Pháp luật về tổ chức và hoạt động kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam trong tiến trình thực hiện các cam kết gia nhập WTO Trịnh Thế Phương Khoa Luật Luận văn ThS.. Trên cơ sở nghiên cứu k
Trang 1Pháp luật về tổ chức và hoạt động kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam trong tiến trình thực
hiện các cam kết gia nhập WTO
Trịnh Thế Phương
Khoa Luật Luận văn ThS ngành: Luật quốc tế; Mã số: 60 38 60 Người hướng dẫn: TS.GVC Nguyễn Lan Nguyên
Năm bảo vệ: 2008
Abstract Tổng quan về lịch sử hình thành, phát triển và những nguyên tắc cơ bản
trong ngành kinh doanh bảo hiểm (KDBH) trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, làm rõ vai trò của bảo hiểm đối với sự phát triển kinh tế xã hội Nghiên cứu các quy định pháp luật ở Việt Nam, các quy định của WTO và tác động của việc gia nhập WTO đến tổ chức và hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam Phân tích những tồn tại, hạn chế của thực trạng hệ thống pháp luật Việt Nam về tổ chức, hoạt động kinh doanh bảo hiểm Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm phát triển ngành bảo hiểm của một số nước trên thế giới, đưa ra các phương hướng hoàn thiện
và các giải pháp để thực hiện pháp luật Việt Nam về KDBH như giải pháp về phía
nhà nước, về phía hiệp hội bảo hiểm Việt Nam, về phía các doanh nghiệp bảo hiểm
Keywords Kinh doanh bảo hiểm; Pháp luật Việt Nam; Tư pháp; WTO
Gia nhập WTO mở ra cho Việt Nam một cơ hội lớn trong giao thương, hợp tác phát triển kinh tế, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế Các quy định ưu đãi dành cho các thành viên đang phát triển như Việt Nam, cơ chế giải quyết tranh chấp giữa các thành viên, hệ thống các nguyên tắc như nguyên tắc ưu đãi tối huệ quốc, đãi ngộ quốc gia, công khai minh bạch… là những thuận lợi cơ bản cho Việt Nam trong quá trình hội nhập Bên cạnh đó, chúng ta cũng sẽ gặp nhiều khó khăn thách thức trên hầu hết các ngành, lĩnh vực sản xuất kinh doanh Đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục nghiên cứu, đề ra các giải pháp hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp
Trang 2luật vừa phù hợp với quy định của WTO, vừa thúc đẩy ngành sản xuất, dịch vụ trong nước phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh với nước ngoài, thu hút các nhà đầu tư chính đáng vào hoạt động tại Việt Nam
Hội nhập kinh tế trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm là một phần không tách rời trong lĩnh vực dịch vụ tài chính nói riêng và nền kinh tế nói chung Tuy nhiên, nó cũng có những điểm khác biệt so với các ngành khác do những nét đặc thù riêng của ngành bảo hiểm Theo phân loại của WTO thì bảo hiểm là một trong ba phân ngành lớn của dịch vụ tài chính và thuộc ngành nhậy cảm của nền kinh tế Chính vì vậy, trong quá trình đàm phán gia nhập WTO, lĩnh vực dịch
vụ bảo hiểm là một trong những lĩnh vực được các nước thành viên quan tâm và yêu cầu cao về mức độ mở cửa thị trường này cho các nhà đầu tư nước ngoài Nguyên nhân chính vì đây là ngành có thế mạnh của các nước phát triển, tiềm năng khai thác thị trường bảo hiểm tại Việt Nam còn rất lớn, nhất là trong điều kiện nền kinh tế tiếp tục có bước tăng trưởng tốt như hiện nay
Kết quả đàm phán của Việt Nam đã đưa ra các cam kết được coi là ưu đãi hơn nhiều
so với các thành viên khác (ngay cả Campuchia là nước kém phát triển hơn Việt Nam cũng chấp nhận cam kết mở cửa tự do hơn) Từ kết quả đàm phán đó chúng ta có những thuận lợi
cơ bản đó là:
- Lộ trình thực thi các cam kết cũng như những gì chúng ta đã chuẩn bị trước đó giúp các công ty bảo hiểm trong nước chủ động tổ chức, sắp xếp lại hoạt động, nâng cao năng lực cạnh tranh với các đối tác nước ngoài
- Việc đa dạng hoá các loại hình kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam sẽ làm cho thị trường sôi động hơn, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của người tham gia bảo hiểm
- Công ty bảo hiểm trong nước có cơ hội học hỏi, nâng cao năng lực quản lý và điều hành của các công ty bảo hiểm lớn trên thế giới khi tham gia cùng hợp tác đầu tư
Bên cạnh đó cũng có những khó khăn hạn chế cho các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước đó là:
- Thế mạnh về kinh doanh bảo hiểm của các nước phát triển là áp lực cạnh tranh đối với các doanh nghiệp trong nước
- Biến động về nhân sự giữa các công ty bảo hiểm, vì sự thâm nhập thị trường Việt Nam kèm theo đó là việc các công ty nước ngoài thu hút nhân lực có kinh nghiệm đang làm việc tại Việt Nam
- Thị trường với sự có mặt của các công ty bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài là sức
ép đối với các cơ quan quản lý nhà nước lĩnh vực này, bao gồm yêu cầu phải đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng, khả năng giải quyết tranh chấp, thị trường bị chia cắt là vấn đề khó khăn trong việc ngăn ngừa rủi ro mang tính hệ thống
b Về thực tiễn
Hệ thống pháp luật về kinh doanh bảo hiểm Việt Nam được quy định chủ yếu trong LKDBH và một số Luật khác như Bộ Luật dân sự, Luật hàng hải, Luật hàng không dân dụng, Luật giao thông đường thuỷ nội địa và các văn bản hướng dẫn thi hành thời gian qua đã góp phần ổn định và phát triển thị trường bảo hiểm trong nước Tốc độ tăng trưởng ngành dịch vụ bảo hiểm đạt 23%/năm Tính đến tháng 6/2008, toàn thị trường đã có 41 DN hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm, gồm 23 DN bảo hiểm phi nhân thọ, 9 DN bảo hiểm nhân thọ, 8 DN môi giới bảo hiểm và 1 DN tái bảo hiểm Nhiều DNBH nước ngoài được thành lập và hoạt động như AIG (Mỹ), Prevoir (Pháp), ACE life (Mỹ), NewJork life (Mỹ), Daiichi (Nhật Bản) Phạm
vi hoạt động của các DN chủ yếu trên thị trường nội địa, doanh thu xuất khẩu các dịch vụ không cao, đạt khoảng 0,5 triệu USD, chủ yếu là dịch vụ bảo hiểm hàng hoá xuất khẩu và tái bảo hiểm [12]
Như vậy, pháp luật Việt Nam đã cho phép thành lập các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoạt động từ trước khi chúng ta thực hiện cam kết gia nhập WTO Nhưng theo cam kết gia nhập WTO, phương thức kinh doanh bảo hiểm không chỉ đơn thuần là thành lập các DNBH tại thị trường nội địa mà còn có những phương thức kinh doanh khác như hoạt động của các chi
Trang 3nhánh, cung cấp dịch vụ bảo hiểm qua biên giới mà không có sự hiện diện của các DN tại Việt Nam Những phương thức mới đó hiện nay chưa phát triển mạnh và chúng ta cũng chưa có cơ chế để điều chỉnh, giám sát Bên cạnh đó, tác động của hội nhập làm cho các DN đẩy nhanh cạnh tranh nhằm chiếm lĩnh thị trường Chất lượng đang bị xếp thứ hai sau số lượng Đằng sau sự cạnh tranh là sự vi phạm các cam kết của các DNBH với nhau, vi phạm các quy định về cạnh tranh của pháp luật
Nhận thức tầm quan trọng của việc xây dựng cơ chế điều chỉnh của pháp luật đối với lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 16/2007/NQ-CP ngày
27/02/2007 đề ra chương trình hành động trong thời gian tới, trong đó nêu: “Ngành tài chính
cần phải điều chỉnh bổ sung các quy định về điều kiện kinh doanh trong các lĩnh vực chứng khoán, ngân hàng, bảo hiểm, quỹ đầu tư và các dịch vụ tài chính khác, phù hợp với chuẩn mực và thông lệ quốc tế, góp phần nâng cao khả năng dự báo, phòng ngừa, giảm thiểu các rủi ro và bất ổn có thể xảy ra, bảo đảm sự phát triển lành mạnh, hiệu quả của thị trường tài chính tiền tệ”
Tháng 3/2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định 45, 46 sửa đổi Nghị định 42, 43 năm
2001 hướng dẫn LKDBH Đồng thời Bộ Tài chính cũng đã có các Thông tư, Quyết định triển khai các sản phẩm bảo hiểm mới, phù hợp với cam kết gia nhập WTO Tuy nhiên, trước sức
ép phát triển của thị trường tài chính hiện nay cũng như so sánh với các chuẩn mực quốc tế chúng ta vẫn còn nhiều hạn chế, tồn tại Để tạo đà cho sự phát triển, phát huy thế mạnh hiện
có của các doanh nghiệp trong nước yêu cầu đặt ra hiện nay là phải có hệ thống pháp luật hoàn thiện, đủ mạnh để kiểm soát được hoạt động đa dạng của các DNBH, tạo điều kiện để các DN cạnh tranh lành mạnh Đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng các sản phẩm bảo hiểm Việc nghiên cứu và tiếp tục sửa đổi, bổ sung hoàn thiện luật kinh doanh bảo hiểm là yêu cầu hết sức cấp thiết
Để góp phần trong việc nghiên cứu, đưa ra các định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam, đảm bảo mục tiêu, định hướng trên, tác giả
chọn đề tài luận văn tốt nghiệp là: “Pháp luật về tổ chức và hoạt động kinh doanh bảo
hiểm của Việt Nam trong tiến trình thực hiện các cam kết gia nhập WTO” Ngoài phần
mở đầu và kết luận, nội dung đề tài được chia thành 3 chương gồm:
Chương 1 Những vấn đề chung về tổ chức và hoạt động kinh doanh bảo hiểm
Chương 2 Nội dung chủ yếu của pháp luật về tổ chức và hoạt động kinh doanh bảo
hiểm ở Việt Nam
Chương 3 Tiếp tục việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam về tổ chức và hoạt động kinh
doanh bảo hiểm
2 Mục đích của đề tài
Việc nghiên cứu đề tài này nhằm tìm hiểu, cung cấp cho người đọc những kiến thức pháp luật về tổ chức và hoạt động kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam hiện hành và định hướng hoàn thiện do tác động của cơ chế hội nhập cũng như đáp ứng sự phát triển của kinh tế-xã hội Việt Nam hiện nay
Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ đặt ra là:
- Nghiên cứu các quy định của WTO liên quan đến ngành KDBH
- Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về tổ chức và hoạt động kinh doanh bảo hiểm
- Nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển ngành bảo hiểm trên thế giới, tình hình phát triển của ngành kinh doanh bảo hiểm Việt Nam hiện nay, thực trạng pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này Từ đó đề ra các giải pháp hoàn thiện trong thời gian tới Đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của thị trường này cũng như các cam kết gia nhập WTO
3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Trang 4Đề tài tập trung nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của các loại hình kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam; không bao gồm các tổ chức bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm tiền gửi và các loại bảo hiểm do Nhà nước thực hiện không nhằm mục đích kinh doanh
4 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn thị trường bảo hiểm các khu vực trên thế giới, kinh nghiệm pháp luật của các nước EU và Trung Quốc, so sánh đối chiếu với các quy định của pháp luật hiện hành của Việt Nam Tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt, đánh giá vị trí ngành bảo hiểm Việt Nam so với thế giới và khu vực Sử dụng kết hợp các phương pháp tổng hợp, thống kê, so sánh, phân tích để nghiên cứu và giải quyết các vấn đề Dùng phương pháp suy luận và tư duy biện chứng để đưa ra các đề xuất mang tính định hướng về pháp luật kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam
1.1.1.2 Bảo hiểm dưới hình thức cho vay nặng lãi:
Ở Babylon (khoảng l.700 năm TCN) và AThen (khoảng 500 năm TCN) Hoạt động cho vay mạo hiểm lớn này tồn tại khá lâu và phổ biến ở nhiều khu vực trên thế giới, tại Rôme
nó kéo dài đến tận thời kỳ Trung cổ – thời kỳ thống trị của nhà thời Thiên chúa giáo [10, 19]
1.1.1.3 Thỏa thuận ràng buộc trách nhiệm và quyền lợi của các bên:
Có 2 phương pháp đã được đưa ra để thực hiện đó là:
* Hình thức cổ phần
* Hình thức thông qua tổ chức bảo hiểm chuyên nghiệp
- Các loại bảo hiểm khác: Cuối thế kỷ 19, cùng với sự phát triển của nền sản xuất đại công nghiệp cơ khí, hàng loạt các nghiệp vụ bảo hiểm đã xuất hiện và phát rất nhanh như bảo hiểm tai nạn, bảo hiểm ô tô, máy bay, bảo hiểm trách nhiệm dân sự [10,20]
1.1.2 Sự phát triển ngành KDBH thế giới:
1.1.2.1 Thị trường bảo hiểm Châu Âu:
Châu Âu được mệnh danh là cái nôi của bảo hiểm hiện đại, với bề dày kinh nghiệm và quy mô tổ chức lớn nhất thế giới, tốc độ phát triển nhanh, ổn định với nhiều tập đoàn bảo hiểm hàng đầu thế giới như AXA, UAP (Pháp), Allianz (Đức), Prudential (Anh)
Bảng 1.1 Doanh thu bảo hiểm của các nước thuộc EU năm 2007
Nước GDP/người
(Euro)
Dân số (Triệu người)
Phí BH/GDP (%)
Phí BH/dân
số (Euro)
Tổng phí
BH (Triệu Euro)
Tỷ lệ phí BHNT/tổng phí BH (%)
Trang 5(Nguồn: Word Insurance report 2007 – www.capgemini.com)
Thị trường bảo hiểm ở Châu âu có đặc điểm chung là:
- Kênh phân phối sản phẩm bảo hiểm nhân thọ thông qua hình thức phối hợp giữa công ty bảo hiểm và ngân hàng (Bancassurance) chiếm ưu thế hơn so với kênh phân phối truyền thống [76]
- Nhiều thị trường bảo hiểm trưởng thành trở nên bão hoà, và về cơ bản, hầu hết các nhu cầu bảo hiểm hiện nay của khách hàng đã được đáp ứng [64]
- Thị trường bảo hiểm Châu Âu đang chuyển dần từ trạng thái tĩnh sang trạng thái động, thể hiện qua việc thay đổi các hợp đồng bảo hiểm của khách hàng tăng lên ở một số quốc gia [65]
- Dân số các nước Châu Âu đang ngày càng già đi, số dân ở độ tuổi 65 và trung bình dân số trong độ tuổi từ 15-65 hiện nay có tỷ lệ từ 25-30% và ước tính đến năm 2050 sẽ ở con
số 50%, điển hình như nước Italia, Thổ Nhĩ Kì con số này là xấp xỉ 70% [65] Do đó, trong tương lai ngành bảo hiểm sẽ đẩy mạnh hướng kinh doanh phù hợp với độ tuổi của dân số trong tương lai như đẩy mạnh các hoạt động đầu tư vào dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, giải trí…
- Các Công ty bảo hiểm ở thị trường bão hoà đang tập trung mở rộng thị trường thông qua việc đầu tư góp vốn liên doanh hoặc thành lập các Công ty bảo hiểm ở thị trường tiềm năng (đặc biệt là khu vực Châu Á)
1.1.2.2 Thị trường bảo hiểm Châu Mỹ:
Thị trường bảo hiểm Châu Mỹ được chia thành Bắc Mỹ và Mỹ La Tinh, trong đó phát triển mạnh mẽ nhất phải kể đến là ngành bảo hiểm Mỹ và Canada
- Thị trường bảo hiểm Mỹ: Là thị trường bảo hiểm có quy mô lớn nhất thế giới, năm
2007, doanh thu phí bảo hiểm của Mỹ đạt 1.668 tỷ USD, bằng 9% GPD nước Mỹ và chiếm 41% tổng doanh thu phí bảo hiểm toàn thế giới [64]
- Thị trường bảo hiểm Canada: Thị trường bảo hiểm Canada là một trong 10 nước
phát triển của thế giới, doanh thu phí bảo hiểm năm 2007 đạt 100.398 triệu USD, bằng 7% GDP, chiếm 2,47% tổng phí bảo hiểm thế giới [20,64]
- Thị trường bảo hiểm Châu Mỹ La Tinh: Phát triển mạnh nhất ở khu vực là Baraxin
với tổng thu phí bảo hiểm năm 2007 đạt 38.786 triệu USD, tăng 27,7% so với năm 2006, chiếm 3%GDP; sau đó là thị trường bảo hiểm Mexico, Chilê [20,64]
1.1.2.3 Thị trường bảo hiểm Châu Á - Thái Bình Dương:
- Tốc độ phát triển ngành bảo hiểm những năm gần đây đạt khá cao, bình quân hàng năm từ 10-15% với thị trường phát triển mạnh mẽ nhất là Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồngkông, Đài Loan, Singapore, Trung Quốc Riêng tổng phí bảo hiểm của Nhật bản năm 2007 đạt 424,83 tỷ USD, chiếm 10,46% tổng phí bảo hiểm thế giới, đứng thứ 3 sau Mỹ và Anh Tuy nhiên, sự chênh lệch giữa các nước phát triển trong khu vực so với các nước đang phát triển như Việt Nam, Philippin, Inđônêxia đang còn một khoảng cách khá xa (Chi tiết xem bảng 1.2) [77]
Bảng 1.2 Một số chỉ tiêu ngành bảo hiểm Châu Á 2004-2007 (USD)
USD/
Người
Tổng phí (triệu
USD/
Người
Tổng phí (triệu
USD/
Người
Tổng phí (triệu
Trang 6USD) USD) USD) USD)
(Nguồn: World Insurance report 2004-2007- website: www.Swissre.com)
- Các sản phẩm bảo hiểm ngày càng đa dạng và được cải tiện phù hợp với chuẩn hoá của quốc tế Đặc biệt là sản phẩm liên kết đầu tư (Unit-link) được sự chấp nhận và ưa chuộng của khách hàng [80]
- Đối với bảo hiểm phi nhân thọ, nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới vẫn chiếm vị trí chủ đạo, doanh thu phí bảo hiểm từ sản phẩm này hàng năm chiếm trung bình từ 50-70% tổng doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ [79]
- Kênh phân phối phối hợp giữa ngân hàng-bảo hiểm (bancassurance), đang dần chiếm ưu thế
- Quá trình tự do hoá cạnh tranh ngày càng được các nước nới rộng, tạo điều kiện cho
sự liên doanh, liên kết giữa các Công ty bảo hiểm trên thế giới và sự thâm nhập thị trường của các doanh nghiệp bảo hiểm lớn
- Mô hình quản lý các doanh nghiệp bảo hiểm ngày càng chuyên nghịêp hơn thông qua sự chuyển đổi cơ chế quản lý vốn dựa trên khả năng thanh toán sang cơ chế quản lý dựa trên phân tích rủi ro (risk-based capital regulatory regime)
1.1.3 Sự hình thành và phát triển ngành KDBH tại Việt Nam:
1.1.3.1 Trước năm 1986:
1.1.3.2 Từ năm 1986 đến nay:
1.2 Khái niệm và những nguyên tắc cơ bản trong kinh doanh bảo hiểm:
1.2.1 Khái niệm:
1.2.2 Một số thuật ngữ chuyên ngành bảo hiểm:
1.2.3 Các nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm:
1.2.3.1 Nguyên tắc chỉ bảo hiểm sự rủi ro, không bảo hiểm sự chắc chắn (fortuity not certainty):
1.2.3.2 Nguyên tắc trung thực tuyệt đối (utmost good faith):
1.2.3.3 Nguyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm (insurable interest):
1.2.3.4 Nguyên tắc bồi thường (indemnity):
Trang 71.2.3.5 Nguyên tắc thế quyền (subrogation):
1.2.4 Các loại hình bảo hiểm:
1.2.4.1 Phân theo mục đích hoạt động:
Bảo hiểm xã hội (social insurance):
Bảo hiểm thương mại (commercial insurance):
1.2.4.2 Phân theo đối tượng được bảo hiểm:
Bảo hiểm con người:
Bảo hiểm tài sản:
Bảo hiểm trách nhiệm dân sự:
1.2.4.3 Phân theo trách nhiệm pháp lý:
Bảo hiểm bắt buộc:
Bảo hiểm tự nguyện:
1.2.5 Các hình thức kinh doanh bảo hiểm:
1.2.5.1 Kinh doanh bảo hiểm gốc:
1.2.5.2 Kinh doanh tái bảo hiểm:
1.2.5.3 Kinh doanh môi giới bảo hiểm:
1.3 Vai trò của bảo hiểm đối với sự phát triển kinh tế - xã hội:
1.3.1 Nhanh chóng bù đắp thiệt hại, khắc phục tổn thất gây ra cho đối tượng thụ hưởng bảo hiểm khi gặp rủi ro được bảo hiểm:
1.3.2 Tăng cường công tác đề phòng và hạn chế tổn thất xảy ra trong sinh hoạt, sản xuất kinh doanh:
1.3.3 Là kênh huy động vốn lớn đầu tư trở lại nền kinh tế quốc dân:
1.3.4 Ngành bảo hiểm góp phần hỗ trợ các khoản chi ngân sách nhà nước cho nền kinh tế:
1.3.5 Tạo tâm lý an tâm của tổ chức, cá nhân khi tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là những ngành có hệ số rủi ro cao khi đã thực hiện việc mua bảo hiểm: 1.3.6 Góp phần đảm bảo an toàn vốn cho các ngành kinh tế khác, có khả năng phục hồi nhanh sau khi xảy ra các thiệt hại:
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Ngành bảo hiểm thế giới đã ra đời từ rất sớm trước công nguyên, đáp ứng nhu cầu chia sẻ rủi ro của con người trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt hàng ngày Quá trình phát triển của ngành bảo hiểm luôn luôn gắn liền với sự phát triển của các ngành kinh tế khác, và đóng góp một vai trò hết sức quan trọng cho sự thành công của các ngành kinh tế, nhất là các ngành có yếu tố rủi ro cao Với vai trò là công cụ bổ trợ cho các ngành kinh tế khác, đòi hỏi ngành bảo hiểm phải luôn chủ động được hoạt động kinh doanh của mình, chi trả kịp thời và đầy đủ các rủi ro, tổn thất xảy ra đối với khách hàng Do đó, cơ chế kiểm tra, giám sát của hệ thống pháp luật đối với hoạt động bảo hiểm cũng đòi hỏi phải hết sức chặt chẽ, thận trọng Với sự chênh lệch về bề dày kinh nghiệm ngành bảo hiểm Việt Nam
và bảo hiểm các nước phát triển trên thế giới, việc nghiên cứu và vận dụng những kinh nghiệm, tinh hoa đó vào Việt Nam là hết sức cần thiết, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, khi chúng ta đang hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới Đồng thời qua đó, chúng ta cũng có những bài học từ các nước phát triển để đưa ra những quy định thận trọng, giúp ngành kinh doanh bảo hiểm trong nước phát triển ổn định và có sự độc lập tương đối của nó đối với thị trường bảo hiểm bên ngoài
Chương 2 NỘI DUNGCHỦ YẾU CỦA PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM
******************
2.1 Quy định pháp luật hiện hành về tổ chức và hoạt động kinh doanh bảo hiểm:
Trang 82.1.1 Hệ thống các văn bản pháp luật:
2.1.2 Nguyên tắc áp dụng luật:
2.1.2.1 Áp dụng các Điều ước quốc tế:
2.1.2.2 Áp dụng luật Việt Nam:
2.1.2.3 Áp dụng tập quán quốc tế:
2.1.3 Chủ thể tham gia thị trường bảo hiểm:
2.1.3.1 Người tham gia bảo hiểm:
2.1.3.2 Doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm:
2.1.3.3 Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm:
2.1.3.4 Đại lý bảo hiểm:
2.1.3.5 Văn phòng đại diện của DNBH, DNMGBH nước ngoài:
2.1.3.6 Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam (A.V.I):
Quy tắc, điều khoản, biểu phí bảo hiểm:
Hoa hồng bảo hiểm:
2.1.4.6 Tái bảo hiểm:
2.1.5 Cơ cấu tổ chức DNBH:
2.1.5.1 Tiêu chuẩn đối với người quản lý, điều hành:
Điều 13 Nghị định 45/2007/NĐ-CP
2.1.5.2 Chuyên gia tính toán:
Điểm 3 mục IV Thông tư 155/2007/TT-BTC
2.1.5.3 Tổ chức bộ máy kiểm tra, kiểm soát nội bộ:
Điểm 2 mục IV Thông tư 155/2007/TT-BTC
2.1.6 Đầu tư vốn của DNBH
Luật KDBH 2000, Điều 98 đã ghi nhận quyền đầu tư vốn của các DNBH, sau khi đã đáp ứng được yêu cầu chi trả thường xuyên cho các cam kết theo HĐBH Theo quy định tại mục 3 Chương II Nghị định 46/2007/NĐ-CP, trong quá trình đầu tư, các doanh nghiệp phải tuân thủ một số quy định sau:
2.1.6.1 Nguồn vốn và hình thức đầu tư:
Nguồn vốn đầu tư:
- Nguồn vốn chủ sở hữu;
- Nguồn vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm:
- Các nguồn hợp pháp khác theo quy định của pháp luật
Hình thức đầu tư:
2.1.6.2 Lĩnh vực đầu tư:
* Đầu tư trong nước
* Đầu tư ra nước ngoài
Trang 9toàn bộ chương II với 49 điều (điều 12 – 57; điều 74-76) và Bộ luật hàng hải dành toàn bộ chương XVI với 33 điều (điều 224-257) quy định về HĐBH
2.1.9 Giải thể, phá sản, thu hồi giấy phép hoạt động:
2.2 Tác động của việc gia nhập WTO đến tổ chức và hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam:
2.2.1 Nguyên tắc pháp lý nền tảng của WTO:
Về phương diện pháp lý, Định ước cuối cùng của vòng đàm phán Uruguay ký ngày 15/4/1999 tại Marrakesh là một văn kiện pháp lý có phạm vi điều chỉnh rộng và có tính chất
kỹ thuật pháp lý phức tạp trong luật pháp quốc tế Tuy nhiên, xuyên suốt các quy định đó thể hiện những nguyên tắc pháp lý nền tảng sau 1
:
2.2.1.1 Nguyên tắc tối huệ quốc (Most Favoured Nation – MFN):
2.2.1.2 Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (National Treatment – NT):
2.2.1.3 Nguyên tắc mở cửa thị trường:
2.2.1.4 Nguyên tắc cạnh tranh công bằng:
2.2.2 Cam kết gia nhập WTO của Việt Nam lĩnh vực bảo hiểm:
2.2.2.1 Cam kết chung:
- Đối với việc tham gia hoạt động của các doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam
- Sự di chuyển của các thể nhân vào Việt Nam làm việc hoặc thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại
2.2.2.2 Cam kết cụ thể:
- Cho phép các DNBH ở nước ngoài được cung cấp sản phẩm bảo hiểm qua biên giới cho các tổ chức, cá nhân tại Việt Nam trong các trường hợp:
- Không hạn chế quyền tiêu dùng các sản phẩm bảo hiểm ở nước ngoài:
- Không hạn chế sự hiện diện thương mại của các DNBH nước ngoài tại Việt Nam, ngoại trừ trường hợp sau:
- Cam kết về sự hiện diện của các thể nhân tại Việt Nam:
2.2.3 Tác động của cam kết gia nhập WTO vào ngành kinh doanh bảo hiểm Việt Nam:
2.2.3.1 Tác động đến thị trường bảo hiểm:
2.2.3.2 Tác động đến hệ thống pháp luật:
2.2.4 Phát triển của ngành kinh doanh bảo hiểm Việt Nam sau 2 năm gia nhập WTO:
2.2.4.1 Số lượng các DNBH tăng nhanh, đa dạng về loại hình doanh nghiệp:
Bảng 2.1: DNBH Việt Nam giai đoạn 2001 - 2008
Trang 10và website Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam - www.avi.org.vn
2.2.4.2 Các doanh nghiệp tăng cường hợp tác, củng cố tiềm lực tài chính nhằm nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường
2.2.4.3 Hiệu quả hoạt động của các DNBH ngày càng nâng lên, thị trường được mở rộng với nhiều sản phẩm đa dạng và phong phú, đáp ứng nhu cầu cơ bản của thị trường
2.2.4.4 Các DNBH trong nước đang chiếm ưu thế về doanh thu trên thị trường
2.2.4.5 Hợp tác giữa các DNBH thông qua vai trò trung tâm là Hiệp Hội bảo hiểm Việt Nam đạt được nhiều thành quả, góp phần ổn định và lành mạnh hoá môi trường kinh doanh bảo hiểm
2.3 Những tồn tại, hạn chế của hệ thống pháp luật về tổ chức, hoạt động kinh doanh bảo hiểm hiện nay:
2.3.1 Cam kết gia nhập WTO ngành kinh doanh bảo hiểm phát sinh sự kiện pháp lý mới chưa được pháp luật điều chỉnh:
2.3.2 Một số quy định của pháp luật chưa có văn bản hướng dẫn triển khai thực hiện:
- Gồm các quy định liên quan đến đấu thầu bảo hiểm; hỗ trợ chính sách bảo hiểm cho các hộ ngư dân và một số quy định về trách nhiệm tham gia bảo hiểm của các tổ chức và cá nhân theo quy định của một số luật chuyên ngành có liên quan
2.3.3 Điều kiện để DNBH nước ngoài đầu tư thành lập DNBH tại Việt Nam thấp hơn
so với tiêu chuẩn một số nước thành viên WTO:
2.3.4 Quy định ràng buộc trách nhiệm của DNBH tham gia hoạt động đầu tư chưa chặt chẽ:
2.3.5 Bảo hiểm tương hỗ là một định chế phục vụ nhu cầu bảo hiểm của người có thu nhập thấp chưa được chú trọng triển khai thực hiện một cách có hiệu quả
2.3.6 Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong KDBH mức phạt còn nhẹ, chưa
sự của chủ xe cơ giới và bảo hiểm cháy nổ bắt buộc đã tạo hành lang pháp lý khá đầy đủ góp phần thực hiện các cam kết gia nhập WTO và đáp ứng nhu cầu thực tiễn của thị trường
Kết quả thị trường bảo hiểm sau 2 năm gia nhập WTO đã có tốc độ phát triển khá nhanh cả về số lượng doanh nghiệp, vốn đầu tư, đối tượng tham gia và các sản phẩm bảo hiểm cung cấp trên thị trường Đóng góp vào GDP năm 2007 đạt 2,11%, doanh thu phí bảo hiểm đạt 17.696 tỷ đồng, tăng 20,5% so với năm 2006 Hình thành cơ chế kiểm soát các doanh nghiệp trên thị trường, phòng tránh được các rủi ro cho thị trường bảo hiểm Thể hiện qua việc biến động của thị trường bảo hiểm thế giới thời gian qua, nhất là ở Mỹ ít có sự tác động tiêu cực đến thị trường Việt Nam
Bên cạnh những thành tựu đạt được, pháp luật về kinh doanh bảo hiểm vẫn có những bất cập, tồn tại Thể hiện qua việc sửa đổi chưa đồng bộ các quy định, chưa có các quy định kiểm soát phương thức cung cấp sản phẩm qua biên giới xuất hiện sau khi gia nhập WTO,
Trang 11một số sản phẩm bảo hiểm bắt buộc thuộc trách nhiệm xây dựng quy chế triển khai của Bộ Tài chính chưa có văn bản hướng dẫn thực hiện Để đạt được mục tiêu tăng trưởng doanh thu phí bảo hiểm năm 2010 chiếm 4,2% GDP như kế hoạch Chính phủ đề ra thì chúng ta phải định hướng được sự phát triển của thị trường, từ đó định hướng xây dựng và hoàn thiện pháp luật, có giải pháp để thực hiện một cách có hiệu quả
Chương 3 TIẾP TỤC VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT
ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM
******************
3.1 Kinh nghiệm phát triển ngành bảo hiểm của EU và Trung Quốc:
3.1.1 Kinh nghiệm phát triển ngành KDBH các nước thuộc khối liên minh Châu Âu (EU):
- Về cơ quan quản lý nhà nước chuyên trách ngành bảo hiểm:
- Về loại hình doanh nghiệp:
- Về điều kiện cấp phép hoạt động DN:
- Về quyền đầu tư của DNBH:
- Hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm:
- Bảo hiểm bắt buộc:
- Tính minh bạch trong hoạt động kinh doanh:
Theo các chuyên gia bảo hiểm, để ngành bảo hiểm phát triển an toàn và mạnh mẽ, hệ thống pháp luật phải có các quy định rõ về quyền và nghĩa vụ của các công ty bảo hiểm ở ba tiêu chí chính đó là: Tiêu chí về định lượng, tiêu chí về khả năng kiểm soát và tiêu chí về sự công khai minh bạch Các tiêu chí đó được xem xét ở các khía cạnh cụ thể theo mô tả tại bảng sau:
Bảng 3.1: Tiêu chí xem xét đánh giá công ty bảo hiểm
Ba tiêu chuẩn cần đạt được
Tiêu chuẩn I Tiêu chuẩn II Tiêu chuẩn III
Yêu cầu về định lượng Kiểm soát Sự công khai minh bạch
* Tài sản và các khoản nợ -
Doanh thu - Giá trị doanh
nghiệp
* Giá trị đầu tư
* Yêu cầu chủ yếu về khả
năng thanh toán (SCR)
-Theo tiêu chuẩn tính toán
của Châu Âu; hoặc
-Theo phương thức nội địa
* Yêu cầu về nguồn vốn điều
lệ tối thiểu (MCR)
* Các quỹ riêng
* Hệ thống quản trị, giám sát
* Khả năng thanh toán thuế
và các rủi ro riêng (ORSA)
* Quy trình kiểm tra giám sát
* Sự can thiệp của hệ thống giám sát
* Báo cáo về năng lực tài chính và khả năng thanh toán công bố hàng năm
* Thông tin cung cấp cho mục đích giám sát
Trang 12(Nguồn: Insurancedigest, đăng tải trên website: www.pwc.com/insurance)
3.1.2 Kinh nghiệm phát triển bảo hiểm ở Trung Quốc
Trung Quốc chính thức gia nhập WTO vào ngày 11/12/2001, đối với ngành kinh doanh bảo hiểm, Trung Quốc đã đạt được sự cam kết với lộ trình khá chặt chẽ và thận trọng, thể hiện qua các điểm sau:
* Hạn chế khi cấp phép các DNBH nước ngoài thành lập tại Trung Quốc (hiện diện thương mại)
* Hạn chế về địa lý khi cung cấp dịch vụ bảo hiểm của DNBH nước ngoài, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm nước ngoài
* Hạn chế về lĩnh vực kinh doanh
* Tăng cường cơ chế giám sát hoạt động bảo hiểm
Biểu đồ 3.1: Sự phát triển các công ty bảo hiểm Trung quốc 2001-2006
(Nguồn: China market review 9/2006, website: www.asiainsurancereview.com)
3.2 Phương hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam về tổ chức và hoạt động kinh doanh bảo hiểm:
3.2.1 Cơ sở xây dựng và hoàn thiện pháp luật:
3.2.1.1 Các văn bản quy định của Nhà nước:
- Quyết định 175/2003/QĐ-TTg ngày 29/8/2003 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam giai đoạn 2003-2010
- Nghị quyết số 16/2007/NQ-CP ngày 27/02/2007 của Chính phủ ban hành chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của WTO
- Quyết định số 313/QĐ-BTC ngày 25/02/2008 của Bộ Tài chính về kế hoạch triển khai thực hiện các cam kết WTO
Theo đó, mục tiêu phát triển của ngành kinh doanh bảo hiểm phấn đấu đến năm