Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 05 Giải pháp 1: Phân loại các lỗi thường nhầm lẫn của học sinh 06 Giải pháp 2: Hướng dẫn học sinh xác định từng bộ phận chính của câu 08 Giả
Trang 1MỤC LỤC
1 MỞ ĐẦU
2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm 03 2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 04 2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 05 Giải pháp 1: Phân loại các lỗi thường nhầm lẫn của học sinh 06 Giải pháp 2: Hướng dẫn học sinh xác định từng bộ phận chính của câu 08 Giải pháp 3: Hướng dẫn học sinh xác định từng bộ phận chính của câu
ghép
09
Giải pháp 4: Giúp học sinh phân biệt trạng ngữ với chủ ngữ, vị ngữ 10
3 KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
Trang 21 MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài:
Định hớng chiến lợc phát triển giáo dục trong thời kì mới
là thực hiện giáo dục toàn diện : đức dục, trí dục, thể dục, mĩ dục Môn học nào cũng đều góp phần hình thành và phát triển nhân cách của trẻ và cung cấp cho trẻ những tri thức cần thiết Môn Tiếng Việt góp phần đắc lực thực hiện mục tiêu đào tạo thế hệ trẻ, tạo cho học sinh năng lực sử dụng Tiếng Việt Môn Tiếng Việt chuẩn bị tiềm lực cho các em đi vào cuộc sống và tạo
điều kiện để học ở bậc học cao hơn Một trong các phân môn của Tiếng Việt đó là phân môn Luyện từ và câu
Như chỳng ta đó biết: Luyện từ và cõu là một trong những phõn mụn của mụn Tiếng Việt được giảng dạy xuyờn suốt trong bậc học Tiểu học Ở phõn mụn này cung cấp những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt rốn luyện kĩ năng dựng từ đặt cõu, kĩ năng đọc cho học sinh Ở lớp 5 phõn mụn Luyện từ và cõu đúng một vai trũ hết sức quan trọng ngoài việc trang bị kiến thức Tiếng Việt cho học sinh Luyện từ
và cõu cũn hỡnh thành và phỏt triển ở học sinh cỏc kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, núi, đọc, viết) để học tập, giao tiếp trong cỏc mụi trường hoạt động theo lứa tuổi Thụng qua dạy Luyện từ và cõu gúp phần rốn luyện cỏc thao tỏc tư duy, bồi dưỡng tỡnh yờu Tiếng Việt hỡnh thành dần cỏc thúi quen giữ gỡn sự trong sỏng, giàu đẹp của tiếng Việt, gúp phần hỡnh thành nhõn cỏch con người Việt Nam xó hội chủ nghĩa
Để giỳp học sinh lớp 5 nhận diện phõn biệt thành phần chớnh của cõu là một vấn đề quả là khụng dễ dàng chỳt nào, nhất là cỏc cõu cú thành phần giống nhau về hỡnh thức, đặc điểm, từ loại về mối quan hệ nhưng lại khỏc nhau về chức năng ngữ phỏp Sự giống nhau về hỡnh thức, đặc điểm đú đó khiến cho người dạy, người học
dễ bị nhầm lẫn khi phõn biệt đơn vị ngữ phỏp này với đơn vị ngữ phỏp khỏc, đặc biệt đối với học sinh tiểu học thỡ lại càng khú hơn, bởi nhận thức tư duy của cỏc
em là tư duy cụ thể thiờn về hỡnh thức nờn sự nhầm lẫn khi phõn biệt thành phần cõu xảy ra là điều đương nhiờn
Bản thõn là một giỏo viờn Tiểu học được nhà trường phõn dạy khối lớp 5 Tuy kinh nghiệm tớch lũy chưa được là bao, song tụi cũng mạnh dạn tỡm hiểu nguyờn nhõn và nghiờn cứu, đề xuất một số giải phỏp nhỏ để giỳp học sinh của
mỡnh tiến bộ trong học tập qua đề tài : “ Một số giải phỏp giỳp học sinh lớp 5A trường Tiểu học Đụng Vệ 1 phõn biệt thành phần chớnh của cõu”.
1.2 Mục đớch nghiờn cứu:
Trờn cơ sở lý luận và thực tiễn về cụng tỏc dạy học phõn mụn Luyện từ và Cõu ở trường Tiểu học Đụng Vệ 1, nhằm tỡm ra giải phỏp hữu hiệu nhất giảm bớt
Trang 3tình trạng học sinh phân biệt các thành phần chính của câu chưa chính xác, giúp học sinh học tốt hơn không chỉ ở phân môn Luyện từ và câu mà còn cả ở những môn học khác Từ đó đưa ra những biện pháp đổi mới phương pháp dạy học của giáo viên để nâng cao chất lượng dạy học phân môn “Luyện từ và câu” cho học sinh lớp 5 trong nhà trường
1.3 Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài này sẽ nghiên cứu về một số lỗi học sinh thường nhầm lẫn khi xác định các bộ phận chính của câu của học sinh lớp 5A trường Tiểu học Đông Vệ 1 Từ đó xây dựng hệ thống nội dung giúp học sinh xác định đúng các bộ phận chính của câu
1.4 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin
- Phương pháp, điều tra thống kê
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
- Phương pháp đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm
2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm:
Ngữ pháp trong Luyện từ và câu có một vai trò quan trọng trong việc tổ
chức hoạt động tạo lập và lĩnh hội ngôn bản, hướng dẫn học sinh nghe nói đọc -viết, thực hiện mục tiêu số một của dạy học Tiếng Việt trong trường Tiểu học Chương trình ngữ pháp ở Tiểu học đã lấy việc dạy câu làm trung tâm Bắt đầu từ nhận thức sơ giản về câu đơn đến nhận thức cấu tạo phức tạp của câu ghép và tạo lập được chúng
Việc nhận ra cấu tạo ngữ pháp của câu, các bộ phận chính của câu sẽ giúp ích rất nhiều cho học sinh trong việc lĩnh hội lời nói của người khác chính điều này
đã góp phần nâng cao năng lực sản sinh lời nói, giúp các em có hiểu biết về quy tắc cấu tạo từ, quy tắc dùng từ đặt câu và tạo văn bản để sử dụng trong giao tiếp trên
cơ sở ngữ pháp, học sinh nắm được các quy tắc chính tả, dấu câu, nắm chuẩn văn hóa trong sản sinh ra lời nói trong giao tiếp của mình đồng thời rèn khả năng thực hành phân biệt thành phần chính của câu, giúp các em rèn luyện kĩ năng giao tiếp bằng ngôn ngữ, biết sử dụng ngôn ngữ như một công cụ giao tiếp, sử dụng từ theo đúng từ loại đọc , nói, viết đúng ngữ điệu câu từ đó phát triển năng lực tư duy, rèn luyện những thói quen nề nếp, những phẩm chất tốt đẹp của con người mới làm chủ
xã hội, làm chủ bản thân, có lòng say mê trong học tập, trong công việc ngoài ra Ngữ pháp trong Luyện từ và câu còn giúp học sinh cảm nhận được những cái hay, cái đẹp của ngôn từ tiếng việt, bồi dưỡng cho các em những tình cảm lành mạnh,
Trang 4hình thành ở các em con người có đức, có tài, có những hành vi ứng xử văn hóa, hướng các em tới Chân - Thiện - Mĩ
2.2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:
2.2.1 Thực trạng:
Bản thân là một giáo viên trực tiếp đứng lớp hơn 20 năm và thường xuyên dự giờ đồng nghiệp, theo dõi chất lượng học sinh trong trường qua các lần kiểm tra, đồng thời cũng qua thảo luận, trao đổi kinh nghiệm giảng dạy với giáo viên tôi nhận thấy:
Hiện nay, trong các trường Tiểu học nói chung và trường Tiểu học Đông Vệ
1 nói riêng, nhiều vấn đề cụ thể của việc dạy học sinh phân biệt thành phần chính trong câu của ngữ pháp Tiểu học còn là điều băn khoăn, trăn trở, thắc mắc chưa được giải quyết thỏa mãn ở giáo viên Những câu hỏi luôn được giáo viên đề cập
đến: “dạy như thế nào để giúp học sinh tránh được sự nhầm lẫn khi xác định ranh giới giữa các thành phần của câu ?” ; “dạy để làm gì ?” ; “dạy như thế nào để giúp các em hiểu, vận dụng thực hành có hiệu quả và có hứng thú trong học tập ?”
Như vậy, hiệu quả học sinh thực hành chưa cao có thể do nhiều nguyên nhân, tôi xin đề cập đến một số nguyên nhân khách quan, chủ quan như sau:
* Về phía giáo viên:
- Giáo viên ít chú ý tới đặc trưng của phân môn, nhất là mặt ngữ pháp trong Luyện từ và câu
- Vốn từ, sự am hiểu và khả năng phân tích ngữ liệu còn hạn chế dẫn đến lúng túng khi giúp học sinh nhận diện phân biệt thành phần chính của câu Điều này xảy ra không phải lỗi là do giáo viên hoàn toàn mà một phần ở đây là do một
số câu có thành phần giống nhau về hình thức, đặc điểm, từ loại, về quan hệ nhưng lại khác nhau về chức năng ngữ pháp Chính sự giống nhau đó khiến cho người dạy, người học lúng túng trong quá trình thực hành
- Một số giáo viên cho rằng trước kia ngữ pháp là một phân môn riêng có đặc thù riêng thì quan trọng Nay ngữ pháp trong Luyện từ và câu thì không quan
trọng nữa Từ cái “chung” và “riêng” đó đã làm cho một số không ít giáo viên ngộ
nhận ra ngữ pháp “không quan trọng”
- Cách dạy của giáo viên còn đơn điệu, chưa vận dụng tối đa và tuân thủ các phương pháp, nguyên tắc nhất là phương pháp thực hành qua sơ đồ, biểu bảng giáo viên còn lệ thuộc một cách cứng nhắc vào sách giáo viên, ít có những bài tập vận dụng sáng tạo, dạy chưa cuốn hút học sinh
- Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị chưa phong phú; các tài liệu tham khảo bổ trợ cho việc dạy - học phân môn còn hạn chế, khó tìm
* Về phía học sinh:
- Học sinh ít có hứng thú học phân môn này, nhất là ngữ pháp trong Luyện từ
và câu bởi các em phải làm quen với hàng loạt các khái niệm, các thuật từ, thuật
Trang 5ngữ trong ngữ pháp như: Khái niệm về câu, khái niệm về từ ngữ hay thế nào là chủ ngữ ? thế nào là vị ngữ ? động từ, tính từ, danh từ ? đó là chưa nói đến các câu có thành phần giống nhau về hình thức, đặc điểm, từ loại, về quan hệ nhưng lại khác nhau về chức năng ngữ pháp tất cả những vấn đề ấy đã làm cho giáo viên phải lúng túng chứ đừng nói đến học sinh Tiểu học
- Về trang bị tài liệu phục vụ cho môn học, ngoài sách giáo khoa tiếng việt tập một, tập hai ra thì hầu như các em không có các tài liệu khác hỗ trợ cho việc học
- Bản thân các em ít quan tâm đến phân môn này Sự giao tiếp nói câu hay còn hạn chế Các em thường nói các câu có nội dung thông báo làm phá vỡ mặt cấu trúc ngữ pháp, câu sai khẩu ngữ, Cha mẹ các em lại ít quan tâm đến việc học, rèn luyện, sửa chữa và uốn nắn những câu nói chưa hay cho các em Những vấn đề, những sự việc tuy nhỏ song nó đã làm ảnh hưởng tới chất lượng học trong Luyện từ
và câu của học sinh
2.2.2 Kết quả
Từ thực trạng trên tôi đã tiến hành ra đề bài khảo sát và đánh giá theo Thông
tư số 22/2016/TT-BGDĐT Từ đó biết những lỗi mà học sinh thường mắc để có biện pháp giúp đỡ
Đối tượng khảo sát: Học sinh lớp 5A trường Tiểu học Đông Vệ 1
Số học sinh tham gia khảo sát: 40 em
Đề bài: Tìm chủ ngữ, vị ngữ của các câu sau:
a) Chim hót líu lo
b) Tiếng suối chảy róc rách
c) Mùa xuân, cây cối đâm chồi nảy lộc
d) Mùa xuân đến, cây cối đâm chồi nảy lộc
e) Những con chim bông biển trong suốt như thủy tinh lăn tròn trên những con sóng
Tổng số Học
sinh
Số HS xác định đúng
CN, VN
Số HS xác định chưa đúng
CN, VN
Nhận xét kết quả khảo sát:
Chất lượng học sinh làm bài đúng còn thấp Cụ thể nhiều em còn nhầm lẫn trạng ngữ với chủ ngữ và vị ngữ, nhầm lẫn khi thấy động từ cho là vị ngữ, nhầm lẫn định ngữ với vị ngữ
Trang 6Từ thực trạng và kết quả khảo sát trên, tôi đã nghiên cứu để tìm ra cách giải quyết khắc phục
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề:
Giải pháp 1: Phân loại các lỗi thường nhầm lẫn của học sinh:
Để giúp các em từng bước giải quyết vấn đề phân biệt thành phần chính của câu, giáo viên cần tiến hành khảo sát riêng với đối tượng học sinh, với các dạng bài tập phù hợp, với từng trình độ học tập của học sinh Qua khảo sát cho thấy sự nhầm lẫn của các em thường là:
a Học sinh nhầm lẫn giữa trạng ngữ với chủ ngữ :
- Các em thường có thói quen cho rằng vị trí đầu tiên trong câu là chủ ngữ và
do cách ngắt nhịp sai nên dẫn đến các em xác định thành phần của câu cũng sai
Ví dụ: - Mùa thu // lá rụng nhiều (1)
CN VN
- Hôm nay // tôi đi học (2)
CN VN
- Hôm nay // là ngày thứ hai
CN VN
Ngoài ra các em đều cho rằng “mùa thu, hôm nay” đều là danh từ mà danh từ
đó đứng ở đầu câu không có quan hệ từ dẫn đến nhầm (1) và (2)
b Học sinh nhầm lẫn khi thấy động từ thì cho là vị ngữ.
Ví dụ: - Tiếng suối chảy róc rách.
- Tiếng bé thét lên lanh lảnh
+ Ở trường hợp thứ nhất: “tiếng suối chảy róc rách” Học sinh thường có hai
cách hiểu và phân định ranh giới giữa chủ ngữ - vị ngữ của câu như sau :
- Tiếng suối // chảy róc rách (1)
CN VN
- Tiếng suối chảy // róc rách (2)
CN VN
Dựa vào quan hệ logíc giữa chủ ngữ và vị ngữ ta thấy rằng trong cách hiểu
(1) “Tiếng suối” là âm thanh thì không thể chảy được Vì vậy cách hiểu này là không hợp lí Do đó, cách hiểu (2) cho “Tiếng suối chảy” là chủ ngữ, “róc rách” là
vị ngữ là cách hiểu hợp lí, phù hợp về quan hệ logíc, quan hệ về ý nghĩa giữa chủ ngữ và vị ngữ trong câu
Số đông học sinh cho rằng “chảy róc rách” trong câu “Tiếng suối chảy róc rách” hay “thét lên lanh lảnh” trong câu “Tiếng bé thét lên lanh lảnh” là vị ngữ Vì chỉ thấy trong hai câu trên có động từ “chảy” và “thét” nên chắc chắn cho là động
từ trung tâm làm vị ngữ, còn lại bổ ngữ cho động từ mà không để ý xem giữa chủ ngữ và vị ngữ có sự tương hợp về nghĩa hay không
Trang 7+ Trường hợp thứ hai: Học sinh vạch ranh giới giữa chủ ngữ và vị ngữ trong câu:
Ví dụ: Những con voi // về đích trước tiên huơ vòi chào khán giả.
CN VN
Các em cho rằng “con voi” là danh từ trung tâm trả lời cho câu hỏi “Những con voi nào ?” Chính vì vậy các em cho rằng cả cụm danh từ này đảm nhiệm chức năng làm bộ phận chủ ngữ của câu Như vậy, ở đây cụm danh từ “Những con voi về đích trước tiên” làm bộ phận chủ ngữ là hợp lí.
c Học sinh nhầm lẫn vị ngữ với định ngữ, bổ ngữ.
Nhiều học sinh cho rằng:
Ví dụ:
- Các anh chiến sĩ // ngồi trong khoang lái đang sẵn sàng chờ lệnh
CN VN
- Những con chim bông biển // trong suốt như thủy tinh lăn tròn trên những
CN VN
con sóng
Học sinh rất dễ nhầm lẫn định ngữ sau trong các cụm danh từ trên là vị ngữ của câu Nếu xét cách nhầm lẫn này của học sinh chúng ta cũng dễ nhận ra ngay nét tương đồng về hình thức và nội dung (các định ngữ đứng sau danh từ làm chủ ngữ cũng do động từ, tính từ đảm nhận, cũng chỉ hoạt động, đặc điểm, trạng thái, của
sự vật nêu trong danh từ làm chủ ngữ) Thoạt nhìn, giữa định ngữ sau và vị ngữ có những nét giống nhau, nhưng chúng khác nhau về cấp bậc, về chức năng, tác dụng
mà định ngữ là thành tố phụ của danh từ trung tâm, thuộc bậc cụm từ còn vị ngữ là một trong hai thành phần chính của câu Định ngữ có nhiệm vụ hạn định, cụ thể hóa ý nghĩa cho danh từ trung tâm còn vị ngữ nêu nội dung thông báo về đối tượng
do chủ ngữ biểu thị
Trong các ví dụ trên, các từ ngữ “Các anh chiến sĩ ngồi trong khoang lái” là chủ ngữ, “đang sẵn sàng chờ lệnh” là vị ngữ “Những con chim bông biển trong suốt như thủy tinh” là chủ ngữ, “lăn tròn trên những con sóng” là vị ngữ.
Ví dụ:
Học sinh phân biệt chủ ngữ và vị ngữ trong câu:
Đôi mắt // ánh lên những tia sáng ấm áp, tươi vui và không bao giờ tắt
CV VN1 VN2 VN3
Các em đã không để ý xem các từ “ấm áp, tươi vui và không bao giờ tắt”
không có quan hệ với từ nào trong câu mà theo thói quen chỉ quan sát hình thức là dựa vào dấu phẩy, quan hệ từ để xác định như trên Thực ra trong phần vị ngữ thì
“ấm áp, tươi vui và không bao giờ tắt” bổ sung ý nghĩa cho danh từ “tia sáng” (có
thể lược bỏ không ảnh hưởng đến nòng cốt câu) Do đó chúng là định ngữ của danh
từ này
Trang 8Ngoài các trường hợp các em mắc phải sai sót trên ra, các em còn mắc phải một số lỗi ngữ pháp khác như:
+ Lỗi không phù hợp với phong cách:
Ví dụ: Em vô cùng xúc động viết đơn này xin cho em được vào Đội.
(Bộ phận câu vô cùng xúc động không phù hợp với phong cách đơn từ là
phong cách không bộc lộ cảm xúc)
+ Lỗi về dùng khẩu ngữ sai:
Ví dụ: Cô giáo em dạy rất chi là hay.
(chi là những từ ngữ dùng trong sinh hoạt, không thể đưa vào văn viết).
+ Lỗi do không dùng dấu chấm câu:
Ví dụ: Nội nói với em ngày mai (sai)
Nội nói với em: “ Ngày mai ” (đúng)
Như vậy, qua quá trình khảo sát bài làm của học sinh, giáo viên đã nhận thấy các em mắc nhiều lỗi trong bài làm như nội dung trình bày nêu trên
Để giảm bớt những nhầm lẫn khi phân định các thành phần chính của câu và giúp các em nhận ra ý nghĩa, dấu hiệu hình thức của hiện tượng ngữ pháp được nghiên cứu và chức năng của nó trong lời nói, để tránh không bị hình thức đánh lừa, tôi đã hướng dẫn học sinh lớp 5 phân biệt các thành phần chính của câu như sau:
Giải pháp 2: Hướng dẫn học sinh xác định từng bộ phận chính của câu.
Trong khi hướng dẫn học sinh phân biệt các thành phần chính của câu, giáo viên phải luôn tuân thủ các phương pháp vận dụng giữa lý thuyết và thực hành với việc phát triển năng lực giao tiếp của học sinh trên cơ sở phân tích lời nói sinh động phù hợp với trình độ tiếng mẹ đẻ của học sinh Với dạng bài tập này, tôi luôn yêu
cầu các em nhớ quy tắc tìm bộ phận chính thứ nhất (bộ phận chủ ngữ) và tìm bộ phận chính thứ hai (bộ phận vị ngữ) của câu.
Học sinh cần đặt những câu hỏi đối với thành phần câu để nhận diện ra
chúng để tìm bộ phận chính thứ nhất (chủ ngữ), các em đặt câu hỏi: “Trong câu nói đến ai ?” (hoặc cái gì ? con gì ?) bộ phận của câu trả lời cho câu hỏi này chính
là bộ phận chính thứ nhất Để tìm bộ phận chính thứ hai, tôi lưu ý học sinh khi đặt
câu hỏi tìm vị ngữ, về nguyên tắc câu hỏi tìm vị ngữ “làm gì ?” hay “thế nào ?” phụ thuộc vào từ loại của vị ngữ Nếu vị ngữ là động từ thì đặt câu hỏi “làm gì ?”, vị ngữ là tính từ thì đặt câu hỏi “như thế nào ?”, “thế nào ?” Nếu chủ ngữ là vật thì không hỏi “làm gì ?” mà hỏi “thế nào ?” Bộ phận vị ngữ miêu tả hành động hay
nhận xét về người, sự vật được nêu ở chủ ngữ
Ví dụ: “Bạn Nam học tốt.”, “Hà thích xem phim.”, “Nga có nhiều bút.” thì đặt câu hỏi tìm vị ngữ là “như thế nào ?”, “thế nào ?”
Ví dụ: Phân biệt chủ ngữ - vị ngữ
Trang 9+ Những con voi về đớch trước tiờn // huơ vũi chào khỏn giả.
CN VN
Hỏi: Con gỡ huơ vũi chào khỏn giả ? (Những con voi về đớch trước tiờn) Vậy: “Những con voi về đớch trước tiờn” là chủ ngữ.
Hỏi: Những con voi làm gỡ ? (huơ vũi chào khỏn giả) Vậy “huơ vũi chào khỏn giả” là vị ngữ.
Ngoài biện phỏp trờn chỳng ta cú thể sử dụng thủ phỏp như sau :
+ Thờm một số từ “này, ấy, kia, ” vào xen giữa chủ ngữ, vị ngữ trong cõu :
“những con voi về đớch trước tiờn (ấy) huơ vũi chào khỏn giả” ta chỉ cú thể thờm từ (ấy) vào sau cụm từ “những con voi về đớch trước tiờn” mà khụng làm ảnh hưởng
đến cấu trỳc cỳ phỏp của cõu
Giải phỏp 3: Hướng dẫn học sinh xỏc định từng bộ phận chớnh của cõu ghộp:
Để giỳp học sinh nhận diện và phõn tớch cõu ghộp trước hết phải giỳp học sinh xem cõu đú cú mấy nũng cốt cõu (vế cõu) Nếu cõu cú một kết cấu chủ vị làm nũng cốt (gồm hai bộ phận chớnh chủ ngữ - vị ngữ) là cõu đơn; cõu gồm hai kết cấu chủ vị trở lờn làm nũng cốt là cõu ghộp Như vậy cõu ghộp là cõu xột về cấu tạo, cú hơn một vế cõu (kết cấu chủ vị), trong đú cỏc vế cõu tỏch biệt tương đối với nhau, khụng cú vế cõu nào nằm trong lũng, làm thành phần của vế cõu kia
Vớ dụ 1: Mặt trời // mọc (một cụm chủ - vị cú một thụng bỏo cõu đơn)
CN VN
Vớ dụ 2: Mặt trời // mọc và sương // tan dần (hai cụm chủ - vị cõu ghộp)
CN VN CN VN
Sau đó giúp học sinh nắm được cú hai cỏch nối cỏc vế cõu ghộp : + Nối trực tiếp (khụng dựng từ ngữ), giữa cỏc vế cõu cú dấu phẩy, dấu chấm phẩy hoặc dấu hai chấm
Vớ dụ : - Mựa xuõn // đó về, trăm hoa // đua nở
CN VN CN VN
- Cảnh tượng xung quanh tụi // đang cú sự thay đổi lớn: hụm nay tụi //
CN VN CN
đi học
VN
+ Nối bằng từ ngữ cú tỏc dụng nối: Cỏc vế cõu được nối với nhau bằng một quan
hệ từ, một cặp quan hệ từ hoặc một cặp từ hụ ứng
Ví dụ :
- Nếu mọi ngời // chấp hành tốt Luật giao thông thì tai nạn // sẽ ít khi xảy ra
Trang 10CN VN CN VN
- Vì bạn Nam // chăm học nên bạn ấy // luôn đạt học sinh giỏi
CN VN CN VN
- Tiếng trống //vừa vang lờn, chỳng tụi // đó tập hợp ngay ngắn
CN VN CN VN
Giải phỏp 4: Giỳp học sinh phõn biệt trạng ngữ với chủ ngữ, vị ngữ:
Ở lứa tuổi tiểu học, cỏc em thường cú tư duy trực quan, đụi khi cỏc em thực hiện yờu cầu bài tập một cỏch mỏy múc khụng cần biết đỳng hay sai Để giỳp cỏc
em trỏnh được “những mỏy múc khụng cần thiết” ấy, đũi hỏi người giỏo viờn phải
là người phõn tớch đưa ra những khỏi niệm dữ liệu cụ thể
Trước hết, giỏo viờn phải giỳp học sinh cú khỏi niệm về trạng ngữ: “Trạng
ngữ là thành phần (bộ phận) phụ của cõu, cú tỏc dụng bổ sung ý nghĩa cho cả khối kết cấu chủ - vị (cũn gọi là nũng cốt cõu)”.
Giỳp học sinh phõn biệt trạng ngữ, chủ ngữ - vị ngữ bằng phương phỏp mở rộng nũng cốt cõu
Vớ dụ 1: Giỏo viờn đưa ra cõu
a Chim hút lớu lo
Hỏi: Em hóy cho biết cõu “Chim hút lớu lo” đõu là chủ ngữ, đõu là vị ngữ ?
Học sinh: Chim // hút lớu lo
CV VN
b Trờn cành cõy, chim hút lớu lo
Yờu cầu học sinh chỉ ra chủ ngữ - vị ngữ
Trờn cành cõy, chim // hút lớu lo
CN VN
Yờu cầu học sinh so sỏnh xem vớ dụ a và vớ dụ b cú gỡ giống và khỏc nhau ? Giống nhau: Cú chủ ngữ - vị ngữ
Khỏc nhau: Ở vớ dụ b cú thờm bộ phận “Trờn cành cõy”
Kết luận: “Trờn cành cõy” là bộ phận trạng ngữ bổ sung ý nghĩa cho cả khối chủ - vị “Chim hút lớu lo” về mặt nơi chốn Vậy “Trờn cành cõy” là trạng ngữ chỉ
nơi chốn
Vớ dụ 1: Trờn cành cõy, chim // hút lớu lo.
TN (nơi chốn) CN vn
Vớ dụ 2: a Hà // khụng đến lớp.
CN VN
b Hụm qua, Hà // khụng đến lớp
TN (thời gian) CN VN