệu liên quan đến sử gia Lê Văn Hưu [10] Bài viết giới thiệu về nhóm tư liệu
mới gồm; gia phả và văn bia được sưu tầm tại thôn Phủ Lý, xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa - nơi quê hương của sử gia Lê Văn Hưu Trong đó, nguồn văn bia đã cho biết rõ thông tin về năm sinh, năm mất của ông
Trong cuốn Ngô Sĩ Liên và ĐVSKTT, do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia ấn hành năm 1998, có bài Ngô Sĩ Liên với lịch sử quân sự dân tộc, cùng nhiều bài viết
đề cập đến sử gia Ngô Sĩ Liên như: giới thiệu về quê hương, sự nghiệp, hành trạng, thành tựu của ông Bên cạnh đó, tác giả Lê Đình Sỹ có bài nghiên cứu xoay quanh
các cuộc chiến tranh được ghi chép trong ĐVSKTT, đây là nguồn tư liệu quý khi
nghiên cứu về lịch sử quân sự Việt Nam [2, tr.147-155]
Bài Về hoàn cảnh ra đời ĐVSKTT của Trương Hữu Quýnh thì đề cập tới nền
kinh tế, xã hội chính trị của thời Lý, Trần và Lê sơ Ngô Sĩ Liên là người được kế thừa các tác phẩm sử học đời trước, bên cạnh đó lại có ý thức mang trọng trách là
người biên soạn quốc sử nên đã toàn tâm hoàn thành bộ ĐVSKTT [2, tr.159-166] Hoàng Văn Lâu có bài Nhà sử học Ngô Sĩ Liên với lối viết Toàn thư đã đề cập đến vai trò của Ngô Sĩ Liên trong quá trình biên soạn bộ ĐVSKTT, Ngô Sĩ Liên xác định được thể lệ sử học tạo thành các kỉ, gồm Bản kỷ và Ngoại kỷ, từ đó vận dụng thành
thục bút pháp sử học Tác giả cũng cho rằng, Ngô Sĩ Liên chưa ghi chép về điển chương chế độ, hoặc những sinh hoạt văn hóa của triều đình và dân gian [2,
tr.196-211]
Bài Một vài cảm nhận khi đọc hai tấm bia về Ngô Sĩ Liên, Hoàng Văn Khoán
lại đề cập đến hai tấm bia có liên quan tới sử gia Ngô Sĩ Liên, được soạn vào năm
1862, nên nói sơ qua về nội dung liên quan đến ngô sĩ Liên.[2, tr 251-257]
Tác giả Vũ Văn Quân công bố bài Ngô Sĩ Liên trong lịch sử khoa bảng Hà Tây, [2, tr 259-268] bài viết đề cập tới vị trí của Ngô Sĩ Liên đối với các nhà khoa bảng tỉnh này Ngoài ra còn có bài Vài nét về quê hương nhà sử học Ngô Sĩ Liên của Nguyễn Hữu Thức và Chương Mỹ với Ngô Sĩ Liên của Bùi Anh Tỉnh cũng nghiên
Trang 32cứu về vai trò, vị trí của danh nhân văn hóa Ngô Sĩ Liên đối với quê hương mình [2, tr.281-285]
Năm 1994, tác giả Đặng Đức Thi cho công bố tác phẩm Lê Văn Hưu –Nhà sử
học đầu tiên của nước ta, do Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành Công
trình đi sâu nghiên cứu về hành trạng của Lê Văn Hưu và bộ Đại Việt sử ký, chủ yếu thông qua phân tích lời bình luận của Lê Văn Hưu trong Đại Việt sử ký, để nghiên
cứu về quan điểm của ông, từ đó cho thấy vị trí, vai trò của sử gia Lê Văn Hưu đối với vấn đề quốc sử ở Việt Nam [32]
Năm 2000, Đặng Đức Thi trong tác phẩm Lịch sử sử học Việt Nam, từ thế kỷ XI
đến thế kỷ XIX, đã giới thiệu và khảo sát quá trình phát triển sử học Việt Nam qua các
bộ sách sử cổ, đồng thời còn khảo sát tư tưởng Nho giáo và quan điểm Chính thống của Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên, Lê Tung, Phạm Công Trứ.v.v Tác giả có đóng góp trong việc nghiên cứu lịch sử, nhưng chưa khảo sát sâu sắc văn bản lưu truyền về ĐVSKTT và các bộ sách sử khác Tư tưởng sử học ở cổ đại Việt Nam rất phong phú, NCS trên cơ sở đó sẽ tiếp nghiên cứu sâu sắc [33, tr.165-220]
Năm 2000, Viện Sử học tổ chức Hội thảo về Danh nhân Nguyễn Qúy Đức - Nhà
chính trị văn hóa lớn thế kỷ XVII –XVIII Hội thảo đã tập trung nghiên cứu hành trạng
và sự nghiệp của sử gia Trong đó, đáng chú ý hơn cả là tác giả Tạ Ngọc Liễn với bài
Nguyễn Qúy Đức-Nhà sử học Bài viết đã tìm hiểu một cách cụ thể quá trình tham gia
viết sử của Nguyễn Quý Đức với Việt sử thông khảo và Đại Việt sử ký Tục biên Bên
cạnh đó, còn nhận định rằng quan điểm lịch sử của Nguyễn Qúy Đức là tư tưởng của nhà Nho, đó là ý thức dân tộc cao, cùng tinh thần biên soạn sử rất thận trọng và cẩn mật [14]
1.7 Về các văn bản chỉnh lý đã công bố
Trong gần 100 năm nghiên cứu của giới học thuật trong và ngoài nước, văn
bản của ĐVSKTT đã được nhiều lần chỉnh lí, khiến cho giới học giả được tiếp cận
một cách dễ dàng hơn Tuy nhiên, đã có nhiều thành quả nghiên cứu về tư tưởng viết
sử của bộ ĐVSKTT, nhưng chủ yếu là tư tưởng của từng cá nhân sử gia, mà chưa có
bất cứ một nghiên cứu nào mang tính hệ thống về tư tưởng của tập thể các sử gia
Trang 33Năm 1883, học người Nhật Bản là Toshiaki Hikita 引田利章 căn cứ vào bản
khắc in được sưu tầm tại Việt Nam, đã cho khắc lại bộ ĐVSKTT rồi đem xuất bản ở
Nhật Bản Sau đó, sách này lưu truyền sang nhiều nước khác, và có tầm ảnh hưởng khá lớn, bằng chứng là từ đó có nhiều học giả quốc tế biết đến và bắt đầu nghiên cứu về truyền bản này
Năm 1967, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội đã cho ấn hành bản dịch bộ ĐVSKTT
gồm 4 tập, do nhà Hán học Cao Huy Giu dịch và giáo sư Đào Duy Anh hiệu đính Năm 1971, bộ sử này lại được tái bản lần thứ hai, có sửa chữa và bổ sung
Trần Kinh Hoà chủ trì chỉnh lý bộ ĐVSKTT, tác giả cho biết đã trải qua một thời gian dài (từ 1984-1986) để hiệu chỉnh, rồi đem xuất bản ở Nhật Bản công trình nghiên cứu của mình với nhan đề Hiệu hợp bản ĐVSKTT Sau bản Chính Hòa, tác giả lại cho xuất bản thêm 5 quyển Tục biên (tức đến năm 1789 là thời kì nhà Lê trung hưng mất) Trần Kinh Hòa còn viết bài Văn bản và biên soạn của ĐVSKTT/「
大越史記全書の撰修と伝本」bằng tiếng Nhật, trong đó đề cập đến giá trị, văn bản, cũng như tư tưởng của những văn bản chỉnh lý Bài viết này được các học giả quốc
tế đánh giá cao, bởi kết quả nghiên cứu đó đã giúp ích rất nhiều cho giới học thuật
Năm 1983, Phan Huy Lê đã có công mang bộ ĐVSKTT từ Paris về Việt Nam,
Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam sau đó đã tổ chức biên dịch và xuất bản tập I vào năm 1983, tập II vào năm 1985, năm 1992 cho in lại tập I và II, tiếp đó lại cho xuất bản tập III và tập IV (trong đó, tập IV là bản nguyên văn chữ Hán)
Năm 2015, Nhà xuất bản Nhân dân ở Trung Quốc cho công bố bản chỉnh lý
mới của bộ ĐVSKTT Tuy nhiên, bản này chưa thể vượt qua bản Hiệu hợp bản
ĐVSKTT của Trần Kinh Hoà
1.8 Nhận xét đánh giá và định hướng nghiên cứu
ĐVSKTT là bộ quốc sử vô cùng quan trọng thời Lê, kế thừa bộ ĐVSK từ thời
Trần do nhóm Lê Văn Hưu soạn và chính thức biên soạn thành ĐVSKTT vào thời Lê
sơ do nhóm Ngô Sĩ Liên soạn, tiếp tục bổ sung và hoàn thiện và in ấn dưới niên hiệu Chính Hòa (1680-1705) vua Lê Hy Tông Trải qua quá trình sử dụng và chỉnh
Trang 34lý, biên soạn bổ sung và hoàn thiện, in ấn, lưu truyền khá dài, nên để lại không ít vấn đề về niên đại học và văn bản học, cũng như phương pháp, nội dung tư tưởng của soạn giả qua các giai đoạn Chính vì vậy, bộ sử này được nhiều nhà nghiên cứu
ở Việt Nam và nước ngoài hết sức chú trọng và thực tế có rất nhiều nghiên cứu đã công bố như giới thiệu ở trên
Những nghiên cứu về nội dung, giá trị tư liệu bộ sử này thì khá nhất quán, đều khẳng định ý nghĩa cao của bộ sử này trong nghiên cứu lịch sử Việt Nam, cũng như quan điểm viết sử của sử gia trước đây
Vấn đề niên đại bản in Nội Các quan bản cũng còn một số ý kiến chưa hoàn toàn thống nhất
Vì vậy, định hướng nghiên cứu của đề tài là góp phần làm rõ hơn vấn đề văn bản và truyền bản của bộ ĐVSKTT Vấn đề nghiên cứu văn bản không chỉ thuần túy dựa vào một vài chi tiết của bộ sách, mà đi sâu phân tích từng từng trang sách, từng vấn đề được đề cập đến Đồng thời cũng cần phân biệt bản khắc in với bản giấy được in ra Bởi bản khắc có thể có niên đại sớm, còn sách được in ra thì có thể muộn hơn về sau, nên không tránh khỏi sự thêm bớt khi in ấn
Về văn bản, luận án chọn văn bản ĐVSKTT bản in Chính Hòa tại Pháp làm bản
nền để khảo sát Ưu điểm nổi bật của bản này là bản in rõ ràng, đầy đủ Đồng thời
luận án đi sâu phân tích phương pháp viết sử của các sử gia trong bộ ĐVSKTT qua
tư tưởng biên soạn của họ Trên cơ sở đó rút ra những nghiên cứu về tư tưởng, tinh thần dân tộc thể hiện trong bộ quốc sử này
Trang 35Tiểu kết chương 1
Trong chương này, chúng tôi đã trình một cách khái quát các nghiên cứu, giới
thiệu liên quan đến bộ quốc sử ĐVSKTT Qua các công trình Thư mục học, chúng ta
biết được tác phẩm này được bảo quản tại kho sách Hán Nôm, Viện Nghiên cứu Hán Nôm và một số thư viện khác ở Việt Nam và nước ngoài Các nghiên cứu cũng cho thấy quá trình phiên dịch, xuất bản, giới thiệu bằng tiếng Việt tại Việt Nam, khảo cứu và giới thiệu bằng tiếng nước ngoài ở nước ngoài Đặc biệt các công trình
nghiên cứu xung quanh bản ĐVSKTT bản Nội các quan bản lưu giữ tại Pháp được
giới thiệu tại Việt Nam năm 1993 Qua đó cũng thấy được không chỉ ở Pháp mà ở Nhật Bản cũng có bản in tương tự bản Nội các quan bản
Những đánh giá về văn bản có đôi chỗ chưa nhất quán, nhưng về mặt giá trị, nội dung tư liệu, tư tưởng biên soạn bộ sử này đều được nhận định khá thống nhất, cho rằng đây là bộ sử chính thống, nguồn sử liệu quý giá nghiên cứu chính trị, lịch
sử, kinh tế, văn hóa xã hội Việt Nam
Kế thừa kết quả nghiên cứu của người đi trước, luận án đi sâu nghiên cứu những vấn đề liên quan đến văn bản, phương pháp biên soạn bộ sách này sẽ được trình bày ở chương sau
Trang 36Chương 2
KHẢO SÁT VĂN BẢN VÀ TRUYỀN BẢN ĐVSKTT
Chương này khái quát về các văn bản ĐVSKTT hiện được bảo quản tại các thư viện ở Việt Nam và nước ngoài Trên cơ sở đó xác định bản nền để phân tích, giám định văn bản, tiêu biểu là bản NCQB
2.1 Vấn đề văn bản bản ĐVSKTT
2.1.1 Tổng quan về văn bản ĐVSKTT và quan điểm của học giới
Văn bản ĐVSKTT hiện được lưu trữ tại một số kho sách, thư viện, trước hết là
kho sách Hán Nôm, Viện Nghiên cứu Hán Nôm Trong bộ Di sản Hán Nôm Thư mục
đề yếu do Trần Nghĩa và Francois Gos (đồng chủ biên), Nxb Khoa học xã hội, 1993,
có 5 bản sau: [18]
ĐVSKTT, kí hiệu A.3/4, bản Quốc tử giám, khắc in ở thời Nguyễn;
ĐVSKTT, kí hiệu A 2694/1-7, bản Quốc tử giám, khắc in ở thời Nguyễn; ĐVSKTT, kí hiệu VHv.179/1-9, bản Quốc tử giám, khắc in ở thời Nguyễn; ĐVSKTT, kí hiệu VHv.1499/1-9, bản Quốc tử giám, khắc in ở thời Nguyễn;
ĐVSKTT, kí hiệu VHv.2330-1336, bản NCQB, khắc in
Thư viện Quốc gia, Việt Nam hiện lưu trữ một bộ ĐVSKTT, bản Quốc tử giám chưa hoàn chỉnh chỉ có 8 quyển, từ quyển 11 đến quyển 18, ký hiệu: R.3653, R.255,
Tại một số thư viện ở Pháp, có 7 bản sau: [18]
Paris.EFEO.VIET/A.Hist.1 (1-11), bản Quốc tử giám
Paris.EFEO.MF.III 59-30 (A.3), bản Quốc tử giám
Paris BN VIETNAMIEN A.31, bản Quốc tử giám
Paris BN VIETNAMIEN A.102, bản Quốc tử giám
Paris SA.HM.2197 A (1-7), bản Quốc tử giám
Paris SA HM.B (1-6), bản Quốc tử giám
Paris SA.PD.2310 (1-15), bản NCQB của Paul Démiville
Trang 37Tại Nhật Bản, Trần Kinh Hoà sưu tập, nghiên cứu chỉnh lý ĐVSKTT đã tham khảo 7 bản lưu trữ khắc in ở Việt Nam, nhưng chưa ghi ký hiệu,ngoài bản NCQB của Paul Démiville ra, còn có 6 bản ĐVSKTT khác [100, tr.51]
Hiện nay mới phát hiện 2 bản NCQB lưu trữ tại Văn khố Tư Đạo (斯道文庫) của Trường đại học Keio(慶應義塾大學), ký hiệu là 322/10 và 321/4, bản lưu trữ tại Đại học Tenri天理大學 (xem thêm ở mục 2.2.3.5)
Tại Trung Quốc, theo nghiên cứu của Lưu Ngọc Quân trong công trình Nghiên
cứu văn hiến học cổ tịch Hán Nôm Việt Nam/越南漢喃古籍的文獻學研究, thì
không có bản ĐVSKTT nào lưu trữ ở Trung Quốc
Qua thông tin trên, hiện tại NCS biết được văn bản ĐVSKTT được lưu trữ ở Việt Nam và nước ngoài như sau:
Việt Nam 6 bản: Viện Nghiên cứu Hán Nôm 5 bản, Thư viện quốc gia 1 bản; Pháp 7 bản và Nhật Bản 7 bản
Trong số văn bản này, NCS chọn bản Paris SA.PD.2310 (1-15), bản NCQB của
Paul Démiville Nguyên văn văn bản này được in trong Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội 1993 và 2011
Về bộ ĐVSKTT, năm 1479, Ngô Sĩ Liên hoàn thành việc biên soạn bộ sử này
trong suốt 15 năm, trên cơ sở đó Tổng tài Quốc sử Vũ Quỳnh biên soạn bộ Đại Việt
thông giám thông khảo, hoàn thành vào năm 1511, là bộ quốc sử quý của nhà Lê Hai
bộ sử này đều chưa được khắc in, trong đó, công trình của Vũ Quỳnh bị thất truyền
Vào niên hiệu Cảnh Trị thứ 3 (1665), Phạm Công Trứ soạn lại bộ ĐVSKTT
gồm 15 quyển của Ngô Sĩ Liên và bổ sung thêm, thành 23 quyển Phần biên chép từ
Lê Thái Tổ đến Lê Cung Hoàng được gọi là Bản kỷ thực lục 本紀實錄 Phần biên chép từ Lê Trang Tông đến Lê Thần Tông thì gọi là Bản kỷ tục biên 本紀續編 Niên
hiệu Chính Hòa thứ 18 (1697), Lê Hy tiếp nối công trình của Phạm Công Trứ để biên soạn quyển thứ 24, đồng thời tiến hành khắc in bộ quốc sử này Đây chính là
bản được gọi là ĐVSKTT bản Chính Hoà
Trong bài tựa bộ sử do Phạm Công Trứ biên soạn, ông đã chỉ rõ rằng ―soạn
Trang 38thể hiểu là Phạm Công Trứ đã cho in ấn và phát hành cả 23 quyển của bộ này Tuy nhiên, Lê Hy lại cho rằng sách sử của Phạm Công Trứ chưa hoàn thành việc khắc in
mà chỉ mới hoàn thành khoảng từ 50% tới 60% ―giao cho khắc in, mười phần mới
được chừng năm, sáu Nhưng công việc chưa xong, sách còn cất giữ ở Bí các.付諸
刊刻十纔五六,第事未告竣,猶藏於秘閣‖ [37, tr.93] [42, tr.11] và Lê Hy là người tiếp tục công việc, cho khắc in toàn bộ bộ sử để ban hành trong nước
Đây là bộ khắc in công phu nhất và vô cùng quý giá, nên chắc chắn được bảo quản và lưu giữ về sau Tuy nhiên, không biết rõ bộ ván in này có được lưu giữ trọn vẹn hay không và được đời sau sử dụng in ấn như thế nào Thực tại, có bản in được ghi là khắc in năm Chính Hòa 18 (1697) và trang bìa có chữ NCQB Vậy Bản in NCQB này có phải là bản in Chính Hòa hay không còn là câu hỏi có giải đáp không thống nhất
Hình ảnh sau đây là bản khắc in ĐVSKTT có trang bìa là NCQB được ghi là
khắc năm Chính Hòa thứ 18 (1697) Bản in sách hiện được lưu giữ tại Hội Á Châu
ở Paris (Ảnh1.1)
Ảnh 1.1: Bản Démiville, lưu trữ tại Hội Á Châu ở Paris
Năm 1977, Trần Kinh Hoà công bố ―Văn bản và biên soạn của ĐVSKTT‖ bằng
tiếng Nhật Trong bài viết này, ông đã khảo sát các văn bản ĐVSKTT mà mình đã từng được tiếp xúc và xác nhận bản khắc in lưu trữ ở Thư viện của Trường đại học Thiên Lý, Nhật Bản là văn bản sớm nhất Tuy nhiên, bản NCQB chưa hoàn chỉnh
Trang 39Trần Kinh Hòa đã lấy bản của Thư viện Thiên Lý làm bản nền để khảo đính nội
dung của ĐVSKTT [101]
Năm 1978, Trần Kinh Hòa có được bản NCQB tại nhà Paul Démiville (được Paul Démiville tặng bản chụp nguyên văn chữ Hán) Trần Kinh Hòa dùng làm bản
chỉnh lý của ĐVSKTT, ông đã lấy bản của Démiville thay cho bản của Thư viện
Thiên Lý [100, tr.16] Qua khảo sát, Trần Kinh Hoà cho rằng bản của Démiville không phải bản Chính Hòa, vì bản này không có chữ húy của Lê hoàng và chúa Trịnh, chữ khắc không thống nhất và thể lệ và cũng khác với các bản khác Năm
1987, Trần Kinh Hoà viết bài 校合本・大越史记全书』の刊行とその体裁・凡例
について tổng kết kinh nghiệm về công tác của hiệu hợp bản ĐVSKTT và phản ánh
tư tưởng sử học của mình [102]
Năm 1983, Phan Huy Lê mang một bản chụp và bản ảnh của bộ ĐVSKTT từ
Pháp về Việt Nam và công bố một bài viết về văn bản này Dựa trên đặc điểm văn
bản này có đóng dấu PAUL DÉMIVILLE, có thể xác định được bản này chính là
bản Démiville như đã trình bày ở trên Tuy nhiên, ngược lại với Trần Kinh Hoà,
Phan Huy Lê căn cứ vào chữ Nội các và sự thiếu vắng các chữ huý thời Nguyễn để
đưa ra nhận định rằng bản này chính là bản Chính Hòa.[13]
Tiếp đó, Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam (nay là Viện Hàn lâm Khoa học
xã hội Việt Nam) tổ chức phiên dịch bản Démiville sang tiếng Việt Quyển thứ nhất được xuất bản năm 1983, tiếp đó tới năm 1985 xuất bản quyển thứ 2 Bài chuyên khảo về văn bản và tác giả của Phan Huy Lê đã thu hút nhiều sự quan tâm của học giới
Ngày 16 tháng 4 năm 1988, Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức Hội
thảo về văn bản Nội các quan bản ĐVSKTT Kết luận cuối cùng xác quyết: bản
NCQB thuộc hệ thống bản Chính Hòa, nhưng không phải nguyên bản mà là bản khắc in trong thời Lê -Trịnh, có nhiều giá trị [9]
Năm 1993, Nhà xuất bản Khoa học xã hội in bản dịch kèm ảnh ấn bản NCQB của Démiville, đồng thời in lại bài tựa của Phan Huy Lê đã sửa chữa dựa trên bản
Trang 40đã công bố trước đó, xác định NCQB là bản Chính Hoà Bìa bộ sách này cũng ghi
rõ ―Dịch theo bản khắc năm Chính Hòa thứ 18(1697)” (Ảnh 1.2)
Ảnh 1.2: Bản dịch tiếng Việt và chụp ảnh chữ Hán NCQB dựa trên bản của Démiville,
NXB.KHXH xuất bản năm 1993, Tập IV in năm 2011
Năm 1999, Bùi Thiết trong công trình Đối thoại sử học công bố bài Sách
ĐVSKTT bản nội các quan bản không phải được khắc in từ năm 1697, bài này được
triển khai từ bài phát biểu trong Tọa đàm khoa học do Ủy ban khoa học xã hội tổ chức, dựa trên cơ cấu Nội các của nhà Nguyễn, ông cho rằng ĐVSKTT bản Nội các quan bản không phải khắc in ở năm 1697, mà đến năm thứ 9 niên hiệu Tự Đức (1856) mới được sử quán Huế khắc in Tuy nhiên ông cho rằng, bản này vẫn thuộc
hệ thống bản Chính Hoà [31, tr.314-317] Tiếp đó, Lê Trọng Khánh có bài Quan hệ
biện chứng về niên đại bộ ĐVSKTT Bản in Nội các quan bản và vấn đề chủ quyền quốc gia về di sản văn hoá dân tộc, nhằm ủng hộ quan điểm của ông Bùi Thiết [31,
tr.318-325]
Năm 2003, học giả Nhật Bản là Hasuda Takashi 蓮田隆志 công bố bài viết đồng thuận với quan điểm của Phan Huy Lê khi cho rằng NCQB là bản Chính Hòa, nhưng cũng nêu thêm rằng bản Démiville có thể được khắc in sau niên đại Chính Hòa [97]