Phân tích thực trạng pháp luật thuế xuất nhập khẩu trong điều kiện Việt Nam thực thi cam kết WTO, đánh giá mức độ phù hợp của các quy định pháp luật đó với thực tiễn hoạt động thuế xuất
Trang 1Pháp luật thuế xuất nhập khẩu trong điều kiện
Việt Nam thực thi cam kết WTO
Ngô Khánh Phượng
Khoa Luật Luận văn Thạc sĩ ngành: Luật Kinh tế; Mã số: 60 38 50
Người hướng dẫn: TS.Nguyễn Văn Tuyến
Năm bảo vệ: 2011
Abstract: Nghiên cứu các vấn đề lý luận thuế xuất nhập khẩu nói chung và thuế xuất
nhập khẩu trong điều kiện Việt Nam thực thi cam kết WTO Phân tích thực trạng pháp luật thuế xuất nhập khẩu trong điều kiện Việt Nam thực thi cam kết WTO, đánh giá mức độ phù hợp của các quy định pháp luật đó với thực tiễn hoạt động thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam, mức độ tương thích và phù hợp với các cam kết WTO Đưa ra những đề xuất, kiến nghị một số sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật của Việt Nam
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Ngày 7/11/2006, Việt Nam được chính thức công nhận là thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO).Với sự gia nhập WTO, trước áp lực mạnh mẽ của việc cam kết và thực thi lĩnh vực thuế quan trong hoạt động xuất nhập khẩu, đã và đang đặt ra những yêu cầu nghiên cứu về lý luận và thực tiễn điều chỉnh pháp luật đối với thuế xuất nhập khẩu và một trong những yêu cầu đó, cũng được xác định là yêu cầu cơ bản và quan trọng nhất tại thời điểm hiện nay khi Việt Nam vừa gia nhập và đang bước những bước đầu tiên thực hiện cam kết về thuế quan của WTO là cần điều chỉnh pháp luật về thuế xuất nhập khẩu trong nước cho phù hợp với các cam kết về thuế quan của Việt Nam khi gia nhập WTO
Nghiên cứu đề tài “Pháp luật thuế xuất nhập khẩu trong điều kiện Việt Nam thực thi cam kết WTO” với tính chất là một hướng tiếp cận vấn đề còn khá mới mẻ trong gian
đoạn này, nhằm phân tích thực trạng pháp luật về thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam, nhận diện những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến điều chỉnh pháp luật đối với thuế xuất nhập khẩu là hoạt động cần thiết trong bối cảnh hiện nay cả trên phương diện lý luận và thực tiễn
Trang 22 Tình hình nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam mới chỉ được đề cập dưới dạng các bài viết được đăng tải rải rác trên tạp chí hoặc dưới hình thức các ý kiến tản mạn của các chuyên gia, các đại diện của cơ quan quản lý nhà nước trong các cuộc trả lời phỏng vấn của các cơ quan báo chí Cụ thể, đề cấp đến hệ thống pháp luật về thuế xuất nhập khẩu của Việt
Nam có bài viết của Tiến sĩ Đinh Ngọc Thịnh - Học viện Tài chính với tiêu đề: Hoàn thiện chính sách thuế trong quá trình hội nhập WTO, đăng tải trên báo điện tử VNN ngày
17/8/2007; hoặc đề cập đến chính sách chung về thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam trong điều kiện gia nhập WTO có các bài viết được đăng tải trên các website báo điện tử hoặc tạp
chí như: Luật thuế xuất nhập khẩu phải minh bạch hơn để gia nhập WTO của Nguyễn Sa (Vietnamnet) hoặc Gia nhập WTO: Thuế xuất nhập khẩu chịu tác động trực tiếp (Vnmedia) và Việt Nam với WTO (chuyên đề số 01/2007 được xuất bản bởi Nhà xuất bản Tư pháp)…
Vì vậy, có thể nói đề tài Pháp luật thuế xuất nhập khẩu trong điều kiện Việt Nam thực thi cam kết WTO là một đề tài độc lập và không trùng lặp với các đề tài đã được nghiên cứu từ
trước đến nay Tuy nhiên, tác giả luôn có ý thức kế thừa, học hỏi những kết quả mà các công trình khoa học, các bài viết, và các ý kiến của các chuyên gia cũng như các kinh nghiệm thực tiễn có liên quan đến đề tài trong quá trình thực hiện đề tài
3 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Tên gọi của đề tài nghiên cứu là “Pháp luật thuế xuất nhập khẩu trong điều kiện
Việt Nam thực thi cam kết WTO” được xác định trong bối cảnh thực tiễn pháp lý của Việt
Nam (văn bản pháp luật được ban hành sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO và có liên quan trực tiếp đến cam kết về thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam khi gia nhập WTO) chỉ điều chỉnh hoạt động thuế xuất nhập khẩu nhằm thực thi cam kết của Việt
Nam với WTO, đặc biệt quan tâm đến yêu cầu nổi trội là phải cắt giảm thuế nhập khẩu theo
cam kết của Việt Nam với WTO (không bao gồm toàn bộ hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu
theo hệ thống pháp luật thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam)
Trong phạm vi bài này, bên cạnh thuế xuất khẩu là một bộ phận cấu thành trong hệ thống pháp luật thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam thì tác giả có tập trung nhiều hơn về thuế nhập khẩu của Việt Nam trong điều kiện thực thi cam kết WTO
4 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận về thuế xuất nhập khẩu và cam kết về thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam khi gia nhập WTO, đề tài đánh giá khái quát thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam về thuế xuất nhập khẩu trong điều kiện thực thi cam kết WTO Bên cạnh việc đánh giá thực trạng và các quy định pháp luật hiện hành về thuế xuất
Trang 3nhập khẩu của Việt Nam trong điều kiện thực thi cam kết WTO, đề tài nêu và phân tích một
số vấn đề liên quan đến thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam chưa được đề cập hoặc được điều chỉnh bởi pháp luật về thuế xuất nhập khẩu hoặc vẫn còn những bất cập cần phải xem xét để sửa đổi, bổ sung và điều chỉnh
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Các phương pháp nghiên cứu đề tài được sử dụng trong quá trình thực hiện Luận văn bao gồm:
- Phương pháp duy vật biện chứng;
- Phương pháp duy vật lịch sử;
- Các phương pháp khác như: phương pháp so sánh, thống kê, khảo sát
6 Kết quả mới đạt được của Luận văn
Luận văn có những đóng góp mới sau đây:
- Nghiên cứu các vấn đề lý luận thuế xuất nhập khẩu và thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam trong điều kiện thực thi cam kết WTO;
- Phân tích thực trạng pháp luật về thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam trong điều kiện thực thi cam kết WTO, đánh giá mức độ phù hợp của các quy định pháp luật đó với thực tiễn hoạt động thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam, mức độ tương thích và phù hợp với các cam kết WTO từ đó đưa ra những đề xuất, kiến nghị một số sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật của Việt Nam hiện nay
7 Bố cục và nội dung cơ bản của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu thành ba chương với nội dung cơ bản như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về xuất nhập khẩu và pháp luật về thuế xuất khẩu,
nhập khẩu trong điều kiện Việt Nam thực thi cam kết WTO
Chương 2: Thực trạng pháp luật về thuế xuất nhập khẩu trong điều kiện Việt Nam thực thi cam kết WTO Phương hướng và giải pháp hoàn thiện
Trang 41.1.1 Nguyên nhân thúc đẩy hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu
Những cam kết về hàng hóa của Việt Nam khi gia nhập WTO là nguyên nhân chính thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu:
Thứ nhất, lần đầu tiên Việt Nam mở rộng quyền kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hóa
cho các doanh nghiệp, cá nhân, nhà đầu tư nước ngoài
Thứ hai, các điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu như:
- Rào cản ở các nước nhập khẩu ít hơn (thuế giảm, hàng rào phi thuế dần được bãi bỏ
…);
- Hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam được đối xử công bằng hơn trên thị trường thế giới;
- Các nước thuộc WTO không áp dụng hạn ngạch nhập khẩu đối với hàng dệt may của Việt Nam khi xuất khẩu sang thị trường các nước này;
- Doanh nghiệp dễ dàng định hướng hoạt động xuất khẩu của mình hơn do được tiếp cận với thông tin về thị trường nhập khẩu
Thứ ba, Việt Nam buộc phải cắt giảm rào cản thuế quan và phi thuế quan, giảm bảo hộ
và trợ cấp xuất khẩu, bởi vậy hàng nhập khẩu vào Việt Nam nhiều hơn trước.Cụ thể là:
- Giảm thuế nhập khẩu: Việt Nam cam kết cắt giảm thuế nhập khẩu của 3800 dòng thuế (chiếm 35,5% tỷ trọng); phải dừng ở mức thuế tại thời điểm gia nhập là 3700 dòng thuế (chiếm 34,5% tỷ trọng; mức thuế trần cao hơn mức thuế khi gia nhập WTO là 3170 dòng thuế (chiếm 30% tỷ trọng)
- Thay đổi các biện pháp hạn chế nhập khẩu: Việt Nam buộc phải cho phép nhập khẩu một số mặt hàng mà trước đây Việt Nam không cho phép nhập khẩu, bao gồm:
Việt Nam đồng ý cho nhập khẩu xe máy phân phối lớn không muộn hơn ngày 31/5/2007 phù hợp với quy định của Việt Nam;
Bỏ biện pháp cấm nhập khẩu đối với mặt hàng thuốc lá điếu và xì gà;
Việt Nam cho phép nhập khẩu các loại xe đã qua sử dụng không quá 5 năm với mức thuế suất được xác định trong Biểu cam kết về thuế và đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của Việt Nam;
Việt Nam đảm bảo cơ chế cấp phép nhập khẩu văn hóa phẩm nhằm mục đích kiểm duyệt sẽ tuân thủ theo quy định về minh bạch hóa WTO
Việt Nam cam kết từ ngày 01/01/2009 sẽ mở cửa thị trường dịch vụ phân phối (trừ một số mặt hàng nhạy cảm)
Trang 51.1.2 Nhu cầu xuất khẩu, nhập khẩu của thị trường Việt Nam
Trong giai đoạn 2007-2010, thị trường xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam phát triển
cả chiều rộng lẫn chiều sâu; hàng hóa của Việt Nam xuất khẩu sang 219 nước và nhập khẩu từ
151 nước; 165 nước cho Việt Nam hưởng Quy chế tối huệ quốc, trong đó có 151 nước là thành viên của WTO
Năm 2007, tổng kim ngạch xuất khẩu cả năm lên 48,38 tỷ USD, ước tính bằng USD thì
tổng kim ngạch xuất khẩu so với GDP đạt 67,9%, thuộc loại cao ở châu á và thế giới, tăng 21,5% so với năm 2006
Tính chung cả năm 2008, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đều tăng, chủ yếu do giá trên thị trường thế giới tăng, ước tính đạt 62,9 tỷ USD, tăng 29,5% so với năm 2007 Tổng kim ngạch hàng hoá nhập khẩu ước tính 80,4 tỷ USD, tăng 28,3% so với năm 2007
Năm 2009, kim ngạch xuất khẩu cả năm là 57,1 tỷ USD, giảm 8,9%so với năm 2008 và nhập khẩu là 69,95 tỷ USD, giảm 13,3% Như vậy, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước năm 2009 là 127,05 tỷ USD, giảm 11,4% so với năm 2008, cán cân thương mại hàng hoá thâm hụt 12,85 tỷ USD, bằng 22,6% xuất khẩu
Như vậy, ngoài việc hội nhập vào nền kinh tế thế giới do Việt Nam gia nhập WTO, hoạt động xuất nhập khẩu còn xuất phát từ chính nhu cầu nội tại của bản thân doanh nghiệp và không nằm ngoài quy luật của hoạt động thương mại quốc tế
1.2 kháI niệm xuất nhập khẩu hàng hóa và thuế xuất nhập khẩu
1.2.1 Khái niệm xuất nhập khẩu hàng hóa
Trong lý luận thương mại quốc tế, xuất khẩu được định nghĩa “là việc bán hàng hóa và dịch vụ cho nước ngoài” và nhập khẩu “là việc quốc gia này mua hàng hóa và dịch vụ từ quốc gia khác”
Luật thương mại 2005 đưa ra định nghĩa về xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa như sau:
“1 Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật
2 Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật” (Điều 28)
Bên cạnh đó, Luật thuế giá trị gia tăng 2009 cũng đưa ra khái niệm về hàng hóa xuất
khẩu, bao gồm “hàng hóa xuất khẩu ra nước ngoài, kể cả ủy thác xuất khẩu; hàng hóa bán
Trang 6vào khu phi thuế quan; hàng bán cho cửa hàng miễn thuế; hàng hóa gia công chuyển tiếp theo quy định của pháp luật thương mại; hàng hóa gia công xuất khẩu tại chỗ; hàng hóa xuất
để bán tại hội chợ triển lãm nước ngoài”
1.2.2 Khái niệm thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về thuế tuỳ cách thức tiếp cận nghiên cứu:
Trên giác độ kinh tế học, thuế là một biện pháp đặc biệt, theo đó, Nhà nước sử dụng
quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công, nhằm thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước
Trên giác độ phân phối thu nhập thì thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng
sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành các quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước
để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước
Trên giác độ người nộp thuế, thuế được coi là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ
chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho nhà nước theo luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ Nhà nước
Một trong các khái niệm về thuế được thừa nhận chung là: “Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các pháp nhân, thể nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định, không mang tính chất hoàn trả trực tiếp, nhằm sử dụng cho mục đích chung
toàn xã hội” [11]
Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 1992 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu 1993; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 1998 mặc dù có sửa đổi, bổ sung làm đầy đủ hơn khái niệm về xuất nhập khẩu hàng hóa, nhưng cũng không đưa ra định nghĩa về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu:
“Hàng hóa được phép xuất khẩu, nhập khẩu qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam, kể cả hàng hóa từ thị trường trong nước đưa ra khu chế xuất và từ khu chế xuất đưa ra thị trường trong nước, đều thuộc đối tượng chịu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu” (Điều 1)
Điều 2, Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 2005 cũng không đưa ra định nghĩa khái quát về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu mà quy định cụ thể đối tượng chịu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu bao gồm:
“Trừ hàng hóa quy định tại Điều 3 của Luật này, hàng hóa trong các trường hợp sau đây là đối tượng chịu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu:
1 Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam;
2 Hàng hóa được đưa từ thị trường trong nước vào khu phi thuế quan và từ khu phi thuế quan vào thị trường trong nước”
Trang 7Như vậy, tính đến thời điểm này thì khái niệm “thuế xuất khẩu”, “thuế nhập khẩu” vẫn chưa được quy định chính thức trong bất kỳ văn bản quy phạm pháp luật nào
1.3 những cam kết quốc tế của việt nam về thuế xuất nhập khẩu khi gia nhập tổ chức thương mại thế giời (WTO)
1.3.1 Cam kết chung của Việt Nam khi gia nhập WTO
Các nội dung chủ yếu của báo cáo liên quan đến thuế xuất nhập khẩu là:
- Thuế nhập khẩu, các khoản thu khác: cam kết thuế nhập khẩu trên cơ sở các kết quả
đàm phán song phương và phương án tổng hợp theo Quy chế MFN Ngoài thuế nhập khẩu, Việt Nam sẽ không áp dụng các khoản phụ thu đối với hàng nhập khẩu (trên thực tế đã được Việt Nam bãi bỏ)
- Hạn ngạch thuế quan: Việt Nam chỉ cam kết sẽ áp dụng, phân bổ và quản lý hạn
ngạch thuế quan một cách minh bạch, không phân biệt đối xử và tuân theo đúng các quy định của WTO
- Miễn, giảm thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu: Miễn, giảm thuế trên cơ sở MFN và sẽ
không gắn việc miễn, giảm thuế với yêu cầu về xuất khẩu hay nội địa hóa Một số ưu đãi đầu
tư dưới dạng miễn, giảm thuế nhập khẩu cũng sẽ không được áp dụng nữa
- Biện pháp hạn chế định lượng đối với hàng nhập khẩu:
* Đồng ý cho nhập khẩu xe máy phân khối lớn trên cơ sở bảo lưu quyền áp dụng các biện pháp như quy định độ tuổi người sử dụng và đưa ra chế độ cấp bằng lái đặc biệt
* Đồng ý bỏ biện pháp cấm nhập khẩu thuốc lá điếu và xì gà nhưng kèm theo điều kiện Việt Nam sẽ chỉ định một doanh nghiệp được quyền nhập khẩu toàn bộ
* Với ô tô cũ, Việt Nam cho phép nhập khẩu các loại xe đã qua sử dụng không quá 05 năm nhưng bảo lưu quyền áp dụng thuế nhập khẩu cao và các biện pháp quản lý kỹ thuật chặt chẽ
* Việt Nam bảo lưu quyền cấp phép nhập khẩu văn hóa phẩm, chủ yếu để kiểm duyệt nội dung nhưng bảo đảm cơ chế cấp phép nhằm mục đích kiểm duyệt này sẽ tuân theo các quy định về minh bạch hóa của WTO và biện pháp cấm nhập khẩu thiết bị và phần mềm mã hóa thuộc diện bí mật quốc gia
- Xác định trị giá tính thuế hải quan: Việt Nam sẽ không áp dụng giá tính thuế tối
thiểu (thực tế đã được bãi bỏ) và sẽ tuân thủ hoàn toàn các quy định của WTO về nguyên tắc, trình tự xác định trị giá tính thuế nhập khẩu
- Các quy định về thuế xuất khẩu, phí và lệ phí, thuế nội địa đối với hàng xuất khẩu
và hạn chế xuất khẩu: WTO không có quy định điều chỉnh về thuế xuất khẩu Tuy nhiên,
một số thành viên yêu cầu Việt Nam phải cắt giảm thuế xuất khẩu đối với một số mặt hàng
Trang 8Theo đó, Việt Nam cam kết sẽ giảm thuế xuất khẩu cho các loại phế liệu kim loại đen và kim loại màu nhưng không phải ràng buộc toàn bộ biểu thuế xuất khẩu và cũng không xem việc giảm thuế xuất khẩu là một phần của sự cân bằng nhân nhượng trong đàm phán gia nhập WTO Ngoài ra, Việt Nam chấp nhận áp dụng các biện pháp hạn chế xuất khẩu, phí và lệ phí cũng như thuế nội địa hóa đối với hàng xuất khẩu theo đúng Hiệp định GATT của WTO
1.3.2 Các cam kết cụ thể về thuế quan của Việt Nam
Việt Nam đồng ý ràng buộc mức thuế trần cho toàn bộ biểu thuế quan (gồm 10.600 dòng thuế) Trong đó, Việt Nam sẽ cắt giảm thuế với khoảng 3.800 dòng thuế (chủ yếu là các dòng có thuế suất trên 20%), ràng buộc ở mức thuế hiện hành với khoảng 3.700 dòng và ràng buộc mức thuế trần (cao hơn mức thuế suất hiện hành) với khoảng 3.700 dòng thuế
Mức thuế quan bình quân toàn bộ biểu thuế được giảm từ mức hiện hành 17,4% xuống 13,4%, thực hiện dần trong vòng 5 - 7 năm (trong đó, hàng nông sản giảm từ 23,5% xuống 20,9% và hàng công nghiệp giảm từ 16,8% xuống 12,6%)
Về hạn ngạch thuế quan, Việt Nam bảo lưu quyền áp dụng đối với 4 mặt hàng gồm: trứng, đường, thuốc lá, muối (mặc dù muối trong WTO thường không được áp dụng hạn ngạch, nhưng Việt Nam kiên quyết giữ để bảo vệ lợi ích của người dân sống bằng nghề làm muối) Đối với 4 mặt hàng này, mức thuế trong hạn ngạch tương đương với mức thuế MFN hiện hành: trứng 40%, đường thô 25%, đường tinh 50 - 60%, thuốc lá: 30%, muối ăn: 30%, thấp hơn nhiều so với mức thuế ngoài hạn ngạch
1.4 pháp luật về thuế xuất nhập khẩu trong điều kiện việt nam thực thi cam kết wto
1.4.1 Khái niệm pháp luật về thuế xuất khẩu, nhập khẩu trong điều kiện thực thi cam kết WTO
Pháp luật về thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam trong điều kiện thực thi cam kết WTO được hiểu là quy định của pháp luật Việt Nam đối với các vấn đề liên quan đến thuế xuất khẩu, nhập khẩu trong phạm vi Việt Nam đã đàm phán và ký kết khi tham gia WTO, bao gồm: quy định pháp luật điều chỉnh về biểu khung thuế xuất nhập khẩu, thuế suất xuất nhập khẩu của hàng hóa, hạn ngạch thuế quan, biện hạn chế định lượng đối với hàng nhập khẩu, miễn giảm thuế xuất khẩu và nhập khẩu… hay còn gọi là những quy định pháp luật về thuế xuất nhập khẩu liên quan trực tiếp đến việc Việt Nam có hoàn thành nghĩa vụ theo cam kết WTO hay không
1.4.2 Điều chỉnh pháp luật của Việt Nam đối với thuế xuất nhập khẩu trong điều kiện thực thi cam kết WTO
Riêng năm 2005, Việt Nam đã thông qua nhiều văn bản luật, pháp lệnh, trong đó có hơn
Trang 920 văn bản luật, pháp lệnh là những văn bản mới có liên quan trực tiếp đến nghĩa vụ thành viên của Việt Nam với WTO đã được thông báo cho Ban thư ký WTO Việc sửa đổi Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (sửa đổi tháng 6/2005) là một bước chuẩn bị quan trọng cho quá trình gia nhập WTO, theo đó Việt Nam đã xem xét và sửa đổi các quy định về thuế xuất nhập khẩu trên cơ sở bước đầu phù hợp với các cam kết về thuế quan của Việt Nam khi gia
nhập WTO
Những cơ sở để pháp luật Việt Nam điều chỉnh về thuế xuất, nhập khẩu trong điều kiện thực thi cam kết WTO bao gồm:
- Nguyên tắc của WTO: Việt Nam phải thừa nhận các nguyên tắc của hệ thống thương
mại toàn cầu, chuyển hóa các quy định, nguyên tắc pháp luật đó vào các văn bản pháp luật Tuy nhiên, hệ thống luật lệ của WTO khá đồ sộ và phức tạp nên khi sửa đổi pháp luật cho phù hợp với cam kết WTO thì Việt Nam cần phải chú ý đến việc hoạch định chính sách xây dựng pháp luật cụ thể, tìm hiểu và học hỏi từ kinh nghiệm của các nước đi trước
- Cam kết về thuế quan của Việt Nam khi gia nhập WTO: căn cứ vào các cam kết về mở
cửa thị trường hàng hóa, đặc biệt là cam kết cắt giảm thuế nhập khẩu, Việt Nam cần sửa đổi,
bổ sung những quy định chưa phù hợp với điều kiện hội nhập, chưa đồng bộ với pháp luật hiện hành; đồng thời loại bỏ mạnh các biện pháp phi thuế quan trong thương mại hàng hóa
- Năng lực của các doanh nghiệp trong nước: Việt Nam cần căn cứ vào trình độ, năng
lực và khả năng thích ứng hiện tại của doanh nghiệp trong nước để điều chỉnh những cam kết gia nhập WTO của mình phù hợp để vừa đảm bảo tuân thủ thực thi các cam kết WTO và đảm bảo hiệu quả của hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong nước
- Phạm vi bảo hộ nền kinh tế trong nước: Việt Nam cần cần nhắc việc tuân thủ cam kết
WTO với việc bảo hộ nền kinh tế trong nước, vì vậy Việt Nam có thể quy định mức thuế suất nhập khẩu hợp lý tại mỗi thời điểm hay cơ chế chống bán phá giá, chống trợ cấp ….để đảm bảo mục tiêu cuối cùng là sản xuất trong nước có thể đứng vững, phát triển khi thực hiện hội nhập WTO, mở cửa thị trường, tự do hóa thương mại
Để đảm bảo việc điều chỉnh pháp luật về thuế xuất nhập khẩu đạt được hiệu quả, quan điểm về điều chỉnh pháp luật về thuế xuất nhập khẩu cần thống nhất như sau:
Thứ nhất, Việt Nam cần tôn trọng nguyên tắc của tổ chức thương mại quốc tế, bao gồm
ba nguyên tắc cơ bản: nguyên tắc tối huệ quốc (MFN - Most Favoured Nation), nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (NT - National Treatment), nguyên tắc cạnh tranh công bằng (Fair Competition)
Thứ hai, việc sửa đổi bổ sung các quy định pháp luật cho phù hợp với cam kết WTO sẽ
không được hiểu là việc bắt buộc Việt Nam phải thực hiện cắt giảm thuế quan trong một thời
Trang 10gian ngắn hay càng sớm càng tốt mà Việt Nam có quyền điều chỉnh dần dần thuế suất trong khoảng thời gian mà Việt Nam đã đạt được để đưa ra lộ trình khi gia nhập WTO
1.5 xu hướng phát triển của thuế xuất khẩu, nhập khẩu trong giai đoạn hội nhập toàn cầu
1.5.1 Xu hướng chung của các nước trên thế giới
Hầu hết các nước đã bãi bỏ thuế xuất khẩu hoặc nếu có đánh thì ở mức rất thấp, còn thuế nhập khẩu mặc dù hiện nay nhiều quốc gia vẫn duy trì nhưng đang ngày càng được hạ thấp nhằm tiến dần đến mốc xóa bỏ hoàn toàn, bởi vì:
- Xu thế hướng về xuất khẩu do khoa học và kỹ thuật phát triển nhanh chóng, trong khi thị trường trong nước đã bão hòa, cần thiết tăng thêm sức cạnh trong cho hàng hóa xuất khẩu
- Thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu đều là thuế đánh vào tiêu dùng Trong hai cách đánh thuế tiêu dùng phổ biến là đánh theo xuất xứ (original) và đánh theo điểm đến (destination) thì các nước thông thường là đánh theo điểm đến (đánh vào hàng nhập khẩu, không đánh vào hàng xuất khẩu)
- Thuế nhập khẩu có tác dụng tạo ra mặt bằng cạnh tranh tương đối bình đẳng cho hàng hóa nhập khẩu và hàng hóa sản xuất trong nước
1.5.2 Chính sách thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam sau khi gia nhập WTO
Mối quan hệ giữa xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam trong giai đoạn này cũng được thể hiện rõ nét trên các khía cạnh sau:
- Nhà nước đang xây dựng chiến lược toàn diện để khuyến khích phát triển sản xuất nguyên liệu trong nước thay dần nguyên liệu nhập khẩu
- Nhà nước khuyến khích doanh nghiệp sử dụng nguyên nhiêu liệu nhập khẩu để sản xuất hàng hóa chủ yếu tiêu thụ nội địa như: ô tô, xe máy; hàng điện tử; nước giải khát…; đồng thời cũng có chiến lược xuất khẩu các sản phẩm hàng Việt Nam để tái tạo sự cần đối ngoại tệ phục vụ cho nhu cầu nhập khẩu của mình
- Nhà nước tăng cường hoạt động ngoại giao, khuyến khích các nước mở cửa thị trường thuận lợi cho hàng hóa của Việt Nam thâm nhập trên nguyên tắc có đi có lại
Kết luận chương 1
Qua việc nghiên cứu trên, luận văn đã làm rõ một số vấn đề sau:
Thứ nhất, những yếu tố ảnh hưởng đến chính sách và pháp luật thuế xuất khẩu, nhập
khẩu của Việt Nam
Trang 11Thứ hai, các cam kết của Việt Nam về thuế xuất nhập khẩu khi Việt Nam gia nhập
WTO
Thứ ba, cơ sở để pháp luật Việt Nam điều chỉnh thuế xuất nhập khẩu khi Việt Nam thực
thi cam kết WTO bởi vì cơ sở này giúp việc điều chỉnh của Việt Nam phù hợp với yêu cầu gia nhập WTO và tình hình hiện tại của kinh tế, xã hội Việt Nam
Chương 2 Thực trạng pháp luật thuế xuất nhập khẩu trong điều kiện việt nam thực thi cam kết
wto và phương hướng, giảI pháp hoàn thiện
2.1 thực trạng pháp luật thuế xuất nhập khẩu trong điều kiện việt nam thực thi cam kết wto
2.1.1 Thực trạng hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam sau khi gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO)
Về xuất khẩu hàng hóa, theo số liệu thống kê của Bộ Công thương: năm 2007, xuất
khẩu của Việt Nam đạt mức cao nhất từ trước đến nay và tăng trưởng với tốc độ cao Kim ngạch xuất khẩu đạt 47,7 tỷ USD, tăng 21% so với năm 2006 (7,9 tỷ USD) và vượt 15,5% so với kế hoạch Năm 2008, giá trị xuất khẩu hàng hoá ước đạt 65 tỷ USD, tương đương 73% GDP, tăng 33,9% so với năm 2007 Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của năm 2008 đạt mức cao gấp nhiều lần so với những năm trước đó Năm 2009, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 57,1 tỷ USD, giảm 8,9% so với năm 2008
Về nhập khẩu hàng hoá: Năm 2007, kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam là 60,8 tỷ
USD, tăng 35,5% so với năm 2006, đứng thứ 41 trên thế giới Kim ngạch nhập khẩu năm
2008 của Việt Nam đạt 84 tỷ USD, tăng 34% so với năm 2007 Tuy nhiên, năm 2009 nhập khẩu của Việt Nam giảm khá mạnh, đạt 69,95 tỷ USD, giảm 13,3% so với năm 2008
Dưới đây là tổng hợp một số đánh giá về tình hình thực hiện hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam trong thời gian 03 năm thực thi cam kết WTO:
Thứ nhất, hàng hóa nhập khẩu vào thị trường Việt Nam tăng mạnh, hàng hóa xuất khẩu
còn hạn chế do doanh nghiệp Việt Nam chưa tập trung vào sản xuất các mặt hàng có lợi thế cạnh tranh và phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế
Thứ hai, công tác hành chính còn nhiều thủ tục rườm rà chưa tạo môi trường thuận lợi
và thông thoáng
Thứ ba, số lượng và chất lượng nguồn cán bộ quản lý chưa đáp ứng về nghiệp vụ, ngoại
ngữ, pháp luật và có năng lực đàm phán quốc tế
Trang 12Thứ tư, môi trường chính sách luôn thay đổi cũng đã gây ra không ít khó khăn cho
doanh nghiệp trong công tác xuất nhập khẩu hàng hóa
2.1.2 Đánh giá thực trạng hệ thống pháp luật thuế xuất nhập khẩu trong điều kiện Việt Nam thực thi cam kết WTO
2.1.2.1 Nội dung quy định pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu trong điều kiện Việt Nam thực thi cam kết WTO
Đến nay, sau 03 năm thực thi các cam kết WTO, Việt Nam đã liên tục ban hành văn bản pháp luật nhằm cụ thể hóa những cam kết WTO như:
- Nghị quyết 977/2005/NQ-UBTVQH11 ngày 13 tháng 12 năm 2005 về việc Ban hành Biểu thuế xuất khẩu, biểu thuế nhập khẩu ưu đãi theo danh mục nhóm hàng chịu thuế và khung thuế suất đối với từng nhóm hàng;
- Nghị quyết 295/2007/NQ-UBTVQH12 ngày 3/8/2007 về việc ban hành Biểu thuế xuất khẩu, biểu thuế nhập khẩu ưu đãi theo danh mục nhóm hàng chịu thuế và khung thuế suất ưu đãi đối với từng nhóm hàng;
- Quyết định 106/2007/QĐ-BTC ngày 20/12/2007 của Bộ Tài chính về việc ban hành Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi;
- Quyết đinh 107/2007/QĐ-BTC ngày 25/12/2007 của Bộ Tài chính về việc ban hành Danh mục hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam;
- Quyết định 157/QĐ-BTC ngày 23/1/2008 về việc đính chính hiệu lực thi hành Danh mục hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam theo Quyết định 107/2007/QĐ-BTC ngày 25/12/2007 của Bộ trưởng Bộ Tài chính;
* Các loại thuế nhập khẩu khác và phụ thu thuế nhập khẩu
Tất cả phụ thu nhập khẩu đã được xóa bỏ từ tháng 12/2004 Các khoản phụ thu nhập khẩu cuối cùng đối với nhựa PVC và ống thép hàn đã được loại bỏ theo Quyết định 81/2004/QĐ-BTC ngày 15/10/2004 và Quyết định số 102/2004/QĐ-BTC ngày 27/12/2004 Đại diện của Việt Nam cũng xác nhận rằng Việt Nam đồng ý ràng buộc thuế nhập khẩu và
Trang 13phụ thu thuế nhập khẩu bằng không trong Biểu Nhân nhượng và cam kết về hàng hóa
* Hạn ngạch thuế quan
Theo Nghị định số 12/2006/NĐ-CP, hiện nay có bốn nhóm hàng hóa thuộc diện quản lý theo hạn ngạch thuế quan, bao gồm muối, thuốc lá nguyên liệu, trứng gia cầm và đường tinh luyện Khi đàm phán gia nhập WTO, mặc dù có nhiều quan ngại của các nước thành viên về việc áp dụng hạn ngạch của Việt Nam (đặc biệt sản phẩm muối) Tuy nhiên, trước việc giải thích về các cơ sở pháp luật hiện hành của Việt Nam cũng như thực tế việc quản lý hạn ngạch của các sản phẩm này, Việt Nam đã được chấp nhận cho phép áp dụng hạn ngạch đối với bốn loại sản phẩm đó
* Phí và lệ phí liên quan nhập khẩu
Việt Nam cam kết rằng các loại phí và lệ phí liên quan nhập khẩu sẽ được rà soát để điều chỉnh cho phù hợp với quy định của WTO Việt Nam cam kết các khoản phí đặc biệt cao hơn đối với một số mặt hàng nhập khẩu sẽ được bãi bỏ từ thời điểm gia nhập Thông tin liên quan đến việc áp dụng và mức phí, số thu từ phí và việc áp dụng các loại thuế đó sẽ được cung cấp cho các thành viên WTO
* Trị giá hải quan
Về tỷ giá tính thuế, Nghị định 149 quy định đối với các đồng ngoại tệ chưa được công
bố tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng thì xác định theo nguyên tắc tỷ giá tính chéo giữa tỷ giá đồng USD với đồng Việt Nam và tỷ giá giữa đồng USD với các ngoại tệ đó
Tuy nhiên, hiện nay, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá tính chéo giữa đồng Việt Nam với 23 ngoại tệ trên website của Ngân hàng Nhà nước theo định kỳ 10 ngày/lần
Vì vậy, Bộ Tài chính đang dự thảo Nghị định bổ sung, sửa đổi Nghị định số 149/2005/NĐ-CP ngày 8/12/2005: Đối với các đồng ngoại tệ chưa được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng thì xác định theo tỷ giá tính chéo giữa đồng Việt Nam với một số ngoại tệ áp dụng tính thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm tính thuế Còn đối với các đồng ngoại tệ chưa được công bố tỷ giá tính chéo thì vẫn xác định theo nguyên tắc
tỷ giá tính chéo giữa tỷ giá đồng đô la Mỹ (USD) với đồng Việt Nam và tỷ giá giữa đồng đô
la Mỹ với các ngoại tệ đó do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm tính thuế
* Miễn, giảm thuế nhập khẩu
Bộ Tài chính đang chủ trì dự thảo Nghị định mới trên tinh thần thu hẹp chính sách miễn, giảm thuế nhập khẩu Bởi vì thực hiện cam kết gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới