Chỉ ra những mâu thuẫn, bất cập và khoảng trống của quy định pháp luật hiện hành về sự khuyến khích, hỗ trợ các dự án phát triển năng lượng tái tạo trong đời sống thực tiễn.. Năng lượng
Trang 1Pháp luật về các biện pháp khuyến khích, hỗ trợ phát triển năng lượng tái tạo ở Việt Nam
hiện nay Phan Duy An
Khoa Luật Luận văn ThS ngành: Luật kinh tế; Mã số: 60 38 50 Người hướng dẫn: TS Doãn Hồng Nhung
Năm bảo vệ: 2011
Abstract Khái quát tình hình phát tri ển năng lượng tái tạo trên thế giới, từ đó phân tích, làm rõ thực trạng và hậu quả của việc khai thác nguồn tài nguyên năng lượng
sơ cấp ở Việt Nam Đánh giá ti ềm năng phát triển năng lượng tái tạo ở Việt Nam hiện nay Phân tích, làm rõ các quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay về khuyến khích, hỗ trợ phát triển năng lượng tái tạo Trong đó làm rõ các quy định của pháp luật về thị trường năng lượng; bảo vệ môi trường; cơ chế đầu tư, tài chính, sản phẩm đầu ra, cũng như một số quy định có liên quan Chỉ ra những mâu thuẫn, bất cập và khoảng trống của quy định pháp luật hiện hành về sự khuyến khích, hỗ trợ các dự án phát triển năng lượng tái tạo trong đời sống thực tiễn Trên cơ sở đó đánh giá được các khó khăn, vướng mắc khi áp dụng pháp luật vào đời sống thực tiễn Tìm ra những nguyên nhân tồn ta ̣i trong quá trình áp du ̣ng pháp luâ ̣t để từ đó đưa ra đư ợc các giải pháp góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành về khuyến khích, hỗ
trợ đầu tư các dự án năng lượng tái tạo
Keywords Luật kinh tế; Pháp luật Việt Nam; Năng lượng tái tạo
Content
MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết nghiên cứu và ý nghĩa của luận văn
Hiện nay nhiều nước trên thế giới đang tập trung nghiên cứu , ứng dụng nguồn năng lượng tái tạo vào thực tiễn đời sống, nguyên nhân chính là do các nguồn năng lượng truyền thống (than, dầu, khí ) sắp cạn kiệt, nguồn cung cấp biến động về giá cả, chịu ảnh hưởng lớn của kinh tế, chính trị trên phạm vi toàn cầu Ngoài ra, việc sử dụng chúng còn làm phát thải khí nhà kính, gây hiệu ứng nóng lên của trái đất, ảnh hưởng tới môi trường sống của con người, ảnh hưởng tới sự cân bằng và phát triển bền vững của tất cả các quốc gia trên thế giới, không riêng các nước phát triển, đang phát triển, mà còn ảnh hưởng tới các nước kém phát triển
Trong sự nghiê ̣p công nghiê ̣p hóa , hiê ̣n đa ̣i hóa đất nước của Viê ̣t Nam cần rất nhiều nguồn năng lươ ̣ng để phu ̣c vu ̣ cho tiến trình phát triển Nhu cầu sử du ̣ng năng lượng ở Việt Nam đang tăng lên nhanh chóng cùng với sự tăng trưởng mạnh về kinh tế - xã hội trong bối cảnh trong chung của Thế giới và khu vực Viê ̣c đáp ứng đủ nhu cầu năng lượng cho sự phát
Trang 2triển kinh tế – xã hội của đất nước trong thời gian tới đang phải đối mặt với nhiều vấn đề và thách thức khó khăn, đặc biệt là sự ngày càng cạn kiệt nguồn cung cấp năng lượng sơ cấp nội địa, giá dầu, giá than luôn có xu hướng leo thang và biến đổi thất thường Chính vì vậy, việc khai thác và sử dụng hiệu quả, hợp lý các nguồn năng lượng tái tạo có ý nghĩa hết sức quan trọng và mang tính chiến lược xét trên mọi khía cạnh cả về kinh tế-xã hội, an ninh quốc phòng, an ninh năng lượng và phát triển bền vững của đất nước Phát triển năng lượng tái tạo sẽ góp phần bảo vệ môi trường , bảo vệ mái nhà xanh , đồng thời làm đa da ̣ng hóa các nguồn năng lươ ̣ng đã có trên trái đất
Theo Chiến lược Phát triển Năng lượng quốc gia của Việt Nam đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1855/QĐ-TTg ngày 27 tháng 12 năm 2007, trong giai đoạn đến năm 2015, cán cân năng lượng của Việt Nam nghiêng về xu thế xuất khẩu tinh Từ sau năm
2015, Việt Nam sẽ phải nhập khẩu năng lượng Theo kịch bản cơ sở, lượng thiếu hụt năng
lượng năm 2020 là khoảng 15 triệu tấn dầu tương đương (TOE) và lên tới 56 triệu TOE năm
2030 Theo dự báo, tỷ lệ phụ thuộc vào năng lượng nhập khẩu là 12,2% năm 2020 và lên đến
28% năm 2030 Đối với tốc độ phát triển điện năng, Quy hoạch Phát triển Điện lực Việt Nam giai đoạn 2007 - 2015 tầm nhìn 2025 và được điều chỉnh theo đánh giá tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới dự báo giai đoạn 2011-2015, tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam là 7,5%/năm;
dự báo nhu cầu điện tăng khoảng 15% giai đoạn 2011-2015, khoảng 10,7% giai đoạn
2016-2020, 8,1% giai đoạn 2021-2025 Tốc độ tăng trưởng kinh tế dự báo nhanh hơn tốc độ tăng trưởng điện năng được đáp ứng từ các nguồn năng lượng trong nước, với dự báo tiềm năng thủy điện lớn sẽ khai thác hết vào thập kỷ tới và các nguồn nguyên liệu hóa thạch như khí tự nhiên và than nguồn tài nguyên có giới ha ̣n
Với tốc độ tăng trưởng như hiện nay của nền kinh tế, dự báo nhu cầu năng lượng cuối cùng theo các ngành đến năm 2025 đã đưa đến dự báo Việt Nam sẽ thiếu hụt năng lượng nội
địa và trở thành nước nhập khẩu tinh về năng lượng sau năm 2015
Viê ̣c phát triển năng lượng tái tạo, áp dụng trong thực tiễn là nhu cầu cấp thiết, đây cũng là xương sống cho nền kinh tế – xã hội của đất nước, nên viê ̣c áp du ̣ng nhưng cơ chế, chính sách, những biê ̣n pháp về khuyến khích, hỗ trợ cần phải được suy tí nh rõ ràng, có cơ sở luận chứng khách quan, phù hợp với thực tiễn, bối cảnh, cơ sở ha ̣ tầng và kiến trúc thượng tầng của Viê ̣t Nam Đứng từ quan điểm quản lý Nhà nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải nhận
xét: “Chiến lược phát triển năng lượng được thực hiện bằng các chính sách: hợp tác quốc tế về
xuất, nhập khẩu năng lượng; Phát triển khoa học công nghệ năng lượng; phát triển nguồn năng lượng mới và tái tạo; Giá năng lượng; Tạo nguồn vốn đầu tư phát triển năng lượng; Cải cách cơ cấu tổ chức ngành năng lượng, hình thành thị trường năng lượng cạnh tranh; Bảo vệ môi trường; Sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả… Trong đó, Chính sách an ninh năng lượng quốc gia được coi là xương sống Phát triển năng lượng quốc gia là nhiệm vụ trọng tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong suốt thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Năng lượng phải là mục tiêu, là động lực của quá trình phát triển đất nước, trực tiếp làm tăng mức sống của nhân dân là động lực để các ngành nghề kinh tế - kỹ thuật – xã hội khác phát triển
và được thực hiện theo nguyên tắc thị trường hóa, có sự hỗ trợ của nhà nước bằng những cơ chế, chính sách rõ ràng và minh bạch”
Trong khi Việt Nam làm một nước có tiềm năng lớn về nguồn năng lượng tái tạo (năng lượng gió, mặt trời, địa nhiệt, sinh khối ), song cho tới nay nay nguồn này chỉ chiếm một lượng nhỏ trong tổng công suất điện cả nước Vì vậy, việc phát triển nguồn năng lượng tái tạo sẽ đảm bảo đa dạng hóa nguồn năng lượng phục vụ mục đích kinh tế - xã hội cho đất nước, đảm bảo
an ninh năng lượng trong tương lai, mà đặc biệt hơn đây là cơ hội để tự do hóa thị trường năng lượng đang nguội lạnh ở Việt Nam, khuyến khích sự hợp tác phát triển của Việt Nam với các nước trên thế giới
Tuy nhiên, thực tiễn pháp luật của Việt Nam về vấn đề này còn rất hạn chế, khó khăn như: quy định pháp luật còn thiếu, chưa điều chỉnh hết các quan hệ phát sinh trong thực tiễn;
Trang 3nhiều quy định của pháp luật hiện hành còn mâu thuẫn, chồng chéo; các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và các chủ đầu tư trong thực tiễn áp dụng các quy định này còn gặp rất nhiều vướng mắc, khó khăn cần được tháo gỡ Điển hình còn thiếu các quy đi ̣nh pháp luâ ̣t về th ị trường năng lượng còn thiếu các quy đi ̣nh cu ̣ thể về : bảo vệ môi trường, cơ chế tài chính, sản phẩm đầu ra là mă ̣t hàng năng lươ ̣ng và m ột số quy định hiện hành khác Vì vậy, cần có sự rà soát lại hệ thống chính sách, pháp luật hiện hành trong thực tiễn, phát hiện những vướng mắc, thiếu hụt, mâu thuẫn hoặc còn những hạn chế, không còn phù hợp các các chính sách, quy định đang cản trở hoặc làm giảm hiệu lực của quản lý nhà nước, cũng như cản trở sự tiếp cận, thực hiện dự án về năng lượng tái tạo ở Việt Nam hiện nay
Từ nhâ ̣n thức nêu trên tác giả lựa chọn đề tài “Pháp luật về các biện pháp khuyến khích,
hỗ trợ phát triển năng lượng tái tạo ở Việt Nam hiện nay” với mong muốn góp phần vào sự
hoàn thiện chung các quy định pháp luật hiện nay của Nhà nước, đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của chủ đầu tư, cũng như khuyến khích sự khai thác, phát triển nguồn năng lượng tái tạo đang thiếu vắng ở Việt Nam hiện nay, góp phần vào nhiệm vụ mục tiêu đ ảm bảo an ninh năng lượng của Việt Nam trong thời gian tới
2 Tình hình nghiên cứu về lĩnh vực có liên quan đến luận văn
Viê ̣c nghiên cứu các quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t về biê ̣n pháp hỗ trợ , khuyến khích phát triển năng lươ ̣ng tái ta ̣o đã được đề câ ̣p ở rất nhiều ta ̣p chí , sách, báo, các chương trình của các tổ
chức quốc tế, các tác giả nước ngoài và trong nước như : Báo cáo “Những cơn gió thay đổi :
Tương lai năng lượng bền vững của Đông Á” (winds of change: East Asia’s subtainable energy
future) trong chương trình hơ ̣p tác giữa Ngân hàng Thế giới và Chính phủ Úc tháng 5 năm
2010, nội dung của báo cáo này chủ yếu đánh giá về mức đô ̣ gây ô nhiễm môi trường của các dạng năng lượng sơ cấp của các nước Đông Á trong thời gian từ năm 2005 đến năm 2010, tiềm năng phát triển năng lượng tái ta ̣o với các cách thức hỗ trợ từ Ngân hàng thế giới với các
chương trình khác nhau ; Báo cáo “Viê ̣t Nam: Mở rộng cơ hội cho năng lượng hiê ̣u quả”
(Vietnam: Expanding Opportunities for Energy Efficiency) của Ngân hàng thế giới (Word Bank) tháng 3 năm 2010, nội dung của báo cáo chủ yếu đánh giá mức đô ̣ sử du ̣ng năng lượng của Việt Nam từ năm 1998 đến 2007, sau đó đưa ra khuyến nghi ̣ cho viê ̣c sử du ̣ng năng lươ ̣ng hiê ̣u quả đối với Viê ̣t Nam trong thời gian tới ; Tạp chí Năng lượng Viê ̣t Nam với bài
viết “Năng lượng tái tạo : Sự lựa chọn cho tương lai” của Tiến sĩ Phan Minh Tuấn , năm 2008; Tạp chí Công nghiệp với bài viết “Năng lươ ̣ng tái tạo trên thế giới và Viê ̣t Nam” của
Hoàng Văn Dụ , năm 2008; Tạp chí Người xây dựng với bài viết “Triển vọng phát triển những nguồn năng lượng tái tạo” của Nguyễn Lý Tỉnh , năm 2008 những tác phẩm ã đề câ ̣p
đến lợi ích của việc phát triển năng lượng tái tạo và khả năng khuyế n khích, phát triển năng lươ ̣ng tái ta ̣o ta ̣i Viê ̣t Nam , từ đó các tác giả đã đưa ra mô ̣t số đề xuất hợp lý đối với cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Tuy nhiên các tác phẩm trên đây đều mang tính đi ̣nh hướng , chưa có sự đánh giá rõ ràng, mang tính hê ̣ thống đối với các chế đi ̣nh , quy đi ̣nh pháp luâ ̣t về các biê ̣n pháp khuyến khích , phát triển năng lượng tái tạo ở Việt Nam Do đó, luâ ̣n văn tha ̣c sĩ luâ ̣t ho ̣c của tác giả chính là
đề tài mang tính khoa ho ̣c, chuyên sâu đầu tiên về viê ̣c nghiên cứu , phân tích, đánh giá và hoàn thiện quy định pháp luật về các biện pháp khuyến khích , hỗ trơ ̣ phát triển năng lượng tái tạo ở Việt Nam hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích
Nghiên cứu , đánh giá quy đi ̣nh pháp lu ật của Nhà nước hiện nay đối với việc hỗ trợ, khuyến khích đầu tư phát triển các dự án năng lượng tái tạo; khảo sát, đánh giá thực trạng và hậu quả của việc khai thác nguồn tài nguyên năng lượng sơ cấp ở Việt Nam; luận văn đưa ra các giải pháp về cơ chế, chính sách để khắc phục những hạn chế Qua đó khuyến khích được các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào Việt Nam trong lĩnh vực này, góp phần từng bước hoàn thiện cơ chế quản lý của nhà nước
Trang 43.2 Nhiệm vụ
Để thực hiện được mục đích nêu trên, luận văn có nhiệm vụ sau:
Khái quát tình hình phát tri ển năng lượng tái tạo trên thế giới, từ đó phân tích , làm rõ thực trạng và hậu quả của việc khai thác nguồn tài nguyên năng lượng sơ cấp ở Việt Nam Đánh giá tiềm năng phát triển năng lượng tái tạo ở Việt Nam hiện nay
Phân tích, làm rõ các quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay về khuyến khích, hỗ trợ phát triển năng lượng tái tạo Trong đó làm rõ các quy định của pháp luật về thị trường năng lượng; Bảo vệ môi trường; cơ chế đầu tư, tài chính, sản phẩm đầu ra, cũng như một số quy định
có liên quan
Phát hiện những mâu thuẫn, bất cập và khoảng trống của quy định pháp luật hiện hành về sự khuyến khích, hỗ trợ các dự án phát triển năng lượng tái tạo trong đời sống thực tiễn Trên cơ sở đó luâ ̣n văn đánh giá được các khó khăn, vướng mắc khi áp dụng pháp luật vào đời sống thực tiễn Luận văn bước đầu tìm ra những nguyên nhân tồn ta ̣i trong quá trình áp dụng pháp luật
để từ đó đưa ra được các giải pháp góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành về khuyến khích, hỗ trợ đầu tư các dự án năng lượng tái tạo
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng, so sánh, phân tích định tính, định lượng và khái quát hóa, đồng thời kết hợp với các phương pháp suy luận logic Tác giả đã phỏng vấn, lấy ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực Kinh tế, Năng lượng, Môi trường tại trường Đại học Quốc gia Hà Nô ̣i, Đại học Luật Hà Nội, Vụ Năng lươ ̣ng, Vụ Pháp chế Bộ Công thương, Viện Nghiên cứu Môi trường và phát triển bền vững thuộc Viện Khoa học và
Xã hội, Ban Pháp chế, Ban Đầu tư của T ập đoàn Điện lực Việt Nam và một số chuyên gia khác của các bộ phận trong Tập đoàn Điện lực Việt Nam, đồng thời trong quá trình công tác tác giả đã có nhiều cơ hội tham vấn ý ki ến của chuyên gia tư vấn nước ngoài về thị trường điện ở Việt Nam
Luâ ̣n văn khái quát, tổng hợp về thực tiễn khi làm vi ệc với các chủ đầu tư có dự án trong lĩnh vực phát triển năng lượng tái tạo như: Chủ đầu tư nhà máy phong điện Phú lạc (Công ty
Cổ phần Phong điện Thuận Bình), tỉnh Bình Thuận; đồng thời trên cơ sở tập hợp, nghiên cứu quy đi ̣nh pháp lu ật hiện hành ở Việt Nam, đánh giá với chính sách của một số nước trên thế giới như: các nước thuộc tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), Trung Quốc và một
số nước châu Á khác
Từ những tài liệu thu thập được và tham khảo ý kiến của các Chuyên gia trong lĩnh vực này, cũng như thực tiễn hoạt động trong lĩnh vực pháp lý của tác giả (phương pháp mô hình hóa), đề tài sẽ thể hiện được ý kiến riêng biệt của tác giả đối với pháp luật về phát triển năng lượng tái tạo tại Việt Nam hiện nay
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm
3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luâ ̣n cơ bản về năng lượng tái tạo
Chương 2: Thực tra ̣ng pháp luật hiện hành của Việt Nam về các biện pháp khuyễn khích,
hỗ trợ phát triển năng lượng tái tạo
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về phát triển năng lượng tái tạo ở Việt Nam
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO
1.1 Quan điểm về năng lươ ̣ng tái ta ̣o
Năng lượng tái tạo là một khái niệm rộng, mang tính khoa học, hiện đang được quan niê ̣m theo nhiều cách hiểu khác nhau:
Cách tiếp cận theo khoa học vật lý, theo đó năng lượng tái tạo được hiểu là những nguồn năng lượng hay những phương pháp khai thác năng lượng mà nếu đo bằng các chuẩn mực
Trang 5của con người thì là vô hạn Vô hạn có hai nghĩa:
Một là: năng lượng tồn tại nhiều đến mức mà không thể trở thành cạn kiệt vì sự sử dụng
của con người (ví dụ như năng lượng Mặt trời)
Hai là: năng lượng tự tái tạo trong thời gian ngắn và liên tục (ví dụ như năng lượng sinh
khối) trong các quy trình còn tiếp diễn trong một thời gian dài trên Trái đất
Tiếp cận theo quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam như: khoản 1 Điều 33 Luật Bảo
vê ̣ môi trường năm 2005; Khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 3 Luật sử dụng năng lượng tiết kiệm hiệu quả năm 2010; Khoản 13 Điều 2 Quyết định số 18/2008/QĐ-BCT ngày 18/7/ 2008 của Bộ trưởng Bộ Công thương quy định về biểu giá chi phí tránh được cho các Nhà máy điện nhỏ sử dụng năng lượng tái tạo; Dự thảo Nghị định Về khuyến khích, hỗ trợ phát triển
năng lượng tái tạo lần 5 ngày 28/08/2009 do Bộ Công thương chủ trì soạn thảo có định nghĩa:
Năng lượng tái tạo là các dạng năng lượng phi hoá thạch, có khả năng tái tạo, bao gồm: các nguồn thủy điện nhỏ, năng lượng biển (phát điện bằng sóng biển, thủy triều, năng lượng dòng hải lưu), năng lượng gió, năng lượng mặt trời, năng lượng địa nhiệt; năng lượng sinh khối và nhiên liệu sinh học Nhìn chung, cách định nghĩa theo quy định pháp luật hiện hành
có đặc điểm:
Thứ nhất: Mang tính chất liệt kê, điều đó có thể dẫn tới có những nguồn năng lượng tái
tạo có thể sẽ phát sinh trong tương lai gần sẽ không được điều chỉnh
Thứ hai: Một số quy định pháp luật hiện hành còn chưa thống nhất, mâu thuẫn, cần phải đươ ̣c hê ̣ thống hóa và thống nhất trong viê ̣c áp du ̣ng
1.2 Phân loa ̣i nguồn năng lươ ̣ng tái ta ̣o (Renewable Energy)
Xét theo tính chất vật lý của mỗi dạng năng lượng và quá trình chuyển hóa năng lượng của mỗi dạng, có thể phân loại năng lượng tái tạo thành các dạng cơ bản sau đây:
- Năng lượng mặt Trời;
- Năng lượng gió;
- Năng lượng thủy triều;
- Năng lượng sức nước;
- Năng lượng từ sóng biển;
- Năng lượng từ lòng đất hay năng lượng đi ̣a nhiê ̣t;
- Năng lượng từ sinh khối;
- Các dạng năng lượng khác
1.3 Sư ̣ cần thiết cần phải có c ác biện pháp về hỗ trợ , khuyến khích phát triển năng lươ ̣ng tái ta ̣o
Đứng trước nguy cơ nguồn năng lượng truyền thống đang dần cạn kiệt, hiện nay nhiều nước trên thế giới đang hối hả phát triển, ứng dụng nguồn năng lượng tái tạo vào đời sống kinh tế – xã
hô ̣i và Viê ̣t Nam không nằm ngoài quy luâ ̣t phát triển chung đó Đứng trước nhu cầu thực tế, vì sự phát triển bền vững của đất nước thì Nhà nước ngay lâ ̣p tức phải hành động, có những sách lươ ̣c quan trọng để hỗ trợ, phát triển năng lượng tái tạo
Để đánh giá sâu sắc hơn về sự cần thiết phải có các biê ̣n pháp về hỗ trợ , khuyến khích phát triển năng lượng tái tạo tại Việt Nam trong thời gian , luâ ̣n văn tâ ̣p trung nghiên c ứu đưa
ra các số liê ̣u , dẫn chứng cu ̣ thể về thực tra ̣ng và hâ ̣u quả của viê ̣c khai thác nguồn năng lươ ̣ng truyền thống ở Viê ̣t Nam trong thời gian qua và đánh giá tổng quan những lợi ích mà nguồn năng lươ ̣ng tái ta ̣o đem la ̣i ch o sự phát triển kinh tế, xã hội, đồng thời góp phần bảo vê ̣
môi trường, để nhận thấy hai mặt đối lập trong quá trình khai thác, sử du ̣ng năng lượng
1.3.1 Thực trạng và hậu quả của việc khai thác nguồn tài nguyên năng lượng sơ cấp ở Việt Nam
1.3.1.1 Nguồn tài nguyên năng lượng không có khả năng tái sinh đang khan hiếm và bị khai thác triệt để
Đặc tính riêng biệt của những nguồn tài nguyên không có khẳ năng tái sinh là có một tổng trữ lượng cố định do thiên nhiên tạo ra, do vậy hiện tại việc sử dụng càng nhiều thì trong tương
Trang 6lai việc khan hiếm càng cao, khái niệm về sản lượng bền vững sẽ không phù hợp với nguồn tài nguyên này Vì vậy, điều chúng ta quan tâm tới nguồn tài nguyên này là sự kiểm soát khả năng khai thác, tốc độ cạn kiệt để có thể đảm bảo cho phát triển bền vững Điều này có nghĩa là, Chính phủ không được cho phép các doanh nghiệp ra sức khai thác nguồn tài nguyên này, mà thay vào
đó phải có biện pháp kiềm chế, vừa đảm bảo nhu cầu đủ cho phát triển kinh tế vừa đảm bảo hài hòa cho việc bảo vệ môi trường và duy trì cho sự phát triển của tương lai
1.3.1.2 Hậu quả của việc khai thác
Sự gia tăng mức độ sử dụng năng lượng, luôn luôn kèm theo nguy cơ gây ô nhiễm môi trường tại khu vực hoạt động năng lượng và góp phần làm suy giảm chất lượng môi trường toàn cầu (ví dụ việc thải vào khí quyển khí CO2, SO2, NOx gây hiệu ứng nhà kính, phá hỏng tầng Ôzôn, làm biến đổi khí hậu) Quá trình cháy nhiên liệu nói riêng và hoạt động sản sinh năng lượng nói chung là nhân tố quan trọng gây ô nhiễm môi trường
1.3.2 Lợi ích của việc khuyến khích, hỗ trợ phát triển năng lượng tái tạo ở Việt Nam hiện nay
Nhìn chung năng lượng tái tạo khi triển khai trên thực tiễn, là nguồn năng lượng thân thiệt với môi trường, điều đó được thể hiện ở chỗ:
Một là: Việc khai thác, vận hành bình thường, nguồn năng lượng tái tạo, không có khả
năng phát sinh khí thải, hay chất phóng xạ là nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường, thay đổi khí hậu toàn cầu
Hai là: Năng lượng tái tạo giúp giảm thiểu ô nhiễm không khí và bề mặt trái đất, vì vận
hành các nhà máy sử dụng nguồn năng lượng tái tạo không thải khói, bụi và các chất gây nên mưa axit
Ba là: Khi đánh giá tác động đối với môi trường sinh thái, sức khỏe của con người, hậu
quả của chất thải thì năng lượng hạt nhân vượt lên trên các giải pháp năng lượng thông thường khác
Bốn là: So với lượng khí thải khổng lồ của năng lượng hóa thạch vào khí quyển và môi
trường trái đất, lượng chất thải do năng lượng tái tạo gần như không có, vì hiện nay với công nghệ hiện đại thì các dạng ô nhiễm đã được khắc phục, ví dụ như ô nhiễm tiếng ồn do các tuabin gió
Năm là: Về thực tiễn, như phân tích ở trên thì Việt Nam là nước có tiềm năng lớn và khá
đa dạng về các nguồn năng lượng tái tạo
Sáu là: Nhu cầu về năng lượng, đặc biệt là điện năng của đất nước trong giai đoạn tới là
rất lớn do vậy, rất cần thiết thăm dò, khai thác các nguồn năng lượng khác, trong đó có năng lượng tái tạo để bổ sung nhằm đa dạng hoá việc cung cấp, và an ninh năng lượng
Bảy là: Nhiều dự án năng lượng tái tạo sẽ bán được các chứng chỉ giảm phát thải các bon
cho cộng đồng quốc tế, đây sẽ là các nguồn thu bổ sung để thúc đẩy các dự án năng lượng tái tạo cho sự phát triển ở Việt Nam trong giai đoạn tới
Tám là: Các dự án năng lượng tái tạo thường có quy mô nhỏ thường nằm ở vùng sâu
vùng xa, đó thực sự là chất xúc tác cho phát triển nông thôn và tạo cơ hội việc làm Các hoạt động xây dựng ở vùng sâu vùng xa đòi hỏi phát triển giao thông và như vậy sẽ cải thiện đường vào cho cộng đồng dân cư khu vực này
Chín là: Các dự án điện sinh khối sử dụng các phế thải được bỏ đi để tạo ra nguồn năng
lượng tại chỗ, không những đáp ứng đủ nhu cầu mà còn cung cấp lượng điện dư thừa cho lưới điện địa phương Điều này mang lại hiệu quả cao không những cho Quốc gia mà còn trực tiếp cho các cơ sở sản xuất
Mười là: Sự phát triển dân sinh - kinh tế kéo theo tăng nhu cầu sử dụng nhiệt tại các hộ
gia đình, các khách sạn, toà nhà mà hiện nay phần lớn đang được đáp ứng bởi điện lưới, đó
là một trong các nguyên nhân dẫn tới nhu cầu điện tăng, đặc biệt vào giờ cao điểm, sử dụng các nguồn năng lượng như mặt trời, khí sinh hóa…sẽ góp phần thay thế điện, một lượng nhiên liệu hoá thạch rất lớn cho quốc gia
Trang 7Tóm lại, đứng trước nguy cơ khan hiếm nguồn tài nguyên thiên nhiên không thể tái tạo,
cũng như những hậu quả nghiêm trọng của việc khai thác nguồn tài nguyên đó đối với sức khỏe con người, môi trường xung quanh Trong khi Việt Nam lại là một nước có khu vực địa
lý, điều kiện tự nhiên thuận lợi, lý tưởng cho việc khai thác các nguồn tài nguyên năng lượng thiên nhiên có khả năng tái t ạo và những ưu thế, lợi ích mà năng lượng tái tạo đem lại, thì Nhà nước cần phải có những biện pháp nhằm khuyến khích, hỗ trợ phát triển năng lượng tái tạo như một nhu cầu cấp bách, cần phải đẩy mạnh hơn nữa trong thời gian tới Vì vậy, việc hoàn thiện, khắc phụ các hạn chế, bất cấp trong các quy định pháp luật về hỗ trợ, khuyến khích phát triển năng lượng tái tạo là mục tiêu quan trọng mà Nhà nước cần phải tiến hành gấp, không nên để chậm chễ
Chương 2
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CÁC BIỆN PHÁP HỖ TRỢ, KHUYẾN KHÍCH,
PHÁT TRIỂN NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 2.1 Pháp luật về ca ́ c biê ̣n pháp hỗ trơ ̣, khuyến khích phát triển năng lươ ̣ng tái ta ̣o
Việc phát triển năng lượng tái tạo là nhu cầu thiết yếu của bất cứ quốc gia nào, vì những lợi ích của năng lượng tái tạo đem lại, không những vì lợi ích kinh tế, xã hội, mà nó còn là công cụ để bảo đảm an ninh năng lượng cho xã hội trong thời gian dài, đồng thời cũng là công cụ để bảo vệ môi trường, không phát thải khí nhà kính, ít có khả năng gây ô nhiễm môi trường Vì vậy, trong những năm vừa qua, Việt Nam đã rất quan tâm tới vấn đề này, điều đó được thể hiện trong những văn bản quy phạm pháp luật của các cấp các ngành như:
- Luật Điện lực năm 2005;
- Luật Đầu tư 2005;
- Luật Bảo vệ môi trường 2005;
- Luật sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả năm 2010;
- Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến
năm 2050 (Quyết định phê duyệt số 1855/QĐ-TTg, ngày 27 tháng 12 năm 2007);
- Quyết định số 110/2007/QĐ-TTg ngày 18/7/2010 của Thủ tướng Chính phủ về Phê
duyệt Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2006 - 2015 có xét đến năm 2025;
Như vậy là mục đích và mục tiêu cụ thể về khuyến khích phát triển năng lượng tái tạo nhằm đảm bảo phát triển bền vững trên cơ sở khai thác tối ưu mọi nguồn lực, đáp ứng nhu cầu điện năng phục vụ đời sống nhân dân và phát triển kinh tế - xã hội, góp phần bảo đảm an ninh quốc phòng, và an ninh năng lượng đã được định hướng rõ ràng Tuy nhiên, trên thực tế, mặc dù Chính phủ đã có một số chính sách khuyến khích, hỗ trợ phát triển, tình hình phát triển và đầu tư các dự
án năng lượng tái tạo còn chưa đạt được mục tiêu đề ra
2.2 Đa ́ nh giá những thành tựu , kết quả đã đa ̣t đươ ̣c và những tồn ta ̣i , đối với viê ̣c
áp dụng pháp luật thực định
2.2.1 Những tha ̀nh tựu, kết quả đạt được
Nhà nước đã có nhiều chính sách tích cực cho công cuộc phát triển kinh tế xã hội đi đôi với việc bảo vệ môi trường, theo đó đã khuyến khích, hỗ trợ, cũng như có nhiều biện pháp để tạo điều kiện cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia việc khai thác, sử dụng năng lượng tái tạo ở Việt Nam
2.2.2 Như ̃ng tồn tại, khó khăn khi áp dụng các quy định pháp luật hiện hành
2.2.2.1 Áp dụng quy định pháp luật về b ảo vệ môi trường trong hoạt động khuyến khích, hỗ trợ phát triển năng lượng tái tạo tại Việt Nam
Nhiều năm vừa qua Chính phủ, cũng như Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có nhiều quy định, kế hoạch nhằm triển khai áp dụng khoa học công nghệ vào nghiên cứu, sử dụng và phát triển năng lượng tái tạo Tuy nhiên, vì hệ thống pháp luật về môi trường của Việt Nam còn thiếu đồng bộ, chưa đầy đủ nên việc triển khai các dự án về phát triển năng lượng tái tạo ở
Trang 8Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn, khi cần sự hỗ trợ của nhà nước như:
- Chủ đầu tư khó khăn trong việc tiếp cận nguồn hỗ trợ từ Nhà nước và khó khăn trong
việc tiếp cận nguồn tài chính từ Nghị định thư Kyoto về biến đổi khí hậu toàn cầu
- Ý thức trách nhiệm của cơ quan nhà nước, Chủ đầu tư đối với việc đầu tư xây dựng các
dự án khai thác, sử dụng năng lượng tái tạo, song song với trách nhiệm bảo vệ môi trường là chưa cao, chưa tự giác
2.2.2.2 Khoảng trống của pháp luật về thị trường năng lượng
Các dạng năng lượng sơ cấp, được nằm tập trung tại các Tập đoàn kinh tế lớn của Nhà nước Chính vì hiện tượng độc quyền nhà nước, nên cho tới nay vẫn tồn tại hiện tượng “Cung nhỏ hơn Cầu”
2.2.2.3 Hạn chế đối với việc đầu tư tài chính cho các dự án năng lươ ̣ng tái tạo và giá thành sản phẩm của các dự án năng lượng tái tạo
Giá thành năng lượng từ các nguồn hóa thạch chưa phản ánh hết các chi phí thực khi giá nhiên liệu trong nước thấp hơn giá quốc tế Khó khăn của năng lươ ̣ng tái ta ̣o khi tham g ia thị trường này là do sự can thiệp về giá, vì các chi phí tổn hại môi trường là các chi phí có thực,
mà sự tránh được nó là lợi ích của năng lươ ̣ng tái ta ̣o
Với vị trí địa lý đặc thù, tại các vùng sâu, vùng xa, nơi có thể khai thác các dạng nguồn năng lượng tái tạo không nối lưới, nhưng chi phí đầu tư lớn mà người sử dụng lại có thu nhập thấp
Việc tiếp cận các nguồn hỗ trợ từ các tổ chức tín dụng hay tìm kiếm cơ hội khai thác, bán chứng chỉ giảm phát thải (CERs) gặp nhiều khó khăn
2.2.2.4 Một số khó khăn khác, vươ ́ ng mắc khác
Một là: Khó khăn về cơ chế chính sách và tổ chức thực hiện
Việt Nam là một nước có tiềm năng lớn về nguồn năng lượng tái ta ̣o nhưng cho đ ến nay
số các dự án thực hiện còn rất ít, tỷ trọng điện tái tạo trong tổng lượng điện sản xuất là không đáng kể, đó là do: Thiếu chính sách đủ mạnh, đồng bộ bao gồm từ điều tra, thăm dò tiềm năng đến khai thác và sử dụng; Thiếu cơ chế tài chính hiệu quả cho việc đầu tư, quản lý và vận hành các dự án điện tái tạo tại khu vực vùng sâu, vùng xa ngoài lưới; Thiếu một cơ quan đầu mối tập trung, với chức năng đủ mạnh để điều hành
Hai là: khó khăn về cơ sở dữ liệu cho quy hoạch và lập kế hoạch phát triển:
Do tính đặc thù của năng lươ ̣ng tái ta ̣o là phân tán, phụ thuộc mùa vụ, thời tiết nên nguồn
số liệu là không sẵn có Hiện nay, chưa có cơ quan nào được giao thu thập, cập nhật và thông
kê như đã làm với các dạng năng lượng thương mại Hiện tại, việc đánh giá tiềm năng năng lươ ̣ng tái ta ̣o có ở mức độ hạn chế vì do thiếu cơ sở dữ liệu tin cậy
Ba là: khó khăn về trình độ áp dụng công nghệ:
Hiện nay ở nước ta còn thiếu các doanh nghiệp thương mại cung cấp các thiết bị năng lươ ̣ng tái ta ̣o và d ịch vụ liên quan đến năng lượng tái ta ̣o Do vậy, các công nghệ năng lượng tái tạo ph ần lớn chưa chế tạo được trong nước mà phải nhập khẩu Các dịch vụ sau lắp đặt chưa có, đặc biệt là ở vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa
2.2.3 Mô ̣t số nguyên nhân dẫn tới các tồn tại, khó khăn khi áp dụng các quy định pháp luật hiện hành
Những nguyên nhân chính l à thuộc về nhân tố chủ quan , do chính những ha ̣n chế , thiếu hụt và chưa đồng bô ̣ của hê ̣ thống luâ ̣t pháp và công quản lý nhà nước trong lĩnh vực này
2.2.3.1 Tư ̀ phía cơ quan chức năng
Sự thiếu kiểm soát , quản lý của Cơ quan nhà nước có thẩm quyền về quy hoạch , xây dựng dự án , dẫn tới các dự án được xây dựng có nguy cơ gây tác ha ̣i nghiêm tro ̣ng đến đa dạng sinh học và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên , phá vỡ cảnh quan môi trường, gây tình tra ̣ng
ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường
Sự phối hợp thực hiê ̣n mu ̣c tiêu phát triển năng lượng tái ta ̣o , qua đó bảo vê ̣ môi trường , phát triển kinh tế xã hội tại các cơ quan chức năng như Bộ Tài nguyên và Môi trường , Bộ
Trang 9Công Thương, Bô ̣ Tài chính và Bô ̣ Kế hoa ̣ch và Đầu tư , cũng như với các Bộ , ngành khác là chưa chă ̣t chẽ, thống nhất
2.2.3.2 Còn nhiều bất cập trong quá trình thể chế xây dựng, ban ha ̀ nh quy đi ̣nh pháp luật về năng lượng tái tạo
Hệ thống pháp luật Việt Nam về việc khuyến khích , hỗ trợ phát triển năng lượng tái ta ̣o
là còn thiếu, mâu thuẫn và chưa đồng bô ̣, ảnh hưởng tới hiệu lực thực thi trên thực tiễn
2.2.3.3 Công ta ́ c tuyên truyền vận động còn chưa hiê ̣u quả
Trong thời gian vừa qua cơ quan nhà nước phần lớn chú tro ̣ng tới viê ̣c quản lý quá trình khai thác nguồn năng lượng sơ cấp của các Tâ ̣p đoàn kinh tế nhà nước , mà không mấy quan tâm tới công tác tuyên truyền , vâ ̣n đô ̣ng các tổ chức, doanh nghiê ̣p trong và ngoài nước cùng
tham gia khai thác các dự án sử du ̣ng năng lượng tái ta ̣o
Chương 3
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CÁC BIỆN PHÁP HỖ TRỢ, KHUYẾN KHÍCH,
PHÁT TRIỂN NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO 3.1 Tiềm năng pha ́ t triển năng lươ ̣ng tái ta ̣o
Đứng trước nguy cơ nguồn năng lượng truyền thống đang dần cạn kiệt , hiện nay nhiều nước trên thế giới đang tập trung phát triển, ứng dụng nguồn năng lượng tái tạo vào đời sống kinh tế – xã hội và Việt Nam không nằm ngoài quy luâ ̣t phát triển chung đó
Với vị trí địa lý, khí hậu nhiệt đới gió mùa và các đ ặc thù của nước nông nghiệp đã tạo cho Việt Nam có những nguồn năng lượng tái tạo khá dồi dào và đa dạng, có thể khai thác một số lượng lớn cho sản xuất năng lượng, đáp ứng được tiền năng phát triển kinh tế – xã hội của đất nước như:
- Thuỷ điện nhỏ và vừa;
- Năng lượng gió (phong điện);
- Năng lượng Sinh khối;
- Năng lượng mặt trời;
- Năng lượng địa nhiệt;
- Các dạng năng lượng tái tạo khác
3.2 Chính sách phát triển năng lượng tái tạo trên thế giới
Trong luận văn, tác giả đã đánh giá tổng quan chính sách phát triển năng lượng tái tạo của các nước thuộc khu vực cộng đồng Châu Âu, các nước khác trên thế giới và trong khu vực, đặc biệt là Trung Quốc là nước có tiềm năng về năng lượng tái tạo, cũng như thể chế chính trị, chính sách phát triển kinh tế, xã hội tương đồng với Việt Nam
Nhìn chung các nước hầu hết đã hoạch định chương trình, mục tiêu của quốc gia để có thể đạt tỷ lệ cao trong tổng tiêu dùng năng lượng sẽ được cấp từ nguồn năng lươ ̣ng tái ta ̣o Về
cơ bản, các chương trình phát triển nguồn năng lượng tái tạo đều được cung cấp tài chính trực tiếp từ ngân sách nhà nước hoặc thông qua các biện pháp ưu đãi như bù giá điện, miễn giảm
thuế và các hình thức hỗ trợ khác
3.3 Đi ̣nh hướng phát triển năng lượng tái ta ̣o
3.3.1 Mô ̣t số đi ̣nh hướng phát triển
Từ những tiềm năng về phát triển năng lượng tái ta ̣o đã được dự báo , thì Nhà nước nên
có những định hướng , lô ̣ trình thúc đẩy viê ̣c phát triển năng lượng tái ta ̣o phù hợp với từng giai đoa ̣n, thời kỳ phát triển của đất nước , đảm bảo phát triển hài hòa , ổn định giữa mục tiêu kinh tế và bảo vê ̣ môi trường Theo những đánh giá , phân tích ở trên cho thấy viê ̣c đầu tư phát triển các dự án năng lượng tái tạo có kinh phí đầu tư lớn , khả năng thu hồi vốn lâu , dẫn tới sự bàng quang của các nhà đầu tư trong thời gian vừa đó Đứng trước thực tiễn khách quan đó, thì Nhà nước nên có những định hướng trong thời gian tới như sau:
Một là: Ưu tiên và hỗ trợ phát triển và sử dụng các nguồn năng lượng tái ta ̣o kh ả thi về
kinh tế
Trang 10Hai là: Hỗ trợ phát triển nguồn năng lượng tái ta ̣o cho đi ện khí hóa nông thôn tại các
vùng sâu, vùng xa, miền núi và hải đảo
Ba là: Hỗ trợ đầu tư phát triển một số loại hình công nghệ năng lượng tái ta ̣o hi ện chưa
khả thi về kinh tế trên cơ sở có chọn lọc nhằm đánh giá được khả năng khai thác để từng bước hoàn thiện công nghệ, định hình thị trường và phát triển nguồn lực
Bốn là: Phát triển năng lượng tái ta ̣o ph ải thực hiện trên nguyên tắc kết hợp giữa cơ chế
thị trường và hỗ trợ của nhà nước một cách hiệu quả và minh bạch
Năm là: Phát triển năng lượng tái ta ̣o phải gắn với phát triển bền vững về kinh tế, xã hội
và môi trường
3.3.2 Sư ̣ đòi hỏi của thực tiễn khách quan trong viê ̣c hoàn thiê ̣n pháp luâ ̣t về các biê ̣n pháp khuyến khích, hỗ trợ phát triển năng lượng tái tạo
Một là: Thể chế hoá đường lối, quan điểm của Đảng về phát triển năng lượng quốc gia,
đảm bảo an ninh năng lượng, khai thác và sử dụng hợp lý, có hiệu quả nguồn tài nguyên của đất nước, đáp ứng nhiệm vụ bảo vệ môi trường và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Hai là: Thống nhất chỉ đạo điều hành việc phát triển năng lượng tái tạo gắn với các mục
tiêu phát triển kinh tế - xã hội - môi trường, đặc biệt cho mục đích điện khí hóa vùng sâu vùng xa Phát triển thể chế và chính sách khả thi và bền vững, có phân bổ trách nhiệm rõ ràng, hợp lý giữa các cơ quan Trung ương và địa phương
Ba là: Tạo môi trường thuận lợi, ổn định để phát huy tối đa cơ chế thị trường cho phát
triển các dự án năng lượng tái tạo khả thi về mặt kinh tế Từng bước loại bỏ những rào cản về thể chế, về cơ chế tài chính cho đầu tư năng lượng tái tạo và khai thác hiệu quả nguồn thu từ
cơ chế sạch
Bốn là: Tạo cơ chế khuyến khích huy động tối đa vốn đầu tư từ các khu vực tư nhân, từ
các thể chế hợp tác song phương và đa phương cho phát triển năng lượng tái tạo
Năm là: Các tổ chức, cá nhân khai thác và sử dụng năng lượng có nguồn gốc từ nhiên
liệu hoá thạch có trách nhiệm góp phần thúc đẩy phát triển năng lượng sạch
Sáu là: Khuyến khích, hỗ trợ phát triển các hệ thống điện độc lập từ năng lượng tái tạo
phục vụ mục tiêu điện khí hóa nông thôn ở những khu vực vùng sâu vùng xa, miền núi, hải đảo
Bảy là: Khuyến khích, hỗ trợ phát triển sản xuất thiết bị năng lượng tái tạo; nghiên cứu
và phát triển công nghệ cho các dạng năng lượng tái tạo được ưu tiên trong ngắn hạn và trung hạn
Tám là: Xây dựng năng lực quản lý nhà nước cấp Trung ương và địa phương trong việc
điều tiết các hoạt động phát triển và sử dụng năng lượng tái tạo nhằm đạt được mục tiêu đề ra; xây dựng nguồn nhân lực phục vụ phát triển năng lượng tái tạo
Chín là: Tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực phát triển năng lượng tái tạo
3.4 Giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về phát triển năng lượng tái tạo
3.4.1 Thiết lâ ̣p, thể chế hóa các cơ chế chính sách về phát triển năng lượng tái tạo bằng quy đi ̣nh pháp luật
Một là : Xây dựng khung chính sách pháp lý về khuyến khích, hỗ trợ phát triển và sử
dụng năng lượng tái tạo bao gồm Luật Năng lượng tái tạo và các văn bản quy phạm hướng dẫn thi hành
Hai là: Cải tiến đơn giản hóa thủ tục đầu tư và giám sát phát triển các dự án năng lượng
tái tạo trên nguyên t ắc đảm bảo các dự án đáp ứng yêu cầu kinh tế, an toàn, môi trường và xã hội
3.4.2 Tăng cươ ̀ng hỗ trợ đầu tư và phát triển năng lượng tái tạo
Một là: Hỗ trợ phát triển các dự án phát điện nối lưới từ nguồn năng lượng tái tạo khả thi
về kinh tế;
Hai là: Hỗ trợ vốn đầu tư cho phát triển các hệ thống điện độc lập từ nguồn năng lượng