Xem xét về vai trò và thực trạng kế toán quản trịmôi trường EMA trong các doanh nghiệp hiện nay, tác giả kết luận rằng đây là nhân tố quyết đinh sự sống còn của doanh nghiệp trong
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC DUY TÂN
MAI THỊ QUỲNH NHƯ
NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC VẬN DỤNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ MÔI TRƯỜNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT TẠI
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
ĐỀ CƯƠNG ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU
Tp Đà Nẵng – Năm 2020
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC DUY TÂN
MAI THỊ QUỲNH NHƯ
NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC VẬN DỤNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ MÔI TRƯỜNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT TẠI
Trang 3Tp Đà Nẵng – Năm 2020
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
KTQT Kế toán quản trị
Trang 5MỤC LỤC
1 Tên đề tài: 3
2 Lý do chọn đề tài 3
3.Tổng quan các công trình liên quan đến nghiên cứu 4
4 Cơ sở lý thuyết 13
5 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 22
6 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 23
7 Phương pháp nghiên cứu 23
8 Đóng góp của nghiên cứu 30
9 Tài liệu tham khảo 31
10 Mục tiêu và mong muốn đạt được khi đăng ký học nghiên cứu sinh 33
11 Kế hoạch để đạt mục tiêu : 33
12 Đề xuất người hướng dẫn 35
13 Kinh nghiệm về nghiên cứu và thực tiễn: 35
Trang 61 TÊN ĐỀ TÀI:
“ Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán quản trị môi trường trong các doanh nghiệp sản xuất tại thành phố Đà Nẵng”
2 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Hiện nay, chúng ta đang sống trong một thế giới có nhiều biến đổi lớn về môitrường: khí hậu biến đổi, nhiệt độ trái đất đang nóng lên, ô nhiễm môi trường ngàycàng nặng nề, dân số tăng nhanh, sức ép của công nghiệp hóa và thương mại toàn cầungày càng lớn (Jennifer, 2010) Tất cả những thay đổi đó đang ảnh hưởng rõ rệt đến sựphát triển kinh tế xã hội của tất cả các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam Đặcbiệt, kể từ sau Hội nghị thượng đỉnh về Trái đất năm 1992 tại Rio de Janeiro cộngđồng doanh nghiệp đã không ngừng nâng cao nhận thức của mình về sự phát triển bềnvững kết hợp với giảm tác động môi trường từ các hoạt động mà họ gây ra, đó cũng
là sự thể hiện trách nhiệm của doanh nghiệp đối với xã hội Doanh nghiệp là một bộphận quan trọng, đóng vai trò chủ đạo và chịu trách nhiệm hạch toán các yếu tố môitrường nhằm hành động bảo vệ môi trường Tuy nhiên, theo đánh giá của Ủy ban Pháttriển bền vững thuộc Liên hợp quốc (UNDSD, 2001) phần lớn hệ thống kế toán hiệntại đã thất bại khi phản ánh chi phí liên quan đến môi trường: (1) Rất nhiều khoản chiphí môi trường đã không được nhận diện đầy đủ bởi hệ thống kế toán quản trị chi phítruyền thống, các khoản chi phí này thường bị bỏ qua không được tính vào chi phí nội
bộ hay chi phí cá thể của đơn vị kế toán; (2) Kế toán truyền thống đã ghi nhận rấtnhiều khoản chi phí môi trường vào chi phí chung, vì thế các nhà quản lý sản xuất đãkhông có động cơ để giảm chi phí môi trường vì họ thường không nhận thấy được sựtồn tại của các khoản chi phí đó Do đó, bảo vệ môi và thông tin liên quan đến môitrường cần được thể hiện trong hệ thống kế toán quản trị và điều này có tác động đáng
kể đến vai trò của kế toán quản trị (Bahramfar, Khajavi và Nazemi, 2007) Nhận thức
về bảo vệ môi trường giúp doanh nghiệp đề ra các chiến lược bảo vệ môi trường vàgiảm thiểu rủi ro liên quan đến môi trường (Godschalk, 2008) Mặt khác, doanhnghiệp sẽ được cung cấp các thông tin chính xác, đầy đủ đáp ứng yêu cầu của các bên
có liên quan và yêu cầu ngày càng nghiêm ngặt hơn của pháp luật và xã hội, từ đó giúpdoanh nghiệp phát triển bền vững trong tương lai( Hower 2004, Godschalk, 2008)
Trang 7Thực tế không thể phủ nhận vai trò của các doanh nghiệp sản xuất tại thành phố
Đà Nẵng như thủy sản đông lạnh, may mặc, lốp ô tô, xi măng, da giày… một số sảnphẩm khác có nhiều tiềm năng phát triển thành các sản phẩm công nghiệp chủ lực mớicủa địa phương như: sản xuất các thiết bị điện, điện tử và linh kiện điện tử- tin học; cơ-kim khí; đóng tàu; sản xuất, lắp ráp ô tô, xe máy; sản xuất đồ uống, dệt và sợi cácloại… Với việc thị trường và sự đa dạng các mặt hàng xuất khẩu này đã góp phần đưakim ngạch xuất khẩu hàng công nghiệp Đà Nẵng tăng liên tục qua các năm 2018-
2019 Tuy nhiên, thực tiễn phát triển “nóng” đang khiến cho thành phố phải đối diệnvới nhiều bất cập như sự gia tăng dân số cùng với hệ lụy từ phát triển du lịch - dịch vụ,
sự suy giảm tài nguyên và thách thức về biến đổi khí hậu Các tiêu chí chưa đạt như tỷ
lệ chất lượng nước tại các khu vực sông, ven biển, nước ngầm; tỷ lệ chất thải rắn sinhhoạt phân loại và tái chế, hạn chế sử dụng túi nilon khó phân hủy và rác thải nhựa; tỷ
lệ các nhà máy kiểm soát ô nhiễm không khí… tiếp tục là vấn đề nan giải của thànhphố
Những sự cố này gây ra sự chú ý của truyền thông và đặt ra bài toán nên lựachọn tăng trưởng hay môi trường Xem xét về vai trò và thực trạng kế toán quản trịmôi trường (EMA) trong các doanh nghiệp hiện nay, tác giả kết luận rằng đây là nhân
tố quyết đinh sự sống còn của doanh nghiệp trong điều kiện áp lực bảo vệ môi trường
từ phía Các cơ quan Nhà nước và cộng đồng xã hội.Thông qua khảo sát sơ bộ, việcthực hiện EMA còn nhiều hạn chế và chưa cung cấp đầy đủ thông tin cho nhà quản lýảnh hưởng lớn đến việc ra quyết định
Từ lý luận và thực tiễn như trên, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Các nhân tố ảnhhưởng đến vận dụng kế toán quản trị môi trường trong các doanh nghiệp sản xuất tạithành phố Đà Nẵng” làm công trình nghiên cứu của mình để có thể phát triển năng lựcnghiên cứu của bản thân đồng thời cung cấp những cơ sở khoa học giúp cho các nhàquản trị tại các doanh nghiệp sản xuất có thể xây dựng được nội dung EMA với việc
sử dụng các phương pháp hiện đại, phù hợp với các điều kiện cụ thể trong doanhnghiệp của mình
3.TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN NGHIÊN CỨU
3.1 Tổng quan về các công trình nghiên cứu trong nước
[1] Luận án tiến sĩ của Hoàng Thị Bích Ngọc (2017): “ Kế toán quản trị chi phí
môi trường trong các doanh nghiệp chế biến dầu khí thuộc tập đoàn chế biến dầu khí
Trang 8quốc gia Việt Nam ” Mục tiêu của luận án là dựa trên khung lý thuyết về EMA và
khảo sát thực trạng về khảo sát thực hiện kế toản quản trị chi phi môi trường trong cácdoanh nghiệp chế biến Dầu khí Đồng thời xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc ápdụng kế toán quản trị chi phí môi trường trong các doanh nghiệp chế biến dầu khíthuộc Tập đoàn PVN Đưa ra các kiến nghị và đề xuất nhằm hoàn thiện kế toán quảntrị chi phí môi trường trong các doanh nghiệp chế biến dầu khí thuộc Tập đoàn PVN.Luận án đã sử dụng cả phương pháp nghiên cứu định tính (khảo sát chuyên gia, nghiêncứu tài liệu…) và định lượng (kiểm định cronbach‘s alpha, EFA, CFA, hồi quy…).Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra các nhân tố: áp lực từ các bên liên quan, mối quan hệ chiphí –lợi ích nhận thức của người chủ sở hữu doanh nghiệp, trình độ của nhân viên kếtoán tác động đến vận dụng EMA vào các doanh nghiệp chế biến dầu khí tại ViệtNam
[2] Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Nga (2017): “Kế toán quản trị chi phí môi
trường trong các doanh nghiệp sản xuất thép tại Việt Nam” Mục tiêu của nghiên cứu
là đánh giá thực trạng kế toán quản trị chi phí môi trường và xác định các nhân tố ảnhhưởng đến vận dụng EMA , từ đó đưa ra các kiến nghị và giải pháp để hoàn thiện kếtoán quản trị chi phí môi trường trong các doanh nghiệp sản xuất thép tại Việt Nam.Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng ( nghiên cứutài liệu, khảo sát chuyên gia, thông kê mô tả, kiểm định Cronbach’s Alpha, phân tíchEFA, phân tích mô hình hồi quy tuyến tính) Qua các giai đoạn nghiên cứu và thựchiện phương pháp kiểm định, bài nghiên cứu đã xác định được 6 yếu tố ảnh hưởng đếnviệc vận dụng kế toán quản trị vào trong doanh nghiệp bao gồm: nhận thức của chủdoanh nghiệp, truyền thông nội bộ, áp lực từ các bên liên quan, xây dựng tổ chức họctập, tài chính và nhân sự, quy định hướng dẫn thực hiện EMA
[3] Luận án tiến sỹ của Lê Thị Tâm (2017) “Nghiên cứu kế toán quản trị chi phí
môi trường trong các doanh nghiệp sản xuất gạch tại Việt Nam" Luận án tập trung
nghiên cứu về kế toán quản trị chi phí môi trường (ECMA) như là công cụ hữu ích chonhà quản trị doanh nghiệp để gia tăng lợi ích kinh tế và cải thiện hiệu quả môi trườnghướng tới mục tiêu phát triển bền vững Nghiên cứu được thực hiện trong doanhnghiệp sản xuất gạch bởi đây là lĩnh vực sản xuất gây ra tác động lớn đến môi trường Luận án tổng hợp khung lý thuyết về ECMA trong doanh nghiệp bao gồm khái niệm,thông tin chi phí môi trường, nhận diện chi phí môi trường, các phương pháp sử dụng
Trang 9để xác định, đo lường chi phí môi trường, các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả môi trường,lập báo cáo chi phí về môi trường.Dựa trên tổng quan các nghiên cứu trước, luận án kếthừa và phát triển các thang đo về thực hành ECMA đồng thời đánh giá thực trạng ápdụng ECMA trong doanh nghiệp sản xuất gạch thông qua kết quả nghiên cứu địnhlượng và định lượng.
Từ bốn lý thuyết là lý thuyết bất định, lý thuyết thể chế, lý thuyết hợp pháp và lýthuyết bên liên quan, luận án đã thiết kế 7 giả thuyết nghiên cứu về các nhân tố ảnhhưởng đến việc thực hành ECMA Sử dụng phương pháp định lượng và định tính, luậnán đưa ra kết luận về các nhân tố ảnh hưởng đến ECMA gồm có bốn nhân tố đượckhám phá đó là: Áp lực cưỡng chế của chính phủ, Áp lực quy phạm, Áp lực cộng đồngdân cư; Chiến lược môi trường
[4] Nghiên cứu của Lê Thị Loan (2017): “Kế toán quản trị môi trường - định
hướng vận dụng tại các doanh nghiệp chế biến thủy sản ở Thanh Hóa” Mục tiêu của
nghiên cứu là tác giả đưa ra những lý luận chung về kế toán môi trường, kế toán quảntrị môi trường , các nhận tố ảnh hưởng đến kế toán quản trị môi trường và và địnhhướng vận dụng kế toán quản trị môi trường tại các doanh nghiệp chế biến thủy sản ởThanh Hóa Với tổng số phiếu phát ra là 90 phiếu, tổng số phiếu thu về là 82 phiếu,khảo sát diễn ra trong vòng 3 tháng, bắt đầu từ tháng 12/2016 Sau khi sàng lọc và loạibỏ các phiếu không đạt yêu cầu, số phiếu đưa vào phân tích là 75 phiếu Sau khi dữliệu được thu thập, tác giả tiến hành làm sạch dữ liệu và sau đó phân tích dữ liệu theocác mục tiêu và các giả thuyết nghiên cứu đưa ra, sử dụng phần mềm SPSS 22.0 phụcvụ cho việc phân tích, thống kê, xử lý dữ liệu và chạy hồi quy tuyến tính bội Nghiêncứu xác định được các nhân tố ảnh hưởng bao gồm: Các quy định của Nhà nước vềthực hiện kế toán quản trị môi trường, trình độ nhân viên kế toán DN, lợi ích tàichính, nhân tố nhận thức về KTQT của người điều hành DN, quy mô doanh nghiệp
Từ đó, với mong muốn giúp các doanh nghiệp có cái nhìn đúng đắn và sử dụng côngvụ này một cách hữu ích trong quá trình quản trị doanh nghiệp
[5] Nghiên cứu của Huỳnh Thị Thanh Thúy (2018): “Vận dụng kế toán môi
trường tại các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay”
Mục đích của nghiên cứu là phân tích thực trạng triển khai kế toán môi trường,các một số nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng kế toán quản trị trong các DN ViệtNam và kiến nghị một số vấn đề để đẩy mạnh áp dụng kế toán môi trường trong các
Trang 10DN Dựa trên lý thuyết ngẫu nhiên, nghiên cứu đã chỉ ra mối quan hệ và ảnh hưởngcủa một số yếu tố ngẫu nhiên đến việc áp dụng EMA trong các DN như sau: quy địnhcủa Nhà nước về áp dụng kế toán môi trường, trình độ của nhân viên kế toán, lợi íchtài, chính mức độ nhận thức của nhà quản trị Việc nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu
tố ngẫu nhiên đến việc áp dụng EMA trong các DN để có các chính sách tác động phùhợp giúp cho hệ thống KTQT trong các DN được hoàn thiện trở thành yêu cầu vànhiệm vụ cấp thiết trong giai đoạn hiện nay
[6] Nghiên cứu của Giang Thị Trang (2019): “Phát triển kế toán quản trị môi trường cho các doanh nghiệp Việt Nam ” Mục tiêu của nghiên cứu tham khảo kinh
nghiệm áp dụng EMA ở một số nước, đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải phápnhằm đẩy mạnh thực hiện EMA đối với các doanh nghiệp Bằng phương pháp nghiêncứu hỗn hợp, trong đó phương pháp nghiên cứu định tính được kết hợp với phươngpháp nghiên cứu định lượng, nghiên cứu xác định các nhân tố và đo lường mức độ tácđộng của các nhân tố đến vận dụng EMA trong các doanh nghiệp ở Việt Nam Kếtquả nghiên cứu chỉ ra nhân tố có ảnh hưởng bao gồm: Quy định về hướng dẫn thựchiện kế toán quản trị môi trường; nhận thức của người chủ sở hữu doanh nghiệp,trình
độ nhân viên , công nghệ thông tin Với mỗi nhân tố tương ứng, tác giả đưa ra từngkiến nghị cụ thể mà doanh nghiệp cần chú ý khi vận dụng kế toán quản trị từ đó gópphần nâng cao hiệu quả vận dụng kế toán quản trị môi trường vào các doanh nghiệp
[7] Nghiên cứu Nguyễn Thị Mai Anh và cộng sự ,2019 “ Kế toán quản trị môi
trường và hiệu quả trong ngành công nghiệp vật liệu xây dựng Việt Nam - Một côngcụ quản lý cho sự phát triển bền vững.”
Nghiên cứu này được thực hiện để điều tra các yếu tố ảnh hưởng đến việc vậndụng kế EMA và mối quan hệ giữa ứng dụng EMA và hiệu quả thực hiện bao gồm cáclĩnh vực tài chính và môi trường Phạm vi nghiên cứu là điều tra các doanh nghiệp sảnxuất vật liệu xây dựng tại Việt Nam với quy mô vừa và lớn, được coi là một trongnhững ngành gây ra tác động tiêu cực đáng kể đến môi trường Các câu hỏi đã đượcgửi đến kế toán trưởng của 600 doanh nghiệp vật liệu xây dựng tại Việt Nam từ năm
2018 đến năm 2019 Quá trình này đã thu được 418 phiếu hợp lệ, sử dụng phần mềmSPSS 22.0 để xử lý dữ liệu, kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có sáu yếu tố ảnh hưởng
Trang 11tích cực đến việc vận dụng EMA, bao gồm: quy định của Chính phủ về bảo vệ môitrường, lợi ích của các bên liên quan, ảnh hưởng từ phía cộng đồng, ảnh hưởng củagiáo dục và điều kiện tài chính Trong đó , quy định của Chính phủ về bảo vệ môitrường có mối quan hệ tích cực và quan trọng nhất với việc áp dụng EMA Mặt khác,dường như việc áp dụng EMA có tác động tích cực đến hiệu quả tài chính và hiệu quảmôi trường Theo nhiều nghiên cứu trước đây, hiệu quả môi trường cũng tác động tíchcực đến hiệu quả tài chính Do đó, các giải pháp sáng tạo để giảm ô nhiễm môi trường
có thể thúc đẩy lợi nhuận của doanh nghiệp
3.2 Tổng quan về các công trình nghiên cứu nước ngoài
[1] Nghiên cứu của Katsuhiko Kokubu and Eriko Nashioka (2009) “Environmental
Management Accounting Practices in Japanese Manufacturing Sites”
Vận dụng EMA trong ngành sản xuất ôtô tại Nhật Bản.
Mục đích của nghiên cứ là phân tích thực trạng kế toán môi trường tại các doanhnghiệp sản xuất của Nhật Bản như các công ty trong lĩnh vực hóa chất, thiết bị điện,dược phẩm và máy móc vận tải Lý do để chọn bốn lĩnh vực công nghiệp này là vì tạiNhật Bản, đây là bốn lĩnh vực đang đi đầu trong các sáng kiến kế toán môi trường và
có vẻ như EMA sẽ được phát triển tốt tại các các công ty của họ Các yếu tố ảnhhưởng đến việc thực hiện EMA bao gồm: sự hiểu biết về EMA, sự quan tâm củangười chủ sở hữu, quy định của Pháp luật về thực hiện bảo vệ môi trường và áp lựccạnh tranh
[2] Nghiên cứu của Huei-Chun Chang&Craig Deegan(2010) “ Exploring factors influencing environmental management accouting adoption at RMIT university”
Khám phá các nhân tố ảnh hưởng đến việc chấp nhận vận dụng EMA tại đại học RMIT Nghiên cứu này nhằm mục đích tìm hiểu mức độ áp dụng EMA và các nhân tố
ảnh hưởng đến việc thực hiện EMA tại Đại học RMIT, đại học lớn nhất tại Úc Tổngcộng, có 200 bảng câu hỏi đã được phát ra và 183 bản được hoàn thành với tỷ lệ91,5% Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp thống kê mô tả, kiểm định Cronbach ‘sAlpha, để kiểm định giả thuyết tác giả đã sử dụng phương pháp hồi quy Logistic Kếtquả của nghiên cứu đã chỉ ra 5 biến độc lập là có tác động đến chấp nhận vận dụngEMA đó là: thái độ nhận thức của người chủ sở hữu doanh nghiệp , tình hình tài
Trang 12chính, ảnh hưởng thông tin truyền thông và thể chế thực hiện và quản lý của cơ quanNhà Nước Khoảng trống trong nghiên cứu này là tầm quan trọng của thông tin chiphí môi trường cho mục đích quản lý môi trường có xu hướng bị bỏ qua, đặc biệt làbởi các nhà quản lý trong doanh nghiệp Ngoại trừ bộ phận chịu trách nhiệm quản lý
cơ sở, không có người đứng đầu các trường học, hoặc quản lý chủ chốt, chịu tráchnhiệm và chịu trách nhiệm về các chi phí môi trường lớn phát sinh
[3] Nghiên cứu của Altohami Otman Alkisher (2013) “ Factors influencing
environment management accouting adoption in oil and manufacturing firms in Libya”
Các nhân tố ảnh hưởng đến việc chấp nhận vận dụng kế toán quản trị môi trường doanh nghiệp sản xuất dầu khí tại Libya.
Nghiên cứu này được thực hiện để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việcchấp nhận thực hiện kế toán quản trị môi trường Để đạt được mục tiêu này, tác giả đãdựa trên các lý thuyết lý thuyết dự phòng, lý thuyết thể chế, lý thuyết hợp pháp, lýthuyết các bên liên quan Dữ liệu được thu thập từ các giám đốc tài chính và các nhàquản lý môi trường trong các công ty sản xuất ở Libya Tổng số phiếu khảo sát đượcphát ra là 230, số phiếu hợp lệ thu về là 202 Dựa trên các thử nghiệm về phương sai,phân tích nhân tố, tương quan và hồi quy bội Kết quả cho thấy các yếu tố về nhânkhẩu học như tuổi tác, trình độ học vấn và nhiệm kỳ là một trong số các yếu tố ảnhhưởng đến các công ty có ý định áp dụng EMA Ngoài ra, việc vận dụng kế toán quảntrị môi trường tại các công ty ở Libya bị chi phối bởi các yêu tố : Phong cách củangười quản lý, công nghệ sản xuất, văn hóa doanh nghiệp, áp lực từ các bên liên quanảnh hưởng đáng kể đến các công ty có ý định áp dụng EMA Nghiên cứu hiện tại cũng
đã lấp đầy khoảng trống trong EMA văn học bằng cách phát triển một khung lý thuyết
để đánh giá các mối quan hệ giữa các yếu tố trong tổ chức, môi trường và công nghệsản xuất ở bối cảnh hiện tại và ý định áp dụng EMA Quan trọng hơn, nghiên cứu này
đã mở ra khả năng nghiên cứu sâu hơn về việc áp dụng EMA ở Libya và các nướcđang phát triển khác và trên toàn thế giới
[4] Nghiên cứu của Che Zuriana Muhammad Jamila & cgt (2015) “Environmental
management accounting practices in small medium manufacturing firms”
Trang 13Vận dụng kế toán quản trị môi trường trong các doanh nghiệp sản xuất có quy
mô nhỏ và vừa
Mục đích của nghiên cứu này là xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc vậndụng EMA trong các doanh nghiệp sản xuất có quy mô nhỏ và vừa tại Malaysia.Nghiên cứu được thực hiện bằng cách phát phiếu khảo sát cho các doanh nghiệp, vớitổng số phiếu phát ra 350 phiếu nhưng thu về chỉ có 200 phiếu Điều này đồng nghĩavới việc kế toán quản trị môi trường vẫn là vấn đề còn mới mẻ với các doanh nghiệp
và chưa thực sự được quan tâm Nghiên cứu này sử dụng phân tích mô tả và phân tíchhồi quy để phân tích dữ liệu Các nhân tố ảnh hưởng đến nghiên cứu gồm có: Quyđịnh của Chính phủ về bảo vệ môi trường, tình hình tài chính của doanh nghiệp, hiệuquả về mặt tài chính, ảnh hưởng về mặt xã hội, nhận thức của nhà quản lý doanhnghiệp
[5] Nghiên cứu của Zohre Karimi & cgt “ Modeling the Factors Affecting the Use of Environmental Management Accounting Tools” (2017).
Các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng công cụ EMA.
Nghiên cứu xem xét và đưa ra mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụngcác công cụ kế toán quản trị môi trường từ các nhà quản lý tài chính tại các nhà máylọc dầu và hóa dầu ở Iran Các yếu tố ảnh hưởng đến mô hình nghiên cứu bao gồm:nguồn lực tài chính, nhân sự thực hiện, nhận thức của người quản lý, sự phức tạp củacác công cụ và khả năng tạo ra lợi thế so sánh là những yếu tố ảnh hưởng đến việc sửdụng môi trường công cụ kế toán quản trị
Ngoài ra các yếu tố về mặt nhân khẩu học như giới tính kinh nghiệm chuyênmôn, lĩnh vực nghiên cứu, trình độ học thuật và tuổi tác có tác động đáng kể đến một
số yếu tố hiệu quả trong việc sử dụng các công cụ kế toán quản trị môi trường.Phương pháp nghiên cứu của nghiên cứu này dựa trên một khảo sát mô tả và thiết kếcủa nó là thử nghiệm gần đúng Đối với phần lý thuyết có liên quan, dữ liệu cần thiếtđược thu thập từ sách, tạp chí và trang web Đối với nghiên cứu thực địa, một bảng câuhỏi bao gồm 5 biến quan sát và 31 câu hỏi cụ thể Số lượng bảng câu hỏi được phát ra
Trang 14là 200 và số lượng phiế trả lời hợp lệ thu về là 160 Để phân tích dữ liệu được thu thậpbằng bảng câu hỏi, phương pháp thống kê mô tả và suy luận đã được sử dụng Sau khiphân loại và sắp xếp dữ liệu thu thập, giá trị trung bình, trung bình, chế độ và độ lệchchuẩn cho từng câu hỏi đã được tính toán thực hiện thông qua kiểm định tương quanPearson và T- test.
[6] Nghiên cứu của Olaoye, F.O (2018) & clg “Impact of Environmental
Management Accounting Practices and Report on Organisation Performance”
Tác động của vận dụng kế toán quản trị môi trường đến hiệu quả của tổ chức
Nghiên cứu này xem xét tác động của thực hiện kế toán quản trị môi trường đếnhiệu quả hoạt động của tổ chức Cụ thể, nghiên cứu điều tra việc vận dụng kế toánmôi trường ở các trường đại học phía tây nam Nigeria và để thiết lập các yếu tố có thểcải thiện EMA Nghiên cứu sử dụng kỹ thuật lấy mẫu ngẫu nhiên và kết quả nghiêncứu cho thấy rằng việc vận dụng kế toán quản trị môi trường hiện nay tại các trườngđại học Tây Nam Nigeria thực tế quản lý môi trường hiện nay tương đối thấp Nhữngyếu tố dẫn đến việc áp dụng EMA chậm là: áp lực về mặt thể chế, sự nhận thức củangười quản lý, các quy định về hướng dẫn thực hiện EMA, chi phí cho việc thực hiệnEMA Dựa trên những phát hiện này, đây là thời điểm tốt cho các trường đại học đưa
ra các thủ tục để đánh giá việc áp dụng kế toán môi trường ảnh hưởng đến hiệu quảhoạt động như thế nào, cũng như quy hoạch chiến lược để thực hiện EMA
3.3 Hạn chế của các nghiên cứu trước
Tổng quan phần tài liệu nghiên cứu trong nước và ngoài nước, có thể nhận thấy,chưa có nghiên cứu nào có thể thiết lập hết các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việcvận dụng EMA, đặc biệt là ở các doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn thành phố ĐàNẵng Phần lớn các nghiên chỉ dừng lại ở việc nêu lý thuyết về việc vận dụng EMA
mà chưa hướng tới các nhân tố tác động đến việc chấp nhận áp dụng cho tất cả cáccông ty của ngành sản xuất Nguyên nhân là do:
Thứ nhất,
Ở Việt Nam, Luật Môi trường được ban hành lần đầu vào năm 1993 và Luật Bảo
vệ môi trường sửa đổi vào năm 2005 Trên cơ sở đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định
số 67/2011/NĐ-CP ngày 08/08/2011 quy định về đối tượng chịu thuế, căn cứ tính thuế,
Trang 15khai thuế, tính thuế, nộp thuế và hoàn thuế bảo vệ môi trường Bộ Tài chính ban hànhThông tư số 152/2011/TT-BTC ngày 11/11/2011 hướng dẫn thi hành Nghị định số67/2011/NĐ-CP; Thông tư số 159/2012/TT-BTC ngày 28/09/2012, sửa đổi, bổ sungThông tư số 152/2011/TT-BTC… Tuy nhiên, theo khảo sát hiện nay tại Việt Namchưa ban hành chế độ kế toán có liên quan đến việc áp dụng EMA trong DN Các chế
độ kế toán hiện hành chưa có các văn bản hướng dẫn doanh nghiệp trong việc bóctách và theo dõi chi phí sản xuất kinh doanh, chưa có các tài khoản cần thiết để hạchtoán các khoản chi phí môi trường
Thứ hai,
Chưa có nhiều cơ chế, chính sách của Nhà nước khuyến khích các DN, tổ chứcnghiên cứu và áp dụng EMA Hiện tại Bộ tài chính mới chỉ ban hành thông tư53/2006/TT-BTC về hướng dẫn áp dụng kế toán quản trị trong doanh nghiệp, thông tưnày chỉ mang tính chất hướng dẫn chứ không có sự bắt buộc thực hiện tại các doanhnghiệp
Thứ ba,
Việc nghiên cứu, triển khai áp dụng EMA tại các doanh nghiệp còn khá mới mẻ
Số lượng công trình nghiên cứu về vấn đề EMA chưa nhiều Hầu hết DN chưa quantâm nhiều đến EMA , chưa bố trí cán bộ kế toán chuyên trách để tính toán các khoảnchi phí, lợi ích môi trường và vẫn duy trì hệ thống kế toán truyền thống, chưa tích hợpcác thông tin của EMA vào hệ thống kế toán chung
Thứ tư,
Một số DN dù đã quan tâm đến vấn đề EMA nhưng còn gặp khó khăn trong việcáp dụng bởi những hạn chế về cách thức áp dụng, thiếu nhân lực và khoa học côngnghệ… Một trong những hạn chế của các DN áp dụng EMA hiện nay là chưa tiếnhành xây dựng hệ thống chỉ số đánh giá hiệu quả môi trường
Thứ năm,
Về phía các DN, với việc chỉ quan tâm đến các lợi ích ngắn hạn và năng lực tàichính yếu, nên chưa có tầm nhìn vĩ mô trong các hoạt động sản xuất nhằm giữ gìn môitrường để đạt tới sự phát triển bền vững
Do đó đề tài sẽ thực hiện phương pháp định lượng để tìm ra các nhân tố nào tácđộng đến việc chấp nhận vận dụng EMA để giúp các doanh nghiệp xác định được
Trang 16tầm quan trọng của EMA và cần quan tâm đến nhân tố nào khi quyết định chấp nhậnvận dụng EMA
4 CƠ SỞ LÝ THUYẾT
4.1 Khái quát về EMA
4.1.1 Khái niệm về EMA
Trong khoảng 2 thập kỷ trở lại đây, môi trường đang trở thành vấn đề thời sự cótính chất toàn cầu Sự thay đổi trong nhận thức về trách nhiệm xã hội của doanhnghiệp (DN) trước các vấn đề môi trường đã đặt kế toán truyền thống tại DN trướcthách thức: làm sao và bằng cách nào có thể kế toán các yếu tố môi trường? không chỉthông qua vai trò có tính truyền thống là ghi chép và báo cáo các thông tin tài chính,
mà còn phải thể hiện được vai trò của kế toán như là một công cụ trợ giúp hữu hiệucho các nhà quản lý trong quản trị các vấn đề môi trường trong phạm vi từng đơn vịkinh tế Trong bối cảnh đó, sự ra đời của kế toán môi trường (EA) như là một tất yếunhằm đáp ứng các đòi hỏi về thông tin môi trường trong hoạt động của các đơn vị cả ởgóc độ lý luận và thực tiễn EA trong DN là một bộ phận cấu thành của kế toán liênquan đến các thông tin về hoạt động môi trường trong phạm vi DN nhằm thu thập, xử
lý, phân tích và cung cấp thông tin về môi trường cho các đối tượng trong và ngoài DN
sử dụng để ra quyết định Trong phạm vi DN, EA bao gồm: EMA, kế toán tài chínhmôi trường (EFA), kế toán chi phí môi trường (ECA)
EMA là sự phát triển tiếp theo của kế toán quản trị truyền thống Theo ủy banphát triển bền vững của Liên hợp quốc (UNDSD) định nghĩa “EMA là một sự hiểubiết tốt hơn và đúng đắn hơn về kế toán quản trị Mục đích tổng quát của sử dụngthông tin EA là cho các tính toán nội bộ của tổ chức và cho ra quyết định Quá trình xử
lý thông tin của EMA phục vụ cho việc ra quyết định bao gồm các tính toán vật chấtnhư nguyên liệu, năng lượng tiêu thụ, dòng luân chuyển vật tư và lượng vật chất bịloại bỏ hoặc xả thải và các tính toán tài chính có tính tiền tệ đối với chi phí (cả phần bỏthêm và tiết kiệm được) doanh thu và thu nhập có liên quan đến các hoạt động có khảnăng ảnh hưởng và tác động tiềm tàng đến môi trường
Trang 174.1.2 Hạn chế của kế toán truyền thống và những lợi ích của kế toán quản trị môi trường
4.1.2.1 Hạn chế của kế toán truyền thống
Trước kia, phần lớn các hệ thống quản lý và hạch toán của doanh nghiệp ít quantâm đến chi phí môi trường, nhiều chi phí môi trường phát sinh được tích lũy trong cáctài khoản khác như chí phí năng lượng, nước, chi phí xử lý chất thải, chi phí văn phòngphẩm, bảo hiểm hoặc chi phí pháp lý liên quan đến môi trường… Nghĩa là nhiều cơhội có thể giảm chi phí môi trường bị đánh mất Theo UNDSD (2001, p.8): “Kinhnghiệm cho thấy rằng các nhà quản lý môi trường gặp hạn chế trong việc tiếp cận cáctài liệu kế toán chi phí thực của doanh nghiệp và chỉ nhận thức một phần nhỏ chi phímôi trường Mặt khác, các nhà quản trị tài chính cung cấp phần lớn thông tin khôngtách biệt r khía cạnh môi trường và họ bị giới hạn bởi phạm vi khung hạch toán hiệnhành”
Các nghiên cứu về chi phí môi trường cho thấy chi phí môi trường thường caohơn so với phương pháp hạch toán truyền thống vì các chi phí bị ẩn trong nhiều tàikhoản khác Tổng chi phí môi trường được tìm thấy thường cao gấp 2 lần so với mứcbình thường Theo UNDSD (2001,p.1): “Hệ thống kế toán quản trị truyền thống hạchtoán chi phí môi trường vào chi phí sản xuất chung, hậu quả là các nhà quản trị sảnphẩm và sản xuất không có động cơ để giảm chi phí môi trường và giám đốc điều hànhthường không nhận thức được tầm quan trọng của chi phí môi trường Theo nguyêntắc bàn tay của quản trị môi trường cứ 20% của hoạt động sản xuất chịu trách nhiệmcho 80% chi phí môi trường Khi chi phí môi trường được phân bổ vào chi phí sảnxuất chung và phân bổ đến tất cả các dòng sản phẩm, các sản phẩm có chi phí môitrường thấp sẽ chịu chi phí cho những sản phẩm có chi phí môi trường cao Điều nàydẫn đến giá cả sản phẩm không chính xác làm giảm lợi nhuận.”
Theo IFAC (2005), những hạn chế tồn tại trong hệ thống kế toán truyền thống là:
- Ít có sự liên kết giữa kế toán và các phòng ban khác
Trong doanh nghiệp, các nhân viên môi trường thường có rất nhiều kiến thức vềmôi trường Tương tự như vậy, nhân viên kỹ thuật có nhiều kinh nghiệm về dòng chảynăng lượng, nước và các vật liệu khác trong doanh nghiệp Tuy nhiên, nhân viên môitrường và kỹ thuật thường có ít kiến thức về việc phản ánh chúng lên sổ kế toán.Ngược lại, các kế toán viên và các nhà quản trị có thông tin kế toán nhưng ít hiểu biết
Trang 18về vấn đề môi trường mà doanh nghiệp đang phải đối mặt Các phòng ban khác nhau
sẽ có những quan điểm và mục tiêu khác nhau Ngoài ra, kế toán, nhân viên môitrường và kỹ thuật thường sử dụng hệ thống thông tin khác nhau mà không có tínhnhất quán Do đó, các kế toán viên thường cung cấp không đúng thông tin kế toán hữuích cho nhân viên môi trường và kỹ thuật và ngược lại khiến doanh nghiệp không nhậnthức đúng về ảnh hưởng của các tác động môi trường đến doanh thu, chi phí
- Các chi phí liên quan đến môi trường thường bị ẩn trong chi phí sản xuất
chung
Các chi phí môi trường quan trọng vô tình bị ẩn đi trong các chứng từ kế toán,nơi mà nhà quản lý có thể sẽ hưởng lợi từ những thông tin không thể tìm thấy dễ dàng.Thường các chi phí môi trường được hạch toán vào các tài khoản chi phí sản xuấtchung chứ không trực tiếp tính trong từng quá trình sản xuất sản phẩm Trong khi cáctài khoản chi phí chung tập hợp các chi phí khó khăn khi hạch toán trực tiếp vào quátrình sản xuất/sản phẩm, điều này khiến nhà quản trị gặp vấn đề về thông tin về chi phícần thiết
Việc đưa các chi phí môi trường vào các tài khoản chi phí sản xuất chung cũng
có thể che giấu việc tăng chi phí cố định và giảm chi phí biến đổi bằng cách quản trịmôi trường phòng ngừa
Có thể gặp rắc rối khi chi phí chung sau đó được phân bổ lại vào trung tâm chiphí ( quy trình, sản phẩm hoặc dịch vụ) để định giá hay các mục đích khác Chi phíchung thường được phân bổ lại cho các trung tâm chi phí sử dụng gồm khối lượng sảnxuất,giờ sản xuất, nhân công giờ… Tuy nhiên việc này có thể không chính xác để phânbổ một số chi phí về môi trường điển hình ví dụ như chi phí xử lý chất thải nguy hại,
mà có thể là khá cao với sản phẩm độc hại và thấp đối với dòng sản phẩm không độchại Trong trường hợp này, việc phân bổ các chi phí xử lý chất thải nguy hại trên cơ sởkhối lượng sản xuất sẽ là không chính xác, dẫn đến sai sót trong tính giá thành hay cácquyết định khác
- Thông tin về nguyên vật liệu, khối lượng thường không được theo dõi đầy đủ
Mặc dù hàng năm các công ty lớn lưu giữ hàng triệu dữ liệu, chứng từ liên quanđến nguyên vật liệu vào kế hoạch nguồn lực doanh nghiệp ( ERP) và hệ thống phầnmềm khác nhưng thông tin thường vẫn không đủ chính xác hoặc đầy đủ về môi trườnghay mục đích ra quyết định khác Lấy ví dụ, đôi khi việc cung cấp thông tin muanguyên vật liệu không cho phép xác định chính xác về số lượng và giá trị Trong mộtvài hệ thống kế toán, tất cả nguyên vật liệu mua vào được đưa vào 1 tài khoản trong
Trang 19khi chi tiết về số lượng chỉ được ghi nhận trong chứng từ quản lý hàng tồn kho Vìvậy, không có cách nào dễ dàng để tổng hợp dữ liệu về số lượng này
Hệ thống kế toán thông thường không ghi nhận nguyên liệu đầu vào từ trung tâmchi phí trong sản xuất mà dựa vào tính toán chung được cung cấp bởi hệ thống kếhoạch sản xuất Điều này có thể không phản ánh thực tế sự dụng nguyên vật liệu
- Nhiều loại chi phí môi trường không được tìm thấy trong sổ sách kế toán
Sổ sách kế toán thường không chứa nhiều thông tin về chi phí môi trường trongtương lai vì các dữ liệu là liên quan chủ yếu đến quá khứ
- Quyết định đầu tư có thể được thực hiện dựa trên các thông tin không đầy đủ
Quyết định quản lý, đầu tư các dự án hay lựa chọn sản phẩm sẽ khó khắn nếuthiếu đi ước lượng chính xác về chi phí và lợi ích đem lại từ quản lý môi trường Ví dụnhư việc phê chuẩn hiệp định môi trường ( Nghị định Kyoto) sẽ làm phức tạp quá trìnhđầu tư Từ nghị định Kyoto, một công ty tham gia vào việc kinh doanh khí thải có thểlựa chọn không đầu tư vào các biện pháp nhằm giảm khí thải mà lại mua giấy phép đểđáp ứng giới hạn khí thải đặt ra
Nhiều công ty không ghi nhận đầy đủ chi phí môi trường cần thiết cho việc raquyết định đầu tư Các doanh nghiệp cần phải xem xét tất cả các chi phí về môi trường
có thể ảnh hưởng đến lợi nhuận trên vốn đầu tư như chi phí lưu lượng vật liệu, phụchồi và các chi phí liên quan đến tương lai.Một điều quan trọng là cần tách biệt giữa chiphí cố định và chi phí biến đổi trong việc ra quyết định đầu tư Các doanh nghiệp phầnlớn khó khăn cắt giảm chi phí cố định so với chi phí biến đổi
4.1.2.2 Lợi ích của kế toán quản trị môi trường
Trong tình hình kinh tế thị trường hội nhập như ngày nay, doanh nghiệp được coi
là có chỉ số cạnh tranh cao phải đảm bảo cân bằng 3 yếu tố: kinh tế, môi trường vàtrách nhiệm xã hội nghĩa là kinh doanh bền vững Những lợi ích của EMA sau đây sẽcho thấy rõ ràng EMA là một công cụ hữu ích, có thể bù đắp những hạn chế tồn tạitrong kế toán truyền thống và đủ khả năng giúp doanh nghiệp đạt được những yêu cầutrên:
- Tiết kiệm chi phí tài chính cho doanh nghiệp
Vận dụng tốt EMA sẽ phát hiện ra những lợi ích tài chính và tiềm năng tiết kiệmchi phí khi nhận dạng các chi phí ẩn, các chi phí gián tiếp, giúp tính toán chính xácnhững chi phí thực tạo ra sản phẩm, bóc tách các chi phí ẩn không tạo ra sản phẩm…
từ đó có thể đưa ra những sáng kiến cải tiến hoạt động kinh doanh, giảm thiểu nhữngchi phí không cần thiết