(Luận văn thạc sĩ) Sự hỗ trợ của toà án đối với giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại ở Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Sự hỗ trợ của toà án đối với giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại ở Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Sự hỗ trợ của toà án đối với giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại ở Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Sự hỗ trợ của toà án đối với giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại ở Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Sự hỗ trợ của toà án đối với giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại ở Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Sự hỗ trợ của toà án đối với giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại ở Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Sự hỗ trợ của toà án đối với giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại ở Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Sự hỗ trợ của toà án đối với giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại ở Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Sự hỗ trợ của toà án đối với giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại ở Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Sự hỗ trợ của toà án đối với giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại ở Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Sự hỗ trợ của toà án đối với giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại ở Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Sự hỗ trợ của toà án đối với giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại ở Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Sự hỗ trợ của toà án đối với giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại ở Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Sự hỗ trợ của toà án đối với giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại ở Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Sự hỗ trợ của toà án đối với giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại ở Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Sự hỗ trợ của toà án đối với giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại ở Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Sự hỗ trợ của toà án đối với giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại ở Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Sự hỗ trợ của toà án đối với giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại ở Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Sự hỗ trợ của toà án đối với giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại ở Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Sự hỗ trợ của toà án đối với giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại ở Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Sự hỗ trợ của toà án đối với giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại ở Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Sự hỗ trợ của toà án đối với giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại ở Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Sự hỗ trợ của toà án đối với giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại ở Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Sự hỗ trợ của toà án đối với giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại ở Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Sự hỗ trợ của toà án đối với giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại ở Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Sự hỗ trợ của toà án đối với giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại ở Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Sự hỗ trợ của toà án đối với giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại ở Việt Nam
Trang 1Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI VÀ
SỰ HỖ TRỢ CỦA TÒA ÁN ĐỐI VỚI GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BẰNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI
5
1.1 Sự hình thành và phát triển của trọng tài thương mại 5 1.1.1 Khái quát chung về trọng tài thương mại 5
1.1.4 Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng
tài thương mại
15
1.1.5 Ưu điểm và nhược điểm của trọng tài thương mại so với
phương thức thương lượng, hòa giải và tòa án
16
1.2 Khái quát sự hỗ trợ của tòa án đối với giải quyết tranh chấp
bằng trọng tài thương mại
1.2.7 Một số vấn đề cần được lưu ý trong quá trình tòa án giải
quyết quyết các vụ việc liên quan tới trọng tài thương mại
30
Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI VÀ SỰ
HỖ TRỢ CỦA TÒA ÁN ĐỐI VỚI GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BẰNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM
33
Trang 24
2.1 Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng Trọng tài thương
mại tại Việt Nam
33
2.1.1 Thực trạng Pháp luật Trọng tài thương mại tại Việt Nam 33 2.1.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật Trọng tài thương mại tại Việt Nam 36 2.1.3 Những điểm hạn chế của pháp lệnh trọng tài thương mại
năm 2003
42
2.2 Thực trạng sự hỗ trợ của Tòa án đối với việc giải quyết tranh
chấp bằng con đường Trọng tài thương mại tại Việt Nam
56
2.2.1 Thực trạng sự hỗ trợ của tòa án đối với giải quyết tranh chấp
bằng trọng tài thương mại tại Việt Nam
56
2.2.2 Những hạn chế của Pháp lệnh trọng tài thương mại trong vấn
đề hỗ trợ của tòa án đối với trọng tài thương mại
59
Chương 3: ĐỔI MỚI NHẬN THỨC VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI
VÀ SỰ HỖ TRỢ CỦA TÒA ÁN ĐỐI VỚI GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BẰNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI
71
3.1 Đổi mới nhận thức về trọng tài thương mại trong giải quyết
tranh chấp
71
3.1.1 Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trọng tài 71
3.1.3 Một số điểm mới về quy định trọng tài viên 74
3.2 Đổi mới nhận thức về sự hỗ trợ của tòa án đối với giải quyết
tranh chấp bằng trọng tài thương mại
Trang 32.1 Số lượng vụ tranh chấp thương mại do các tổ chức trọng
tài thương mại Việt Nam giải quyết
41
Trang 46
MỞ ĐẦU
1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài
Trong thời đại kinh tế thị trường hiện nay, khi các doanh nghiệp ngày càng có điều kiện được thành lập với nhiều hình thức khác nhau và trong nhiều ngành nghề khác nhau thì việc liên kết, hợp tác hay thậm chí là cạnh tranh nhau đang ngày càng trở nên phổ biến Bên cạnh những hợp đồng hợp tác, những giao kết "thuận buồm xuôi gió" vẫn còn tồn tại khá nhiều những mâu thuẫn, bất đồng thậm chí vi phạm quyền lợi lẫn nhau giữa các doanh nghiệp Từ đó gây ra những thiệt hại cho các bên và cho cả nền kinh tế thị trường Chính vì vậy, thuật ngữ "tranh chấp thương mại" hay "tranh chấp kinh doanh" đã là thuật ngữ quen thuộc trong đời sống kinh tế xã hội ở các nước trên thế giới và mới được sử dụng rộng rãi, phổ biến ở nước ta trong mấy năm gần đây
Tranh chấp thương mại là một hiện tượng phổ biến và thường xuyên diễn ra trong hoạt động của nền kinh tế thị trường Do tính chất thường xuyên cũng như hậu quả của nó gây ra cho các chủ thể tham gia tranh chấp nói riêng
và cho cả nền kinh tế nói chung, pháp luật Việt Nam cũng đã sớm có những quan tâm nhất định đến hoạt động này, cũng như các phương thức giải quyết
nó thể hiện thông qua các quy định cụ thể trong nhiều văn bản pháp luật
Trọng tài thương mại ra đời và phát triển từ rất sớm, ở nhiều nước có nền kinh tế thị trường phát triển thì phần lớn các tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại thường được giải quyết thông qua phương thức trọng tài Trọng tài thương mại là hình thức giải quyết tranh chấp khá phổ biến trên thế giới, nhất là tại những nước có nền kinh tế thị trường phát triển Tại Việt Nam, tuy mới được hình thành, nhưng trọng tài cũng được khuyến khích sử dụng trong một loạt các luật như Luật Thương mại, Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp Giải quyết tranh chấp thương mại bằng hình thức trọng tài có 4 ưu
Trang 57
thế so với giải quyết bằng con đường tòa án Thứ nhất là thủ tục giải quyết đơn giản và nhanh Thứ hai là bảo đảm bí mật (xử kín) Điều này rất quan trọng đối với DN vì nó liên quan đến vấn đề uy tín, thương hiệu của DN Thứ
ba, các trọng tài viên là những chuyên gia hàng đầu Ưu thế thứ tư, xét xử bằng cơ chế trọng tài chỉ một lần nên nó là chung thẩm Quyết định của trọng tài buộc các bên phải thi hành ngay, nếu không sẽ được chuyển sang cơ quan thi hành án dân sự thi hành
Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại một cách nhanh chóng, hiệu quả và cũng làm giảm bớt gánh nặng cho tòa án Trong thực tế, vì Trọng tài là một cơ quan phi Chính phủ nên vẫn cần có sự trợ giúp của Tòa án Tòa án hỗ trợ giám sát rất lớn đối với việc thực thi các phán quyết của trọng tài, hỗ trợ trong việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời… Có thể nói trọng tài không thể hoạt động tốt nếu thiếu sự hỗ trợ của tòa án Vì vậy việc nghiên cứu những vấn đề lý luận chung, thực trạng
về trọng tài và sự hỗ trợ của tòa án đối với hoạt động trọng tài là cần thiết trong giai đoạn hiện nay để đảm bảo cho việc giải quyết tranh chấp bằng con
đường trọng tài thực sự đạt hiệu quả Chính vì vậy tác giả chọn đề tài "Sự hỗ
trợ của toà án đối với giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại ở Việt Nam" để nghiên cứu
2 Tình hình nghiên cứu
Từ trước đến nay cũng đã có một số bài báo, bài viết về vấn đề này nhưng cũng chỉ nói chung mà chưa đi sâu nghiên cứu chi tiết pháp luật về trọng tài thương mại, bản chất thỏa thuận trọng tài cũng như thực trạng về thỏa thuận trọng tài thương mại ở nước ta Trong xu thế hội nhập hiện nay, việc nghiên cứu một cách có hệ thống về vấn đề này mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc Những giải pháp của đề tài hy vọng sẽ đem lại những kết quả thiết thực cho việc hoàn thiện các quy định pháp luật về trọng tài của Việt Nam
Trang 68
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Trong nội dung trình bày đề tài sẽ tập trung nghiên cứu lý luận chung
về trọng tài thương mại và sự hỗ trợ của tòa án đối với hoạt động trọng tài, sau đó tác giả sẽ đưa ra những nhận xét, đánh giá thực trạng pháp luật về sự
hỗ trợ của tòa án đối với hoạt động trọng tài về 5 nội dung:
- Tòa án hỗ trợ trong việc thi hành thỏa thuận trọng tài
- Sự hỗ trợ của tòa án trong việc lựa chọn trọng tài viên
- Tòa án xem xét lại quyết định của Hội đồng trọng tài về tính hợp pháp của thỏa thuận trọng tài, về thẩm quyền trong việc giải quyết tranh chấp
- Sự hỗ trợ của tòa án trong việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời
- Sự hỗ trợ của tòa án trong việc hủy quyết định của trọng tài
Qua đó nêu lên những điểm đổi mới hoàn thiện của Luật Trọng tài thương mại
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu cả hai phương diện lý luận và thực tiễn về sự hỗ trợ của tòa án đối với việc giải quyết tranh chấp thương mại bằng con đường trọng tài thương mại tại Việt Nam Trước tiên, nghiên cứu về trọng tài thương mại, thực trạng và sự phát triển của trọng tài thương mại nói chung Sau đó tập trung nghiên cứu và đưa ra quan điểm đổi mới hoàn thiện pháp luật về sự
hỗ trợ của tòa án và thực trạng sự hỗ trợ của tòa án đối với việc giải quyết tranh chấp bằng con đường trọng tài thương mại ở nước ta
Đề tài được nghiên cứu dựa trên phương pháp lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin Đồng thời cũng kết hợp với các phương pháp khác như: phân tích, tổng hợp,
so sánh… để nghiên cứu
Trang 79
5 Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn
Nghiên cứu đề tài này, luận văn có những đóng góp mới về mặt khoa học trên những khía cạnh chủ yếu sau:
Thứ nhất: Tiếp tục hoàn thiện cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây
dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về thỏa thuận trọng tài thương mại ở Việt Nam
Thứ hai: Luận văn đi sâu phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam về
thỏa thuận trọng tài thương mại thông qua một số ví dụ cụ thể
Thứ ba: Đưa ra quan điểm đổi mới nhận thức về trọng tài thương mại
và sự hỗ trợ của tòa án đối với giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Lý luận chung về Trọng tài thương mại và sự hỗ trợ của
Tòa án đối với giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại
Chương 2: Thực trạng về trọng tài thương mại và sự hỗ trợ của Tòa án
đối với giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại tại Việt Nam
Chương 3: Đổi mới nhận thức về trọng tài thương mại và sự hỗ trợ
của tòa án đối với giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại
Trang 810
Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI
VÀ SỰ HỖ TRỢ CỦA TÒA ÁN ĐỐI VỚI GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
BẰNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI
1.1 Sự hình thành và phát triển của trọng tài thương mại
1.1.1 Khái quát chung về trọng tài thương mại
Thực tiễn thương mại trên thế giới đã chứng tỏ rằng, trọng tài là một phương thức hữu hiệu để giải quyết tranh chấp Phương thức này đã xuất hiện
từ lâu và ngày càng phổ biến trong đời sống kinh tế ở khắp nơi trên thế giới Khái niệm trọng tài được nghiên cứu dưới rất nhiều bình diện khác nhau trong khoa học pháp lý và hiện nay cũng có rất nhiều cách tiếp cận về khái niệm này Trọng tài với tư cách là một phương thức giải quyết tranh chấp là cách tiếp cận chủ yếu của hệ thống các quy định pháp luật về trọng tài
Theo cuốn "Đại từ điển kinh tế thị trường" thì Trọng tài làm một phương thức giải quyết một cách hòa bình các vụ tranh chấp Là chỉ đôi bên đương sự tự nguyện đem những sự việc, những vấn đề tranh chấp giao cho bên thứ ba có tư cách công bằng chính trực xét xử, lời phán quyết do người này đưa ra có hiệu lực ràng buộc với cả hai bên
Theo Luật mẫu của UNCITRAL - một văn bản nhiều nước tiếp nhận
khi xây dựng luật trọng tài thì Trọng tài nghĩa là mọi hình thức trọng tài có
hoặc không có sự giám sát của tổ chức
Theo Hội đồng trọng tài Mỹ (AAA) thì Trọng tài là cách thức giải quyết tranh chấp bằng cách đệ trình vụ tranh chấp cho một số người khách quan xem xét giải quyết và họ sẽ đưa ra quyết định cuối cùng, có giá trị bắt buộc các bên tranh chấp phải thi hành
Trang 911
Theo cuốn "Đạo đức và kỹ năng hành nghề luật sư trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa" do PGS.TS Lê Hồng Hạnh làm chủ biên thì Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp theo đó hai hay nhiều bên đưa vụ tranh chấp của họ ra trước bên thứ ba trung lập để chủ thể này tiến hành giải quyết tranh chấp theo những thủ tục đặc trưng của quá trình đó
Theo Nghị định 116/CP ngày 5/9/1994 về tổ chức và hoạt động của trọng tài kinh tế thì:
Trọng tài kinh tế là tổ chức xã hội - nghề nghiệp có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về hợp đồng kinh tế; các tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau, liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể công ty; các tranh chấp có liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu [2]
Tuy nhiên, trọng tài thương mại còn cụ thể và chi tiết hơn trọng tài kinh tế vì hoạt động thương mại chỉ là một phần của hoạt động kinh tế Hiểu một cách ngắn gọn thì trọng tài thương mại trước hết phải là một trong những hình thức trọng tài, chức năng của trọng tài thương mại là giải quyết các tranh chấp thương mại
Pháp luật trọng tài Việt Nam cũng có quy định tương tự về khái niệm
này: "Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại được các bên thỏa thuận và được tiến hành theo trình tự thủ tục do pháp lệnh này quy định" [30, Khoản 1, Điều 2]
Bên cạnh đó, trọng tài với tư cách là một cơ quan giải quyết tranh chấp cũng là cách tiếp cận khá phổ biến, ví dụ như theo Từ điển tiếng Việt thì
trọng tài là người được cử ra để phân xử, giải quyết những vụ tranh chấp
Ngoài ra, khái niệm này còn được tiếp cận với tư cách là một chế định
pháp luật, theo cuốn Danh từ pháp luật lược giải thì trọng tài là "một chế định
Trang 101.1.2 Đặc điểm trọng tài thương mại
* Trọng tài với tư cách là một cơ quan giải quyết tranh chấp
Trọng tài được hiểu là một cơ quan tài phán, có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại Ở các nước có nền kinh
tế thị trường, trọng tài được thừa nhận là cơ quan tài phán độc lập tại song song với Tòa án Pháp luật tôn trọng quyền tự do lựa chọn của các bên, khi có tranh chấp trong thương mại phát sinh, các chủ thể có thể lựa chọn hoặc Tòa
án hoặc Trọng tài giải quyết tranh chấp cho mình Nếu các bên đã có thỏa thuận trọng tài có hiệu lực, đưa tranh chấp ra Trọng tài giải quyết mà sau đó các bên lại đưa đơn yêu cầu Tòa án giải quyết thì Tòa án không được thụ lý
và sẽ trả lại đơn kiện và vụ tranh chấp đó sẽ do trọng tài giải quyết
Trong tương quan so sánh với Tòa án, cơ quan giải quyết tranh chấp thương mại thuộc hệ thống cơ quan Nhà nước, Trọng tài thương mại có những đặc trưng riêng khác hẳn với Tòa án, cụ thể là:
Một là, với hình thức là một Trung tâm Trọng tài thì trọng tài là một
tổ chức xã hội - nghề nghiệp do các trọng tài viên tự thành lập nên để giải quyết tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực kinh doanh thương mại; còn với hình thức là trọng tài vụ việc (ad- hoc) thì trọng tài là một tổ chức lâm thời do các bên tranh chấp thỏa thuận thành lập để giải quyết một vụ việc tranh chấp
cụ thể Trọng tài không phải là cơ quan xét xử của Nhà nước, không do Nhà nước thành lập nên và cũng không hoạt động bằng ngân sách nhà nước Các
Trang 1113
trọng tài viên không phải là viên chức nhà nước và cũng không hưởng lương
từ ngân sách nhà nước Khi xét xử, trọng tài không nhân danh Nhà nước mà nhân danh "quyền lực tư" để ra các phán quyết
Hai là, thẩm quyền giải quyết của trọng tài đối với tranh chấp thương
mại cụ thể không tự nhiên mà có, không do pháp luật ấn định mà còn phụ thuộc vào sự thỏa thuận của các chủ thể tranh chấp Pháp luật quy định, trọng tài chỉ có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp khi các bên tranh chấp có thỏa thuận lựa chọn trọng tài giải quyết Nếu không có thỏa thuận trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp về việc lựa chọn trọng tài hoặc có nhưng thỏa thuận trọng tài vô hiệu thì trọng tài không có thẩm quyền giải quyết Có thể nói, chính các chủ thể tranh chấp với việc lựa chọn trọng tài giải quyết tranh chấp của mình đã trao quyền được xét xử vụ việc cho trọng tài
Ba là, phán quyết trọng tài vừa có tính tài phán của cơ quan có thẩm
quyền xét xử, vừa thể hiện ý chí, sự thỏa thuận của các bên Tuy nhiên, do trọng tài không phải là cơ quan xét xử của Nhà nước như Tòa án nên phán quyết của trọng tài không mang tính quyền lực nhà nước Phán quyết của trọng tài có giá trị ràng buộc đối với các bên tranh chấp mà không có giá trị ràng buộc với bên thứ ba Ngay cả khi một hoặc các bên tranh chấp không tôn trọng phán quyết trọng tài, không tự nguyện thi hành phán quyết thì trọng tài cũng không có cơ quan cưỡng chế của riêng mình để cưỡng chế thi hành Phán quyết trọng tài do các bên đương sự tự nguyện thi hành hoặc nhờ đến sự
hỗ trợ của cơ quan Nhà nước để cưỡng chế thi hành
Như vậy, với tư cách là một cơ quan tài phán, trọng tài không nằm trong hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước, tồn tại độc lập, song song với Tòa
án và có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp khi được các bên lựa chọn
* Trọng tài thương mại với tư cách là một hình thức giải quyết tranh chấp thương mại
Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực kinh doanh thương mại, tồn tại song song với các phương thức giải quyết
Trang 1214
tranh chấp khác như: thương lượng, hòa giải, tòa án và các phương thức giải quyết tranh chấp lựa chọn ADR Trọng tài và các phương thức ADR, nói chung là các phương thức giải quyết ngoài tòa án, không cạnh tranh với toàn
án mà tòa án, trọng tài ADR là các phương thức bổ sung lẫn nhau Thực tế, trọng tài không thể phát triển mà không có sự hợp tác và kiểm soát cuối cùng của tòa án quốc gia Trọng tài đã trở thành phương thức được sử dụng phổ biến để giải quyết các tranh chấp thương mại quốc tế Với tính chất là một phương thức giải quyết tranh chấp, trọng tài thương mại được hiểu là phương thức, trong đó các bên tranh chấp tự nguyện thỏa thuận với nhau để ủy thác việc giải quyết tranh chấp đã hoặc sẽ phát sinh giữa họ cho trọng tài; và trọng tài, trên cơ sở các tình tiết khách quan của tranh chấp, được quyền đưa ra quyết định cuối cùng để giải quyết tranh chấp và quyết định này có giá trị bắt buộc thi hành đối với các bên Tại Việt Nam, trọng tài theo đúng nghĩa là một phương thức giải quyết tranh chấp chỉ ra đời từ năm 1993 trên cơ sở Quyết định số 204-TTg của thủ tướng Chính phủ ngày 28/4/1993 về việc thành lập trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC)
Với tư cách là một hình thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại, trọng tài có những đặc trưng cơ bản sau:
Một là, trọng tài là một hình thức giải quyết tranh chấp có sự tham gia
của bên thứ ba - một Hội đồng trọng tài hoặc một trọng tài viên duy nhất Trọng tài do chính các bên tranh chấp thỏa thuận lựa chọn trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp Trọng tài là người hoàn toàn độc lập với các bên, đứng giữa để giải quyết tranh chấp, đưa ra các phán quyết bắt buộc để bảo vệ quyền
và lợi ích của các bên
Hai là, trọng tài là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua một thủ
tục tố tụng chặt chẽ Đối với trọng tài thường trực trong quá trình giải quyết tranh chấp, trọng tài viên và các bên tranh chấp phải tuân thủ đúng trình tự tố tụng mà pháp luật trọng tài, điều lệ và quy tắc tố tụng của tổ chức trọng tài đó
Trang 1315
quy định Còn đối với trọng tài vụ việc, các bên có thể thỏa thuận thủ tục tố tụng riêng, ngoài ra, các trọng tài viên và các bên cũng phải tuân thủ đúng thủ tục tố tụng trọng tài mà mình đặt ra
Ba là, kết quả của việc giải quyết tranh chấp tại trọng tài là phán quyết
do trọng tài tuyên đối với các bên đương sự của vụ tranh chấp, phán quyết của trọng tài mang tính chung thẩm, vừa kết hợp yếu tố thỏa thuận (các bên đương sự có thể thỏa thuận về trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp, luật áp dụng đối với vụ tranh chấp…), vừa kết hợp yếu tố tài phán (có giá trị bắt buộc
đối với các bên)
1.1.3 Các hình thức trọng tài thương mại
Với tư cách là tổ chức giải quyết tranh chấp trọng tài thường được biết
đến với hai hình thức phổ biến là trọng tài vụ việc (trọng tài ad-hoc) và trọng
tài thường trực (trọng tài quy chế)
* Trọng tài vụ việc (trọng tài ad-hoc)
Trọng tài vụ việc là hình thức trọng tài được lập ra theo yêu cầu của các đương sự để giải quyết một vụ tranh chấp cụ thể và tự giải thể khi tranh chấp đó đã được giải quyết Tính chất vụ việc của hình thức trọng tài này được thể hiện ở chỗ:
Thứ nhất, trọng tài vụ việc chỉ được thành lập khi phát sinh tranh chấp
và tự chấm dứt hoạt động (tự giải thể) khi giải quyết xong tranh chấp
Thứ hai, trọng tài vụ việc không có trụ sở thường trực, không có bộ
máy điều hành và không có danh sách trọng tài viên riêng Trọng tài viên được các bên chọn hoặc được chỉ định có thể là người có tên hoặc ngoài danh sách trọng tài viên của bất cứ trung tâm trọng tài nào
Thứ ba, trọng tài vụ việc không có quy tắc tố tụng dành riêng cho
mình, mà quy tắc tố tụng để giải quyết vụ tranh chấp phải được các bên thỏa thuận xây dựng Thông thường, các bên tranh chấp có thể thỏa thuận lựa chọn
Trang 3436
Một số vấn đề cần được lưu ý là khi có yêu cầu tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời các doanh nghiệp cần phải chú ý đến thời gian sao cho tòa án có đủ điều kiện ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trước khi ngân hàng thực hiện thanh toán LC cho phía ngân hàng thụ hưởng, đồng thời cũng phải xem xét đến việc có thời gian để phía cơ quan thi hành án dân sự thực hiện quyết định của tòa án
Về thỏa thuận trọng tài không được rõ ràng như trên đã nêu, do không chú ý đến những thỏa thuận của cơ quan tài phán về phương thức, điều khoản giải quyết tranh chấp nên các bên khi chọn cơ quan tài phán cũng có nhiều sơ suất Các bên chỉ thỏa thuận một cách chung chung là khi có tranh chấp chỉ được giải quyết bằng trung tâm trọng tài thương mại hoặc trung tâm trọng tài thương mại quốc tế mà không chỉ rõ đó là trung tâm trọng tài thương mại nào
có trụ sở tai đâu (ví dụ như có trường hợp các bên thỏa thuận khi có tranh chấp giải quyết tại trung tâm trọng tài kinh tế tại Hà Nội mà không ghi rõ là trung tâm trọng tài kinh tế cụ thể nào, trong khi đó tại Hà Nội có rất nhiều trung tâm trọng tài thương mại)
- Các bên thỏa thuận hoặc các bên có thỏa thuận về trọng tài nhưng có thỏa thuận sai về tên trung tâm trọng tài hoặc có thỏa thuận về trọng tài nhưng dẫn chiếu tên không chính xác
Địa vị pháp lý của người ký thỏa thuận trọng tài: Vấn đề này cần được lưu ý và rất nhiều các hợp đồng kinh tế do những người là phó giám đốc hoặc phó tổng giám đốc hoặc tổng giám đốc hay không? Chính vì vậy nhiều đương
sự đã lấy căn cứ này để yêu cầu tòa hủy phán quyết trọng tài khi phán quyết của trọng tài không có lợi cho họ
Cần phải tìm hiểu rõ đối tác trước khi ký kết hợp đồng kinh tế: Trong quá trình giải quyết tranh chấp về kinh doanh thương mại nói chung (kể cả ở tòa án hoặc các vụ việc có liên quan tới trọng tài) thì vấn đề tìm hiểu đối tác (địa vị pháp lý của doanh nghiệp là hết sức cần thiết) Tòa án nhân dân thành
Trang 3537
phố Hà Nội cũng đã giải quyết một số trường hợp mà doanh nghiệp nước ngoài không có trên thực tế Điều này làm cho các doanh nghiệp Việt Nam khi thực hiện hợp đồng phát hiện ra quyền lợi bị xâm hại thường không biết tiến hành các thủ tục tố tụng cần thiết để bảo vệ quyền lợi cho mình được
Công cuộc đổi mới đất nước do Đảng khởi xướng và lãnh đạo đang đạt được những thành tựu hết sức to lớn, trong đó nổi bật là sự tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, trong điều kiện hoàn cảnh của nền kinh tế thị trường thì tranh chấp kinh tế là một thuộc tính mang tính quy luật Chính vì vậy, đòi hỏi phải có những cơ quan tài phán có đầy đủ năng lực để giải quyết những tranh chấp về kinh doanh thương mại ngày một gia tăng và phức tạp
Cùng với sự trưởng thành của các tòa kinh tế trong hệ thống tòa án nhân dân, thì các trung tâm trọng tài thương mại cũng có sự phát triển Với những trọng tài viên có nhiều kinh nghiệm trong chuyên môn, là những chuyên gia đầu ngành, chúng tôi tin rằng Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam nói riêng và hệ thống các trung tâm trọng tài thương mại nói chung sẽ không ngừng lớn mạnh đáp ứng những yêu cầu mới của đất nước
Với chức năng thẩm quyền là cơ quan tài phán nhân danh Nhà nước, tòa án sẽ có sự phối kết hợp cùng các trung tâm trọng tài thương mại đảm bảo giải quyết tranh chấp về kinh doanh thương mại theo thẩm quyền mà pháp luật quy định
Trang 3638
Chương 2
THỰC TRẠNG VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI
VÀ SỰ HỖ TRỢ CỦA TÒA ÁN ĐỐI VỚI GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
BẰNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM
2.1 Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng Trọng tài thương mại tại Việt Nam
2.1.1 Thực trạng Pháp luật Trọng tài thương mại tại Việt Nam
Trọng tài đang dần dần được doanh nghiệp Việt Nam sử dụng trong hoạt động thương mại Tuy nhiên, do lịch sử cũng như do nhận thức, trọng tài chưa có một vai trò đúng như nó cần phải có Mấy chục năm qua, do ảnh hưởng của nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, các doanh nghiệp đã không quan tâm đến trọng tài Nhiều doanh nghiệp không phân biệt được sự khác nhau giữa trọng tài kinh tế (Nhà nước) với trọng tài phi Chính phủ, không tín nhiệm trọng tài vì thiếu hiệu lực cưỡng chế quyết định trọng tài
Điều này đã khiến cho các doanh nghiệp không "mặn mà" với trọng tài mà
các biểu hiện khá phổ biến là:
- Doanh nghiệp chưa có một thói quen đặt ra câu hỏi là cần lựa chọn trọng tài hay tòa án khi ký kết hợp đồng và tại sao lại như vậy
- Nếu chọn trọng tài, họ cũng chỉ quy định một cách chung chung, không chính xác, ví dụ, trong các điều khoản trọng tài họ vừa chọn trọng tài lại vừa chọn tòa án; chọn trọng tài tài A để phúc thẩm trọng tài B; chọn trọng tài A nhưng lại quy định dùng quy tắc trọng tài B để áp dụng; ghi tên tổ chức trọng tài hoặc ghi quy tắc tố tụng không chính xác Những điều khoản trọng tài như vậy rất dễ bị tranh chấp về tính hiệu lực của nó
- Nếu chọn trọng tài, các bên trong thỏa thuận trọng tài cũng không hiểu biết lắm về trọng tài Họ không hiểu bản chất của phương thức giải quyết
Trang 3739
tranh chấp bằng trọng tài hoặc hiểu "mù mờ" về tổ chức trọng tài hoặc quy tắc
tố tụng trọng tài mà họ lựa chọn Sự thỏa thuận chọn trọng tài, chọn quy tắc, chọn địa điểm xét xử và luật áp dụng lắm khi là do cách quan niệm rằng tranh chấp sẽ không sẩy ra, nếu có sẩy ra thì sẽ thương lượng
Thực tế cho thấy, một số doanh nghiệp Việt Nam, do không chọn trước trọng tài (hay tòa án) khi có tranh tranh chấp phát sinh trong các vụ kiện
có yếu tố nước ngoài, họ không biết quyết định như thế nào Chọn trọng tài thì đã quá muộn vì đối tác không hợp tác, chọn tòa án nước ngoài của đối tác thì vừa sợ, vừa lo Sợ vì không biết thủ tục pháp luật, lo vì chi phí Chọn tòa
án Việt Nam thì không chắc bản án của Tòa án ta có được nước ngoài công nhận không Với trường hợp thứ hai nêu trên, khả năng vô hiệu của điều khoản trọng tài sẽ rất cao Một điều khoản trọng tài bị coi là vô hiệu sẽ dẫn đến hệ quả phức tạp, nhất là việc quyết định trọng tài có thể bị hủy, vụ tranh chấp sẽ bị kéo dài không cần thiết Với trường hợp nêu trên, sẽ làm cho nhiều doanh nghiệp bị bất ngờ, lúng túng vì trước đó, họ không biết gì hơn về trọng tài, về pháp luật họ chọn, quá trình trọng tài hoặc bị kéo dài, hoặc có rủi ro
Sẽ không có trọng tài nếu không có thỏa thuận trọng tài Khác với tòa
án, nơi đương nhiên có thẩm quyền xét xử bất kỳ tranh chấp trong nước nào, trọng tài chỉ có thẩm quyền xét xử các tranh chấp khi các bên tranh chấp (trong nước hoặc có yếu tố nước ngoài) có thỏa thuận chọn trọng tài để giải quyết tranh chấp
Mỗi quốc gia khác nhau, do ảnh hưởng của các yếu tố về kinh tế, chính trị, phong tục tập quán cũng như trình độ lập pháp khác nhau mà hệ thống pháp luật của mỗi nước đều mang những nét riêng biệt, ngay cả với những nhưng quy định về thỏa thuận trọng tài cũng vậy Tại Việt Nam hiện nay, cơ sở pháp lý chủ yếu cho hoạt động của trọng tài thương mại được tạo
thành bởi quy định trong các văn bản sau đây:
1 Quyết định 264/TTg ngày 28/4/1993 của Thủ tướng Chính phủ về
tổ chức Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam
Trang 3840
2 Nghị định 16/NĐ-CP ngày 5/9/1994 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của trọng tài kinh tế
2 Quyết định 114/TTg ngày 16/02/1996 của Thủ tướng Chính phủ về
mở rộng thẩm quyền cho trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam
3 Công ước New York 1958 về Công nhận và Thi hành các Quyết định của Trọng tài nước ngoài mà Việt Nam là thành viên, nội dung cơ bản của công ước đã được luật hóa tại Bộ luật Tố tụng dân sự 2004
4 Bộ luật Dân sự năm 2005
5 Bộ luật tố tụng Dân sự được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 15/06/2004 có hiệu lực từ ngày 01/01/2005 (Phần thứ năm: Chương XXV thủ tục giải quyết các việc dân sự liên quan đến hoạt động trọng tài thương mại Việt Nam; Phần thứ sau: Chương XXI thủ tục xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài)
6 Luật thương mại 2005 được Quốc hội khóa XI ngày 14/05/2005 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2006, quy định việc giải quyết tranh chấp với hình thức trọng tài tại Điều 317
7 Pháp lệnh Thi hành án dân sự số 13/2004/PL-UBTVQH11 được Ủy ban thường vụ quốc hội thông qua ngày 14/01/2004 có hiệu lực từ ngày 01/07/2004, trong đó, có quy định về tổ chức thủ tục thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam và quyết định của Trọng tài Thương mại Việt Nam
8 Pháp lệnh Trọng tài thương mại số 08/2003/PL-UBTVQH11 được UBTVQH khóa XI thông qua ngày 25/02/2005 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/07/2003
9 Nghị quyết số 05/2003/ HĐTP/TANDTC của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 31/07/2003 hướng dẫn thi hành một số quy định Pháp lệnh Trọng tài Thương mại 2003
Trang 3941
10 Nghị định số 25/2004/NĐ-CP ngày 5/01/2004 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003
11 Luật trọng tài thương mại năm 2010
2.1.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật Trọng tài thương mại tại Việt Nam
Về tổ chức:
Sự phát triển của tổ chức trọng tài gắn liền với sự phát triển kinh từ -
xã hội của đất nước và có thú chia thành 3 giai đoạn:
Giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1994:
Xét về mặt lịch sử, đây là giai đoạn hình thành tổ chức trọng tài với tính cách là một thiết chế giải quyết các tranh chấp kinh tế Trong giai đoạn này, tổ chức trọng tài được gọi là trọng tài kinh tế
Trọng tài kinh từ được hình thành và phát triển cùng với sự ra đời của chế độ hợp đồng kinh từ Ngày 04/1/1960, Thủ tướng Chính phủ ký ban hành Nghị định số 04-TTg ban hành Điều lệ tạm thời vũ chế độ hợp đồng kinh từ Đến ngày 14/11/1960, Nghị định số 20/TTg vũ Tổ chức Trọng tài kinh từ Nhà nước được ban hành Theo Nghị định này, Trọng tài kinh từ được tổ chức ở cấp Trung ương, khu, thành phố, tỉnh và bộ với chức năng chủ yếu là xử lý các tranh chấp hợp đồng kinh tế Ngay sau khi Chính phủ ban hành Nghị định
số 54-CP ngày 10/3/1975 về chế độ hợp đồng kinh tế thay thế Nghị định số 04-TTg, thì Điều lệ Tổ chức và hoạt động của Trung tâm Trọng tài kinh tế cũng đã được ban hành kèm theo Nghị định số 75-CP ngày 14/4/1975 Theo Bản Điều lệ này, Trọng tài kinh tế được thành lập như một cơ quan nhà nước
có chức năng quản lý công tác hợp đồng kinh tế Đó là chức năng giữ vững tính kỷ luật Nhà nước về hợp đồng kinh tế, giải quyết các tranh chấp về hợp đồng kinh tế và xử lý vi phạm hợp đồng kinh tế
Theo quy định của Nghị định số 24/HĐBT ngày 10/8/1981 của Hội đồng Bộ trưởng, Hội đồng Trọng tài kinh tế được thống nhất tên gọi là Trọng
Trang 4042
tài kinh tế và ngạch Trọng tài viên được xác lập Ngày 17/4/1984, Hội đồng
Bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 62/HĐBT quy định chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Trọng tài kinh tế bộ, tỉnh, huyện Ngày 10/1/1990, Hội đồng Nhà nước ban hành Pháp lệnh về Trọng tài kinh tế quy định tổ chức, phân cấp thẩm quyền, thủ tục giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế Pháp lệnh Trọng tài kinh tế đã bỏ Trọng tài cấp bộ, ghi nhận nguyên tắc các bên có quyền thỏa thuận lựa chọn trọng tài đứng ra giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế
Như vậy, Trọng tài kinh tế là cơ quan thuộc hệ thống cơ quan chấp hành và điều hành của Nhà nước (Hội đồng Bộ trưởng, Ủy ban nhân dân các cấp), có chức năng quản lý Nhà nước đối với công tác hợp đồng kinh tế bao gồm: giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế; kiểm tra, kết luận và xử lý các hợp đồng kinh tế trái pháp luật; hướng dẫn thực hiện pháp luật hợp đồng kinh
tế và Trọng tài kinh tế; bồi dưỡng nghiệp vụ công tác hợp đồng kinh tế và trọng tài kinh tế
Nét đặc thù của Trọng tài kinh tế thể hiện ở chỗ, hoạt động giải quyết tranh chấp, xử lý hợp đồng kinh tế cũng chính là phương tiện để đạt được mục đích tổ chức điều hành, tổ chức các quan hệ kinh tế
Trọng tài kinh tế từ chỗ là cơ quan Nhà nước có chức năng chủ yếu là
xử lý các vi phạm hợp đồng kinh tế (Nghị định số 20/TTg ngày 14/1/1960),
đã phát triển thành một cơ quan Nhà nước có chức năng chủ yếu là quản lý công tác hợp đồng kinh tế (Nghị định số 75/CP ngày 04/4/1975, Nghị định số 24/HĐBT ngày 10/8/1981, Nghị định số 62/HĐBT ngày 17/4/1984, Pháp lệnh Trọng tài kinh tế ngày 12/1/1990)
Bên cạnh trọng tài kinh tế nhà nước, vào giai đoạn này ở Việt Nam còn tồn tại trọng tài phi Chính phủ Đó là Hội đồng trọng tài ngoại thương và Hội đồng trọng tài hàng hải Việt Nam được thành lập bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam từ năm 1963 và 1964 Hội đồng trọng