Trên cơ sở phân tích những vấn đề về lý luận, thực trạng quản lý nhà nước về giáo dục đại học và tham khảo có chọn lọc một số mô hình quản lý giáo dục đại học của một số nước trên thế gi
Trang 1Abstract Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hiệu lực quản lý nhà nước về giáo dục đại học Đánh giá
thực trạng về hiệu lực quản lý nhà nước về giáo dục đại học Trên cơ sở phân tích những vấn đề về
lý luận, thực trạng quản lý nhà nước về giáo dục đại học và tham khảo có chọn lọc một số mô hình quản lý giáo dục đại học của một số nước trên thế giới; xác định quan điểm, mục tiêu và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về giáo dục đại học trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế
Keywords: Giáo dục đại học; Pháp luật Việt Nam; Quản lý giáo dục; Quản lý nhà nước
Content
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngay từ những năm cuối của thế kỷ XX, thế giới đã chứng kiến sự phát triển vũ bão của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và truyền thông, nó đã đưa nhân loại bước vào thời kỳ quá độ của nền kinh tế tri thức và nó cũng tạo ra làn sóng toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế mạnh mẽ trên toàn thế giới
Thành tựu cũng như thất bại của các dân tộc trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế của thế
kỷ XX đã làm cho các nhà lãnh đạo quốc gia thực sự thức tỉnh về vai trò của giáo dục đại học trong công cuộc chấn hưng đất nước mình
Hiện nay, cải cách giáo dục đại học mà trước hết là đổi mới cơ chế quản lý nhà nước về giáo dục đại học đang là một trong các chính sách ưu tiên hàng đầu ở hầu hết mọi quốc gia trên thế giới và là một chủ đề được các tổ chức quốc tế quan tâm
Trong những năm qua, cùng với quá trình đổi mới của đất nước, hệ thống giáo dục đại học của nước ta đã đạt được một số thành tựu quan trọng Tuy nhiên, “giáo dục đại học đã bộc lộ nhiều hạn chế và yếu kém: chất lượng đào tạo nhìn chung còn thấp, chưa theo kịp đỏi hỏi phát triển kinh tế xã hội của đất nước; cơ chế quản lý của nhà nước đối với hệ thống giáo dục đại học và sự quản lý của các trường đại học, cao đẳng còn nhiều bất hợp
lý kéo dài, chưa tạo ra động lực đủ mạnh để phát huy năng lực sáng tạo và sự tự chịu trách nhiệm của đội ngũ giảng viên, các nhà quản lý và sinh viên để đổi mới mạnh mẽ, căn bản giáo dục đại học…Có nhiều nguyên nhân
Trang 285
của tình hình trên nhưng nguyên nhân căn bản chính là sự yếu kém trong quản lý nhà nước về giáo dục đại học và
sự yếu kém trong quản lý của bản thân các trường đại học, cao đẳng…” (Chỉ thị số 296/CT-TTg ngày 27/02/2010 của Thủ tướng Chính phủ về đổi mới quản lý giáo dục đại học)
Trước tình hình đó, đổi mới quản lý nhà nước về giáo dục đại học trở nên bức thiết và được coi là một trong hai giải pháp đột phá trong chiến lược giáo dục 2009-2020 nhằm nâng cao chất lượng và phát triển toàn diện giáo dục đại học, làm tiền đề triển khai hệ thống các giải pháp đồng bộ nhằm khắc phục các yếu kém trong ngành, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục đại học
Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 đã khẳng định “ Đổi mới cơ bản tư duy và phương thức
quản lý giáo dục theo hướng nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, phân cấp mạnh mẽ nhằm phát huy tính chủ động và tự chịu trách nhiệm của các địa phương, của các cơ sở giáo dục, giải quyết một cách có hiệu quả các vấn đề bức xúc, ngăn chặn và đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực hiện nay”
Với những định hướng nêu trên tôi chọn đề tài “Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về giáo dục
đại học” làm luận án tiến sĩ luật học Luận án này chứng minh cơ sở lý luận về hiệu lực quản lý nhà nước
về giáo dục đại học và các giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về giáo dục đại học đã được khẳng định trong Chỉ thị số 296/CT-TTg ngày 27/02/2010 của Thủ tướng Chính phủ về đổi mới quản lý nhà nước về giáo dục đại học
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án này là hiệu lực quản lý nhà nước về giáo dục đại học Qua nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng quản lý nhà nước về giáo dục đại học, Luận án đề xuất một số tiêu chí đánh giá hiệu lực quản lý nhà nước về giáo dục đại học và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về giáo dục đại học
Phạm vi nghiên cứu: chỉ tập trung nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay, cụ thể là: xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục đại học; xây dựng và kiện toàn
bộ máy quản lý nhà nước về giáo dục đại học; kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật giáo dục đại học và phân cấp quản lý nhà nước theo đối tượng và theo chức năng nhiệm vụ Luận án không đi sâu vào lĩnh vực quản lý tác nghiệp của các cơ sở giáo dục đại học Thời gian nghiên cứu của đề tài được giới hạn từ những năm đổi mới đến nay, chủ yếu
là từ năm 1998 khi Luật Giáo dục đầu tiên của nước ta được ban hành
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận án
Về mục đích: Trên cơ sở nghiên cứu phân tích những vấn đề về lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về giáo dục đại học, luận án đề xuất các quan điểm, giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu lực quản
lý nhà nước về giáo dục đại học trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế
Về nhiệm vụ: Phù hợp với mục đích trên, luận án giải quyết những vấn đề sau:
Một: Phân tích cơ sở lý luận về hiệu lực quản lý nhà nước về giáo dục đại học;
Hai: Phân tích đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về giáo dục đại học;
Ba: Trên cơ sở phân tích những vấn đề về lý luận, thực trạng quản lý nhà nước về giáo dục đại học
và tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm quản lý giáo dục đại học của một số nước trên thế giới; xác định
Trang 386
quan điểm, mục tiêu và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về giáo dục đại học trong
xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận án được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
về nhà nước và pháp luật, các quan điểm của Đảng và nhà nước về giáo dục đại học, đặc biệt là các quan điểm và đường lối phát triển giáo dục đại học thể hiện trong Nghị quyết Trung ương 2 (Khoá VIII) Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, X, XI kết luận của Hội nghị Trung ương 6 (Khoá IX) Luật Giáo dục năm 2005 và Luật sửa đổi bổ sung Luật Giáo dục năm 2005 của Việt Nam
Trong qua trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã vận dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như: phương pháp hệ thống hoá và khái quát hoá; phương pháp phân tích, tổng hợp, đối chiếu so sánh; phương pháp mô tả để nêu lên thực trạng hiệu lực quản lý nhà nước về giáo dục đại học hiện nay, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về giáo dục đại học; ngoài ra còn tham khảo kinh nghiệm của quản lý giáo dục đại học của một số nước, từ đó giải quyết các vấn đề về lý luận và thực tiễn mà đề tài đặt ra
5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của Luận án
Ý nghĩa khoa học: luận án là công trình nghiên cứu chuyên khảo đầu tiên đề cập một cách toàn diện và có hệ thống vấn đề hiệu lực quản lý nhà nước về giáo dục đại học trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế Vì vậy, về mặt khoa học luận án có những đóng góp mới sau đây:
a) Đề xuất một số tiêu chí đánh giá hiệu lực quản lý nhà nước về giáo dục đại học;
b) Đề xuất việc ban hành Nghị định của Chính phủ về việc giao quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm cho các cơ sở giáo dục đại học;
c) Đề xuất việc thành lập Bộ Đại học-Khoa học Công nghệ trên cơ sở sáp nhập những bộ phận liên quan của Bộ Giáo dục và Đào tạo với Bộ Khoa học Công nghệ;
d) Đề xuất việc phân cấp quản lý theo đối tượng nhằm phân định rõ cơ cấu trình độ, trách nhiệm đầu tư và phân bổ ngân sách mang tính cạnh tranh; phân cấp theo chức năng nhiệm vụ nhằm phân định rõ quyền hạn, trách nhiệm và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục đại học
Ý nghĩa thực tiễn: Luận án có thể sử dụng để tham khảo, nghiên cứu, học tập, phục vụ công tác quản lý nhà nước về giáo dục đại học đồng thời những kiến giải, đề xuất và kết luận trong luận án có thể được sử dụng để tiếp tục hoàn thiện Luật Giáo dục, xây dựng Luật Giáo dục đại học trong xu thế hội nhập quốc tế
6 Kết cấu của Luận án
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm 4 chương:
- Chương I: Tổng quan tình hình nghiên cứu
- Chương II: Cơ sở lý luận về hiệu lực quản lý nhà nước về giáo dục đại học
- Chương III: Thực trạng quản lý nhà nước về giáo dục đại học
- Chương IV: Quan điểm, mục tiêu và giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về giáo dục đại học
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Trang 487
Trong thời gian qua, nhiều tác giả trong nước, ngoài nước đã công bố hàng chục công trình nghiên cứu về quản lý nhà nước, quản lý nhà nước về giáo dục đại học dưới dạng sách giáo khoa, giáo trình, bài giảng, sách chuyên khảo Một số ví dụ:
- Giáo trình: Quản lý xã hội (2005) của Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Nxb Lao động - Xã hội,
Hà Nội;
- Giáo trình: Quản lý nhà nước (2007) của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội;
- Giáo trình: Quản lý nhà nước về giáo dục (2007) của Phan Văn Kha;
- Giáo trình: Hệ thống quản lý nhà nước (2002) dùng cho các trường đại học Nga của Glazunova H.I, Nxb Iunti-Dana, M;
- Giáo dục thế giới đi vào thế kỷ XXI (2002) của Phạm Minh Hạc, Trần Kiều, Đặng Bá Lãm, Nghiêm Đình Vỳ, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội;
- Sách chuyên khảo: Phân cấp quản lý nhà nước (2011) của Phạm Hồng Thái, Nguyễn Đăng Dung, Nguyễn Ngọc Tri (cb), Nxb Công an Nhân dân, Hà Nội;
- Đề tài nghiên cứu cấp nhà nước (KX01.09): Quản lý nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam;
Các công trình nghiên cứu nói trên đã khái quát những vấn đề cơ bản về quản lý nhà nước, phân biệt quản lý nhà nước với các loại hình quản lý khác Tuy nhiên, các công trình này mới chỉ dừng ở việc nghiên cứu những vấn đề cơ bản có tính lý luận về quản lý nhà nước và quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực mà chưa có những nghiên cứu chuyên sâu, giải quyết những vấn đề cụ thể trong quản lý Do vậy, các công trình có tính “giáo khoa” này chỉ có tính tham khảo để nghiên cứu chuyên sâu tiếp theo
Một số bài đăng trên các báo và tạp chí phản ánh hiện trạng nhức nhối của giáo dục đại học nước ta và kêu gọi một cuộc cải cách có tính cách mạng nền giáo dục đại học nước nhà Ví dụ: GS Hoàng Tụy “Một số vấn đề khoa học và giáo dục: góc nhìn trong cuộc”, báo cáo tại hội thảo “Tiếp tục đổi mới để phát triển”, Đà Nẵng, 7/2005 và “Chỗ nghẽn lớn nhất trong phát triển là giáo dục”, Báo Tuần Việt Nam, 3/2011; Võ Nguyên Giáp “Đổi mới có tính cách mạng nền giáo dục và đào tạo nước nhà”, Sài Gòn Giải phòng, 10/9/2007;
Nhiều luận án, luận văn nghiên cứu về quản lý nhà nước bằng pháp luật trên một số lĩnh vực quản
lý nhà nước, trong đó có quản lý nhà nước về giáo dục Ví dụ:
- Đào Viết Hiền (2006), Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế “ Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”
- Lê Văn Trung (2006), Luận án tiến sĩ luật học “Đổi mới quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay”;
- Nguyễn Đức Cường (2009), Luận án tiến sĩ luật học “Hoàn thiện pháp luật về các trường đại học, cao đẳng đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay”;
Trang 5- Thomas Valely và Ben Wilkinson (Trường Đại học Kennedy thuộc Đại học Harvard): “Giáo dục đại học Việt Nam: khủng hoảng và phản ứng”, báo cáo trước Ủy viên phía Hoa Kỳ thuộc Ủy ban song phương về giáo dục đại học, tháng 11/2008;
- “Lựa chọn thành công”, báo cáo của nhóm giáo sư và chuyên gia thuộc Đại học Harvard về chiến lược phát triển kinh tế xã hội Việt Nam 2010 - 2020 năm 2008;
Những báo cáo trên có thể coi là những công trình nghiên cứu một cách toàn diện và sâu rộng tình hình kinh tế xã hội Việt Nam, thực trạng giáo dục đại học Việt Nam (thành tựu cũng như bất cập) và đã đưa ra nhiều giải pháp nhằm thúc đẩy cải cách giáo dục đại học Việt Nam theo hướng giao quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội cho các cơ sở giáo dục đại học; trình bày quan điểm về việc xây dựng các trường đại học đẳng cấp quốc tế tại Việt Nam Những công trình này có giá trị tham khảo quan trọng cho các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục đại học và các nhà nghiên cứu
Một số sách và báo cáo của các học giả nước ngoài giới thiệu về hoạt động giáo dục đại học, tình hình cải cách giáo dục đại học của một số nước như:
- Toshio Nakuchi, Hajime Tajima, Toshihiko Saito, Ellchi Ameda, chủ biên bản tiếng Việt: GS VS Phạm Minh Hạc “Hiện đại hóa giáo dục Nhật Bản”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002 Cuốn sách chuyên khảo này nêu lên quá trình hiện đại hóa giáo dục và tình hình cải cách giáo dục hiện nay ở Nhật Bản; trình bày vị trí, vai trò, phương pháp của giảng dạy tiếng Nhật, các môn khoa học và giáo dục ý thức công dân trong nội dung chương trình giảng dạy ở các nhà trường của Nhật Bản cùng một số biện pháp khuyến học được Chính phủ Nhật Bản áp dụng trong thời gian qua
- Xie Weihe, Viện Giáo dục thuộc Đại học Thanh Hoa, Trung Quốc “Thách thức của xã hội tri thức và đổi mới giáo dục đại học Trung Quốc”, báo cáo tại diễn đàn quốc tế về giáo dục Việt Nam “Đổi mới giáo dục đại học
và hội nhập quốc tế”, Hà Nội, 6/2004 Báo cáo này đã trình bày thực trạng đổi mới giáo dục và thực trạng phát triển kinh tế xã hội của Trung Quốc đồng thời nêu ra những triển vọng của giáo dục Trung Quốc thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ cấp bách: điều chỉnh cơ cấu giáo dục đại học, nâng cao chất lượng giáo dục, xây dựng các trường đẳng cấp quốc tế và đổi mới quản lý giáo dục đại học theo hướng phi tập trung hóa
- Jeffrey Selingo “What AMERICAN Think About Higher Education?”, tạp chí The Chronicle of Higher Education, Washinton, May 2, 2001 (Phạm Thị Ly dịch) Đây là báo cáo tổng kết các cuộc thảo luận ở Hoa Kỳ về việc chuẩn bị bổ sung Luật Giáo dục Hoa Kỳ Báo cáo nêu lên những hiện trạng bức xúc của giáo dục đại học Hoa Kỳ như chính sách ưu tiên trong tuyển sinh, cơ chế bổ nhiệm giáo sư, trách nhiệm xã hội và
Trang 689
tính tự chủ; chi phí cho giáo dục Báo cáo đề xuất một số giải pháp cho giáo dục đại học Hoa Kỳ: tập trung hơn vào giáo dục nhân cách, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục tổng quát, không nên đi quá sâu vào nghiên cứu khoa học; khuyến khích tư nhân hóa giáo dục đại học có sự hỗ trợ tích cực của nhà nước
Tóm lại, các công trình nghiên cứu quản lý nhà nước về giáo dục, trong đó có giáo dục đại học đã
được tiến hành trên bình diện rộng, từ những vấn đề cơ bản có tính lý luận đến những vấn đề cụ thể như: hoàn thiện pháp luật về giáo dục nói chung, pháp luật quản lý các trường đại học, cao đẳng nói riêng, từ mô hình quản lý nhà nước về giáo dục ở cấp tỉnh đến mô hình quản lý nhà nước về giáo dục phổ thông ở cấp huyện, từ thực tiễn giáo dục đại học Việt Nam đến thực tiễn giáo dục đại học nước ngoài
Xuất phát từ những góc độ khác nhau và thông qua việc phân tích cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn, các tác giả đã đề xuất nhiều giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về giáo dục nhằm góp phần chấn hưng giáo dục, phù hợp với yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước
Tuy nhiên, chưa thấy công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về hiệu lực quản lý nhà nước theo tinh thần Chỉ thị số 296/CT - TTg ngày 27/02/2010 của Thủ tướng Chính phủ: đổi mới quản lý nhà nước về giáo dục đại học là khâu đột phá để nâng cao chất lượng và phát triển toàn diện giáo dục đại học, làm tiền
đề triển khai hệ thống các giải pháp đồng bộ nhằm khắc phục các yếu kém trong ngành, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục đại học
2.1 Quan niệm quản lý nhà nước về giáo dục đại học Sau khi phân tích quan niệm về quản lý,
quản lý nhà nước, đặc điểm cơ bản của giáo dục đại học, ta có thể đưa ra quan niệm quản lý nhà nước về giáo dục đại học như sau: quản lý nhà nước về giáo dục đại học là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các hoạt động giáo dục đại học do các cơ quan quản lý nhà nước tiến hành để thực hiện chức năng nhiệm vụ do nhà nước ủy quyền nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục đại học, duy trì trật tự, kỷ cương, thực hiện mục tiêu đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học ở Việt Nam Luận án cũng đưa ra quan niệm về chủ thể, đối tượng, mục tiêu và nội dung quản lý nhà nước về giáo dục đại học
2.2 Quan niệm hiệu lực quản lý nhà nước về giáo dục đại học và bảo đảm hiệu lực quản lý nhà nước về giáo dục đại học Từ những phân tích về đặc điểm, chức năng của giáo dục đại học , luận án đã
Trang 790
đưa ra quan niệm về hiệu lực quản lý nhà nước về giáo dục đại học: là mức độ thực hiện đúng chức năng, quyền lực của cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục đại học khi ban hành các quyết định đúng thẩm quyền, phù hợp với quy luật khách quan, tác động tích cực đến hoạt động giáo dục đại học, được cấp dưới, các cơ sở giáo dục đại học và nhân dân thực hiện nghiêm túc nhằm đạt mục tiêu đã định Những bảo đảm hiệu lực quản lý nhà nước về giáo dục đại học là: về thể chế chính trị và pháp luật, về tổ chức và vận hành
bộ máy, về nguồn lực thực hiện Luận án đã đưa ra một số tiêu chí đánh giá hiệu lực quản lý nhà nước về giáo dục đại học như sau:
1 Năng lực xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục đại học
- Xây dựng chiến lươ ̣c phát triển nguồn nhân lực quốc gia đáp ứng nhu cầu xã hô ̣i
- Quy hoạch ma ̣ng lưới trường đại học, cao đẳng, bảo đảm cơ cấu trình độ, ngành nghề, vùng miền, phù hợp với kế hoạch tổng phát triển kinh tế-xã hội của đất nước
- Bảo đảm tính mềm dẻo, linh hoạt của hê ̣ thống (liên thông giữa các chương trình đào ta ̣o; các cấp,
bâ ̣c ho ̣c, phát triển các loại hình đào tạo và các hình thức học tập phù hợp triết lý giáo dục thế kỷ 21 “Ho ̣c thường xuyên, học suốt đời”;
- Có các điều kiện cụ thể đảm bảo chất lượng : chương trình đào ta ̣o phải hiê ̣n đa ̣i , câ ̣p nhâ ̣t và gắn thực tiễn; đô ̣i ngũ giảng viên và cán bô ̣ quản lý đủ số lượng , bảo đảm chất lượng ; cơ sở vâ ̣t chất hiê ̣n đa ̣i ; phương pháp giảng da ̣y, học tập tiên tiến
- Thực hiện phân cấp đối vớ i cơ quan quản lý nhà nước và giao quyền tự chủ , tự chi ̣u trách nhiê ̣m cho các cơ sở giáo du ̣c đa ̣i ho ̣c;
- Công khai chất lượng đào ta ̣o
- Gắn đào ta ̣o với nghiên cứu khoa ho ̣c và chuyển giao công nghê ̣
2 Có chiến lược hội nhập quốc tế , xây dựng mô ̣t số cơ sở giáo du ̣c đa ̣i ho ̣c xuất sắc và mô ̣t số ngành mũi nhọn được thừa nhận trong khu vực và quốc tế
3 Có cơ chế tài chính nhằm đa dạng hóa nguồn lực để phát triển giáo du ̣c đa ̣i ho ̣c
4 Bộ máy quản lý nhà nước về giáo du ̣c đa ̣i ho ̣c ph ải phù hợp chức năng , nhiê ̣m vu ̣ và đối tượng quản lý;
5 Có khả năng tổ chức thực hiện tốt các quy định của pháp luâ ̣t về giáo dục đại học Người đứng đầu cơ sở giáo du ̣c đa ̣i ho ̣c phải có kinh nghiê ̣m giảng da ̣y, có năng lực quản lý và am hiểu giáo du ̣c đa ̣i ho ̣c
6 Thực hiê ̣n tốt giám sát, kiểm tra, xử lý vi pha ̣m pháp luâ ̣t về giáo du ̣c đa ̣i ho ̣c
2.3 Khái niệm niệm phân cấp quản lý nhà nước, quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục đại học Sau khi nêu ra khái niệm và bản chất của phân cấp quản lý, một cách khái quát có thể hiểu phân cấp
quản lý giáo dục đại học là quá trình thiết kế lại hệ thống và các quy định về trách nhiệm, quyền hạn và tính tự chịu trách nhiệm trong hệ thống giáo dục Việc thiết kế lại hệ thống và quy trình này có nghĩa là: xác định lại và phân công lại các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cấp cũng như quy trình quan hệ giữa các cấp khác nhau, chuyển giao chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn từ cơ quan quản lý cấp cao xuống các cơ quan quản lý cấp
Trang 891
dưới, hoặc từ cơ quan quản lý nhà nước cho các đơn vị tác nghiệp, các cơ sở giáo dục đại học Quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục đại học được pháp luật bảo đảm
2.4 Kinh nghiệm quản lý giáo dục đại học của một số nước (Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản, Nga)
Xu hướng phân cấp, phân quyền trong quản lý giáo dục đại học là xu hướng chủ yếu, sử dụng pháp luật là thước đo chuẩn mực để điều chỉnh hoạt động giáo dục đại học, khuyến khích xã hội hóa giáo dục đại học nhưng nhà nước vẫn giữ vai trò điều chỉnh
Chương 3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
3.1 Sự hình thành và phát triển quản lý nhà nước về giáo dục đại học ở nước ta
Quản lý nhà nước về giáo dục đại học ở nước ta trải qua 4 thời kỳ: thời kỳ kháng chiến chống Pháp 1954), thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất đất nước (1954-1965), thời kỳ kháng chiến chống Mỹ (1965-1975) và thời kỳ từ 1975 đến nay
(1945-Từ năm 1945 đến 1998 là thờ kỳ nhà nước quản lý giáo dục đại học theo cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, điều chỉnh hoạt động giáo dục đại học bằng nghị quyết, chỉ thị, công văn, mệnh lệnh hành chính Từ năm 1998 đến nay, sau khi Luật giáo dục đầu tiên được ban hành, Nhà nước thực hiện quản lý giáo dục đại học bằng pháp luật
3.2 Thực trạng quản lý nhà nước về giáo dục đại học ở nước ta
Luận án đi sâu nghiên cứu, phân tích thực trạng quản lý nhà nước về giáo dục đại học trong những năm qua theo các tiêu chí đánh giá hiệu lực quản lý nhà nước về giáo dục đại học được nêu ra tại Chương
2 Tuy nhiên để tránh dàn trải, Luận án chỉ tập trung phân tích đánh giá 4 tiêu chí cơ bản dưới đây:
3.2.1 Thực trạng việc xây và ban hành văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục đại học
Hiến pháp năm 1992 là cơ sở pháp lý quan trọng nhất để xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, điều chỉnh mọi hoạt động giáo dục trong đó có giáo dục đại học Kế đến là Luật Giáo dục năm 1998 đã được sửa đổi bổ sung năm 2005 và năm 2009 Luận án đã phân tích việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật về các lĩnh vực: xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực quốc gia đáp ứng nhu cầu của xã hôi; Công tác quy hoạch mạng lưới trường đại học, cao đẳng bảo đảm cơ cấu trình độ, ngành nghề, vùng miền phù hợp với kế hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội; những văn bản nhằm bảo đảm tính mềm dẻo, linh hoạt của hệ thống ( liên thông giữa các chương trình đào tạo, giữa các cấp, bậc học, phát triển các loại hình đào tạo và hình thức học tập mói nhằm hiện thực hóa triết lý giáo dục thế kỷ 21 “ học thường xuyên, học suốt đời”; những quy định về điều kiện bảo đảm chất lượng đào tạo ( chương trình đào tạo, đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý, cơ sở vật chất, phương pháp giảng dạy và học tập; việc phân cấp đối với cơ quan quản lý nhà nước và giao quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục đại học; công khai chất lượng đào tạo; gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ
Trang 992
3.2.2 Thực trạng việc xây dựng và kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước về giáo dục đại học
Từ năm 1955 tới nay, bộ máy quản lý nhà nước về giáo dục nói chung, giáo dục đại học nói riêng
đã trải qua năm lần tách, nhập, thành lập mới: từ Vụ Đại học thuộc Bộ Giáo dục (năm 1955), Bộ Đại học
và Trung học (năm 1965) đổi tên thành Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp (năm 1975); sáp nhập 4 cơ quan Ủy ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em; Bộ Giáo dục; Tổng cục Dạy nghề và Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp để thành Bộ Giáo dục và Đào tạo (1990) Riêng cơ quan Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng liên tục tách, nhập, thành lập mới các Cục, Vụ, Viện
Giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo với các bộ, cơ quan ngang bộ, các địa phương đã có sự phân cấp, phân quyền rõ ràng hơn theo Nghị định số 115/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2010
Tuy nhiên, chất lượng của bộ máy quản lý nhà nước về giáo dục đại học và chất lượng của cán bộ quản lý còn nhiều bất cập, hạn chế: bộ máy thiếu tính ổn định; đội ngũ cán bộ chuyên trách về giáo dục đại học còn quá mỏng, không tương xứng với khối lượng công việc được giao; vai trò đầu tàu của giáo dục đại học trong hệ thống giáo dục quốc dân bị lu mờ, không dẫn dắt được sự phát triển của toàn hệ thống
3.2.3 Thực trạng việc tổ chức thực hiện pháp luật quản lý nhà nước về giáo dục đại học
Trong những năm qua, bộ máy quản lý nhà nước về giáo dục đại học cùng với các cơ sở giáo dục đại học đã tổ chức thực hiện tốt các quy định của pháp luật giáo dục đại học trên các lĩnh vực: thành lập trường theo chủ trương xã hội hóa giáo dục; đã chú ý tới cơ cấu vùng miền và các đối tượng chính sách xã hội; mở rộng nhanh quy mô đào tạo, tăng dần mức đầu tư từ ngân sách; huy động nhiều nguồn đầu tư; bước đầu thực hiện phân cấp, giao quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm cho các cơ sở giáo dục đại học; tăng cường đào tạo đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý; mở rộng hợp tác quốc tế; đổi mới chương trình, quy trình, phương pháp đào tạo; triển khai kiểm định chất lượng giáo dục…
Tuy nhiên, cũng bộc lộ nhiều bất cập, yếu kém như: quy hoạch phát triển giáo dục đại học thiếu cụ thể và thiếu tính khả thi, tập trung quá nhiều trường ở các thành phố lớn; việc cho phép thành lập trường còn dễ dãi; phân bổ ngân sách còn dàn trải, thiếu tính cạnh tranh; chưa có giải pháp và cơ chế phù hợp để việc đào tạo gắn với nhu cầu xã hội, thị trường lao động; chưa có đổi mới căn bản về chương trình đào tạo, phương pháp đào tạo; chưa có văn bản quy phạm pháp luật quy định cụ thể về việc giao quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm cho các cơ sở giáo dục đại học…
3.2.4 Thực trạng công tác giám sát, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật
Căn cứ Nghị định số 85/2006/NĐ-CP ngày 18/8/2006 của Chính phủ và Quyết định số 14/2006/QĐ-BGD&ĐT ngày 25/4/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, thanh tra giáo dục đã kiện toàn bộ máy từ Bộ đến địa phương ở các trường; đã kiểm tra và xử lý nhiều hành vi vi phạm, các hành vi làm giả hồ sơ, văn bằng, chứng chỉ, thi hộ, thi kèm…Tuy nhiên, hoạt động kiểm tra, giám sát chưa bao quát hết nội dung quản lý giáo dục đại học, chưa có chiến lược tổng thể mà chủ yếu xử lý các vụ việc do dư luận phản ánh; chế tài xử lý quá nhẹ, không có tác dụng ngăn chặn, răn đe; chưa kịp thời phát hiện các sai sót, khiếm khuyết của các quy định pháp luật giáo dục đại học để điều chỉnh, bổ sung kịp thời
3.3 Phân tích hiệu lực một số văn bản quy phạm pháp luật quản lý nhà nước về giáo dục đại học
Trang 103.4 Kết quả đạt đƣợc và hạn chế bất cập
3.4.1 Kết quả đạt đƣợc
- Các cơ quan nhà nước đã ban hành được nhiều văn bản quy phạm pháp luật với phạm vi điều chỉnh bao quát hầu hết các lĩnh vực hoạt động giáo dục đại học
- Nhiều quy phạm pháp luật đã được điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn
- Một số văn bản đã điều chỉnh đúng các vấn đề có tính bức thiết
- Một số văn bản kịp thời ban hành để điều chỉnh những hoạt động còn mới mẻ đối với giáo dục đại học
3.4.2 Hạn chế bất cập
- Việc ban hành quy phạm pháp luật chưa động bộ
- Một số văn bản chậm ban hành
- Nhiều quy phạm thiếu tính cụ thể, thiếu tính khả thi nên vừa ban hành đã phải sửa đổi
- Nhiều lĩnh vực hoạt động giáo dục đại học còn chưa có văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh
3.4.3 Nguyên nhân của hạn chế, bất cập
3.4.3.1 Về khách quan:
- Quản lý nhà nước về giáo dục đại học đang chuyển từ cơ chế quản lý cũ (tập trung bao cấp) sang
cơ chế quản lý mới (bằng pháp luật) đã phát sinh nhiều vấn đề mới trong giáo dục đại học khiến phạm vi điều chỉnh của pháp luật giáo dục đại học mở ra quá rộng, năng lực của cơ quan quản lý nhà nước không bao quát hết các lĩnh vực hoạt động
- Giáo dục đại học phát triển nhanh chóng, đa dạng và toàn diện trong xu thế hội nhập quốc tế khiến quản lý nhà nước về giáo dục đại học không theo kịp
- Năng lực tài chính của nước ta còn hạn hẹp, các điều kiện phục vụ đào tạo (như phòng học, trang thiết bị thực hành, phòng thí nghiệm ) chưa theo kịp yêu cầu ngày càng cao về chất lượng nhân lực; ở một
số nơi, yêu cầu về kinh phí, đất đai dành cho xây dựng trường đại học, cao đẳng chậm được giải quyết
3.4.3.2 Về chủ quan
- Tư duy quản lý nhà nước về giáo dục đại học vẫn còn bị ảnh hưởng nặng nề của tư duy thời kỳ tập trung bao cấp Cho đến thời điểm này, khuynh hướng chủ đạo trong tư duy quản lý nhà nước về giáo dục đại học vẫn là tập trung quyền lực trong tay các cơ quan quản lý nhà nước Nếu tính từ khi lập nước tới nay, các trường đại học Việt Nam đã có bề dày lịch sử 65 năm (theo vòng đời con người thì đã ở tuổi già) nhưng vẫn bị