Lý do lựa chọn đề tài luận ánViệt Nam là quốc gia biển, có đường bờ biển dài khoảng 3 260km vàhơn 1 triệu km2 vùng đặc quyền kinh tế Các vùng biển Việt Nam có vị trí địachính trị, địa
Trang 1Ph¸t triÓn khu kinh tÕ ven biÓn
ë c¸c tØnh b¾c trung bé
Chuyên ngành: Kinh tế Chính trị
Mã số : 931 01 02
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 PGS TS Phạm Văn Sơn
2 TS Đỗ Văn Nhiệm
HÀ NỘI - 2022
Trang 2nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu kết quả nêu ra trong luận án là trung thực có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Trang 3
1 1 Một số công trình nghiên cứu nước ngoài liên quan đến đề tài luận án 13
1 2 Một số công trình nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài luận án 22
1 3 Đánh giá khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình liên quan
đã công bố và những vấn đề luận án cần tập trung giải quyết 29
Chương
2
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHU KINH TẾ VEN BIỂN, PHÁT TRIỂN KHU KINH TẾ VEN BIỂN Ở CÁC TỈNH BẮC TRUNG BỘ VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN 35
2 1 Những vấn đề chung về khu kinh tế, khu kinh tế ven biển và phát
2 2 Quan niệm, tiêu chí đánh giá và các yếu tố ảnh hưởng đến khu
kinh tế ven biển ở các tỉnh Bắc Trung Bộ 50
2 3 Kinh nghiệm phát triển khu kinh tế ven biển ở một số vùng
3 1 Ưu điểm, hạn chế của khu kinh tế ven biển ở các tỉnh Bắc Trung Bộ 85
3 2 Nguyên nhân ưu điểm, hạn chế và những vấn đề đặt ra cần giải
quyết từ thực trạng khu kinh tế ven biển ở các tỉnh Bắc Trung Bộ 116
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN
Trang 48 Khu kinh tế cửa khẩu KKTCK
9 Khu kinh tế đặc biệt KKTĐB
Trang 504 Bảng 3 4: Số lao động phân theo trình độ trong khu kinh tế ven
biển ở các tỉnh Bắc Trung Bộ giai đoạn 2015-2020 92
05 Bảng 3 5: Trình độ và năng lực công nghệ sản xuất của các dự án
đầu tư sản xuất kinh doanh trong KKTVB ở các tỉnh BTB giai đoạn
06 Bảng 3 6: Trình độ và năng lực công nghệ sản xuất của dự án
đầu tư hạ tầng kỹ thuật, xã hội trong KKTVB ở các tỉnh BTB
07 Bảng 3 7: Số lượng doanh nghiệp trong khu kinh tế ven biển ở
các tỉnh Bắc Trung Bộ giai đoạn 2015-2020 101
08 Bảng 3 8: Tổng giá trị xuất, nhập khẩu trong KKTVB ở các
tỉnh TBT và cả nước giai đoạn 2015-2020 103
09 Bảng 3 9: Lao động trong khu kinh tế ven biển ở các tỉnh Bắc
Trung Bộ giai đoạn 2015-2020 113
10 Bảng 3 10 Cán cân xuất, nhập khẩu của KKTVB ở BTB so với
KKTVB cả nước giai đoạn 2015-2020 114
Trang 6DANH MỤC HÌNH
01 Hình 3 1: Số lượng dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh KKTVB
ở BTB so với KKTVB cả nước năm 2020 86
02 Hình 3 2: Tỷ lệ lấp đầy diện tích khu kinh tế ven biển ở các tỉnh Bắc
03 Hình 3 3: Vốn đầu tư nước ngoài thực hiện trên vốn đăng ký
trong dự án đầu tư sản xuất kinh doanh KKTVB ở BTB so với
04 Hình 3 4: Vốn đầu tư trong nước thực hiện trên vốn đăng ký
trong các dự án đầu tư sản xuất kinh doanh KKTVB ở BTB so
05 Hình 3 5: Giá trị sản xuất công nghiệp trong khu kinh tế ven
biển ở các tỉnh Bắc Trung Bộ so với các KKTVB của cả nước
06 Hình 3 6: Đóng góp vào ngân sách nhà nước của KKTVB ở
các tỉnh Bắc Trung Bộ so với khu kinh tế ven biển của cả
MỞ ĐẦU
Trang 71 Lý do lựa chọn đề tài luận án
Việt Nam là quốc gia biển, có đường bờ biển dài khoảng 3 260km vàhơn 1 triệu km2 vùng đặc quyền kinh tế Các vùng biển Việt Nam có vị trí địachính trị, địa kinh tế, địa quân sự, quan trọng trong khu vực và trên thế giớiVới gần 50% dân số sống ở 28 tỉnh, thành phố ven biển, Việt Nam là quốc gia
có lợi thế và tiềm năng to lớn để phát huy vai trò các khu kinh tế ven biểntrong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và tăng cường hộinhập quốc tế là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài Nhận thức được vị trí, tầmquan trọng của KKTVB đối với sự phát triển KT-XH đất nước, Đảng, Nhà nước,Chính phủ đã ban hành nhiều nghị quyết, chính sách, quyết định nhằm tạo hànglang pháp lý cho các KKTVB hoạt động một cách có hiệu quả Hội nghị lần thứ
tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII năm 1997 Đảng ta đã đề ra chủtrương nghiên cứu xây dựng thí điểm một vài KKT, khu mậu dịch tự do ở nhữngđịa bàn ven biển có đủ điều kiện nhằm tạo động lực thúc đẩy phát triển KT-XH ởcác địa phương nơi có KKT hoạt động Tiếp tục triển khai những nội dung củaHội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII, về sau trong cácvăn kiện của Đảng, chính sách của Nhà nước, Chính phủ đều thống nhất nhậnthức và quyết tâm xây dựng và phát triển KKTVB là một trong các nội dunggóp phần quan trọng thực hiện thắng lợi Chiến lược phát triển bền vững KTBViệt Nam trong giai đoạn hiện nay Hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành Trungương Đảng khóa XII nhấn mạnh: “Tập trung xây dựng và nhân rộng các môhình KKT, KCN sinh thái ven biển gắn với hình thành và phát triển các trungtâm KTB mạnh KKTVB phải đóng vai trò chủ đạo trong phát triển vùng vàgắn kết liên vùng” [17, tr 92]
Những thành tựu đạt được trong 35 năm đổi mới kinh tế và hội nhậpquốc tế (1986-2021) của Việt Nam có sự đóng góp rất lớn của các KKTVBXây dựng các khu kinh tế ven biển được xem là mô hình phát triển mới, nhằmhình thành các khu kinh tế động lực thúc đẩy sự phát KT-XH ở các địa phươngvà vùng nghèo ven biển Theo số liệu thống kê cho thấy, tính luỹ kế đến năm
Trang 82020 có 18 KKTVB ở Việt Nam được thành lập và đi vào hoạt động với tổngdiện tích quy hoạch là 858 309ha; thu hút được 592 dự án đầu tư nước ngoàivới tổng số vốn là 553 392,27 triệu USD và 1 884 dự án đầu tư trong nước vớitổng số vốn là 1 208 067,91 tỷ đồng; thu hút được 267 486 lao động trong vàngoài nước; đóng góp vào ngân sách nhà nước đạt 68 976,65 tỷ đồng [90] Vớinhững kết qủa đóng góp tích cực, KKTVB đã tạo tiền đề huy động, thu hútmạnh mẽ các nguồn vốn đầu tư, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; đóng gópvào tăng trưởng kinh tế, tăng thu cho ngân sách nhà nước và giải quyết việclàm cho người lao động; góp phần hình thành hệ thống kết cấu hạ tầng tươngđối đồng bộ và hiện đại; tiếp nhận và chuyển giao khoa học kỹ thuật; kết hợpphát triển kinh tế với tăng cường quốc phòng, an ninh
Bắc Trung Bộ là địa bàn chiến lược có lợi thế quan trọng về kinh tế,chính trị, xã hội, quốc phòng, an ninh, đồng thời là điểm trung chuyển hànghóa với các nước như: Lào, Đông Bắc Thái Lan và cửa ra của tuyến hành langkinh tế Đông - Tây nối với đường hàng hải quốc tế trên Biển Đông Để pháthuy tiềm năng, thế mạnh KTB ở các tỉnh BTB, Đảng, Nhà nước, Chính phủ
có nhiều cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển, nhằm tạo điều kiện thúcđẩy KKTVB phát triển làm nòng cốt trong phát triển KTB ở các tỉnh BTB Dovậy, những năm qua KKTVB ở các tỉnh BTB đạt được nhiều thành tựu quan trọngtrong thu hút vốn đầu tư, thu hút lao động; tiếp nhận và chuyển giao khoa họccông nghệ, kinh nghiệm quản lý tiên tiến; tăng thu ngân sách cho các địa phương;góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại ở các tỉnh BTB Tuynhiên bên cạnh những ưu điểm, KKTVB ở các tỉnh BTB còn nhiều hạn chế, chưatương xứng với tiềm năng thế mạnh ở các tỉnh BTB Do đó, để các KKTVB ở cáctỉnh BTB phát huy được thế mạnh, có bước đột phá, đóng vai trò động lực quantrọng trong phát triển vùng và gắn liên kết vùng cũng như mục tiêu, kỳ vọng khithành lập và khắc được những bất cập, hạn chế cần có những nghiên cứu mangtính hệ thống, từ đó làm cơ sở cho việc đề xuất quan điểm và giải pháp phát triểnKKTVB các tỉnh BTB đến năm 2030 sao cho không mất đi cơ hội phát triển kinh
Trang 9tế trong bối cảnh mới, song cũng không gây phương hại đến sự phát triển tổnghợp KKTVB ở các tỉnh BTB
Trong khi đó, cho đến nay dưới góc độ khoa học Kinh tế chính trị chưa
có một công trình khoa học nào nghiên cứu về phát triển KKTVB ở các tỉnh
BTB Với lý do đó, tác giả chọn vấn đề “Phát triển khu kinh tế ven biển ở các tỉnh Bắc Trung Bộ” làm đề tài luận án tiến sĩ chuyên ngành Kinh tế chính trị
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về KKTVB, phát triểnKKTVB ở các tỉnh BTB; trên cơ sở đó, đề xuất quan điểm và giải phápphát triển KKTVB ở các tỉnh BTB đến năm 2030
Nhiệm vụ nghiên cứu
Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quanđến đề tài luận án; khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học
đã công bố và chỉ ra những vấn đề luận án cần tập trung giải quyết
Luận giải một số vấn đề chung về KKT và KKTVB; xây dựng quanniệm, tiêu chí đánh giá và chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến KKTVB ở các tỉnhBTB; xây dựng quan niệm phát triển KKTVB; nghiên cứu kinh nghiệm pháttriển KKTVB ở một số vùng trong nước, từ đó rút ra bài học mà các tỉnh BTB
có thể vận dụng trong phát triển KKTVB
Đánh giá đúng thực trạng của KKTVB ở các tỉnh BTB, xác địnhnguyên nhân và những vấn đề đặt ra cần giải quyết từ thực trạng củaKKTVB ở các tỉnh BTB
Đề xuất quan điểm và giải pháp phát triển KKTVB ở các tỉnh BTB đếnnăm 2030
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Khu kinh tế ven biển ở các tỉnh Bắc Trung Bộ
Phạm vi nghiên cứu
Trang 10Về nội dung: Nghiên cứu KKTVB về số lượng, quy mô, chất lượng và
cơ cấu KKTVB ở các tỉnh BTB; so sánh hiện trạng KKTVB ở các tỉnh BTBvới KKTVB ở các vùng khác trên cả nước như: KKTVB vùng ven biển phíaBắc; KKTVB vùng DHTB; KKTVB vùng TNB
Về không gian: Luận án nghiên cứu 06 KKTVB: Nghi Sơn (tỉnh ThanhHóa), Đông Nam Nghệ An (tỉnh Nghệ An), Vũng Áng (tỉnh Hà Tĩnh), Hòn La(tỉnh Quảng Bình), Đông Nam Quảng Trị (tỉnh Quảng Trị), Chân Mây - Lăng
Cô (tỉnh Thừa Thiên Huế)
Về thời gian: Các số liệu khảo sát đánh giá thực trạng của KKTVB giaiđoạn 2015-2020, đề xuất quan điểm giải pháp phát triển KKTVB ở các tỉnhBTB đến năm 2030
4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận
Luận án được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin,
Tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng, pháp luật Nhà nước vềKKT nói chung và KKTVB nói riêng
Cơ sở thực tiễn
Luận án dựa trên các số liệu thống kê, các báo cáo tổng kết của Chính phủ;
Vụ quản lý các khu kinh tế, Bộ Kế hoạch và Đầu tư; BQL KKT của UBND cáctỉnh, thành phố và các báo cáo tổng kết của các Sở, Ban, Ngành ở các tỉnh BTBĐồng thời, luận án kế thừa có chọn lọc các nhận định, đánh giá và số liệu, kết quảnghiên cứu của các công trình khoa học đã được công bố có liên quan đến đề tài
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: được sử dụng
trong các chương của luận án để nghiên cứu, phân tích, luận chứng những vấn
đề lý luận, thực tiễn KKTVB ở các tỉnh BTB; nghiên cứu KKTVB ở các tỉnhBTB trong mối quan hệ tổng thể với phát triển KT-XH của các tỉnh BTB vàKKTVB các vùng khác trong nước
Phương pháp trừu tượng hóa khoa học: được sử dụng tập trung chủ
Trang 11yếu ở chương 2, 3 của luận án Theo đó, trong chương 2, sử dụng phươngpháp trừu tượng hóa khoa học trong xác định nội dung, tiêu chí đánh giá vàcác yếu tố ảnh hưởng đến KKTVB ở các tỉnh BTB; khảo sát kinh nghiệmphát triển KKTVB ở một số vùng trong nước để rút ra những bài học kinhnghiệm cho KKTVB ở các tỉnh BTB Trong chương 3, phương pháp trừutượng hoá khoa học được sử dụng đánh giá thực trạng KKTVB ở các tỉnhBTB, tập trung nghiên cứu các hiện tượng, quá trình kinh tế mang tính điểnhình, nổi bật trong KKTVB ở các tỉnh BTB
Phương pháp phân tích-tổng hợp: được sử dụng ở chương 2 và chương
3 Trong chương 2, trên cơ sở các dữ liệu thu thập được thông qua các văn bản,tài liệu có liên quan đến KKTVB, phân tích, tổng hợp để xây dựng khung lýluận về KKTVB ở các tỉnh BTB Trong chương 3, trên cơ sở những dữ liệuđịnh lượng tổng hợp từ các báo cáo, thống kê của Chính phủ, Vụ quản lý cáckhu kinh tế, Bộ kế hoạch và Đầu tư, BQL KKT của các tỉnh, và các cơ quan bộ,ban, ngành và các địa phương từ quá trình khảo sát thực tế KKTVB ở cáctỉnh BTB, tác giả tiến hành phân tích và tổng hợp để minh chứng, làm rõ nhữngnhận định, đánh giá được đưa ra trong luận án
Phương pháp thống kê-so sánh: được sử dụng chủ yếu ở chương 3 của
luận án Trên cơ sở các số liệu thống kê KKTVB ở các tỉnh BTB, tác giả sửdụng phương pháp so sánh để đánh giá các nội dung của KKTVB ở các tỉnhBTB so với các KKTVB ở các vùng khác trên cả nước
Phương pháp lôgic kết hợp với lịch sử: được sử dụng trong toàn bộ
luận án Ở chương 1, luận án sử dụng phương pháp lôgic kết hợp với lịch sử
để tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài theo từng nhóm nộidung và tiến trình thời gian công bố Trong chương 2, chương 3 và chương 4,
sử dụng phương pháp này để khái quát các kinh nghiệm, thành tựu, hạn chế,quan điểm, giải pháp thành các luận điểm và minh chứng, luận giải, làm rõcác luận điểm đó
5 Những đóng góp mới của luận án
Trang 12Xây dựng bộ khung lý luận về KKT, KKTVB và tiêu chí đánh KKTVB về
số lượng, chất lượng và cơ cấu ở các tỉnh BTB trong mối quan hệ lợi ích với thựctiễn đang diễn ra trong KKTVB ở các tỉnh BTB
Chỉ ra được các mâu thuẫn phản ánh thực chất trình độ phát triển vànhững biểu hiện đang diễn của KKTVB ở các tỉnh BTB
Đề xuất 3 quan điểm và 5 giải pháp có tính hệ thống phát triển KKTVB
ở các tỉnh BTB đến năm 2030
6 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của đề tài
Về mặt lý luận: Xây dựng được bộ khung lý luận về KKT, KTVB và
tiêu chí đánh giá, qua đó góp phần làm phong phú thêm cơ sở lý luận vềKKTVB dưới góc độ tiếp cận chuyên ngành kinh tế chính trị
Về mặt thực tiễn: Luận án được thực hiện thành công góp phần cung
cấp cơ sở khoa học cho việc xác định chủ trương, chính sách phát triểnKKTVB ở các tỉnh BTB nói riêng và cả nước nói chung đến năm 2030 Đồngthời luận án có thể làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy và học tậpmôn Kinh tế chính trị ở các nhà trường trong và ngoài Quân đội
7 Kết cấu của luận án
Kết cấu luận án gồm: Phần mở đầu; 4 chương (10 tiết); kết luận; danhmục các công trình nghiên cứu của tác giả; danh mục tài liệu tham khảo; phụ lục
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1 1 Một số công trình nghiên cứu nước ngoài liên quan đến đề tài luận án
1 1 1 Một số công trình nghiên cứu về khu kinh tế, khu kinh tế ven biển
Leonard Sahling (2008), China’s Special Economic Zones and National Industrial Parks - Door Openers to Economic Reform, China (KKTĐB Trung
Quốc và KCN quốc gia - Công cụ mở cửa cho cải cách kinh tế, Trung Quốc)[127] Bài báo giới thiệu về cách hình thành KKTĐB và các KCN quốc giacủa Trung Quốc Theo đó, tác giả cho rằng các KKTĐB và các KCN quốc gia
có đóng góp rất lớn cho sự tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc; là nơi thu hútcác dự án đầu tư nước ngoài, chuyển giao khoa học và công nghệ; được hưởngcác chính sách ưu đãi về thuế quan đối với các dự án đầu tư Bên cạnh đó nghiêncứu chỉ ra, mô hình quản lý KKTĐB và KCN quốc gia là cánh tay nối dài củachính quyền địa phương (cấp vùng hay cấp tỉnh) trong quản lý các hoạt độngkinh tế diễn ra ở các KKTĐB và KCN quốc gia Đồng thời, mỗi một cácKKTĐB và KCN quốc gia có một công ty đầu tư phát triển hạ tầng làm nhiệm
vụ đầu tư phát triển hạ tầng, tạo ra những điều kiện hấp dẫn nhất về hạ tầng cũngnhư cung cấp dịch vụ (bên cạnh những chính sách khác của chính quyền) để thuhút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài nhằm lấp đầy các KKTĐB và KCN quốc gia
Sarbajit Chaudhuri; Shigemi Yabuuchi (2010) Formation of special economic zone, liberalized FDI policy and agricultural productivity (Hình
thành đặc khu kinh tế, chính sách FDI tự do hóa và năng suất nông nghiệp)[134] Bài báo nghiên cứu quá trình hình thành ĐKKT ở các quốc gia đangphát triển nói chung và Ấn Độ nói riêng Bài báo chỉ rõ, việc sử dụng đấtnông nghiệp xây dựng các ĐKKT nếu không có chính sách đúng đắn sẽ gây
ra hậu quả nghiêm trọng, gây lãng phí đất đai và các nguồn lực khác, nhất làđối với các nước đang phát triển Do vậy, có thể diễn ra xu hướng kêu gọi đầu
tư bằng mọi giá sẽ gây tổn hại nền kinh tế và ảnh hưởng nặng nề về môi
Trang 14trường Từ đó, bài báo đề xuất bên cạnh việc xây dựng các ĐKKT, chính phủcác nước cần phát triển đồng thời với nông nghiệp với việc chính phủ dànhmột lượng đáng kể nguồn lực của mình cho các dự án thủy lợi và phát triển cơ
sở hạ tầng khác được thiết kế nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất Từ đó,mức lương nông nghiệp và tổng việc làm trong nền kinh tế cũng có thể cảithiện nhờ chính sách này Đồng thời, thông qua việc thu hút đầu tư trực tiếpvào trong các ĐKKT, các khu vực nông nghiệp xung quanh sẽ dần nhận được
sự lan toả từ các ĐKKT này về vốn, khoa học công nghệ sẽ thúc đẩy năngsuất trong nông nghiệp tăng lên
David Bogataj; Marija Bogataj (2011), The role of free economic zones
in global supply chains-a case of reverselogistics (Vai trò của các khu kinh tế
tự do trong chuỗi cung ứng toàn cầu-một trường hợp của nhận thức luậnngược) [100] Nghiên cứu dựa trên các đóng góp của các KKTTD ở các nướcthuộc Liên minh Châu âu như: góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh củacác nhà đầu tư qua đó, thu hút các nhà đầu dài hạn thông qua các hợp đồngdài hạn hoặc tham gia cổ phần trong chuỗi cung ứng thương mại Từ kết quảnghiên cứu, nhóm tác giả cho rằng, chính sự hoạt động của các KKTTD đãlàm giảm thời gian luân chuyển, cũng như cắt giảm được các loại thuế quangiúp các nhà đầu tư có sức cạnh tranh khi cung ứng các sản phẩm hàng hoá,dịch vụ trong chuỗi cung ứng toàn cầu Đồng thời, đề xuất đối với chính phủcác nước ở Liên minh Châu âu có KKTTD hoạt động cần chuẩn bị tốt về hạtầng cơ sở, thủ tục hành chính, thuế quan cũng như các ngành công nghiệpphụ trợ Một mặt để thu hút các nhà đầu tư tham gia sản xuất, các sản phẩmhàng hoá, dịch vụ, mặt khác các nước Liên minh Châu âu sẽ là các nước cólợi thế khi đứng đầu tiên trong chuỗi cung ứng toàn cầu
Rubini, Lauretta (2015), Special Economic Zones and Cluster Dynamics: China (Các Khu Kinh tế Đặc biệt và Động lực Cụm: Trung Quốc) [131] Bài
báo trình bày cơ sở lý luận về quá trình hình thành và phát triển các ĐKKT ởTrung Quốc và khái quát các đặc điểm chính của các KKTĐB, đưa ra minhhọa kinh nghiệm của Trung Quốc, đặc biệt là tỉnh Quảng Đông và Đồng bằng
Trang 15sông Châu Giang, nơi các ĐKKT dựa trên mô hình của ĐKKT Thâm QuyếnQua đó chỉ rõ, chính sự hoạt động của các ĐKKT nằm ở cùng một không gianđịa lý tỉnh, thành phố đã tạo ra những cụm với sự tập trung của các ngànhcông nghiệp, trung tâm nghiên cứu chuyển giao công nghệ và là cụm động lựcthúc đẩy kinh tế Trung Quốc phát triển Trên cơ sở, đánh giá vai trò của cácĐKKT với việc hình thành các cụm phát triển, bài báo khuyến nghị chính phủTrung Quốc tiếp tục có những chính sách ưu đãi như: thuế quan, phát triển hạtầng, xây dựng các khu công nghiệp hỗ trợ với đa dạng các ngành nghề phục
vụ các nhà đầu tư trong các ĐKKT để thu hút các nguồn lực từ bên ngoài
Carol Newman and John Page (2017), Industrial clusters The case for Special Economic Zones in Africa (Các cụm công nghiệp Trường hợp
cho các Khu kinh tế đặc biệt ở Châu Phi) [98] Bài báo cho rằng, các công
ty có xu hướng tập trung gần nhau về mặt địa lý để hưởng lợi từ việc giảmchi phí vận chuyển đầu vào, tăng năng suất lao động và chuyển giao côngnghệ Bài báo xem xét trường hợp thành lập KKTĐB ở Châu Phi; ghi nhận
ở cấp quốc gia về tình trạng của các KKTĐB hiện tại và các biện phápchính sách đang áp dụng Trên cơ sở đó, bài báo đánh giá những thànhcông của các KKTĐB mang lại trong phát triển KT-XH; giải quyết việclàm; thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài và cung cấp một bộ các khuyếnnghị chính sách để cải thiện hiệu suất của KKTĐB như: cải cách thủ tụchành chính; đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng; đào tạo nguồn nhân lực
Defever F, Reyes, J -D, Riano, Sánchez-Martin, M E (2018), Special Economic Zones and WTO Compliance: Evidence from the Dominican Republic
(Các khu kinh tế đặc biệt và tuân thủ cam kết của WTO: Bằng chứng từ Cộng hòaDominican) [102] Bài báo đi sâu phân tích quá trình cải cách nền kinh tế củaCộng hòa Dominican nói chung, cải cách tại các KKTĐB nói riêng, theo nhữngcam kết của Tổ chức Thương mại thế giới Trong đó, luận giải quá trình cải cáchthuế quan, trợ cấp xuất khẩu đối với các công ty nằm trong các KKTĐB Nhómtác giả chỉ ra đây là một trong những điều kiện quan trọng tạo thuận lợi thu hútcác nguồn lực như: vốn đầu tư, khoa học và công nghệ, kinh nghiệm quản lý, nhất
Trang 16là đầu tư nước ngoài vào các KKTĐB Từ đó, tạo động lực cho nền kinh tế củaCộng hòa Dominican phát triển khi tham gia vào quá trình hội nhập
Min Wu, Chong Liu, Jiuli Huang (2021), The special economic zones and innovation: Evidence from China (Các đặc khu kinh tế và sự
đổi mới: Bằng chứng từ Trung Quốc) [120] Bài báo này, nhóm tác giả sửdụng các số liệu thứ cấp thu thập được từ các cơ quan nhà nước và ở cácĐKKT của Trung Quốc Bài báo chỉ rõ, quá trình hình thành các ĐKKT ởTrung Quốc đã trở thành động lực thúc đẩy nền kinh tế của Trung Quốcphát triển trong những thập niên gần đây Vai trò của các ĐKKT khôngchỉ là nơi thu hút các nguồn vốn đầu tư, khoa học công nghệ, mà còn giúpTrung Quốc có chiến lược phát triển kinh tế đúng đắn góp phần đổi mới
mô hình tăng trưởng của Trung Quốc Từ đó, nhóm tác giả đưa ra khuyếnnghị tiếp tục đầu tư vào các ĐKKT động lực như Thâm Quyến, Chu Hải,Sán Đầu, Hạ Môn là các ĐKKT đầu tàu và là nơi thử nghiệm các chínhsách mới của Trung Quốc, khi thành công sẽ áp dụng đối với các ĐKKT còn lại
XiaoyingLi, XinjieWu, YingTan (2021), Impact of special economic
zones on firm perormance (Vai trò của các đặc khu kinh tế đối với hoạt động
của doanh nghiệp) [139] Bài báo chỉ ra việc thành lập các ĐKKT là mộttrong những chính sách quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở mỗiquốc gia trong đó có cả Trung Quốc Trong đó, các ĐKKT có vai trò quantrọng đối với các doanh nghiệp đang hoạt động nằm trong các ĐKKT Bài báođánh giá thực trạng trên cơ sở sử dụng cơ sở dữ liệu Doanh nghiệp Côngnghiệp Trung Quốc từ năm 1998 đến năm 2007 Từ đó, khẳng định mối quan
hệ giữa ĐKKT và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và chỉ ra ảnh hưởngđến hoạt động của doanh nghiệp chủ yếu từ hai kênh: hiệu ứng lựa chọn vàhiệu ứng tích tụ Bài báo khẳng định, từ những kết quả nghiên cứu cho thấycác công ty nằm trong ĐKKT có hiệu suất trung bình tốt hơn các công ty bênngoài ĐKKT, điều này chứng minh thông qua việc được hưởng những chínhsách ưu đãi áp dụng trong các ĐKKT của Trung Quốc các doanh nghiệp cóđiều kiện tạo ra ảnh hưởng cũng như có hiệu quả hoạt động kinh tế cao hơncác doanh nghiệp khác
Trang 17Julien Chaisse, Georgios, Dimitropoulos (2021), Special Economic Zones
in International Economic Law: Towards Unilateral Economic Law, (Đặc khu
kinh tế trong Luật kinh tế quốc tế: Hướng tới Luật kinh tế đơn phương) [114]Cuốn sách chỉ ra lịch sử hình thành các ĐKKT trong lịch sử với tên gọi và cấutrúc khác nhau như: Khu thương mại tự do, KCX, KKTM, ĐKKT Cuốn sáchkhẳng định, với sự xuất hiện của ĐKKT như một chủ nghĩa đơn phương, là hiệnthân của sự thỏa hiệp mới giữa nhà nước và thị trường; nhà nước sử dụng cácĐKKT thúc đẩy thương mại và tự do đầu tư mà nhà nước kiểm soát thể hiện sựdung hòa phức tạp giữa tự do hóa và bảo vệ chủ quyền kinh tế Cuốn sách cũngchỉ ra việc xúc tiến thương mại, đầu tư diễn ra tại các ĐKKT nhằm thu hút cácnguồn lực đầu tư bên ngoài mà không vi phạm luật pháp quốc tế Do vậy, hiện naycác ĐKKT được các quốc gia sử dụng như một giải pháp thay thế và bổ sung choviệc xúc tiến thương mại và đầu tư thông qua các công cụ của luật kinh tế quốc tế
Từ đó cuốn sách đề xuất, để ĐKKT ở mỗi quốc gia hoạt động có hiệu quả cácquốc gia nên có cơ chế, chính sách đặc thù, phát triển hệ thống hạ tầng đồng bộcoi đó như một chất dẫn thu hút các nhà đầu tư nước ngoài
1 1 2 Một số công trình nghiên cứu về phát triển khu kinh tế, phát triển khu kinh tế ven biển
Dennis, W Y (2000), Investment and regional development in Post-Mao China (Đầu tư và phát triển các khu kinh tế tại Trung Quốc thời kỳ hậu Mao)
[101] Bài viết nghiên cứu các KKT trọng điểm ở ba thành phố lớn của TrungQuốc bao gồm: Thượng Hải, Giang Tô và Quảng Châu và khẳng định để pháttriển bền vững các KKT tại các thành phố ven biển của Trung Quốc thì đầu tưcủa chính quyền trung ương và địa phương là nhân tố quyết định nhất Bài viếtcũng chỉ ra, quy hoạch, phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật có ý nghĩa đến việc thuhút các nhà đầu tư nước ngoài Cùng với đó, bài viết cũng thực hiện so sánh mức
độ hấp dẫn của các KKT tại ba thành phố ven biển trên, chỉ ra với chính sáchđầu tư thông thoáng, cơ sở hạ tầng đầu tư đồng bộ, các KKT ven biển ở thànhphố Thượng Hải nổi lên là điểm đầu tư hấp dẫn của các nhà đầu tư nước ngoài
Từ đó, bài viết đưa ra các khuyến nghị với các KKT còn lại
Trang 18Robert L Wallack (2010), Institutional Development and Capacity Building - developing crossborder economic zones between the China and Viet Nam (Phát triển thể chế và tăng cường năng lực - Dự án Phát triển các
KKT xuyên biên giới giữa Trung quốc và Việt Nam) [130] Đây là báo cáocủa chuyên gia hỗ trợ kỹ thuật trong khuôn khổ dự án Phát triển các KKTxuyên biên giới giữa Trung Quốc và Việt Nam do Ngân hàng Phát triển châu
Á tài trợ Trong báo cáo, đã nghiên cứu các kinh nghiệm về hợp tác trong cácKKTCK ở châu Âu, Bắc Mĩ và châu Á, thực trạng quản lý KKTCK của TrungQuốc và Việt Nam Trên cơ sở, phân tích những kinh nghiệm đã thành công
về hợp tác trong KKTCK; từ đó, báo cáo đưa ra một khung thể chế sơ bộ củaKKTCK xuyên biên giới như: các ưu đãi về thuế liên quan đến hàng hoá xuấtnhập khẩu trong KKTCK; cơ chế quản lý KKTCK giữa hai nước; việc traođổi cơ chế quản lý giữa các cơ quan liên quan của hai nước
Jung, B M (2011), Economic Contribution of Ports to the Local Economies
in Korea (Đóng góp kinh tế của các cảng cho kinh tế địa phương ở Hàn Quốc)
[113] Trên cơ sở, tiến hành khảo sát tại hai cảng biển thuộc KKT Busan và Incheoncủa Hàn Quốc, nghiên cứu cho rằng, chính sự phát triển mạnh của các cảng biển sẽlà nguồn đóng góp mạnh mẽ cho phát triển các KKTVB Đến đến lượt nó, cácKKTVB lại đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế của các địa phương như: giảiquyết việc làm, thu hút nguồn vốn đầu tư, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các địaphương Nghiên cứu cũng chỉ ra trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế ngày càngsâu rộng của Hàn Quốc, đây sẽ là cơ hội tốt để thu hút các nhà đầu tư vào haiKKTVB Busan và Incheon Theo đó, với những chính sách đầu tư phát triểnnguồn nhân lực chất lượng cao tại hai KKTVB Busan và Incheon đã tạo ranhững kết quả tích cực cho việc thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, nhất là các
dự án đầu tư có hàm lượng tri thức cao vào KKTVB
Sergey Sosnovskikh (2017), Industrial clusters in Russia: The development
of special economic zones and industrial parks (Các cụm công nghiệp ở Nga:
Sự phát triển của các KKT đặc biệt và các KCN) [135] Bài báo, luận giảiquá trình hình thành, phát triển các ĐKKT và các KCN ở Nga Trong đó
Trang 19chỉ rõ, các ĐKKT đều được xây dựng những nơi có điều kiện thuận lợi làtrung tâm cho phát triển và liên kết vùng ở Nga Để thúc đẩy phát triển cácĐKKT và các KCN ở Nga thời gian tới cần tập trung vào một số địnhhướng phát triển như: có chính sách ưu tiên đặc biệt; hoàn thiện cơ chếquản lý; thu hút đầu tư nước ngoài và phát triển đồng bộ cơ sở hạ tầng,nhằm tạo điều kiện cho các đặc KKT và KCN ở Nga phát triển
Bret Crane, Chad Albrecht, Kristopher McKay Duffin & Conan
Albrecht (2018), China’s special economic zones: an analysis of policy to reduce regional disparities (Các đặc khu kinh tế của Trung Quốc: phân tích
chính sách nhằm giảm chênh lệch trong khu vực) [96] Trong nghiên cứu này,nhóm tác giả cho rằng khoảng cách giữa các khu vực ven biển phía đông sovới khu vực miền trung và miền tây của Trung Quốc có sự chênh lệch về pháttriển kinh tế, sự chênh lệch này bắt nguồn từ các KKTĐB mang lại Nhóm tácgiả cho rằng, KKTĐB của Trung Quốc được định nghĩa là các khu vực địa lýnhỏ cho phép tích hợp các nguyên tắc thị trường tự do để thu hút thêm đầu tưnước ngoài Từ đánh giá thực trạng phát triển các KKTĐB, chỉ ra quá trìnhthành lập và phát triển của KKTĐB đã dẫn đến sự phát triển kinh tế vượt bậc
ở các khu vực ven biển của Trung Quốc; đây cũng là nguyên nhân tạo ra sựchênh lệch kinh tế giữa các khu vực của Trung Quốc Trên cơ sở đó, nhóm tácgiả đề xuất giải pháp để giảm chênh lệch sự phát triển kinh tế trong khu vực là
mở rộng ảnh hưởng của các KKTĐB, hoặc thậm chí thiết lập các tổ chức mới
ở các khu vực khác nhau của đất nước, để thúc đẩy đầu tư và thu hẹp khoảngcách phát triển kinh tế ở Trung Quốc
Meir Alkon (2018), Do special economic zones induce developmental spillovers? Evidence from India’s states (Các đặc khu kinh tế có tạo ra sự lan
tỏa phát triển không? Bằng chứng từ các bang của Ấn Độ) [121] Trongnghiên cứu này, tác giả đã dẫn chứng những tác động tích cực mang lại trongphát triển các khu kinh tế đặc biệt ở Trung Quốc như: thúc đẩy xuất khẩu, tạođộng lực phát triển kinh tế địa phương Từ đó, chỉ ra quá trình thành lập pháttriển các (SEZ), ở Ấn Độ và chỉ sự khác nhau giữa các đặc khu kinh tế ở Ấn
Trang 20độ và Trung Quốc Đồng thời, đánh giá sự lan toả của các ĐKKT của Ấn Độ vềthu hút đầu tư nước ngoài, giải quyết việc làm; nơi thử nghiệm các chính sách
ưu đãi; thúc đẩy giảm nghèo ở các bang của Ấn Độ nơi có ĐKKT hoạt độngCác đánh giá trên được chứng minh bằng các số liệu phân tích chặt chẽ Trên
cơ sở đó, tác giả đề xuất các nội dung tiêu chí đánh giá các đặc khu kinh tế vàchỉ ra các biện pháp để thúc đẩy các ĐKKT ở Ấn độ phát triển hơn nữa, những
đề xuất trên các nước có điểm tương đồng với Ấn Độ có thể tham khảo cácbiện pháp này trong xây dựng các ĐKKT ở mỗi quốc gia
Sattarov Sayidmurod Abdusharipovich (2018): Special Economic Zones
as an Engine of Regional Economic Development: the best Practices and Implications for Uzbekistan (Các khu kinh tế đặc biệt như một động lực của sự
phát triển kinh tế khu vực: những thông lệ và ý nghĩa tốt nhất đối vớiUzbekistan) [132] Trong bài báo này, nhóm tác giả đã phân tích các KKTĐBđược coi là công cụ hiệu quả để kích thích công nghiệp hóa và chuyển đổi cơcấu kinh tế Mục đích của bài viết là xem xét các thông lệ hiện tại về việc thànhlập các KKTĐB ở Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore và các Tiểu vương quốc
Ả rập Thống nhất cũng như giải thích cách họ đóng góp cho sự phát triển củanền kinh tế khu vực Bài báo cũng chỉ ra, các sáng kiến mới nhất được chínhphủ Uzbekistan đưa ra để thiết lập các KKTĐB và đưa ra các khuyến nghị cho
sự thành công của KKTĐB của Uzbekistan dựa trên kinh nghiệm toàn cầu củacác quốc gia thành công như Trung Quốc, Hàn Quốc và Singapore
Shan Mohammad & Mashungmi Zingkhai (2019), Coastal economic zones: Lessons from emerging economies (Khu kinh tế ven biển: Bài học từ
các nền kinh tế mới nổi) [136] Bài báo mô tả các khía cạnh phát triển khácnhau của các quốc gia về phát triển các KKTVB; đưa ra các khái niệm vềKKTVB và cách Ấn Độ nên học hỏi từ các nền kinh tế mới nổi trên thế giới,đặc biệt là từ Trung Quốc Bài báo chỉ rõ, nếu mô hình KKTVB trên các dảiven biển Ấn Độ phát triển thành công theo mô hình Thâm Quyến (TrungQuốc) có thể thúc đẩy xuất khẩu và đưa nền kinh tế Ấn Độ có tốc độ pháttriển cao Mặt khác, bài báo cũng chỉ ra việc phát triển các KKTVB ở Ấn Độ
Trang 21cũng làm cho các địa phương đối mặt với các nguy cơ như: làm biến mất cácngành truyền thống của ngư dân ven biển; khả năng làm ô nhiễm hệ sinh tháiven biển; giải quyết việc làm cho ngư dân mất việc liên quan đến các KKT…
Từ đó, đưa ra một số kiến nghị với Chính phủ Ấn Độ để khai thác lợi thế,phát triển các KKTVB cần tập trung vào: tạo sự liên kết về kết cấu hạ tầnggiao thông của các cảng biển trong các KKT với đường bộ, đường sắt; quantâm tới việc làm của ngư dân; xây dựng khuôn khổ pháp luật về thuế và thựchiện thống nhất trong các KKTVB trên phạm vi cả nước
Liang Zheng (2021), Job creation or job relocation? Identifying the impact of China's special economic zones on local employment and industrial agglomeration (Tạo việc làm hay tái định cư? xác định tác động của các đặc
khu kinh tế của Trung Quốc đối với việc làm địa phương và tích tụ côngnghiệp) [125] Bài báo nghiên cứu các ĐKKT ở Trung Quốc những ngày đầuthành lập vào những năm 1980 của thế kỷ XX, bài báo chỉ rõ ngay từ khi mớithành lập các ĐKKT ở Trung Quốc đã được hưởng lợi từ các chính sách củaTrung ương và các địa phương với mục đích thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giảiquyết việc làm cho địa phương có ĐKKT hoạt động Bằng cách so sánh cácquận hành chính với các ĐKKT, kết quả nghiên cứu cho thấy việc phát triển cácĐKKT đã làm tăng đáng kể việc làm ở các quận nông thôn do có các công tymới thành lập và sự mở rộng quy mô của các công ty lớn hiện có; ngược lại, việcphát triển các ĐKKT là nguyên nhân chính để thu hút các công ty chuyển đếnđầu tư và hạn chế việc các công ty chuyển ra Qua đó, góp phần hình thành cáckhu dân cư (khu tái định cư) xung quanh các ĐKKT đang hoạt động
Joanna Lam, Rui Guo (2021),Investor Obligations in Special Economic Zones: Legal Status, Typology, and Functional Analysis, Journal of International Economic Law (Trách nhiệm của nhà đầu tư trong các Khu kinh
tế Đặc biệt: Tình trạng Pháp lý, loại hình và phân tích chức năng) [112] Bàibáo nghiên cứu mô hình của 03 KKTĐB của ba quốc gia đó là Trung Quốc,
Ba Lan và Tanzania, để đánh giá về trách nhiệm của các nhà đầu tư, được quyđịnh khi đầu tư vào các KKTĐB, khi được áp dụng các cơ chế, chính sách ưu
Trang 22đãi đặc thù và phân biệt giữa hai loại nghĩa vụ của nhà đầu tư Thứ nhất, làcác cam kết tập trung vào các khía cạnh có thể định lượng được về hiệu quảkinh tế của nhà đầu tư ở nước sở tại như: mức đầu tư được xác định trướchoặc tạo ra một số việc làm cụ thể Thứ hai, nhà đầu tư phải hướng vào cácmục tiêu đóng góp phát triển kinh tế của nước sở tại như: cam kết phúc lợicho lực lượng lao động, tiêu chuẩn môi trường, chuyển giao công nghệ Trên
cơ sở đó, bài báo chỉ ra có sự khác nhau trong thực hiện nghĩa vụ của các nhàđầu tư ở các giai đoạn khác nhau, và có kết quả cũng khác nhau ở mỗi nước
Từ đó, bài báo đưa ra một số khuyến nghị về cơ chế chính sách ưu đãi đầu tư;chính sách quản lý; và biện pháp bảo vệ môi trường và lợi ích xã hội để pháttriển các KKTĐB ở các quốc gia; hướng các nhà đầu tư phải thực hiện cácnghĩa vụ như cam kết và pháp luật nước sở tại quy định
Viacheslav Liashenko, Iryna Pidorycheva, Ivan Mytsenko, Nataliia
Chebotarova (2021), The modern concept of special economic zones in Ukraine (Khái niệm hiện đại về khu kinh tế đặc biệt ở Ukraine) [138] Bài
báo đưa ra khái niệm mới về KKTĐB, theo đó: KKTĐB bao gồm một loạtcác khu kinh tế khác nhau về mục đích thành lập, quy mô và định hướng thịtrường, hỗ trợ các hoạt động nhất định, là công cụ chính sách của nhà nướctrong thu hút đầu tư nước ngoài và đảm bảo tăng trưởng kinh tế Trên cơ sởkhái niệm, bài báo xây dựng các thang đo đánh giá sự phát triển của cácKKTĐB Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển nhanh các KKTĐB
ở Ukraine nhằm giải phóng tiềm năng đổi mới của các vùng lãnh thổ Ukraine,
để hình thành các sản phẩm và dịch vụ mới, phát triển các ngành kinh tế trongKKTĐB cần nhiều tri thức, tạo điều kiện cho công nghệ (ngành) đa dạng hóanền kinh tế khu vực, sự tham gia vào việc tạo ra các chuỗi giá trị toàn cầu
1 2 Một số công trình nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài luận án
1 2 1 Một số công trình nghiên cứu về khu kinh tế, khu kinh tế ven biển
Thang Văn Phúc (1996), Nghiên cứu mô hình tổ chức quản lý hành chính nhà nước các khu kinh tế đặc biệt, khu chế xuất, khu công nghiệp ở Việt Nam trong điều kiện cải cách hành chính [43] Cuốn sách nghiên cứu về tổ
Trang 23chức bộ máy quản lý KKT ở Việt Nam; đưa ra khái niệm, đặc điểm KKTĐB,
sự cần thiết và khả năng phát triển của KKTĐB ở Việt Nam; khái quát một sốkinh nghiệm quốc tế về tổ chức quản lý nhà nước đối với KKTĐB Đồng thời,phân tích hệ thống tổ chức quản lý nhà nước đối với các KKT, KCX ở nước tatrong các văn bản pháp lý của nhà nước Từ đó, đưa ra một số yêu cầu của việchình thành hệ thống quản lý nhà nước đối với KKTĐB ở Việt Nam trong thờigian tới trong đó tập trung vào: hoàn thiện hệ thống pháp lý trong quản lý cácKKTĐB, đào tạo nguồn nhân lực phục vụ các KKTĐB nhất là đội ngũ cán bộtrong các ban quản lý KKTĐB, cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành và địaphương trong quản lý KKTĐB
Đinh Hữu Quý (2008), Nghiên cứu xây dựng mô hình khu kinh tế đặc biệt
[49] Công trình khái quát quá trình phát triển các KCN, KCX ở Việt Nam và thếgiới Từ đó, đưa ra nhận xét về các điều kiện hình thành các KKTĐB, nhấnmạnh các điều kiện thuận lợi về điều kiện địa lý, cũng như các cơ chế ưu đãi về
hạ tầng cơ sở, thuế quan Đồng thời, nghiên cứu nêu ra các tiêu chí đánh giáviệc triển khai các KKT đặc biệt sau thời gian vận hành 5 năm, 10 năm và dàihạn Trong đó, tác giả chỉ rõ các tiêu chí cụ thể về tỷ suất vốn đầu tư hạ tầng, về
tỷ lệ “lấp đầy”, về hiệu quả khai thác kinh tế trên 1ha của KKT Từ đó, đề xuấtmột số nội dung nhằm tạo điệu kiện cho các KKTĐB phát triển như: tập trunglàm tốt công tác bàn giao mặt bằng cho các nhà đầu tư, cải cách thủ tục hànhchính, phát triển hệ thống hạ tầng cơ sở đồng bộ trong và ngoài KKTĐB
Võ Đại Lược (2010), Xây dựng các khu kinh tế mở và các đặc khu kinh
tế ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế [37] Cuốn sách tổng kết
kinh nghiệm của một số nước châu Á trong phát triển các KKT Trên cơ sở cácnội dung tổng kết kinh nghiệm, nghiên cứu làm rõ tiêu chí của KKTM, ĐKKT,KKTTD trong điều kiện mới; đánh giá thực trạng xây dựng các KKTM,ĐKKT, KKTTD hiện nay ở Việt Nam; đưa ra hệ thống quan điểm mang tínhgợi mở, định hướng phát triển các KKTM, ĐKKT, KKTTD ở Việt Nam đếnnăm 2020; đề xuất một số biện pháp nhằm xây dựng thể chế cho các KKTTD ởViệt Nam trong thời gian tới
Trang 24Nguyễn Thành Đạt (2016), Thực trạng quy hoạch, đầu tư xây dựng hệ thống
hạ tầng các khu kinh tế ven biển ở nước ta hiện nay [20] Bài báo khái quát quá
trình hình thành và phát triển các khu kinh tế ven biển ở Việt Nam, chỉ ra nhữngđóng góp của các khu kinh tế ven biển ở các địa phương về kinh tế-xã hội Từ đánhgiá thực trạng quá trình quy hoạch xây dựng; đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng cáckhu kinh tế ven biển ở nước ta hiện nay Bài báo đã đề xuất một số giải pháp nhằmtừng bước đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng các KKTVB ở Việt Nam như: tiếnhành rà soát điều chỉnh quy hoạch những khu kinh tế ven biển chưa hợp lý; thựchiện công khai công tác quy hoạch trong các khu kinh tế; thống nhất chức năngnhiệm vụ các cơ quan trong quản lý các khu kinh tế ven biển; kiểm tra, giám sát
định kỳ kết hợp đột xuất đối với các khu kinh tế
Dương Văn Mão (2018), Các khu kinh tế ven biển Việt Nam: Tăng cường đổi mới công nghệ, giảm thiểu phát thải khí nhà kính [38] Trong bài báo tác giả
Dương Văn Mão luận giải quá trình phát triển các KKT ở Việt Nam; phân tíchthực trạng việc sử dụng công nghệ tại các KKTVB ở Việt Nam trong thời gianvừa qua Trong đó, tác giả chỉ rõ việc sử dụng những công nghệ lạc hậu trongcác KKT ảnh hưởng tới xả, thải các khí độc hại gây ảnh hưởng tới hiệu ứng nhàkính tại các KKTVB nói riêng và Việt Nam nói chung Từ đó, đề xuất một sốbiện pháp cho các KKTVB ở Việt Nam trong việc lực chọn, tiếp nhận các dự ánđầu tư như: lựa chọn các dự án đầu tư có trình độ công nghệ cao, công nghệnguồn; chú trọng các dự án công nghệ nguồn; thu hút các dự án sử dụng ít tàinguyên, lao động; quan tâm phát triển bền vững trong các KKTVB
Hồ Quốc Khánh (2018), Quy hoạch xây dựng trung tâm dịch vụ hậu cần kinh tế biển tại các khu kinh tế ven biển Việt Nam [33] Tác giả luận án, luận giải
việc xây dựng quy hoạch trung tâm dịch vụ hậu cần kinh tế biển tại các KKTVBViệt Nam Trên cơ sở phân tích điều kiện tự nhiên ở mỗi KKT, tác giả đánh giáthực trạng phát triển các loại hình dịch vụ hậu cần kinh tế biển như: dịch vụ vậntải, dịch vụ cung ứng cho nơi neo đậu tàu, thuyền Từ đó, luận án đề xuất một sốđịnh hướng và giải pháp để công tác quy hoạch, xây dựng các trung tâm dịch vụhậu cần kinh tế biển ở các KKTVB phát triển theo một hệ thống có sự liên kết và
hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình phát triển
Trang 251 2 2 Một số công trình nghiên cứu về phát triển khu kinh tế, phát triển khu kinh tế ven biển
Nguyễn Duy (2010), Tạo bước đột phá cho các khu kinh tế ven biển
[11] Bài báo khái quát quá trình hình thành, phát triển của các KKTVB ởViệt Nam và phân tích thực trạng cơ chế, chính sách đang áp dụng ở cácKKT trong thời gian qua; chỉ ra trình độ cán bộ trong các BQL KKT cònhạn chế; công tác xúc tiến đầu tư chưa đạt hiệu quả Theo tác giả, thời giantới để tạo bước đột phá cho các KKTVB ở Việt Nam phát triển cần tậptrung vào một số giải pháp mang tính định hướng như: phát triển cácKKTVB phải gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng theo hướng côngnghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng các tuyến giao thông dọc ven biển làm
cơ sở liên kết vùng và hỗ trợ lẫn nhau; tập trung phát triển hiệu quả các dự
án đã thu hút đầu tư; huy động tổng hợp các nguồn vốn để đầu tư phát triển
hệ thống cơ sở hạ tầng thiết yếu trong và ngoài KKTVB
Cù Chí Lợi (2010), Những vấn đề lý luận và kinh nghiệm quốc tế trong việc phát triển khu kinh tế tự do [35] Tác giả đã nêu ra một số ý kiến về các khu kinh tế
ở Việt Nam và quá trình chuyển sang khu kinh tế tự do Với việc nghiên cứu, chínhsách phát triển khu kinh tế ở Việt Nam như: chủ trương chính sách của Chính phủ;
sự phát triển của các khu công nghiệp, khu chế xuất; sự phát triển của các khu kinh
tế cửa khẩu và sự hình thành các khu kinh tế tổng hợp Trên cơ sở, tích kết quả khảosát thực tiễn hệ thống các chính sách và thực tế phát triển của một số khu kinh tế(KKTĐB, KKTM, KKTCK…) gắn với biển, cửa khẩu, hành lang kinh tế, có cơchế hoạt động gần giống với KKTTD Từ đó, tác giả đã đề xuất các quan điểmvà giải pháp phát triển KKTTD ở Việt Nam trong thời gian tới
Nguyễn Quang Thái (2010), Vấn đề phát triển các khu kinh tế mở hiện đại ven biển Việt Nam [53] Bài báo phân tích, quá trình hình thành, phát triển
15 khu kinh tế ven biển ở Việt Nam và làm rõ những bất cập khi phát triển đồngloạt 15 KKTVB như: thiếu vốn đầu tư, không có nhiều các dự án động lực làmđầu tàu thúc đẩy các KKTVB phát triển; nếu quy hoạch không tốt gây lãng phíđất đai Trên cơ sở, đánh giá thực trạng bằng việc phân tích các số liệu về huy
Trang 26động nguồn vốn lớn đầu tư để lấp đầy các KKTVB, với tổng sản phẩm quốc nộicủa Việt Nam cùng thời điểm 2010 Từ đó, các tác giả đã đề xuất nên lựa chọn 3-
5 KKTVB có tiềm năng thế mạnh để tập trung nguồn lực đầu tư, phát triển làmnòng cốt cho các KKTVB trong cả nước
Lê Tân Cương (2011), Từng bước hoàn thiện cơ chế chính sách phát triển khu công nghiệp, khu kinh tế ven biển [8] Trên cơ sở, quá trình ban hành
Luật về KCN, KKT và quá trình phát triển các KCN, KKT ở Việt Nam, bài báođánh giá thực trạng phát triển KCN, KKTVB ở Việt Nam trên cả hai mặt thànhtựu và hạn chế; chỉ ra những hạn chế vướng mắc trong quá trình phát triển KCN,KKTVB Từ đó, đề xuất một số phương hướng nhằm hoàn thiện cơ chế chínhsách cho KCN, KKTVB ở Việt Nam phát triển như: điều chỉnh bổ sung quyhoạch, hoàn thiện cơ chế chính sách, phân định rõ chức năng nhiệm vụ trongquản lý các KKTVB của các chủ thể, giải quyết một số vướng mắc liên quan đếnBQL các KKT, KCN; xây dựng và hoàn chỉnh quy hoạch các KCN, KKT của đấtnước đến năm 2020
Trần Hồng Quang (2011), Được và chưa được trong quy hoạch và phát triển khu kinh tế ven biển [47] Nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được về
mặt KT-XH của các KKTVB Việt Nam mang lại như: về thu hút vốn đầu tư,khoa học công nghệ, giải quyết việc làm… Trong đó, tác giả minh chứng bằng
số liệu cụ thể của một số khu kinh tế ven biển đã thành công như: KKT NghiSơn (tỉnh Thanh Hóa), KKT Chu Lai (tỉnh Quảng Nam), KKT Dung Quất (tỉnhQuảng Ngãi) Đồng thời, chỉ ra một số hạn chế của các khu kinh tế ven biểnhiện nay như: quá trình phát triển các khu kinh tế ven biển quá nóng chưa cóthời gian để chuẩn bị kỹ các điều kiện; các cơ quan chức năng nhận thức chưađầy đủ trong việc quy hoạch các khu kinh tế ven biển dẫn đến quy hoạch thiếutổng thể; hiệu quả các khu kinh tế mang lại chưa như mong muốn Từ đó, tácgiả đưa ra một số đề xuất nhằm phát triển các KKTVB trong thời gian tới như:tập trung nguồn lực phát triển một số KKTVB quan trọng; chuyển các KKTcòn lại cho địa phương và tăng quyền hạn cho BQL KKT; đổi mới khuôn khổpháp lý cho các khu kinh tế phát triển thuận lợi
Trang 27Nguyễn Ngọc Tuân (2011), Phát triển bền vững các khu kinh tế ven biển Bắc Trung Bộ [74] Trên cơ sở nghiên cứu những điều kiện tự nhiên ảnh hưởng
đến phát triển bền vững KKTVB Bắc Trung Bộ; Bài báo phân tích những đónggóp của KKTVB: KKT Nghi Sơn, KKT Đông Nam Nghệ An, KKT Vũng Áng,KKT Hòn La, KKT Đông Nam Quảng Trị, KKT Chân Mây-Lăng Cô trên cácvấn đề: đóng góp vào ngân sách cho các tỉnh, giải quyết việc làm, thu hút vốnđầu tư Bên cạnh đó, bài báo cũng chỉ ra một số hạn chế trong phát triển bềnvững KKTVB đó là: phát triển các KKT chưa có tầm nhìn toàn vùng; phát triểndàn trải ảnh hưởng đến đầu tư các ngành mũi nhọn, các lĩnh vực đột phá; pháttriển nóng của các KKT tác động xấu đến môi trường; vấn đề đào tạo nguồnnhân lực Từ đó, đề xuất một số giải pháp cơ bản phát triển bền vững cácKKTVB Bắc Trung Bộ trong thời gian tới
Thân Trọng Thụy (2012), Phát triển các khu kinh tế ven biển - Bước đột phá trong chiến lược phát triển kinh tế vùng ở Việt Nam [80] Bài báo trên cơ
sở nghiên cứu tiền đề khách quan, những điều kiện và tiêu chí bảo đảm choviệc phát triển các KKT trên thế giới; phân tích những điều kiện tiền đề pháttriển KKTVB ở Việt Nam; khái quát quá trình hình thành, quy mô, chức năngnhiệm vụ của các KKTVB Từ đó bài báo, đề xuất một số giải pháp nhằm pháttriển KKTVB trong thời gian tới làm nòng cốt trong phát triển các vùng kinh tế
ở Việt Nam như: hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách phát triển KKTVB;khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn lực để phát triển KKTVB; tập trungnguồn ngân sách từ trung ương để hoàn thiện hạ tầng cơ sở trong các KKTVB
Nguyễn Ngọc Khánh (2015), Thực trạng phát triển các khu kinh tế ven biển ở nước ta hiện nay [34] Bài báo, phân tích thực trạng phát triển các
KKTVB trên các nội dung: thu hút đầu tư; chuyển dịch cơ cấu kinh tế; giảiquyết việc làm; đào tạo nhân lực; phát triển, hiện đại hóa kết cấu hạ tầng Đồngthời, chỉ ra những hạn chế chế về chất lượng quy hoạch thiếu đồng bộ, đầu tưdàn trải, cơ cấu đầu tư chưa hợp lý; thiếu tính kết nối liên vùng Từ đó, bài báo
đề xuất một số giải pháp phát triển các KKTVB ở Việt Nam trong thời gian tới,trong đó nhấn mạnh các địa phương cần làm tốt công tác quy hoạch, liên kếttrong phát triển, tránh trùng lặp, mô hình phát triển KKTVB ở các địa phương
Trang 28Nguyễn Ngọc Dung (2016), Phát triển khu kinh tế ven biển - từ lý thuyết đến thực tiễn Việt Nam [10] Bài báo xây dựng khung lý thuyết về mô hình xây
dựng các ĐKKT thành công ở Trung Quốc, Hàn Quốc coi đây là động lực tăngtrưởng kinh tế của cả hai quốc gia và là những mô hình mà Việt Nam có thể ápdụng vào phát triển các KKTVB hiện nay Qua đánh giá thực trạng về: quátrình hình thành phát triển; số lượng các dự án thu hút đầu tư; kết cấu cơ sở hạtầng; tính tổng thể trong quy hoạch và liên kết vùng Từ đó, đề xuất một sốđịnh hướng nhằm thúc đẩy các KKTVB phát triển như: trong quy hoạch pháttriển các KKTVB cần tính đến lợi thế vị trí địa lý, tài nguyên và liên kếtvùng; tính khả thi trong huy động các nguồn lực trong đầu tư nhất là việchuy động các nguồn lực từ kinh tế tư nhân; cần phân hạng, chất lượng cácKKTVB, lựa chọn những KKTVB có tiềm năng, thế mạnh để đầu tư cácnguồn lực làm nòng cốt phát triển KKTVB ở Việt Nam
Đoàn Hải Yến (2016), Phát triển bền vững các khu kinh tế ven biển vùng Đồng Bằng Sông Hồng [93] Luận án, nghiên cứu từ việc luận giải những vấn
đề chung về KKT, KKTVB, phát triển bền vững; chỉ ra các yếu tố ảnh hưởngtới phát triển KKTVB vùng Đồng Bằng Sông Hồng; đưa ra các tiêu chí đánhgiá sự phát triển bền vững KKTVB vùng Đồng Bằng Sông Hồng Trên cơ sởkhung lý luận đã được xây dựng, luận án đánh giá thực trạng, chỉ ra nguyênnhân và các vấn đề cần tiếp tục giải quyết trong việc phát triển bền vữngKKTVB vùng Đồng Bằng Sông Hồng Từ đó, đề xuất giải pháp để phát triển
bền vững KKTVB vùng Đồng Bằng Sông Hồng trong thời gian tới
Trần Thị Thu Hương, Đỗ Thị Nhân Thiên (2020), Phát triển các khu kinh tế ven biển theo hướng bền vững: thực trạng và một số khía cạnh chính sách [31] Bài báo khái quát quát trình hình thành, phát triển KKTVB ở Việt
Nam; đánh giá vai trò KKTVB trên các vấn đề như: thu hút vốn đầu tư, đónggóp vào ngân sách nhà nước, hình thành một số ngành công nghiệp mũi nhọnĐồng thời, đánh giá những thành tựu, hạn chế KKTVB ở Việt Nam, tập trungđánh giá dưới góc độ thể chế, cơ chế chính sách dành cho KKTVB thời gianqua Từ đó, đề xuất một số giải pháp về chính sách phát triển KKTVB thời
Trang 29gian tới như: rà soát các KKTVB trọng điểm để phát triển; ban hành luậtKKT, KCN, KCX; rà soát mục tiêu phát triển KKTVB cho phù hợp; ban hànhchính sách phát triển KKTVB bằng nguồn ngân sách nhà nước; đẩy mạnh liênkết trong phát triển KKTVB
Phạm Văn Thanh (2021), Cơ sở khoa học và các giải pháp phát triển bền vững các khu kinh tế ven biển Việt Nam [51] Đề tài xây dựng hệ phương
pháp luận, xác lập cơ sở khoa học cho phát triển bền vững các KKTVB ViêtNam và 03 KTTVB nghiên cứu điểm (KKT Đình Vũ, KKT Chân Mây-Lăng
Cô, KKT Phú Quốc); trên cơ sở đó, xác định được các tiêu chí phát triển bềnvững các KKTVB; đề xuất một số mô hình phát triển bền vững các KKTVB(KKT Đình Vũ- Hải Phòng, KKT Chân Mây-Lăng Cô- Thừa Thiên Huế, KKTPhú Quốc- Kiên Giảng) Từ đó, đề xuất một số nhóm giải pháp phát triển bềnvững các KKTVB Việt Nam trong thời gian tới như: nhóm giải pháp pháp lý;nhóm giải pháp kinh tế; nhóm giải pháp khoa học và công nghệ; nhóm giảipháp giáo dục
1 3 Đánh giá khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình liên quan đã công bố và những vấn đề luận
án cần tập trung giải quyết
1 3 1 Đánh giá khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình liên quan đã công bố
Tuy có đối tượng, phạm vi, mục đích, phương pháp nghiên cứu khácnhau Nhưng các công trình nghiên cứu nêu trên về KKT, KKTVB; phát triểnKKT, KKTVB đều có những đóng góp nhất định về mặt khoa học làm cơ sởcho luận án tiếp thu, bổ sung và phát triển Có thể khái quát trên những nộidung cơ bản sau:
Thứ nhất, về lý luận khu kinh tế, khu kinh tế ven biển và phát triển khu kinh tế, phát triển khu kinh tế ven biển
Một là, dưới những góc độ tiếp cận khác nhau một số công trình đưa ra quan
niệm về KKT, KKTVB Đối với các công trình nước ngoài, một số nghiên cứukhẳng định các loại hình KKT có không gian riêng biệt, là nơi thu hút đầu tư,
Trang 30chuyển giao công nghệ và có vai trò quan trọng trong phát triển thương mại Tuynhiên, phần lớn các công trình nghiên cứu nước ngoài chỉ bàn về loại hình ĐKKTdưới góc độ quản lý kinh tế và kinh tế phát triển là chủ yếu Đối với các nghiên cứutrong nước liên quan đến đền tài luận án, có nhiều công trình nghiên cứu những vấn
đề lý luận sát với thực tế các KKT, KKTVB ở Việt Nam hiện nay Tuy nhiên, vẫnchưa có quan niệm thống nhất và cách nhìn nhận đánh giá chung về KKT,KKTVB ở Việt Nam, đặc biệt dưới góc độ chuyên ngành kinh tế chính trị
Hai là, một số công trình nghiên cứu nước ngoài và trong nước liên quan
đến đề tài luận án đã đề cập các vấn đề lý luận về phát triển KKT, KKTVB như:khái niệm, đặc điểm và vai trò của các KKT, KKTVB, phát triển bền vữngKKTVB; nội dung phát triển KKTVB; hiệu quả kinh tế trong phát triển cácKKT, KKTVB hiện nay; mô hình quản lý các KKT, KKTVB; tiêu chí đánh giá
sự phát triển KKT, KKTVB Tuy nhiên, do góc độ tiếp cận khác nhau cho nênkhi đưa ra các quan niệm về phát triển KKT, KKTVB và và tiêu chí đánh giá vềKKT, KKTVB chưa có sự thống nhất
Thứ hai, về đánh giá thực trạng khu kinh tế ven biển và phát triển khu kinh tế ven biển
Một là, về thành tựu, dưới những góc nhìn kinh tế khác nhau về phát triển
các KKTVB, một số công trình khẳng định: KKTVB là mô hình kinh tế mangtính chất đột phá trong phát triển của các quốc gia và địa phương ven biển; làtrung tâm trong liên kết các vùng kinh tế giữa các địa phương có KTB với vùnglãnh thổ còn lại; là nơi thu hút chuyển giao khoa học công nghệ tiên tiến; có đónggóp quan trọng vào giải quyết việc làm, phát triển KT-XH ở các địa phương; thửnghiệm sự thành công của cơ chế khuyến khích phát triển mang tính chất đặc thù
Hai là, một số công trình nghiên cứu chỉ ra các KKT, KKTVB mặc dù
chiếm nhiều diện tích mặt đất, mặt nước nhưng hiệu quả chưa tương xứng vớitiềm năng hiện có; tính liên kết vùng kinh tế còn hạn chế; còn sử dụng nhiềutài nguyên và thâm dụng lao động gây ảnh hưởng xấu tới bảo đảm môi trườngvà tài nguyên biển; trình độ phát triển và chuyển giao khoa học công nghệ còn
Trang 31thấp; cơ chế chính sách chưa có tính đặc thù; một số KKTVB phát triển cònảnh hưởng đến môi trường và quốc phòng, an ninh
Ba là, một số công trình nghiên cứu cho rằng: việc xây dựng, quy
hoạch phát triển một số KKTVB của chỉnh phủ các nước thiếu tính tổng thể;
hệ thống văn bản pháp lý còn chồng chéo; những ưu đãi dành cho KKTVBchưa có nhiều nổi trội so với các KTT khác; đội ngũ cán bộ quản lý, xâydựng, quy hoạch các KKTVB trình độ có mặt chưa đáp ứng được yêu cầu;tính chủ động đề xuất của BQL KKT và chính quyền địa phương chưa chủđộng; sự phối hợp giữa các địa phương trong phát triển KKTVB chưa đượcthiết lập, thiếu cơ chế phối hợp
Một số công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tàiluận án đánh giá thực trạng trên cả hai mặt thành tựu, hạn chế trong phát triểnKKTVB Tuy nhiên, do cách tiếp cận khác nhau và nghiên cứu không cùngtrong một phạm vi thời gian, không gian nên các đánh giá chưa mang tính hệthống và chưa thống nhất về hệ tiêu chí đánh giá Những đánh giá chủ yếumới chỉ bàn về mặt thành tựu, hạn chế trong thu hút vốn đầu tư, giải quyếtviệc làm, đóng góp vào ngân sách nhà nước của các KKTVB
Thứ ba, về quan điểm, giải pháp phát triển khu kinh tế ven biển
Một là, trên cơ sở đặc điểm về điều kiện tự nhiên, thực trạng phát triển
KKTVB của từng địa phương và từng quốc gia một số công trình nghiên cứu
đã đưa ra quan điểm cơ bản như: việc quy hoạch xây dựng các KKTVB phảiphù hợp với chiến lược từng vùng và cả nước; phát huy lợi thế của cácKKTVB để đẩy mạnh các ngành kinh tế mũi nhọn; huy động tổng hợp cácnguồn lực về vốn, lao động cho các KKTVB; bảo đảm phát triển các KKTVB
đi đôi với bảo vệ môi trường sinh thái
Hai là, một số công trình đã đề xuất các giải pháp phát triển các KKTVB
thời gian tới như: tập trung vào các giải pháp về hoàn thiện thể chế, cơ chế chínhsách; đổi mới quản lý nhà nước đối với các KKT, KKTVB; đổi mới tổ chức sảnxuất, mô hình phát triển; về phát triển nguồn nhân lực, khoa học và công nghệ,
Trang 32xây dựng, mở rộng thị trường; tạo tính liên kết vùng giữa các KKT, KKTVB vớinhau trong quy hoạch phát triển tổng thể của quốc gia và các địa phương
Mặc dù có một số nghiên cứu đề xuất các quan điểm, giải pháp pháttriển KKTVB dưới các góc độ tiếp cận khác nhau, song chưa có công trìnhnào đưa ra một cách hệ thống các quan điểm, giải pháp phát triển KKTVB ởViệt Nam nói chung và các tỉnh BTB nói riêng
Tóm lại, những kết quả chủ yếu của các công trình nghiên cứu ở nước
ngoài và trong nước được trình bày ở trên đã cung cấp cho tác giả những cứliệu quan trọng để làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triểnKKTVB, đồng thời có thêm cơ sở khoa học để xây dựng hệ thống các quanđiểm, giải pháp cho phát triển KKTVB ở các tỉnh BTB trong thời gian tới
1.3.2 Những vấn đề luận án cần tập trung giải quyết
Qua tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án, cóthể thấy các công trình mặc dù đã đạt được những giá trị khoa học nhất định,nhưng vẫn còn những khoảng trống về mặt lý luận và thực tiễn, đòi hỏi luận
án phải trả lời những câu hỏi sau:
Thứ nhất, dưới góc độ kinh tế chính trị KKTVB ở các tỉnh BTB được
quan niệm là gì? Căn cứ vào những tiêu chí nào để đánh giá KKTVB ở cáctỉnh BTB? sự hình thành và hoạt động của KKTVB ở các tỉnh BTB chịu ảnhbởi những yếu tố nào?
Để trả lời những câu hỏi này, luận án xây dựng quan niệm trung tâmKKTVB ở các tỉnh BTB; xác định tiêu chí đánh giá; chỉ ra các yếu tố ảnhhưởng đến sự hình thành và hoạt động của KKTVB ở các tỉnh BTB
Thứ hai, phát triển KKTVB là gì? Để phát triển KKTVB ở các tỉnh BTB đến
năm 2030 cần học tập những kinh nghiệm gì ở các vùng khác trong cả nước?
Để trả lời câu hỏi trên, luận án xây dựng quan niệm phát triển KKTVB,chỉ ra mục đích, chủ thể, nội dung và phương thức phát triển KKTVB ở ViệtNam hiện nay Đồng thời, nghiên cứu những kinh nghiệm phát triển KKTVB ởmột số vùng trong nước như: vùng ven biển phía Bắc; vùng ven biển DHTB;
Trang 33vùng ven biển TNB từ đó rút ra những bài học cho các tỉnh BTB có thể tham khảo
để phát triển KKTVB đến năm 2030
Thứ ba, thực trạng của KKTVB ở các tỉnh BTB có ưu điểm, hạn chế gì?
Nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế đó do đâu? Đâu là những vấn đề đặt
ra cần giải quyết từ thực trạng của KKTVB ở các tỉnh BTB?
Để trả lời những câu hỏi trên, luận án tiến hành khảo sát, đánh giá thựctrạng KKTVB ở các tỉnh BTB theo nội dung và tiêu chí đã xác định thông quaviệc khảo sát thực tiễn, qua những báo cáo, thống kê và kết quả nghiên cứu tincậy đã được công bố; làm rõ ưu điểm, hạn chế của KKTVB ở các tỉnh BTBthời gian qua; chỉ ra nguyên nhân khách quan, chủ quan của ưu điểm, hạn chếKKTVB ở các tỉnh BTB; xác định những mâu thuẫn cần phải giải quyết từ thựccủa KKTVB ở các tỉnh BTB
Thứ tư, để giải quyết những mâu thuẫn đặt ra từ thực trạng của KKTVB
ở các tỉnh BTB, luận án cần xác định các quan điểm và giải pháp nào để pháttriển các KKTVB ở các tỉnh BTB?
Để trả lời cầu hỏi trên, luận án đề xuất các quan điểm và giải pháp pháttriển KKTVB ở các tỉnh BTB đến năm 2030 Việc đề xuất, phân tích các quanđiểm, giải pháp đều dự trên đường lối, quan điểm của Đảng, Chính sách, luậtpháp của Nhà nước, quyết định của Chính phủ và nghị quyết, chương trình, kếhoạch của UBND các tỉnh BTB về phát triển KKTVB
Trang 34Kết luận chương 1
Phát triển KTB nói chung và phát triển KKTVB nói riêng là vấn đềluôn được sự quan tâm của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu và các nhàquản lý; đã có một số công trình, đề tài, bài báo của các tác giả trong vàngoài nước đề cập đến dưới nhiều góc tiếp cận khác nhau Một số công trìnhphân tích những vấn đề lý luận chung về KKT, KKTVB và phát triển KKT,KKTVB như quan niệm, vai trò, nội dung, nhân tố ảnh hưởng Dưới góc độtiếp cận khác nhau cũng có một số công trình tập trung phân tích đánh giáthực trạng phát triển các KKT, KKTVB từ đó đề xuất một số quan điểm, giảipháp phát triển KKTVB
Thông qua sử dụng phương pháp lôgic kết hợp với lịch sử và phươngpháp phân tích - tổng hợp, luận án hệ thống hóa, khái quát hóa kết quả củacác công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài; làm rõđược kết quả nghiên cứu chủ yếu của các công trình nghiên cứu, xác địnhđược các nội dung có thể kế thừa, có chọn lọc cũng như làm rõ được nhữngkhoảng trống khoa học cần tiếp tục nghiên cứu nhằm gia tăng tri thức về pháttriển KKTVB ở Việt Nam nói chung và các tỉnh BTB nói riêng
Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại, dưới góc độ kinh tế chính trịchưa có công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu làm rõ vấn đề pháttriển KKTVB ở các tỉnh BTB một cách đầy đủ, hệ thống Do vậy, đề tàimà nghiên cứu sinh đang triển khai nghiên cứu là một công trình khoa họcđộc lập, đảm bảo tính cấp thiết, tính thực tiễn và không trùng lặp với cáccông trình đã được công bố
Trang 35Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHU KINH TẾ VEN BIỂN, PHÁT TRIỂN
KHU KINH TẾ VEN BIỂN Ở CÁC TỈNH BẮC TRUNG BỘ
VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN
2 1 Những vấn đề chung về khu kinh tế, khu kinh tế ven biển và phát triển khu kinh tế ven biển
2 1 1 Quan niệm và các loại hình khu kinh tế
2 1 1 1 Quan niệm khu kinh tế
Trên thế giới hiện nay, dưới các góc độ tiếp cận khác nhau, quan niệmKKT được nhiều tác giả đề cập, xem xét, phân tích khác nhau và đưa ra quanniệm, tên gọi về KTT cũng khác nhau như: KKTĐB (Đặc khu kinh tế), KKTTD,Khu phi thuế quan, Khu thương mại tự do; KKTM Chính vì vậy, cho đến nayvẫn chưa có một khái niệm và tên gọi thống nhất về KKT
Trên cơ sở nghiên cứu về mô hình, cấu trúc của các KKT Guang-wen, Meng cho rằng: “KKT là một khu vực địa lý xác định, các hoạt động kinh tế
trong đó không phải áp dụng những quy định điều tiết và thuế của chính phủ nhưđang áp dụng chung cho toàn nền kinh tế quốc dân” [107, tr 16] Theo đó, KKTlà những khu vực được hưởng những chính sách thuế ưu đãi đặc biệt, nơi đâykhông áp dụng các chính sách thuế chung của một quốc gia, nhằm tạo điều kiệnthu hút các nhà đầu tư, các dự án sản xuất kinh doanh ngày càng phát triển Tuynhiên, quan niệm mới chỉ ra được KKT là khu vực được hưởng các ưu đãi vềthuế quan mà chưa bàn đến những ưu đãi và hỗ trợ về thủ tục hành chính, thuhút đầu tư và các chính sách khác được áp dụng trong KKT
Lee Changwon cho rằng, ĐKKT là thuật ngữ được sử dụng để mô tả
một khu vực địa lý đặc biệt Ở đó, cho phép các quy định đặc biệt được ápdụng trong khu vực này mà các quy định đó không có ở các khu vực khácNói một cách cụ thể hơn, ĐKKT là khu vực được thiết lập với các ưu đãi:thuế quan; cơ sở hạ tầng; nguồn vật lực và hành chính khác biệt so với cáckhu vực khác trong cùng một quốc gia, nhằm thu hút vốn và công nghệ nước
ngoài [126, tr 3] Quan niệm chỉ ra ĐKKT là khu vực địa lý đặc biệt được áp
Trang 36dụng các chính sách đặc biệt so với các khu vực khác, quan niệm cũng chỉ raĐKKT được hưởng ưu đãi về thuế quan, cơ sở hạ tầng nhằm mục đích thu hútvốn và công nghệ nước ngoài Tuy nhiên, các tác giả chỉ dừng lại ở việc choĐKKT được hưởng các ưu đãi đặc biệt nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài màchưa đề cập đến việc thu hút, chuyển giao khoa học, công nghệ, kinh nghiệmquản lý… và chưa đề cập đến các nhà đầu tư trong nước
Trong báo cáo về các KKT ở Asean, Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên hợp quốc đưa ra quan niệm: ĐKKT là một khu vực không gian địa lý
riêng biệt được hưởng các chính sách ưu đãi đặc biệt về thương mại như:thuế quan, hạn ngạch, và các chính sách khác Mục tiêu của các ĐKKT nhằm:thu hút đầu tư nước ngoài; tạo cơ hội việc làm; trở thành động lực của nhữngcải cách mang tầm vĩ mô; hoạt động như một thử nghiệm cho các chính sáchmới và cách tiếp cận phát triển kinh tế [129, tr 32] Như vậy, theo quan niệmcủa Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên hợp quốc thì ĐKKT được phân rathành các khu chức năng riêng biệt và là nơi được hưởng các chính sách vềđầu tư, thương mại và các KKT là nơi áp dụng thử nhiệm các chính sách mớiTuy nhiên, quan niệm này mới chỉ đưa ra khái quát chung về KKT mà chưachỉ ra được các loại hình KKT ở các nước Asean là gì
Điều 3 Luật Đầu tư Việt Nam năm 2020 khẳng định: “KKT là khu vực
có ranh giới địa lý xác định, gồm nhiều khu chức năng, được thành lập để thựchiện các mục tiêu thu hút đầu tư, phát triển KT-XH và bảo vệ quốc phòng anninh” [48, tr 26] Đây là quan niệm mới ở Việt Nam về KKT so với các quanniệm trước kia và tương đối đầy đủ, khi chỉ ra được mục đích thành lập cácKKT nhằm thu hút đầu tư, phát triển KT-XH và bảo vệ quốc phòng an ninh;quan niệm này chỉ ra mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với bảo vệ quốcphòng, an ninh trong các KKT Tuy nhiên, quan niệm đưa ra vẫn chung chung,chưa nêu lên những ưu đãi đặc biệt mà các KKT ở Việt Nam đang được hưởng
Nguyễn Ngọc Dung cho rằng, KKT theo nghĩa hẹp, là một khu vực có
ranh giới địa lý xác định, xây dựng theo hướng kinh doanh tổng hợp (gồm cáchoạt động công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, du lịch, tài chính, ngân hàng, y
Trang 37tế, giáo dục…) và hướng ngoại; hoạt động theo mô hình “khu trong khu”(gồm KCN, khu chế xuất, khu thương mại tự do, khu đô thị) [10, tr 65] Quanniệm trên chỉ ra, KKT được xây dựng thành các khu chức năng theo từng ngànhhoặc nhóm ngành thành hệ thống trong quy hoạch tổng thể của KKT, các khuchức năng trong KKT hoạt động có xu hướng mở cửa, hội nhập Tuy nhiên, tácgiả chỉ mới đưa ra quan niệm về KKT dưới góc độ quy hoạch cơ cấu ngành, lĩnhvực, còn thiếu tính tổng thể trong phát triển KKT như: chủ thể phát triển là ai; cơchế quản lý như thế nào; những chính sách ưu đãi nào được áp dụng
Lê Hồng Giang cho rằng, KKT được hiểu là khu vực có không gian kinh
tế riêng biệt, ranh giới địa lý xác định, có lợi thế nhất định về vị trí địa lý, môitrường đầu tư và kinh doanh thuận lợi cho các nhà đầu tư, được Nhà nước chophép xây dựng và phát triển, vận hành bởi khung pháp lý có tính ưu đãi, mở
cửa theo các thông lệ quốc tế [22, tr 67] Quan niệm chỉ ra KKT mang đầy đủ
những yếu tố đặc trưng về không gian địa lý, môi trường đầu tư, khung pháp lý
ưu đãi là những yếu tố không thể thiếu để cho một KKT hoạt động hiệu quảTuy nhiên, quan niệm trên chưa phản ánh hết các tính chất đặc trưng của KKT,
cơ chế quản lý và trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị liên quan
Theo Nghị định số 82/2018/NĐ-CP, Nghị định về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế chỉ rõ: “KKT là khu vực có ranh giới địa lý xác định,
gồm nhiều khu chức năng, được thành lập để thực hiện các mục tiêu thu hútđầu tư, phát triển KT-XH và bảo vệ quốc phòng, an ninh KKT bao gồmKKTVB và KKTCK” [72, tr 3] Quan niệm trên, phản ánh được đặc trưngcủa KKT ở Việt Nam hiện nay và chỉ rõ thành phần trong KKT bao gồmKKTVB và KKTCK Mặc dù quan niệm tiếp cận khá toàn diện, song chưachỉ ra được vai trò chủ đạo của các KKT trong phát triển vùng và liên kếtvùng giữa các địa phương nói riêng và cả nước nói chung
Từ quan niệm của các tổ chức kinh tế và các nhà khoa học trong vàngoài nước, nghiên cứu, tiếp cận dưới các góc độ khác nhau; căn cứ vào điềukiện, mục tiêu thành lập và thể chế mỗi quốc gia nên KKT có tên gọi khácnhau, song các KKT đều có những điểm chung đó là:
Trang 38Một là, KKT được thành lập trên cơ sở diện tích đất tự nhiên rộng lớn,
có tính đặc biệt về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý kinh tế thuận lợi;
Hai là, được chia thành khu phi thuế quan và khu thuế quan, trong đó:
Khu phi thuế quan là khu có ranh giới xác định, được ngăn cách bằng hàngrào cứng với khu vực xung quanh, không có dân cư sinh sống Quan hệ traođổi hàng hóa, dịch vụ giữa khu phi thuế quan với nước ngoài, giữa các doanhnghiệp trong khu phi thuế quan với nhau được xem như là quan hệ trao đổigiữa nước ngoài với nước ngoài Hàng hóa từ nước ngoài nhập khẩu vào khuphi thuế quan hoặc từ khu phi thuế quan xuất khẩu ra nước ngoài không thuộcdiện phải nộp thuế xuất khẩu, nhập khẩu;
Ba là, cho phép đầu tư đa ngành, đa lĩnh vực, nhưng có mục tiêu trọng
tâm phù hợp từng KKT được thành lập ở mỗi địa bàn khác nhau Các KKTphát triển kinh tế độc lập dựa trên nguyên tắc điều tiết thị trường, dựa vào vốnđầu tư từ bên ngoài là chủ yếu, chú trọng sản xuất hàng hóa để xuất khẩu hoặcthay thế nhập khẩu, công nghiệp là ngành được ưu tiên, có các cơ chế ưu đãihơn so với các khu vực khác trong cùng một quốc gia;
Bốn là, KKT ảnh hưởng đến hoạt động KT-XH ở quy mô tỉnh/thành
phố hoặc trên những vùng lãnh thổ rộng lớn xung quanh Việc hình thành vàxây dựng KKT phải tùy thuộc vào các điều kiện địa lý có sẵn, vào hướng pháttriển kinh tế của từng vùng, khu vực;
Năm là, KKT có quy hoạch, có sự liên kết đồng bộ, cân đối trong
tổng thể hợp lý của địa phương và của vùng KKT là hình thức tổ chứctheo hướng tập trung chuyên môn hóa, thể hiện những đặc trưng cơ bảncủa tổ chức sản xuất công nghiệp theo lãnh thổ Sự thiếu đồng bộ có thểlàm hạn chế ảnh hưởng tích cực của KKT đối với địa phương và toànvùng xung quanh;
Sáu là, KKT là nơi thí điểm các thể chế, cơ chế, chính sách mới
nhằm thu hút đầu tư trong và ngoài nước bằng các biện pháp khuyến khíchđặc biệt, là động lực tăng trưởng kinh tế ở các địa phương, vùng kinh tếcủa các quốc gia
Trang 39Trên cơ sở kế thừa các quan niệm khác nhau, nghiên cứu sinh cho rằng, KKT
là khu vực có ranh giới địa lý xác định được thành lập theo quyết định của Chính phủ, ở những nơi có điều kiện thuận lợi trong sản xuất, trao đổi thương mại; là khu vực được hưởng các chính sách ưu đãi đặc thù nhằm thu hút vốn đầu tư, chuyển giao khoa học và công nghệ; phát triển KT-XH và củng cố quốc phòng, an ninh; đóng vai trò quan trọng trong phát triển vùng và gắn liên kết vùng kinh tế
Quan niệm trên chỉ ra KKT là một khu vực có không gian địa lý riêngbiệt và có sự phân chia rõ ràng với các khu vực còn lại trong một đơn vịhành chính; được phân chia thành các khu chức năng theo quy hoạch chungtổng thể; được hưởng các chính sách ưu đãi đặc thù và cơ chế quản lý riêngbiệt; mục tiêu nhằm thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước; có vai trò quantrọng trong phát triển KT-XH và bảo vệ quốc phòng, an ninh; KKT là môhình đóng vai trò quan trọng trong phát triển vùng và gắn liên kết vùng, trên
cơ sở phát huy tiềm năng, thế mạnh và lợi thế so sánh của các địa phương
2 1 1 2 Các loại hình khu kinh tế
Hiện nay trên thế giới ở mỗi quốc gia việc quy hoạch, thành lập KKT
có những mục tiêu, cơ chế chính sách dành cho KKT và tên gọi khác nhau
Do vậy, trên thực tế hiện nay có các loại hình KKT cơ bản sau:
Khu kinh tế đặc biệt
KKTĐB hay còn gọi là Đặc khu kinh tế, được xây dựng với không gianKT-XH riêng biệt, được vận hành bởi khung pháp lý riêng thích hợp cho pháttriển theo cơ chế thị trường phù hợp với thông lệ quốc tế Để tạo điều kiện thuhút đầu tư nước ngoài, các KKTĐB được ưu đãi cao về thuế, quyền kinhdoanh, thể chế hành chính và kinh tế theo hướng tự do hóa có mức độ vượttrội so với thể chế trong nước và khu vực Các KKTĐB có cơ sở hạ tầng hiệnđại, vị trí có nhiều lợi thế Trong KKTĐB có thể có nhiều khu chức năng nhưkhu chế xuất, KCN, khu công nghệ cao, khu phi thuế quan (khu bảo thuế),khu đô thị, khu hành chính và một số phân khu chức năng khác Điểm đặcbiệt các KKTĐB có bộ máy hành chính với quyền tự quản cao, có thể đề xuất,chuẩn y và thực thi những thể chế vượt trội so với khung thể chế chung
Trang 40Khu kinh tế tự do
KKTTD được thành lập với mục tiêu tạo động lực phát triển KT-XH ởnhững địa phương kém phát triển hơn so với mặt bằng chung của cả nước, cácKKTTD được áp dụng các chính sách khuyến khích đặc biệt nhằm thu hút vốn đầu
tư vào KKT như: miễn, giảm các loại thuế quan; cơ chế chính sách linh hoạt; cơ sở
hạ tầng thuận tiện, bảo đảm điều kiện tốt cho người lao động làm việc trong KKT;
vị trí chiến lược gần đường giao thông, sân bay, cảng biển, gần thị trường tiêu thụ
Khu kinh tế mở
KKTM được hình thành với ý tưởng là tạo ra một khu vực địa lý trênlãnh thổ quốc gia với việc xây dựng môi trường đặc biệt thuận lợi cho hoạtđộng đầu tư, từ việc xây dựng kết cấu hạ tầng đến việc xây dựng các ưu đãiđặc biệt hấp dẫn nhằm thu hút vốn đầu tư, công nghệ và kinh nghiệm quản lý
để phát triển KT-XH của địa phương, vùng và quốc gia Trên thế giới, người
ta thường hiểu KKT mở là KKT tự do, một tên gọi chung cho các KKT đượcthành lập trong một quốc gia nhằm thu hút đầu tư trong nước và ngoài nướcbằng các biện pháp khuyến khích đặc biệt
Khu kinh tế cửa khẩu
KKT cửa khẩu là một không gian kinh tế xác định, gắn với cửa khẩu quốc
tế hay cửa khẩu chính của quốc gia, có dân cư sinh sống và được áp dụng những
cơ chế, chính sách phát triển đặc thù, phù hợp với đặc điểm từng địa phương sởtại nhằm mang lại hiệu quả KT-XH cao nhất dựa trên việc quy hoạch, khai thác,
sử dụng, phát triển bền vững các nguồn lực Đồng thời, nó được thành lập theocác điều kiện, trình tự và thủ tục quy định
Khu kinh tế ven biển
KKTVB là những KKT được xây dựng ở những vị trí đắc địa ven bờbiển gắn với các cảng biển Mục tiêu là khai thác tiềm năng lợi thế tự nhiên đểphát triển KTB, du lịch, dịch vụ Được hỗ trợ bằng các chính sách và biệnpháp ưu đãi đặc biệt với kỳ vọng có thể thu hút đầu tư cao, tạo đột phá pháttriển mạnh và có sức lan tỏa nhanh