1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật một số quốc gia về sử dụng khoảng không vũ trụ và bài học kinh nghiệm đối với việt nam trong quá trình xây dựng pháp luật vũ trụ

23 588 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Pháp luật một số quốc gia về sử dụng khoảng không vũ trụ và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam trong quá trình xây dựng pháp luật vũ trụ
Tác giả Vũ Thị Như Quỳnh
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Bá Diến
Trường học Khoa Luật
Chuyên ngành Luật Quốc tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 426,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương 1: TỔNG QUAN KHUNG PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG KHOẢNG KHÔNG VŨ TRỤ VÌ MỤC ĐÍCH HÒA BÌNH Ở Chương 1, tác giả tập trung vào phân tích một số khái niệm chính, lịch sử

Trang 1

Pháp luật một số quốc gia về sử dụng khoảng không vũ trụ và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam trong quá trình xây dựng pháp luật

vũ trụ

Vũ Thị Như Quỳnh

Khoa Luật Luận văn Thạc sĩ ngành: Luật Quốc tế; Mã số: 60 38 60 Người hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Bá Diến

Năm bảo vệ: 2011

Abstract: Tìm hiểu một số khái niệm chính, lịch sử phát triển của Luật Vũ trụ quốc

tế, chủ thể của Luật vũ trụ quốc tế, nguồn và các nguyên tắc cơ bản của Luật Vũ trụ quốc tế Ngoài ra, ở chương này, tác giả còn đưa ra một số nhận định về xu hướng phát triển của Luật Vũ trụ quốc tế trong thế kỷ 21 Giới thiệu tổng quan về hệ thống chính sách, pháp luật vũ trụ của các quốc gia trên thế gới, đồng thời tập trung phân tích kỹ pháp pháp luật của một số quốc gia cụ thể (Liên Bang Nga, Hoa Kỳ, Ucraine, Indonesia) Từ đó rút là kết luận về những điểm tương đồng, khác biệt trong hệ thống pháp luật vũ trụ của các quốc gia Phân tích một số luận điểm sau:

Sự cần thiết phải xây dựng pháp luật Việt Nam về khai thác và sử dụng KKVT; Các định hướng và nguyên tắc chỉ đạo việc xây dựng hệ thống pháp luật Việt Nam

về vũ trụ; Cấu trúc khung pháp luật về khai thác và sử dụng KKVT ở Việt Nam; Một số kiến nghị, giải pháp đảm bảo cho việc xây dựng và thực thi pháp luật Việt

Nam về khai thác và sử dụng KKVT vì mục đích hòa bình

Keywords: Pháp luật; Luật Quốc tế; Khoảng không vũ trụ; Pháp luật vũ trụ

Content

MỞ ĐẦU

Đại văn hào Lỗ Tấn đã từng khẳng định “Ước mơ không phải là cái sẵn có, cái không thể có Ước mơ giống như một con đường tiềm ẩn để người ta khai phá và vượt qua” Chính ước mơ đã nuôi dưỡng khát khao của con người, khát khao tìm kiếm những

miền đất mới, khát khao vươn ra đại dương và giờ đây là những khát khao chinh phục vũ trụ bao la Nửa thế kỷ qua, từ khi Liên Xô phóng thành công Vệ tinh nhân tạo Sputnik lên

vũ trụ vào năm 1957, cộng đồng quốc tế đã có những bước tiến dài trong việc thăm dò, chinh phục và khai thác vũ trụ để phục vụ cho đời sống

Trong khoảng thời gian ấy, luật vũ trụ quốc tế cũng đã phát triển hết sức nhanh chóng, tạo ra một khuôn khổ pháp lý quan trọng để điều chỉnh hoạt động của các quốc gia

Trang 2

và các thực thể phi chính phủ trên vũ trụ, ngăn chặn chạy đua vũ trang và bảo vệ môi trường xung quanh Trái đất Tuy nhiên, đối với hoạt động khai thác và sử dụng khoảng không vũ trụ (KKVT) của các tổ chức, thực thể tư thuộc thẩm quyền tài phán của quốc gia thì pháp luật quốc gia mới thực sự có giá trị hiệu lực Việt Nam đang bước đầu thực hiện ước mơ chinh phục KKVT đồng thời với quá trình xây dựng hệ thống pháp luật về vũ trụ

Vì vậy, việc nghiên cứu pháp luật của một số quốc gia trên thế giới, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam là rất cần thiết

Chương 1: TỔNG QUAN KHUNG PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ KHAI THÁC

VÀ SỬ DỤNG KHOẢNG KHÔNG VŨ TRỤ VÌ MỤC ĐÍCH HÒA BÌNH

Ở Chương 1, tác giả tập trung vào phân tích một số khái niệm chính, lịch sử phát triển của luật vũ trụ quốc tế, chủ thể của Luật Vũ trụ quốc tế, nguồn và các nguyên tắc cơ bản của Luật Vũ trụ quốc tế Ngoài ra, ở chương này, tác giả còn đưa ra một số nhận định

về sự phát triển của Luật Vũ trụ quốc tế trong thế kỷ 21

1.1 Một số khái niệm cơ bản

Trong phần 1.1, tác giả phân tích một số khái niệm cơ bản có liên quan đến khoảng không vũ trụ cụ thể: (1) Khái niệm khoảng không vũ trụ; (2) Khái niệm vật thể vũ trụ; (3) Khái niệm sử dụng hòa bình khoảng không vũ trụ

1.1.1 Khái niệm khoảng không vũ trụ

Khái niệm KKVT vẫn đang trong quá trình nghiên cứu, xây dựng và hiện nay các

chuyên gia mới chỉ thống nhất được một khái niệm chung, đó là: “Khoảng không vũ trụ là khoảng không nằm ngoài khoảng không khí quyển (môi trường hoạt động của các phương tiện bay hàng không) và các hành tinh Khoảng không vũ trụ được xác định là phạm vi hoạt động đặc thù (độc đáo) của nhân loại mà tính chất hoạt động này rất đặc biệt” Biên

giới bên ngoài của KKVT hoàn toàn được xác định theo khả năng khoa học kỹ thuật của nhân loại, và trình độ khoa học của loài người vươn xa được tới đâu trong việc khám phá

và chinh phục vũ trụ thì biên giới bên ngoài của KKVT sẽ vươn xa tới đó Bên giới bên trong của KKVT được quan niệm là đường biên giới giữa khoảng không gian và KKVT vẫn chưa có sự xác định rõ Có chuyên gia đề nghị ranh giới giữa vùng trời và KKVT nên được xác định ở độ cao mà các điểm bay thấp nhất của quỹ đạo bay nhân tạo của trái đất, vào khoảng 110 km tính từ mặt nước biển Đây không được xem là quan điểm thống nhất của tất cả các quốc gia đối với đường ranh giới trong của KKVT

1.1.2 Khái niệm vật thể vũ trụ

Mỗi quốc gia khái niệm vật thể vũ trụ được định nghĩa rất khác nhau và chưa có sự thống nhất Tác giả đã khảo sát khái niệm này trong hệ thống pháp luật vũ trụ của Bỉ, Hàn Quốc, Australia,…và rút ra kết luận: định nghĩa vật thể vũ trụ của Bỉ tương đối đầy đủ và bao quát hơn, với sự nhấn mạnh rằng đây là những vật thể có yếu tố nhân tạo và gắn với mục đích nhất định của con người

1.1.3 Khái niệm sử dụng hòa bình khoảng không vũ trụ

Qua tìm hiểu khái niệm này, tác giả nhận thấy có một sự thay đổi từ quan niệm

“hòa bình” nghĩa là “không quân sự” sang quan niệm “hòa bình” nghĩa là “không tấn công” Theo quan điểm này, tất cả lực lượng quân sự sử dụng KKVT đều được phép và phù hợp với luật pháp miễn là chúng duy trì việc “không tấn công” theo Điều 2(4) của Hiến chương LHQ, và không được phép “đe dọa hay sử dụng sức mạnh” Tóm lại, các

Trang 3

quốc gia cũng chưa đạt được sự thống nhất trong khái niệm này và mới chỉ liệt kê một loạt các hành vi bị cấm trong khoảng không vũ trụ

1.2 Khái niệm và lịch sử hình thành Luật vũ trụ quốc tế

Trong phần 1.2, tác giả đi sâu phân tích khái niệm và lịch sử hình thành Luật vũ trụ quốc tế với tư cách là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật quốc tế

1.2.1 Khái niệm Luật vũ trụ quốc tế và Khung pháp luật vũ trụ quốc tế

Tại hội thảo Pháp – Viê ̣t “Khoảng không vũ tru ̣, mạng không gian và thông tin viễn thông” do Nhà pháp luâ ̣t Viê ̣t – Pháp tổ chức, Giáo sư Philippe Achilleas có nhắc đến khái

niê ̣m pháp luâ ̣t vũ tru ̣ như sa u: “Pháp luật về không gian bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các hoạt động của con người tiến hành trong khoảng không vũ trụ hoặc trên các thiên thể vũ trụ , điều chỉnh các mối quan hê ̣ xã hội phát sinh tr ong lĩnh vực thăm dò và khai thác khoảng không vũ trụ hay các thiên thể vũ trụ” Khung pháp luật vũ

trụ quốc tế là tổng thể các quy phạm, các nguyên tắc điều chỉnh mối quan hệ phát sinh trong quá trình chủ thể của luật vũ trụ quốc tế tiến hành hoạt động thăm dò, khai thác và sử dụng KKVT Như vậy, Luật vũ trụ quốc tế không chỉ bao trùm lên các hoạt động của các quốc gia trong KKVT, mà còn bao trùm lên các hoạt động liên quan đến vũ trụ diễn ra trên mặt đất và bầu trời - môi trường hoạt động của phương tiện bay hàng không

1.2.2 Lịch sử hình thành Luật vũ trụ quốc tế

Lịch sử hình thành của ngành luật này có thể được chia thành hai giai đoạn chính như sau:

1.2.2.1 Giai đoạn trước khi Nga phóng vệ tinh Sputnik-1 (trước 1957): học thuyết

đầu tiên về luật vũ trụ quốc tế đã được hình thành từ đầu thế kỷ XX Các ấn phẩm đầu tiên

về luật vũ trụ quốc tế là của tác giả Vladimir Mandl, người được gọi là cha đẻ của luật vũ trụ, đã được xuất bản ở Đức năm 1932

1.2.2.2 Giai đoạn sau khi Nga phóng vệ tinh Sputnik-1 (sau 1957): Giai đoạn này,

Luật Vũ trụ quốc tế gắn liên với sự ra đời và phát triển của Ủy ban về sử dụng hòa bình KKVT (The United Nation Committee on the Peaceful Uses of Outer Space - COPUOS)

1.3 Chủ thể của Luật Vũ trụ quốc tế

1.3.1 Quốc gia - chủ thể chủ yếu, quan trọng của Luật Vũ trụ quốc tế

Cũng như các ngành luật khác của Luật Quốc tế, chủ thể chủ yếu và quan trọng nhất của Luật Vũ trụ quốc tế chính là các quốc gia Dưới góc độ pháp lý, vấn đề chủ quyền quốc gia trong quá trình khai thác và sử dụng KKVT vì mục đích hòa bình là một vấn đề hiện đang được giới chuyên gia hết sức quan tâm và bàn luận Hầu hết các cuộc thảo luận đều tập trung vào ba điểm chính sau: Vấn đề tuyên bố chủ quyền quốc gia đối với KKVT; Chủ quyền quốc gia đối với phi hành gia, tàu vũ trụ và các vật thể khác do quốc gia phóng lên KKVT; Chủ quyền quốc gia đối với tần số vô tuyến điện và quỹ đạo vệ tinh địa tĩnh

1.3.2 Các tổ chức quốc tế liên chính phủ

Bên cạnh quốc gia, các tổ chức liên chính phủ cũng là chủ thể quan trọng của Luật

vũ trụ quốc tế Do đó, trong phần này, tác giả đã phân tích hai nhóm tổ chức chính, cụ thể:

Trang 4

1.3.2.1 Các cơ quan chuyên môn của Liên hợp quốc bao gồm: i, Ủy ban sử dụng

khoảng không vũ trụ vào mục đích hòa bình (COPUOS) và ii, Cơ quan về các vấn đề vũ trụ của LHQ (United Nations Office for Outer Space Affairs UNOOSA)

1.3.2.2 Các tổ chức quốc tế chuyên môn đa phương và khu vực, như: Tổ chức Vệ

tinh Viễn thông quốc tế (International Telecommunications Satellite Organization - INTELSAT), Tổ chức Viễn thông Vũ trụ quốc tế (International Organization of Space Communications - INTERSPUTNIK), Cơ quan Vũ trụ châu Âu (The European Space Agency - ESA), Tổ chức Vệ tinh thăm dò và Khí tượng châu Âu (The European Organisation for the Exploitation of Meteorological Satellites - EUMETSAT), và Tổ chức Viễn thông Vũ trụ Arập (Arab Satellite Communiactions Organization - ARABSAT)

1.4 Nguồn của Luật vũ trụ quốc tế

1.4.1 Các điều ước quốc tế về vũ trụ

1.4.1.1 Các điều ước quốc tế đa phương về vũ trụ: i, Hiệp ước về các nguyên tắc

điều chỉnh hoạt động của các quốc gia trong việc thăm dò và sử dụng khoảng không vũ trụ, trong đó có mặt trăng và các thiên thể khác (Hiệp ước Vũ trụ 1967); ii, Hiệp định về trợ giúp và trao trả các nhà du hành vũ trụ và các phương tiện được đưa vào khoảng không vũ trụ (Hiệp định Cứu hộ 1968); iii, Công ước về trách nhiệm quốc tế đối với những tổn hại

do các vật thể phóng vào vũ trụ gây ra (Công ước Trách nhiệm 1972); iv, Công ước về đăng ký vật thể phóng vào vũ trụ (Công ước Đăng ký 1975); v, Hiệp định điều chỉnh hoạt động của các quốc gia trên Mặt trăng và các thiên thể khác (Hiệp định Mặt trăng 1979)

1.4.1.2 Các điều ước quốc tế song phương về vũ trụ vẫn là một bộ phận to lớn của

nguồn luật vũ trụ quốc tế Các hiệp định này điều chỉnh các vấn đề: (1) Hợp tác trong khoa học vũ trụ; (2) Hợp tác trong nghiên cứu vũ trụ; (3) Hợp tác phát triển vũ trụ;

1.4.3 Các nghị quyết mang tính chất khuyến nghị của Đại hội đồng Liên hợp quốc

Trong số các Nghị quyết mà LHQ đã ban hành từ những năm 60 cho tới nay thì các nghị quyết sau đây mặc dù chỉ mang tính chất khuyến nghị song đã được rất nhiều quốc gia thừa nhận hiệu lực: (1) Nghị quyết 1962 được Đại hội đồng LHQ thông qua ngày 13/12/1963 về nguyên tắc pháp lý chi phối hoạt động của các quốc gia trong thăm dò và sử dụng KKVT; (2) Nghị quyết 37/92 được Đại hội đồng thông qua ngày 10/12/1982 về các nguyên tắc chi phối việc các quốc gia sử dụng vệ tinh nhân tạo phục vụ truyền hình trực tiếp quốc tế; (3) Nghị quyết 41/65 được Đại hội đồng thông qua ngày 3/12/1986 về các nguyên tắc liên quan đến hoạt động viễn thám trái đất từ KKVT; (4) Nghị quyết 47/86 được Đại hội đồng thông qua ngày 14/12/1992 về các nguyên tắc liên quan đến sử dụng

Trang 5

nguồn năng lượng nguyên tử trong KKVT; (5) Nghị quyết 51/122 được Đại hội đồng thông qua ngày 13/12/1996 về các nguyên tắc hợp tác quốc tế trong thăm dò và sử dụng KKVT vì lợi ích và quyền lợi của tất cả các quốc gia, tính tới nhu cầu của các quốc gia đang phát triển

1.5 Các nguyên tắc cơ bản của Luật Vũ trụ quốc tế

Đa số các nhà khoa học đều cho rằng các nguyên tắc của Luật Vũ trụ quốc tế nằm trong Nghị quyết 1962 được Đại hội đồng LHQ thông qua ngày 13/12/1963 Nghị quyết bao gồm các nguyên tắc mà sau này được đưa vào trong Hiệp ước Vũ trụ 1967: (1) Hoạt động thăm dò và sử dụng KKVT phải được tiến hành vì lợi ích của cả nhân loại; (2) Tất cả các quốc gia có quyền tự do thăm dò và sử dụng KKVT và các thiên thể trên cơ sở bình đẳng và phù hợp với luật pháp quốc tế; (3) Không được chiếm hữu KKVT và các thiên thể khác bằng cách yêu sách chủ quyền, bằng cách sử dụng hoặc chiếm đóng, hoặc bằng các biện pháp khác; (4) Hoạt động của các quốc gia khi thăm dò và sử dụng KKVT cần được tiến hành phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có Hiến chương LHQ; (5) Các quốc gia chịu trách nhiệm quốc tế đối với các hoạt động quốc gia trên KKVT, dù các hoạt động đó

do các cơ quan chính phủ hay các thực thể phi chính phủ tiến hành; (6) Trong quá trình thăm dò và sử dụng KKVT, các quốc gia phải tuân thủ nguyên tắc hợp tác, trợ giúp lẫn nhau và khi tiến hành tất cả các hoạt động trên KKVT cần phải tôn trọng thích đáng lợi ích tương ứng của các quốc gia khác; (7) Quốc gia nơi đăng ký vật thể phóng vào vũ trụ có quyền tài phán và kiểm soát đối với vật thể, và nhân sự trong vật thể phóng vào vũ trụ; (8) Các quốc gia sẽ coi các nhà du hành vũ trụ như là các sứ giả của nhân loại trong KKVT, và

sẽ dành cho họ mọi sự giúp đỡ cần thiết trong trường hợp có tai nạn, sự cố, hạ cánh khẩn cấp trên lãnh thổ của một quốc gia khác hoặc trên biển cả

1.6 Nhận định về sự phát triển của Luật Vũ trụ quốc tế trong thế kỷ 21

Phần này, tác giả đưa ra một số nhận định về sự phát triển của Luật Vũ trụ quốc tế trong thế kỷ 21, theo đó, luận văn tập trung vào các chủ điểm chính: 1.6.1 Tiếp tục hoàn thiện hệ thống các điều ước quốc tế về vũ trụ; 1.6.2 Thiết lập tiêu chuẩn cụ thể trong các điều ước quốc tế về vũ trụ; 1.6.3 Xác định một ranh giới vũ trụ thống nhất; 1.6.4 Thay đổi

cơ chế về sử dụng quỹ đạo địa tĩnh; 1.6.5 Sửa dổi các nguyên tắc liên quan đến sử dụng nguồn năng lượng hạt nhân ngoài khoảng không vũ trụ; 1.6.6 Thiết lập cơ chế pháp lý nhằm xử lý rác thải vũ trụ; 1.6.7 Thúc đẩy phi quân sự hoá vũ trụ; 1.6.8 Sự nở rộ của các điều ước quốc tế song phương, đa phương về ứng dụng công nghệ vũ trụ vào mục đích hoà bình; 1.6.9 Một số vấn đề khác

Chương 2: PHÁP LUẬT MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI VỀ KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG KHOẢNG KHÔNG VŨ TRỤ VÌ MỤC ĐÍCH HÒA BÌNH

Chương này tác giả giới thiệu tổng quan về hệ thống chính sách, pháp luật vũ trụ của các quốc gia trên thế gới, đồng thời tập trung phân tích kỹ pháp pháp luật của một số quốc gia cụ thể (Liên bang Nga, Hoa Kỳ, Ukraine và Indonesia) Từ đó rút là kết luận về

những điểm tương đồng, khác biệt trong hệ thống pháp luật vũ trụ của các quốc gia đó

2.1 Vai trò của pháp luật quốc gia trong việc điểu chỉnh hoạt động sử dụng khoảng không vũ trụ vì mục đích hòa bình

2.1.1 Pháp luật quốc gia về khoảng không vũ trụ có vai trò quan trọng góp phần tuân thủ và thực thi các cam kết quốc tế mà quốc gia là thành viên

Trang 6

Với việc ký kết, gia nhập các công ước quốc tế và ban hành các văn bản pháp luật

để thực thi các cam kết này, luật quốc gia đóng vai trò chủ đạo trong việc đưa pháp luật quốc gia tiến tới “hài hòa” với pháp luật quốc tế, điều chỉnh các hoạt động vũ trụ của quốc gia theo hướng tuân thủ các quy tắc pháp lý quốc tế, đặc biệt là các nguyên tắc về sử dụng

vũ trụ vào mục đích hòa bình Đồng thời, hệ thống văn bản pháp luật trong nước, nếu ban hành các quy định phù hợp với pháp luật quốc tế cũng tạo sơ sở cho các nguyên tắc quốc tế được thực thi có hiệu quả trên thực tế

2.1.2 Vai trò của pháp luật quốc gia trong việc điều chỉnh, quản lý và phát triển hoạt động vũ trụ trong phạm vi lãnh thổ quốc gia

Ở phạm vi quốc gia, hệ thống chính sách, pháp luật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển nền CNVT của mỗi nước Pháp luật tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho các chủ thể phát triển trên tất cả các lĩnh vực của hoạt động vũ trụ, đặc biệt là các lĩnh vực kinh tế, thương mại phục vụ đời sống xã hội Ở một số quốc gia có hệ thống pháp luật phát triển, các văn bản này còn tạo điều kiện khuyến khích, thúc đẩy sự tham gia của các thực thể tư vào hoạt động khai thác, sử dụng KKVT dưới sự quản lý của nhà nước theo các nguyên tắc của pháp luật quốc tế và quốc gia

2.1.3 Pháp luật quốc gia tạo hành lang thúc đẩy các hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực vũ trụ

CNVT là một lĩnh vực công nghệ cao, chuyên sâu, đòi hỏi sự đầu tư lớn cả về vốn, tài chính, năng lực quản lý và nguồn nhân lực Để đáp ứng những đòi hỏi này, một giải pháp hiệu quả được nhiều quốc gia đã và đang thực hiện là hợp tác quốc tế ở cấp độ song phương và đa phương Thực tế này cũng đặt ra sự cần thiết phải xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia, đặc biệt là với các quốc gia chưa có hoặc đã có nhưng hệ thống pháp lý mới dừng lại ở các quy định chung, để phù hợp với pháp luật quốc tế và pháp luật các nước có quan hệ hợp tác

2.2 Tổng quan về tình hình xây dựng hệ thống chính sách, pháp luật của các quốc gia trên thế giới về sử dụng khoảng không vũ trụ

2.2.1 Tình hình ký kết, gia nhập các điều ước quốc tế về sử dụng khoảng không vũ trụ của các quốc gia trên thế giới

Qua số liệu thống kê cho thấy, Hiệp ước Vũ trụ 1967, Hiệp định Cứu hộ 1968, Công ước Trách nhiệm 1972 là những Hiệp ước đa phương về vũ trụ được nhiều quốc gia công nhận nhất hiện nay trên thế giới Các công ước này đã quy định những nguyên tắc cơ bản nhất về quyền và nghĩa vụ của các quốc gia, vấn đề cứu hộ và trao trả phi hành đoàn

vũ trụ, vấn đề trách nhiệm pháp lý của các quốc gia trong hoạt động vũ trụ Đây là những vấn đề quan trọng, làm nền tảng cho việc xây dựng cơ chế pháp lý chung cho hoạt động khai thác và sử dụng khoàng không vũ trụ vì mục đích hòa bình

2.2.2 Khái quát chung về hệ thống chính sách, pháp luật sử dụng khoảng không vũ trụ của các quốc gia trên thế giới

Cùng với các ngành luật khác, chính sách pháp luật về hoạt động vũ trụ đã trở thành một ngành luật độc lập, có vai trò quan trọng ở một số quốc gia Theo tài liệu của LHQ tính đến năm 2009 trên thế giới, có khoảng hơn 20 nước đã ban hành các luật, nghị quyết, nghị định điều chỉnh hoạt động vũ trụ như: Anh, Pháp, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Ấn

Độ, Nhật Bản, Chile, Phần lớn các quốc gia này đều là những quốc gia mạnh về CNVT

Trang 7

Những nước này bên cạnh hệ thống luật vũ trụ, hầu hết đều có các chương trình, chính sách vũ trụ riêng để điều chỉnh hoạt động khai thác và sử dụng vũ trụ của quốc gia mình

2.3 Các cấu trúc khung pháp luật về khai thác và sử dụng khoảng không vũ trụ hiện nay trên thế giới

Từ việc so sánh, phân tích, nghiên cứu tổng thể hệ thống chính sách, pháp luật về

vũ trụ của các quốc gia trên thế giới, ở phần này tác giả đã tổng kết được một số cấu trúc

khung pháp luật vũ trụ quốc gia như sau:

2.3.1 Cấu trúc 1 - xây dựng một luật tổng quát bao trùm tất cả các lĩnh vực của hoạt động vũ trụ và các văn bản dưới luật bổ trợ/cụ thể hóa

Theo đó một luật tổng quát bao hàm gần như đầy đủ tất cả các vấn đề, các khía cạnh pháp lý, các lĩnh vực liên quan đến hoạt động khai thác và sử dụng KKVT sẽ được ban hành, tiếp sau đó, là các văn bản pháp lý có hiệu lực thấp hơn đóng vai trò bổ trợ, cụ thể hóa luật chung Qua nghiên cứu về khung pháp luật vũ trụ của một số quốc gia trên thế giới có thể nhận thấy rằng, thực tế hiện nay chỉ có số ít quốc gia theo đuổi cấu trúc này, tiêu biểu là Liên Bang Nga, và Thụy Điển

2.3.2 Cấu trúc 2 - mỗi lĩnh vực có liên quan đến hoạt động vũ trụ được điều chỉnh bằng văn bản pháp lý riêng (có hiệu lực ngang nhau)

Theo cấu trúc này, mỗi lĩnh vực của hoạt động khai thác và sử dụng KKVT sẽ có một văn bản pháp lý riêng điều chỉnh, không xây dựng một luật chung Một số quốc gia trên thế giới đã xây dựng hệ thống pháp luật vũ trụ theo cấu trúc này cụ thể: Hoa Kỳ, Argentina, Nhật Bản, Trung Quốc, Alregia,…

2.3.3 Cấu trúc 3 – xây dựng một luật chính điều chỉnh hoạt động vũ trụ và các đạo luật “vệ tinh” điều chỉnh những lĩnh vực có liên quan

Đây là cấu trúc khung pháp luật được khá nhiều quốc gia trên thế giới lựa chọn Trong số các quốc gia đã hình thành hệ thống pháp luật về vũ trụ thì có tới 2/3 đã và đang triển khai xây dựng và hoàn thiện pháp luật vũ trụ theo hướng này, gồm: Australia, Pháp, Ukraine, Anh, Hàn Quốc, Hà Lan, Nam Phi, Canada, Các quốc gia này đã ban hành một luật vũ trụ chung, thống nhất mang tính nguyên tắc điều chỉnh tất cả các vấn đề liên quan đến hoạt động vũ trụ Bên cạnh luật chung, mỗi nước còn xây dựng rất nhiều văn bản riêng điều chỉnh các lĩnh vực có liên quan như: viễn thông, viễn thám, tần số vô tuyến điện, thương mại vũ trụ, trách nhiệm pháp lý, bảo vệ môi trường vũ trụ,…

2.4 Hệ thống pháp luật của một số quốc gia trên thế giới về sử dụng khoảng không vũ trụ vì mục đích hòa bình

2.4.1 Hệ thống luật pháp của Liên bang Nga

Nga là quốc gia đi đầu trong lĩnh vực khai thác và sử dụng KKVT, đồng thời cũng

là quốc gia đã xây dựng được một hệ thống văn bản pháp luật về vũ trụ khá đầy đủ và toàn diện, cụ thể:

i, Đạo luật tổng quát: Luật số 5664-1 của LBN về các Hoạt động vũ trụ (ngày

20/8/1993) Ngày 4/10/1996, Hạ Viện LBN đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung Luật LBN

về Hoạt động vũ trụ, có hiệu lực vào ngày 10/12/1996; Luật số 147-F3 đưa ra một số sửa đổi, bổ sung Luật về các Hoạt động vũ trụ (ngày 29/11/1999);

ii, Các văn bản dưới luật bổ trợ:

Trang 8

- Nhóm pháp lệnh của Chính phủ: Pháp lệnh số 1282 của Chính phủ LBN thông

qua Chương trình vũ trụ LBN đến năm 2000 (ngày 11/12/1993); Pháp lệnh số 791 của Chính phủ LBN vê việc Quản lý hoạt động vũ trụ trong sự quan tâm đến lợi ích kinh tế, nghiên cứu khoa học và an ninh của LBN (ngày 7/8/1995); Pháp lệnh số 104 của Chính phủ LBN về việc Cấp phép cho các hoạt động vũ trụ (ngày 2/2/1996); Pháp lệnh số 533 của Chính phủ LBN thông qua bản Đề cương Chính sách vũ trụ quốc gia (ngày 1/5/1996); Pháp lệnh số 70 của Chính phủ LBN về việc đưa ra các sửa đổi, bổ sung cho Quy chế của

Cơ quan vũ trụ Nga (ngày 19/1/1999)

- Nhóm Sắc lệnh của Tổng thống: Sắc lệnh số 185 của Tổng thống Nga về Hệ thống

quản lý các hoạt động vũ trụ ở LBN (ngày 25/2/1992); Sắc lệnh số 2005 của Tổng thống Nga “trong việc tổ chức mở rộng việc sử dụng sân bay vũ trụ Baikonur vì lợi ích của các hoạt động vũ trụ LBN”

- Nhóm Nghị định của Chính phủ: Nghị định số 468 của Chính phủ LBN về Quy

chế của Cơ quan vũ trụ Nga (ngày 15/5/1995); Nghị định số 422 của Chính phủ LBN về việc thực thi Chương trình vũ trụ và các Thỏa thuận vũ trụ quốc tế” (ngày 12/4/1996)

Như vậy, có thể nhận thấy LBN xây dựng hệ thống pháp luật vũ trụ theo cấu trúc 1

“Xây dựng một luật tổng quát bao trùm tất cả các lĩnh vực của hoạt động vũ trụ và các văn bản dưới luật bổ trợ/cụ thể hóa”

2.4.2 Hệ thống pháp luật của Hoa Kỳ

Qua nghiên cứu các quy đi ̣nh pháp luâ ̣t hiê ̣n hành của Ho a Kỳ về khai thác , sử

dụng khoảng không vũ trụ, có thể nhận thấy Hoa Kỳ theo đuổi cấu trúc 2: Mỗi lĩnh vực có

liên quan đến hoạt động vũ trụ được điều chỉnh bằng văn bản pháp lý riêng (có hiệu lực ngang nhau), cụ thể:

(1) Lĩnh vực quả n ly ́ hoạt động vũ trụ : Luâ ̣t về Hàng không Vũ tru ̣ quốc gia năm

2000; Đạo luật về Cấp phép quản lí Hàng không và Vũ tru ̣ quốc gia 1985, 1986, 1988,

1989, 1993; Đạo luật về Quản lí bầu khí quyển và đại dương 1992

(2) Lĩnh vực viễn thông : Luật Viễn thông 1934 đã sửa đổi bổ sung ; Luâ ̣t Vê ̣ tinh viễn thông 1962 đã sửa đổi bổ sung

(3) Lĩnh vực viễn thám : Đạo luật Thương mại hóa hoạt động viễn thám mặt đất

1984, đã sửa đổi; Đạo luật về Viễn thám mặt đất 1992

(4) Lĩnh vực thươn g ma ̣i vũ trụ : Đạo luật về Phóng tàu vào vũ trụ vì mục đích

thương mại 1984, đã sửa đổi; Luâ ̣t Thương ma ̣i vũ tru ̣ 1998

Hệ thống chính sách pháp luật hoàn chỉnh và đầy đủ này đã phát huy hiệu quả trong việc khai thác các lợi ích kinh tế, chính trị, quân sự từ hoạt động vũ trụ của Hoa Kỳ, góp phần không nhỏ vào việc đưa Hoa Kỳ trở thành một cường quốc lớn nhất về CNVT trên thế giới

2.3.4 Hệ thống pháp luật của Ukraine

Ukraine theo đuổi cấu trúc 3: Xây dựng một luật chung , tổng quát về hoạt động

vũ trụ và các văn bản dưới luật điều chỉnh lĩnh vực đã được quy định trong đạo luật chung này Bên cạnh luật chung, Ukraine còn xây dựng các luật riêng điều chỉnh lĩnh vực đó, cụ thể:

- Luâ ̣t chung, tổng quát: Luật về các Hoạt động vũ trụ (15/11/1996)

Trang 9

- Các văn bản dưới luật bổ trợ cho luật chung bao gồm:

+ Nhóm 1 - Lệnh của Tổng thống: Lệnh của Tổng thống Ukraine về việc thành lập

Cơ quan vũ trụ quốc gia Ukraine (29/2/1992); Lệnh của Tổng thống Ukraine về Trung tâm

quốc gia quản lí và thử nghiệm Hệ thống không gian ngày 12/8/1996; Lệnh của Tổng thống Ukraine về việc phát triển xa hơn các CNVT 4/3/1997; Lệnh của Tổng thống Ukraine về Quy chế pháp lý của Cơ quan vũ trụ quốc gia Ukraine 22/7/1997; Lệnh của

Tổng thống Ukraine về việc thực thi các quy định của Nhà nước về các hoạt động vũ trụ ở

Ukraine ngày 17/10/1999; Lệnh của Tổng thống Ukraine để chuẩn bị và chỉ đạo các thí

nghiệm chung Ukraina-Hoa Kỳ trên tàu con thoi;

+ Nhóm 2 – Sắc lệnh của Chính phủ: Sắc lệnh của Chính phủ Ukraine phê chuẩn

Quy chế pháp lý của Cơ quan vũ trụ quốc gia Ukraine trực thuộc Chính phủ Ukraine

(1/6/1992); Sắc lệnh của Chính phủ Ukraine phê chuẩn Chương trình vũ trụ quốc gia Ukraine (7/6/1994); Sắc lệnh của Chính phủ Ukraine quy định về việc chuẩn bị, phóng và vận hành các thiết bị không gian (23/8/1995); Sắc lệnh của Chính phủ Ukraine (bổ sung)

theo các quy định của Nhà nước về hoạt động vũ trụ (1/4/1996);

+ Nhóm 3 – Nghị định của Chính phủ: Nghị định của Chính phủ Ukraine về việc

thiết lập Hệ thống thông tin cho từng vệ tinh (2/12/1996); Nghị định của Chính phủ Ukraine về việc thực thi các công nghệ để cải tiến CNVT (28/6/1997); Nghị định của Chính phủ Ukraine về đảm bảo việc thực hiện Chương trình vũ trụ quốc gia của Ukraine từ

1998-2002 ngày 30/3/1998;

+ Nhóm 4 - Các quy định cu ̉a Chính phủ : Quy định của Chính phủ về Kiểm soát

hoạt động xuất khẩu , nhập khẩu và trung chuyển tên lửa , trang thiết bị , nguyên vật liệu , công nghệ dùng để chế tạo tên lửa (27/7/1995); Quy định của Chín h phủ trao cho đại lý thương mại Ukraine cho phép xúc tiến các hoạt động trong vũ trụ , quy trình thu lợi nhuận , trong đó có tỉ suất lợi nhuận để có thẩm quyền xúc tiến các hoạt động vũ trụ (1/4/1996); Quy định của Chính phủ về viê ̣c cho phép đại lí thư ơng mại Ukraine thương lượng với đại

lí thương mại nước ngoài liên quan tới việc khai thác và sử dụng không gian vũ trụ , sản xuất và triển khai CNVT ngày 1/4/1996;

- Các đạo luật chuyên biệt có liên quan : Luật về sửa đổi các văn bản pháp luật

Ukraine có liên quan tới hoạt động của các công ty viễn thông 20/12/1996; Luật về Chương trình vũ trụ quốc gia của Ukraine từ 1998-2002 23/12/1997

Qua nghiên cứu, tìm hiểu hệ thống pháp luật của Ukraine về vũ trụ, có thể nhận thấy thực chất mô hình hệ thống pháp luật này là sự kết hợp của cấu trúc 1 và cấu trúc 2 Trong mô hình này vừa có sự xuất hiện một đạo luật chủ đạo và các văn bản hướng dẫn (cấu trúc 1) lại vừa xuất hiện những đạo luật điều chỉnh từng vấn đề riêng có liên quan (cấu

trúc 2) Vì vậy, nó tạo ra cho hệ thống pháp luật của Ukraine có nhiều ưu điểm và khả năng

ứng dụng cao trên thực tế

2.4.4 Hệ thống pháp luật của Indonesia

Có thể nói Indonesia là quốc gia đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á đã ban hành được các quyết định thông qua những điều ước quốc tế đa phương quan trọng về vũ trụ Bên cạnh đó, quốc gia này cũng đang nỗ lực xây dựng một hệ thống pháp luật trong nước đáp ứng yêu cầu thực thi điều ước quốc tế và thúc đẩy ngành khoa học vũ trụ phát triển Hệ thống này hiện nay bao gồm: (1) Dự thảo luật khoảng không vũ trụ (lần 3); (2) Nghị định

số 99 năm 1993 của Tổng thống Indonesia về việc thành lập Hội đồng hàng không và vũ

Trang 10

trụ quốc gia Indonesia; (3) Nghị định số 24 năm 1994 về việc chuyển giao chức năng thư

ký Hội đồng hàng không và vũ trụ quốc gia Indonesia cho Học viên Hàng không và Vũ trụ (LAPAN); (4) Luật số 36/1999 về viễn thông, Nghị định số 52/2000 về các Tổ chức Bưu chính, Viễn thông

Có thể nhận thấy, Indonesia đang hướng tới xây dựng khung pháp luật vũ trụ quốc

gia theo cấu trúc 3 “xây dựng một luật chính điều chỉnh hoạt động vũ trụ và các luật “vệ

tinh” điều chỉnh những lĩnh vực có liên quan”

Dự thảo Luật khoảng không vũ trụ của Indonesia đã nội luật hoá một số các quy định của luật vũ trụ quốc tế Ngoài ra, Dự thảo Luật khoảng không vũ trụ còn quy định một số vấn

đề có tính đặc trưng riêng như các quy định về xử phạt hành chính, xử phạt hình sự; các quy định nhằm khuyến khích phát triển nguồn nhân lực, phát triển, xây dựng cơ sở hạ tầng, kỹ thuật của ngành CNVT; các quy định mang tính thương mại hoá hoạt động khai thác, sử dụng KKVT như khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân hợp tác, tham gia vào lĩnh vực vũ trụ; các quy định về vấn đề sở hữu trí tuệ hay lệ phí khi khai thác, sử dụng tài nguyên vũ trụ…Tuy nhiên, việc xây dựng các quy phạm luật vũ trụ của Indonesia tương đối dàn trải, gồm nhiều khía cạnh trong hoạt động khai thác, sử dụng KKVT nên việc hoàn thiện và ban hành Luật vũ trụ cần nhiều thời gian thảo luận, thống nhất

2.5 Nhận định những điểm tương đồng và khác biệt trong hệ thống pháp luật

vũ trụ của một số quốc gia trên thế giới

Sau khi phân tích kỹ hệ thống pháp luật của một số quốc gia trên thế giới, ở phần 2.5, tác giả đưa ra những điểm tương đồng và khác biệt trong hệ thống pháp luật của các quốc gia đó ở một số khía cạnh sau:

2.5.1 Phạm vi điều chỉnh

Hầu hết pháp luật vũ trụ ở các quốc gia đều khẳng định phạm vi điều chỉnh của đạo luật vũ trụ là các “hoạt động vũ trụ” Tuy nhiên không phải quốc gia nào có pháp luật về KKVT cũng đều quy định giống nhau định nghĩa về hoạt động vũ trụ mà tùy thuộc vào trình độ phát triển và mức độ tham gia vào các hoạt động vũ trụ của từng quốc gia

2.5.2 Cơ quan quản lý Nhà nước về hoạt động vũ trụ

Thông thường, trong các đạo luật chính về vũ trụ, các quốc gia đều xác định chức năng quyền hạn, nhiệm vụ của một cơ quan quản lý Nhà nước về các hoạt động vũ trụ Tuy nhiên do phương pháp và cách thức quản lý của các quốc gia khác nhau mà địa vị pháp lý

và mô hình tổ chức của cơ quan này cũng có sự khác biệt

2.5.3 Vấn đề cấp phép và giám sát hoạt động vũ trụ

Trên thực tế, ngoài Nga, Hoa Kỳ, Australia và Ukraine có các yêu cầu cụ thể trong điều kiện cấp giấy phép cho một số hoạt động vũ trụ, hầu hết pháp luật các quốc gia còn lại chỉ xác định nguyên tắc các hoạt động vũ trụ phải được cấp phép và giám sát Để đảm bảo thực hiện chức năng quản lý Nhà nước, pháp luật của hầu hết các quốc gia đều sử dụng cơ chế ràng buộc các trách nhiệm Mặc dù mỗi quốc gia có các cách quy định khác nhau khác nhau nhưng cơ chế ràng buộc trách nhiệm chủ yếu là xử phạt tiền, đình chỉ hoạt động, thu hồi giấy phép Ngoài ra, đối với những vi phạm nghiêm trọng có thể sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự

2.5.4 Đăng ký vật thể vũ trụ

Trang 11

Các quy định về vấn đề đăng ký trong pháp luật một số nước còn tách riêng thành một văn bản độc lập Trong văn bản pháp luật này thường đề cập đến việc thiết lập cơ quan đăng ký quốc gia và xác định cơ quan quản lý Nhà nước giám sát các hoạt động vũ trụ xuất phát từ Hiệp ước Vũ trụ 1967 và Công ước Đăng ký 1975

2.5.5 Các quy định liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Các quy định về vấn đề này nhìn chung đều được pháp luật các quốc gia nội luật hóa từ Điều 7 của Hiệp ước Vũ trụ 1967 và Công ước về trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1972 Vì vậy đa số các quốc gia đều quy định vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại như sau: Quốc gia sẽ phải chịu trách nhiệm đối với thiệt hại do các phương tiện vũ trụ của mình trên lãnh thổ quốc gia hoặc ngoài lãnh thổ quốc gia, trừ trường hợp thiệt hại xuất hiện không có lỗi của người gây ra thiệt hại

Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG PHÁP LUẬT SỬ DỤNG KHOẢNG KHÔNG VŨ TRỤ VÌ MỤC ĐÍCH HÒA BÌNH CỦA VIỆT NAM

Chương này tác giả tập trung phân tích một số luận điểm sau: Sự cần thiết phải xây dựng pháp luật Việt Nam về khai thác và sử dụng KKVT; Các định hướng và nguyên tắc chỉ đạo việc xây dựng hệ thống pháp luật Việt Nam về vũ trụ; Cấu trúc khung pháp luật về khai thác và sử dụng KKVT ở Việt Nam; Một số giải pháp đảm bảo cho việc xây dựng và

thực thi pháp luật Việt Nam về khai thác và sử dụng KKVT vì mục đích hòa bình

3.1 Sự cần thiết phải xây dựng hệ thống pháp luật của Việt Nam về sử dụng khoảng không vũ trụ vì mục đích hòa bình

3.1.1 Sự phát triển của khoa học công nghệ vũ trụ ở Việt Nam và nhu cầu điều chỉnh bằng chính sách, pháp luật

Ở Việt Nam, cùng với sự phát triển của ngành CNVT, các ngành ứng dụng CNVT cũng có những bước tiến vượt bậc đem lại những lợi ích thiết thực cho sự nền kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng của đất nước Chính sự phát triển của ngành này đã làm phát sinh nhu cầu phải điều chỉnh bằng chính sách, pháp luật

3.1.2 Những hạn chế, bất cập của pháp luật vũ trụ Việt Nam hiện nay

Hệ thống chính sách, pháp luật Việt Nam về sử dụng KKVT hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, bất cấp chủ yếu như sau: (1) Việt Nam chưa có những chính sách, chiến lược, chương trình vũ trụ mang tính quy mô và dài hạn để định hướng, phát triển CNVT; (2) Việt Nam chưa có một văn bản pháp luật riêng điều chỉnh các nội dung cơ bản của hoạt động vũ trụ; (3) Một số hoạt động sử dụng KKVT chưa được điều chỉnh bằng các quy định pháp luật cụ thể; (4) Cơ chế quản lý, phối hợp, phân công phân cấp giữa các cơ quan, ban, ngành trong quản lý hoạt động vũ trụ còn chưa thống nhất; (5) Ủy ban vũ trụ Việt Nam đã được thành lập Tuy nhiên, trong tổ chức hoạt động còn thiếu sự tham gia của các thành viên là các nhà luật học, các chuyên gia pháp lý, làm hạn chế chức năng tư vấn pháp lý của

Ủy ban

3.1.3 Xu thế hội nhập, phát triển chung của các quốc gia trên thế giới

Hiện nay, khá nhiều quốc gia trên thế giới như: Argentina, Autralia, Vương quốc

Bỉ, Brazil, Canada, Trung Quốc, Pháp, Đức, Nhật, Hàn Quốc, Nga, Tây Ban Nha, Nam Phi, Thụy Sĩ, Vương quốc Anh, Mỹ… đã xây dựng, ban hành luật về KKVT tạo hành lang

Ngày đăng: 12/02/2014, 11:06

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI TRONG LĨNH VỰC PHÁP LUẬT VŨ TRỤ  - Pháp luật một số quốc gia về sử dụng khoảng không vũ trụ và bài học kinh nghiệm đối với việt nam trong quá trình xây dựng pháp luật vũ trụ
BẢNG TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI TRONG LĨNH VỰC PHÁP LUẬT VŨ TRỤ (Trang 19)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w