1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận Chính sách đối ngoại của Việt Nam với ASEAN giai đoạn 1986 – 2016

30 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chính sách đối ngoại của Việt Nam với ASEAN giai đoạn 1986 – 2016
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Chính trị quốc tế
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2016
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 48,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đổi mới là một trong những nhiệm vụ cấp thiết trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, nhất là trong bối cảnh xu thế toàn cầu hóa với những đòi hỏi hội nhập ngày càng mạnh mẽ của mỗi quốc gia với cộng đồng quốc tế. Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công cuộc đổi mới toàn diện mà Việt Nam tiến hành bắt đầu từ năm 1986 là đổi mới trong công tác đối ngoại– bộ phận hợp thành đường lối đổi mới của Đảng cũng dần được điều chỉnh, thay đổi và phát triển, nhằm thực hiện nhiệm vụ củng cố và giữ vững hòa bình, tập trung xây dựng và phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Có thể nói, chính sách đối ngoại của Việt Nam thời điểm này là phù hợp với xu thế của thế giới và nguyện vọng chung của các nước Đông Nam Á nên đã được sự hưởng ứng thuận lợi từ các nược thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) – một liên minh chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội quan trọng của các quốc gia khu vực này. Từ quan hệ đối đầu, nghi kỵ và lạnh nhạt, có lục căng thẳng, chính sách đối ngoại Việt Nam đã được điều chỉnh, thay đổi, cùng các bên tìm kiếm biện pháp hòa giải và từng bước tiến tới hội nhập, kết thúc bằng việc Việt Nam gia nhập ASEAN năm 1995.Thực tế đã cho thấy, qua 30 năm đổi mới, chính sách đối ngoại của Việt Nam với ASEAN đã có những hình thức đối ngoại mới phù hợp với xu thế thời đại, đáp ứng được yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước; thu được những thành tựu to lớn, góp phần quan trọng phá vỡ thế bao vây, cô lập về chính trị, dỡ bỏ cấm vận kinh tế, đưa Việt Nam hội nhập với khu vực và thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập dân tộc, hợp tác và phát triển. Vì vậy, học viên lựa chọn nội dung “Chính sách đối ngoại cảa Việt Nam với ASEAN giai đoạn 1986 – 2016” là nội dung tiểu luận cho môn học.

Trang 1

MỤC LỤC Mở đầu

Nội dung

I SỰ RA ĐỜI CỦA ASEAN VÀ QUÁ TRÌNH GIA NHẬP ASEAN CỦA VIỆT NAM

1 Những nhân tố tác động đến sự ra đời của ASEAN 2

2 Sự ra đời và phát triển của ASEAN

3 Quá trình Việt Nam gia nhập ASEAN

II CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM VỚI ASEAN GIAI ĐOẠN 1986 – 2016

1 Chính sách đối ngoại của Việt Nam với ASEAN trong giai đoạn

Trang 2

MỞ ĐẦU

Đổi mới là một trong những nhiệm vụ cấp thiết trong quá trình xây dựng vàphát triển đất nước, nhất là trong bối cảnh xu thế toàn cầu hóa với những đòi hỏihội nhập ngày càng mạnh mẽ của mỗi quốc gia với cộng đồng quốc tế Một trongnhững nhiệm vụ trọng tâm của công cuộc đổi mới toàn diện mà Việt Nam tiếnhành bắt đầu từ năm 1986 là đổi mới trong công tác đối ngoại– bộ phận hợp thànhđường lối đổi mới của Đảng cũng dần được điều chỉnh, thay đổi và phát triển,nhằm thực hiện nhiệm vụ củng cố và giữ vững hòa bình, tập trung xây dựng vàphát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Có thể nói, chính sách đối ngoại của Việt Nam thời điểm này là phù hợp với xu thếcủa thế giới và nguyện vọng chung của các nước Đông Nam Á nên đã được sựhưởng ứng thuận lợi từ các nược thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á(ASEAN) – một liên minh chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội quan trọng của cácquốc gia khu vực này Từ quan hệ đối đầu, nghi kỵ và lạnh nhạt, có lục căng thẳng,chính sách đối ngoại Việt Nam đã được điều chỉnh, thay đổi, cùng các bên tìmkiếm biện pháp hòa giải và từng bước tiến tới hội nhập, kết thúc bằng việc ViệtNam gia nhập ASEAN năm 1995

Thực tế đã cho thấy, qua 30 năm đổi mới, chính sách đối ngoại của Việt Namvới ASEAN đã có những hình thức đối ngoại mới phù hợp với xu thế thời đại, đápứng được yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước; thu được những thành tựu tolớn, góp phần quan trọng phá vỡ thế bao vây, cô lập về chính trị, dỡ bỏ cấm vậnkinh tế, đưa Việt Nam hội nhập với khu vực và thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc

lập dân tộc, hợp tác và phát triển Vì vậy, học viên lựa chọn nội dung “Chính sách đôi ngoai caa Viêt Nam vơi ASEAN giai đoan 1986 – 2016” là nội dung tiểu luận

cho môn học

Trang 3

NỘI DUNG

I SỰ RA ĐỜI CỦA ASEAN VÀ QUÁ TRÌNH GIA NHẬP ASEAN CỦA VIỆT

NAM

1 Những nhân tố tác động đến sự ra đời của ASEAN

1.1 Nhân tố bên ngoài

Năm 1947, Mỹ phát động cuộc chiến tranh lạnh chống Liên Xô và các nước

xã hội chủ nghĩa Chiến tranh lạnh trở thành xu hướng chính chi phối và ảnh hưởngtới hầu hết các sự kiện diễn ra ở các khu vực khác nhau trên thế giới Về cơ bản,Chiến tranh lạnh là sự đối đầu giữa hai siêu cường Liên Xô và Mỹ trên ba nội dung

cơ bản là “ý thức hệ”, “lãnh thổ”, “tổ chức kinh tế - chính trị - quân sự” Hai siêucường ra sức chạy đua vũ trang, đặt thế giới bên bờ của cuộc “chiến tranh hạtnhân” và quá trình tập hợp lực lượng trên thế giới diễn biến phức tạp, ý thức hệ nổilên trở thành yếu tố chủ đạo chi phối các mối quan hệ quốc tế và cũng là ngọn cờtập hợp lực lượng của hai siêu cường để phục vụ cho chiến lược toàn cầu của mỗibên Phần lớn các nước bị lôi kéo vào cuộc ganh đua khốc liệt này và các nướctrong khu vực Đông Nam Á cũng không phải ngoại lệ

Dưới tác động của cuộc Chiến tranh lạnh, khu vực Đông Nam Á vì thếkhông ổn định khi bước vào thập niên 60 của thế kỷ XX Tại khu vực này là cácnước hoặc liên kết với Mỹ để chống lại Liên Xô hoặc đi với Liên Xô chống lại sựcan thiệp của Mỹ Sự việc trên đã đưa tới kết quả khu vực Đông Nam Á bị phântuyến, chia thành hai nhóm nước

Song song với sự phân tuyến ở khu vực nêu trên, qua hệ tam giácc chiếnlược Xô - Mỹ - Trung cũng tác động lớn đến khu vực, làm cho quan hệ giữa cácnước diễn biến phức tạp, lúc hòa bình hữu nghị, lúc căng thẳng, đối đầu và baotrùm lên đó là bầu không khí thiếu tin cậy, nghi kỵ lẫn nhau giữa các nước ĐôngNam Á theo con đường tư bản chủ nghĩa và các nước ở Đông Dương

Trong khi đó, trước sự phát triển phức tạp của quan hệ quốc tế sau Chiếntranh thế giới thứ 2, để tránh bị lôi cuốn vào vòng xoáy của cuộc đối đầu Xô – Mỹ,các quốc gia nhỏ và vừa muốn có tiếng nói mạnh mẽ hơn trong các vấn đề quốc tế

Trang 4

và khu vực, muốn bảo vệ được quyền lợi của từng nước và khu vực, muốn tăngtrưởng kinh tế thông qua tăng cường hợp tác kinh tế, buôn bán và tham gia phâncông lao động quốc tế, đã xuất hiện nhu cầu liên kết lại trong một tổ chức hợp táckhu vực, dẫn đến một xu thế mới – xu thế khu vực hóa trong quan hệ quốc tế xuấthiện Đó là sự ra đời của nhiều tổ chức khu vực như: Liên đoàn Arập (năm 1950);

Tổ chức các nước Trung Mỹ (năm 1951); Thị trường chung Châu Âu (năm 1957);

Tổ chức thống nhất Châu Phi (năm 1965) v.v… Việc thành lập các tổ chức khu vựcnêu trên đã tác động mạnh mẽ, tích cực đến sự ra đời một tổ chức của khu vựcĐông Nam Á

1.2 Nhân tố bên trong

Từ sau Chiến tranh thế giới thứ 2 (năm 1945), các quốc gia ở Đông Nam Á

đã lần lượt giành được độc lập dưới những hình thức khác nhau Sau khi giànhđược độc lập, nhiều nước đã có dự định thành lập một tổ chức khu vực nhằm tạonên sự hợp tác phát triển trên các lĩnh vực kinh tế, khoa học kỹ thuật và văn hóa;đồng thời hạn chế tầm ảnh hưởng của các nước lớn đang tìm cách biến Đông Nam

Á thành “sân sau” của họ Hơn nữa, các nước Đông Nam Á đều là các nước gầnnhau về phương diện địa lý, đều nằm trong một tổng thể “thống nhất trong đadạng”; các nước Đông Nam Á (trừ Thái Lan) đều trải qua ách thống trị của thựcdân phương Tây Quá khứ đầy đau khổ làm cho họ dễ thông cảm nhau hơn Néttương đồng rất cơ bản nữa là nền văn hóa nông nghiệp lúa nước đã để lại nhữngdấu ấn đậm nét trong đời sống và nếp nghĩ của người dân bản địa Đông Nam Á.Những tương đồng về lịch sử, văn hóa là tiền đề quan trọng và tạo điều kiện thuậnlợi cho các nước Đông Nam Á dễ dàng hợp tác, liên kết với nhau trong một tổchức hợp tác khu vực

2 Sự ra đời và phát triển của ASEAN

Dưới tác động của những nhân tố nếu trên và với nhận thức của các nướcĐông Nam Á về nhu cầu hình thành một tổ chức khu vực sẽ thúc đẩy sự tăngtrưởng kinh tế thông qua tăng cường hợp tác kinh tế, buôn bán và phân công laođộng giữa các thành viên Về mặt chính trị xã hội, tổ chức khu vực sẽ giúp củng cốtình đoàn kết trong khu vực, giúp các nước vừa và nhỏ có tiếng nói mạnh mẽ hơn

Trang 5

trong các vấn đề quốc tế.Tổ chức khu vực cũng có thể đưa ra các phương hướnghợp tác để giải quyết có hiệu quả những vấn đề đặt ra cho các nước thành viên.

Ngày 08/8/1967, tại Băng Cốc, Thái lan, năm nước Indonesia, Thái Lan,Malaisia, Phipippines, Singapore đã ký bản Tuyên bố thành lập Hiệp hội các quốcgia Đông Nam Á (Association of Southeast Asian Nations – ASEAN) Ngày08/01/1984, Brunây Đaruxalam được kết nạp vào ASEAN, nâng sốthành viên của Hiệp hội lên thành sáu nước Việt Nam gia nhậpASEAN ngày 28/7/1995 tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEANlần thứ 28 tổ chức tại Brunây Đaruxalam, đưa tổng số thành viêncủa ASEAN lên thành bảy nước Tháng 7/1997, Lào và Mianma trởthành thành viên thứ tám và thứ chín của Hiệp hội Căm-pu-chiagia nhập ASEAN tháng 4/1999, hiện thực hóa ý tưởng thành lậpmột Hiệp hội bao gồm tất cả các quốc gia Đông Nam Á

Từ một tập hợp của các nước nhỏ và vừa, trải qua nhiềuthăng trầm và vượt qua nhiều thách thức, ASEAN ngày nay đã cónhững thay đổi cơ bản, trở thành một thực thể chính trị - kinh tếbao gồm 10 quốc gia Đông Nam Á, liên kết ngày càng sâu rộng vàđóng góp vai trò quan trọng ở khu vực ASEAN đã thực sự trởthành đối tác tích cực, không thể thiếu của các nước và trung tâmlớn trên thế giới, đồng thời là động lực quan trọng thúc đẩy cáctiến trình đối thoại và hợp tác trên nhiều tầng nấc khác nhau ởkhu vực châu Á – Thái Bình Dương Thực tế khẳng định, ASEAN đã

và sẽ tiếp tục là nhân tố quan trọng hàng đầu đối với việc duy trìmôi trường hòa bình, an ninh và hợp tác vì phát triển ở Đồng NamÁ; hỗ trợ đắc lực cho mục tiêu an ninh và phát triển của từng nướcthành viên cũng như cả Cộng đồng Thành công của ASEAN ngàynay là do sự hội tụ của nhiều yếu tố, nhưng trước hết đó là sự chia

sẻ nhiều lợi ích cơ bản cũng như tầm nhìn, quyết tâm chính trịmạnh mẽ và những nỗ lực không mệt mỏi của các nước thànhviên Nguyện vọng chung thiết tha về một khu vực Đông Nam Á

Trang 6

hòa bình, ổn định và hợp tác để phát triển đã tạo động lực và sứcmạnh cho cả 10 quốc gia trong khu vực phát huy những điểmtương đồng, vượt qua những khác biệt về chính trị, kinh tế, vănhóa cũng như những rào cản do lịch sử để lại, gắn kết dưới máinhà chung ASEAN, cùng nhau tạo dựng một tương lai tốt đẹp hơncho mỗi nước cũng như cả khu vực

3 Quá trình Việt Nam gia nhập ASEAN

ASEAN ra đời trong bối cảnh tình hình quốc tế và nội bộnhiều nước trong khu vực có những biến động phức tạp Các nướcASEAN bị tác động nhiều chiều bởi cuộc Chiến tranh lạnh và sựđối đầu giữa hai hệ thống xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa Ởmức độ khác nhau, một số nước trong ASEAN bị chủ nghĩa đếquốc lôi káo, có dính líu đến cuộc chiến tranh do Mỹ tiến hành ởĐông Dương, nen quan hệ giữa Việt Nam với một số nước ASEAN

ở giai đoạn đầu diễn ra không thật sự suôn sẻ Sự thực, ở thời kỳ

đó, Việt Nam nhìn nhận rằng ASEAN được thành lập “với mục đíchtập hợp một số chính phủ tay sai phục vụ chính sách xâm lượccủa Mỹ ở Đông Nam Á”, là “sản phẩm của chính sách xâm lược vàcan thiệp của đế quốc Mỹ” mà “Mỹ định dùng cái Hội ấy để làmnhững việc mà khối quân sự Đông Nam Á không làm được” (GS

Vũ Dương Ninh – PGS.TS Nguyễn Văn Kim (chủ biên): Một số chuyên đề Lịch sử thế giới, Nxb Đại học Quốc gia, H 1997).

Bước vào những năm 1970, các nước ASEAN đưa ra sángkiến thành lập “khu vực hòa bình, tự do, trung lập” (ZOPFAN).Trong quan hệ với Việt Nam, tuyên bố ZOPFAN cũng chính là điểmmốc đánh dấu việc các nước ASEAN chấm dứt ủng hộ Mỹ trongcuộc chiến tranh Việt Nam Từ năm 1972, một số nước ASEAN nhưPhilipines, Malaysia, singapore đã bắt đầu thăm dò khả năng pháttriển quan hệ với Việt Nam cả kinh tế, thương mại và ngoại giao.Đồng thời, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng sẵn sàng đẩy mạnh

Trang 7

quan hệ ngoại giao với các nước ASEAN Tháng 3/1973, Việt Namthiết lập quan hệ ngoại giao với Malaysia và tháng 8/1973 thiếtlập quan hệ ngoại giao với Singapore Trong các năm 1974, 1975,Việt Nam đã đón một số đoàn từ các nước ASEAN tới như đoàn Tổchức Á – Phi của Malaysia, đoàn 26 hạ nghị sỹ Thái Lan (tháng11/1975) Năm 1976, khi Mỹ hoàn toàn thất bại trong chiến tranhxâm lược Việt Nam – Đông Dương, Hội nghị cấp cao đầu tiên củaASEAN họp ở Bali (Indonesia) đã ký “Hiệp ước thân thiện và hợptác – TAC”, khẳng định 5 nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình ở khuvực.

Hiệp ước Bali đánh dấu một bước tiến quan trọng của tổ chứcASEAN trong việc nêu lên những nguyên tắc về tôn trọng chủquyền quốc gia, không dùng vũ lựctrong quan hệ giữa các nước,hợp tác cùng phát triển, xây dựng nền hòa bình và thịnh vượngtrong khu vực

Về phía Việt Nam, trong bối cảnh chiến tranh vừa kết thúc,chúng ta hy vọng một mối quan hệ tốt đẹp sẽ được thiết lập trongkhu vực Do vậy, cùng với sự ra đời của TAC, chính sách đối ngoạicủa Việt Nam đối với khu vực Đông Nam Á lần đầu tiên được thểhiện trong chính sách 4 điểm (ngày 05/7/1976) Trong đó cónhững nguyên tắc cơ bản về việc phát triển quan hệ hữu nghị vàhợp tác với các nước khu vực Đông Nam Á như: “Tôn trọng độclập, chủ quyền, và toàn vẹn lãnh thổ của nhau; cùng tồn tại tronghòa bình, không để lãnh thổ các nước mình cho nước ngoài sửdụng; giải quyết tranh chấp thông qua thương lượng; phát triển

hợp tác khu vực” (Đào Duy Ngọc: ASEAN và sự hội nhập của Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, H.1997).

Chính sách 4 điểm trên là lập trường nguyên tắc trong quan

hệ đối ngoại của Việt Nam đối với các nước trong khu vực Có thểcoi đây là sự đáp ứng nội dung của Hiệp ước Bali Điểm thống

Trang 8

nhất giữa hai văn bản chính là nguyện vọng hòa bình và hữu nghịtrong khu vực, tôn trọng nền độc lập dân tộc và chủ quyền quốcgia, thiết lập sự hợp tác phát triển giữa các nước nhằm làm choĐông Nam Á ngày càng ổn định và phồn vinh.

Tuyên bố 4 điểm có tác động tích cực đối với tình hình ĐôngNam Á Quan hệ Việt Nam – ASEAN từ đó có những bước pháttriển mạnh mẽ, đặc biệt đã có những cuộc viếng thăm lẫn nhaucủa lãnh đạo cấp cao giữa Việt Nam và các nước ASEAN Đến năm

1978, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với cả 5 nước thànhviên ASEAN, dù chưa thiết lập quan hệ chính thức với tổ chứcASEAN

Tuy nhiên, từ năm 1979, sau khi xuất hiện vấn đềCampuchia, quan hệ giữa Việt Nam với các nước ASEAN từng bướcchuyển sang đối đầu Hoạt động của ASEAN lúc này chịu nhiềutác động từ bên ngoài Vì thế, quan hệ Việt Nam – ASEAN giảmsút, hợp tác kinh tế nội bộ ASEAN cũng không có nhiều tiến triển.Trước tình hình đó, Việt Nam vừa đấu tranh với ASEAN về vấn đềCampuchia, vừa triển khai hoạt động ngoại giao, gắn việc giảiquyết vấn đề Campuchia với việc xây dựng khu vực hòa bình, ổnđịnh ở Đông Nam Á, thúc đẩy đối thoại, đẩy lùi đối đầu, phân hóaliên minh của các thế lực thù địch đang lợi dung một số nướcĐông Nam Á trong vấn đề Campuchia để chống Việt Nam, gây bất

ổn khu vực Việt Nam chủ động đưa ra nhiều đề nghị về hòa bình

và hợp tác ở Đông Nam Á trong các hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao

ba nước Đông Dương, tại các hội nghị quốc tế và Diễn đàn Liênhiệp quốc Tháng 7/1982, Việt Nam tuyên bố đơn phương rút quânkhỏi Campuchia, đồng thời đề nghị họp “Hội nghị quốc tế về ĐôngNam Á” với sự tham gia của hai nhóm nước Đông Dương vàASEAN

Trang 9

Thiện chí và chủ động trong quan hệ hợp tác, chủ động rút quân khỏiCampuchia của Việt Nam đã làm cho quan hệ trong khu vực giảm căng thẳng.Ngoài ra, trong bố cảnh một số nước trong khu vực tỏ ra lo ngại về ảnh hưởng lâudài của các nước lớn ở khu vực, đặc biệt là Trung Quốc, do vậy đã chủ trương đốithoại với Việt Nam để tìm giải pháp chính trị hợp lý nhất cho vấn đề Campuchia.Mặt khác, nhiều nước ASEAN còn muốn vượt lên trên vấn đề Campuchia để giảiquyết các vấn đề rộng lớn hơn ở khu vực.

Tháng 7/1991, Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VII đánh giá biếnđộng của thế giới và trịnh trọng đưa ra tuyên bố: Việt Nam muốn là bạn của tất cảcác nước trong cộng đồng thế giới phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển.Đồng thời cũng khẳng định chủ trương thực hiện đường lối đối ngoại rộng mở, đadạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ quốc tế trong đó nhấn mạnh việc pháttriển quan hệ hữu nghị với các nước Đông Nam Á và châu Á – Thái Bình Dương,phấn đấu cho một Đông Nam Á hòa bình, hữu nghị và hợp tác

Đặc biệt kể từ tháng 10/1991, khi Hiệp định Pari về vấn đề Campuchia được

ký kết, đánh dấu sự chấm hết của “thời kỳ Campuchia” trong quan hệ Việt Nam –ASEAN, mở ra một thời kỳ mới – “thời kỳ hợp tác hai bên và xúc tiến để ViệtNam gia nhập ASEAN” Việc ký kết Hiệp định hòa bình Pari về Campuchia đã đặt

ra cho cả Việt Nam lẫn các nước ASEAN nhiều cơ hội và thách thức mới Lần đầutiên sau bao nhiêu năm chiến tranh, xung đột, đối đầu, tất cả các quốc gia và nhândân trong khu vực đã có những cơ hội thật sự để phát triển

Việc tham gia Hiệp ước Bali đã thể hiện cam kết của Việt Nam với nhữngnguyên tắc được chúng ta nếu ra trước đó trong chính sách 4 điểm của mình năm

1976 Điều đó cũng làm tăng sự tin cậy của các nước ASEAN và các nước ngoàikhu vực đối với Việt Nam, góp phần phá thế bao vây cấm vận của Mỹ, và tạothuận lợi thúc đẩy việc thực hiện chính sách mở cửa đã được Việt Nam đề ra

Những cuộc viếng thăm lẫn nhau giữa lãnh đạo các nước Đông Nam Á vàViệt Nam đã làm tăng sự hiểu biết và tin cậy lẫn nhau, xóa dần những thành kiếnnặng nề vốn là di sản của thời kỳ Chiến tranh lạnh để lại.Đặc biệt tháng 10/1993,Tổng Bí thư Đỗ Mười đã thăm Singapore và Thái Lan, chuyến thăm của Tổng Bíthư có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tăng cường quan hệ giữa Việt Nam với các

Trang 10

nước ASEAN Tại Singapore, ông tuyên bố: “Việt Nam coi trọng việc mở rộngquan hệ với các nước láng giềng, với các nước châu Á – Thái Bình Dương, mộtkhu vực phát triển rất năng động, rất coi trọng việc phát triển nhiều mặt với từngnước ASEAN và tổ chức ASEAN nói chung, sẵn sàng gia nhập tổ chức ASEAN

vào thời gian thích hợp” (Vì hòa bình, độc lập và phát triển, Nxb Chính trị quốc

gia, H.1994) Tại Thái Lan, ông đã công bố Chính sách 4 điểm mới của Việt Namđối với khu vực Tuyên bố 4 điểm thể hiện thiện chí của Việt Nam trong việc mởrộng quan hệ với các nước láng giềng, sẵn sàng xây dựng Đông Nam Á trở thànhmột khu vực hòa bình, hợp tác và phát triển Nó phù hợp với sự biến chuyển củatình hình thế giới, đưa nước ta tiến lên một bước trong tiến trình phá thế bao vây,hội nhập cùng thế giới và khu vực

Để tạo môi trường thuận lợi hơn nữa cho sự tham gia của Việt Nam vào quátrình hợp tác khu vực và nhất là vào ASEAN, các nước ASEAN tuyên bố “muốnthấy Việt Nam sớm gia nhập ASEAN” Tháng 7/1994, Hội nghị Bộ trưởng Ngoạigiao ASEAN lần thứ 27 tại Băng Cốc (Thái Lan), các nước ASEAN đã nhất trítuyên bố sẵn sàng công nhận Việt Nam là thành viên chính thức của ASEAN

Tháng 7/1995 đã trở thành dấu mốc mới trong quan hệ đối ngoại của ViệtNam Ngày 11/7/1995, Việt Nam và Hoa Kỳ chính thức tuyên bố bình thường hóaquan hệ giữa hai nước Ngày 17/7/1995, Việt Nam và EU ký Hiệp định khung nêulên những nguyên tắc có bản trong quan hệ giữa hai bên trên mọi lĩnh vực Ngày28/7/1995, tại Thủ đô Bandar Seri Begawan (Brunei), nơi diễn ra Hội nghị AMM-

28 và ARF-2, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 7 của ASEAN

Như vậy, quá trình Việt Nam tham gia ASEAN luôn gắn với nhưng chủtrương lớn về chính sách đối ngoại, hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước, phùhợp với xu thế khu vực hóa ngày càng gia tăng Đây là cột dấu mốc lớn trong tiếntrình mở cửa, hội nhập khu vực và quốc tế của Việt Nam Cánh cửa ASEAN đãgiúp Việt Nam từng bước tháo gỡ thế bao vây, cấm vận, đưa đất nước hòa nhập vàođời sống khu vực và quốc tế

II CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM VỚI ASEAN GIAI ĐOẠN

1986 – 2016

1 Chính sách đối ngoại của Việt Nam với ASEAN trong giai đoạn

Trang 11

1986 – 1996

1.1 Cơ sở điều chỉnh

Tình hình thế giới và khu vực những thập niên cuối của thế kỷ XX có nhữngchuyển động lớn, mang tính bước ngoặc, làm thay đổi cơ bản cục diện chính trị,kinh tế toàn cầu Các nước lớn điều chỉnh chiến lược mạnh mẽ, đẩy mạnh hòa hoãn

và cải thiện quan hệ Từ cuối năm 1989, Liên Xô và mỹ chấm dứt Chiến tranhlạnh Liên Xô bình thường hóa quan hệ hoàn toàn với Trung Quốc

Tiếp đó, khủng hoảng chính trị, kinh tế, xã hội trầm trọng do tư duy trì trệ,sai lầm trong cải tổ đã khiến Liên Xô tan rã, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âusụp đổ Trật tự hai cực bị phá vỡ Quan hệ quốc tế chuyển dần từng bước từ đốiđầu sang đối thoại, hình thành xu thế toàn cầu hóa, đa cực, đa phương hóa Hòabình, ổn định, hợp tác cùng phát triển trở thành những đòi hỏi cấp thiết Sự pháttriển vượt bậc của cách mạng khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tinlàm cho lực lượng sản xuất phát triển nhanh Quá trình toàn cầu hóa, khu vực hóađược thúc đẩy, buộc các nước phải đề ra chiến lược phát triển phù hợp Các nướcnhỏ và vừa có xu hướng liên kết với nhau để đối phó với sức ép từ các nước lớn

Cán cân lực lượng khu vực châu Á – Thái Bình Dương cũng thay đổi Liên

Xô rút khỏi châu Á, Mỹ rút căn cứ ở Philippin Tuy nhiên, việc Trung Quốc vàNhật Bản đẩy mạnh vai trò chính trị, kinh tế, quân sự nhằm lấp khoảng trốngquyền lực đã làm tăng mối lo ngại cho các nước Đông Nam Á Chiến tranh lạnhkết thúc cũng làm giảm vai trò của ASEAN trong bàn cờ chiến lược của các nướclớn Các nước ASEAN đứng trước thách thức phải tìm một cơ chế bảo đảm anninh, hòa bình, ổn định và mở rộng hợp tác

Ở trong nước, Việt Nam cũng chịu tác động sâu sắc và toàn diện trên cácmặt kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng từ sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên

Xô và các nước Đông Âu do giảm dần rồi mất hẳn nguồn lực hỗ trợ chính

Về kinh tế, mô hình kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp kéo dài từ thời chiến

đã dẫn tới khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng

Về an ninh, Việt Nam phải duy trì lực lượng vũ trang lớn và tốn kém Căngthẳng thường trực ở biên giới phía Bắc, Bên canh đó, Việt Nam phải tiếp tục duytrì lực lượng quân tình nguyện giúp đỡ nhân dân Campuchia Khi Liên Xô tan rã,

Trang 12

Việt Nam cũng mất hoàn toàn chỗ dựa “hòn đá tảng” trong chính sách đối ngoại.Cùng với sự bao vây, cấm vận và căng thẳng biên giới, đây là áp lực lớn buộc ViệtNam phải đánh giá lại các mối quan hệ và cố gắng mở rộng phạm vi quan hệ quốc

tế của mình

Những thay đổi mạnh mẽ và sâu sắc của tình hình và quan hệ quốc tế đã đặtViệt Nam trước yêu cầu cấp thiết phải thay đổi quan điểm, chủ trương, chính sáchđối ngoại để thích ứng với tình hình mới Tình hình khủng hoảng nghiêm trọngtrong nước cũng đòi hỏi phải có tư duy và chính sách đối ngoại thích hợp

1.2 Nội dung điều chỉnh

Điều chỉnh định hương: trọng tâm là khu vực

Chính sách với ASEAN nằm trong chủ trương thay đổi định hướng quốc tế,xác lập đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóaquan hệ quốc tế nhằm giải tỏa bao vây, cấm vận, phá thế bị cô lập

Bước ngoặc trong chính sách đối ngoại của Việt Nam nói chung và vớiASEAN nói riêng là chủ trương điều chỉnh chính sách đối ngoại trong Nghị quyết

số 32 tháng 7/1986 của Bộ Chính trị khóa V Nghị quyết đánh dấu sự thay đổi quanđiểm của Đảng về chính sách đối ngoại trong giâi đoạn sau chiến tranh Nghị quyếtchủ trương chuyển từ đối đầu sang đối thoại, đấu tranh trong cùng tồn tại hòa bình,phù hợp với tình hình thế giới và xu thế trong quan hệ quốc tế Tư duy đổi mới vềđối ngoại của Việt Nam xác định vị trí quan trọng trực tiếp của Đông Nam Á trongtoàn bộ đường lối đổi mới và chủ trương hòa bình, phát triển của mình Tư duy nàycũng xác định các nước ASEAN có thể giúp Việt Nam mở đột phá ra thế giới, hỗtrợ tìm giải pháp chính trị cho vấn đề Campuchia

Trên cơ sở phân tích một cách khoa học tình hình thế giới với thái độ nhìnthẳng vào sự thật, Đại hội lần thứ VI của Đảng (tháng 12/1986) đã có quyết địnhlịch sử là tiến hành đổi mới đất nước một cách toàn diện mà trước hết là đổi mới vềkinh tế Qua đó, Đại hội VI đã chuyển hướng chính sách đối ngoại, chủ trương đẩymạnh và mở rộng quan hệ với tất cả các nước trên thế giới, không phân biệt chế độchính trị - xã hội, thi hành chính sách hữu nghị, hợp tác, tồn tại hòa bình để pháttriển, phù hợp với lợi ích của đất nước và xu thế phát triển chung của thế giới Đặt

Trang 13

đất nước trong mối liên kết khu vực, Đại hội VI đã thể hiện thiện chí, mong muốncủa Việt Nam với việc tạo lập môi trường hòa bình ở Đông Nam Á là “mong muốn

và sẳn sàng cùng các nước trong khu vực thương lượng để giải quyết các vấn đề ởĐông Nam Á, thiết lập quan hệ cùng tồn tại hòa bình, xây dựng Đông Nam Áthành khu vực hòa bình, ổn định và hợp tác”, thực hiện chính sách “cùng tồn tạihòa bình giữa các nước có chế độ chính trị và xã hội khác nhau” Sự chuyển biếntrong nhận thức cũng được thể hiện ở thứ tự ưu tiên và tầm quan trọng của các mốiquan hệ Quan hệ với các nước lãng giềng và khu vực đã có vai trò quan trọng hơn,mặc dù quan hề hợp tác toàn diện với Liên Xô vẫn là “hòn đá tảng” và quan hệ đặcbiệt giữa ba nước Đông Dương “là quy luật sống còn và phát triển của cả ba dândộc anh em”

Đánh dấu sự trưởng thành và chuyển biến trong nhận thức, mục tiêu và biệnpháp đối ngoại, ngày 20/5/1988, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 13/NQ-TW “Vềnhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tình hình mới”, đề ra phương hướng điềuchỉnh chiến lược và đổi mới tư duy đối ngoại Nghị quyết xác định lợi ích cao nhấtcủa đất nước là giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế vớimục tiêu, nhiệm vụ chiến lược “giữ vững hòa bình, tranh thủ điều kiện bên ngoàithuận lợi và tranh thủ thời gian tập trung cố gắng đến mực cao nhất nhằm từngbước ổn định và tạo cơ sở cho bước phát triển kinh tế trong vòng 20 – 25 năm tới,

xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ độc lập của Tổ quốc” (Bộ Ngoại giao: Tổng luận 50 năm hoat động ngoai giao Viêt Nam, Phòng Lưu trữ, Bộ Ngoại giao, Hà

Nội, 1999) Nghị quyết đã xác định tầm quan trọng của việc phát triển quan hệ vớicác nước lãng giềng, khu vực và đặc biệt là ASEAN Đảng đã nhận thức rõ tầmquan trọng trong việc xây dựng quan hệ hữu nghị để tạo dựng một môi trường hòabình và ổn định trong không hian kề cận của Việt Nam Đây là tiền đề cho việc xâydựng mối quan hệ tốt đẹp giữa Việt Nam và ASEAN trong giai đoạn mới

Nghị quyết số 13 đã đánh dấu sự chuyển hướng về định hướng trong chínhsách đối ngoại Việt Nam, mở đường cho chính sách của Việt Nam với ASEAN vàcác nước láng giềng, khu vực bước sang giai đoạn mới Đây cũng là cơ sở để phát

Trang 14

triển và nâng cao đương lối đối ngoại của Việt Nam thành đường lối độc lập tựchủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ sau này.

Tiếp tục đổi mới tư duy trong việc giải quyết mối quan hệ giữa lợi ích dântộc và nghĩa vụ quốc tế, Hội nghị Trung ương 8 khóa VI (tháng 3/1990) xác địnhquan điểm phải đặt lợi ích dân tộc lên hàng đầu và không để những vấn đề cục bộ,tạm thời, thứ yếu cản trở việc thực hiện nhiệm vụ chiến lược này Những bước đichủ động trong giai đoạn này đều xuất phát từ việc đặt lợi ích quốc gia dân tộc lêntrên hết trong hoạch định chính sách đối ngoại

Đại hội lần thứ VII của Đảng (tháng 6/1991) đã khắc phục nhận thức vềnhững khủng hoảng trầm trọng của các nước xã hội chủ nghĩa, tạo bước chuyểnquan trọng trong đường lối đối ngoại nói chung và trong chính sách đối ngoại củaViệt Nam với ASEAN nói riêng sau Chiến tranh lạnh Cùng với chủ trương “ViệtNam muốn là bạn với tất cả các nước” Báo cáo chính trị tại Đại hội VII khẳngđịnh: “Với các nước Đông Nam Á, chúng ta chủ trương mở rộng quan hệ về nhiềumặt theo nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, không can thiệp vào nội bộ củanhau, hai bên cùng có lợi”

Từ thực tiễn tình hình quốc tế và quá trình đổi mới trong nước, Đại hội VIIthông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xãhội, Cương lĩnh đã đề ra định hướng: “Phát triển quan hệ với các nước Đông Nam

Á, tích cực góp phần xây dựng khu vực này thành khu vực hòa bình và hợp tác”.Đại hội lần thứ VII của Đảng đã hình thành một chính sách đổi mới toàn diện, đặtnền tảng cho đường lối chính sách đối ngoại trong thời kỳ đổi mới Chính sách đaphương hóa, đa dạng hóa đã trở thành một trong những biện pháp ứng phó hiệuquả với những biến động phức tạp sau Chiến tranh lạnh Trong đó, củng cố và thúcđảy quan hệ với các nước láng giềng, các nước trong khu vực là hướng ưu tiêntrong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong giai đoạn này

Trong các nghị quyết của Bộ Chính trị về đường lối và chính sách đối ngoại

đã có nhiều điều chỉnh cơ bản và không ngừng được bổ sung, hoàn thiện, làm rõhơn cơ sở hoạch định chính sách đối ngoại của Việt Nam với ASEAN Hội nghị đạibiểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (từ ngày 20 đến 22/01/1994) đánh giá

Trang 15

chính sách của Việt Nam với ASEAN đã “Cải thiện và mở ra giai đoạn mới trongquan hệ hợp tác, hữu nghị với các nước và tổ chức ASEAN”.

Điều chỉnh mục tiêu: Phá thế cô lập chính trị và cấm vận kinh tế.

Sau chiến tranh, Việt Nam xác định lợi ích tối cao của đất nước là tạo lậpmột môi trường hòa bình và ổn định, trước hết là với các nước lãng giềng để tậptrung phát triển kinh tế và hàn gắn các vết thương chiến tranh Do đó, việc bìnhthường hóa quan hệ với các nước lãng giềng là một yêu cầu chiến lược cáp thiết.Các chính sách lớn thời kỳ này tập trung vào mục tiêu chủ động chuyển từ đối đầusang bình thường hóa quan hệ, cùng tồn tại hòa bình với Trung Quốc, Mỹ và cácnước ASEAN; phá vỡ thế bao vây cô lập, mở rộng quan hệ quốc tế nhằm khôiphục, đổi mới và phát triển kinh tế để làm nền tảng cho đổi mới trong các lĩnh vựckhác

Từ chỗ nghi kỵ và đối đầu, Việt Nam chuyển sang đối thoại và tìm các biệnpháp cải thiện quan hệ với ASEAN Việt Nam xác định ASEAN là điểm đột phátrong quan hệ quốc tế, phá thế cô lập về chính trị, bao vây, cấm vận về kinh tế thời

kỳ đầu đổi mới, đưa đất nước bước vào hội nhập khu vực và quốc tế Đến Hội nghịTrung ương 3 khóa VII, Đảng khẳng định cấn coi trọng quan hệ với khu vực ĐôngNam Á; nêu chủ trương tham gia Hiệp ước Bali, tham gia các diễn đàn đối thoạivới ASEAN, tích cực nghiên cứu mở rộng quan hệ với ASEAN trong tương lai.Đến lúc này, việc cải thiện quan hệ với các nước Đông Nam Á và gia nhập ASEANtrở thành quyết sách chiến lược quan trọng của Việt Nam

Điều chỉnh biên pháp: Đa phương hóa, đa dang hóa quan hê và tổ chức khu vực

Nghị quyết số 13 đã thay đổi chủ trương liên minh ba nước Đông Dươnglàm đối trọng với các nước ASEAN từ 10 năm trước Việt Nam khẳng định khôngđối lập nhóm ba nước Lào, Việt Nam, Campuchia với nhóm các nước ASEAN cònlại Nghị quyết nêu rõ cần có chính sách toàn diện với Đông Nam Á, trước hết làtăng cường quan hệ hợp tác nhiều mặt với Indonexia, phá vỡ bế tắc quan hệ vớiThái Lan, mở rộng quan hệ hoepj tác về kinh tế, khoa học – kỹ thuật, văn hóa vớicác nước trong khu vực, giải quyết những vấn đề tồn tại giữa Việt Nam và cácnước này bằng thương lượng, thúc đẩy xây dựng khu vực hòa bình, ổn định, hữunghị và hợp tác

Ngày đăng: 29/03/2022, 20:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiên Đai hội đai biểu toàn quôc lần thứ VI, Nxb. Sự Thật, Hà Nội, 1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiên Đai hội đai biểu toàn quôc lần thứVI
Nhà XB: Nxb. Sự Thật
2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiên Đai hội đai biểu toàn quôc lần thứ VII, Nxb. Sự Thật, Hà Nội, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiên Đai hội đai biểu toàn quôc lần thứVII
Nhà XB: Nxb. Sự Thật
3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiên Đai hội đai biểu toàn quôc lần thứ VIII, Nxb. Sự Thật, Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiên Đai hội đai biểu toàn quôc lần thứVIII
Nhà XB: Nxb. Sự Thật
4. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiên Đai hội đai biểu toàn quôc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiên Đai hội đai biểu toàn quôc lần thứIX
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
5. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiên Đai hội đai biểu toàn quôc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiên Đai hội đai biểu toàn quôc lần thứ X
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
6. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiên Đai hội đai biểu toàn quôc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiên Đai hội đai biểu toàn quôc lần thứXI
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
7. PGS.TS Nguyễn Văn Lan, PGS.TS Nguyễn Viết Thảo (Đồng chủ biên) Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w