1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái giai đoạn mang thai tại trang trại đỗ đức thuận, huyện ba vì, thành phố hà nội

76 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 2,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Phần 1. MỞ ĐẦU (11)
    • 1.1. Đặt vấn đề (11)
    • 1.2. Mục tiêu của chuyên đề (12)
    • 1.3. Yêu cầu của chuyên đề (12)
  • Phần 2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU (13)
    • 2.1. Điều kiện cơ sở thực tập (13)
      • 2.1.1. Quá trình thành lập và phát triển trại chăn nuôi Đỗ Đức Thuận (13)
      • 2.1.2. Cơ sở vật chất của trang trại Đỗ Đức Thuận (14)
      • 2.1.3. Thuận lợi và khó khăn (16)
    • 2.2. Cơ sở tài liệu liên quan đến khóa luận (17)
      • 2.2.1. Đặc điểm cấu tạo cơ quan sinh dục của lợn cái (17)
      • 2.2.2. Đặc điểm sinh lý sinh dục lợn cái (20)
    • 2.3. Chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý lợn nái trong giai đoạn mang thai (26)
      • 2.3.1. Sự mang thai (26)
      • 2.3.2. Công tác quản lý và chăm sóc lợn nái trong giai đoạn mang thai (28)
      • 2.3.3. Nhu cầu dinh dưỡng của lợn nái giai đoạn mang thai (30)
    • 2.4. Một số bệnh thường gặp trên lợn nái mang thai (34)
      • 2.4.1. Viêm tử cung (34)
      • 2.4.2. Bỏ ăn không rõ nguyên nhân (34)
    • 2.5. Một số loại thuốc được sử dụng trong khóa luận (35)
    • 2.6. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước (37)
      • 2.6.2. Tình hình nghiên cứu nước ngoài (41)
  • Phần 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH (43)
    • 3.1. Đối tượng (43)
    • 3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành (43)
    • 3.3. Nội dung thực hiện (43)
    • 3.4. Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thực hiện (43)
      • 3.4.1. Các chỉ tiêu theo dõi (43)
      • 3.4.2. Phương pháp thực hiện (43)
      • 3.4.3. Phương pháp tính toán các chỉ tiêu (49)
      • 3.4.4. Phương pháp xử lý số liệu (49)
  • Phần 4. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC (50)
    • 4.1. Tình hình chăn nuôi lợn tại trang trại Đỗ Đức Thuận trong 3 năm gần đây (50)
    • 4.2. Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng tại cơ sở (52)
      • 4.2.1. Công tác chăn nuôi (52)
      • 4.2.2. Chăm sóc nuôi dưỡng (53)
    • 4.3. Kết quả thực hiện quy trình phòng và điều trị bệnh tại cơ sở (54)
      • 4.3.1. Công tác phòng bệnh (54)
      • 4.3.2. Kết quả thực hiện vệ sinh, sát trùng chuồng trại tại cơ sở (57)
      • 4.3.3. Kết quả tiêm vắc xin cho đàn lợn nái mang thai và lợn nái hậu bị tại trại (59)
      • 4.3.4. Tình hình mắc bệnh của đàn lợn nái mang thai tại trại theo tháng (62)
      • 4.3.5. Kết quả điều trị một số bệnh trên đàn lợn nái mang thai tại trại (64)
    • 4.4. Kết quả thực hiện các công việc khác tại trại (67)
  • Phần 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ (68)
    • 5.1. Kết luận (68)
    • 5.2. Đề nghị (68)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (70)

Nội dung

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Điều kiện cơ sở thực tập

2.1.1 Quá trình thành lập và phát triển trại chăn nuôi Đỗ Đức Thuận

Trại lợn Đỗ Đức Thuận, thành lập năm 2010 và do ông Đỗ Đức Thuận làm chủ, là một trại tư nhân lớn tại thị trấn Tây Đằng, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội Trại chuyên chăn nuôi lợn nái sinh sản kết hợp với lợn thịt, nuôi cá và trồng cây ăn quả, áp dụng phương thức chăn nuôi tập trung công nghiệp với hệ thống chuồng khép kín.

Thị trấn Tây Đằng là trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị của huyện Ba

Thị trấn có vị trí địa lý thuận lợi với chợ, bến sông và quốc lộ 32A, tỉnh lộ 413 đi qua, cùng nhiều cơ quan, đơn vị hoạt động trên địa bàn Phía Đông giáp xã Chu Minh, phía Tây giáp xã Vật Lại, phía Nam giáp xã Tiên Phong và phía Bắc giáp xã Phú Châu Tổng diện tích đất tự nhiên của thị trấn là 1.208,17 ha.

Thị trấn hiện có 14 thôn, bao gồm các thôn Đông, Nam, Đoài, Bắc, Hưng Đạo, Cao Nhang, Cầu Bã, Vân Trai, Lai Bồ, Vân Hồng, Chợ Chàng, Cửa Đình, Phú Mỹ và Đài Hoa.

Trại được đặt ở vị trí thuận lợi cho phát triển nhờ cách xa khu công nghiệp, dân cư, bệnh viện và trường học Mặc dù cách xa 32km so với trục đường quốc lộ chính, giao thông chưa thuận tiện cho giao thương sản phẩm chăn nuôi, nhưng vẫn mang lại hiệu quả cao trong sản xuất.

Tây Đằng, một thị trấn thuộc huyện Ba Vì, nằm trong khu vực trung du miền núi phía Bắc, chịu ảnh hưởng rõ rệt của khí hậu nhiệt đới gió mùa với đặc điểm nóng ẩm và mưa nhiều Do đó, trại chăn nuôi và trồng trọt tổng hợp Đỗ Đức Thuận cũng bị ảnh hưởng bởi điều kiện khí hậu này.

- Mùa mưa: nóng ẩm mưa nhiều (từ tháng 4 đến tháng 9), nhiệt độ trung bình từ 25 - 27 o C, độ ẩm trung bình đạt 83%, tổng lượng mưa đạt 1.726mm.

Mùa khô kéo dài từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, với thời tiết khô ráo, ít mưa, nhiệt độ trung bình dao động từ 17 - 19 độ C và độ ẩm trung bình đạt 80,8% Tổng lượng mưa trong mùa này là 299,2 mm, tạo điều kiện thuận lợi cho trồng trọt Tuy nhiên, thời tiết khô hạn lại gây nhiều khó khăn cho chăn nuôi, đặc biệt là trong việc nuôi lợn.

2.1.1.3 Cơ cấu tổ chức của trang trại

Trại lợn gồm có 5 người trong đó có:

+ Quản lý trang trại: 1 người.

2.1.2 Cơ sở vật chất của trang trại Đỗ Đức Thuận

Trang trại có tổng diện tích 5 ha, bao gồm 2 ha dành cho khu chăn nuôi, nhà ở công nhân và các công trình phụ, cùng với đất trồng cây xanh và cây ăn quả Phần diện tích còn lại, 3 ha, được sử dụng cho ao hồ.

Khu chăn nuôi được chia thành ba khu vực riêng biệt, bao gồm hai khu chăn nuôi lợn nái sinh sản và hai khu chăn nuôi lợn thịt Khu chăn nuôi lợn nái sinh sản được thiết kế với chuồng trại có khả năng chứa hơn 110 lợn nái và lợn đực, trong đó giống lợn chủ yếu là Duroc, được nhập từ trại heo giống cao sản Bành Tỷ.

Trại lợn được phân chia thành hai khu vực chính: khu điều hành và khu sản xuất Khu điều hành bao gồm văn phòng làm việc của quản lý trại và chỗ ở, nơi ăn uống của sinh viên thực tập cùng với các quản lý của trang trại.

Khu sản xuất bao gồm một chuồng đẻ, một chuồng hậu bị và hai chuồng thịt, với thiết kế dãy chuồng chạy dài Các chuồng lợn được xây dựng theo kiểu cũi sắt, trang bị đầy đủ thiết bị chiếu sáng và hệ thống uống nước tự động cho mỗi ô nái Vào mùa hè, khu vực này có hệ thống quạt thông gió và dàn mát, trong khi mùa đông được hỗ trợ bởi hệ thống làm ấm bằng bóng đèn hồng ngoại.

- Một số công trình khác phục vụ cho chăn nuôi như: kho cám, kho thuốc, phòng tinh, phòng sát trùng

- Phòng pha tinh có các dụng cụ hiện đại phục vụ cho chăn nuôi như: kính hiển vi, nồi hấp cách thủy, tủ sấy và các dụng cụ khác.

Trong khu chăn nuôi, các lối đi giữa các ô chuồng và khu vực đều được lát bê tông và trang bị hố sát trùng, đảm bảo vệ sinh an toàn Quản lý khu chuồng nuôi được thực hiện một cách nghiêm ngặt, yêu cầu tất cả công nhân và khách ra vào phải thay quần áo, đeo khẩu trang, mang ủng chuyên dụng và đi qua hệ thống sát trùng trước khi vào khu vực chăn nuôi.

- Nguồn nước thải rửa chuồng trại, xả gầm đều được xử lý qua hệ thống thoát nước ngầm.

- Xung quanh trang trại còn trồng rau xanh, cây ăn quả, bưởi những hồ sinh học tạo môi trường thông thoáng.

2.1.3 Thuận lợi và khó khăn

Trại nhận được sự chú ý từ nhiều cấp ngành, bao gồm Ủy ban nhân dân thị trấn Tây Đằng và Trạm thú y huyện Ba Vì, về các yếu tố như điều kiện hoạt động, cơ sở vật chất, môi trường và chính sách hỗ trợ.

- Trại được Công ty cổ phần CP Việt Nam cung cấp về con giống, thức ăn và đảm bảo khâu kỹ thuật.

- Trại có vị trí thuận lợi, đường đi, địa hình khá thuận tiện cho việc vận chuyển con giống cũng như thức ăn chăn nuôi.

- Chủ trại có năng lực, năng động, nắm bắt được tình hình xã hội, luôn

Trại được thiết kế theo mô hình công nghiệp với trang thiết bị hiện đại, áp dụng quy trình chăn nuôi tiên tiến, rất phù hợp cho việc chăn nuôi lợn công nghiệp.

Khí hậu biến đổi không ổn định với những yếu tố như nóng ẩm, lạnh và khô thất thường đã tác động mạnh mẽ đến sức đề kháng của vật nuôi Sự diễn biến phức tạp của bệnh dịch cũng ảnh hưởng đến tình hình sức khỏe và năng suất chăn nuôi.

- Giá thức ăn chăn nuôi không ổn định, có xu hướng tăng liên tục khiến chi phí thức ăn tăng cao, gây bất lợi tới kết quả chăn nuôi.

- Sự bùng phát của một số dịch bệnh như đợt dịch tả lợn châu phi năm

2019 gây ra gây thiệt hại lớn về kinh tế cho trang trại và nguy cơ bùng phát các dịch bệnh khác.

Cơ sở tài liệu liên quan đến khóa luận

2.2.1 Đặc điểm cấu tạo cơ quan sinh dục của lợn cái

Cơ quan sinh dục của lợn cái cấu tạo gồm bộ phận sinh dục bên trong và bộ phận sinh dục bên ngoài.

Bộ phận sinh dục bên ngoài: âm môn, âm vật, tiền đình.

Bộ phận sinh dục bên trong của lợn cái bao gồm buồng trứng, ống dẫn trứng, tử cung và âm đạo Theo nghiên cứu của Nguyễn Mạnh Hà và cộng sự (2012), cấu tạo của các cơ quan này có những đặc điểm riêng biệt và quan trọng cho chức năng sinh sản của lợn cái.

* Bộ phận sinh dục bên ngoài

Âm môn, hay còn gọi là âm hộ, nằm dưới hậu môn và bao gồm hai môi bên ngoài Giữa hai môi là hai mép, và trên bề mặt của chúng có sắc tố đen cùng với nhiều tuyến tiết Những tuyến này có chức năng tiết ra chất nhờn trắng và mồ hôi, đóng vai trò quan trọng trong sức khỏe và sự thoải mái của vùng kín.

Âm vật (Clitoris) có cấu tạo tương tự như ở con đực, với nếp da tạo thành mũ âm vật và một phần âm vật gập xuống dưới Bề mặt âm vật được bao phủ bởi lớp niêm mạc chứa nhiều đầu mút thần kinh cảm giác Sau khi dẫn tinh cho gia súc cái, người thụ tinh thường xoa bóp nhẹ âm vật để kích thích con cái, giúp cổ tử cung co thắt và đưa con vật trở lại trạng thái bình thường.

Tiền đình (Vestibulum vaginae sinusinogentalis) là khu vực nối giữa âm môn và âm đạo, bao gồm màng trinh, với âm đạo nằm phía trước và âm môn phía sau Sau màng trinh là lỗ niệu đạo, trong khi tiền đình còn chứa một số tuyến hướng về âm vật.

* Bộ phận sinh dục bên trong

Âm đạo (Vagina) là một cấu trúc quan trọng trong hệ sinh dục của lợn, nằm giữa cổ tử cung ở phía trước và tiền đình có màng trinh ở phía sau Đây là lỗ tròn cho phép tiếp nhận cơ quan sinh dục đực trong quá trình giao phối và cũng là đường dẫn cho thai nhi ra ngoài trong quá trình sinh Kích thước của âm đạo lợn thường dao động từ 10 đến 12 cm.

Tử cung là cơ quan quan trọng trong hệ sinh sản, nơi diễn ra quá trình làm tổ và cung cấp dinh dưỡng cho sự phát triển của bào thai Nó nằm trong xoang chậu, phía dưới trực tràng và trên bàng quang Tử cung được chia thành ba phần chính: sừng, thân và cổ tử cung.

Lớp ngoài cùng của tử cung là tương mạc, được kết nối với dây chằng rộng Bên trong là lớp cơ trơn dày và khỏe, có chức năng chứa và đẩy thai nhi khi sinh Cấu trúc cơ bao gồm cơ dọc bên ngoài và cơ vòng bên trong, với cơ vòng phát triển mạnh ở cổ tử cung, tạo thành cơ thắt Lớp niêm mạc trong cùng có màu hồng nhạt, nhiều nếp gấp và chứa nhiều tuyến tiết chất nhờn; niêm mạc ở cổ tử cung có thể thắt lại tùy thuộc vào từng loại gia súc.

Mạch quản thần kinh của lợn bao gồm động mạch từ động mạch tử cung - buồng trứng và động mạch tử cung, cùng với thần kinh từ đám rối treo đằng sau và đám rối hạ vị Sừng tử cung của lợn dài từ 0,5 - 1m, có hình dạng ngoằn ngoèo như ruột non, và dây chằng rộng dài cho phép kéo sừng tử cung ra ngoài khi thiến Thân tử cung ngắn với niêm mạc và sừng tử cung có các nếp nhăn theo chiều dọc, nơi thai làm tổ Cổ tử cung không có nếp gấp hoa nở mà có các cột thịt xen kẽ, tạo thành cấu trúc giống như cài răng lược.

Buồng trứng (Ovarium) là hai cơ quan nằm ở cạnh trước dây chằng rộng và trong xoang chậu, được bao bọc bởi một màng liên kết sợi chắc chắn Buồng trứng được chia thành hai miền: miền vỏ và miền tủy, với cấu trúc mô liên kết sợi xốp tạo ra một chất đệm cho buồng trứng.

+ Miền vỏ: đặc biệt quan trọng với chức năng sinh dục, đảm bảo quá trình phát triển của trứng cho đến khi trứng chín và rụng.

Miền tủy nằm ở giữa buồng trứng, chứa nhiều mạch máu, dây thần kinh, mạch bạch huyết và tổ chức liên kết dày đặc, đảm bảo chức năng nuôi dưỡng và bảo vệ trứng Buồng trứng là tuyến nội tiết của gia súc cái, có hai chức năng chính: nội tiết, tiết ra hormone sinh dục cái oestrogen, và ngoại tiết, bài noãn Các hormone sinh dục cái như oestrogen, progesteron và inhibin điều khiển chu kỳ sinh sản của lợn cái Oestrogen hỗ trợ phát triển tử cung và hệ thống dẫn của tuyến vú, trong khi progesteron kích thích sự phân tiết của tử cung để nuôi dưỡng thai và ức chế co thắt tử cung Oxytocin, tiết ra khi gần sinh, làm co thắt cơ tử cung và tuyến vú để thải sữa Relaxin giúp dãn nở xương chậu và mở rộng đường sinh dục khi lợn sắp sinh Inhibin ức chế sự phân tiết FSH từ tuyến yên, ngăn chặn sự phát triển của noãn nang theo chu kỳ.

Khi noãn nang bào thành thục thì màng liên kết buồng trứng sẽ tách ra.

Khi tế bào trứng rời khỏi buồng trứng và di chuyển vào loa kèn, noãn nang bào sẽ rách ra và nhanh chóng liền lại Các tế bào sau đó phân chia nhanh chóng, tạo thành một khối tế bào lớn để lấp kín xoang noãn bào, hình thành thể vàng Nếu tế bào trứng được thụ tinh, thể vàng sẽ tồn tại và tiết ra hormone progesterone, giúp duy trì thai kỳ.

- Ống dẫn trứng (Oviductus): Là một ống nhỏ ngoằn ngoèo nằm ở màng treo buồng trứng.

Ống dẫn trứng cấu tạo gồm ba phần: lớp ngoài là sợi liên kết kéo dài từ màng treo buồng trứng, lớp giữa là cơ trơn, và lớp trong là niêm mạc với tế bào hình trụ, hình vuông có chức năng tiết dịch Bề mặt niêm mạc được phủ lớp nhung mao, giúp đẩy tế bào trứng hoặc hợp tử xuống tử cung Ống dẫn trứng có nhiệm vụ vận chuyển trứng và tinh trùng theo hướng ngược nhau, với bộ phận giống tua diềm giúp đưa trứng từ buồng trứng đến phễu Trứng di chuyển qua lớp nhầy đến ống dẫn trứng, nơi thụ tinh diễn ra và lưu lại khoảng 3 ngày trước khi chuyển đến tử cung, với thời gian di chuyển tổng cộng từ 3 đến 10 ngày Ống dẫn trứng tạo điều kiện thuận lợi cho sự hợp nhất của giao tử và phát triển ban đầu của phôi.

2.2.2 Đặc điểm sinh lý sinh dục lợn cái

* Sự thành thục về tính

Sự thành thục về tính ở động vật được xác định khi chúng có phản xạ sinh dục và khả năng sinh sản Theo nghiên cứu của Trần Tiến Dũng và cộng sự (2002), vào thời điểm này, các bộ phận sinh dục như tử cung, buồng trứng và âm đạo đã phát triển hoàn chỉnh, sẵn sàng cho hoạt động sinh sản Bên cạnh sự phát triển nội tại, các bộ phận sinh dục phụ cũng bắt đầu xuất hiện, dẫn đến phản xạ tính và hiện tượng động dục ở gia súc.

Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Trí (2008), lợn nái ngoại như Yorkshire và Landrace đạt tuổi động dục đầu tiên ở khoảng 6 - 7 tháng tuổi với trọng lượng từ 65 - 70 kg, trong khi lợn nái lai F1 có thể bắt đầu động dục ở 6 tháng tuổi với trọng lượng từ 50 - 55 kg.

Thời điểm động dục của lợn cái có sự khác biệt ngay trong cùng một giống, với những con được chăm sóc tốt thường đạt độ thành thục sớm hơn Sự tiếp xúc với lợn đực cũng thúc đẩy quá trình động dục, khiến lợn cái nhanh chóng vào thời kỳ này hơn so với những con không có cơ hội tiếp xúc Nghiên cứu của Hughes đã chỉ ra những yếu tố này ảnh hưởng rõ rệt đến thời điểm động dục của lợn cái.

Chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý lợn nái trong giai đoạn mang thai

Trần Thanh Vân và cộng sự (2017) cho biết rằng nếu lợn nái không có dấu hiệu động dục sau 21 ngày phối giống, có khả năng lợn đã thụ thai Sau khoảng 3 ngày lưu lại ở ống dẫn trứng để tự dưỡng, hợp tử bắt đầu di chuyển xuống tử cung để tìm vị trí thích hợp cho sự làm tổ và hình thành bào thai Trong thời gian mang thai, nội tiết tố trong cơ thể mẹ có sự biến đổi rõ rệt; progesterone tăng nhanh trong 10 ngày đầu, đạt đỉnh vào ngày thứ 20 và sau đó giảm nhẹ trong 3 tuần đầu, trước khi duy trì ổn định để hỗ trợ thai kỳ và ức chế động dục.

Hai ngày trước khi lợn nái sinh, nồng độ progesterone giảm đột ngột, trong khi oestrogen duy trì ở mức thấp trong suốt thai kỳ Khoảng hai tuần trước khi sinh, nồng độ oestrogen bắt đầu tăng dần và đạt mức cao nhất vào thời điểm lợn nái đẻ Thời gian mang thai của lợn nái thường kéo dài từ 115 đến 118 ngày.

Thời gian mang thai được xác định từ lần phối giống cuối cùng và chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như loài và giống gia súc, tuổi tác, số lứa sinh sản, tình trạng dinh dưỡng, sức khỏe và số lượng bào thai.

Nguyễn Văn Trí (2008) [17] cho rằng: thời gian chửa của lợn nái bình quân là 114 ngày (113 – 116 ngày), được chia làm hai thời kì:

+ Thời kỳ chửa kỳ I: là thời gian lợn có chửa từ ngày thứ 1 đến ngày thứ 84.

+ Thời kỳ chửa kỳ II: là thời gian lợn chửa từ ngày 85 đến ngày đẻ dự kiến.

2.3.2 Công tác quản lý và chăm sóc lợn nái trong giai đoạn mang thai

Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Thanh và cộng sự (2015), việc phòng ngừa sảy thai là công tác quan trọng nhất trong chăm sóc và quản lý lợn nái mang thai Điều này nhằm bảo vệ bào thai, giúp thai sinh trưởng và phát triển bình thường, đồng thời tránh các tác động từ bên ngoài có thể gây ra đẻ non hoặc sảy thai, đặc biệt trong giai đoạn mang thai thứ hai.

Nguyên nhân chính gây sảy thai ở lợn bao gồm nền chuồng hoặc sân chơi không bằng phẳng, gồ ghề, khiến lợn dễ trượt ngã Bên cạnh đó, cửa ra vào quá nhỏ khiến lợn phải chen lấn, xô đẩy nhau, cũng như việc đánh đập lợn hay tắm nước lạnh đột ngột đều có thể dẫn đến tình trạng này.

Trong chăn nuôi lợn nái mang thai giai đoạn I, việc cho lợn vận động là rất quan trọng, đặc biệt đối với những con có thể trạng béo Đối với các cơ sở chăn nuôi có tài chính hạn chế, việc cung cấp khẩu phần ăn thấp có thể được cải thiện bằng cách cho lợn chăn thả hợp lý Sự kết hợp giữa vận động và thức ăn tự kiếm được từ chăn thả giúp lợn nái duy trì sức khỏe tốt, thai phát triển mạnh mẽ và lợn con có sức sống cao.

Lợn nái trong giai đoạn mang thai kỳ II cần được hạn chế vận động, chỉ nên cho đi lại quanh sân trong tuần gần đến ngày đẻ Mỗi ngày, nên cho lợn nái vận động từ 1 đến 2 lần, mỗi lần kéo dài từ 60 đến 90 phút để đảm bảo sức khỏe và sự phát triển của thai nhi.

Khi thời tiết xấu hoặc khi chăn thả ở nơi không bằng phẳng và có nhiều rãnh, cần tránh cho vật nuôi vận động Trước khi cho chúng hoạt động, hãy đảm bảo rằng chúng đã uống đủ nước.

Tắm chải cho lợn nái là một hoạt động cần thiết để duy trì vệ sinh lông da, tăng cường trao đổi chất và tuần hoàn, giúp lợn nái cảm thấy thoải mái và kích thích thèm ăn Đặc biệt, việc này rất quan trọng trong mùa hè, không chỉ giúp loại bỏ ký sinh trùng mà còn chống nóng cho lợn nái, từ đó phòng ngừa các bệnh ngoài da.

Khi xây dựng chuồng trại cho lợn nái mang thai, cần tuân thủ đúng quy định và có chế độ nuôi nhốt phù hợp theo từng giai đoạn Tại các trại quy mô công nghiệp, lợn hậu bị thường được nhốt riêng để dễ dàng chăm sóc và theo dõi trong suốt quá trình mang thai Chuồng nuôi cần được vệ sinh sạch sẽ, duy trì nhiệt độ phù hợp theo mùa, đảm bảo khô ráo và thoáng mát vào mùa hè, ấm áp vào mùa đông Trước khi lợn đẻ một tuần, cần chuyển lợn nái sang ô đẻ để chuẩn bị cho quá trình sinh sản.

Chuồng nuôi cần được thiết kế yên tĩnh và thoải mái cho lợn nái trong giai đoạn thai kỳ Việc hạn chế tiếng động mạnh và đột ngột là rất quan trọng để đảm bảo sức khỏe và sự phát triển của lợn nái.

Mỗi nái mang thai đều được gắn thẻ với mã số riêng, ghi lại thông tin quan trọng như ngày phối, ngày đẻ dự kiến và thực tế, lứa đẻ, số con đẻ ra, số con chết, số con hiện nuôi, số con cai sữa, cũng như các sự cố như sảy thai, không đậu thai và chết thai Thông tin này giúp chủ trại có biện pháp xử lý kịp thời và đề phòng các vấn đề có thể xảy ra.

2.3.3 Nhu cầu dinh dưỡng của lợn nái giai đoạn mang thai Đối với lợn nái hậu bị hay lợn nái vừa cai sữa, khẩu phần ăn phù hợp rất cần thiết Lợn hậu bị trước khi đến thời điểm phối cần có khối lượng cơ thể cân đối cùng với sức khỏe đảm bảo không mắc bệnh, quá gầy, ảnh hưởng đến giảm khối lượng cơ thể, có nhiều con sức khỏe giảm, gầy yếu, việc cung cấp khẩu phần ăn đầy đủ về dinh dưỡng là để bù đắp lại khối lượng cơ thể để chu kỳ động dục xuất hiện nhanh và tỷ lệ đậu thai cao Lợn đực có khẩu phần ăn vừa đủ để không quá béo, không quá gầy Việc nuôi dưỡng, cung cấp khẩu phần ăn phù hợp cho lợn đực là rất quan trọng, để đảm bảo chất lượng tinh trùng Lợn đực cũng có chế độ khai thác phù hợp, khai thác khi lợn đực không quá non, không quá già, khai thác không quá dày đặc khiến lợn đực quá sức. Theo Nguyễn Văn Thắng và Nguyễn Thị Xuân (2016) [16], cần cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho lợn nái sinh sản giai đoạn mang thai để đảm bảo nhu cầu cho sự phát triển của thai, nhu cầu duy trì cơ thể và tích lũy trong giai đoạn tiết sữa nuôi con sau này Đối với lợn nái hậu bị, mang thai lần đầu thì lượng dinh dưỡng cần cao hơn để lợn nái hậu bị tiếp tục phát triển hoàn thiện.

Trong giai đoạn chửa kỳ I khẩu phần ăn của lợn phải có tỷ lệ protein là

13 - 14%, năng lượng trao đổi từ 2.800 - 2.900 Kcal Nhưng ở giai đoạn

Tỷ lệ protein trong khẩu phần ăn cho lợn nái cần cao hơn từ 15 - 20% Trong giai đoạn I, khi bào thai chưa phát triển mạnh, dinh dưỡng chủ yếu dành cho lợn nái để duy trì sức khỏe, trong khi chỉ một phần nhỏ được cung cấp cho bào thai Đến giai đoạn II, tốc độ phát triển của bào thai tăng nhanh, yêu cầu dinh dưỡng cao hơn để đảm bảo lợn con khi sinh ra đạt khối lượng tiêu chuẩn Cụ thể, lợn Landrace có khối lượng sơ sinh trung bình khoảng 1,4kg, lợn Yorkshire khoảng 1,3kg, và lợn Móng Cái từ 0,5 đến 0,7kg.

Khi xác định khẩu phần ăn cho lợn nái trong một ngày, cần xem xét thể trạng, sức khỏe, giống, khối lượng, giai đoạn thai kỳ, loại thức ăn và nhiệt độ chuồng nuôi Lợn nái mang thai ở giai đoạn II cần ăn nhiều hơn ở giai đoạn I; lợn gầy cần được cho ăn nhiều hơn, trong khi lợn béo nên ăn ít hơn Nhiệt độ chuồng nuôi lý tưởng là từ 25 - 30°C để tăng khả năng chống rét Đối với lợn nái mang thai lần đầu, cần tăng dinh dưỡng thêm 10 - 15% để đáp ứng nhu cầu cho cả bào thai và sự phát triển của lợn nái Lợn nái tách con cũng cần tăng khẩu phần ăn để kích thích rụng trứng và tăng số con đẻ ở lứa sau, việc điều chỉnh khẩu phần ăn còn phụ thuộc vào thể trạng của lợn nái.

Một số bệnh thường gặp trên lợn nái mang thai

Theo nghiên cứu của Tô Thị Phượng và Khương Văn Nam (2014), sau khi phối giống từ 18 đến 21 ngày, lợn có thể trở lại động dục, và có trường hợp không thụ thai dù đã trải qua nhiều kỳ phối giống Nguyên nhân có thể do kỹ thuật thụ tinh nhân tạo không đúng, gây tổn thương cho niêm mạc tử cung, hoặc do dụng cụ dẫn tinh không được khử trùng đúng cách Bên cạnh đó, quá trình bảo quản và pha chế tinh trùng không đạt tiêu chuẩn cũng tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập, phát triển và gây bệnh.

Để phòng bệnh trong quá trình thụ tinh nhân tạo hoặc tự nhiên, cần tuân thủ nghiêm ngặt quy định vệ sinh, bao gồm việc vệ sinh đầy đủ dụng cụ và tay chân Các dụng cụ thụ tinh nhân tạo phải được vô trùng, tránh sử dụng dụng cụ quá cứng để không gây tổn thương và nhiễm trùng đường sinh dục Đồng thời, việc giữ gìn chuồng trại sạch sẽ và cẩn thận cũng là một yếu tố quan trọng trong việc phòng ngừa bệnh.

2.4.2 Bỏ ăn không rõ nguyên nhân

Trong giai đoạn chăm sóc lợn nái mang thai, có thể gặp tình trạng lợn nái bỏ ăn mà không có dấu hiệu sốt, mệt mỏi hay đau đớn Tình trạng này thường xảy ra từ 1 đến 2 tháng sau khi phối giống.

- Do rối loạn nội tiết tố sau khi lợn đậu thai, tăng hoặc giảm một số hormone làm ảnh hưởng đến tính thèm ăn.

Thai bị chết khô trong 1 - 2 ngày do nhiều nguyên nhân, bao gồm độc tố nấm mốc, thức ăn không an toàn và các bệnh truyền nhiễm như dịch tả, lở mồm long móng, tai xanh Khi thai chết, chất độc sẽ hấp thu vào máu, gây nhiễm độc huyết, khiến vật nuôi mệt mỏi và bỏ ăn.

-Do thai quá nhiều, gần đẻ thai thúc mạnh vào thành bụng làm lợn mẹ đau, mỏi, bỏ ăn.

Một số loại thuốc được sử dụng trong khóa luận

Vilamoks - LA: Thuốc do công ty Công ty Cổ phần Dược phẩm Thú y

VILSAN là một trong những nhà sản xuất dược phẩm thú y lớn nhất trên thị trường thú y của Thổ Nhĩ Kỳ Quy cách đóng gói lọ 250ml.

- Thành phần: Mỗi 1 ml chứa amoxicillin trihydrate tương đương với

Amoxicillin có công dụng điều trị hiệu quả các loại nhiễm trùng đường tiêu hóa, hệ tiết niệu sinh dục do vi khuẩn nhạy cảm, đặc biệt là nhiễm trùng đường hô hấp và các bệnh nhiễm trùng sau phẫu thuật ở gia súc, lợn, cừu, chó và mèo.

- Cách dùng: Tiêm bắp thịt, lắc kỹ trước khi sử dụng, tiêm 1ml/10kg TT, tiêm trong 3 - 5 ngày liên tục.

Hanalgin + C: Thuốc do công ty cổ phần Hanvet sản xuất Quy cách đóng gói lọ 100ml.

Tá dược vừa đủ 1ml.

- Công dụng: Chữa sốt cao, cảm nắng, cảm nhiệt, thấp cơ, thấp khớp.

Chữa trị các vấn đề như đau bụng, đầy hơi, táo bón và co thắt ở thực quản, ruột, ống mật, tiết niệu và sa dạ dày là rất quan trọng Đồng thời, cần trấn tĩnh gia súc trong quá trình thụt rửa dạ dày, ruột và thông tắc thực quản để đảm bảo sức khỏe và sự an toàn cho động vật.

-Cách dùng: Tiêm bắp, lợn: 10 – 15 ml/con/lần, lợn con: 3 – 5 ml/con/lần.

Gluco - K - C Namin: Thuốc của công ty Cổ phần Thuốc thú y

Marphavet Quy cách đóng gói lọ 100ml.

Tá dược vừa đủ 100ml

Bổ sung Vitamin K, B12, Acid caprylic, Tolfenamic acid, Methyparaben và một số vitamin.

Công dụng của sản phẩm bao gồm hồi sức, hạ sốt, tiêu viêm, bổ gan và giải độc Nó hỗ trợ hồi sức cho nái sau sinh, tăng cường sức đề kháng và hỗ trợ điều trị các bệnh truyền nhiễm Đặc biệt, sản phẩm an toàn cho nái trong thời kỳ mang thai.

Vitamin C là sản phẩm do công ty Cổ Phần Dược Phẩm Trung Ương I sản xuất, được đóng gói trong ống 5ml Thuốc được sử dụng bằng cách tiêm bắp hoặc dưới da, với liều lượng 1ml cho mỗi 7 – 10kg trọng lượng cơ thể, và nên được tiêm một lần mỗi ngày.

-Thành phần: Acid ascorbic 500mg/5ml.

Vitamin C có tác dụng phòng ngừa và điều trị tình trạng thiếu vitamin C, cũng như các triệu chứng chảy máu do thiếu hụt vitamin này Nó giúp tăng cường sức đề kháng cho cơ thể khi mắc các bệnh nhiễm khuẩn, cảm cúm, mệt mỏi, và nhiễm độc Ngoài ra, vitamin C còn hỗ trợ điều trị thiếu máu do thiếu sắt và có thể phối hợp với các thuốc chống dị ứng.

-Cách dùng: Tiêm bắp hoặc dưới da Ngày 1 lần 500mg/5ml/con.

Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.6.1 Tình hình nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam các nhà khoa học đã nghiên cứu tổng kết về bệnh sinh sản, không chỉ khiến lợn nái giảm khả năng sinh sản mà có thể làm mất khả năng sinh sản, chậm sinh hay làm giảm khả năng sống sót của lợn con. Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) [7] cho rằng: Không nên cho phối giống ở lần động dục đầu tiên vì lợn nái động dục lần đầu cơ thể chưa phát triển đầy đủ, chưa tích tụ chất dinh dưỡng nuôi thai, trứng chưa chín một cách hoàn chỉnh Để đạt được hiệu quả sinh sản tốt và duy trì con cái lâu bền cần bỏ qua

Nên đợi từ 1 đến 2 chu kỳ trước khi cho phối giống, thường là ở động dục thứ 2 hoặc thứ 3 Theo Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn (2006), việc thiếu chế độ nuôi dưỡng và chăm sóc hợp lý, cũng như thiếu các chất dinh dưỡng như protein, gluxit, lipit, và các khoáng chất như Ca, P, Iod, vitamin A có thể ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình phối giống.

Việc thiếu hụt dinh dưỡng trong thai kỳ có thể dẫn đến tình trạng suy nhược cơ thể, thai chết lưu và sinh non Theo nghiên cứu của Bùi Thị Kim Dung và Bùi Huy Như Phúc (2008), việc bổ sung các nguyên liệu giàu chất xơ như cám lúa mì, vỏ đậu nành và lá khoai mì vào khẩu phần ăn của lợn nái mang thai không chỉ không gây ảnh hưởng tiêu cực đến năng suất sinh sản mà còn giúp giảm tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung từ 44,4% xuống còn 11,1%, đồng thời cải thiện sức sống của lợn con sơ sinh và tăng tỷ lệ nuôi con đến khi tách bầy, mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn so với nhóm đối chứng Phạm Sỹ Lăng và các cộng sự (2011) cũng chỉ ra rằng việc sử dụng dụng cụ thụ tinh nhân tạo quá cứng có thể gây tổn thương và viêm nhiễm ở âm đạo và tử cung, dẫn đến tình trạng tinh dịch bị nhiễm khuẩn và lợn đực giống bị viêm niệu quản và dương vật, từ đó lây truyền mầm bệnh cho lợn nái, gây ra rối loạn sinh sản do nhiều nguyên nhân khác nhau.

Trịnh Văn Tuấn (2015) cho biết rằng trong quá trình mang thai, lợn nái thường tiêu thụ nhiều chất dinh dưỡng nhưng ít vận động, hoặc có thể mắc phải một số bệnh truyền nhiễm như sảy thai truyền nhiễm (Brucellosis) và xoắn khuẩn (Leptospirosis) Những yếu tố này làm cho cơ thể lợn nái trở nên yếu, dẫn đến các vấn đề như sảy thai, đẻ non, và thai chết lưu, từ đó gây ra tình trạng viêm tử cung.

Viêm tử cung có ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng sinh sản của gia súc, có thể dẫn đến vô sinh vĩnh viễn hoặc chậm động dục và không thụ thai (Theo Lê Minh và cs., 2017) Nghiên cứu của Vương Nam Trung và cs (2017) cho thấy việc điều chỉnh khẩu phần ăn cho lợn nái mang thai dựa vào độ dày mỡ lưng đã cải thiện đáng kể năng suất sinh sản, tăng 3,6% số con đẻ ra/ổ, 1,6% số con sống/ổ và 2,5% số con cai sữa/ổ, đồng thời rút ngắn thời gian động dục trở lại sau cai sữa 1 ngày.

Theo nghiên cứu của Lã Văn Kính và cộng sự (2019), việc tăng tỷ lệ xơ trong khẩu phần lợn nái mang thai từ 8% lên 10 - 12% đã mang lại nhiều lợi ích, bao gồm tăng khối lượng lợn nái lúc mang thai từ 24 - 35%, tăng khả năng ăn vào của lợn nái nuôi con từ 12 - 17%, tăng khối lượng lợn con sơ sinh/ổ từ 2 - 8% và khối lượng lợn con cai sữa/ổ từ 6 - 10% Tỷ lệ xơ tối ưu trong khẩu phần cho lợn nái mang thai là 10 - 12%, và không nên vượt quá 12% để đảm bảo sức khỏe và hiệu quả sinh sản.

2.6.2 Tình hình nghiên cứu nước ngoài

Theo nghiên cứu của Bidwell C và Williamson S (2005), tình trạng mắc bệnh sinh sản ở lợn nái do virus và vi khuẩn đã được phân tích, đồng thời các biện pháp phát hiện và giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh PRRS cũng được đề xuất Để xác định nguyên nhân gây nhiễm trùng trong bệnh sinh sản, việc có hồ sơ điều trị bệnh là rất cần thiết.

Triệu chứng lâm sàng, trật tự xuất hiện các triệu chứng.

Kết hợp các xét nghiệm chẩn đoán thích hợp là rất quan trọng để hạn chế rủi ro liên quan đến bệnh sinh sản ở lợn Theo nghiên cứu của Gresham A (2003), bệnh sinh sản không nhiễm trùng thường liên quan đến quản lý, dinh dưỡng và môi trường, trong khi bệnh truyền nhiễm chủ yếu do vi khuẩn, virus, nấm và động vật nguyên sinh gây ra Ngoài ra, một số bệnh sinh sản cũng có thể do các mầm bệnh như hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp, Parvovirus, hoặc Leptospira.

Theo Smith B.B và cộng sự (1995) cho biết, viêm tử cung thường xảy ra trong quá trình sinh nở do vi khuẩn E.coli và các vi khuẩn Gram dương gây ra Để điều trị viêm tử cung, phương pháp tiêm kháng sinh vào màng treo cổ tử cung của lợn nái đã được chứng minh là hiệu quả cao, với các loại thuốc như Streptomycin 0,25g, Penicillin 500.000 UI và dung dịch KMnO4 1% 40 ml kết hợp với VTM C.

Theo Taylor D.J (1995), việc tăng cường vệ sinh chuồng trại và vệ sinh cơ thể lợn nái là rất quan trọng để phòng ngừa nhiễm trùng sau sinh Nghiên cứu của Winson cho thấy nguyên nhân gây vô sinh ở lợn nái chủ yếu liên quan đến cơ quan sinh sản, chiếm 52,5%, trong khi lợn nái đẻ lứa đầu có tỷ lệ là 32,1% Ngoài ra, lợn nái cũng thường gặp các vấn đề bệnh lý như viêm vòi tử cung có mủ.

Theo nghiên cứu của Untaru và cộng sự (2011), môi trường có ảnh hưởng đáng kể đến các chỉ số sản xuất của lợn Số lượng lợn con sinh ra và chết non có sự khác biệt theo mùa, với lợn nái đầu tiên sinh ít lợn hơn vào mùa thu so với các lứa đẻ khác Trong mùa xuân và mùa thu, lợn nái sinh trung bình 11,24 con, trong khi mùa đông ghi nhận số lượng thấp nhất với 11,14 con Đặc biệt, sự sinh sản và tỷ lệ chết non có mối tương quan tích cực; vào mùa đông, cả sinh sản và tỷ lệ chết đều giảm, cho thấy xu hướng tương đồng trong các chỉ số này.

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH

Đối tượng

-Đối tượng: Đàn lợn nái mang thai nuôi tại trại.

-Giống lợn: Lợn đực Duroc và nái lai F1 (Yorkshire và Landrace).

Địa điểm và thời gian tiến hành

- Địa điểm: Trại lợn Đỗ Đức Thuận - huyện Ba Vì - thành phố Hà Nội.

- Thời gian: Từ ngày 24 tháng 07 năm 2020 đến ngày 03 tháng 01 năm 2021.

Nội dung thực hiện

-Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại lợn Đỗ Đức Thuận - huyện Ba Vì – thành phố Hà Nội.

-Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái giai đoạn mang thai.

-Biện pháp phòng trị bệnh cho lợn nái giai đoạn mang thai tại trại.

Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thực hiện

3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi

- Tình hình chăn nuôi lợn nái tại trại lợn Đỗ Đức Thuận, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.

-Cơ cấu của đàn lợn nái sinh sản tại trại.

- Biện pháp vệ sinh phòng bệnh đối với lợn nái mang thai và lợn nái hậu bị.

- Tình hình mắc bệnh trên đàn lợn nái mang thai của trại và thuốc điều trị.

- Phương pháp điều tra gián tiếp

Trong ba năm qua, chúng tôi đã tiến hành điều tra và thống kê thông tin từ sổ sách của trại về tình hình mắc bệnh viêm tử cung và hiện tượng bỏ ăn không rõ nguyên nhân Việc thu thập dữ liệu này nhằm hiểu rõ hơn về tình trạng sức khỏe của động vật và tìm ra các biện pháp can thiệp kịp thời.

- Phương pháp điều tra trực tiếp

Thống kê đàn lợn cần điều tra, lập sổ sách theo dõi.

Theo dõi đàn lợn theo tháng, ghi chép chi tiết và phân loại những con mắc các bệnh như viêm tử cung, bỏ ăn không rõ nguyên nhân.

Quan sát các biểu hiện bên ngoài của lợn nái như: trạng thái cơ thể, bộ phận sinh dục ngoài, dịch rỉ viêm, phân,

Khẩu phần ăn cho lợn nuôi tại trại.

Tại trại, thức ăn chăn nuôi được sử dụng là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh của Công ty cổ phần CP, bao gồm các loại thức ăn chuyên biệt cho lợn nái trong giai đoạn mang thai.

Lợn nái chửa được ăn loại thức ăn hỗn hợp 966 và 967S với khẩu phần chia theo tuần chửa, thể trạng như sau:

Bảng 3.1 Khẩu phần ăn của lợn nái mang thai tại trại

Từ khi phối đến 21 ngày

(Nguồn: Quản lý trang trại Đỗ Đức Thuận)

Công tác phòng bệnh bằng vắc xin tại trại.

Bảng 3.2 Lịch tiêm phòng vắc xin cho lợn nái hậu bị và lợn nái mang thai tại trại Loại lợn

Trại lợn của Đỗ Đức Thuận đã thực hiện quy trình phòng bệnh nghiêm ngặt bằng vắc xin cho đàn lợn nái trong giai đoạn mang thai, theo bảng 3.2.

3.4.3 Phương pháp tính toán các chỉ tiêu

3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu

Tất cả các số liệu thu được xử lý theo phương pháp thường quy trên phần mềm Microsoft Excel 2010.

KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

Tình hình chăn nuôi lợn tại trang trại Đỗ Đức Thuận trong 3 năm gần đây

Trang trại Đỗ Đức Thuận chuyên sản xuất giống lợn, bao gồm lợn đực Duroc và nái lai F1 (Yorkshire và Landrace) Hiện tại, trại có một lợn đực giống được nuôi trong chuồng bầu gần giàn mát để thuận tiện cho việc phối giống và kích thích động dục cho lợn nái Tinh lợn được khai thác từ lợn đực đều đạt chất lượng tốt, đáp ứng nhu cầu thụ tinh nhân tạo Trại áp dụng phương pháp sản xuất lợn giống theo hình thức xoay vòng liên tục, với mỗi nái được phối 2 - 3 liều tinh, trong đó nái hậu bị và nái kiểm định phối 3 liều, còn nái cơ bản phối 2 liều tinh.

Trung bình, mỗi lợn nái trong trại sản xuất sinh sản khoảng 2,50 lứa mỗi năm, với số lượng con sơ sinh đạt 14,0 con mỗi đàn và số con cai sữa là 12,0 con mỗi đàn Lợn con được nuôi theo mẹ để đảm bảo phát triển tốt nhất.

24 – 25 ngày tuổi, chậm nhất là 27 – 28 ngày thì tiến hành cai sữa và chuyển sang chuồng cai sữa.

Bảng 4.1 Cơ cấu đàn lợn nuôi tại trại trong 3 năm 2018 - 2020

2 Lợn nái hậu bị (con)

3 Lợn nái sinh sản (con)

4 Lợn con cai sữa (con)

5 Lợn con chuyển qua nuôi thịt (con)

Qua bảng 4.1 cho thấy tình hình chăn nuôi lợn của trại Đỗ Đức Thuận từ năm 2018 - 12/2020 có biến động lớn Tổng số đầu lợn có tại trại năm 2018 là

Trại chăn nuôi hiện có tổng cộng 3481 con lợn, bao gồm 100 lợn nái sinh sản, 3 lợn đực giống, 40 lợn nái hậu bị, 2138 lợn con cai sữa và 1200 lợn con chuyển qua nuôi thịt Tuy nhiên, vào năm 2019, trại đã bị ảnh hưởng bởi dịch tả lợn Châu Phi, dẫn đến việc tiêu hủy lợn và bỏ trống chuồng Sang năm 2020, trại đã tái đàn với tổng số lợn là 709 con, trong đó có 1 lợn đực giống, 10 lợn nái hậu bị, 58 lợn nái sinh sản, 320 lợn con cai sữa và 320 lợn con chuyển qua nuôi thịt.

Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng tại cơ sở

Trong thời gian thực tập, em đã chăm sóc trực tiếp đàn lợn nái mang thai, tuân thủ quy trình kỹ thuật của trại Điều này đảm bảo rằng lợn nái được chăm sóc, nuôi dưỡng và vệ sinh đầy đủ theo các quy định hiện hành.

Thức ăn đóng vai trò quyết định trong năng suất chăn nuôi lợn nái, với thức ăn chất lượng và cân bằng dinh dưỡng giúp lợn phát triển khỏe mạnh và tăng cường sức đề kháng Điều này quan trọng trong thời gian mang thai, khi sức khỏe của lợn nái và sự phát triển của thai nhi được cải thiện, giảm tỷ lệ mắc bệnh và hạn chế sử dụng thuốc kháng sinh, từ đó giảm chi phí chăn nuôi Cần điều chỉnh lượng dinh dưỡng theo từng thể trạng và giai đoạn mang thai của lợn, đặc biệt là sau khi phối, khi cần tăng cường dinh dưỡng với protein khoảng 13 - 14% và năng lượng trao đổi 2.900, đồng thời tăng lượng thức ăn thêm 15 - 20% và chất xơ để đảm bảo sự phát triển tốt nhất cho lợn và bào thai.

Trong giai đoạn cuối của thai kỳ, từ 4 tuần trước khi đẻ đến khi đẻ, cần tăng cường protein lên 17% và năng lượng khoảng 3100 kcal/kg để lợn phát triển tốt hơn Việc giảm xơ trong khẩu phần ăn là cần thiết, vì đây là giai đoạn cần dinh dưỡng nhiều nhất trong quá trình mang thai Đối với lợn nái tơ chửa lần đầu, có thể tăng khẩu phần ăn thêm 10 - 15% để đảm bảo cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cho thai nhi và sự phát triển của cơ thể mẹ Khi lợn chuẩn bị đẻ, cần giảm lượng thức ăn nhưng phải đảm bảo giá trị dinh dưỡng cao, đặc biệt là protein, lipid và khoáng chất.

Chuồng trại được xây dựng theo tiêu chuẩn và luôn giữ vệ sinh sạch sẽ để đảm bảo sức khỏe cho chăn nuôi lợn.

Chuồng phân được thiết kế với các khu vực riêng biệt, thuận tiện cho việc chăm sóc và theo dõi Mỗi chuồng luôn đảm bảo sự thoáng mát, được trang bị hệ thống giàn mát, quạt thông gió, cùng với tủ thuốc và dụng cụ chăn nuôi đầy đủ.

Thường xuyên rửa, phun sát trùng chuồng trại, xử lí chất thải hợp vệ sinh, đảm bảo an toàn dịch bệnh.

Để đảm bảo sự sinh trưởng và phát triển của lợn mang thai, cần xây dựng chế độ dinh dưỡng khoa học Cân đối dinh dưỡng theo từng giai đoạn phát triển của lợn là rất quan trọng Việc cho ăn đúng khẩu phần và đảm bảo cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng, đặc biệt là vitamin và khoáng chất, sẽ giúp nâng cao sức khỏe và hiệu quả chăn nuôi.

Cần ghi chép ngày phối giống để tính toán ngày đẻ và có kế hoạch trực lợn đẻ.

Trong quá trình chăm sóc lợn, việc quan sát kỹ lưỡng các biểu hiện bất thường là rất quan trọng để phát hiện bệnh sớm Điều này giúp áp dụng biện pháp xử lý phù hợp, từ đó hạn chế ảnh hưởng đến sức khỏe của lợn mẹ và sự phát triển của thai.

Vệ sinh và xoa bóp bầu vú cho lợn mẹ trước khi sinh từ 10 đến 15 ngày giúp kích thích sản xuất sữa hiệu quả Nếu bầu vú bị xây xước hoặc nứt nẻ, cần phải bôi vazelin và sử dụng kháng sinh để ngăn ngừa nhiễm trùng.

Sau khi chuyển lợn sang ô chờ đẻ cần cẩn thận, tránh làm cho lợn vận động quá mạnh, không đánh đập.

7 ngày trước khi đẻ: dọn vệ sinh khử trùng chuồng trại, che chắn chuồng trại.

Để đảm bảo sức khỏe cho lợn, cần cung cấp thức ăn đầy đủ dưỡng chất, tránh tình trạng ôi thiu và mốc Ngoài ra, cần cung cấp nước sạch cho lợn uống Trong mùa đông lạnh, việc tăng cường lượng thức ăn trong khẩu phần là cần thiết để bù đắp năng lượng đã mất.

Kết quả thực hiện quy trình phòng và điều trị bệnh tại cơ sở

Quy trình phòng bệnh tại trại được thực hiện hết sức nghiêm ngặt, tập trung vào vệ sinh phòng bệnh và phòng bệnh bằng vắc xin.

Vệ sinh phòng bệnh hiệu quả không chỉ tăng cường sức đề kháng cho vật nuôi mà còn giảm thiểu nguy cơ bùng phát dịch bệnh Điều này giúp hạn chế sự lây lan của các bệnh tật, từ đó nâng cao hiệu quả trong chăn nuôi.

Chuồng trại được xây dựng thông thoáng, che chắn cẩn thận Chuồng được tiêu độc bằng thuốc sát trùng Omnicide pha với tỷ lệ 1 : 125.

Vệ sinh chuồng trại hàng ngày, giữ cho lợn sạch sẽ, ấm áp mùa đông, thoáng mát mùa hè Phun thuốc tiêu độc khử trùng 2 lần 1 tuần.

Để đảm bảo vệ sinh và phòng bệnh cho lợn, thường xuyên rắc vôi bột ở các khu vực như phân, đường đi, nơi xuất nhập lợn và chỗ tiêu hủy lợn bị bệnh Sau mỗi lứa, cần tổng vệ sinh và khử trùng toàn bộ chuồng trại Sử dụng dung dịch Iodine để phun sát trùng các dụng cụ như ca múc thức ăn, xe chở thức ăn và các dụng cụ dọn phân rác Các dụng cụ sau khi khử trùng cần được phơi nắng trước khi sử dụng Đồng thời, cần thường xuyên diệt chuột bọ và côn trùng gây hại, vì chúng có thể mang mầm bệnh cho lợn Kết quả thực hiện công tác vệ sinh phòng bệnh tại trại được thể hiện ở bảng 4.2.

Bảng 4.2 Kết quả thực hiện công tác vệ sinh tại cơ sở

Trong 5 tháng thực tập tại cơ sở em được giao trực tiếp tham gia dọn phân là 468 lần, đạt tỷ lệ 100% Tra thức ăn 312 lần, đạt tỷ lệ 100% Lật máng

Trong quá trình vệ sinh tại cơ sở, các công việc như rửa máng, xịt gầm và dọn phân đều đạt tỷ lệ 100%, trong khi tắm lợn chỉ đạt 50% với 45 lần thực hiện do thời tiết mùa đông Việc thực hiện các nhiệm vụ vệ sinh này không chỉ giúp duy trì chuồng trại sạch sẽ mà còn hạn chế dịch bệnh và nâng cao sức đề kháng cho vật nuôi.

Quá trình làm việc đã giúp tôi hiểu rõ quy trình vệ sinh và sát trùng trong chăn nuôi, bao gồm việc sử dụng thuốc sát trùng với liều lượng phù hợp để đảm bảo hiệu quả và an toàn cho vật nuôi.

4.3.2 Kết quả thực hiện vệ sinh, sát trùng chuồng trại tại cơ sở

Vệ sinh chuồng nuôi trong quá trình chăn nuôi là rất quan trọng để duy trì môi trường sạch sẽ, thông thoáng vào mùa hè và ấm áp vào mùa đông Tại trại, tôi thực hiện nhiều công việc vệ sinh như làm sạch khay múc thức ăn, xe đẩy thức ăn, cào và hốt rác Ngoài ra, tôi còn phun thuốc sát trùng và diệt côn trùng như gián và chuột, đồng thời rắc vôi quanh khu vực chăn nuôi để đảm bảo an toàn cho vật nuôi.

Để đảm bảo an toàn cho khu chăn nuôi, cần phun thuốc sát trùng Omnicide xung quanh và bên trong chuồng Đối với việc diệt ký sinh trùng, sử dụng thuốc Kinaper 50EC của công ty cổ phần Kiên Nam, pha với tỷ lệ 100 ml dung dịch với 16 lít nước và phun vào các bề mặt như tường, vách, gầm, và nền chuồng Ngoài ra, vôi bột cũng nên được rắc xung quanh chuồng trại và lối đi, hoặc pha loãng với nước để quét lên tường, ô chuồng, dụng cụ chăn nuôi và nền chuồng nhằm tăng cường vệ sinh và phòng ngừa dịch bệnh.

Bảng 4.3 Kết quả thực hiện công tác vệ sinh, sát trùng chuồng trại

Vệ sinh chuồng trại hàng ngày

Phun sát trùng toàn trại

Vệ sinh sụng cụ chăn nuôi

Theo quy định của trại, việc vệ sinh chuồng trại được thực hiện 2 lần/ngày, phun sát trùng 2 lần/tuần, phun toàn trại 1 lần/tháng, và phun thuốc diệt muỗi cũng 1 lần/tháng Trong 5 tháng thực tập, tôi đã thực hiện vệ sinh chuồng trại 312 lần, phun sát trùng 22 lần, và vệ sinh dụng cụ chăn nuôi 156 lần, đạt 100% yêu cầu Tôi cũng đã rắc vôi ngoài chuồng 22 lần, lau dọn phòng tinh 5 lần, và quét đường đi 83 lần Qua quá trình này, tôi đã nắm vững cách thực hiện vệ sinh và sát trùng hợp lý, sử dụng thuốc sát trùng với liều lượng phù hợp để hạn chế dịch bệnh và nâng cao sức đề kháng cho vật nuôi.

4.3.3 Kết quả tiêm vắc xin cho đàn lợn nái mang thai và lợn nái hậu bị tại trại

Công tác tiêm vắc xin cho lợn là rất quan trọng, đặc biệt trong giai đoạn lợn nái mang thai Việc tiêm vắc xin giúp lợn nái có sức đề kháng tốt, bảo vệ sức khỏe của đàn lợn trong thời kỳ nhạy cảm này Hơn nữa, lợn mẹ được tiêm phòng sẽ truyền hệ miễn dịch tốt hơn cho đàn con, giúp chúng phát triển khỏe mạnh hơn so với những con không được tiêm.

Tiêm vắc xin là biện pháp phòng bệnh hiệu quả giúp bảo vệ sức khỏe cho đàn lợn, đặc biệt là trước các bệnh nguy hiểm và lây lan nhanh như LMLM, tai xanh và dịch tả Việc chú trọng đến tiêm phòng không chỉ giúp phòng bệnh mà còn giảm thiểu rủi ro cho các trại sản xuất lợn giống Theo dõi và thực hiện lịch tiêm phòng chính xác là rất quan trọng để tạo miễn dịch chủ động cho lợn, bảo vệ sức khỏe cho cả lợn mẹ và lợn con Hơn nữa, việc tiêm vắc xin cũng giúp các trại dễ dàng hơn trong việc xuất sản phẩm.

Sử dụng vắc xin đúng cách là yếu tố quyết định để đạt hiệu quả phòng bệnh cao Hiệu quả của vắc xin phụ thuộc vào sức khỏe của động vật, vị trí tiêm, cách bảo quản và chất lượng vắc xin Do đó, việc tuân thủ đầy đủ các yêu cầu trong quy trình sử dụng vắc xin là cần thiết để tối ưu hóa hiệu quả và giảm chi phí chăn nuôi Kết quả tiêm phòng được thể hiện trong bảng 4.4 dưới đây.

Bảng 4.4 Kết quả tiêm vắc xin phòng bệnh cho lợn nái hậu bị và lợn nái mang thai tại trại

Loại Bệnh được phòng lợn

Dịch tả lợn (cổ điển) Khô thai

Lợn Hội chứng rối loạn hậu bị sinh sản và hô hấp Hội chứng còi cọc ở lợn sau cai sữa Giả dại

Kết quả từ bảng 4.4 cho thấy rằng trại đã tuân thủ nghiêm ngặt quy trình tiêm vắc xin phòng bệnh cho đàn lợn nái sinh sản trong giai đoạn mang thai, đạt tỷ lệ tiêm vắc xin cao.

Tỷ lệ tiêm vắc xin đạt 100% cho tất cả lợn theo quy định của trại, đảm bảo không xảy ra hiện tượng sốc thuốc Sau khi tiêm phòng, không có con nái nào bị mắc bệnh, cho thấy hiệu quả của quy trình tiêm vắc xin.

Trong quá trình tiêm vắc xin phòng bệnh cho đàn lợn tại trại, tôi đã học hỏi được nhiều kinh nghiệm quý giá về việc phòng bệnh bằng vắc xin Việc sử dụng vắc xin cần đảm bảo đủ liều lượng, đúng đường tiêm, đúng vị trí và đúng lịch trình, vì mỗi loại vắc xin có những đặc thù riêng về hiệu quả và thời gian miễn dịch Sử dụng không đúng kỹ thuật hoặc sai thời điểm có thể làm mất hoạt tính của vắc xin Trước khi tiêm, cần lắc kỹ lọ vắc xin, và vắc xin đã pha nên được sử dụng ngay; nếu còn thừa, phải hủy bỏ để đảm bảo an toàn.

4.3.4 Tình hình mắc bệnh của đàn lợn nái mang thai tại trại theo tháng

Do các bệnh viêm tử cung, sốt và bỏ ăn không rõ nguyên nhân liên quan đến quá trình vệ sinh, chăm sóc nuôi dưỡng, kỹ thuật và sự thay đổi khí hậu, tôi đã tiến hành theo dõi tình hình mắc bệnh trên đàn lợn nái mang thai theo từng tháng Kết quả theo dõi được trình bày trong bảng 4.5.

Bảng 4.5 Tình hình mắc bệnh của đàn lợn nái mang thai tại trại theo tháng

Kết quả thực hiện các công việc khác tại trại

Ngoài quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái mang thai trong chuồng bầu, tôi còn tham gia vào các hoạt động như phối giống cho lợn nái, vệ sinh chuồng đẻ và dọn cỏ xung quanh khu vực trại Kết quả chi tiết được thể hiện trong bảng 4.7.

Bảng 4.7 Kết quả thực hiện các công việc khác tại trại

1 Phối giống cho lợn nái

2 Dọn vệ sinh chuồng đẻ

3 Dọn cỏ xung quanh vực trại

Kết quả từ bảng 4.7 cho thấy, trong số 29 con lợn nái, tỷ lệ phối giống đạt 50% Bên cạnh đó, việc dọn vệ sinh cho 18 ô đẻ cũng đạt tỷ lệ 50%, và công tác dọn cỏ xung quanh khu vực trại được thực hiện 2 lần mỗi tuần, đạt tỷ lệ 50%.

Kết quả đạt được đã giúp tôi tích lũy nhiều kinh nghiệm, đặc biệt trong công tác phối giống Để đạt hiệu quả cao, tôi đã tuân thủ chặt chẽ quy trình kỹ thuật của trại và áp dụng toàn bộ kiến thức đã học tại trường vào thực tiễn.

Ngày đăng: 30/03/2022, 07:11

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w