1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổ chức và hoạt động của ủy ban tư pháp quốc hội

13 414 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tổ chức và hoạt động của Ủy ban Tư pháp Quốc hội
Tác giả Trịnh Thị Hải Yến
Người hướng dẫn GS.TS. Nguyễn Đăng Dung
Chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2011
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 408,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổng kết kinh nghiệm từ thực tiễn triển khai Nghị quyết đại hội Đảng IX, đồng thời phân tích cụ thể những thời cơ cũng như thách thức trong công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập k

Trang 1

Tổ chức và hoạt động của Ủy ban Tư pháp

Quốc hội Trịnh Thị Hải Yến

Khoa Luật Luận văn ThS ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật

Mã số: 60 38 01 Người hướng dẫn: GS.TS Nguyễn Đăng Dung

Năm bảo vệ: 2011

Abstract Trình bày về tổ chức , nhiệm vu ̣ và quyền ha ̣n của Ủy ban Tư pháp của Quốc hô ̣i Phân tích thực tra ̣ng ho ạt động xây dựng pháp luâ ̣t c ủa Ủy ban Tư pháp của Quốc hội Đưa ra mô ̣t số kinh nghiê ̣m và kiến nghi ̣ nhằm nâng cao hiê ̣u quả về

tổ chức và hoa ̣t đô ̣ng của Ủy ban Tư pháp của Quốc hô ̣i trong thời gian tới

Keywords Pháp luật Việt Nam; Ủy ban tư pháp; Quốc hội; Luật Hiến pháp

Content

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ năm 1991 khẳng định: Nhà nước Việt Nam thống nhất ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, với sự phân công rành mạch

ba quyền đó Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân,

do nhân dân và vì nhân dân, quan điểm này đã được phát triển và hoàn thiện hơn Nghị quyết

Đại hội đại biểu Đảng lần thứ VIII khẳng định: "Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện

quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp…"

Như vậy, Quốc hội đặt trong mối quan hệ với các cơ quan hành pháp, tư pháp vừa có sự phân công rành mạch về nhiệm vụ, quyền hạn, lại vừa có sự thống nhất về thực thi quyền lực nhà nước của dân, do dân, vì dân Mối quan hệ đa chiều này cho thấy, để xây dựng một Nhà nước mạnh đòi hỏi các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp phải được hoàn thiện về tổ chức

và đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động Với ý nghĩa đó, Nghị quyết của Đại hội Đảng IX

nhấn mạnh: "Phải kiện toàn tổ chức, đổi mới phương thức và nâng cao hiệu quả hoạt động

của Quốc hội " Chủ trương của Đảng nhanh chóng trở thành định hướng tổ chức và hoạt

động của Quốc hội nhiệm kỳ khoá XII với nhiều đổi mới căn bản hơn

Tổng kết kinh nghiệm từ thực tiễn triển khai Nghị quyết đại hội Đảng IX, đồng thời phân tích cụ thể những thời cơ cũng như thách thức trong công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập

kinh tế quốc tế, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X tiếp tục khẳng định rõ: "Xây dựng cơ chế

vận hành của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp… Tiếp tục

Trang 2

đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội Hoàn thiện cơ chế bầu cử nhằm nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội; tăng hợp lý số lượng đại biểu chuyên trách, phát huy tốt hơn vai trò của đại biểu và đoàn đại biểu Quốc hội Tổ chức lại một số Uỷ ban của Quốc hội; nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội Đổi mới hơn nữa quy trình xây dựng luật, giảm mạnh việc ban hành pháp lệnh Thực hiện tốt hơn nhiệm vụ quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và chức năng giám sát tối cao"

Ngày 02 tháng 06 năm 2005, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 49-NQ/TW về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Nghị quyết được ban hành đã kế thừa những nhiệm vụ được nêu trong Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02 tháng 01 năm 2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới và đề cập nhiệm

vụ cải cách tư pháp đến năm 2020 Trong Nghị quyết đã xác định nhiệm vụ trọng tâm cho giai đoạn từ 2006 - 2010, nhằm góp phần vào việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ đất nước, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, chủ động hội nhập quốc tế

Để nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp trong đấu tranh phòng chống tội phạm, giải quyết các tranh chấp trong đời sống xã hội, giữ vững ổn định chính trị và phát triển kinh tế - xã hội, phúc đáp yêu cầu cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền

xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan tư pháp Nghị quyết

số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm

2020 khẳng định "Tăng cường và nâng cao hiệu lực giám sát việc chấp hành pháp luật của

các cơ quan tư pháp, đặc biệt là lãnh đạo các cơ quan tư pháp…"

Thể chế các yêu cầu nêu trên, tại kỳ họp thứ tám Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức Quốc hội trong đó có quy định thành lập Ủy ban Tư pháp của Quốc hội Trên cơ sở đó, Ủy ban Tư pháp của Quốc hội được thành lập và bắt đầu hoạt động khóa đầu tiên là khóa XII của Quốc hội Tiếp tục k ế thừa những kết quả quan trọng đã đạt được trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội đối với lĩnh vực tư pháp do Ủy ban Pháp luật của Quốc hội thực hiện trong những nhiệm kỳ trước, ngay

từ khi được thành lập, Ủy ban Tư pháp đã không ngừng phấn đấu tiếp tục đổi mới, tích cực nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động góp phần vào việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội trong công tác lập pháp, giám sát, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, về tổ chức và hoạt động của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội khóa XII còn có một số hạn chế cho nên hiệu quả hoạt động của Ủy ban

Tư pháp trong thời gian quan chưa đa ̣t được như mong muốn Những tồn tại, hạn chế này nếu không được khắc phục sẽ là rào cản đối với sự nghiệp đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài "Tổ chức và hoạt động của Ủy ban Tư

pháp của Quốc hội" có ý nghĩa hết sức quan trọng cho việc đổi mới tổ chức và hoạt động của

Ủy ban Tư pháp của Quốc hội trong thời gian tới

Nhận thức rõ tầm quan trọng và những tư tưởng mang ý nghĩa chỉ đạo của Đảng và Nhà

nước về vấn đề này, đồng thời, xuất phát từ những đòi hỏi của thực tiễn, việc chọn đề tài "Tổ

chức và hoạt động của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội" làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc

sĩ chuyên ngành luật học là hết sức cần thiết và có ý nghĩa cả về phương diện lý luận lẫn thực tiễn

2 Tình hình nghiên cứu

Ủy ban Tư pháp là Ủy ban được thành lâ ̣p trên cơ s ở chia tách Uỷ ban pháp luật của Quốc hô ̣i khóa XI Việc thành lập Ủy ban Tư pháp là đ ể "thực hiện các nghị quyết của Đảng

và thi hành Luật phòng, chống tham nhũng" và "Thực hiện chủ trương từng bước đổi mới,

hoàn thiện tổ chức và hoạt động của các cơ quan của Quốc hội, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội; đồng thời định hướng nhân sự

Trang 3

cho việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XII Đây là vấn đề đã được nghiên cứu kỹ, được đặt

ra từ lần sửa đổi Luật tổ chức Quốc hội năm 2001"

Cho đến thời điểm này, chưa có công trình khoa ho ̣c nào nghiên cứu mô ̣t cách toàn diê ̣n ,

có hệ thống về cơ sở lý luận và thực tiễn về tổ chức và hoạt động của Ủy ban Tư pháp của Quốc hô ̣i gắn liền với bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền hiện nay để từ đó đưa ra những phương hướng cụ thể nhằm đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội trong thời gian tới , để đáp ứng được những đòi hỏi của thế giới thời mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế

3 Mục đích nghiên cứu

Luận văn đi sâu nghiên cứu một số vấn đề có tính lý luận và thực tiễn về tổ chức và hoa ̣t

đô ̣ng của Ủy ban Tư pháp của Quốc hô ̣i như : về sự cần thiết thành lâ ̣p Ủy ban Tư pháp ; về tổ chức, nhiê ̣m vu ̣ và quyền ha ̣n của Ủy ban tư pháp ; về thực tra ̣ng hoa ̣t đô ̣ng xây dựng pháp luâ ̣t, về hoa ̣t đô ̣ng giám sát tư pháp và về mô ̣t số công tác khác của Ủy ban Tư pháp ; về mô ̣t số kinh nghiê ̣m về tổ chức và hoạt động của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội khóa XII ; từ đó, đề ra phương hướng và đề xuất một số kiến nghi ̣ cụ thể trong việc xây dựng, đổi mới và hoàn thiện về tổ chức và hoa ̣t đô ̣ng của Ủy ban Tư pháp trong thời gian tới nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới đất nước mà Đảng và Nhà nướ c ta đã đề ra cũng như yêu cầu của Quốc hô ̣i trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân

4 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề về tổ chức , nhiê ̣m vụ, quyền ha ̣n của

Ủy ban Tư pháp của Quốc hội ; thực tra ̣ng về tổ chức và hoa ̣t đô ̣ng của Ủy ban Tư pháp của Quốc hô ̣i và mô ̣t số kinh nghiê ̣m , kiến nghi ̣ nhằm nâng cao hiệu quả , hiệu lực hoạt động của

Ủy ban Tư pháp của Quốc hội trong thời gian tới

5 Phạm vi nghiên cứu

Những vấn đề lý luận và thực tiễn về tổ chức , nhiê ̣m vu ̣ và quyền ha ̣n của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội; những kết quả đạt được cũng như hạn chế trong tổ chức và hoạt động của

Ủy ban Tư pháp của Quố c hội trong nhiê ̣m kỳ khóa XII ; một số yêu cầu và giải pháp cơ bản nâng cao hiệu quả , hiê ̣u lực hoạt động của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội trong thời gian tới Luận văn tập trung sâu vào ba nội dung chính như sau:

Một là, tổ chức, nhiê ̣m vu ̣ và quyền ha ̣n của Ủy ban Tư pháp của Quốc hô ̣i

Hai là, thực tra ̣ng hoa ̣t đô ̣ng của Ủy ban Tư pháp của Quốc hô ̣i

Ba là, mô ̣t số kinh nghiê ̣m và kiến nghi ̣ nhằm nâng cao hiê ̣u quả tổ chức và hoa ̣t đô ̣ng

của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội trong thời gian tới

6 Những đóng góp của luận văn

Luận văn trình bày một cách cụ thể, rõ ràng những vấn đề lý luận cơ bản về tổ chức và hoạt động của Ủy ban Tư pháp của Quốc hô ̣i Trên cơ sở lý luâ ̣n, xuất phát từ thực tiễn tổ chức và hoạt động của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội trong thời gian qua, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả, hiê ̣u lực hoạt động của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội trong thời gian tới

Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là thông tin khoa học tham khảo phục vụ quá trình đổi mới, hoàn thiện về tổ chức và hoa ̣t đô ̣ng của Ủy ban Tư pháp c ủa Quốc hội nói riêng và tổ chức, hoạt động của Quốc hội Việt Nam nói chung , đồng thời, còn là nguồn tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu, tổ chức, cá nhân quan tâm đến vấn đề này

7 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đường lối, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân thể hiện trong các nghị quyết của Đảng, trong Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước

- Các phương pháp cụ thể bao gồm: phương pháp tổng kết, đánh giá thực tiễn các quy định của pháp luật; phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp; kết hợp lý luận và thực tiễn để

Trang 4

đưa ra các kết luận, đánh giá

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Tổ chức, nhiê ̣m vu ̣ và quyền ha ̣n của Ủy ban Tư pháp của Quốc hô ̣i

Chương 2: Thực tra ̣ng hoạt động của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội

Chương 3: Mô ̣t số kinh nghiê ̣m và kiến nghi ̣ nhằm nâng cao hiê ̣u quả về tổ chức và hoa ̣t

đô ̣ng của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội trong thời gian tới

Chương 1 TỔ CHỨC, NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN HẠN CỦA ỦY BAN TƯ PHÁP CỦA QUỐC HỘI 1.1 Về sư ̣ cần thiết thành lâ ̣p Ủy ban Tư pháp của Quốc hô ̣i

Ủy ban tư pháp của Quốc hội được thành lập trong bối cảnh yêu cầu đổi mới toàn diê ̣n đất nước mà Đảng và Nhà nước ta đã đề ra cũng như yêu cầu của Quốc hô ̣i trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân , do nhân dân và vì nhân dân , yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội trong tình hình hội nhập kinh tế quốc tế và thực hiện theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp

Căn cứ vào nhiệm vụ quyền hạn quy định tại Hiến pháp, Luật tổ chức Quốc hội và các văn bản pháp luật có liên quan đồng thờ i kế thừa và phát huy kết quả hoạt động của Ủy ban Pháp luật các khóa trước, Ủy ban Tư pháp đã tăng cường đổi mới phương thức hoạt động để nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác, góp phần quan trọng vào việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội trong công tác lập pháp, giám sát và quyết định những vấn đề quan tro ̣ng của đất nước

1.2 Về tổ chư ́ c của Ủy ban Tư pháp của Quốc hô ̣i

Tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XII đã bầu Ủy ban Tư pháp với 34 thành viên, bao gồm Chủ nhiệm, 04 Phó Chủ nhiệm, 03 Ủy viên Thường trực và 26 Ủy viên khác Chủ nhiệm, các Phó chủ nhiệm và Ủy viên thường trực được tổ chức thành Thường trực Ủy ban

Tư pháp

Bô ̣ máy giúp việc cho Ủy ban Tư pháp của Quốc hô ̣i là Vu ̣ Tư pháp cũng được thành lâ ̣p theo Nghi ̣ quyết số 02/2007/NQ-UBTVQH12 ngày 24 tháng 7 năm 2007 của Ủy ban Thường

vụ Quốc hội

1.3 Về nhiê ̣m vu ̣ và quyền ha ̣n của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội

Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban tư pháp được quy định trong Luật tổ chứ c Quốc hô ̣i năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2007), Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội, Luật phòng, chống tham nhũng, Quy chế hoạt động của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội, Nội quy kỳ họp Quốc hội và các văn bản pháp luật khác có liên quan Ngoài ra Ủy ban Tư pháp còn thực hiện một số nhiệm vụ do Đảng đoàn Quốc hội, Quốc hội, Ủy ban Thườ ng vu ̣ Quốc hô ̣i giao

Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của Ủy ban Tư pháp, Thường trực Ủy ban tư pháp được tổ chức thành bốn nhóm công việc Chủ nhiệm Ủy ban tư pháp phụ trách chung , mỗi Phó Chủ nhiệm Ủy ban phụ trách một nhóm công việc của Ủy ban tư pháp.Cụ thể là: Nhóm điều tra, pháp luật hình sự và phòng, chống tham nhũng; Nhóm truy tố; Nhóm xét xử; Nhóm thi hành án Vụ Tư pháp cũng đã hình thành theo bốn nhóm công tác của Ủy ban và mỗi nhóm

có một Phó Vụ trưởng Vu ̣ Tư pháp phụ trách và một số chuyên viên của Vụ Tư pháp để thực hiện nhiệm vụ theo lĩnh vực được giao

Tóm lại, nhiê ̣m kỳ Quốc hô ̣i khóa XII (2007 - 2011) là nhiệm kỳ đầu tiên của của Ủy ban

Tư pháp Đa số thành viên Ủy ban Tư pháp đều có kiến thức pháp luâ ̣t cả về lý luận và thực tiễn; các thành viên Ủy ban hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm công tác ở nhiều lĩnh vực khác

Trang 5

nhau Vớ i cơ cấu, thành phần và chất lượng nêu trên, với tinh thần trách nhiê ̣m cao, các thành viên Ủy ban Tư pháp đã có những đóng góp thiết thực, có hiệu quả vào hoạt động của Ủy ban trên các mă ̣t công tác , góp phần làm cho hoạt động thẩm tra , giám sát của Ủy ban Tư pháp vừa có cơ sở thực tiễn vừa có căn cứ khoa ho ̣c Tuy nhiên, phần đông các thành viên Ủy ban

Tư pháp hoa ̣t đô ̣ng kiêm nhiê ̣m nên trong mô ̣t số phiên ho ̣p toàn thể , số thành viên tham gia không đông đủ, điều này đã ảnh hưởng tới viê ̣c thực hiê ̣n nguyên tắc làm viê ̣c tâ ̣p thể , quyết

đi ̣nh theo đa số

Về bô ̣ máy giúp viê ̣c cho Ủy ban Tư pháp, tuy số lượng biên chế còn ít , đa số là cán bô ̣ chuyên viên trẻ nhưng Vu ̣ tư pháp đã phu ̣c vu ̣ tốt cho các hoa ̣t đô ̣ng của Ủy ban Tư pháp Mọi hoạt động của Vụ tư pháp luôn bám sát v ào nhiệm vụ của Ủy ban Tư pháp và đã hoàn thành tốt nhiệm vụ đươ ̣c giao với tinh thần trách nhiê ̣m cao nhất

Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA ỦY BAN TƯ PHÁP CỦA QUỐC HỘI 2.1 Về hoa ̣t đô ̣ng xây dựng pháp luật của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội

2.1.1 Viê ̣c quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020

Nghị quyết số 49-NQ/TW xác định rõ trách nhiệm của Đảng đoàn Quốc hội (ĐĐQH) là

"lãnh đạo việc thể chế hoá các chủ trương, định hướng, nội dung, nhiệm vụ cải cách tư pháp" Trên cơ sở nhận thức đúng đắn tầm quan trọng và ý nghĩa chính trị của Nghị quyết số 49-NQ/TW, triển khai, tổ chức thực hiện có hiệu quả các nội dung của Nghị quyết số 49-NQ/TW

cụ thể là xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về lĩnh vực tư pháp, bao gồm: Hoàn thiện pháp luật hình sự, dân sự, tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính; Hoàn thiện pháp luật về thi hành án; Chuẩn bị trình Quốc hội ban hành Luật bồi thường thiệt hại cho người bị oan, sai do cơ quan nhà nước, cán bộ công chức gây ra; Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về tổ chức bộ máy của các cơ quan tư pháp như: Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Cơ quan điều tra; Hoàn thiện các chế định bổ trợ tư pháp như: luật sư, giám định tư pháp, cảnh sát hỗ trợ tư pháp, công chức, trợ giúp pháp lý, v.v ; Xây dựng và hoàn thiện cơ chế giám sát đối với hoạt động của các cơ quan tư pháp, giám sát việc phòng, chống tham nhũng

2.1.2 Thư ̣c trạng hoạt động xây dựng pháp luật của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội

- Như ̃ng kết quả đạt được trong hoạt động xây dựng pháp luật của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội

Hoạt động xây dựng pháp luật của Ủy ban Tư pháp trong thời gian qua luôn luôn được quan tâm phát triển Trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII , Ủy ban tư pháp của Quốc hội đã ch ủ trì thẩm tra, chỉnh lý và hoàn thiện đối với 30 dự án, trong đó có 9 dự án luật (06 dự án luật mới,

03 dự án luật sửa đổi, bổ sung), 8 dự án pháp lệnh (03 dự án pháp lệnh mới, 05 dự án pháp lệnh sửa đổi, bổ sung), 01 dự thảo nghị quyết, 12 Tờ trình (kèm theo dự thảo nghị quyết), trong đó có 7 dự án Luật, 5 dự án Pháp lệnh, 13 dự thảo Nghị quyết đã được Quốc hội, Ủy ban thường vu ̣ Quốc hô ̣i thông qua; 02 dự án luật đã được Quốc hội xem xét, cho ý kiến, 03

dự án Pháp lệnh đã được Ủy ban Thườ ng vu ̣ Quốc hô ̣i cho ý kiến

Để phục vụ công tác thẩm tra, chỉnh lý các dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết, Ủy ban Tư pháp đã t ổ chức nhiều hoạt động khảo sát thực tiễn tại nhiều địa phương, tổ chức hội thảo trong nước và quốc tế, thu thập ý kiến các chuyên gia, tham khảo kinh nghiệm nước ngoài, tổ chức các buổi làm việc với các cơ quan có thẩm quyền Trên cơ sở đó, các thành viên Ủy ban Tư pháp đã sắp xếp, dành nhiều thời gian tham gia công tác xây dựng pháp luật

và Ủy ban Tư pháp đã t ổ chức nhiều phiên họp toàn thể Ủy ban và Thường trực Ủy ban Tư pháp để thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết, Tờ trình So với Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh đề ra từ đầu nhiệm kỳ, Ủy ban Tư pháp cơ b ản đã hoàn thành số

Trang 6

lượng các dự án luật, pháp lệnh được phân công, bảo đảm đúng quy trình cho ý kiến , xem xét

và thông qua Luật của Quốc hội, Pháp lệnh, Nghị quyết của Ủy ban Thường vu ̣ Quốc hô ̣i Các báo cáo thẩm tra của Ủy ban Tư pháp đã tập trung đánh giá những vấn đề cơ bản của

dự án như về việc chuẩn bị dự án, về những vấn đề còn ý kiến khác nhau, về các nội dung cụ thể của dự án, về bảo đảm tính thống nhất của dự án trong hệ thống pháp luật Việt Nam v.v Đồng thời, các báo cáo thẩm tra của Ủy ban Tư pháp luôn thể hiện đúng đắn các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, mang tính phản biện và thể hiện rõ quan điểm của Ủy ban

Tư pháp, có cơ sở thực tiễn và khoa học, đáp ứng yêu cầu đổi mới trong công tác lập pháp và chú trọng việc bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống pháp luật

Do được chuẩn bị công phu, các báo cáo thẩm tra của Ủy ban đều có chất lượng tốt và trở thành cơ sở quan trọng để Quốc hội, Ủy ban Thường vu ̣ Quốc hô ̣i xem xét, quyết định

Về công tác phối hợp thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh do Hội đồng dân tộc, các Ủy ban khác của Quốc hội chủ trì, thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII, Ủy ban tư pháp đã phối hợp thẩm tra 15 dự án luật, 02 dự án pháp lệnh

Nhìn chung, công tác tiếp thu , chỉnh lý các dự án luâ ̣t, pháp lệnh, Ủy ban tư pháp đã bảo đảm chất lượng tốt, bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, đấu tranh với những biểu hiện vì lợi ích cục bộ của bộ, ngành Hầu hết ý kiến của Ủy ban Tư pháp đã đư ợc Quốc hội, Ủy ban Thườ ng vu ̣ Quốc hô ̣i chấp thuận; được các cơ quan hữu quan tiếp thu một cách toàn diện Kết quả của hoạt động xây dựng pháp luật đã giúp việc hoàn thiện một bước hệ thống quy định pháp luật trong lĩnh vực tư pháp, bổ trợ tư pháp, hoàn thiện tổ chức các cơ quan tư pháp, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, giải quyết nhiều vấn đề bức xúc trong công tác thi hành án hình

sự, thi hành án dân sự Bằng thái độ làm việc nghiêm túc và đề cao tinh thần trách nhiệm, phát huy dân chủ và bảo đảm nguyên tắc hoạt động trong quá trình chỉnh lý nên cơ bản các

dự thảo báo cáo giải trình tiếp thu, chỉnh lý và dự thảo luật, pháp lệnh Ủy ban Tư pháp chuẩn bị giúp Ủy ban Thườ ng vu ̣ Quốc hô ̣i đã được Ủy ban Thường vu ̣ Quốc hô ̣i, các đại biểu Quốc hội tán thành Nhiều dự án luật lớn được Quốc hội thông qua với tỷ lệ phiếu tán thành cao (Luật trọng tài thương mại đạt tỷ lệ đại biểu tán thành là 85,8%, Luật thi hành án hình sự là 86,61%) Đối với việc soạn thảo các dự thảo nghị quyết do Quốc hội, Ủy ban Thường vu ̣ giao, Ủy ban Tư pháp đã thực hiện đúng tiến độ thời gian và bảo đảm chất lượng để trình Quốc hội, Ủy ban Thườ ng vu ̣ Quốc hô ̣i xem xét, thông qua

- Những hạn chế trong hoa ̣t động xây dựng pháp luật của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội Thứ nhất, sự phối hợp giữa Ủy ban Tư pháp với Tòa án nhân dân tối cao , Viê ̣n kiểm sát

nhân dân tối cao , Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng về đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của cả nhiệm kỳ và hàng năm chưa được thường xuyên, chặt chẽ

Thứ hai, hầu hết các dự án được gửi sang Ủy ban Tư pháp để thẩm tra chậm so với quy

định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, gây khó khăn, bị động cho việc tổ chức nghiên cứu, thẩm tra

Thứ ba, phiên họp thẩm tra của toàn thể Ủy ban Tư pháp thường thiếu nhiều thành viên,

có phiên vắng tới 1/3 tổng số thành viên đã làm ảnh hưởng tới việc thảo luận, tranh luận và nhất là bảo đảm nguyên tắc làm việc tập thể và quyết định theo đa số

Thứ tư, các đồng chí trong Thường trực Ủy ban Tư pháp chưa có điều kiện về thời gian để

tham gia nhiều vào quá trình chỉnh lý mà thường phân công cho 01 đồng chí Phó Chủ nhiệm

Ủy ban và Ủy viên Thường trực Ủy ban cùng cán bộ của Vụ Tư pháp phối hợp để thực hiện

Thứ năm, việc tổ chức lấy ý kiến các chuyên gia, các nhà hoạt động thực tiễn chưa được

nhiều; chưa xây dựng được đội ngũ cộng tác viên cho công tác xây dựng pháp luật; quá trình chỉnh lý còn thiếu sự tham gia đầy đủ, thường xuyên đại diện có thẩm quyền của cơ quan chủ trì soạn thảo, các cơ quan hữu quan

Thứ sáu, công tác tham gia thẩm tra với các Ủy ban khác của Quốc hội chủ yếu do mô ̣t

đồng chí trong Thường trực Ủy ban Tư pháp th ực hiện, phát biểu với tư cách cá nhân; việc

Trang 7

tham gia bằng văn bản với tính chất là ý kiến của tập thể Thường trực Ủy ban Tư pháp còn ít

và hạn chế

- Nguyên nhân cu ̉ a những hạn chế trong hoạt động xây dự ng pháp luật của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội

Những ha ̣n chế nêu trên trong hoa ̣t đô ̣ng xây dựng pháp luâ ̣t của Ủy ban Tư pháp là do nhiều dự án luật, pháp lệnh chuẩn bị chậm, thường gửi đến Uỷ ban Tư pháp gần ngày tổ chức phiên họp thẩm tra Trong quá trình ho ̣p chỉnh lý dự án luâ ̣t , pháp lệnh, nhiều trường hợp cơ quan hữu quan cử người dự ho ̣p không đúng thành phần , không đủ thẩm quyền quyết đi ̣nh nên đã làm cho công tác c hỉnh lý gặp khó khăn , kéo dài thời gian, hiê ̣u quả không cao Công tác tham gia thẩm tra với các Ủy ban khác còn hạn chế do khối lượng công việc của Ủy ban

Tư pháp khá nhiều

2.2 Về hoạt động giám sát của Ủy ban Tƣ pha ́ p của Quốc hô ̣i

2.2.1 Cơ sơ ̉ lý luận , mục đích, ý nghĩa, yêu cầu và hậu quả của giám sát hê ̣ thống tư pháp

- Cơ sơ ̉ lý luận của giám sát hê ̣ thống tư pháp

Tại Điều 2 Hiến pháp năm 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001 quy đi ̣nh "Quyền lực nhà nước là thống nhất , có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiê ̣n các quyền lâ ̣p phá p, hành pháp và tư pháp " Trong Nghi ̣ quyết số 08-NQ/TW ngày 02 tháng 01 năm 2002 "về mô ̣t số nhiê ̣m vu ̣ tro ̣ng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới ", Bô ̣ Chính trị nhấn mạnh nhiệm vụ giám sát của Quốc hội tập trung vào việc chấp hành pháp luật trong lĩnh vực bắt giữ , tạm giữ, tạm giam, truy tố, xét xử, thi hành án và giám sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực tư pháp Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 yêu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng chất vấn v à trả lời chất vấn đối với hoạt động của các cơ quan tư pháp tại các kỳ họp Quốc hội về hoạt động tư pháp

- Mục đích và ý nghĩa của hoạt động giám sát hệ thống tư pháp

+ Bảo đảm tính nghiêm minh, hiệu quả của hoạt động giám sát là yếu tố quan trọng của chế độ dân chủ đại diện

+ Bảo đảm cho Hiến pháp , luật, nghị quyết của Quốc hội , pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thườ ng vu ̣ Quốc hô ̣i đươ ̣c chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất trong cả nước

+ Trực tiếp góp phần khắc phu ̣c những ha ̣n chế và chấn chỉnh về mă ̣t tổ chức , hoạt động, nâng cao hiê ̣u lực và hiê ̣u quả hoa ̣t đô ̣ng của các cơ quan tư pháp, xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững ma ̣nh

+ Góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật bằng việc qua giám sát phát hiện sự bất cập, chồng chéo, mâu thuẫn, không phù hợp với thực tế hoặc còn thiếu cơ ch ế điều chỉnh trong các quy định của pháp luật

- Yêu cầu đổi mơ ́ i hoạt động giám sát hê ̣ thống tư pháp

+ Bảo đảm công k hai, khách quan: yêu cầu này phải bảo đảm ở tất cả các khâu từ theo dõi, xem xét đến đánh giá, từ thu thâ ̣p thông tin đến kiến nghi ̣

+ Bảo đảm đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục giám sát

+ Không làm cản trở hoa ̣t đô ̣ng bì nh thường của các cơ quan , tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát; bảo đảm nguyên tắc hoạt động của các cơ quan này , nhất là nguyên tắc đô ̣c lâ ̣p chỉ tuân theo pháp luâ ̣t trong hoa ̣t đô ̣ng xét xử

- Hâ ̣u quả của hoạt động giám sát hê ̣ thống tư pháp

+ Yêu cầu khắc phục, sửa chữa những vi pha ̣m pháp luâ ̣t

+ Trực tiếp hủy bỏ hoă ̣c kiến nghi ̣, đề nghị, yêu cầu hủy bỏ mô ̣t số phần hay toàn bô ̣ văn bản quy phạm pháp luật , nghị quyết trái với Hiến pháp , luâ ̣t, nghị quyết của Quốc hội ; pháp

lê ̣nh, nghị quyết của Ủy ban Thường vu ̣ Quốc hô ̣i

Trang 8

+ Yêu cầu các cơ quan tư pháp phát huy những ưu điểm , khắc phu ̣c những nhươ ̣c điểm ; ban hành các văn bản quy pha ̣m pháp luâ ̣t để hoàn thiê ̣n c ơ sở pháp lý cho hoa ̣t đô ̣ng tư pháp

và giám sát hoạt động tư pháp

2.2.2 Thư ̣c trạng hoạt động giám sát tư pháp của Ủy ban tư pháp của Quốc hội

- Thẩm quyền giám sát của Ủy ban tư pháp đối với hoạt động của các cơ quan tư pháp

Thẩm quyền giám sát của Ủy ban tư pháp của Quốc hội mặc dù đã được quy định trong Hiến pháp, Luật tổ chức Quốc hội, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội, Luật phòng chống tham nhũng, Quy chế hoạt động của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội và các văn bản pháp luật có liên quan nhưng được quy định tập trung tại Điều 27a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức Quốc hội

Giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thanh tra Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, văn bản quy phạm pháp luật liên tịch giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở trung ương hoặc giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị

- và xã hội thuộc lĩnh vực Ủy ban phụ trách

Giám sát việc phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng

- Hoạt động giám sát của Ủy ban tư pháp đối với hoạt động của các cơ quan tư pháp + Về hoa ̣t động giám sát thường xuyên:

● Thẩm tra các báo cáo công tác hàng năm của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Để chuẩn bị cho việc thẩm tra các báo cáo, Ủy ban Tư pháp tổ chức các Đoàn công tác để giám sát, khảo sát đối với hoạt động của một số cơ quan tư pháp ở trung ương và địa phương,

Ủy ban tư pháp đã tổ chức nhiều đoàn giám sát, khảo sát ở các địa phương; thu thập thông tin qua nhiều kênh như các báo cáo thường kỳ, chuyên đề của các cơ quan, ý kiến của cử tri, qua các phương tiện thông tin đại chúng, qua việc xử lý đơn khiếu nại, tố cáo; tổ chức họp Thường trực Uỷ ban Tư pháp để nghe các cơ quan hữu quan báo cáo về những vấn đề mà Ủy ban Tư pháp quan tâm hoặc yêu cầu cung cấp tài liệu liên quan làm cơ sở cho việc thẩm tra, xem xét, đánh giá một cách chính xác, khách quan kết quả hoạt động của các cơ quan tư pháp

● Giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo; giám sát việc giải quyết vụ án cụ thể

Nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo như vậy, nên ngay từ khi được thành lập, Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp đã quan triệt sâu sắc tới các thành viên Ủy ban và cán bộ tham mưu, phục vụ trong việc thực hiện nhiệm

vụ này Có thể nói đây là mặt công tác được tăng cường và hoạt động có hiệu quả nhất so với các khóa Quốc hội trước đây Ngay từ đầu nhiệm kỳ Thường trực Ủy ban Tư pháp đã tích cực xây dựng để ban hành văn bản về quy trình tiếp nhận, nghiên cứu, phân loại xử lý, theo dõi, đôn đốc việc giải quyết các khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực tư pháp

Theo dự thảo Báo cáo tổng kết công tác của Uỷ ban Tư pháp nhiệm kỳ khoá XII (2007 - 2010) thì từ đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII đến trước kỳ họp thứ 8, Ủy ban Tư pháp đã tiếp

nhận, phân loại 28.583 đơn thư khiếu nại, tố cáo trong đó có 15.663 đơn thuộc thẩm quyền

xử lý của Ủy ban Tư pháp Nội dung đơn chủ yếu là khiếu nại và đề nghị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật; tố cáo hành

vi vi phạm pháp luật của người tiến hành tố tụng; tố cáo hành vi tham nhũng Qua nghiên cứu, xem xét, Ủy ban Tư pháp đã gửi 3.862 công văn đến các cơ quan có thẩm quyền đề nghị giải quyết Sau khi có công văn của Ủy ban Tư pháp, các cơ quan có thẩm quyền đã xem xét

và ra quyết định kháng nghị, giải quyết lại 281 vụ việc, có công văn trả lời Ủy ban Tư pháp đang nghiên cứu hồ sơ 1.545 vụ việc, không có căn cứ xem xét lại 626 vụ việc

Đối với những đơn thư khiếu nại, tố cáo bức xúc, kéo dài; Ủy ban Tư pháp yêu c ầu các

cơ quan báo cáo hoặc thành lập Đoàn giám sát của Ủy ban Tư pháp để xem xét, kết luận, kiến nghị đối với các cơ quan tư pháp có biện pháp khắc phục những sai sót

Trang 9

+ Về hoạt động giám sát theo chuyên đề:

Uỷ ban Tư pháp tiến hành tổ chức hàng chục Đoàn giám sát các chuyên đề tại các địa phương như: về việc chấp hành pháp luật trong công tác thi hành án hình sự, việc chấp hành pháp luật trong công tác thi hành án dân sự, tổ chức và hoạt động bổ trợ tư pháp, việc thực hiện nghị quyết của Quốc hội về tăng thẩm quyền xét xử về hình sự và dân sự cho các tòa án nhân dân cấp huyện

Các vấn đề được Ủy ban Tư pháp lựa chọn giám sát theo chuyên đề là nh ững vấn đề bức xúc, nổi cộm trong tổ chức và hoạt động tư pháp và được các đ ại biểu Quốc hội và nhân dân quan tâm; do đó có ý nghĩa rất quan tr ọng trong việc nghiên cứu và ho ạch định các chính sách Hoạt động giám sát chuyên đề đã đem lại hiệu quả thiết thực, thu được nhiều thông tin

có giá trị về thực tiễn, tạo điều kiện để Ủy ban Tư pháp đánh giá sâu từng nội dung cụ thể, từ

đó giải quyết được nhiều khó khăn, bất cập cụ thể trong những lĩnh vực này

+ Hoạt động giám sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, Tòa án nhân dân tối cao , Viê ̣n kiểm sát nhân dân tối cao thuộc lĩnh vực Ủy ban tư pháp phụ trách

Hoạt động giám sát các văn bản được tiến hành trên cơ sở pháp lý theo quy đi ̣nh của Hiến pháp và các văn bản khác Trên cơ sở quy đi ̣nh của Hiến pháp, Luâ ̣t tổ chức Quốc hô ̣i, Luâ ̣t hoa ̣t

đô ̣ng giám sát của Quốc hội, Luâ ̣t ban hành văn bản quy pha ̣m pháp luật đã cụ thể hơn những nội dung về hoạt động giám sát văn bản của Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội

Từ đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII tới nay, Ủy ban Tư pháp đã quán triệt và tăng cường công tác giám sát văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp ở trung ương, nhất là đối với các văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, văn bản hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ của Viện kiểm sát nhân dân tối cao Hoạt động giám sát văn bản của Ủy ban được thực hiện chủ yếu thông qua công tác giám sát việc chấp hành, nhất là việc áp dụng pháp luật của các cơ quan tư pháp khi gặp vướng mắc trong thực tế

2.3 Về hoa ̣t đô ̣ng đ ối ngoại và hợp tác quốc tế về lĩnh vực tƣ pháp và một số hoạt

đô ̣ng khác của Ủy ban Tƣ pháp của Quốc hô ̣i

2.3.1 Về hoa ̣t động đ ối ngoại và hợp tác quốc tế về lĩnh vực tư pháp của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội

Ủy ban Tư pháp đã tổ chức 11 Đoàn công tác để nghiên cứu, khảo sát và tăng cường tìm hiểu, hợp tác về các vấn đề thuộc lĩnh vực hoạt động của Ủy ban tại các nước Mỹ, Australia, Canada, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Phần Lan, Đức, Bỉ, Rumani, Singapore

Ủy ban Tư pháp đã hợp tác và triển khai thực hiện các chương trình hợp tác giữa Ủy ban với tổ chức phát triển quốc tế (CIDA) của Canada tổ chức nhiều cuộc hội thảo, tọa đàm về các dự án Luật; tổ chức các đoàn khảo sát trong nước và nước ngoài

2.3.2 Về mô ̣t số hoạt động khác của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội

Ủy ban Tư pháp đã nghiên cứu và chuẩn bị ý kiến của Đảng đoàn về Đề án "Thành lập Tòa án sơ thẩm khu vực, Tòa án phúc thẩm, Tòa án thượng thẩm; đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân tối cao " vv; chuẩn bị báo cáo sơ kết 03 năm và báo cáo tổng kết

05 năm thực hiện Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2010, về công tác xây dựng pháp luật trong lĩnh vực tư pháp, công tác giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, huyện đối với hoạt động tư pháp; sơ kết việc triển khai thực hiện Nghị quyết 48-NQ/TW của Bộ chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện

hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến 2020

Tóm lại, Ủy ban Tư pháp của Quốc hô ̣i mới được thành lập và hoạt động khóa đầu tiên

nhiê ̣m kỳ Quốc hô ̣i khóa XII (2007 - 2011), trên cơ sở vừa kế thừa nhiê ̣m vu ̣ của Ủy ban Pháp luật trước đây về hoạt động xây dựng pháp luâ ̣t , hoạt động giám sát trong lĩnh vực tư pháp, Ủy ban Tư pháp đã triển khai các công tác này theo hướng quy mô , chuyên sâu hơn Tuy có mô ̣t số ha ̣n chế nhưng về cơ bản , Ủy ban Tư pháp trong nhi ệm kỳ qua đã đa ̣t được

Trang 10

những kết quả tích cực , kịp thời giải quyết những vấn đề bức xúc được dư luận xã hội và cử tri, nhân dân cả nước quan tâm, góp phần quan trọng vào việc thực hiện tốt các nhiệm vụ chung của Quốc hội

Chương 3 MỘT SỐ KINH NGHIỆM VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA ỦY BAN TƯ PHÁP CỦA QUỐC HỘI TRONG THỜI

GIAN TỚI 3.1 Mô ̣t số kinh nghiệm về tổ chức và hoạt động của Uỷ ban Tư pháp của Quốc hô ̣i

Qua nghiên cứu, luận văn nêu lên một số kinh nghiệm về tổ chức và hoạt động của Uỷ ban tư pháp của Quốc hô ̣i:

3.1.1 Luôn tuân thu ̉ và bám sát đường lối, chủ trương và chính sách của Đảng

3.1.2 Hơ ̣p tác và phối hợp chặt chẽ với các cơ quan hữu quan

3.1.3 Kết hơ ̣p nguyên tắc làm viê ̣c theo chế độ tập thể với viê ̣c phân công thành viên phụ trách chuyên môn theo từng lĩnh vực trong phạm vi nhiê ̣m vụ, quyền hạn của Ủy ban 3.1.4 Luôn giư ̃ mối liên hê ̣ chặt chẽ, thường xuyên giữa Thường trực Ủy ban Tư pháp với thành viên Ủy ban tư pháp , phát huy dân chủ và trách nhiệm của từng thành viên Ủy ban Tư pha ́ p và Vụ giúp việc

3.2 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả về tổ chức và hoạt động của Uỷ ban

Tư pháp của Quốc hội trong thời gian tới

3.2.1 Về tổ chức của Uỷ ban Tư pháp cu ̉ a Quốc hội

- Về cơ cấu, thành phần, chất lượng đại biểu Quốc hội

- Một số kiến nghị về tổ chức của Ủy ban Tư pháp của Quốc hô ̣i

+ Cơ cấu, bố trí hợp lý số lượng thành viên Uỷ ban Tư pháp của Quốc hội với mu ̣c tiêu gọn nhẹ nhưng bảo đảm chất lượng, hiệu quả hoạt động theo hướng tăng số lượng đại biểu chuyên trách của Uỷ ban Tư pháp

+ Tăng cườ ng, nâng cao năng lực và hiê ̣u quả hoa ̣t đô ̣ng bộ máy giúp việc cho Ủy ban Tư pháp của Quốc hội

3.2.2 Về hoạt động xây dựng pháp luật cu ̉ a Ủy ban tư pháp của Quốc hội

- Giải pháp khắc phục tồn tại, hạn chế trong hoạt đô ̣ng xây dựng pháp luâ ̣t của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội

- Các yêu cầu đổi mới hoạt động xây dựng pháp luật của Ủy ban Tư pháp của Quốc hô ̣i + Đẩy mạnh hơn nữa hoạt động xây dựng pháp luâ ̣t của Ủy ban Tư pháp

+ Nâng cao chất lượng xây dựng luâ ̣t, pháp lệnh

+ Bảo đảm và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động xây dựng pháp luâ ̣t + Bảo đảm tính nhân dân trong hoạt động xây dựng pháp luật

- Các yếu tố bảo đảm để đổ i mớ i và nâng cao chất lươ ̣ng hoa ̣t đô ̣ng xây dựng pháp luâ ̣t của Ủy ban Tư pháp của Quốc hô ̣i

+ Nâng cao chất lượng đa ̣i biểu Quốc hô ̣i, tăng cường đa ̣i biểu Quốc hô ̣i chuyên trách + Cải tiến và nâng cao chất lượng các kỳ ho ̣p Quốc hội

+ Tăng cườ ng bô ̣ máy giúp viê ̣c và các điều kiê ̣n bảo đảm cho hoa ̣t đô ̣ng của đơn vi ̣ giúp

viê ̣c cho Ủy ban Tư pháp

- Một số kiến nghi ̣ về hoa ̣t đô ̣ng xây dựng pháp luâ ̣t của Ủy ban Tư pháp của Quốc hô ̣i

3.2.3 Về hoạt đô ̣ng giám sát của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội

- Giải pháp khắc phục tồn tại , hạn chế về hoạt động giám sát của Ủy ban Tư pháp của Quốc hô ̣i

- Một số kiến nghi ̣ về hoạt động giám sát của Ủy ban Tư pháp của Quốc hô ̣i

3.2.4 Về tổ chức và hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội

Ngày đăng: 12/02/2014, 13:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w