CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMĐộc lập- Tự do – Hạnh phúc TÊN ĐỀ TÀI: HIỆU QUẢ CỦA CÁC HOẠT ĐỘNG CỘNG TÁC ĐỂ HỌC TỪ VỰNG ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG ĐỌC HIỂU MÔN TIẾNG ANH CỦA HỌC S
Trang 1CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập- Tự do – Hạnh phúc
TÊN ĐỀ TÀI:
HIỆU QUẢ CỦA CÁC HOẠT ĐỘNG CỘNG TÁC ĐỂ HỌC TỪ VỰNG ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG ĐỌC HIỂU MÔN TIẾNG ANH
CỦA HỌC SINH THPT
- 1
Trang 2-CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập- Tự do – Hạnh phúc
TÊN ĐỀ TÀI:
HIỆU QUẢ CỦA CÁC HOẠT ĐỘNG CỘNG TÁC ĐỂ
HỌC CỘNG TỪ HÒA VỰNG XÃHỘI ĐỐI CHỦ
VỚI NGHĨA SỰ VIỆT PHÁT NAM TRIỂN KĨ NĂNG Độc ĐỌC lập- Tự HIỂU do–Hạnh MÔN phúc TIẾNG ANHCỦA HỌC SINH THPT
Họ và tên: Lê Thị Hà Giang Chức vụ: TTCM
Đơn vị công tác: Trường THPT Kỹ Thuật Lệ Thủy
TÊN ĐỀ TÀI:
THỦ THUẬT GIÚP HỌC SINH LỚP 12 ĐẠT
CHẤT LƯỢNG CAO PHẦN ĐỌC HIỂU TRONG
ĐỀ THI TNPTQG MÔN TIẾNG ANH
Quảng Bình, tháng 01 năm 2019
- 2
Trang 3-download by : skknchat@gmail.com
Trang 41.PHẦN MỞ ĐẦU
1.1.Lý do chọn đề tài:
Đọc là một trong những kĩ năng cơ bản và quan trọng trong quá trìnhdạy và học môn tiếng Anh Thông qua việc đọc, học sinh có thể củng cố kiếnthức ngôn ngữ, vốn từ vựng đã học, mở rộng vốn từ mới, mở rộng thêm một sốmẫu câu và hiểu sâu thêm văn phong, cách sử dụng ngôn ngữ mà mình đanghọc Bằng việc kiểm tra kĩ năng đọc, giáo viên chúng ta biết được liệu học sinh
có hiểu văn bản hay không Vì vậy, khả năng đọc hiểu một văn bản một cáchhiệu quả là rất quan trọng đối với học sinh và đó cũng là lý do tại sao việc dạyđọc là một phần quan trọng trong công việc của giáo viên
Cũng giống như hầu hết các học sinh học tiếng Anh như một ngoạingữ tại các trường trung học Việt Nam, học sinh học tiến Anh tại trường tôi cómột số đặc điểm chung Thứ nhất, các em đã học tiếng Anh trong bảy nămnhưng khả năng sử dụng tiếng Anh trong giao tiếp còn khá hạn chế Trên thực
tế, rất nhiều học sinh cho rằng khi đọc các văn bản xác thực các em thường gặpnhiều khó khăn , điều này đã cản trở rất nhiều đến khả năng đọc hiểu của các
em Học sinh thường không hiểu đoạn văn đọc vì các em thiếu từ vựng Thứhai, các phương pháp giảng dạy truyền thống và lỗi thời đã làm cho học sinhkhông thích thú với việc đọc Học sinh cần một phương pháp dạy học mới cóthể thúc đẩy,phát triển kĩ năng đọc hiểu
Trong những năm gần đây, nhiều nỗ lực đã được thực hiện để việc dạytiếng Anh ở nước ta có thể được thay đổi từ giảng dạy ngữ pháp truyền thốngsang giảng dạy ngôn ngữ giao tiếp Trong lớp học tiếng Anh, giảng dạy ngônngữ giao tiếp thường có hình thức hợp tác đòi hỏi sự thương lượng và tươngtác giữa những người học với nhau Ngoài ra, cũng có những hoạt động khácnhau trong giảng dạy ngôn ngữ giao tiếp để giúp học sinh phát triển sự tự tin.Đối với giảng dạy ngôn ngữ giao tiếp, hoạt động cộng tác là một yếu tố quantrọng để thúc đẩy việc dạy và học giao tiếp hiệu quả Hoạt động cộng tác kíchthích học sinh tham gia vào lớp học Nó cũng thúc đẩy động lực học tập củahọc sinh và giúp các em tham gia vào bài học hiệu quả hơn Với những lợi ích
- 3 download by : skknchat@gmail.com
Trang 5-của giảng dạy ngôn ngữ giao tiếp đã thúc đẩy tôi lựa chọn và nghiên cứu đề tài
“Hiệu quả của các hoạt động cộng tác để học từ vựng đối với sự phát triển
kĩ năng đọc hiểu môn tiếng Anh của học sinh THPT”
1.2.Điểm mới của đề tài:
Đọc là một trong những kĩ năng cơ bản và quan trọng trong dạy học mônTiếng Anh Tuy nhiên, phương pháp giảng dạy lạc hậu và lỗi thời đã khôngcòn làm cho học sinh hứng thú trong việc học đọc hiểu, thậm chí là không thểhọc được kĩ năng này
Vì thế, đề tài “Hiệu quả của các hoạt động cộng tác để học từ vựng đối với sự phát triển kĩ năng đọc hiểu môn tiếng Anh của học sinh THPT”
đã chứng minh các giải pháp có hiệu quả, có ý nghĩa thực tiễn cao nhằm giúpgiáo viên trong quá trình giảng dạy môn tiếng Anh
-Thứ nhất, các hoạt động cộng tác để học từ vựng được nghiên cứu trong
đề tài này có thể giúp cho học sinh cải thiện được khả năng đọc hiểu của mình
-Phương pháp dạy học này là một phương pháp dạy học ngôn ngữ giaotiếp mới có thể giúp giáo viên đổi mới phương pháp nhằm giúp học sinh THPTphát triển kĩ năng đọc hiểu môn tiếng Anh
- Đề tài đã chứng minh được tính hiệu quả của phương pháp sử dụng cáchoạt động cộng tác để học từ vựng đối với sự phát triển của kĩ năng đọc hiểu môntiếng Anh
-Đồng thời, phương pháp dạy học này càng khẳng định thêm giá trị của
phương pháp dạy học “lấy học sinh làm trung tâm”.
Trang 6và trả lời các câu hỏi hiểu Giáo viên đã đưa ra những lời giải thích về cấu trúc
và từ vựng nếu cần thiết Thậm chí có giáo viên yêu cầu học sinh dịch bài đọc,câu hỏi bài tập sang tiếng Việt nhằm làm dễ độ khó của bài đọc Giáo viên tậptrung vào việc học ngôn ngữ hơn là kỹ năng đọc Với cách dạy như thế đã làmmất thời gian, không gây được hứng thú, khiến bài học trở nên đơn điệu , làmhọc sinh thụ động và đặc biệt là không phát triển được khả năng đọc hiểu củahọc sinh
Thứ hai, về phía học sinh, đa số các em cho rằng học đọc là rất khó.Nhiều học sinh cho rằng các em không thể hiểu được bài đọc, không thể làmđược bài tập đọc hiểu vì lí do các em không có vốn từ vựng Điểm số của các
em ở phần đọc hiểu thường là rất thấp.Bên cạnh đó, các em học sinh cho rằngmình không thấy có hứng thú, không được kích thích tham gia vào bài học tiếtđọc hiểu
Nguyên nhân của tình trạng này là vì:
- Trường đóng ở địa bàn nông thôn nên học sinh thiếu môi trường giaotiếp, học tập Tiếng Anh, học sinh còn ít quan tâm và gặp khó khăn trong môn họcnày
- Học sinh còn lo sợ môn học, chưa tích cực, chưa chịu khó luyện tập các dạng bài tập đọc hiểu
- Nhiều học sinh mất kiến thức cơ bản về Tiếng Anh, không có vốn từ vựng, cấu trúc nên có tâm lý chán học và làm bài đọc hiểu
-download by : skknchat@gmail.com
Trang 7- Phương pháp giảng dạy của nhiều giáo viên còn cũ, lạc hậu, không kích thích sự hứng thú học trong học sinh.
2.2 Giải pháp:
Tôi nghiên cứu và đã áp dụng thành công phương pháp dạy học mới đó
là các hoạt động cộng tác để học từ vựng vào tiết dạy đọc hiểu môn tiếngAnh.Phương pháp dạy học tích cực này đã thực sự giúp các em phát triển kĩnăng đọc hiểu của mình Dưới đây là phương pháp, quy trình và kết quảnghiên cứu mà tôi đã thực hiện trong đề tài của mình
2.2.1.Phương pháp, quy trình và kết quả nghiên cứu:
Nghiên cứu được thực hiện với các học sinh tại một trường trung họcphổ thông ở tỉnh Quảng Bình Các học sinh ở độ tuổi 16-17 Tài liệu trongnghiên cứu này đã sử dụng là sách tiếng Anh 11 của tác giả Hoàng Văn Vân(Tổng chủ biên kiêm chủ chủ biên) như cuốn sách chính của khóa học TiếngAnh 11 được biên soạn dựa trên chương trình giảng dạy cơ bản của Bộ Giáodục và Đào tạo Việt Nam Khóa học này được chia thành hai kỳ với tổng số
105 tiết cho học sinh lớp 11 Nó bao gồm 16 đơn vị dựa trên chủ đề Khóa họcnày bao gồm sáu chủ đề: thông tin cá nhân, giáo dục, cộng đồng, thiên nhiên,giải trí, và con người và địa điểm Sau ba bài học, có một bài kiểm tra chongười học để kiểm tra kiến thức của chính học sinh về các bài học trước đó.Mỗi bài học tương ứng với một chủ đề cụ thể và bao gồm các phần sau: đọc,nói, nghe, viết và tập trung ngôn ngữ
Các học sinh tham gia trong quá trình nghiên cứu này đã được chiangẫu nhiên thành hai nhóm Nhóm thực nghiệm đã được dạy với các hoạt độngcộng tác để học tù vựng trong tiết đọc Ngược lại, nhóm thứ hai là nhóm đốichứng, nhóm này không được dạy với bất kỳ hoạt động cộng tác để học từvựng nào Có ba mươi bảy học sinh trong mỗi nhóm nghiên cứu Mặc dù cóthể có một số biến là không thể tránh khỏi nhưng sự khác biệt giữa hai nhómđược giới hạn ở mức tối thiểu
Tôi chọn hai lớp 11A2 và 11A3 có cùng những điểm tương đồng về số lượng, tỉ lệ xếp loại học tập, ý thức học tập và thành phần dân tộc Cụ thể:
Trang 8-Bảng 1: -Bảng số lượng học sinh và thành phần dân tộc
Số học sinh các lớp Dân tộc
11A2 37 học sinh
Kinh11A3 37 học sinh
Tôi dùng phương pháp cho học sinh 2 lớp làm bài khảo sát phần đọc hiểu
nhằm bước đầu xác định đúng đối tượng để thực hiện nghiên cứu Sau khi thảo
luận, tôi quyết định chọn 2 lớp nguyên vẹn: lớp 11A2 là nhóm thực nghiệm và
lớp 11A3 là nhóm đối chứng, lý do là hai lớp 11A2 và 11A3 có cùng những
điểm tương đồng về năng lực đọc hiểu môn Tiếng Anh Bài kiểm tra trước thực
nghiệm là bài kiểm tra chuẩn được biên soạn từ đề kiểm tra năng lực bậc A2
dành cho học sinh THPT của các trung tâm khảo thí đại học Cambridge Anh
gồm bốn phần, hai mươi câu hỏi gồm tự luận và trắc nghiệm Học sinh tham
gia nghiên cứu này đã được làm một bài kiểm tra trong vòng 30 phút
Kết quả cho thấy điểm trung bình của 2 nhóm có sự khác nhau, do đó
tôi dùng phép kiểm chứng T-test để kiểm chứng sự chênh lệch điểm số trung
bình của hai nhóm trước khi thực nghiệm
P = 0.4264 > 0,05, từ đó kết luận sự chênh lệch điểm trung bình của
Nhóm thực nghiệm và Nhóm đối chứng là không có ý nghĩa, nghĩa là chênh
lệch xảy ra ngẫu nhiên, và hai nhóm được coi là tương đương
Kiểm tra trước và sau thực nghiệm đối với các nhóm tương đương
Bảng 3: Thiết kế nghiên cứu:
- 7
Trang 9-download by : skknchat@gmail.com
Trang 10Nhóm Kiểm tra Thực nghiệm Kiểm tra
Áp dụng các hoạt độngNhóm thực cộng tác để học từ vựng
Không áp dụng các hoạtNhóm đối 02 động cộng tác để học từ
chứng vựng vào tiết dạy đọc 04
Ở thiết kế này, tôi đã sử dụng phép kiểm chứng T-test độc lập Quy trình tiến hành nghiên cứu, thực nghiệm như sau:
- Thời gian tiến hành thực nghiệm vẫn tuân theo kế hoạch dạy học của nhà trường và theo dõi thời khóa biểu để đảm bảo tính khách quan
- Sau khi hoàn thành chương trình giảng dạy sáu tiết đọc, tiến hành kiểmtra lấy điểm của Nhóm thực nghiệm và Nhóm đối chứng để tiền hành đo lường
- Sử dụng phép kiểm chứng T-test độc lập và mức độ chênh lệch giá trịtrung bình chuẩn để kiểm chứng giá trị của tác động và mức độ ảnh hưởng củathực nghiệm đến kết quả môn học
- Từ đó, rút ra kết luận việc thực nghiệm đã ảnh hưởng tích cực tới kết quả học tập của Nhóm thực nghiệm
Bảng 4: So sánh điểm trung bình bài kiểm tra sau thực nghiệm:
Nhóm đối chứng Nhóm thực nghiệm
Giá trị p của T-test 0,000
Chênh lệch giá trị trung 1,13
bìnhchuẩn
- 8
Trang 11-download by : skknchat@gmail.com
Trang 12Sau tác động kiểm chứng chênh lệch Điểm trung bình bằng T-Test chokết quả: P =0,00017 < 0,05, cho thấy: sự chênh lệch Điểm trung bình giữaNhóm thực nghiệm và Nhóm đối chứng có ý nghĩa, tức là chênh lệch kết quảĐiểm trung bình của Nhóm thực nghiệm cao hơn Nhóm đối chứng là khôngphải do ngẫu nhiên mà do kết quả của sự thực nghiệm.
Theo bảng tiêu chí Cohen, Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn:
SMD = (6,81- 5,70)/0,98 = 1,13
Điều đó đã cho thấy hiệu quả của việc áp dụng các hoạt động cộng tác đểhọc từ vựng đối với sự phát triển kĩ năng đọc hiểu môn tiếng Anh của học sinhTHPT là rất lớn
NĐC NTN
Trước thực nghiệm Sau thực nghiệm
Hình 1 Biểu đồ so sánh Điểm trung bình trước và sau thực nghiệm của
Nhóm đối chứng và Nhóm thực nghiệm
Kết quả bài kiểm tra sau thực nghiệm của Nhóm thực nghiệm có Điểm trung bình là 6,81 và Điểm trung bình của Nhóm đối chứng là 5,70 Độ chênh
- 9 download by : skknchat@gmail.com
Trang 13-lệch điểm số giữa hai nhóm là Điểm trung bình (Nhóm thực nghiệm)– Điểmtrung bình (Nhóm đối chứng)= 6,81 – 5,70 = 1,11 Điều đó cho thấy điểm trungbình của Nhóm đối chứng và Nhóm thực nghiệm đã có sự khác biệt rõ rệt, lớpđược thực nghiệm có điểm TBC cao hơn lớp không được thực nghiệm.
Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn của hai bài kiểm tra là SMD = 1,13
Điều này có nghĩa mức độ ảnh hưởng của thực nghiệm là rất lớn
Phép kiểm chứng T-test Điểm trung bình sau thực nghiệm của hai lớp làp=0,00017< 0.05 Kết quả này khẳng định sự chênh lệch Điểm trung bình củahai nhóm không phải là do ngẫu nhiên mà là do thực nghiệm
Kết quả trên chứng minh tính hiệu quả của phương pháp mới tôi đã ápdụng trong quá trình nghiên cứu, sau đây tôi xin trình bày cụ thể các hoạtđộng cộng tác để học từ vựng đối với sự phát triển kĩ năng đọc hiểu môn tiếngAnh
2.2.2 Đọc hiểu là gì?
Có nhiều định nghĩa của các nhà khoa học về đọc hiểu, sau đây là một
số định nghĩa đó:
Theo Lee và VanPatten (1995, trang 191) "Hiểu, theo định nghĩa, là
quá trình liên quan đến thông tin mới hoặc thông tin đến thông tin đã được lưu trong bộ nhớ Người đọc kết nối giữa thông tin mới trên văn bản và kiến thức hiện có của họ Họ phải cho phép thông tin mới được nhập và trở thành một phần của kho kiến thức của họ ".
Choo, Eng, & Ahmad, (2011, trang 141) cho rằng đọc với mục đích làngười học không những đọc nhiều văn bản một cách độc lập mà còn đọc với sựhiểu biết để trích xuất và xử lý thông tin một cách hiệu quả được gọi là đọchiểu (reading comprehension)
Anderson và Pearson (1984, trang 255) chỉ ra rằng, trong khi ngườihọc đánh giá các ý tưởng được truyền đạt trong văn bản là lúc họ đang kết nốigiữa thông tin mới trên văn bản và kiến thức hiện có của họ Điều này đãchứng minh rằng, đọc hiểu là một quá trình trong đó người đọc có thể nhận racác hình thức đồ họa của văn bản đọc và hiểu những gì được ngụ ý các hình
- 10
Trang 14-thức này Ngoài ra, quá trình này bị ảnh hưởng rất nhiều bởi kiến -thức nền tảngcủa người đọc và khả năng ngôn ngữ của họ.
Nghiên cứu bản chất của RC, Grilled (1981, trang 3) chỉ ra rằng "Đọc
hiểu hoặc hiểu văn bản có nghĩa là trích xuất thông tin cần thiết từ nó một cách hiệu quả nhất có thể" Điều này có nghĩa là học sinh có thể thể hiện sự
hiểu biết của mình bằng cách diễn đạt lại nội dung của văn bản theo nhiều cáchnhư tóm tắt văn bản, trả lời câu hỏi, vv
Từ những quan điểm trên, có thể hiểu rằng đọc để hiểu là mục đíchchính để đọc Nâng cao nhận thức của học sinh về các ý chính trong một vănbản và khám phá việc tổ chức một văn bản là điều cần thiết để hiểu văn bảnmột cách hiệu quả nhất Đó là quá trình khi người đọc có thể nhận ra hình thức
đồ họa và hiểu mối quan hệ giữa chữ viết và nghĩa Đọc có nghĩa là hiểu ngônngữ viết nên khi việc hiểu đó không thực hiện được thì việc đọc thực sự khôngxảy ra
2.2.3 Tiến trình dạy kĩ năng đọc hiểu:
Một bài dạy đọc có thể được chia làm ba giai đoạn: giai đoạn trước khi đọc, giai đoạn trong khi đọc và giai đoạn sau khi đọc.Mỗi Mỗi giai đoạn này đều mang những đặc điểm và mục đích riêng và đòi hỏi những kỹ thuật khác nhau (William, 1984, trang 37)
a Giai đoạn trước khi đọc (Pre- reading)
Liên quan đến mục đích của giai đoạn trước khi đọc, William (1984,trang 37) viết: "điều mà giai đoạn trước khi đọc cố gắng làm là: giới thiệu vàkhơi dậy sự quan tâm đến chủ đề; thúc đẩy người học bằng cách đưa ra lý dođọc ; để cung cấp một số chuẩn bị ngôn ngữ cho văn bản " Điều này có thể đạtđược bằng cách sử dụng các kỹ thuật sau như Doff (1997, trang 59) đã nêu:
- Giới thiệu từ mới (Presenting vocabulary)
- Giới thiệu ngữ cảnh của bài đọc (Introducing the text)
- Đưa ra câu hỏi hướng dẫn (Giving guiding questions) b Giai đoạn trong khi đọc (While- reading):
-download by : skknchat@gmail.com
Trang 15Trong một bài học đọc, giai đoạn trong khi đọc đóng một phần cực kỳquan trọng Nếu giai đoạn này không tồn tại, học sinh sẽ không có cơ hội xử lývăn bản để hiểu mục đích của nhà văn và làm rõ nội dung của văn bản mộtcách chi tiết William (1984, trang 38) chỉ ra các mục tiêu của giai đoạn này là
để giúp hiểu về mục đích của nhà văn; để giúp hiểu cấu trúc văn bản; để làm rõvăn bản
Trong giai đoạn này, có hai kĩ thuật rất quan trọng mà giáo viên cần chútrọng trong dạy học đó là kĩ thuật đọc lướt (skimming) và đọc quét (scan)
- Đọc lướt (skimming):
Sau khi dạy từ mới hoặc giới thiệu bài đọc, giáo viên yêu cầu học sinhđọc thầm bài đọc lần thứ nhất Hoạt động này làm cho các em có được những ýtưởng chính của bài đọc trước khi đi vào chi tiết của bài đọc
Trong khi các học sinh đang đọc lướt bài đọc một cách im lặng, các emkhông hiểu từng từ xuất hiện trong văn bản Học sinh cần đọc một vài câu quantrọng và xác định một số từ hoặc thành ngữ liên quan đến ý tưởng của cácnhiệm vụ tiếp theo Các học sinh nên chú ý đến tiêu đề, phần bắt đầu, phầncuối cũng như câu chủ đề của mỗi đoạn thường truyền tải các ý chính của bàiđọc
- Đọc quét (scanning):
Đọc quét là một kĩ năng rất cần thiết để đọc hiểu một cách hiệu quả.Sau khi học sinh hoàn thành một số bài tập tập trung vào điểm chính hoặc hiểubiết chung về bài đọc, các em đọc lại bài đọc và tìm một số thông tin cụ thểtrong bài đọc
Giáo viên nên nhắc nhở học sinh của mình khi các em đang cố gắngxác định vị trí thông tin được yêu cầu cụ thể mà các em không cần phải đọctoàn bài đọc một cách cẩn thận, nhưng chú ý đến đoạn mà cần xác định thôngtin
c Giai đoạn sau khi đọc (Post- reading):
Giai đoạn sau khi đọc là giai đoạn cuối cùng của quá trình đọc bài,nhưng nó cũng quan trọng như các giai đoạn khác của một bài học đọc Đó là
- 12