Việc tìm hiểu sự biến đổi hoạt động sinh kế hiện nay so với truyền thống của các dân tộc tại chỗ như người Chil sẽ giúp hiểu r các hoạt động sinh kế này có khả năng phát triển bền vững,
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ HƯƠNG
SINH KẾ CỦA NGƯỜI CHIL
Ở KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN LANG BIANG, TỈNH LÂM ĐỒNG:
TRUYỀN THỐNG VÀ BIẾN ĐỔI
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực Những quan điểm mà luận án kế thừa của các tác giả đi trước đều được trích dẫn nguồn chính xác, cụ thể
Hà Nội, ngày tháng năm 2022 Nghiên cứu sinh
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
2.1 Mục đích nghiên cứu 2
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
2.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 4
4.1 Phương pháp luận 4
4.2 Phương pháp nghiên cứu 5
5 Đóng góp mới của luận án 6
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 7
7 Kết cấu của luận án 7
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 8
1.1 Tổng quan nghiên cứu 8
1.1.1 Những nghiên cứu về hoạt động sinh kế nói chung 8
1.1.2 Những nghiên cứu về sinh kế của người Chil 12
1.1.3 Đánh giá kết quả các công trình nghiên cứu đã công bố 14
1.2 Cơ sở lý luận 15
1.2.1 Một số khái niệm 15
1.2.2 Cơ sở lý thuyết 20
1.3 Khái quát về huyện Lạc Dương và người Chil tại Khu dự trữ sinh quyển Lang Biang 23
1.3.1 Tổng quan về huyện Lạc Dương 23
1.3.2 Khái quát về người Chil tại địa bàn nghiên cứu 25
1.3.3 Tổng quan về ba điểm nghiên cứu 31
Tiểu kết chương 1 34
Trang 4Chương 2 SINH KẾ TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI CHIL 35
2.1 Khai thác rừng 35
2.1.1 Phân loại rừng 35
2.1.2 Quy tắc về khai phá rừng 39
2.1.3 Khai thác các sản phẩm từ rừng 41
2.2 Hoạt động sản xuất nông nghiệp 46
2.2.1 Canh tác nương rẫy 46
2.2.2 Chăn nuôi 52
2.2.3 Nghề thủ công 54
2.2.4 Trao đổi 56
Tiểu kết chương 2 57
Chương 3 SINH KẾ CỦA NGƯỜI CHIL HIỆN NAY 58
3.1 Biến đổi trong hoạt động khai thác rừng 59
3.1.1 Biến đổi trong phân loại rừng 59
3.1.2 Biến đổi trong quy tắc khai phá rừng 59
3.1.3 Trồng rừng và bảo vệ rừng 60
3.1.4 Khai thác các sản phẩm từ rừng 68
3.2 Biến đổi trong hoạt động sản xuất nông nghiệp 73
3.2.1 Biến đổi trong canh tác nương rẫy 73
3.2.2 Biến đổi trong chăn nuôi 82
3.2.3 Biến đổi trong nghề thủ công 88
3.3 Biến đổi trong hình thức trao đổi hàng hóa 95
3.4 Một số hình thức sinh kế mới 97
3.4.1 Các hoạt động phục vụ du lịch cộng đồng 97
3.4.2 Các sinh kế khác 100
Tiểu kết chương 3 106
Chương 4 XU HƯỚNG BIẾN ĐỔI VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN SINH KẾ NGƯỜI CHIL 108
4.1 Những yếu tố tác động đến sự biến đổi sinh kế của người Chil 108
Trang 54.1.1 Chính sách đất đai 108
4.1.2 Thực trạng di dân 110
4.1.3 Kinh tế hàng hóa và quá trình hội nhập 113
4.2 Xu hướng biến đổi và phát triển bền vững ở Khu dự trữ sinh quyển Lang Biang 115
4.2.1 Xu hướng biến đổi sinh kế và sự phát triển bền vững kinh tế 115
4.2.2 Xu hướng biến đổi sinh kế và sự phát triển bền vững xã hội 120
4.2.3 Xu hướng biến đổi sinh kế và sự phát triển bền vững văn hoá 123
4.3 Giải pháp phát triển sinh kế bền vững cho người Chil ở Khu dự trữ sinh quyển Lang Biang 124
4.3.1 Phát triển sinh kế cộng đồng người Chil ở KDTSQ Lang Biang 125
4.3.2 Chính sách về phát huy văn hóa truyền thống của người Chil 134
4.3.3 Bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học rừng Khu dự trữ sinh quyển Lang Biang 135
Phát triển sinh kế dưới tán rừng 140
Tiểu kết 142
KẾT LUẬN 144
DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ 149
TÀI LIỆU THAM KHẢO 150
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Bộ NN&PTNT Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
DTTS Dân tộc thiểu số
Đề tài NCKTVHXH Đề tài Nghiên cứu kinh tế, văn hóa – xã hội của các
tộc người thiểu số tại chỗ ở Khu dự trữ sinh quyển Lang Biang theo định hướng phát triển bền vững
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Địa bàn cư trú của các dân tộc tại Lang Biang 27
Bảng 1.2: Dân số người Chil cư trú trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng 27
Bảng 1.3 Người giải quyết những bất hòa giữa các gia đình trong thôn 29
Bảng 3.1: Tuyên truyền về bảo vệ động/thực vật rừng 64
Bảng 3.2: Cơ quan tuyên truyền về bảo vệ rừng 64
Bảng 3.3: Hình thức tuyên truyền bảo vệ rừng 65
Bảng 3.4: Gia đình có thành viên tham gia bảo vệ rừng 71
Bảng 3.5: Gia đình có thành viên đi rừng thu hái động/thực vật 71
Bảng 3.6.: Gia đình có thành viên đi rừng phân theo vị trí nhà 71
Bảng 3.7: Hoạt động chăn nuôi của hộ gia đình 86
Bảng 3.8: Hoạt động chăn nuôi của hộ gia đình theo vị trí nhà 86
Bảng 3.9: Kỹ thuật được sử dụng trong chăn nuôi 89
Bảng 3.10: Gia đình làm nghề thủ công truyền thống 92
Bảng 3.11: Gia đình làm nghề thủ công truyền thống theo vị trí nhà 93
Bảng 3.12: Nghề thủ công của các hộ gia đình người Chil 93
Bảng 3.13: Diện tích đất canh tác 106
Bảng 4.1: Dân số Lạc Dương qua các thời kỳ 116
Bảng 4.2: Tình hình kinh tế hộ gia đình các dân tộc sống trong KDTSQ Lang Biang 121
Bảng 4.3: Đất sản xuất của hộ gia đình các dân tộc sống trong KDTSQ Lang Biang 122
Bảng 4.4: Kỹ thuật sử dụng trong chăn nuôi của các dân tộc trong KDTSQ Lang Biang 124
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Theo Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam năm 2009, người Chil là một trong sáu nhóm địa phương của dân tộc Cơ Ho Mặc dù là nhóm địa phương nhưng người Chil là cộng đồng cư dân có những đặc thù riêng ở Việt Nam - một quốc gia đa dân tộc Địa bàn cư trú truyền thống của người Chil là cao nguyên Lang Biang, trong khu vực vườn quốc gia Bidoup Núi Bà, tỉnh Lâm Đồng Tuy không phải là cộng đồng cư dân đông đảo về số lượng nhân khẩu, nhưng người Chil là thành phần dân tộc chính đ sinh tồn trong điều kiện sinh thái và sự đa dạng về chủng loài của vùng núi Biduop từ hàng trăm năm qua Họ đ tạo dựng nên cộng đồng x hội rộng lớn với các giá trị văn hóa phản ánh r n t bản s c văn hóa của dân tộc mình Tuy nhiên, từ sau khi thống nhất đất nước, với các chính sách phát triển kinh tế, di dân,… của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là khi Lang Biang trở thành Khu dự trữ sinh quyển (DTSQ) thế giới, cuộc sống của người Chil chịu nhiều tác động từ quá trình quản lý, bảo tồn và phát triển tại Khu DTSQ Do đó, người Chil là đối tượng quan trọng cần được quan tâm trong quá trình quản lý, quy hoạch phát triển bền vững của Khu DTSQ Lang Biang
Hiện nay, phát triển bền vững đang là mối quan tâm hàng đầu của các nhà nghiên cứu cũng như những nhà hoạch định chính sách Phát triển bền vững là điều kiện cần thiết cho quá trình phát triển, là cơ sở để nâng cao đời sống của người dân nhưng đồng thời vẫn đáp ứng được đòi hỏi về bảo vệ môi trường tự nhiên Đ có nhiều chương trình, dự án hỗ trợ cho người dân nhằm hướng đến mục tiêu phát triển
ổn định và bền vững Thực tế cho thấy, việc lựa chọn phương cách hoạt động sinh
kế của người dân chịu ảnh hưởng rất lớn từ nhiều yếu tố như: điều kiện tự nhiên, x hội, nguồn nhân lực, vật chất, cơ sở hạ tầng,… đồng thời cũng tác động trở lại sâu s c đến các yếu tố này Việc tìm hiểu sự biến đổi hoạt động sinh kế hiện nay so với truyền thống của các dân tộc tại chỗ như người Chil sẽ giúp hiểu r các hoạt động sinh kế này có khả năng phát triển bền vững, lâu dài và ổn định hay không? Để từ đó làm cơ sở cho chính quyền, các tổ chức quản lý kinh tế, chính trị, văn hóa, x hội xây
Trang 9dựng chính sách quản lý phù hợp hơn trong việc ổn định và phát triển đời sống của các dân tộc tại chỗ trong khu vực nói chung và người Chil ở Lang Biang nói riêng
Cơ sở để phát triển bền vững chính là con người với năng lực hiểu biết tự nhiên của cộng đồng, tri thức dân gian về các mặt sản xuất, tổ chức x hội và bản
s c văn hóa Hiện nay, một trong những thách thức trong phát triển bền vững là diện tích rừng giảm và suy thoái đến mức cạn kiệt về chất lượng rừng Sức p kinh tế trong xu thế và yêu cầu hội nhập đ khiến bản s c văn hóa, ngành nghề truyền thống của cộng đồng trong Khu dự trữ sinh quyển Lang Biang đang có nguy cơ bị mai một Nguyên nhân chính của tình trạng trên được xác định là do sự tác động mạnh mẽ của việc sử dụng tài nguyên không bền vững và nhu cầu mở rộng đất canh tác của cộng đồng địa phương sống trong khu vực
Do đó, việc tìm hiểu sự biến đổi, thích nghi trong hoạt động sinh kế nhằm quản lý, bảo vệ và khai thác hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên của người Chil
ở khu vực này là việc làm cần thiết, nhất là trong bối cảnh phát triển và hội nhập hiện nay Cho đến nay, đ có nhiều nghiên cứu về các dân tộc thiểu số ở khu vực Lang Biang nhưng chưa có một nghiên cứu nào chuyên sâu và hệ thống về sinh kế của người Chil
Với nhận thức trên, tôi chọn đề tài: “Sinh kế của người Chil ở Khu dự trữ sinh quyển Lang Biang, tỉnh Lâm Đồng: Truyền thống và biến đổi” làm luận án tiến sĩ
chuyên ngành Nhân học Trên cơ sở nghiên cứu sự biến đổi, những yếu tố tác động cũng như sự thích nghi của người Chil trong hoạt động sinh kế, luận án hy vọng sẽ cung cấp những tư liệu thực tiễn, làm cơ sở xây dựng những chương trình nhằm phát triển sinh kế người Chil bền vững đồng thời bảo vệ môi trường tự nhiên cũng như đa dạng sinh học ở Khu dự trữ sinh quyển Lang Biang
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
- Nhận diện sinh kế truyền thống và làm r sự biến đổi trong sinh kế hiện nay của người Chil ở địa bàn nghiên cứu so với sinh kế truyền thống
Trang 10- Phân tích những yếu tố tác động đến sự biến đổi sinh kế của người Chil hiện nay so với truyền thống
- Phân tích khả năng thích ứng của người Chil trong điều kiện mới hiện nay
- Xác định những vấn đề đặt ra trong hoạt động sinh kế hiện nay của người Chil trong mối quan hệ với phát triển bền vững, đặc biệt là quản lý và bảo tồn cảnh quan, đa dạng sinh học tại Khu dự trữ sinh quyển Lang Biang hiện nay
- Đề xuất các kiến nghị và giải pháp làm cơ sở khoa học cho việc xây dựng chính sách để phát triển sinh kế của người Chil một cách bền vững trong quá trình
quản lý và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên tại địa bàn nghiên cứu
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Thu thập thông tin một cách có hệ thống, đầy đủ nhằm nhận diện sinh kế truyền thống và tìm hiểu sự biến đổi trong sinh kế của người Chil ở Khu dự trữ sinh quyển Lang Biang hiện nay có sự khác biệt gì so với truyền thống
- Chỉ ra những yếu tố tác động đến sự biến đổi sinh kế của người Chil hiện nay
so với truyền thống
- Đề xuất một số kiến nghị và giải pháp nhằm đảm bảo sinh kế bền vững đối với người Chil ở Khu dự trữ sinh quyển Lang Biang trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế hiện nay
2.3 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận án cần trả lời hai câu hỏi nghiên cứu sau:
- Sinh kế hiện nay của người Chil biến đổi như thế nào so với truyền thống?
- Những yếu tố nào tác động đến sự biến đổi sinh kế của người Chil?
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là hoạt động sinh kế của người Chil trong truyền
thống và hiện nay ở Khu dự trữ sinh quyển Lang Biang, tỉnh Lâm Đồng
- Phạm vi nghiên cứu: Người Chil có địa bàn cư trú lâu đời trong truyền
thống là những vùng đồi sườn dốc trên các dãy núi cao của cao nguyên Lâm Viên (Lang Biang), trong khu vực vườn quốc gia Bidoup Núi Bà, tức là vùng lõi và vùng đệm của Khu dự trữ sinh quyển Lang Biang hiện nay Theo địa giới phân chia hành
Trang 11chính hiện nay của tỉnh Lâm Đồng, địa bàn sinh sống trong truyền thống của người Chil là huyện Lạc Dương ngày nay Do đó, để làm rõ sự biến đổi sinh kế của người Chil hiện nay so với truyền thống, luận án chọn huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng làm địa bàn nghiên cứu Trong huyện Lạc Dương chọn 3 x làm điểm nghiên cứu: Vùng lõi chọn x Đưng K’nớ; vùng đệm chọn x Đạ Sar; vùng chuyển tiếp chọn thị trấn Lạc Dương Các điểm nghiên cứu cũng phản ánh được sự biến đổi cũng như thích nghi trong hoạt động sinh kế của người Chil
- Phạm vi về thời gian: Đề tài nghiên cứu về sinh kế của người Chil: truyền
thống và biến đổi, do đó luận án chia làm 2 giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất là từ 1975 – 1986 khi Khu bảo tồn thiên nhiên Bidoup Núi Bà thành lập Giai đoạn này sinh kế chính của người Chil là hoạt động nương rẫy và khai thác tự nhiên; Giai đoạn thứ 2
là từ 1986 – 2015, đây là giai đoạn sinh kế của người Chil có nhiều biến đổi do tác động của các chính sách Nhà nước
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp luận
Để làm rõ các khía cạnh liên quan đến sinh kế hiện nay của người Chil, nghiên cứu sinh sử dụng cách tiếp cận nhân học văn hóa và tiếp cận hệ thống Đối với cách tiếp cận nhân học văn hóa, nghiên cứu sinh xem sinh kế là biểu hiện của văn hóa do đó đặt nó trong mối quan hệ với các thành tố khác như văn hóa nhận thức, văn hóa ứng xứ với môi trường tự nhiên,… Đối với cách tiếp cận hệ thống, nghiên cứu sinh đặt sinh kế truyền thống và hiện nay trong sự hình thành, tồn tại và
sự thích ứng của nó với môi trường và điều kiện sống nhất định của người Chil trong mối liên hệ với các yếu tố như điều kiện tự nhiên, kinh tế, các thiết chế văn hóa xã hội, các chính sách của Đảng, Nhà nước,… Để từ đó thấy được sự biến đổi cũng như xu hướng phát triển trong tương lai Tuy nhiên để làm nổi bật vấn đề, luận
án sử dụng phương pháp chính là điền dã dân tộc học nhằm thu thập dữ liệu để trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu
Để giải quyết vấn đề đặt ra, luận án vận dụng cách tiếp cận của lý thuyết sinh thái học văn hóa, trong đó xác định r mục đích nghiên cứu, tìm hiểu của ngành dân
Trang 12tộc học, nhân học là “n m b t cách nhìn nhận của người địa phương, mối quan hệ của họ với đời sống, hiểu được sự nhìn nhận của họ về thế giới của họ” Theo lý thuyết này, nhà nghiên cứu phải tự đặt mình vào vị trí của chính người địa phương
là đối tượng đang nghiên cứu, ở đây là cộng đồng người Chil ở Lang Biang Luận
án cố g ng tìm hiểu, n m b t được một cách hệ thống quan niệm, nhận thức sinh thái văn hóa của người Chil Việc nghiên cứu, khi mô tả tôn trọng quan niệm của khách thể nghiên cứu, không áp đặt quan niệm, cách hiểu của tác giả nghiên cứu hay vận dụng kiến thức sách vở để giải thích thay cho hệ thống quan niệm của cộng đồng người Chil đang là đối tượng nghiên cứu Ngoài ra, luận án sử dụng lý thuyết khung sinh kế bền vững nhằm đưa ra những giải pháp phát triển sinh kế phù hợp đối với người Chil trong tương lai
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thu thập nguồn dữ liệu luận án sử dụng đồng thời nhiều phương pháp
Phương pháp điền dã dân tộc học
Đây là phương pháp nghiên cứu chính của luận án Các kỹ thuật được áp dụng gồm có: quan sát tham dự, phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm
+ Quan sát tham dự: Từ các cuộc điền dã tại địa bàn, chúng tôi làm việc và
quan sát tham dự tại cộng đồng người Chil nhằm tìm hiểu về các hoạt động liên quan đến sinh kế của người Chil như: kinh doanh buôn bán nhỏ, các hoạt động dịch
vụ phục vụ du lịch, dệt thủ công, trồng hoa màu, cà phê,… Ngoài ra, những hoạt động khác như nghề thủ công, dịch vụ chi trả môi trường rừng, các hoạt động văn hóa, tổ chức xã hội, cũng được quan sát tìm hiểu Thao tác này giúp thu thập và ghi nhận những thông tin về địa hình, cảnh quan, môi trường, khí hậu, cách bố trí nhà cửa, sinh hoạt, đi lại, sự giao tiếp trong cộng đồng,… Những yếu tố này ít nhiều đều liên quan đến sinh kế của người Chil, tạo nên hệ sinh thái đời sống – văn hóa của họ Nguồn dữ liệu thu thập từ phương pháp này được ghi chép dưới hình thức nhật ký điền dã
+ Phỏng vấn sâu: Đây là thao tác cơ bản và quan trọng nhằm thu thập thông
tin phục vụ luận án Nội dung phỏng vấn được thiết kế bám sát nội dung chính của
Trang 13luận án Trong suốt quá trình làm luận án, chúng tôi tiến hành 20 cuộc phỏng vấn sâu bao gồm: cán bộ huyện, cán bộ xã, cán bộ thôn và những người Chil sinh sống tại điểm nghiên cứu Những người Chil tham gia phỏng vấn trong gia đình có các thành viên cùng lúc tham gia nhiều hoạt động sinh kế khác nhau: công chức, buôn bán nhỏ, làm dịch vụ, trồng cà phê, làm nghề thủ công, làm thuê, tham gia giữ rừng,…
+ Thảo luận nhóm: Luận án đ thực hiện 4 cuộc thảo luận nhóm theo chủ đề nhằm thu thập ý kiến về sự biến đổi sinh kế cũng như mức độ thích nghi trước sự thay đổi môi trường tự nhiên, các chính sách của Nhà nước của người Chil hiện nay
Phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi
Ở phần này, luận án được tham khảo bộ số liệu từ cuộc khảo sát của đề tài
“Nghiên cứu kinh tế, văn hóa – xã hội của các tộc người thiểu số tại chỗ ở Khu dự trữ sinh quyển Lang Biang theo định hướng phát triển bền vững” do PGS.TS Huỳnh Ngọc
Thu làm chủ nhiệm Số lượng bảng hỏi được điều tra là 1065 phiếu hộ gia đình, theo nguyên t c chọn mẫu quota trên các đối tượng cụ thể như người Kinh (Việt): 238 phiếu (chiếm 22,3%), Chil: 669 phiếu (chiếm 62,8%), Lạt (Lạch): 60 phiếu (chiếm 5,6%); Srê: 87 phiếu (chiếm 8,2%), các tộc người thiểu số khác: 11 phiếu (chiếm 1,0%) tại khu vực Lang Biang Bảng hỏi được xử lý bằng chương trình SPSS 20
Phương pháp chuyên gia
Để có đầy đủ dữ liệu, kiến thức cũng như sự hiểu biết về văn hóa, tâm lý, cách thức thực hành xã hội, hoạt động sinh kế,… của người Chil trong truyền thống cũng như hiện nay, luận án đ tham vấn, xin ý kiến của các chuyên gia trong ngành Dân tộc học/Nhân học
Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp
Luận án sử dụng phương pháp này nhằm làm nổi bật sự biến đổi trong sinh
kế hiện nay so với truyền thống cũng như sự thích nghi của người Chil đối với các chính sách của Nhà nước, sự thay đổi của môi trường sinh thái,…
5 Đóng góp mới của luận án
- Một là, xây dựng hệ thống tư liệu tương đối đầy đủ về hoạt động sinh kế trong truyền thống và hiện nay của người Chil ở Khu dự trữ sinh quyển Lang Biang
Trang 14Trên cơ sở đó góp phần dựng lại bức tranh về hoạt động sinh kế của người Chil ở Lâm Đồng nói chung, khu vực Lang Biang nói riêng
- Hai là, phân tích toàn diện và hệ thống về sự tác động của hoạt động sinh
kế của người Chil đến sự quản lý và bảo tồn cảnh quan, đa dạng sinh học tại Khu dự trữ sinh quyển Lang Biang Từ đó, tìm ra những bất cập và hướng giải quyết trong phát triển sinh kế của người Chil trong giai đoạn hiện nay
- Ba là, trên cơ sở nguồn tư liệu và kết quả nghiên cứu được công bố trong luận án góp phần bổ sung nguồn tư liệu cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và hoạch định các chương trình, chính sách liên quan đến đất đai, môi trường và phát triển bền vững, bảo tồn cảnh quan, đa dạng sinh học tại Khu dự trữ sinh quyển Lang Biang một cách có hiệu quả
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Luận án góp thêm tư liệu vào việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn về sinh
kế và biến đổi sinh kế của người Chil ở Khu dự trữ sinh quyển Lang Biang
- Nghiên cứu những yếu tố tác động đến sự biến đổi hoạt động sinh kế hiện tại so với trong truyền thống của người Chil ở Khu dự trữ sinh quyển Lang Biang
- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, đề xuất những giải pháp phát triển sinh kế bền vững cho người Chil với bảo tồn cảnh quan, đa dạng sinh học tại Khu dự trữ sinh quyển Lang Biang
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án được kết cấu thành 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và địa bàn nghiên cứu Chương 2: Sinh kế truyền thống của người Chil
Chương 3: Sinh kế của người Chil hiện nay
Chương 4: Xu hướng biến đổi và giải pháp phát triển sinh kế người Chil
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ
ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan nghiên cứu
1.1.1 Những nghiên cứu về hoạt động sinh kế nói chung
1.1.1.1 Những nghiên cứu của các học giả nước ngoài
Sinh kế là cách thức, phương thức, phương pháp hoạt động quan trọng giúp cho con người tồn tại, phát triển trong điều kiện, môi trường cụ thể Do đó, việc lựa chọn sinh kế phù hợp với điều kiện tự nhiên, x hội và môi trường sinh thái rất cần thiết Điều này đ được Juliam Steward (1902-19720) đề cập trong Lý thuyết sinh thái văn hóa Theo ông, môi trường sống và văn hóa con người có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại và g n bó chặt chẽ với nhau Trong các nghiên cứu của mình, ông đặc biệt quan tâm đến mối quan hệ tương tác giữa con người, môi trường, kỹ thuật, cấu trúc x hội cũng như cách thức tổ chức công việc Cụ thể là các nguồn tài nguyên ảnh hưởng như thế nào đến cuộc sống tự cung tự cấp của mỗi cộng đồng; kỹ thuật và việc tổ chức lao động nhằm khai thác các nguồn tài nguyên đó; cách thức
mà các yếu tố này ảnh hưởng đến các khía cạnh khác của văn hóa Hay nói cách khác, ông quan tâm nghiên cứu các hoạt động sinh kế khác nhau và từ đó tìm ra các khía cạnh khác nhau của văn hóa
Trên thế giới, những vấn đề liên quan đến sinh kế được các học giả nước ngoài quan tâm nghiên cứu từ rất sớm Những công trình nghiên cứu của các học
giả nước ngoài tiêu biểu có thể kể đến như: “Chúng tôi ăn rừng”[16]; “Trồng trọt của những người tiền Đông Dương ở cao nguyên miền Trung Việt Nam”[70]; “Lễ nghi thức nông nghiệp của người Rơ ngao”[71], “Một số vấn đề dân tộc học nông nghiệp Đông Nam Á”[84]; “Một số vấn đề nghiên cứu dân tộc học nông nghiệp”[49]; “Sự xuất hiện và phát triển của nông nghiệp”[111],… Những công
trình nghiên cứu này chủ yếu xem xét sự xuất hiện của nông nghiệp, đồng thời mô
tả về kỹ thuật canh tác, giống cây, các nghi lễ, chứ chưa đi sâu vào phân tích, so
Trang 16sánh để thấy được sự phát triển, thay đổi khác biệt, yếu tố tác động trong sản xuất nông nghiệp của các dân tộc, trong từng giai đoạn phát triển
Trong công trình “Nhân học một quan điểm về tình trạng nhân sinh”, Emily
A Schultz-Robert H Lavenda (do Phan Ngọc Chiến, Hồ Liên Biện dịch) đ sử
dụng thuật ngữ “phương thức mưu sinh” và “phương cách sinh tồn” Tác giả cho rằng, ”Sinh tồn là một từ được dùng để chỉ việc thoả mãn những nhu cầu vật chất thiết yếu nhất để tồn tại của con người, chủ yếu là nhu cầu về thức ăn, quần áo và chỗ ở”[48] Tuy nhiên, nghiên cứu này cũng chỉ mang tính tả thực về sinh kế chứ
chưa quan tâm, phân tích chuyên sâu để tìm ra những phát kiến mới
Từ sau những năm 80 của thế kỷ XX, thay vì sử dụng cụm từ phương thức mưu sinh, phương thức sinh tồn các học giả nước ngoài sử dụng khái niệm sinh kế
trong các nghiên cứu về phát triển nông thôn và giảm nghèo Trong nghiên cứu của mình, F.Ellis cho rằng, một sinh kế phải hội tụ đủ các nguồn vốn: nguồn vốn tự nhiên, nguồn vốn vật chất, nguồn vốn con người, nguồn vốn tài chính, nguồn vốn
xã hội Đồng thời, ông còn phân tích và chỉ ra mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế,
cơ hội sinh kế và cải thiện đói nghèo của người dân [116]
Năm 1998, Cơ quan phát triển quốc tế Vương quốc Anh (DFID) đ đưa ra khái niệm về sinh kế, khung sinh kế bền vững và trở thành khuôn mẫu cho chính sách giảm nghèo của tổ chức này [88] Về sau các tổ chức và cá nhân trên kh p thế giới đều lấy khuôn mẫu, khung phân tích của DFID làm chuẩn mực để nghiên cứu
Trong thời gian gần đây, vấn đề sinh kế càng được quan tâm trong các dự án phát triển bền vững Nhà nghiên cứu Koos Neefies đặc biệt quan tâm đến mối quan
hệ giữa đói nghèo và thay đổi môi trường Ông cho rằng, nếu có chiến lược, chính sách tốt về sinh kế có thể giải quyết được những nguyên nhân của sự suy thoái môi trường và đói nghèo Do đó, ông đi sâu vào phân tích về chiến lược, chính sách và đưa ra những cách có thể giải quyết các vấn đề liên quan đến môi trường, đói nghèo [69] Khác với Koos Neefies, trong nghiên cứu của mình, Kasi Eswarappa chủ yếu quan tâm đến việc con người sử dụng các nguồn vốn như thế nào trong hoạt động sinh kế của mình [117]
Trang 17Mặc dù cách tiếp cận có khác nhau nhưng qua tổng quan trên cho thấy, vấn
đề liên quan đến sinh kế rất quan trọng nên rất được các học giả nước ngoài quan tâm và nghiên cứu từ rất sớm
1.1.1.2 Những nghiên cứu của các học giả trong nước
Ở Việt Nam, những nghiên cứu về hoạt động sinh kế cũng xuất hiện từ rất sớm nhưng chủ yếu là do các học giả nước ngoài tiến hành Những nghiên cứu này ban đầu chỉ mang tính chất phục vụ cho công việc của các học giả nước ngoài Những học giả này khi đặt chân đến Việt Nam với mục đích làm nhiệm vụ công như truyền đạo, sĩ quan quân đội, các viên chức hành chính,… Do tính chất công việc nên họ có thời gian sinh sống lâu dài, g n bó cùng với các cộng đồng dân tộc thiểu số Để thuận lợi cho công việc họ phải tìm hiểu phong tục tập quán, cách thức sinh hoạt, văn hóa,… do đó họ đ dành rất nhiều thời gian để quan sát tham dự và miêu tả khá chi tiết về các khía cạnh của đời sống những dân tộc mà họ nghiên cứu Ngoài ra, những học giả này cũng có thể sử dụng được ngôn ngữ của các dân tộc
mà họ nghiên cứu nên rất thuận lợi Tuy nhiên, do mục đích ban đầu là phục vụ cho công việc nên những công trình nghiên cứu này bước đầu mới chỉ mô tả về kỹ thuật canh tác, giống cây, các nghi lễ, chứ chưa đi sâu vào phân tích, so sánh để thấy được sự phát triển, những yếu tố tác động, sự thay đổi trong sản xuất nông nghiệp của các dân tộc thiểu số trong tiến trình lịch sử Những công trình tiêu biểu có thể
kể đến là [14], [16], [55], Mặc dù còn sơ khai nhưng đây là nguồn tài liệu quý mà các học giả trong nước có thể kế thừa, tham khảo khi nghiên cứu về sinh kế của các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên
Sau năm 1975, cùng với những chính sách phát triển kinh tế xã hội của Đảng, Nhà nước, các học giả trong nước có điều kiện đi sâu tìm hiểu nghiên cứu toàn diện các vấn đề trong đời sống của các dân tộc thiểu số nói chung, các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên nói riêng Các công trình nghiên cứu thời gian này chủ yếu xem xét sinh kế của các dân tộc thiểu số thông qua các hoạt động sản xuất nông nghiệp, săn b n hái lượm và các nghề thủ công, đồng thời xem nó như là một phần không thể thiếu trong đời sống của các dân tộc thiểu số Ngoài ra, có một số nghiên
Trang 18cứu chuyên về từng khía cạnh sản xuất nông nghiệp của các dân tộc thiểu số như loạt bài về nương rẫy và ruộng nước của dân tộc Ba Na và các dân tộc Tây Nguyên của Bùi Minh Đạo đăng trên Tạp chí Dân tộc học như: [25], [27], [29], [30], [31],
[32], [33], [34], [35], Trong công trình nghiên cứu Các Dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Nam) trong phần dân tộc Cơ Ho, Phan Ngọc Chiến cho rằng
sinh kế chính của người Cơ Ho là sản xuất nông nghiệp Theo ông, tất cả các nhóm của dân tộc Cơ Ho đều làm rẫy bằng lối du canh theo chu kỳ, một mảnh rừng được trồng trọt trong vài ba năm, sau đó để hóa và được canh tác trở lại khi cây rừng đ
mọc cao [18] Trong bài viết Vấn đề dân tộc ở Lâm Đồng, Nguyễn Văn Diệu cũng
cho rằng, các dân tộc ít người ở Lâm Đồng sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng trọt Tuy nhiên, do điều kiện địa lý, địa hình nên mỗi nhóm có những n t canh tác riêng
biệt [25] Trong công trình nghiên cứu, Dân tộc Cơ Ho ở Việt Nam, Bùi Minh Đạo
cũng cho rằng, trồng trọt là hoạt động sản xuất truyền thống chính yếu của người
Cơ Ho [35] Trong công trình nghiên cứu Tập quán hoạt động kinh tế của các dân tộc thiểu số ở Đông Bắc Việt Nam, Trần Bình tái hiện bức tranh chi tiết, sinh động
và đa dạng về hoạt động sinh kế của các dân tộc ở vùng Tây B c và Đông B c Việt Nam Từ đó tác giả khẳng định, hoạt động nông nghiệp là sinh kế chính của các dân tộc nơi đây [11]
Trong những năm gần đây, khi nước ta tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vấn đề sinh kế nói chung, sinh kế cho các dân tộc thiểu số nói riêng được các nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm Đây cũng là chủ đề được nhiều học viên chọn làm luận văn, luận án Cách tiếp cận vấn đề sinh kế trong thời gian gần đây được đổi mới trong cách đặt vấn đề, phân tích vấn đề Bên cạnh phương pháp truyền thống là điền dã dân tộc học, hiện nay các học giả thường sử dụng phương pháp liên ngành, đa ngành nhằm phân tích đa chiều trong hoạt động sinh kế để nhận diện và phân tích những yếu tố tác động đến sự biến đổi của hoạt động sinh kế hiện nay so với truyền thống Những công trình nghiên cứu thời gian sau này đều thống nhất rằng, do sự tác động của các chính sách, sự giao lưu văn hóa giữa các dân tộc, yếu
tố tôn giáo, sự thay đổi môi trường sống,… là nguyên nhân chính dẫn đến sự thay
Trang 19đổi sinh kế hiện nay Tuy nhiên sự thay đổi này theo chiều hướng tích cực, điều này
được thể hiện qua các công trình nghiên cứu như: Tạ Hữu Dực trong Phục hồi sinh
kế tại các cộng đồng tái định cư thủy điện Sơn La và vai trò của tri thức địa phương tộc người [28]; Phạm Thị Thu Hà trong Biến đổi sinh kế của người Tày ở biên giới tỉnh Lạng Sơn từ đổi mới (1986) đến nay [54]; Ngô Thị Phương Lan trong Sinh kế của các tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer ở Bình Phước trong bối cảnh phát triển hiện nay [72], Mối quan hệ giữa môi trường và sinh kế trong hoạt động kinh tế biển của cư dân huyện đảo Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang [75], Các dạng thức sinh kế của cư dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh: sự tương tác của yếu
tố chính sách, thị trường và môi trường [73]; Bùi Bích Lan trong Hoạt động mưu sinh của người Kháng ở xã Chiềng Bôm, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La [78]; Nguyễn Đăng Hiệp Phố trong Sinh kế người Mạ ở vườn Quốc gia Cát Tiên [92]; Huỳnh Ngọc Thu trong Hoạt động kinh tế của các tộc người thiểu số tại chỗ ở Đông Nam Bộ: truyền thống và biến đổi [95]; Nguyễn Văn Sửu với công trình nghiên cứu Khung sinh kế bền vững: Một cách phân tích toàn diện về phát triển và giảm nghèo [88]; … Đặc biệt, công trình nghiên cứu về khung sinh kế của Nguyễn
Văn Sửu đ được nhiều NCS sử dụng làm khung phân tích chính trong luận án
Qua tổng quan các công trình nghiên cứu từ sau 1975 đến nay luận án nhận thấy, nghiên cứu về sinh kế của các học giả trong nước rất đa dạng, phong phú Càng về sau các công trình nghiên cứu càng đi sâu vào phân tích sâu từng vấn đề cụ thể, từ đó đưa ra những định hướng cũng như giải pháp nhằm giúp cho các nhà hoạch định chính sách có cái nhìn bao quát và khách quan Đây chính là nguồn tư liệu quý giúp chúng tôi có cái nhìn đa chiều trong tiếp cận và nghiên cứu vấn đề mà luận án hướng đến
1.1.2 Những nghiên cứu về sinh kế của người Chil
Nước ta là một nước nông nghiệp do đó hoạt động sinh kế nông nghiệp có vai trò quan trọng đối với các dân tộc thiểu số Các tác giả khi nghiên cứu về hoạt động sinh kế trong truyền thống của các dân tộc ở Lâm Đồng nói chung, người Chil nói riêng như: [18], [26], [27], [35], đều cho rằng các dân tộc thiểu số tại chỗ chủ
Trang 20yếu sinh sống bằng nghề trồng trọt Tuy nhiên, do đặc thù địa hình nên có sự khác nhau về hình thức canh tác cũng như hình thức cư trú giữa các nhóm địa phương
Khi đề cập đến sinh kế chủ đạo của người Cơ Ho, Phan Ngọc Chiến [18] cho rằng đó là trồng trọt, ngoài ra còn có chăn nuôi và khai thác tự nhiên Theo ông, tất
cả các nhóm địa phương của dân tộc Cơ Ho đều làm rẫy bằng lối du canh theo chu
kỳ, cây lương thực chính của các nhóm Cơ Ho là lúa, riêng nhóm Chil là b p Trong bài viết của mình, Nguyễn Văn Diệu cũng cho rằng, các dân tộc ít người ở Lâm Đồng sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng trọt Tuy nhiên, do điều kiện địa lý, địa
hình nên mỗi nhóm có những n t canh tác riêng biệt “Các dân tộc ít người tỉnh Lâm Đồng sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng trọt Các nhóm sinh sống trên những vùng núi cao, vùng xa xôi hẻo lánh ít có điều kiện tiếp xúc với các dân tộc khác như người Chil, người Mạ, đốt rừng làm rẫy là phương thức canh tác chủ yếu” [26] Đồng quan điểm trên, Bùi Minh Đạo cũng cho rằng, “Trồng trọt là hoạt động sản xuất truyền thống chính yếu của người Cơ Ho Tùy theo địa hình và đất đai mà tồn tại ở các nhóm địa phương những hình thức trồng trọt khác nhau” [35]
Sau khi đất nước tiến hành đổi mới (1986), những công trình nghiên cứu riêng về các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên nói chung, Lâm Đồng nói riêng được các học giả quan tâm nghiên cứu nhiều hơn Khi phân tích, đánh giá những tác động
về các chính sách kinh tế x hội dưới thời Pháp – Mỹ, đối với các hoạt động sinh kế của các dân tộc tại chỗ ở Lâm Đồng, các nhà nghiêu cứu cho rằng, với chính sách dồn dân lập ấp chiến lược, tước đoạt đất đai, lập đồn điền đ làm cho cuộc sống cũng như hoạt động sinh kế của các dân tộc tại chỗ có nhiều biến đổi, được thể hiện qua một số công trình nghiên cứu như: [26], [36], [45]
Trong thời gian gần đây, các học giả có xu hướng đi sâu nghiên cứu từng cộng đồng dân tộc cụ thể, kể cả các nhóm địa phương như nhóm người Chil Do đó, các bài viết, công trình nghiên cứu về người Chil – với tư cách là một nhóm độc lập
b t đầu xuất hiện như: [19], [46], [96], [98] Trong bài viết Một số đặc điểm kinh tế
- xã hội của người Chil ở xã Đa Sar [23], Nguyễn Viết Cường phân tích khá chi tiết
những thay đổi của cộng đồng người Chil từ sau khi đất nước giải phóng từ kinh tế,
Trang 21văn hóa, x hội, tôn giáo Tuy nhiên, bài viết chỉ gói gọn trong một xã thuộc vùng sâu xa của huyện Lạc Dương Công trình nghiên cứu về người Chil gần đây nhất là
của Phạm Thanh Thôi với tựa đề Sự biến đổi trong hôn nhân của người Chil ở Lâm Đồng Mặc dù công trình nghiên cứu về hôn nhân, nhưng trong chương 1, Phạm
Thanh Thôi dành gần 10 trang nói về những yếu tố chủ quan và khách quan đ tác
động làm cho sinh kế của người Chil có những thay đổi nhất định, “về phương diện sản xuất kinh tế đã có nhiều chuyển đổi Họ đã có quá trình sản xuất, trao đổi và tiêu dùng các sản phẩm kinh tế trong bối cảnh các quan hệ kinh tế thị trường”[96]
Qua tổng quan những công trình nghiên cứu trên, các bài viết giúp luận án nhận diện được các hoạt động sinh kế truyền thống cũng như sự biến đổi của các hoạt động sinh kế qua các thời kỳ lịch sử của các dân tộc tại chỗ ở Lâm Đồng Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu về sự biến đổi sinh kế hiện nay của người Chil so với truyền thống Do đó, việc nghiên cứu để góp thêm nguồn
tư liệu khoa học liên quan đến sự biến đổi sinh kế của người Chil trong bối cảnh phát triển bền vững là vấn đề thiết thực
1.1.3 Đánh giá kết quả các công trình nghiên cứu đã công bố
Trong khuôn khổ luận án, chưa thể tổng quan và đánh giá đầy đủ các nghiên cứu liên quan đến sinh kế trước đây Tuy nhiên, qua tổng quan những công trình trên, chúng tôi có một số nhận xét sau:
Về ưu điểm: Hầu hết các công trình nghiên cứu đều đề cập đến tầm quan trọng
của hoạt động sinh kế đối với đời sống các dân tộc nói chung, dân tộc thiểu số nói riêng Các công trình nghiên cứu tập trung làm rõ một số vấn đề như khái niệm sinh kế; tầm quan trọng của sinh kế đối với đời sống con người, đối với sự phát triển văn hóa, xã hội; sinh kế đối với phát triển bền vững,… Đây là nguồn tư liệu quan trọng giúp luận án có cái nhìn tổng thể, toàn diện và hiểu r hơn những vấn đề lý luận về sinh kế như: khái niệm, vai trò, tầm quan trọng, khung phân tích cũng như đưa ra các chỉ tiêu nghiên cứu, đánh giá về sự biến đổi sinh kế hiện nay so với truyền thống của các dân tộc nói chung, người Chil nói riêng Trong quá trình nghiên cứu
về sinh kế luận án có tham khảo, kế thừa các khái niệm về sinh kế, vai trò của sinh
Trang 22kế,… từ các tác giả như Trần Bình, Phạm Quang Hoan, Nguyễn Thị Tám, Nguyễn Văn Sửu, Ngô Thị Phương Lan, Bùi Minh Đạo,… Bên cạnh đó, để làm r hơn sự biến đổi trong sinh kế của người Chil luận án sử dụng phương pháp điền d Nhân học/Dân tộc học nhằm bổ sung tư liệu cho luận án
Hạn chế: Mặc dù các công trình nghiên cứu liên quan đến sinh kế rất đa dạng,
tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau tuy nhiên vẫn chưa có công trình nào chuyên sâu nói về sinh kế của người Chil Và đây cũng là điểm mới của luận án
Những công trình đề cập đến nội hàm và các khái niệm liên quan đến sinh kế
có thể kể đến như sau: Công trình “Nhân học một quan điểm về tình trạng nhân sinh” của Emily A Schultz-Robert H Lavenda (do Phan Ngọc Chiến, Hồ Liên Biện dịch) đ sử dụng thuật ngữ “phương thức mưu sinh” và “phương cách sinh tồn” để nói về sinh kế Theo đó, sinh kế là cách “con người tự tạo ra những phương thức,
sử dụng các mối quan hệ giữa họ với nhau và với môi trường tự nhiên để kiếm sống Sinh tồn là một từ được dùng để chỉ việc thoả mãn những nhu cầu vật chất thiết yếu nhất để tồn tại của con người, chủ yếu là nhu cầu về thức ăn, quần áo và chỗ ở Những cách khác nhau mà con người ở các xã hội khác nhau dùng để thoả mãn những nhu cầu này được gọi là những phương cách sinh tồn” [48; 418] Và để
phân biệt giữa những người thu nhặt lương thực và sản xuất lương thực, các tác giả
đ đề xuất một sơ đồ các thành tố hợp thành phương cách sinh tồn và được nhiều nhà khoa học chấp nhận, theo đó, phương cách sinh tồn ở cấp một gồm hai yếu tố
hợp thành: thu lượm lương thực và sản xuất lương thực Ở cấp độ hai, sản xuất lương thực lại gồm hai thành tố hợp thành là chăn nuôi và trồng trọt Ở cấp độ ba,
Trang 23trồng trọt lại hợp thành bởi ba thành tố bộ phận là nông nghiệp quảng canh, nông nghiệp thâm canh và nông nghiệp cơ giới hóa mang tính chất công nghiệp
Trong các công trình nghiên cứu của mình, tác giả Trần Bình sử dụng cụm từ
“tập quán mưu sinh”, “hoạt động mưu sinh” khi nghiên cứu về hoạt động sinh kế
của các dân tộc thiểu số ở phía B c [10], [11] Trần Bình cho rằng, tập quán mưu sinh là một trong những thành tố quan trọng của văn hóa tộc người Do đó, nó có mối quan hệ mật thiết với văn hóa nhằm đảm bảo đời sống, văn hóa x hội và văn hóa nhận thức Ngoài ra, cũng có mối quan hệ chặt chẽ với các yếu tố môi sinh, có
sự giao lưu, tiếp biến với các cộng đồng khác
Robert Champers được coi là một trong những người đầu tiên sử dụng khái niệm sinh kế Theo ông, sinh kế gồm năng lực, tài sản, cách tiếp cận (sự dự trữ, tài nguyên, quyền sở hữu, quyền sử dụng) và các hoạt động cần thiết cho cuộc sống” [118] Nguyễn Văn Sửu đ định nghĩa sinh kế theo khung phân tích sinh kế bền
vững của DFID (Bộ phát triển quốc tế Anh): “sinh kế bao gồm các khả năng, các tài sản (bao gồm cả các nguồn lực vật chất và xã hội) và các hoạt động cần thiết để kiếm sống” [88, tr7]
Các công trình nghiên cứu, luận án về Nhân học gần đây của các nhà nghiên cứu trong nước khi nói về hoạt động kinh tế, hoạt động mưu sinh của các dân tộc thường sử dụng cụm từ “sinh kế” [51], [52], [54], [56], [65], [72], [82] [88], [92], [95], Trong nghiên cứu của mình, Nguyễn Thị Tám [100] sử dụng cụm từ “sinh kế” khi nói về cách thức kiếm sống của nhóm cư dân vạn chài dọc sông Lô Trong
bài nghiên cứu “Sinh kế tộc người: các hướng tiếp cận nghiên cứu”, Ngô Thị Phương Lan cho rằng, “sinh kế được hiểu là các hoạt động phục vụ cho quá trình sinh sống của con người ở các xã hội khác nhau Hoạt động sinh kế là cách thức mưu sinh của con người trong các xã hội Sinh kế vừa là sự thích nghi của con người với môi trường sinh thái đặc thù của từng vùng miền, trên nền tảng các hoạt động thích nghi chung của con người với môi trường tự nhiên, vừa là sự thích nghi với môi trường xã hội.” [74; 2]
Trang 24Mặc dù các tác giả sử dụng các cụm khác nhau khi đề cập đến sinh kế nhưng nội hàm cơ bản giống nhau Những khái niệm này đều được sử dụng để chỉ các hoạt động sản xuất, săn b n, hái lượm, trao đổi, nhằm tạo ra sản phẩm để đáp ứng nhu cầu ăn, ở, sinh hoạt của con người Hay nói cách khác, sinh kế là những phương thức kiếm sống nhằm thỏa m n các nhu cầu vật chất như: ăn, mặc, ở và sinh hoạt của cá nhân, của cả cộng đồng, của các dân tộc
Trong luận án này, chúng tôi sử dụng thuật ngữ sinh kế khi đề cập đến các
hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, nghề thủ công và khai thác tự nhiên, các hoạt động kinh tế khác của người Chil ở Khu dự trữ sinh quyển Lang Biang
Khi nói về hoạt động sinh kế của các dân tộc tại chỗ Tây Nguyên, tác giả Bùi
Minh Đạo cho rằng “canh tác nương rẫy là hoạt động truyền thống chính yếu của hầu hết các dân tộc tại chỗ Tây Nguyên” [32;41]; hay “trồng trọt là hoạt động sản xuất chính yếu của người Cơ Ho”; hay khi nói về hoạt động sinh kế cổ truyền của các dân tộc tại chỗ ở Lâm Đồng, Nguyễn Văn Diệu cho rằng, “Các dân tộc ít người tỉnh Lâm Đồng sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng trọt Nhưng do môi trường địa lý
và tác động xã hội của mỗi vùng có khác nhau nên ngành trồng trọt ở từng nhóm có những nét riêng biệt” [27;75]… Như vậy, từ truyền thống ở đây được hiểu là thói
quen trong hoạt động sinh kế của các dân tộc thiểu số được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác
Trang 25Trong luận án sử dụng thuật ngữ “sinh kế truyền thống” để chỉ các hoạt động sản xuất như: trồng trọt, chăn nuôi, các nghề thủ công, và các hoạt động khai thác
tự nhiên như: săn b t, hái lượm, được hình thành trước năm 1986
- Biến đổi
Biến đổi (change) được hiểu là quá trình vận động, phát triển, thay đổi của các
hiện tượng, sự vật Nhìn ở khía cạnh lịch sử, mọi x hội, mọi lĩnh vực đều đang diễn
ra quá trình biến đổi, đan xen những sự tiếp nối và biến đổi
Định nghĩa về biến đổi, Ngô Đức Thịnh trong công trình nghiên cứu Những mảng màu văn hóa Tây Nguyên [99] đ chỉ ra rằng, “Trong truyền thống, nếp sống nương rẫy của các dân tộc tại chỗ Tây Nguyên đã chi phối hầu hết các quan hệ xã hội cộng đồng với mô hình cơ bản của các dân tộc người là buôn làng Bước sang thời kỳ hiện đại, ở Tây Nguyên vẫn còn dấu vết của các tổ chức xã hội trên làng Cũng do kinh tế nương rẫy và trình độ phát triển xã hội tương ứng mà nền văn hóa các dân tộc ở đây chưa vượt qua trình độ văn hóa phi chữ viết và phi nhà nước”
Trong những thập niên gần đây, Nhà nước đ ban hành nhiều chính sách về phát triển kinh tế - x hội, di dân,… làm cho Tây Nguyên nói chung, Lâm Đồng nói riêng có nhiều biến động, đặc biệt là trong quan hệ về sở hữu đất đai và tài nguyên rừng Bùi Minh Đạo, khi phân tích về những vấn đề cơ bản của Tây Nguyên trong phát triển bền vững [39] đ chỉ ra rằng, các dân tộc tại chỗ ở Tây Nguyên đa số đều
lệ thuộc vào nương rẫy với kỹ thuật canh tác tương đối đơn giản nên rất khó khăn trong việc áp dụng các tiến bộ của khoa học kỹ thuật Do đó, công nghiệp muốn du nhập vào đời sống đồng bào gặp rất nhiều khó khăn, cản trở và cần có thời gian Đề cập đến sự biến đổi của cộng đồng người Chil ở Lâm Đồng, Phạm Thanh Thôi [96] cho rằng, về phương diện sản xuất kinh tế đ có nhiều thay đổi, việc trao đổi hàng hóa nông sản, công nghiệp,… luôn luôn sôi động, việc kết nối các mối quan hệ kinh
tế - x hội với các cộng đồng cư dân bên ngoài thay vì sống kh p kín như trước đây
Qua phân tích trên cho thấy, biến đổi là một quy luật vận động tất yếu của sự
vật, hiện tượng, trong đó có hoạt động sinh kế Hiện nay, dưới tác động của các chính sách Nhà nước, cũng như quá trình giao lưu và hội nhập, sự biến đổi trong sinh kế
Trang 26của các dân tộc diễn ra ngày càng sâu s c hơn Do đó, luận án coi sự biến đổi trong sinh kế của người Chil là một quy luật tất yếu khách quan và xem x t chúng trong những bối cảnh cụ thể dẫn tới sự biến đổi
- Khu dự trữ sinh quyển thế giới
Theo định nghĩa của UNESCO, Khu dự trữ sinh quyển thế giới là những khu vực hệ sinh thái bờ biển hoặc trên cạn giúp thúc đẩy các giải pháp điều hòa việc bảo tồn sự đa dạng sinh học với việc phát triển bền vững khu vực có giá trị nổi bật, được quốc tế công nhận Khu dự trữ sinh quyển thế giới được tổ chức thành 3 vùng: vùng
l i, vùng đệm và vùng chuyển tiếp
Khu dự trữ sinh quyển Lang Biang có diện tích 275,439 ha thuộc địa giới hành chính tỉnh Lâm Đồng Trong đó vùng l i là 34.943 ha nằm trong Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà thuộc huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng (x Đưng K’nớ, thôn Đưng Ksi, thôn Klong Klanh thuộc x Đa Chais); vùng đệm là 72.232 ha thuộc một phần huyện Lạc Dương (Đa Nhim, Đạ Chais, x Lát, Đa Sar) và huyện Đam Rông; vùng chuyển tiếp là 168.264 ha thuộc các huyện Đơn Dương, Lâm
Hà, Đức Trọng, Thành phố Đà Lạt và Thị trấn Lạc Dương [64] Như vậy, theo địa giới hành chính, toàn bộ huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng nằm trong Khu dự trữ sinh quyển Lang Biang
Theo UNESCO, vùng lõi là khu vực ưu tiên cho bảo tồn đa dạng sinh học và giám sát các hệ sinh thái, các hoạt động nghiên cứu, giáo dục không ảnh hưởng tới
đa dạng sinh học có thể được tiến hành ở đây
Định nghĩa vùng đệm của Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế IUCN như
sau: “Vùng đệm là những vùng được xác định ranh giới rõ ràng, có hoặc không có rừng, nằm ngoài ranh giới của khu bảo tồn và được quản lý để nâng cao việc bảo tồn của khu bảo tồn và chính vùng đệm đồng thời mang lại lợi ích cho nhân dân sống quanh khu bảo tồn Điều này có thể thực hiện được bằng cách áp dụng các hoạt động phát triển cụ thể, đặc biệt góp phần vào việc nâng cao đời sống kinh tế –
xã hội của các cư dân sống trong vùng đệm” [64] Theo UNESCO, vùng đệm là
Trang 27vùng bao quanh hoặc tiếp giáp vùng l i Ở vùng đệm có thể tiến hành các hoạt động kinh tế, nghiên cứu, giáo dục và giải trí nhưng không ảnh hưởng đến vùng lõi
Theo Quyết định số 08/2001/QĐ – TTg của Chính phủ, vùng đệm là: “Vùng rừng hoặc vùng đất đai, mặt nước nằm sát ranh giới với các vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên; có tác động ngăn chặn hoặc giảm nhẹ sự xâm phạm khu rừng đặc dụng Mọi hoạt động trong vùng đệm phải nhằm mục đích hỗ trợ cho công tác bảo tồn, quản lý và bảo vệ khu rừng đặc dụng; hạn chế di dân từ bên ngoài vào vùng đệm; cấm săn bắt, bẫy bắt các loài động vật và chặt phá các loài thực vật hoang dã là đối tượng bảo vệ” Vùng chuyển tiếp là phần nằm ở ngoài cùng Tại
đây các hoạt động kinh tế vẫn duy trì bình thường trên cơ sở phát triển bền vững nguồn lợi tài nguyên thiên nhiên mà khu dự trữ sinh quyển đem lại
1.2.2 Cơ sở lý thuyết
Nghiên cứu về sinh kế của người Chil ở Khu dự trữ sinh quyển Lang Biang, chúng tôi dựa trên cơ sở lý luận là Phép biện chứng của Chủ nghĩa duy vật biện chứng Xem xét sự hình thành, tồn tại và phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội trong mối quan hệ biện chứng với các thành tố khác trong đời sống như môi trường
tự nhiên, môi trường văn hóa - xã hội, điều kiện lịch sử và tâm lý tộc người,… Ngoài ra, luận án sử dụng cách tiếp cận lý thuyết Sinh thái văn hóa nhằm tìm hiểu
sự biến đổi và thích nghi trong hoạt động sinh kế của người Chil trước những tác động do các nguyên nhân khách quan và chủ quan đưa đến
*Lý thuyết sinh thái văn hóa
Lý thuyết sinh thái văn hóa xuất hiện vào những năm 1950 và phát triển mạnh mẽ vào những năm 1960 ở Mỹ Đây là lý thuyết quan trọng về văn hóa trong ngành nhân học, chỉ ra mối quan hệ g n bó giữa môi trường tự nhiên và văn hóa, trong đó môi trường tự nhiên là cơ sở cho sự hình thành các mô hình văn hóa khác nhau Người đặt nền móng cho lý thuyết sinh thái học văn hóa là nhà nghiên cứu văn hóa người Mỹ tên gọi Julian Haynes Steward (1902-1972) Triết lý cơ bản của
lý thuyết này là môi trường sống và văn hóa con người có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại và g n bó chặt chẽ với nhau Trong các nghiên cứu của mình, ông đặc
Trang 28biệt quan tâm đến mối quan hệ tương tác giữa con người, môi trường, kỹ thuật, cấu trúc x hội cũng như cách thức tổ chức công việc Cụ thể là các nguồn tài nguyên ảnh hưởng như thế nào đến cuộc sống tự cung tự cấp của mỗi cộng đồng; kỹ thuật
và việc tổ chức lao động nhằm khai thác các nguồn tài nguyên đó; cách thức mà các yếu tố này ảnh hưởng đến các khía cạnh khác của văn hóa Hay nói cách khác, ông quan tâm nghiên cứu các hoạt động sinh kế khác nhau và từ đó tìm ra các khía cạnh khác nhau của văn hóa Như vậy, cách tiếp cận của Steward nhấn mạnh đến mối quan hệ qua lại giữa môi trường và văn hóa, ông xem sự biến đổi văn hóa là kết quả của quá trình thích ứng của các nền văn hóa với môi trường sinh thái địa phương
Và ông đặc biệt nhấn mạnh đến những tri thức, cách thực hành văn hóa và sinh thái của các cộng đồng địa phương mà ông từng nghiên cứu đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ nguồn tài nguyên, đa dạng sinh học và là cơ sở của sự phát triển bền vững cả về kinh tế lẫn văn hóa tộc người
Như vậy, mỗi văn hóa hình thành, tồn tại đều là kết quả của sự thích nghi với môi trường sinh sống, gồm có môi trường tự nhiên và môi trường x hội Nếu chúng ta hiểu văn hóa theo nghĩa rộng gồm cả sinh kế thì mối quan hệ chặt chẽ giữa môi trường tự nhiên với sinh kế, trong đó môi trường quy định sinh kế, môi trường
tự nhiên nào sẽ tạo ra sinh kế đó Hay nói cách khác, sinh thái văn hóa là quá trình thích ứng văn hóa của một dân tộc đối với môi trường tự nhiên
Trong nghiên cứu “Sinh kế của người Chil ở Khu dự trữ sinh quyển Lang Biang, tỉnh Lâm Đồng: truyền thống và biến đổi”, chúng tôi vận dụng lý thuyết sinh
thái văn hóa nhằm tìm hiểu mối quan hệ tương tác giữa người Chil với môi trường
tự nhiên, cấu trúc xã hội, kỹ thuật và phương pháp khai thác môi trường trong truyền thống có sự thay đổi như thế nào so với hiện nay Đồng thời, xem xét cấu trúc xã hội với tư cách là nhân tố điều chỉnh mối quan hệ giữa con người và môi trường trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước trong thời gian qua (từ sau giải phóng đến nay) đ tác động đến sinh kế và sự thích ứng của người Chil như thế nào Bên cạnh đó, chúng tôi cũng muốn tìm hiểu xem những tri thức địa phương, cách thức thực hành văn hóa của cộng đồng người Chil
Trang 29tại điểm nghiên cứu đóng vai trò như thế nào trong việc bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, đa dạng sinh học ở Khu dự trự sinh quyển Lang Biang
*Lý thuyết khung sinh kế bền vững
Khung sinh kế bền vững do Bộ Phát triển Quốc tế Anh (Department for International Development – DFID) được các học giả và các cơ quan phát triển ứng
dụng rộng rãi trong phân tích về sinh kế và đói nghèo Theo Nguyễn Văn Sửu: “sinh
kế bao gồm các khả năng, các tài sản (bao gồm cả các nguồn lực vật chất và xã hội) và các hoạt động cần thiết để kiếm sống” [88, tr7] Khung sinh kế bền vững lấy
con người và sinh kế của làm đối tượng phân tích từ đó đưa ra những giải pháp nhằm hướng đến giảm nghèo và phát triển bền vững, hài hòa với môi trường sống Khung phân tích sinh kế bền vững được xem là cách tiếp cận toàn diện về phân tích sinh kế và giảm nghèo vì nó cho rằng con người không sống độc lập với môi trường xung quanh nó Do đó, khi nghiên cứu về sinh kế của một đối tượng cụ thể cần xem xét nó với tương quan trong khu vực, cộng đồng dân tộc, môi trường sinh thái,… Hay nói cách khác, một sinh kế được coi là bền vững khi nó có khả năng ứng phó
và phục hồi khi bị tác động, hay có thể thúc đẩy các khả năng và tài sản ở cả thời điểm hiện tại và trong tương lai trong khi không làm xói mòn nền tảng của các nguồn lực tự nhiên[dẫn theo Nguyễn Văn Sửu, [88]]
Trong nghiên cứu “Sinh kế của người Chil ở Khu dự trữ sinh quyển Lang Biang, tỉnh Lâm Đồng: truyền thống và biến đổi”, chúng tôi vận dụng lý thuyết
khung sinh kế bền vững nhằm duy trì, phát triển các nguồn lực hiện nay và trong tương lai nhằm đưa ra giải pháp trong phát triển sinh kế bền vững của người Chil ở Khu dự trữ sinh quyển Lang Biang
Trang 30*Khung phân tích
1.3 Khái quát về huyện Lạc Dương và người Chil tại Khu dự trữ sinh quyển Lang Biang
1.3.1 Tổng quan về huyện Lạc Dương
Huyện Lạc Dương được thành lập ngày 14/3/1979 trên cơ sở tách 3 x Đạ Long, Đạ M’rông, Đạ Tông thuộc huyện Đức Trọng và xã Kil Pla Gnol thuộc huyện Đơn Dương và x Lát thuộc thành phố Đà Lạt theo quyết định số 116/CP, của Hội đồng chính phủ Lúc mới thành lập, Lạc Dương có 5 xã và 1 thị trấn: thị trấn Lạc Dương, x Đạ Long, Đạ M'rông, Đạ Tông, Kil Pla Gnol, xã Lát Năm 1983, chia x Kil Pla Gnol thành hai xã lấy tên là x Đạ Chais và x Đạ Sar theo Quyết định 22-HĐBT năm 1983 về việc phân vạch địa giới một số xã thuộc tỉnh Lâm Đồng Năm
1999, tiếp tục chia x Đạ Long thành 2 x : Đạ Long và Đưng Knớ theo Nghị định 79/1999/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới xã thuộc các huyện Lạc Đương, Lâm
Hà và Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng Do địa hình hành chính khá rộng, địa hình phức tạp, gây khó khăn trong quá trình quản lý, phát triển kinh – tế xã hội cũng như an
Môi trường sinh thái
Sinh kế truyền thống
Tri thức địa phương
Chính sách của Nhà nước
Kinh tế thị trường
Khoa học kỹ thuật
Thay đổi môi trường sinh thái
Biến đổi sinh
Trang 31ninh quốc phòng nên ngày 17/11/2004, Chính phủ ban hành Nghị định 189/2004/NĐ-CP, về việc thành lập xã thuộc các huyện Lạc Dương, Lâm Hà và thành lập huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng, theo đó chia x Đạ Chais thành 2 xã:
Đạ Chais và Đạ Nhim đồng thời tách 3 x Đạ Long, Đạ M'rông, Đạ Tông để thành lập huyện Đam Rông Trải qua nhiều đợt chia tách, điều chỉnh địa giới đến nay huyện Lạc Dương có 6 đơn vị hành chính gồm 1 thị trấn và 5 xã (thị trấn Lạc Dương, x Đạ Sar, Đạ Nhim, Đưng K’nớ, xã Lát, Đa Chais) [75]
Về vị trí địa lý: Lạc Dương là huyện miền núi nằm ở phía Đông B c của tỉnh
Lâm Đồng có ranh giới giáp huyện Đam Rông, huyện Lâm Hà, Thành phố Đà Lạt, huyện Đơn Dương, tỉnh Ninh Thuận, tỉnh Khánh Hòa và tỉnh Đ k L k Lạc Dương được xem là nóc nhà của Lâm Đồng và Tây Nguyên, với độ cao trung bình 1.700m, cao nhất trong các huyện thuộc các tỉnh vùng Tây Nguyên Trên địa bàn huyện có các ngọn núi cao trên 2.000m, như: núi Bi Doup (2.287m), núi Lang Biang (2.167m), núi Chư Yên Du (2.075m) Độ cao trung bình 1.500-1.600m so với mặt nước biển Lạc Dương là nơi đầu nguồn của sông Đa Nhim Lạc Dương là khu vực
có giá trị cao về cảnh quan tự nhiên, đa dạng sinh học với nhiều nguồn gen động thực vật quý hiếm, đặc trưng cho hệ sinh thái rừng á nhiệt đới Theo địa giới hành chính, toàn bộ huyện Lạc Dương thuộc Khu dự trữ sinh quyển Lang Biang bao gồm
cả vùng l i, vùng đệm và vùng chuyển tiếp
Về địa hình: Lạc Dương có địa hình tương đối phức tạp với 3 dạng địa hình
chính là núi cao, đồi thấp đến thung lũng Diện tích tự nhiên 131.233ha (trong đó: đất sản xuất nông nghiệp là 7.036 ha, đất lâm nghiệp là 114.976 ha, đất phi nông nghiệp là 1.677 ha, còn lại là các loại đất khác) [106] Hầu hết diện tích đất lâm nghiệp ở Lạc Dương là rừng đầu nguồn
Khí hậu: Lạc Dương nằm trong vùng khí hậu ôn đới, nhiệt độ trung bình
hàng năm tương đối thấp từ 18 – 22°C Do đó quanh năm ôn hòa, mát mẻ, trong lành rất thích hợp cho việc phát triển du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng,… Khí hậu ở đây được chia thành 2 mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa Mùa mưa thường b t đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 10
Trang 32Về kinh tế: Hoạt động kinh tế chủ yếu của huyện là sản xuất nông nghiệp
nhưng những năm gần đây, kinh tế huyện chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đặc biệt, từ khi Lang Biang trở thành khu dự trữ sinh quyển thế giới, ngành du lịch được huyện Lạc Dương xác định là ngành kinh tế mũi nhọn dựa vào việc khai thác các lợi thế về điều kiện tự nhiên, sinh thái, truyền thống văn hóa của các tộc người tại chỗ, Hiện nay, tỷ trọng ngành nông-lâm nghiệp-thủy sản chỉ còn chiếm 51,1% trong khi đó tỷ trọng ngành công nghiệp – xây dựng chiếm 17,7% và ngành dịch vụ chiếm 31,2% Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) hàng năm ước đạt trên 22% Thu nhập bình quân đầu người năm 2015 là 29,9 triệu đồng/người/năm; năm 2019 là 38 triệu đồng/người/năm [109]; Việc hoàn thành tuyến đường nối thành phố Đà Lạt với tỉnh Khánh Hòa và tuyến đường Đông Trường Sơn giúp cho huyện có cơ hội phát triển kinh tế, đặc biệt là các loại hình du lịch
Về văn hóa – xã hội: Cùng với sự phát triển kinh tế, lĩnh vực văn hóa – xã
hội của huyện cũng đạt nhiều thành tựu quan trọng Khi mới thành lập dân số của huyện chủ yếu là người Lạch, người Chil, chiếm 98% dân số [68] Đa số dân cư của huyện lúc bấy giờ đều không biết chữ nhưng hiện nay huyện đ hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở Mạng lưới trường học cũng như đội ngũ giáo viên đáp ứng tốt yêu cầu phát triển sự nghiệp giáo dục Hệ thống y tế được quan tâm đầu tư phát triển đáp ứng tốt cho nhu cầu chăm sóc sức khỏe người dân trên địa bàn huyện Hiện nay, huyện có bình quân 9 bác sỹ/1 vạn dân 100% các trạm y tế x đạt chuẩn quốc gia Đặc biệt, huyện rất quan tâm đến công tác xóa đói giảm nghèo Năm
2018, tỷ lệ hộ nghèo chung toàn huyện giảm còn 3,99%, riêng hộ độc bào dân tộc thiếu số giảm còn 5,26% [109]
1.3.2 Khái quát về người Chil tại địa bàn nghiên cứu
Theo Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam năm 2009 dân tộc Cơ Ho
có 6 nhóm địa phương (Cơ ho Srê, Cơ ho Chil, Cơ ho Nộp, Cơ ho Lạch, Cơ ho T’ring và Cơ ho Cờ Dòn), người Chil là một trong 6 nhóm địa phương của dân tộc
Cơ Ho Hiện nay, khi thống kê dân số cán bộ địa phương gộp chung 6 nhóm địa
Trang 33phương của dân tộc Cơ Ho làm một do đó số liệu riêng về người Chil ở từng xã hầu như không có
Trong truyền thống, địa bàn cư trú của người Chil là cao nguyên Lang Biang, trong khu vực vườn quốc gia Bidoup Núi Bà, tức là vùng l i và vùng đệm của Khu
dự trữ sinh quyển Lang Biang hiện nay Theo địa giới hành chính phân ranh giới giữa các huyện/thị ở Lâm Đồng hiện nay, địa bàn sinh sống trước đây của người Chil thuộc huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng Mặc dù là nhóm địa phương của dân tộc Cơ Ho – không đông đảo về số lượng nhân khẩu nhưng người Chil đóng vai trò khá quan trọng trong quá trình khai phá, phát triển khu vực Nam Tây Nguyên, đặc biệt là ở Khu dự trữ sinh quyển Lang Biang, tỉnh Lâm Đồng
Bảng 1.1 Địa àn cư tr của các n t c tại Lang Biang
Địa bàn cư trú của
các dân tộc trong
Khu dự trữ Sinh
quyển Lang Biang
Dân tộc tại chỗ Dân tộc khác di cư tự do
Qua bảng 1, cho thấy ở vùng lõi trước 1975 chỉ có hai cộng đồng sinh sống
đó là người Chil và người Tring Tuy nhiên, nghiên cứu điền dã cho thấy cộng đồng người Tring không phải là dân tộc tại chỗ mà họ di cư đến từ các triền núi giáp ranh giữa tỉnh Lâm Đồng, tỉnh Khánh Hòa và tỉnh Ninh Thuận với mục đích tìm đất sản xuất và do tác động từ cuộc chiến tranh trong khoảng thời gian sau năm 1960 Sau khi chiến tranh kết thúc (1975), một số Bon (làng) của người Chil sau khi giải thể
ấp chiến lược đ sống tập trung thành các thôn riêng và cần kề với người Lạch ở thị trấn Lạc Dương, huyện Lạc Dương
Trang 34Theo số liệu từ công an tỉnh Lâm Đồng, đến ngày 15/11/2017 toàn tỉnh Lâm Đồng có 13.014 hộ với 59.948 nhân khẩu người Chil, trong đó huyện Lạc Dương
có 3.157 hộ với 13.983 nhân khẩu người Chil sinh sống, chiếm 24,26% dân số người Chil toàn tỉnh, là địa bàn có dân số người Chil đông thứ hai của tỉnh Lâm Đồng
Bảng 1.2: Người Chil phân bố trên địa bàn tỉnh L m Đồng
Nguồn: Công an tỉnh Lâm Đồng, năm 2017
Như vậy, trải qua nhiều biến động lịch sử, đến nay địa bàn sinh sống của người Chil đ có sự biến đổi trải dài từ vùng l i, vùng đệm và vùng chuyển tiếp hay nói cách khác, hầu hết các huyện thuộc tỉnh Lâm Đồng đều có người Chil làm ăn và sinh sống
X hội truyền thống của người Chil hiện nay cũng có nhiều thay đổi đáng
kể Trong truyền thống, đơn vị cư trú của người Chil gọi là bon Mỗi bon là một đơn vị x hội độc lập, kh p kín, không phụ thuộc vào bất kỳ một đơn vị x hội nào
khác Đứng đầu bon là già làng (quăng bon) Già làng thường là người đàn ông lớn
Trang 35tuổi, giàu có, được dân kính nể vì là người có nhiều kinh nghiệm sản xuất, khả năng ngoại giao, đặc biệt là am hiểu luật tục của cộng đồng mình Vai trò của già làng rất lớn, bao trùm toàn bộ các vấn đề trong x hội như: về chính trị, già làng là đại diện cao nhất; về kinh tế, già làng điều hành, điều tiết công việc làm ăn, sản xuất, đồng thời quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên của bon; về mặt x hội, già làng có vai trò điều phối các mối quan hệ giữa các thành viên trong bon cũng như giữa làng mình với các làng khác khi có sự việc xảy ra theo luật tục; về mặt ngoại giao, già làng thay mặt bon tiếp đón khách từ các làng khác đến thăm, giao dịch mua bán, hay quyết định các việc lớn như phát động chiến tranh, chuyển làng, chọn đất lập làng,…; về mặt tín ngưỡng, già làng là chủ tế trong các lễ hội,…
Như vậy, trong truyền thống vai trò già làng rất được coi trọng nếu không nói là mang tính quyết định các vấn đề trong bon Hiện nay, vai trò của già làng, trưởng bon dù vẫn được tôn trọng và tham khảo ý kiến nhưng không còn có tính chất quyết định như trước đây Tại các thôn (bon) hiện nay bên cạnh vai trò của già làng còn xuất hiện thêm vai trò của trưởng thôn, người chịu trách nhiệm điều hành các hoạt động trong thôn, làng và giữ mối quan hệ g n kết giữa mọi người trong thôn với chính quyền Sự có mặt của trưởng thôn đ ảnh hưởng và làm giảm vai trò, chức năng của già làng theo kiểu thiết chế xã hội truyền thống trước đây
Bảng 1.3 Người giải quyết những bất hòa giữa các gia đình trong thôn
Già làng Thầy
cúng
Người đứng đầu tôn giáo
Người làm việc trong chính quyền
Người đứng đầu trong dòng họ
Trang 36cung tự cấp, hoạt động trao đổi chủ yếu là vật đổi vật Ngày này, nền kinh tế của người Chil là kinh tế thị trường, mua bán hàng hóa bằng đồng tiền Việt Nam và đang từng bước tham gia vào thị trường lao động trong và ngoài địa bàn cư trú Cơ cấu kinh tế hiện nay của người Chil khá đa dạng ngoài sản xuất nông nghiệp, bảo vệ rừng còn xuất hiện nhiều ngành nghề mới như làm công nhân, mua bán,… Điều đáng chú ý là ý thức tư hữu về đất đai ngày càng r nét nên tính cộng đồng trong sản xuất ngày càng trở nên mờ nhạt
Sự thay đổi về môi trường xã hội, chế độ chính trị và phương thức sản xuất đặc biệt là hai chính sách di dân xây dựng kinh tế mới và chính sách định canh định
cư đ tác động làm biến đổi gần như hoàn toàn diện mạo cũng như x hội truyền thống của người Chil ở Lạc Dương nói chung, tỉnh Lâm Đồng nói riêng
Về mặt xã hội, bon cổ truyền của người Chil là một công xã thị tộc mẫu hệ Người Chil theo chế độ mẫu hệ, con cái sinh ra mang họ mẹ Do đó, dòng họ người Chil gồm những người có cùng huyết thống tính theo dòng họ mẹ Tên dòng họ của người Chil thường g n với huyền thoại về một tổ tiên chung Trong truyền thống, dòng họ người Chil g n kết rất chặt chẽ Và để th t chặt mối quan hệ trong dòng họ, hình thức hôn nhân giữa con cô con cậu rất được khuyến khích
Trong truyền thống, gia đình người Chil phổ biến là loại gia đình lớn mẫu hệ Các thành viên trong gia đình lớn mẫu hệ cùng chung sống trong một ngôi nhà sàn dài, sử dụng chung tài sản và nương rẫy Người đứng đầu ngôi nhà lớn là người phụ
nữ lớn tuổi, có trách nhiệm điều hành mọi thành viên trong nhà Của cải của tất cả các thành viên làm ra đều nhập vào tài sản chung Quyền thừa kế trong gia đình thuộc về những người con gái Trong gia đình người Chil, thường con gái út sẽ ở cùng và nuôi cha mẹ nên được nhận phần thừa kế nhiều hơn các chị em gái khác
Hiện nay, do tác động của chính sách định canh định cư lập vườn phát triển cây thương phẩm nên mô hình gia đình lớn dần tan r và thay vào đó là sự ra đời của các mô hình gia đình hạt nhân, sinh sống trong các ngôi nhà đất giống nhà của người Kinh Ở nhiều gia đình có đất đai rộng, người Chil vẫn giữ lại nhà sàn bên cạnh nhà đất mới xây cất theo kiểu của người Kinh Do theo chế độ mẫu hệ nên
Trang 37người phụ nữ vẫn là chủ gia đình nhưng vai trò của người chồng cũng đ được nâng lên tương đối bình đẳng với vợ Chồng là người đại diện cho tiểu gia đình trong quan hệ với xóm làng, họ hàng và chính quyền
Về hôn nhân, trong truyền thống người Chil xem đây là cơ hội để g n kết gia đình, dòng họ, nói rộng hơn là của bon mình với các bon gần kề Do đó, việc hôn nhân do người lớn tuổi trong gia đình lựa chọn, quyết định và nhà gái đóng vai trò chủ động Người Chil ngăn cấm hôn nhân cùng họ, dù cách nhau mấy đời, kể cả khác bon Tuy nhiên, người Chil lại cho ph p, khuyến khích kết hôn giữa con của các anh em trai Đặc biệt, hình thức hôn nhân con cô con cậu rất được người Chil
khuyến khích, thậm chí là b t buộc “Đối tượng kết hôn là con cô và con cậu, khi nhà cậu làm ăn không được cũng không sợ ai chê cười Cả cậu và cháu (con rể) được coi là người nhà và cùng họ hàng nên giúp đỡ nhau trong mọi hoàn cảnh mà không sợ trách móc, chê bai, nói xấu nhau” [95; 54] Sau hôn nhân, vợ chồng trẻ cư
trú bên nhà vợ Tuy nhiên trước khi về ở hẳn nhà mình, cô gái cũng có khoảng thời gian đi làm dâu, thông thường là khoảng 10 ngày Trong trường hợp, nhà gái quá nghèo không đủ khả năng trả đủ lễ thách cưới của nhà trai thì phải ở lâu hơn, thậm chí là vĩnh viễn Chế độ hôn nhân một vợ một chồng được xác lập bền vững trong cộng đồng người Chil
Ngày nay, mặc dù vẫn theo chế độ mẫu hệ nhưng hình thức hôn nhân con cô con cậu đ bị hạn chế rất nhiều Hiện nay, hôn nhân với người dân tộc khác đ xuất hiện trong cộng đồng người Chil Các nghi lễ trong hôn nhân cũng được giản lược Đặc biệt, hiện nay người Chil có khuynh hướng tổ chức lễ cưới theo hình thức của người Kinh
Về tang ma, khi trong bon có người qua đời, người trong bon dừng hết các công việc đang làm để chia buồn và cùng chủ nhà lo tang lễ Già làng đảm nhận vai trò điều phối, phân công khoảng 10 – 15 người tuổi trung niên và thanh niên khỏe mạnh vào rừng chặt gỗ về làm quan tài Nếu là người vừa qua đời là người già thì
để trong nhà ba ngày, còn là người trẻ chỉ để hai ngày Người Chil quan niệm, con người khi chết sẽ biến thành ma và xuống ở cùng với tổ tiên ở thế giới bên kia nên
Trang 38cũng cần một số tài sản làm ăn sinh sống Do quan niệm, thế giới âm phủ ngược với thế giới người nên những vật dụng chia cho người qua đời cũng phải đảo ngược lại,
“những vật chia cho người chết phải bị phá hủy một góc hoặc biến dạng như quần
áo bị lộn trái hoặc xé rách, bát và ché bị đập mẻ miệng, gùi bị dập một góc, xà gạc hoặc dao được lắp ngược lại để người chết nhận được những tài sản đó”[35; 203]
Ngày nay, việc tổ chức tang ma của người Chil ảnh hưởng từ người Kinh rất nhiều như dùng áo quan đóng sẵn, th p nhang,
Trong truyền thống, người Chil theo tín ngưỡng đa thần với quan niệm “vạn vật hữu linh”, mọi vật đều có linh hồn nên có nhiều nghi lễ Ngày nay, đa số người Chil theo đạo Tin Lành và Thiên Chúa nên họ chỉ tin vào Chúa nên các nghi lễ hầu như bị b i bỏ, chỉ làm lễ theo tôn giáo mình theo
Có thể nói, trước những tác động khách quan và chủ quan, so với truyền thống x hội hiện nay của người Chil đ có nhiều biến đổi
1.3.3 Tổng quan về ba điểm nghiên cứu
Xã Đưng K’nớ huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng
Xã Đưng K’nớ được thành lập vào năm 1999, với diện tích tự nhiên là
19.582,58 ha chia thành 4 thôn (thôn 1, thôn 2, Đưng Trang, Lán Tranh) Địa giới hành chính của x được xác định như sau: phía B c giáp huyện Lăk (tỉnh Đăk Lăk); phía Nam giáp xã Đạ Long và xã Lát; phía Đông giáp x Đạ Chais; phía Tây giáp
Đạ Tông và huyện Lăk (tỉnh Đăk Lăk)
Theo số Quyết định 79/1999/NĐ-CP, dân số xã Đưng K’nớ có 1.146 nhân
khẩu, đến năm 2009 là 1.536 nhân khẩu, trong đó người Cơ Ho (trong các văn bản, giấy tờ gọi chung 6 nhóm địa phương của dân tộc Cơ Ho là dân tộc Cơ Ho) là 1.446 nhân khẩu, chiếm 94.14% dân số toàn xã và năm 2017 dân số tăng lên 2.078 nhân
khẩu Xã Đưng K’nớ nằm trong vùng lõi của Khu dự trữ sinh quyển Lang Biang và
là x khó khăn nhất huyện Lạc Dương Do nằm trong vùng lõi, diện tích đất lâm nghiệp chiếm chủ yếu (17.873,87 ha) [111], giao thông đi lại khó khăn nên từ sau giải phóng cho đến trước năm 2015 hầu như x Đưng K’nớ chỉ có dân tộc Cơ Ho sinh sống trên các triền đồi nên nhà này cách nhà kia khá xa Vào mùa mưa, x
Trang 39Đưng K’nớ gần như bị cô lập Năm 2015, việc hoàn thành tuyến đường nối thành phố Đà Lạt với tỉnh Khánh Hòa và tuyến đường Đông Trường Sơn đ phá vỡ thế cô lập, tạo điều kiện phát triển về mọi mặt đối với Đưng K’nớ
Cơ cấu kinh tế chính của xã là nông nghiệp với trên 900 ha, chủ yếu sản xuất các loại cây công nghiệp ng n ngày và dài ngày Riêng cà phê, cây trồng được coi
là chủ lực hiện nay ở Đưng K’Nớ với hơn 750 ha, song năng suất cà phê những năm gần đây rất thấp do thời tiết thất thường, đặc biệt là hiện tượng sương muối đ ảnh hưởng rất lớn đến năng suất cây trồng, nhất là cây cà phê Ngoài làm nông nghiệp, người dân ở Đưng K’nớ còn có nguồn thu từ quản lý bảo vệ rừng Khoản thu này tuy không nhiều nhưng cũng giúp cho người dân không bị đói
Xã Đạ Sar, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng
X Đạ Sar nằm ở phía Đông B c của huyện Lạc Dương, cách trung tâm huyện Lạc Dương khoảng 12,5km theo tuyến đường ĐT79 và nằm ở phía B c của thành phố Đà Lạt Xã có 6 thôn (thôn đánh theo số thứ tự từ 1 đến 6) Địa giới hành chánh của x được xác định như sau: phía B c giáp x Đạ Chais và Đạ Nhim; phía Nam giáp thành phố Đà Lạt và huyện Lạc Dương; phía Đông giáp huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận; phía Tây giáp xã Lát
Đạ Sar là một xã nghèo nằm trong vùng đệm của Khu dự trữ sinh quyển Lang Biang thuộc huyện Lạc Dương, có diện tích đất tự nhiên là 24.820ha Dân số năm 2009 là 3.931 nhân khẩu, trong đó người Cơ Ho có 3.598 nhân khẩu, chiếm 91,50% dân số toàn xã, đến năm 2017, dân số x Đạ Sar tăng lên 4.026 nhân khẩu
So với diện tích đất dân số của x tương đối ít và phân bố không đều, tập trung rãi rác dọc tuyến đường 723 và trục đường chính của xã và ở các thôn Diện tích đất canh tác là 1.798,74ha; diện tích đất rừng là 21.081ha với đặc điểm rừng phòng hộ
và rừng đặc dụng còn lại là đất khác [113]
Cơ cấu kinh tế chính của xã là nông nghiệp với cây trồng chính là cà phê Ngoài làm nông nghiệp, người dân ở Đạ Sar còn có nguồn thu từ quản lý bảo vệ rừng Khoản thu này giúp cho người dân ổn định cuộc sống tối thiểu của mình
Trang 40Rừng ở x Đạ Sar có vai trò quan trọng là bảo vệ đầu nguồn của hệ thống sông Đa Nhim và rừng đặc dụng (rừng thông) có thể sử dụng với mục đích cho ngành du lịch Rừng Đạ Sar là nơi cư trú của nhiều loại động vật quý hiếm nên cần được chú trọng bảo vệ Hệ thực vật rừng ở x Đạ Sar nằm trong khu vực rừng kín thường xuyên mưa ẩm, ấm áp và khá phong phú về chủng loại
Thị trấn Lạc Dương, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng
Thị trấn Lạc Dương được thành lập vào năm 1979, với diện tích tự nhiên
7.061 ha Dân số năm 2009 là 4.850 nhân khẩu trong đó người Cơ Ho chiếm 52% dân số với 2.522 nhân khẩu Năm 2017 dân số tăng lên 10.790 người, trong đó người Kinh chiếm khoảng 60 – 65% dân số, mật độ dân số đạt 113 người/km² Thị trấn Lạc Dương có 12 tổ dân phố Địa giới hành chánh của x được xác định như sau: phía B c giáp xã Lát; phía Đông giáp Đạ Sar; phía Nam phường 7 thành phố
Đà Lạt; phía Tây giáp xã Lát Khi Khu dự trữ sinh quyển Lang Biang thành lập, thị trấn Lạc Dương nằm ở vùng chuyển tiếp
Thị trấn Lạc Dương có vị trí địa lý mang tính chiến lược của huyện, là đô thị vệ tinh của thành phố Đà Lạt, có bản s c văn hóa truyền thống bản địa đặc
s c và nhiều điểm du lịch nổi tiếng; cảnh quan thiên nhiên đa dạng và lợi thế về đất đai, khí hậu, thổ nhưỡng nên rất thuận lợi trong việc giao lưu và phát triển, đặc biệt là phát triển du lịch, dịch vụ, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao Do
đó, cơ cấu kinh tế của thị trấn Lạc Dương khá đa dạng Với lợi thế về giao thông nên thị trấn Lạc Dương thu hút khá đông các dân tộc về đây làm ăn sinh sống, đặc biệt là người Kinh