Tuy nhiên các nghiên cứu đó mới chỉ dừng lại ở việc đánh giá, bình luận của của báo giới, của những người có chức trách trong các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, hoặc của các chuyên gia
Trang 1Pháp luật về công bố thông tin trên thị trường
chứng khoán Việt Nam
Viên Thế Giang
Khoa Luật Luận văn Thạc sĩ ngành: Luật kinh tế; Mã số: 60 28 35 Người hướng dẫn: TS Phạm Thị Giang Thu
Năm bảo vệ: 2008
Abstract: Trình bày những vấn đề lý luận về công bố thông tin và pháp luật về công
bố thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam, những vấn đề cơ bản của pháp luật về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán Khái quát quá trình phát triển pháp luật về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán nước ta Phân tích thực trạng pháp luật về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam, những kết quả đạt được, một số mặt còn hạn chế của pháp luật về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán Từ đó đưa ra một số ý kiến nhằm hoàn thiện pháp luật về công
bố thông tin trên trị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn hiện nay trên các phương diện lập pháp, kiện toàn các quy định về xử lý vi phạm pháp luật và một số
các giải pháp khác
Keywords: Luật kinh tế; Luật thương mại; Thị trường chứng khoán; Việt Nam
Content
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Công bố thông tin là một yêu cầu không thể thiếu để đảm bảo lòng tin và sự công bằng cho các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán (TTCK) Các tổ chức phát hành, niêm yết phải thực hiện chế độ công bố thông tin kịp thời, chính xác và theo đúng quy định của pháp luật Công bố thông tin là nguyên tắc công khai, được coi là nguyên tắc hoạt động cơ bản nhất của TTCK Việc thực hiện pháp luật về công bố thông tin và giám sát quá trình công bố thông tin trên TTCK Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế
So với các nước trong khu vực và trên thế giới, TTCK nước ta còn non trẻ và ẩn chứa trong nó nhiều nguy cơ Cũng giống như những thị trường mới nổi khác, TTCK Việt Nam cũng chịu tác động rất lớn của tình trạng thông tin bất cân xứng (thông tin không đầy đủ, khó tiếp cận thông tin, rò rỉ thông tin, mua bán thông tin nội gián ) Những thăng trầm, biến đổi của TTCK Việt Nam có một phần “đóng góp” không nhỏ của thông tin trên TTCK Nhận thức được điều đó, các nhà lập pháp nước ta cũng đã quan tâm đến việc xây dựng một hành lang pháp lý thống nhất cho hoạt động CBTT trên TTCK để bảo đảm cho TTCK phát triển
Trang 2minh bạch, an toàn và phát triển bền vững Việc nghiên cứu quá trình phát triển của pháp luật
về CBTT trên TTCK Việt Nam có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn
Pháp luật điều chỉnh hoạt động công bố thông tin đã không ngừng được hoàn thiện theo hướng nâng cao khả năng kiểm soát thông tin của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền; bảo đảm tính khách quan, công bằng giữa các công ty niêm yết cũng như các công ty không niêm yết; khả năng tiếp cận được chính xác, đầy đủ các thông tin của nhà đầu tư như Luật Doanh nghiệp 2005, Luật Chứng khoán 2006, Thông tư số 38/2007/TT-BTC ngày 18/04/2007 của
Bộ Tài chính hướng dẫn về việc công bố thông tin trên TTCK Các quy định pháp luật này
đã tạo thành khung pháp lý bảo đảm cho hoạt động cung cấp thông tin trên TTCK Tuy nhiên, mức độ tuân thủ các quy định này chưa được cao, tình trạng sử dụng thông tin nội gián để trục lợi vẫn còn khá phổ biến
Tình trạng thông tin bất cân xứng, hạn chế thông tin, thông tin không đầy đủ đã để lại những hậu quả xấu trong cách nhìn nhận của các nhà đầu tư vào thị trường Nhà đầu tư khó có thể đưa ra được quyết định đúng đắn nhằm giảm thiểu các rủi ro trong hoạt động đầu tư Việc tìm kiếm các giải pháp cho TTCK Việt Nam phát triển ổn định và bền vững là yêu cầu hết sức cấp bách
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu các nội dung liên quan đến thông tin trên TTCK Việt Nam cũng đã được rất nhiều người quan tâm Tuy nhiên các nghiên cứu đó mới chỉ dừng lại ở việc đánh giá, bình luận của của báo giới, của những người có chức trách trong các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, hoặc của các chuyên gia tài chính, như GS.,TSKH Nguyễn Duy Gia đề cập đến việc minh bạch và công khai đối với TTCK trong cuốn “Một số vấn đề cần biết về TTCK Việt Nam”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà nội 2003; Chương 8 Hệ thống thông tin trên TTCK Giáo trình TTCK, trường Đại học Kinh tế quốc dân, Nxb Tài chính Hà Nội, 2002; Chương 8 Hệ thống thông tin thị trường, Giáo trình TTCK, Học viện Ngân hàng, Nxb Thống Kê, Hà Nội 2002; TS Nguyễn Minh Phong (2007) Nhận diện những rủi ro trong đầu tư chứng khoán, Tạp chí Tài chính số tháng 5, tr 43-45; PGS.,TS Lê Hoàng Nga (2007) Cách thức đầu tư và phòng chống rủi ro chứng khoán đối với nhà đầu tư cá nhân tham gia TTCK, Tạp chí Chứng khoán Việt Nam, số 103, tháng 5/2007, tr 8-11, Viên Thế Giang (2007), Thông tin trên thị trường chứng khoán những vấn đề cần lưu ý, Tạp chí Công nghệ Ngân hàng số 12/2007., Viên Thế Giang (2008), Hoạt động công bố thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam, Tạp chí Khoa học và Đào tạo Ngân hàng số 1+2/2008, Viên Thế Giang (2008), Vai trò của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc giám sát hoạt động công bố thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam, Tạp chí Khoa học và Đào tạo Ngân hàng số 6/2008, Viên Thế Giang (2008), Minh bạch thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam, Tạp chí Ngân hàng số 13 tháng 7/2008 Những nghiên cứu mang tính tổng thể đánh giá về các tác động của thông tin,
Trang 3công bố thông tin và pháp luật về CBTT trên TTCK đến hoạt động đầu tư chứng khoán lại
chưa có nhiều Chính vì vậy, việc lựa chọn đề tài “Pháp luật về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam” làm luận văn tốt nghiệp cao học luật là một đề tài có ý nghĩa
lý luận và thực tiễn sâu sắc
3 Phạm vi và giới hạn nghiên cứu
Là luận văn chuyên ngành luật học, Luận văn phân tích, đánh giá, bình luận về các quy định pháp luật hiện hành về công bố thông tin trên TTCK trong mối tương quan với quá trình xây dựng và hoàn thiện TTCK trong điều kiện hội nhập quốc tế, nhất là các cam kết về mở cửa thị trường dịch vụ chứng khoán, thì các quy định pháp luật hiện hành về CBTT cần phải hoàn thiện như thế nào Để làm được điều này, luận văn tập trung nghiên cứu, xây dựng hệ thống các vấn đề lý luận về thông tin trên TTCK trên cơ sở đó phân tích các nhân tố tác động đến chất lượng thông tin, hoạt động CBTT trên TTCK; các yêu cầu đối với thông tin trên TTCK làm tiền đề cho các yêu cầu đối với pháp luật về CBTT trên TTCK Việt Nam Từ những vấn đê lý luận trên, Luận văn phân tích thực trạng pháp luật về CBTT trên TTCK Việt Nam, chỉ ra những điểm bất cập, hạn chế của các quy định hiện hành làm cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất các quan điểm khoa học nhằm hoàn thiện pháp luật về CBTT trên TTCK Việt Nam trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế, cũng như chuẩn mực về quản lý thị trường của
Tổ chức quốc tế của các UBCKNN
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp từ đó rút ra các đặc điểm, quy luật về thông tin và CBTT trên TTCK Việt Nam, nhận diện những bất cập trong các quy định pháp luật về CBTT và đề xuất một số quan điểm nhằm hoàn thiện pháp luật về CBTT trên TTCK Việt Nam Ngoài các phương pháp trên, tác giả cũng sử dụng phương pháp điều tra xã hội học đối với các nhà đầu tư cũng như các cơ quan nhà nước có thẩm quyền về thực trạng pháp luật về CBTT trên TTCK Việt Nam
5 Nội dung nghiên cứu chính của đề tài
Luận văn nghiên cứu và xây dựng hệ thống lý luận về thông tin, công bố thông tin trên TTCK Việt Nam Phân tích sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động công bố thông tin trên TTCK, những đặc trưng, yêu cầu của pháp luật về CBTT trên TTCK, nghiên cứu kinh nghiệm pháp luật một số nước về CBTT trên TTCK từ đó rút ra những bài học cho việc xây dựng, thực thi pháp luật về CBTT trên TTCK Việt Nam
Luận văn khái quát quá trình hình thành và phát triển pháp luật về CBTT trên TTCK Việt Nam, phân tích những kết quả đã đạt được, chỉ ra những bất cập cần tiếp tục hoàn thiện trong tình hình mới
Trang 4Trên cơ sở những kết quả nghiên cứu đã đạt được từ việc phân tích thực trạng thi hành pháp luật về CBTT trên TTCK Việt Nam, luận văn nghiên cứu và đề xuất cơ sở và phương hướng hoàn thiện pháp luật về CBTT trên TTCK Việt Nam
6 Những đóng góp về khoa học và thực tiễn của đề tài
6.1 Những đóng góp về khoa học
- Luận văn đã hệ thống hóa được những lý luận về thông tin, hoạt động công bố thông tin trên TTCK Việt Nam Chỉ ra những nhân tố tác động đến hoạt động CBTT và xây dựng được hệ thống các tiêu chí đánh giá chất lượng thông tin trên TTCK Việt Nam Luận văn chỉ
ra sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động CBTT trên TTCK, đặc trưng
và các yêu cầu của pháp luật về CBTT trên TTCK Việt Nam;
- Luận văn đã khái quát được quá trình hình thành và phát triển pháp luật về CBTT trên TTCK Việt Nam, phân tích những kết quả đạt được và những hạn chế, bất cập trong việc thực hiện pháp luật về CBTT trên TTCK Việt Nam, trên cơ sở đó, Luận văn xây dựng được hệ thống quan điểm lý luận và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về CBTT trên TTCK Việt Nam
6.2 Những đóng góp về thực tiễn
Thông qua các tiêu chí đánh giá chất lượng thông tin trên TTCK, cơ quan quản lý thị trường, nhà đầu tư và tổ chức phát hành có được cơ sở lý luận nhằm từng bước nâng cao chất lượng thông tin trên TTCK, để thông tin trở thành một trong những yếu tố quan trọng nhất giúp giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh chứng khoán Những quan điểm, đề xuất trong luận văn cũng sẽ giúp ích cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc sửa đổi, bổ sung các quy định hiện hành về CBTT trên TTCK Việt Nam
7 Kết cầu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cầu làm
ba chương
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN VÀ PHÁP LUẬT VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
Với quan điểm “Biết địch biết ta trăm trận trăm thắng”, rủi ro thông tin được coi là rủi
ro lớn nhất và cũng là nguồn cội của mọi rủi ro trong đầu tư chứng khoán đó chính là rủi ro
từ sự dại dột và những sai lầm do thiếu hiểu biết, thiếu kỹ năng tổng hợp, phân tích và phản ứng thị trường nhạy bén, chính xác của nhà đầu tư, do đó, khả năng lắng nghe, phân tích các
“chiêu thức” và cả nghệ thuật “tung tin đồn”, gây nhiễu thông tin của các “đại gia” hoặc đại bợm kinh doanh chứng khoán, hay bản thân các công ty, tổ chức phát hành chứng khoán sẽ là bùa hộ mệnh để nhà đầu tư bảo vệ mình tránh được những cạm bẫy và gắn với thế giới thông tin thường luôn mờ ảo trên thị trường đặc thù này, luận văn phân tích những vấn đề lý luận chung về thông tin, công bố thông tin và pháp luật về CBTT trên TTCK
Trang 51.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THÔNG TIN VÀ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của thông tin và công bố thông tin trên thị trường chứng khoán
1.1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của thông tin trên thị trường chứng khoán
a) Khái niệm thông tin trên thị trường chứng khoán
Luận văn đưa ra ba cách tiếp cận với khái niệm thông tin trên TTCK như sau:
Dưới góc độ kinh tế, thông tin trên TTCK được hiểu là toàn bộ các thông tin phản ánh
tình hình tài chính của doanh nghiệp trong những giai đoạn phát triển nhất định Tình hình tài chính của doanh nghiệp được phản ánh thông qua các báo cáo tài chính, bảng kê chi tiết tài sản, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, chiến lược phát triển của doanh nghiệp trong tương lai và như vậy, khi nhìn vào những tài liệu này chúng ta có thể thấy được độ “lành mạnh” của tình hình tài chính của doanh nghiệp, cũng như tiềm năng, khả năng
sinh lợi của doanh nghiệp ở hiện tại và tương lai Thông tin trên thị trường chứng khoán là hệ thống các dữ liệu liên quan đến tổ chức niêm yết do các chủ thể có thẩm quyền cung cấp theo quy định của pháp luật
Dưới góc độ xã hội, thông tin trên TTCK là một bộ phận không thể thiếu của TTCK
Thông qua kênh thông tin, nhà đầu tư có được cái nhìn tổng thể về TTCK cũng như thông tin đối với các công ty niêm yết Các thông tin trên TTCK như thông tin về tổ chức phát hành, thông tin về chỉ số chứng khoán, thông tin về diễn biến các giao dịch trên thị trường phản ánh quy mô, mức độ phát triển của TTCK, khẳng định vai trò là “hàn thử biểu” của TTCK đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Dưới góc độ pháp lý, thông tin trên TTCK phản ảnh mức độ tuân thủ các quy định pháp
luật được áp dụng đối với các chủ thể tham gia thị trường, phản ánh hàng loạt các quan hệ pháp luật đa dạng phức tạp trong nội bộ của doanh nghiệp, như quan hệ giữa cổ đông với thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát, Ban Giám đốc; thể hiện mức độ tuân thủ pháp luật về CBTT đối với các chủ thể tham gia thị trường Như vậy, dưới góc độ pháp lý, thông qua các thông tin về doanh nghiệp là điều kiện để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét quyết định cho phép tổ chức phát hành được chào bán cổ phiếu ra công chúng để huy động vốn Pháp luật về CBTT cũng quy định rõ điều kiện, đối tượng, hình thức, phương tiện CBTT đối với các chủ thể tham gia thị trường
b) Đặc điểm của thông tin trên thị trường chứng khoán
Thứ nhất, thông tin trên thị trường chứng khoán là hệ thống các dữ kiện liên quan đến
hoạt động của các chủ thể tham gia trên thị trường chứng khoán
Thứ hai, thông tin trên TTCK là một bộ phận cấu thành nên thị trường Thông qua kênh
thông tin, nhà đầu tư, cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền, các chuyên gia tài chính ngân
Trang 6hàng có thể nhận biết được xu hướng phát triển của thị trường từ đó đưa ra được những cảnh báo hoặc định hướng phát triển
Thứ ba, thông tin trên TTCK là cơ sở để các nhà đầu tư phân tích, đánh giá, thương
lượng với nhau Thông tin là thước đo phản ánh giá trị của doanh nghiệp Thông qua hệ thống các chỉ số về vốn, về lợi nhuận, về chiến lược kinh doanh… nhà đầu tư có thể thấy được tiềm năng phát triển của tổ chức phát hành
Thứ tư, thông tin trên TTCK là một trong những biểu hiện và làm gia tăng giá trị của
công ty niêm yết, song nó cũng có thể gây bất lợi cho công ty
Thứ năm, thông tin trên TTCK có tác động rất lớn đối với thị trường cũng như cơ quan
quản lý nhà nước trong việc kiện toàn hoạt động của thị trường và việc hoạt định chính sách phát triển TTCK
1.1.1.2 Hoạt động công bố thông tin trên thị trường chứng khoán
a) Khái niệm công bố trên thị trường chứng khoán
Từ các phân tích, luận văn rút ra khái niệm CBTT như sau: CBTT trên TTCK là hoạt động của các chủ có thẩm quyền nhằm công bố các thông tin liên quan đến tổ chức và hoạt động của tổ chức phát hành, của hoạt động quản lý các GDCK và hoạt động quản lý nhà nước về TTCK
b) Đặc điểm của hoạt động công bố thông tin trên thị trường chứng khoán
Một là, CBTT trên TTCK là hoạt động thường xuyên của các chủ thể
Hai là, hoạt động CBTT trên TTCK gắn liền với diễn biến của tổ chức phát hành và của
thị trường
Ba là, hoạt động CBTT gắn liền với thẩm quyền của các chủ thể nhất định
c) Vai trò của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc kiểm soát việc công bố
thông tin trên thị trường chứng khoán
Thứ nhất, các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền xây dựng hệ thống thông tin
cần công bố qua các thời kỳ phù hợp với đặc điểm phát triển của thị trường và tuân theo các quy luật đặc thù của thị trường
Thứ hai, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cùng với các doanh nghiệp xây dựng hệ
thống cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động CBTT
Thứ ba, thực hiện giám sát thị trường thông qua việc xây dựng cơ chế, chính sách, xử
lý các hành vi vi phạm pháp luật về CBTT trên TTCK
1.1.2 Nguồn thông tin và chất lượng thông tin trên thị trường chứng khoán
1.1.2.1 Nguồn thông tin trên thị trường chứng khoán
Hệ thống thông tin của TTCK là những chỉ tiêu, tư liệu phản ánh bức tranh của TTCK và tình hình kinh tế, chính trị, xã hội liên quan tại những thời điểm hoặc thời kỳ khác nhau Hệ thống thông tin của TTCK rất đa dạng, phong phú và có nhiều cách thức khác nhau để phân
Trang 7loại nguồn thông tin trên TTCK Thông tin trên TTCK rất đa dạng, do nhiều chủ thể khác nhau công bố Mỗi loại thông tin do các chủ thể công bố có những ưu điểm, nhược điểm khác nhau
a) Thông tin từ tổ chức niêm yết
Đây là nguồn thông tin cơ bản, quan trọng nhất đối với TTCK Thông tin của tổ chức niêm yết có những ưu điểm cơ bản sau đây:
Một là, những thông tin này phản ánh chính xác diễn biến tình hình hoạt động của tổ
chức niêm yết, nhất là các thông tin liên quan đến tình hình tài chính của tổ chức này;
Hai là, thông tin của tổ chức niêm yết rõ ràng, chi tiết và có độ tin cậy cao;
Ba là, thông tin của tổ chức niêm yết có thể cập nhật nhanh các diễn biến của tổ chức
niêm yết, nhất là các diễn biến liên quan đến hoạt động của tổ chức này
Tuy nhiên, nguồn thông tin từ tổ chức niêm yết có hạn chế là:
- Nhà đầu tư khó tiếp cận được ngay các thông tin;
- Dễ làm lộ bí mật kinh doanh của tổ chức niêm yết;
- Nhà quản trị thường lạm dụng quyền của mình để cản trở việc CBTT ra các phương tiện thông tin đại chúng
b) Thông tin từ tổ chức kinh doanh chứng khoán
Ưu điểm của thông tin do tổ chức kinh doanh chứng khoán cung cấp là:
- Giúp cho những người có liên quan thấy được diễn biến trên TTCK qua các giai đoạn, phục vụ tốt cho việc quản lý, phân tích đánh giá và đầu tư chứng khoán;
- Thông tin do các tổ chức này cung cấp có tính hệ thống, logic và có thể tiếp cận theo từng nội dung mà mình quan tâm, và trong những trường hợp cần thiết có thể được cung cấp dịch vụ tư vấn theo yêu cầu;
- Thông qua hệ thống thông tin của các tổ chức kinh doanh chứng khoán, chúng ta có thể thấy được số lượng nhà đầu tư tham gia kinh doanh chứng khoán và tình hình thực hiện các GDCK Điều này có ý nghĩa rất quan trọng đối với các nhà quản lý nhằm kiểm soát các giao dịch của các chủ thể tham gia TTCK
Mặc dù vậy, thông tin của tổ chức kinh doanh chứng khoán có hạn chế là:
- Việc cung cấp thông tin bị chi phối bởi yếu tố lợi ích là rất lớn Nếu cung cấp thông tin đầy đủ thì có nguy cơ xâm phạm đến quyền lợi của nhà đầu tư và quyền lợi khách hàng;
- Yêu cầu giữ bí mật về các thông tin liên đến nhà đầu tư (trừ các thông tin phải công bố theo yêu cầu của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền) nên các tổ chức này thường rất thận trọng trong việc CBTT, nhất là các thông tin về khối lượng giao dịch của khách hàng
c) Thông tin từ thực tiễn giao dịch trên thị trường
Các thông tin này theo sát diễn biến hoạt động của thị trường, đây là nguồn đáng tin cậy cho các nhà đầu tư chứng khoán.Các công ty niêm yết trước khi được niêm yết trên Trung
Trang 8tâm/Sở GDCK phải đáp ứng các điều kiện về minh bạch thông tin và như vậy, Trung tâm/Sở GDCK có thể phát hiện, ngăn chặn các hành vi vi phạm chế độ CBTT của các công ty niêm yết trên TTCK
d) Thông tin từ cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán
Thông tin từ phía cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán và TTCK thường là các thông tin liên quan đến cơ chế, chính sách, pháp luật trong từng giai đoạn phát triển phù hợp với yêu cầu của thị trường Đây là các thông tin “chuẩn” có tác động rất lớn đến việc điều chỉnh diễn biến thị trường và hoạt động đầu tư của các chủ thể
1.1.2.2 Khái niệm chất lượng thông tin trên thị trường chứng khoán
Vấn đề chất lượng thông tin công bố là hết sức quan trọng đối với TTCK Là thị trường của thông tin, nên các thông tin cung cấp ra thị trường, ngoài việc bảo đảm về tính khách quan, công bằng, kịp thời thì chất lượng thông tin công bố cũng phải được hết sức quan tâm
Chất lượng thông tin trên TTCK là các chỉ tiêu đánh giá độ tin cậy, khách quan, công bằng của các thông tin do các công ty niêm yết và các chủ thể có liên quan công bố theo quy định của pháp luật về CBTT
1.1.2.3 Các tiêu chí đánh giá chất lượng thông tin trên thị trường chứng khoán
Theo tác giả luận văn, việc đánh giá chất lượng thông tin trên TTCK phải dựa vào các tiêu chí sau đây:
a) Độ tin cậy của thông tin được công bố
Mức độ tin cậy của các thông tin được biểu hiện dưới các khía cạnh sau đây: i) Độ rõ ràng của các thông tin được công bố; ii) Thông tin được công bố bởi các chủ thể có thẩm quyền; iii) Các thông tin đó có thể dễ dàng tìm kiếm và được kiểm chứng khi cần thiết; iv) Các thông tin sai sót (nếu có) có thể dễ dàng được đính chính, sửa chữa
b) Tính khách quan của thông tin được công bố
Tính khách quan của thông tin được hiểu là, các thông tin được công bố phải phục vụ cho
sự phát triển của công ty, vì quyền lợi của cổ đông Tính khách quan của thông tin được công
bố phải phản ánh trung thực tình hình hoạt động tại thời điểm công bố, công ty không được che giấu những thông tin gây bất lợi cho nhà đầu tư
c) Thông tin công bố phải đa dạng và dễ dàng truy nhập, tiếp cận bình đẳng đối với mọi chủ thể
Khi công bố thông tin các chủ thể có nghĩa vụ công bố thông tin phải bảo đảm những thông tin đó phản ánh trung thực tình hình hoạt động của công ty, đồng thời cũng phải bảo đảm khi nhà đầu tư hay cơ quan quản lý nhà nước cần tra cứu hay kiểm chứng thông tin thi có thể tìm kiếm trên trang thông tin điện của công ty, quyền bình đẳng trong tiếp cận thông tin của cổ đông phải tuyệt đối được tôn trọng
d) Thông tin công bố phải kịp thời
Trang 9Tính kịp thời của thông tin có ý nghĩa rất quan trọng Tính kịp thời của thông tin được hiểu là, thông qua kênh thông tin, diễn biến hoạt động của công ty được phản ánh đầy đủ, thông tin thường xuyên được cập nhất, tìm kiếm Khi có những dấu hiệu bất lợi cho công ty thì phải thông báo kịp thời để cổ đông biết và tìm cách tháo gỡ những khó khăn…Nếu tiêu chí này được bảo đảm sẽ hạn chế được tình trạng cố tình che giấu hoặc không cung cấp thông tin
và hạn chế được tình trạng thông tin bất cân xứng trên thị trường chứng khoán
1.1.2.4 Các nhân tố tác động đến hoạt động công bố thông tin trên thị trường chứng khoán
Cùng với việc phân tích các tiêu chí đánh giá chất lượng thông tin trên TTCK, việc nhìn nhận và đánh giá các nhân tố tác động đến hoạt động CBTT trên TTCK sẽ có tác dụng làm nổi bật lên vị trí vai trò của thông tin trong hoạt động đầu tư chứng khoán Theo tôi những nhân tố sau đây sẽ tác động đến việc CBTT trên TTCK:
a) Mức độ phát triển và hoàn thiện của TTCK;
b) Môi trường pháp lý;
c) Thực tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty;
d) Hoạt động quản lý nguồn thông tin của Sở/Trung tâm GDCK; đ) Nhà quản trị công ty;
e) Hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho hoạt động CBTT
1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1.2.1 Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động công bố thông tin trên thị trường chứng khoán
Một là, giá trị của thông tin trong hoạt động đầu tư chứng khoán
Hai là, nguy cơ lạm quyền của người quản trị công ty
Ba là, bảo vệ quyền lợi cho cổ đông công ty
Bốn là, tạo điều kiện cho việc giám sát hoạt động của công ty có hiệu quả hơn
Năm là, đáp ứng các yêu cầu và mục tiêu của việc xây dựng và hoàn thiện TTCK Sáu là, đáp ứng các điều kiện của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và triển khai việc
thực hiện các cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO
1.2.2 Đặc trưng pháp luật về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán
Thứ nhất, pháp luật về CBTT có mối liên hệ mật thiết với các quy định pháp luật khác,
như pháp luật về kế toán, pháp luật về kiểm toán, pháp luật về quản trị công ty…
Thứ hai, pháp luật về CBTT trên TTCK là yếu tố quan trọng góp phần tạo lập TTCK
minh bạch và phát triển bền vững
Thứ ba, pháp luật về CBTT trên TTCK có tác động rất lớn đến hệ thống thông tin nội
bộ của công ty, nhất là các thông tin có liên quan đến bí mật, chiến lược kinh doanh…
Trang 10Thứ tư, pháp luật về CBTT trên TTCK góp phần vào việc nâng cao kỹ năng quản trị
của các công ty niêm yết trên TTCK
1.2.3 Các yêu cầu đối với pháp luật về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán Một là, pháp luật về CBTT trên TTCK phải bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp
luật
Hai là, pháp luật về CBTT trên TTCK phải bảo đảm phân định rõ ràng quy định thông
tin phải công bố và những thông tin không phải công bố
Ba là, phải bảo đảm được các thiết chế bảo vệ quyền lợi cho các cổ đông trong công ty
Bốn là, bảo đảm được các thiết chế thực thi pháp luật về CBTT hiệu quả
1.2.4 Khái quát sự phát triển pháp luật về CBTT trên TTCK Việt Nam
Trước khi LCK ra đời, các quy định pháp luật về CBTT trên TTCK được quy định tại Nghị định 48/1998/NĐ-CP ngày 11 tháng 7 năm 1998 về chứng khoán và TTCK (sau đây gọi chung là Nghị định 48/1998/NĐ-CP), Nghị định 144/2003/NĐ-CP về chứng khoán và TTCK thay thế cho Nghị định 48/1998/NĐ-CP (Sau đây gọi chung là Nghị định 144/2003/NĐ-CP) Nghị định 144/2003/NĐ-CP dành chương VI từ Điều 51 đến Điều 64 quy định về CBTT trên TTCK Thi hành Nghị định 144/2003/NĐ-CP, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 57/2004/TT – BTC ngày 17/06/2004 hướng dẫn việc CBTT trên TTCK (sau đây gọi chung là Thông tư số 57/2004/TT – BTC) Các quy định này đã tác động rất lớn trong việc chấn chỉnh nghĩa vụ CBTT theo quy định của pháp luật, nâng cao nhận thức của các công ty trong việc thực hiện nghĩa vụ này; đồng thời cũng góp phần vào việc phát hiện, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật về CBTT, thiết lập trật tự thị trường, bảo đảm thị trường phát triển minh bạch
và bền vững
LCK ra đời góp phần hoàn chỉnh thể chế về kinh tế thị trường ở nước ta, quán triệt tinh thần đổi mới của Đảng và Nhà nước thể hiện trong Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX và lần thứ X; khắc phục những khiếm khuyết, bất cập trong khuôn khổ pháp luật chứng khoán và thị trường chứng khoán (Nghị định 144/2003/NĐ-CP
Như vậy, các quy định đã pháp luật về CBTT trên TTCK được cụ thể ở nhiều cấp độ văn bản pháp luật khác nhau: LCK 2006, Nghị định 14/2007/NĐ-CP ngày 19/01/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật chứng khoán, Nghị định 36/2007/NĐ-CP ngày 08/03/2007 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán, Thông tư số 38/2007/TT-BTC hướng dẫn về việc CBTT trên thị trường chứng khoán của Bộ Tài chính Đây là những công cụ pháp lý cần thiết và hữu hiệu để nhà đầu tư đầu tư có hiệu quả hơn, góp phần vào ngăn chặn các rủi ro về thông tin trong đầu tư chứng khoán; góp phần vào việc phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi
vi phạm pháp luật về CBTT trên TTCK Các quy định pháp luật về công bố thông trên TTCK
sẽ trở thành các công cụ hữu hiệu để nhà nước quản lý tốt hơn đối với các chủ thể tham gia thị
Trang 11trường; tạo lập niềm tin của công chúng đầu tư vào TTCK và giúp cho thị trường ngày càng minh bạch hơn
Từ những phân tích trên, chúng ta có thể rút ra những đặc điểm phát triển pháp luật về CBTT trên TTCK Việt Nam như sau:
Một là, các quy định pháp luật về CBTT trên TTCK Việt Nam đã phản ánh được mức
độ phát triển, các yêu cầu về CBTT trong các giai đoạn phát triển khác nhau của TTCK Các quy định pháp luật về CBTT đã đồng hành cùng những biến động, những thăng trầm của TTCK, nhưng chính pháp luật về CBTT đã góp phần rất lớn vào việc nâng cao tính minh bạch trên thị trường, đặc biệt là việc hoàn thiện các thông tin mà các chủ thể tham gia thị trường phải thực hiện Đây là cơ sở quan trọng để tạo lập kỷ luật của TTCK nước ta trong những giai đoạn phát triển tiếp theo;
Hai là, các quy định pháp luật về CBTT trên TTCK Việt Nam quy định cụ thể nội dung
thông tin cần công bố phù hợp với từng chủ thể tham gia thị trường Các quy định này là sự tổng kết thực tiễn thi hành pháp luật về CBTT trên TTCK;
Ba là, các quy định pháp luật về CBTT trên TTCK Việt Nam góp phần rất lớn vào việc
thiết lập trật tự, kỷ cương thị trường Công khai là nguyên tắc quan trọng nhất của TTCK Nguyên tắc này yêu cầu, các chủ thể tham gia thị trường phải công khai các thông tin liên quan đến hoạt động của mình Thông qua việc công khai thông tin, nhà đầu tư, cơ quan quản
lý thị trường thấy được thực trạng hoạt động, tiềm năng phát triển của công ty, phát hiện và
xử lý kịp thời các công ty không đủ điều kiện niêm yết ra khỏi hoạt động giao dịch, tránh thiệt hại cho nhà đầu tư
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Thông tin trên TTCK là cầu nối giữa công ty và nhà đầu tư, giữa công ty, nhà đầu tư với
cơ quan quản lý thị trường Hoạt động đầu tư, quản lý nhà nước về chứng khoán và TTCK cần dựa trên hệ thống thông tin đầy đủ kịp thời của các chủ thể tham gia thị trường Luật pháp, cơ chế, chính sách của Nhà nước về phát triển TTCK cần dựa trên các thông tin thị trường Thông tin phản ánh mức độ phát triển của TTCK trong mỗi giai đoạn khác nhau Thị trường càng phát triển cao thì hệ thống thông tin cũng phải phát triển tương ứng Mức độ tuân thủ các quy định pháp luật về CBTT trên TTCK là nhân tố bảo đảm sự minh bạch của thông tin trên TTCK
Thông tin là nhân tố quan trọng nhất quyết định thành công của các chủ thể tham gia thị trường Diễn biến hoạt động của doanh nghiệp chỉ đến được với nhà đầu tư khi được công bố công khai Thông qua hoạt động CBTT, tổ chức phát hành phản ánh được tính hình hoạt
Trang 12động, mức độ và tiềm năng phát triển của mình Trên cơ sở các thông tin được công bố, nhà đầu tư phân tích, đánh giá tiềm năng phát triển, khả năng sinh lợi để đưa ra quyết định đầu tư Pháp luật về CBTT có vị trí, vai trò vô cùng quan trọng đối với việc xây dựng và phát triển TTCK ở hiện tại và tương lai Hệ thống pháp luật về CBTT cần phải phù hợp với thực tiễn phát triển thị trường của từng nước tương ứng với mỗi giai đoạn phát triển nhất định Luật pháp các nước có những yêu cầu riêng đối với pháp luật về CBTT trên TTCK, song tất cả chúng đều có một điểm chung là thiết lập trật tự thị trường minh bạch, an toàn và hiệu quả, bảo đảm TTCK là kênh hữu hiệu nhất để thu hút các nguồn lực trong và ngoài nước phục vụ cho các mục tiêu phát triển đất nước trong mỗi giai đoạn nhất định
Những nội dung lý luận đã được trình bày trong nội dung Chương 1 được coi như là hệ thống lý luận luận giải thực trạng pháp luật về CBTT ở nước ta ở Chương 2 và đề xuất các quan điểm hoàn thiện pháp luật về CBTT trong giai đoạn hiện nay ở Chương 3