Tiếp cận làm rõ những mặt được trong các qui định của pháp luật hiện hành và thực tế hoạt động của Trung Quốc trong lĩnh vực xác định trị giá hải quan, so sánh với thực tiễn áp dụng ở Vi
Trang 1Trị giá hải quan của WTO, thực trạng và áp dụng tại Trung Quốc và bài học kinh nghiệm
cho Việt Nam Đào Ngọc Thành
Khoa Luật Luận văn Thạc sĩ ngành: Luật Quốc tế; Mã số: 60 38 60
Người hướng dẫn: TS Trần Minh Ngọc
Năm bảo vệ: 2012
Abstract Tiếp cận cơ sở lý luận về việc xác định trị giá tính thuế cho hàng hoá xuất,
nhập khẩu theo Hiệp định trị giá GATT/WTO Tiếp cận làm rõ những mặt được trong các qui định của pháp luật hiện hành và thực tế hoạt động của Trung Quốc trong lĩnh vực xác định trị giá hải quan, so sánh với thực tiễn áp dụng ở Việt Nam để rút ra những bài học kinh nghiệm phục vụ công tác quản lý nhà nước về hải quan Đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về việc xác định trị giá tính thuế cho hàng hoá xuất, nhập khẩu Nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước của cơ
quan Hải quan trong lĩnh vực xác định trị giá cho hàng hoá XNK ở Việt Nam
Keywords Luật Quốc tế; WTO; Hải quan; Luật hàng hải; Trung Quốc; Việt Nam
Content
LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với chủ trương đổi mới quản lý kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Việt Nam đang tích cực tham gia hội nhập kinh tế quốc tế Để hòa vào “dòng chảy” của quá trình phát triển thương mại quốc tế đòi hỏi chúng ta phải tôn trọng các “luật chơi” chung, thực thi nghiêm chỉnh các cam kết quốc tế, ngay từ Đại hội Đảng toàn quốc lần
thứ X đã yêu cầu: “…Chủ động, tích cực hội nhập kinh tế sâu hơn, đầy đủ hơn với khu vực và
thế giới Thực hiện có hiệu quả các cam kết với các nước, các tổ chức quốc tế về thương mại, đầu tư, dịch vụ và các lĩnh vực khác…Chuẩn bị tốt các điều kiện để thực hiện các cam kết sau khi nước ta gia nhập WTO Khẩn trương đổi mới thể chế kinh tế, hoàn chỉnh hệ thống pháp luật bảo đảm lợi ích quốc gia và phù hợp với các quy định, thông lệ quốc tế” Sau một
thời tích cực và chủ động trong hội nhập, đến nay Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của nhiều Tổ chức Quốc tế có liên quan đến hoạt động hải quan như WCO, ASEAN,
Trang 2APEC, ASEM và đặc biệt là việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) tháng 11/2006; Để tham gia WTO chúng ta phải thực hiện nhiều cam kết trong đó cam kết về “Trị
giá hải quan” Việc thực hiện xác định trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập
khẩu theo nguyên tắc thực hiện Hiệp định Điều VII- Hiệp định Chung về Thuế quan và
Thương mại (GATT/WTO) ở Việt Nam đã được triển khai từ ngày 01/08/2004, đây là bước
đột phá trong hội nhập, phát triển của ngành Hải quan và thực hiện của cộng đồng doanh nghiệp Tuy nhiên quá trình thực hiện đến nay còn bộc lộ nhiều bất cập, tình trạng gian lận thương mại qua giá vẫn diễn ra phổ biến làm ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả thu ngân sách cũng như môi trường kinh doanh trong nước Để việc xác định trị giá hải quan phù hợp với các nguyên tắc của hiệp định GATT, đảm bảo công bằng cho các doanh nghiệp tham gia hoạt động XNK, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh là một yếu tố hết sức quan trọng góp phần đẩy mạnh công cuộc phát triển kinh tế, Do đó việc nghiên cứu pháp luật về trị giá hải quan trong giai đoạn hiện nay là hết sức cần thiết, có ý nghĩa cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn, đặc biệt là việc nghiên cứu pháp luật một số nước đi trước, tiên tiến trong đó có Trung Quốc, một nước láng giềng có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam, có tốc độ phát triển kinh tế cao, kim ngạch xuất nhập khẩu lớn trong những năm gần đây, là đối tác kinh tế quan trọng đối với Việt Nam để từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm trong triển khai thực hiện việc xác định trị giá hải quan cũng như công tác quản lý giá cho hàng hoá nhập khẩu
Xuất phát từ yêu cầu thực tế trên, tác giả luận văn chọn đề tài: “Trị giá hải quan của
WTO, thực trạng áp dụng tại Trung quốc và bài học kinh nghiệm cho Việt nam” để làm
luận văn thạc sĩ Luật học, chuyên ngành Luật quốc tế
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Ở Việt Nam trước đây đã có một số công trình có đề cập đến công tác QLNN về hải quan, một số đề tài về nghiên cứu hiện đại hóa hải quan, công tác kiểm tra sau thông quan
như: “ Nghiên cứu ứng dụng phương pháp quản lý hải quan hiện đại nhằm tạo thuận lợi cho
thương mại quốc tế của Việt Nam” của TS nguyễn Công Bình, Viện nghiên cứu thượng mại -
Bộ Công thương, 2009; “ Cải cách hiện đại hóa Hải quan Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội
nhập kinh tế quốc tế” của TS Nguyễn Ngọc Túc, Tổng cục Hải quan, 2007; “Các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra sau thông quan đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của kế hoạch cải cách, phát triển hiện đại hóa Hải quan giai đoạn 2004- 2006” của ThS Nguyễn Viết
Hồng, Tổng cục Hải quan, 2005; Tuy nhiên, do mục đích nghiên cứu, những công trình này chỉ đề cập đến công tác QLNN về Hải quan ở một góc độ, khía cạnh nhất định, chưa đi vào các vấn đề nghiệp vụ chuyên biệt có tính chuyên môn sâu như công tác xác định trị giá Qua thời gian nghiên cứu tìm hiểu, tác giả không tìm thấy công trình nghiên cứu tương tự nào trong lĩnh vực này
3 Về mục đích, ý nghĩa của luận văn
Mục đích đề tài là làm rõ một số vấn đề về nguyên tắc xác định trị giá tính thuế theo Hiệp định thực hiện điều VII Hiệp định Chung về Thuế quan và Thương mại 1994 của WTO Nghiên cứu pháp luật và thực tiễn áp dụng của Trung Quốc để từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, góp phần hoàn thiện những giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả công tác quản lý Nhà nước về hải quan đối với hoạt động XNK, đảm bảo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, thúc đẩy phát triển kinh tế đối ngoại trong bối cảnh Việt Nam hiện nay
Trang 34 Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được các mục đích nghiên cứu trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Tiếp cận cơ sở lý luận về việc xác định trị giá tính thuế cho hàng hoá xuất, nhập khẩu theo Hiệp định trị giá GATT/WTO
- Tiếp cận làm rõ những mặt được trong các qui định của pháp luật hiện hành và thực
tế hoạt động của Trung Quốc trong lĩnh vực xác định trị giá hải quan, so sánh với thực tiễn áp dụng ở Việt Nam để rút ra những bài học kinh nghiệm phục vụ công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực trị giá hải quan
- Đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về việc xác định trị giá tính thuế cho hàng hoá xuất, nhập khẩu Nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước của cơ quan Hải quan trong lĩnh vực xác định trị giá cho hàng hoá XNK ở Việt Nam hiện nay
5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận về trị giá hải quan theo quy định của WTO, pháp luật Trung quốc và Việt Nam qui định về trị giá hải quan và thực trạng quá trình
áp dụng pháp luật Quốc tế trong lĩnh vực trị giá hải quan để từ đó đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực xác định trị giá cho hàng nhập khẩu
- Phạm vi nghiên cứu
Trị giá hải quan là một lĩnh vực rộng, có tính chuyên biệt, việc xác đi ̣nh tri ̣ g iá hải quan cho hàng hóa xuất nhập khẩu hiện nay gồm sáu phương pháp nhưng trên thực tế chỉ có phương pháp “trị giá giao dịch” là phương pháp quan trọng, phức tạp nhất, nó được áp dụng phổ biến ở các quốc gia khi tham gia hiệp định trị giá GATT và sử dụng để xác định trị giá hải quan cho trên 90% lượng hàng hoá xuất nhập khẩu Trong thời gian hạn chế và với phạm
vi nghiên cứu của luận văn Thạc sĩ nội dung đề tài tập trung đi sâu nghiên cứu việc xác định trị giá hải quan cho hàng nhập khẩu theo phương pháp “trị giá giao dịch”
6 Phương pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài này được thực hiện trên cơ sở của phương pháp duy vật biện chứng, kết hợp với việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp lịch sử, phương pháp so sánh Đề tài này được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước
và pháp luật, các đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước nhất là các quan điểm đổi mới trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu gồm 03 chương:
Chương 1: Khái niệm về trị giá hải quan và quá trình hình thành, phát triển các
phương pháp xác định trị giá hải quan
Chương 2: Thực trạng áp dụng hiệp định trị giá GATT/WTO tại Trung Quốc và Việt
Nam
Chương 3: Bài học kinh nghiệm từ Trung quốc và những kiến nghị nhằm nâng cao
hiệu quả công tác xác định trị giá hải quan ở Việt Nam
Trang 4Chương 1 KHÁI NIỆM VỀ TRỊ GIÁ HẢI QUAN VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CÁC PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH TRỊ GIÁ HẢI
QUAN 1.1 Khái niệm giá trị Hải quan
Khái niệm trị giá Hải quan (trị giá tính thuế hàng hóa) đã được hình thành khi người
ta bắt đầu chuyển dần việc đánh thuế cụ thể theo lượng hàng hóa sang đánh thuế theo giá trị hàng hóa Đến nay khi nói đến trị giá Hải quan vẫn còn tồn tại nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau, chẳng hạn:
- Trị giá Hải quan là trị giá của hàng hóa dùng để tính thuế Hải quan theo giá trị
- Trị giá Hải quan là trị giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu
- Trị giá Hải quan là giá thực tế của hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
- Trị giá Hải quan là trị giá của hàng hóa để đánh thuế Hải quan theo giá trị của hàng hóa đó
- Trị giá Hải quan là trị giá phục vụ cho mục đích tính thuế Hải quan và thống kê Hải quan
Qua các ý kiến, quan điểm trên, có thể hiểu thống nhất về trị giá Hải quan như sau:
Trị giá Hải quan là trị giá của hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu dùng cho mục đích quản lý Nhà nước về Hải quan
1.2 Khái quát các hệ thống xác định trị giá Hải quan
1.2.1 Xác định trị giá Hải quan theo định nghĩa Brusels
1.2.1.1 Lịch sử hình thành của Định nghĩa trị giá Brusels
Đầu thế kỉ 20, các nước kinh tế phát triển Châu Âu đã nỗ lực tìm kiếm một hệ thống các phương pháp xác định trị giá Hải quan áp dụng thống nhất trên phạm vi Quốc tế, nhưng chỉ đến năm 1947 dưới sự bảo trợ của Hội Quốc liên (Tổ chức Liên hợp quốc ngày nay) các
nỗ lực này mới thực sự thu được kết quả Lần đầu tiên các nguyên tắc về xác định trị giá Hải quan được ghi nhận trong Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) Tuy nhiên,
ở giai đoạn này các quy định mới mang tính nguyên tắc và thu gọn tại Điều VII của Hiệp định Do quy định của Điều VII mới chỉ dừng lại ở mức độ đưa ra những nguyên tắc chung
mà chưa bao gồm các hướng dẫn sát với thực tế nên việc xác định trị giá Hải quan vẫn không
ổn định và không thể dự đoán trước được Để tạo ra hệ thống xác định trị giá Hải quan công bằng, ổn định và trung lập, năm 1947 Nhóm Nghiên cứu trị giá Hải quan đã được thành lập tại Brusselle, với nhiệm vụ dự thảo một Định nghĩa về trị giá Hải quan dựa trên cơ sở các nguyên tắc của Điều VII Hiệp định GATT Định nghĩa trị giá Brusels ra đời vào năm 1951 và
có hiệu lực từ ngày 23/7/1953
1.2.1.2 Nội dung và những yếu tố cơ bản của Định nghĩa Brusels
1) Nội dung của Định nghĩa Brusels
- Định nghĩa Brusels đã thiết lập một nền tảng cho việc xác định trị giá, cụ thể "Trị giá Hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu là giá thông thường”
- Định nghĩa nêu lên các chỉ dẫn, giải thích về vấn đề đối với "Việc mua bán được thực hiện trong điều kiện cạnh tranh lành mạnh"
Trang 5- Định nghĩa chỉ rõ rằng trị giá Hải quan đối với trường hợp có các chi phí về bằng phát minh sáng chế, thiết kế, mẫu mã và mác, nhãn sản xuất hoặc nhãn hiệu thương mại nước ngoài của hàng hóa thì cũng được cộng vào giá trị thông thường của hàng hóa
2) Những yếu tố cơ bản của Định nghĩa Brusels
- Yếu tố về giá: Giá thông thường tức là giá được công nhận thực hiện trong điều kiện
cạnh tranh lành mạnh
- Yếu tố về thời gian: Định nghĩa Brusels đã quy định đó là thời điểm làm thủ tục Hải
quan đối với hàng hóa NK
- Yếu tố địa điểm: Trong hợp đồng mua bán hàng hóa liên quan đến yếu tố địa điểm
tức là giá được xác định là giá giao hàng hóa từ người bán sang người mua tại cảng hay tại một địa điểm của nước NK
- Yếu tố về số lượng: Định nghĩa không nêu một số lượng chuẩn nào cả
- Yếu tố về cấp độ thương mại: không được Định nghĩa Brusels chỉ ra một cách rõ
ràng mặc dù đây là yếu tố đóng vai trò quan trọng trong việc xác định trị giá
- Các yếu tố điều chỉnh: Định nghĩa đưa ra "Giá sẽ phải điều chỉnh khi có những nhân
tố bất bình thường, có nghĩa giá này không phù hợp với các điều kiện cạnh tranh lành mạnh"
- Về chiết khấu và giảm giá: Định nghĩa Brusels mở ra cho tất cả các việc mua bán
hàng hóa thực hiện trong điều kiện cạnh tranh lành mạnh là được chấp nhận
1.2.2 Xác định trị giá hải quan theo hiệp định trị giá GATT/WTO
1.2.2.1 Khái quát về Hiệp định trị giá GATT/WTO
Để khắc phục những nhược điểm của hệ thống xác định trị giá theo định nghĩa Brussels, Từ năm 1973 đến 1979, các nước trên thế giới bắt đầu một loạt các cuộc đàm phán mới nhằm đạt được những thuận lợi trong mở rộng và tự do hóa thương mại quốc tế Vấn đề xác định giá trị giá hải quan được đặt ra như một trở ngại quan trọng của tiến trình này Vòng đàm phán này được gọi là vòng đàm phán Tokyo, mà kết quả của nó là một hiệp định mới về xác định trị giá hải quan ra đời vào năm 1981
Hiệp định về giá trị Hải quan của hàng hóa có tên đầy đủ là hiệp định thực thi điều II của Hiệp định Chung về Thuế quan và Thương mại GATT/WTO 1994, hay còn gọi là Hiệp định trị giá hải quan Nội dung của hiệp định trị giá hoàn toàn thống nhất với hiệp định năm
1981, có bổ sung thêm một số Chú giải, Phụ lục và hướng dẫn cụ thể hơn
1.2.2.2 Mục đích, nguyên tắc của Hiệp định trị giá GATT/WTO
1) Mục đích của Hiệp định:
- Tạo ra hệ thống xác định trị giá Hải quan ổn định, công bằng phù hợp với thực tế thương mại
- Tạo ra chuẩn mực đơn giản, khách quan, đồng nhất cho tất cả các nước thành viên
- Loại trừ việc sử dụng trị giá Hải quan tùy tiện áp đặt
- Xúc tiến các mục tiêu của Hiệp định chung về thuế và thương mại
- Xóa bỏ việc coi trị giá Hải quan là công cụ để điều tiết xuất nhập khẩu
2) Nguyên tắc của Hiệp định khi xác định trị giá Hải quan
- Hệ thống xác định trị giá của hàng NK theo mục đích Hải quan phải hợp lý, thống nhất và độc lập, hệ thống đó phải loại bỏ việc sử dụng trị giá Hải quan áp đặt hay hư cấu
Trang 6- Cơ sở để xác định trị giá của hàng nhập khẩu theo mục đích Hải quan phải là trị giá giao dịch Trị giá giao dịch được định nghĩa là giá thực tế đã thanh toán hay sẽ phải thanh toán cho hàng nhập khẩu cộng thêm với các khoản điều chỉnh
- Trị giá Hải quan phải được xác định dựa trên những tiêu chí đơn giản, bình đẳng và nhất quán với các thông lệ thương mại
- Không được từ chối giá thỏa thuận giữa người mua với người bán chỉ vì lý do đơn giản: giá đó được coi là "quá thấp"
- Theo Hiệp định này, trị giá Hải quan cần được xác định căn cứ vào các dữ liệu và thông
lệ thương mại xung quanh việc bán hàng/ giao dịch đó
1.2.2.3 Các phương pháp xác định trị giá Hải quan của Hiệp định GATT/WTO
Hiệp định qui định 6 phương pháp xác định trị giá Hải quan Khi xác định trị giá hải quan phải áp dụng tuần tự các phương pháp từ 1-6
1) Phương pháp 1: Trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu (Transaction Value);
Cơ sở để xác định trị giá Hải quan đối với hàng hoá NK cho mục đích Hải quan trong phạm vi lớn nhất phải là "Trị giá giao dịch" Vì vậy, phương pháp đầu tiên rất quan trọng và
có tính nguyên tắc của Hiệp định xác định trị giá GATT là trị giá giao dịch được quy định tại Điều 1 và Điều 8 của Hiệp định
* Điều 1
Trị giá thuế quan của hàng NK phải là giá trị giao dịch, tức là giá thực tế đã thanh toán hoặc phải thanh toán cho hàng hóa được bán để xuất khẩu đến nước nhập khẩu có điều chỉnh phù hợp với các quy định ở Điều 8
* Điều 8
- Khi xác định trị giá thuế quan theo các qui định của Điều 1, cần phải tính thêm vào giá thực sự đã thanh toán hoặc phải thanh toán cho hàng hóa nhập khẩu một số khoản chi phí như: phí hoa hồng và môi giới; tiền bản quyền, tiền giấy; chi phí vận chuyển hàng hóa, chi phí xếp, dỡ hàng, phí bảo hiểm…
- Các chi phí không được cộng thêm vào giá thực tế đã thanh toán hoặc sẽ phải thanh
toán với điều kiện là có thể phân định được các khoản chi phí dưới đây với giá thực tế đã thanh toán hoặc sẽ phải thanh toán như các khoản: Chi phí về xây dựng, kiến trúc, lắp ráp, bảo trì hoặc trợ giúp kỹ thuật được thực hiện sau khi nhập khẩu hàng hóa Các chi phí vận chuyển, các loại thuế và lệ phí sau khi nhập khẩu hàng hóa
2) Phương pháp 2: Trị giá giao dịch của hàng hóa giống hệt nhập khẩu (Identical
Goods);
Trị giá thuế quan là trị giá giao dịch của hàng hóa giống hệt được bán để xuất khẩu sang cùng nước nhập khẩu đó và được xuất khẩu vào cùng thời điểm mà hàng hóa đó được định giá
3) Phương pháp 3: Trị giá giao dịch của hàng hóa tương tự nhập khẩu (Sinmilar
Goods);
Nếu trị giá thuế quan của hàng nhập khẩu không thể xác định theo các quy định của Điều 1 và Điều 2 thì trị giá thuế quan sẽ là trị giá giao dịch của hàng hóa tương tự được bán
Trang 7để xuất khẩu sang cùng nước nhập khẩu đó và được xuất khẩu vào cùng thời điểm mà hàng hóa đó đang được định giá
4) Phương pháp 4: Trị giá khấu trừ (Deductive Method);
Trị giá thuế quan của hàng hóa nhập khẩu theo các quy định của Điều này sẽ phải dựa trên giá của đơn vị hàng hóa mà hàng hóa nhập khẩu trên hoặc hàng hóa nhập khẩu giống hệt hoặc tương tự được bán với tổng số lượng lớn nhất, vào cùng hoặc khoảng cùng thời gian nhập khẩu hàng hóa đang được định giá, bán cho người mua không có liên hệ với đến người bán hàng hóa đó, có khấu trừ các chi phí sau đây: tiền hoa hồng thường thanh toán, chi phí thông thường để vận chuyển và bảo hiểm hàng hóa ,thuế quan và thuế nội địa… phải trả tại nước nhập khẩu khi NK
5) Phương pháp 5: Trị giá tính toán (Computer Method);
Trị giá thuế quan của hàng NK theo các quy định của Điều này sẽ dựa trên giá trị tính toán Giá trị tính toán là tổng của các khoản sau:
+ Các chi phí hoặc giá trị của nguyên vật liệu và quá trình sản xuất hoặc chế biến được sử dụng trong việc sản xuất ra hàng nhập khẩu đó;
+ Khoản lợi nhuận và các chi phí chung tương đương với lợi nhuận thường có trong việc bán hàng hóa có cùng phẩm cấp và chủng loại như hàng hóa đang được định giá, do các nhà sản xuất của nước xuất khẩu sản xuất để XK sang nước NK;
+ Các chi phí hoặc giá trị của các phí tổn cần thiết để phản ánh phương pháp định giá được Thành viên đó lựa chọn theo khoản 2 Điều 8
6) Phương pháp 6: Phương pháp suy diễn, hay gọi là phương pháp dự phòng
(Fall-back Method)
Trị thuế quan sẽ được xác định thông qua việc sử dụng các phương pháp hợp lý, phù hợp với các nguyên tắc và các quy định chung của Hiệp định này trên cơ sở các dữ liệu sẵn
có tại nước nhập khẩu như giá bán tại nước nhập khẩu của hàng hóa sản xuất tại nước đó; giá của hàng hóa xuất khẩu sang một nước khác không phải là nước nhập khẩu; trị giá thuế quan tối thiểu
1.2.2.4 Ưu điểm của hệ thống xác định trị giá Hải quan theo Hiệp định GATT/WTO
- Đảm bảo tính công bằng, ổn định và thống nhất
- Phù hợp với thực tế thương mại tạo điều kiện cho giao lưu thương mại quốc tế phát triển
- Hệ thống xác định trị giá theo Hiệp định hoạt động trên nguyên tắc trung lập, khách
quan, đơn giản, và nhất quán với thông lệ thương mại, không phân biệt đối xử
Chương 2 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG HIỆP ĐỊNH TRỊ GIÁ GATT/ WTO
TẠI TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM 2.1 Hiệp định trị giá GATT và những tác động của nó đối với kinh tế
2.1.1 Tình hình thực hiện hiệp định GATT trên thế giới
Qua thực tế áp dụng của các nước châu Á - Thái Bình Dương, có thể thấy một số khó khăn liên quan đến năng lực của cơ quan Hải quan và cơ cấu tổ chức của ngành Hải quan khi
Trang 8Hiệp định có hiệu lực đó là: cơ sở dữ liệu về trị giá chưa hoàn thiện; thiếu những cán bộ điều tra có kinh nghiệm; thiếu cơ sở hạ tầng về trị giá; không có hệ thống kiểm tra sau giải phóng hàng Bên cạnh đó hầu hết các nước còn vấp phải những lực cản như: người nhập khẩu không nắm rõ về trị giá hải quan; việc trốn thuế hải quan của một số nhà nhập khẩu không chân chính và thiếu sự phối hợp của cơ quan Hải quan ở nước có hàng hóa xuất khẩu Một trong những vấn đề đáng quan tâm khi thực hiện Hiệp định trị giá GATT/WTO là tác động đến nguồn thu thuế và những vi phạm gian lận trong quá trình làm thủ tục hải quan Theo kinh nghiệm của Hải quan các nước đi trước thì hầu hết các nước thời kỳ đầu thực hiện Hiệp định GATT/WTO, số thu ngân sách từ thuế hải quan giảm xuống so với trước
2.1.2 Tác động của hiệp định trị giá GATT đối với kinh tế
2.1.2.1 Tác động tích cực
- Thực hiện hiệp định GATT Là điều kiện hội nhập Kinh tế quốc tế, tăng nguồn thu cho ngân sách từ thuế nhập khẩu, bảo hộ thị trường nội địa
- Tạo thế chủ động trong kế hoạch kinh doanh, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, xoá bỏ được tính áp đặt, cứng nhắc khi áp dụng bảng giá tối thiểu
- Minh bạch, rõ ràng, cụ thể, công khai trong xác định trị giá
- Thực hiện trị giá GATT đòi hỏi các DN phải khai báo hàng hoá cụ thể, rõ ràng, chi tiết hơn phục vụ tốt cho công tác quản lý XNK cũng như quản lý NN về Hải quan
2.1.2.2 Tác động tiêu cực
Do việc thực thi hiệp định trị giá GATT thời gian đầu còn thiếu đồng bộ, kém hiệu quả, chưa xây dựng được hệ thống quản lý hữu hiệu các nước hầu hết phải đối mặt với việc gian lận thương mại qua giá gia tăng, gian lận về trị giá hàng hóa thường gặp dưới các hình thức:
- Khai báo trị giá hải quan thấp hơn thực tế để trốn thuế
- Khai báo trị giá cao hơn thực tế thường xảy ra ở các DN có vốn đầu tư nước ngoài Nâng
cao trị giá nhập khẩu để đẩy cao giá thành giảm thu nhập chụi thuế
2.1.2.3 Hậu quả của gian lận thương mại
- Làm mất tính công bằng cạnh tranh thương mại giữa hàng nội và hàng ngoại nhập, de doạ nền sản xuất trong nước
- Tạo tâm lý ưa dùng hàng ngoại, làm đảo lộn thị trường Nhà nước khó quản lý
- Tạo nên một nền kinh tế với sức tiêu thụ giả tạo trên một nền kinh tế sản xuất chưa cân xứng, thậm chí còn dẫn đến trì trệ vì đa số tầng lớp gian thương và tham nhũng qua hoạt động gian lận thương mại
- Thất thu thuế, không cân đối được thu chi ngân sách, quỹ phúc lợi bảo hiểm xã hội bị
giảm sút, làm cho nhân dân hoang mang, mất lòng tin đối với Nhà nước…
2.2 Thực trạng áp dụng hiệp định trị giá hải quan của Trung Quốc
2.2.1 Trung Quốc và quá trình tham gia, thực hiện hiệp định trị giá GATT
Ngày 11 tháng 12 năm 2001 Trung Quốc chính thức gia nhập WTO Và triển khai thực hiện nhiều cam kết quốc tế trong đó có các cam kết trong lĩnh vực thuế quan
- Áp dụng thuế quan ràng buộc cho tất cả các dòng thuế
- Đối xử không phân biệt với tất cả các thành viên WTO
- Thực hiện Hiệp định về quyền sở hữu trí tuệ …
Trang 92.2.2 Chính sách thuế quan của Trung Quốc khi gia nhập WTO
Trung Quốc nghiêm túc thực hiện hiệp ước, hàng năm giảm dần mức thuế Từ năm
2002 – năm 2005, tiến hành 4 lần giảm thuế với biên độ lớn, mức chung thuế quan giảm mỗi năm 0.1% từ 15.3% giảm xuống 9.9%, biên độ giảm lên đến 35% Đến năm 2005, đa số hiệp ước về giảm thuế nông sản đã hoàn thành, sau đó theo Hiệp ước gia nhập WTO số lượng hạng mục cần giảm thuế đã giảm Năm 2008, mức chung thuế quan Trung Quốc giảm xuống 9.8%, trong đó thuế suất bình quân nông sản là 15.2 Đến lúc này, trong 7758 hạng mục thuế của quy tắc thuế xuất nhập khẩu Trung Quốc (thực hiện giảm thuế năm 2010) đều đã giảm đến mức thuế suất cuối cùng theo Hiệp ước
2.2.3 Công tác xác định trị giá Hải quan của Trung quốc
2.2.3.1 Giới thiệu về hoạt động của Hải quan Trung Quốc, cơ quan quản lý xác định trị giá hải quan
Hải quan Trung Quốc là cơ quan thuộc Chính phủ có nhiệm vụ giám sát và quản lý hoạt động xuất cảnh, nhập cảnh, xuất khẩu, nhập khẩu của Quốc gia Giám sát, quản lý đối với phương tiện vận tải xuất nhập cảnh, hàng hóa, hành lý, bưu phẩm, bưu kiện và các vật phẩm khác XNK, thu thuế xuất nhập khẩu và các loại thuế, phí khác, chống buôn lậu và thống kê hải quan Phương châm hoạt động của Hải quan Trung Quốc gắn liền với 16 chữ
vàng “Thực hiện pháp luật, bảo vệ tổ quốc, Phục vụ kinh tế, thúc đẩy phát triển.”
Nhiệm vụ chủ yếu của cơ quan Hải quan: Thu thuế Hải quan; Chống buôn lậu; thống
kê hải quan
2.2.3.2 Xác định giá cho hàng nhập khẩu vào Trung Quốc
Việc xác định trị giá cho hàng NK tuân thủ theo hiệp định trị giá GATT/WTO; Giá tính thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu do Hải quan kiểm tra, xác định trên cơ sở giá hợp đồng của hàng hóa đó Khi có nghi ngờ về giá khai báo cơ quan Hải quan tiến hành tham vấn giá quá trình thẩm vấn đảm bảo nguyên tắc “minh bạch và công bằng” giữa cơ quan Hải quan và DN
2.2.4 Tình hình gian lận thương mại qua giá tại Trung Quốc
Sau khi thực hiện hiệp định trị giá GATT/ WTO thuế nhập khẩu của Trung Quốc đã
hạ xuống Có đến 30% trong tổng số các công ty xuyên quốc gia tại Trung Quốc chưa từng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, 80% trong số đó trốn thuế, 40% các DN làm ăn thua lỗ báo cáo không đúng tình hình kinh doanh thực tế Tổng cục thuế quốc gia cho biết việc trốn thuế của các công ty xuyên quốc gia gây thất thoát 300 tỷ NDT tiền thuế mỗi năm Thực tế việc định giá của các giao dịch liên kết cũng mang đến những tổn thất tương tự cho ngành Hải quan
Một số hình thức gian lận qua giá hàng nhập khẩu chủ yếu ở Trung Quốc
- Doanh nghiệp lợi dụng những công ty ma hoặc mối quan hệ đặc biệt tiến hành chế
hoá đơn nhằm che dấu giá trị thực của hàng hoá,
- Khai báo giá hàng hóa miễn phí, đi kèm, ký gửi thấp hơn giá trị thực nhằm trốn thuế
- Tạo hai bản hợp đồng và hoá đơn, bản gốc làm căn cứ của giao dịch, bản giá khai báo giá thấp hơn để xuất trình và nộp cho cơ quan Hải quan
- Chia thành nhiều loại hoá đơn khác nhau để khai báo giá thấp hơn
Trang 10- Làm giả chứng từ, che dấu chi phí thực cần khai báo
- Khai báo sai tên hàng, xuất xứ nhằm giảm thuế suất và giá
- Khai báo giá thấp liên tiếp trong cùng một lĩnh vực, một ngành
2.2.5 Các biện pháp quản lý của Hải quan Trung quốc trong phòng, chống gian lận thương mại qua giá
Hải quan trung quốc đã triển khai đồng bộ các biện pháp từ xây dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật, củng cố xây dựng và đào tạo lực lượng hải quan là nòng cốt, bên cạnh đó hoàn thiện qui trình nghiệp vụ từ khâu thông quan đến sau thông quan, từ công tác quản lý vĩ
mô đến các khâu nghiệp vụ cụ thể của ngành Phối hợp chặt chẽ với các ban ngành chức năng trong công tác đấu tranh chống gian lận thương mại, với các biện pháp chủ yếu cụ thể là:
2.2.5.1 Xây dựng hệ thống văn bản qui phạm pháp luật
- Hoàn thiện cơ chế chính sách thương mại, thuế, hải quan Tăng thẩm quyền và giao nhiệm vụ đầu mối cho cơ quan Hải quan trong đấu tranh chống buôn lậu và gian lận thương mại
- Xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý hải quan Hiện nay hành lang pháp lý của hoạt động Hải quan Trung Quốc đã được hoàn thiện, thủ tục thực thi với hệ thống kiểm tra đã được cải thiện, qui trình nghiệp vụ từng bước được chuẩn hóa
2.2.5.2 Đổi mới công tác quản lý nhà nước về Hải quan
- Hiện đại hoá Hải quan Hải quan Trung Quốc đã triển khai hiện đại hóa từ năm
1994 Từ năm 1998 Tổng cục Hải quan Trung Quốc đã quyết định thành lập một hệ thống hải quan hiện đại và vạch ra một phương pháp tiếp cận từng bước để đạt được hai mục tiêu Đến năm 2003 các mục tiêu của bước phát triển chiến lược giai đoạn 1 bắt đầu với cải cách hoạt động của ngành đã cơ bản thực hiện được Đã thiết lập được một hệ thống hải quan thực sự hiện đại vào năm 2010
- Xây dựng mô hình thương mại phi giấy tờ Với chiến lược "xây dựng một hải quan
thông minh với khoa học và công nghệ" Hải quan Trung Quốc đã phát triển một hệ thống
thông quan điện tử từ năm 2000 (hay còn gọi là H2000) Hệ thống này dựa trên một cơ sở dữ liệu quốc gia và bao gồm các chức năng làm thủ tục hải quan, quản lý quy trình thông quan, phân tích dữ liệu và kết nối mạng với Chính phủ cùng cộng đồng doanh nghiệp hiện nay
- Tăng cường hợp tác quốc tế Hợp tác quốc tế của Hải quan Trung Quốc chuyển
từ chỗ thụ động sang chủ động để thích ứng với biến động của thế giới, phục vụ lợi ích quốc gia Đến nay, HQTQ đã thiết lập quan hệ hữu nghị hợp tác với Hải quan của 110 quốc gia hoặc khu vực, đã ký kết 32 hiệp định song phương Hải quan áp dụng đối với 57 quốc gia và khu vực
- Tăng cường đào tạo cán bộ chuyên môn trong lĩnh vực trị giá
- Nâng cao ý thức trách nhiệm cho cán bộ trong ngành
- Đẩy mạnh toàn diện hoạt độngcủa ngành dựa trên nguyên tắc tuân thủ pháp luật
2.2.5.3 Công tác quản lý rủi ro chung của Hải quan Trung Quốc
Hải quan Trung Quốc thực hiện cải cách, hiện đại hóa từ năm 1998, HQTQ đã sử dụng công cụ quản lý rủi ro làm cốt lõi trong công tác quản lý với sự hỗ trợ tích cực của các chương trình quản lý tự động hóa trên nguyên tắc: quản lý theo đối tượng doanh nghiệp, theo loại hình thủ tục hải quan và theo ngành hàng